## PAGE 1

**1. Nhờ các chi phần thù thắng, Ngài được gọi là Aṅguttara (Tăng Chi). Xin bậc Chánh Đẳng Giác ban cho con tuệ giác sáng suốt để hoàn thành bộ Tăng Chi này.**

**2. Nơi nào có các chi phần thù thắng, nơi đó giáo pháp được gọi là Tăng Chi. Cầu mong các chi phần của con cũng trở nên thù thắng, để làm sáng tỏ bộ kinh Tăng Chi này.**

**3. Tăng chúng vượt lên nhờ các chi phần thù thắng. Cầu mong chúng Tăng độ cho con cho đến khi hoàn tất việc giải thích bộ kinh này.**

**4. Khởi nguồn từ luồng gió đại bi mát lành, tích tụ từ những giọt nước vô lượng trí tuệ. Đám mây bậc Chiến Thắng đã tuôn đổ dòng sông diệu pháp, dập tắt cái nóng thiêu đốt của thân tâm.**

**5. Những bậc trí tuệ đã tìm thấy niềm vui nơi dòng sông ấy, gột sạch cấu uế để tâm trở nên thanh tịnh. Con cũng xin nương theo dòng chảy thánh thiện và tốt đẹp ấy.**

**yo sambuddho**: Đức Phật Thế Tôn ấy, người được khắp thế gian tin tưởng và quy kính vì đã tích lũy muôn vàn công đức, **aṅgehi**: bằng các chi phần thù thắng của mọi phẩm hạnh cao thượng và trí tuệ sáng suốt luôn thanh tịnh trong tâm, **uttaro**: Ngài luôn vượt trội và thù thắng một cách rõ rệt, không ai có thể sánh bằng vào bất cứ thời điểm nào, **tena**: chính vì ân đức vang danh khắp cõi trời và thế gian ấy, **aṅguttaratthasaṃsiyo**: vì là bậc vĩ đại đầy đủ các phẩm hạnh cao quý không sao kể xiết nên xứng đáng được nhân thiên hết lòng đảnh lễ và cúng dường, là bậc tối thượng tôn quý nhất.

## PAGE 2

Là bậc được ấn chứng qua nhiều đời, **so sambuddho**: Đức Thế Tôn ấy, bậc vua của sự hiểu biết, người tự mình chứng ngộ chân lý một cách đúng đắn, trọn vẹn không hề sai sót, từ lúc bắt đầu cho đến khi kết thúc, **aṅguttarasamāpakaṃ**: để có thể hoàn tất việc giải thích bộ kinh Tăng Chi này (**me**: cầu xin Ngài ban cho con, người đệ tử đang mong đợi được truyền thừa kho tàng giáo pháp mà Ngài đã ban tặng), **sambodhaṃ**: tuệ giác phân tích rõ ràng và sâu sắc những từ ngữ khó và ý nghĩa thâm huyền, **detu**: xin Ngài ban cho trí tuệ luôn hiển lộ như mặt trời mặt trăng, không chút do dự trong từng câu chữ khi thuyết giảng.

**2.** **yattha**: trong mười pháp cao thượng gồm Đạo, Quả, Niết-bàn và Pháp bảo, **aṅgā**: các chi phần của những phẩm hạnh tốt đẹp và sự đoạn tận khổ đau, sự thanh tịnh hoàn toàn ấy, **uttarā**: không bị phiền não uế nhiễm bao quanh, mà trở nên thanh khiết, nổi bật và thù thắng nơi bậc thiện trí, **iti (tasmā)**: do nguyên nhân đó mà các bậc trí tuệ có thể xác chứng và tin tưởng qua sự thực nghiệm nơi bản thân, **so dhammo api**: mười pháp bảo cao thượng mà bậc thiện trí hằng tu tập ấy cũng, **aṅguttaro**: được xác định gọi là "Aṅguttara" (Tăng Chi) vì đầy đủ những phẩm hạnh thù thắng, **me**: của con, một đệ tử đang nỗ lực gánh vác Phật sự hằng ngày, **aṅgā**: tất cả các chi phần thiện nghiệp tích lũy qua thân, khẩu và ý, **aṅguttarappadīpakā**: có khả năng làm rực ráng ánh sáng của giáo pháp Tăng Chi ấy (hoặc: để có khả năng làm rạng rỡ), **uttarā**: trở thành những thiện pháp thù thắng, mạnh mẽ, đúng đắn và sâu sắc nhất, **hontu**: nguyện xin cho những điều ấy được thành tựu vì sự an lạc của chúng sanh.

## PAGE 3

**3.** **yo saṅgho**: những bậc thiện trí thuộc giáo đoàn Tăng-già, những người con của bậc Đạo Sư luôn tuân giữ và thực hành đúng đắn các giáo huấn của Ngài, **aṅgehi**: bằng các pháp Thánh đạo tám chi là con đường đúng đắn để đạt đến Niết-bàn, **saṅghaṃ**: đối với các ác pháp vốn luôn dìm chúng sanh sâu vào vòng luân hồi khổ đau nơi bốn ác đạo, **uttarate**: nhờ thấy rõ sự sinh diệt của danh sắc mà trí tuệ trở nên thù thắng, vượt qua và giải thoát khỏi những khổ đau ấy.

(tasmā: chính vì những phẩm hạnh tu tập trọn vẹn và đúng đắn trên con đường hướng đến Niết-bàn như đã nói) **aṅguttaro**: nên Ngài được gọi là bậc Aṅguttara puggala (bậc thù thắng), **eso (saṅgho)**: chúng Tăng cao thượng, từ những bậc Thánh tăng thuở xưa cho đến thầy của con và toàn thể giáo đoàn Tăng-già ngày nay, **maṃ**: đối với con, người đệ tử luôn tôn kính và cúng dường chúng Tăng, **yāvaganthasamajjanā**: cho đến khi hoàn tất việc giải thích ý nghĩa 11 chương của bộ kinh Tăng Chi sang tiếng Myanmar, **saṅghā**: khỏi những ác nghiệp dìm đắm và làm lu mờ trí tuệ, **tāretu**: xin hãy duỗi cánh tay vàng cứu vớt và giúp cho trí tuệ của con được sắc bén, minh mẫn.

**4.** **anuddayāsītalavātavāyito**: do lòng đại bi đối với chúng sanh đang chịu bao sầu khổ, già, đau, chết vì lầm tưởng khổ là lạc mà tìm cầu khổ đau, lòng đại bi ấy thổi đến như luồng gió mát nhẹ nhàng, không quá mạnh nhưng thổi đều đặn,

**ananta ñāṇodaka bindusambhato**: do tích lũy các pháp Ba-la-mật trong suốt thời gian dài bốn a-tăng-kỳ và một trăm ngàn kiếp, nên tuệ giác khởi lên giống như những giọt mưa vô lượng không thể đếm xuể, tuôn rơi mạnh mẽ, **sambhata**: được tích lũy + **ananta**: vô lượng, không có điểm dừng + **ñāṇodaka bindu**: có những giọt mưa trí tuệ (tuôn rơi), **sarīradāhūpasamaggavassayo**: vì có khả năng dập tắt ngọn lửa khổ đau ngày đêm của chúng sanh, nên Ngài là nơi nương tựa cao thượng và quý báu nhất với ân đức vô biên, **jinambudo**: Đức Phật Chánh Đẳng Giác được gọi là bậc Chiến Thắng (Jina), như một vị vua của loài mây xuất hiện mang lại sự tươi mát và an lạc cho nhân thiên, **dhammanadī**: dòng sông của chân lý Tứ Thánh Đế thanh tịnh.

**pavattayī**: Ngài đã làm cho dòng sông ấy chảy xiết không ngừng khắp mười ngàn thế giới, để chúng sanh được uống lấy và cảm nhận sự mát lành an lạc.

<!-- COMMENT: Bản dịch batch 1 đảm bảo đúng format Việt only, giữ nguyên header trang. Văn phong Nissaya được chuyển đổi mượt mà. Thuật ngữ Pāḷi giữ nguyên macron. Kệ và giảng giải trình bày sạch. Tuy nhiên có một số điểm cần lưu ý: (1) Đoạn kệ ở đầu được dịch gộp khá thoát ý, mất cấu trúc dòng kệ gốc; (2) Một số chỗ dịch hơi tối nghĩa khi chỉ có giảng nissaya mà không có kệ tách biệt; (3) Cần xem xét có cần tách kệ ra từng câu riêng biệt không. -->

## PAGE 4

**(5)** **ca**: Và về việc các bậc thiện trí thức thời quá khứ và hiện nay đã nỗ lực gánh vác trách nhiệm như sau: **pure**: trong thời quá khứ trước chúng ta, **vimalā**: là những bậc thiện trí thức có tâm thanh tịnh, định tĩnh và sáng suốt vì đã tẩy sạch các cấu uế của tham, sân và si. **vidū**: là những bậc trí giả đã thấu triệt vị ngọt của dòng nước Tứ Diệu Đế một cách tốt đẹp, **tappīta mahānarā**: là những bậc Trưởng lão cao thượng có tâm hân hoan nhờ được nếm hưởng dòng sông Chánh Pháp vàng son của Tứ Diệu Đế, **etaṃ**: đối với dòng sông diệu pháp cuộn chảy không ngừng nghỉ như thế, từ các thứ rác rưởi của tà thuyết sai lầm như việc trì giới theo kiểu mài muối (siṅgīloṇa) hay đo hai lóng tay (dvaṅgula) trong các kiếp sống, **vītaṃ akaruṃ**: các ngài đã nỗ lực làm cho trong sạch bằng cách trì tụng, thuyết giảng và truyền thừa lặp đi lặp lại qua các kỳ Kết tập. **adhunāpi**: ngay cả trong thời điểm hiện tại trước mắt chúng ta đây, **vidū**: những bậc trí giả thường xuyên quán sát và suy xét dòng nước trong lành của giáo pháp, **taṃ**: đối với dòng sông pháp bảo (dhamma-nadī) trong trẻo ấy.

**nimmalaṃ**: để cho các tà thuyết và cấu uế ác hạnh không thể vướng bận, **sandayante va**: các ngài vẫn đang tiếp tục làm cho dòng nước ấy chảy mãi thông qua việc học tập, truyền dạy và thuyết giảng không ngừng nghỉ. **amhepi**: cả chúng ta đây, những người đang nương tựa và tin kính vào dòng sông giáo pháp thanh cao này, **susanditaṃ**: đối với dòng sông diệu pháp mang tên Tăng Chi (Aṅguttara) cao quý mà Đức Chánh Biến Tri đã để lại cho tuôn chảy vô tận,

**subhaṃ**: bằng cách suy tư và trình bày theo khả năng của trí tuệ về những câu văn khó hiểu, làm cho chúng trở nên xinh đẹp, rõ ràng và trắng trong, **anusandhema**: chúng ta sẽ nỗ lực biên soạn, phân chia thành hai phần với ý nghĩa nhất quán để dòng chảy ấy được tiếp nối luân lưu không dứt. **iti**: lời phát nguyện và cam kết viết bộ sách này xin được bắt đầu từ thời điểm này.

## PAGE 5

## Chương Một Pháp (Ekakanipāta)

Con đem hết lòng thành kính đảnh lễ Đức Thế Tôn, Bậc Ứng Cúng, Đấng Chánh Biến Tri.

### 1-Phẩm Hình Sắc (Rūpādivagga)

**1.** **evaṃ me sutaṃ**: Trong cụm từ này, từ **evaṃ** được chú giải giải thích theo ba nghĩa là: nghĩa phương cách (ākāra), nghĩa chỉ dẫn (nidassana) và nghĩa xác định (avadhāraṇa). Từ **me** được giải thích theo hai nghĩa là: chủ từ của thể bị động (tatiyākattā) và nghĩa liên hệ (sambandha). Trong từ **sutaṃ**, hậu tố **ta** được giải thích theo hai nghĩa là: nghĩa tác động (kamma) và nghĩa trạng thái (bhāva). Tôi sẽ dịch nghĩa để bao hàm tất cả các cách giải thích đó. Tôi cũng sẽ thêm vào các cụm từ mới như "**bhante idaṃ suttaṃ**" (Bạch Thế Tôn, kinh này) và câu hỏi "**kathaṃ sutaṃ**" (đã nghe như thế nào) để dịch nghĩa.

(**bhante**: Bạch Ngài, **idaṃ suttaṃ**: bài kinh Chi phối Tâm này), **evaṃ**: "theo một phương cách duy nhất này, **me**: con là Ānanda, **sutaṃ**: đã được nghe và ghi nhớ (từ nơi Đức Thế Tôn). (**kathaṃ**: đã được nghe theo phương cách duy nhất nào, **sutaṃ**: đã được nghe và ghi nhớ như thế nào?) [Đây là cách dịch theo nghĩa phương cách (ākāra) của từ **evaṃ**.]

**1.** Ý nghĩa trong cách giải thích theo phương cách (ākāra): Vì câu "Evaṃ me sutaṃ" được giải thích rất rộng trong Chú giải nên cần phải viết vào phần ý nghĩa này. Do đó, tôi sẽ viết những gì cần thiết theo đúng sự giải thích của Chú giải. Ý nghĩa của từ "Evaṃ me sutaṃ" trong nghĩa phương cách này là: Không một ai có thể biết hết toàn bộ những lời giáo huấn mà Đức Thế Tôn đã thuyết giảng theo nhiều cách khác nhau để phù hợp với căn cơ và sở thích của chúng sanh. Vì vậy, Ngài Ānanda muốn nói rằng: Dù con đã nỗ lực hết mình với lòng mong mỏi mãnh liệt để nghe và ghi nhớ, nhưng con không thể ghi nhớ hết tất cả các phương cách đa dạng, do đó "**evaṃ** (ekena ākārena): theo một phương cách duy nhất này (một cách thức này), **sutaṃ**: con đã nghe và ghi nhớ bài kinh này".

## PAGE 6

Cách khác - (bhante: Bạch Ngài, idaṃ suttaṃ: bài kinh Chi phối Tâm này) **evaṃ**: như vầy, hoặc: theo như những gì sắp trình bày sau đây, **me**: con là Ānanda, **sutaṃ**: đã được nghe và ghi nhớ (từ nơi Đức Thế Tôn), (kathaṃ: đã nghe như thế nào, sutaṃ: đã được nghe và ghi nhớ ra sao). Đây là cách dịch theo nghĩa chỉ dẫn (nidassana) của từ **evaṃ**.

Cách khác - (bhante: Bạch Ngài, idaṃ suttaṃ: bài kinh Chi phối Tâm này) **evaṃ**: chỉ như vầy thôi, hoặc: chỉ đúng theo như những gì sắp trình bày sau đây thôi, **me**: con là Ānanda, **sutaṃ**: đã được nghe và ghi nhớ (từ nơi Đức Thế Tôn), (kathaṃ: đã nghe chỉ như thế nào thôi, sutaṃ: đã được nghe và ghi nhớ ra sao). Đây là cách dịch theo nghĩa xác định (avadhāraṇa) của từ **evaṃ**.

Cũng có thể dịch là: "**evaṃ**: chỉ bằng một phương cách duy nhất này thôi" và "**kathaṃ**: chỉ bằng một phương cách duy nhất nào thôi". Nếu thêm từ "chỉ... thôi" (သာလျှင်) vào các nghĩa phương cách (ākāra) và nghĩa chỉ dẫn (nidassana) đã trình bày ở trên thì sẽ trở thành nghĩa xác định (avadhāraṇa) của từ **evaṃ**.

**1.** Ý nghĩa trong nghĩa chỉ dẫn (nidassana): Ý nghĩa của cách này là: "Con không phải tự mình thấu triệt bài kinh này bằng trí tuệ riêng của mình, mà con chỉ nghe và ghi nhớ từ nơi Đức Thế Tôn đúng như những gì con sắp trình bày đây".

**2.** Ý nghĩa trong nghĩa xác định (avadhāraṇa): Ý nghĩa của cách này là: "Con chỉ nghe và ghi nhớ bài kinh này từ nơi Đức Thế Tôn đúng như những gì sắp trình bày đây. Bài kinh này cho đến tận bây giờ vẫn hoàn toàn chính xác như khi con đã nghe từ nơi Đức Thế Tôn, không thừa không thiếu về mặt ý nghĩa, không thừa không thiếu về mặt từ ngữ, chân thực xác đáng, vì vậy nhất định phải ghi nhớ đúng như những gì sắp trình bày đây".

## PAGE 7

[Các nghĩa vừa được chuyển ngữ là **nghĩa Tác giả loại ba (tatiyākattā)** của từ **me** và **nghĩa Đối tượng (kaṃ)** của hậu tố **ta** trong từ **sutaṃ**. Bây giờ, sẽ giải thích thêm về **nghĩa Liên kết (samban)** của từ **me** và **nghĩa Trạng thái (bho)** của hậu tố **ta**. Theo thi kệ "Trạng thái thành tựu, chỉ từ sau, luôn thuộc về Sở hữu cách loại sáu", vì hậu tố **ta** diễn đạt **nghĩa Trạng thái**, nên tại vị trí Chủ cách đối tượng **idaṃ suttaṃ** trước đây, nay phải thay bằng Sở hữu cách đối tượng **imassa suttassa**.]

**Ý nghĩa cần tư duy**: Trong bản **Nissaya mới của bộ Sīlakkhandhavagga Pāḷi**, khi giải thích theo **nghĩa Giới hạn (avadhāraṇa)**, đã dịch rằng: "bhagavato = của Đức Thế Tôn, sammukhā = trước mặt, evaṃ = như thế này (theo nghĩa của từ ngữ, không thiếu không thừa), sutaṃ = đã được con nghe và ghi nhớ". Cách dịch này dựa trên đoạn chú giải: "Tañca kho atthato vā vyañjanato vā anūnamanadhikaṃ" (Cả về ý nghĩa lẫn văn tự, không thiếu không dư).

Tuy nhiên, nếu dịch là "Con đã nghe và ghi nhớ từ Đức Thế Tôn không thừa không thiếu về ý nghĩa và văn tự", thì có thể hiểu lầm rằng "Con có khả năng nghe và ghi nhớ tất cả những gì Đức Thế Tôn đã dạy mà không sai sót chút nào". Ngay cả khi dịch theo **nghĩa Minh họa (nidassana)** rằng "evaṃ = như thế này, đúng như những gì Đức Thế Tôn đã dạy, sutaṃ = con đã nghe và ghi nhớ" (phù hợp với sț đoạn phụ chú giải "Na pana bhagavato desitākārato"), thì sự hiểu lầm đó vẫn có thể xảy ra.

Nếu vậy, điều này sẽ mâu thuẫn với **nghĩa Cách thức (ākāra)** đã nêu trước đó là: "Vì không thể nghe và ghi nhớ toàn bộ tất cả những gì Đức Thế Tôn dạy, nên con chỉ nghe và ghi nhớ theo một cách thức duy nhất này thôi". Nếu ở **nghĩa Cách thức** nói rằng "không có khả năng ghi nhớ toàn bộ", mà ở **nghĩa Giới hạn** lại nói "có khả năng ghi nhớ toàn bộ", thì hai nghĩa này đối nghịch nhau. **Itarathā thero bhagavato desanāya sabbathā paṭiggahaṇe samattho asamatthocāti āpajjeyya. (Ṭīkā)** (Nếu không thì sẽ dẫn đến việc Trưởng lão vừa có khả năng vừa không có khả năng tiếp nhận hoàn toàn giáo pháp của Đức Thế Tôn).

Do đó, ý nghĩa "Con đã nghe và ghi nhớ đúng như cách Đức Thế Tôn dạy, không thừa thiếu về ý nghĩa và văn tự" (**desitākāra**)

## PAGE 8

Cách khác- (bhante = bạch Ngài, imassa suttassa = đối với kinh Citta-pariyādāna này,) **evaṃ** = theo một cách thức duy nhất này, (**nghĩa Cách thức - ākāra**) hoặc = như thế này như thế nọ, hoặc = đúng như những gì con sắp trình bày đây, (**nghĩa Minh họa - nidassana**) hoặc = chỉ như thế này thôi, hoặc = chỉ đúng như những gì con sắp trình bày đây thôi, (**nghĩa Giới hạn - avadhāraṇa**) me = của con, sutaṃ = việc nghe và ghi nhớ (từ nơi Đức Thế Tôn, ahosi = đã xảy ra; kathaṃ = việc nghe và ghi nhớ ấy đã xảy ra theo cách thức duy nhất nào, hoặc = như thế nào, hoặc = chỉ như thế nào vậy?)

Không nên hiểu (theo nghĩa desitākāra). Phải hiểu theo **nghĩa Cách thức của việc nghe (sutākāra)** rằng: "Con chỉ nghe và ghi nhớ từ Đức Thế Tôn đúng như những gì con sắp trình bày đây thôi. Và giáo pháp mà con đã nghe và ghi nhớ ấy, cho đến tận bây giờ, vẫn đúng như những gì con đã nghe từ Đức Thế Tôn, không hề thừa thiếu về ý nghĩa hay văn tự".

**1. Những điều cần nói liên quan đến nghĩa của từ Sutaṃ**: Đối với từ **sutaṃ** đóng vai trò là động từ chỉ trạng thái (bho), ta thêm động từ quá khứ **ahosi** vào để bổ nghĩa. Tuy nhiên, trong bản **Sīlakkhandhavagga Bhāṣā-ṭīkā** có nói: "Vì hoạt động duy trì (nghĩa của từ sutaṃ) vẫn còn tiếp diễn cho đến thời điểm kết tập kinh điển, nên nên thêm động từ hiện tại **hoti**".

Hơn nữa, về việc hiểu từ **sutaṃ** gồm ba hành động "nghe + ghi nhớ + duy trì", có quan điểm cho rằng cả ba không thể cùng xảy ra trước mặt Đức Thế Tôn, mà việc "duy trì" chỉ có sau khi Ngài đã đi khỏi. Vì thế, các vị thầy truyền thừa thường thêm cụm "bhagavato sammukhā" (trước mặt Đức Thế Tôn) vào khi dịch, nhưng điều này không được (tác giả bản Bhāṣā-ṭīkā) tán thành. Quan điểm của vị đó là: Trong chú giải có đoạn "**Sabbathāmena pana sotukāmatā janetvāpi evaṃ me sutaṃ**", từ căn **su** trong từ **sotukāmatā** cũng giống như căn **su** trong **sutaṃ**, chỉ đơn thuần diễn đạt nghĩa nghe và ghi nhớ từ Đức Thế Tôn.

Dù từ **sutaṃ** được giải thích bằng từ **upadhāritaṃ** (từ căn **dhara** - trì giữ), nhưng không nên hiểu **sutaṃ** diễn đạt nghĩa tụng đọc, ghi nhớ và duy trì giáo pháp sau lưng Đức Thế Tôn cho đến lúc kết tập để không bị mai một. Với lời giải thích trong chú giải "**Sutaṃ sotadvārānusārena upadhāritaṃ (upadhāraṇaṃ)**" (Việc nghe là sự ghi nhớ thông qua lỗ tai), có nghĩa là khi nghe pháp từ Đức Thế Tôn, thông qua lỗ tai

## PAGE 9

không chỉ đơn thuần là nghe bằng nhãn thức (viññāṇa) mà còn là sự nghe, tiếp nhận và ghi nhớ bằng ý thức (manoviññāṇa)". Ý nghĩa chỉ đơn giản là vậy. Việc tiếp nhận và ghi nhớ ấy (**upadhāraṇa-kicca**) đối với Ngài Ānanda đã hoàn tất ngay từ khi nghe pháp trực tiếp từ Đức Thế Tôn, nên vào thời điểm kết tập, đó đã là chuyện quá khứ. Do đó, giống như khi dùng hậu tố **ta** mang nghĩa quá khứ cho từ **sutaṃ** ở nghĩa đối tượng, thì khi dùng ở nghĩa trạng thái, để làm rõ hành động nghe là trong quá khứ, ta nên thêm động từ quá khứ **ahosi**.

Hơn nữa, vì việc tiếp nhận và ghi nhớ ấy đã hoàn tất khi đang nghe pháp từ Đức Thế Tôn, nên có thể thêm cụm **bhagavato sammukhā** (trước mặt Đức Thế Tôn) vào khi dịch. Điều này cũng phù hợp với các bản phụ chú giải (Ṭīkā) như: "**Bhagavato sammukhā sutākārato**". Ở đây, dù chỉ viết ngắn gọn là "**Evaṃ me sutaṃ**", nhưng trong các bản như **kinh Mahāpadesa** (**Aṅguttara Pāḷi**, tập 1, trang 487), khi cần chỉ rõ đã học giáo pháp từ vị nào, thì phải nêu rõ: "**Sammukhā metaṃ āvuso bhagavato sutaṃ, sammukhā paṭiggahitaṃ... Tassa me saṅghassa sammukhā sutaṃ, sammukhā paṭiggahitaṃ**" (Này chư hiền, con đã tự thân nghe từ Đức Thế Tôn, tự thân tiếp nhận... Con đã tự thân nghe từ Tăng chúng, tự thân tiếp nhận).

**1. Ekaṃ samayaṃ**: Có thể dịch theo hai cách: **ekaṃ** = vào một, **samayaṃ** = thời điểm (**nghĩa Thời điểm - okāsa**) hoặc = trong suốt một thời gian (**nghĩa Thời khoảng - accantasaṃyoga**). Ở đây, dù Trưởng lão Ānanda biết chính xác mỗi bài kinh được Đức Thế Tôn thuyết vào năm nào, tháng nào, ngày nào, giờ nào, nhưng vì các **bậc tiền nhân** thời đó không có thói quen ghi chép bằng văn bản như hiện nay mà chỉ duy trì bằng cách học thuộc lòng (khẩu truyền), nên việc ghi nhớ và tụng đọc vô số từ ngữ về năm, mùa, tháng, nửa tháng, đêm, ngày, các khoảng thời gian cho từng bài kinh là rất khó khăn. Vì thế, ngài không nêu chi tiết thời gian mà chỉ dùng một cụm từ chung chung là "**ekaṃ samayaṃ** = vào một thời điểm".

Cách khác - Các thời điểm như khi Bồ Tát nhập thai, khi đản sanh... khi chứng ngộ Tứ Diệu Đế thành Phật, khi thuyết pháp, v.v., trong mười ngàn thế giới giới (cakkavaḷā) này...

## PAGE 10
**Sāvatthiyaṃ**: gần kinh thành Sāvatthī. **Jetavane**: tại rừng Jeta. Đây là những thời điểm vô cùng đặc biệt và rạng rỡ đối với Đức Thế Tôn, khiến cho vạn vật đều rúng động. Trong số nhiều thời điểm đó, theo Chú giải, chữ **ekaṃ samayaṃ** ở đây được dùng để chỉ cho thời điểm thuyết Pháp. Nếu muốn dịch nghĩa chữ **ekaṃ samayaṃ** theo các cách giải thích đó:

**ekaṃ**: là một trong số nhiều thời điểm hiển hách của Đức Thế Tôn, **samayaṃ**: vào thời điểm thuyết Pháp (hay: trong suốt thời gian thuyết Pháp). (Cách khác) **ekaṃ**: là một trong số những lúc trí tuệ vận hành và lòng bi mẫn vận hành, **samayaṃ**: vào lúc thực hiện phận sự của lòng bi mẫn (hay: trong suốt thời gian thực hiện phận sự bi mẫn). (Cách khác) **ekaṃ**: là một trong số những lúc thực hành lợi ích cho tự thân và lợi ích cho người khác, **samayaṃ**: vào lúc thực hành lợi ích cho người khác (hay: trong suốt thời gian đó). (Cách khác) **ekaṃ**: là một trong số những lúc mà chư Tăng tụ hội cần sự yên tịnh hoặc lúc thuyết Pháp, **samayaṃ**: vào lúc thuyết Pháp (hay: trong suốt thời gian đó). (Cách khác) **ekaṃ**: là một trong số những lúc thuyết Pháp và lúc thực hành Pháp, **samayaṃ**: vào lúc thuyết Pháp (hay: trong suốt thời gian đó).

**1.** **Sāvatthiyaṃ**. Theo cách giải thích của Chú giải "Samīpatthañcetaṃ bhummavacanaṃ", từ **Sāvatthiyaṃ** với biến cách thứ 7 (Sattamī vibhatti) được dùng theo nghĩa "gần kề" (samīpa). Do đó, từ này được dịch là "gần kinh thành Sāvatthī" để làm rõ nghĩa tiếp cận của biến cách thứ 7.

Nếu không dịch theo nghĩa gần kề mà dịch là "tại kinh thành Sāvatthī" thì phải hiểu theo cách ẩn dụ tiếp cận (samīpūpacāra). Cảnh vực rừng Jeta vốn ở gần kinh thành Sāvatthī thì gọi là "cái gần" (samīpa), còn kinh thành Sāvatthī gọi là "cái được gần" (samīpī). Đức Thế Tôn không cư ngụ trực tiếp trong kinh thành (samīpī) mà Ngài ngụ tại tu viện Jeta (samīpa). Do đó, việc dùng tên gọi Sāvatthī của cái được gần để chỉ cho Jetavana ở gần đó gọi là ẩn dụ tiếp cận.

**Về hai cách viết I ngắn và Ī dài**. Ở đây, theo các từ điển Phạn ngữ và Anh ngữ, âm cuối có thể là ngắn (rassa) hoặc dài (dīgha), tạo thành hai cách viết: Sāvatthi hoặc
## PAGE 11
Sāvatthī (với Ī dài). Đây là khu vườn của thái tử Jeta, thuộc sở hữu của **Anāthapiṇḍikassa**: ông cấp cô độc Anāthapiṇḍika, **ārāme**: tại tu viện, **viharati**: ngụ tại (đang trú ngụ).

Tên gọi Sāvatthi còn có một cách giải thích khác: Khi các thương nhân gặp nhau và hỏi "Ở thành phố này có món hàng gì?", câu trả lời luôn là "Cái gì cũng có" (Sabbaṃ atthi). Dựa trên câu nói này, tên thành phố trở thành Sāvatthi.

Do đó, chiết tự là "Sabbaṃ ettha atthīti Sāvatthi". Trong cách này, Sabba và atthi kết hợp lại (Sabba biến thành Sāva) tạo thành "Sāvatthi" với âm I ngắn.

Mặc dù Chú giải và Phụ chú giải đã giải thích rõ sự kết hợp giữa Sabba và atthi (anti), nhưng trong Phụ chú giải Từ điển (Abhidhānādīpanī) lại nói rằng đó là từ 'attha' mang nghĩa 'vật dụng'. Theo đó, Sabba + attha = Sāvatthu, sau đó thêm tiếp vĩ ngữ 'i' để thành Sāvatthi. Tóm lại, có thể dịch theo các nghĩa: "gần kinh thành Sāvatthi - nơi được thiết lập tại trú xứ của đạo sĩ Savattha", hoặc "gần kinh thành Sāvatthi - nơi có đầy đủ tất cả mọi sản vật và đồ dùng".

**1.** **Anāthapiṇḍikassa ārāme viharati**. **Anāthapiṇḍikassa**: của vị trưởng giả tên là Sudatta, người được gọi là Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc) vì thường xuyên chu cấp vật thực cho những người nghèo khổ không nơi nương tựa. **ārāme**: tại khu tu viện, nơi mà chư Tăng và thiện nam tín nữ thường xuyên lui tới trú ngụ một cách an lạc. **viharati**: Ngài đang trú ngụ, duy trì thân xác bằng cách luân chuyển hài hòa giữa bốn oai nghi: nằm, ngồi, đứng, đi. (Nghĩa rộng) Hay là: Ngài duy trì sự tồn tại của các uẩn, xua tan những mệt mỏi khổ sở khi duy trì một oai nghi quá lâu bằng cách thay đổi sang oai nghi khác.

## PAGE 12
Ngài duy trì và làm cho thân xác đứng vững không để bị sụp đổ. Hay là: Ngài đang thực hiện các lợi ích và hạnh phúc cho chính mình cũng như cho người khác (Theo hai cách giải thích của Chú giải và Phụ chú giải). Cách phân tích từ vựng như sau:

Chiết tự từ Anāthapiṇḍika: Theo Mūlapaṇṇāsa Chú giải (trang 62), "Naccakālaṃ anāthānaṃ piṇḍamādāsi, tena Anāthapiṇḍikoti saṅkhayaṃ gato" - vì hằng ngày ông đều bố thí vật thực (piṇḍa) cho những người không nơi nương tựa (anātha), nên ông được biết đến với danh hiệu Anāthapiṇḍika.

Câu "Anāthānaṃ piṇḍaṃ dadātīti Anāthapiṇḍiko" trong Saddanīti (864) chưa hẳn là cách chiết tự chính xác nhất.

Theo sát nghĩa từ vựng, Phụ chú giải Mūlapaṇṇāsa (trang 141) chiết tự: "Anāthānaṃ piṇḍo Anāthapiṇḍo" - vật thực dành cho người cô độc; "Anāthapiṇḍo etassa atthīti Anāthapiṇḍiko" - vị trưởng giả luôn có sẵn vật thực được chuẩn bị cho người cô độc. Tên thật của vị trưởng giả này là Sudatta.

**Giải thích từ viharati**. Nghĩa "đang ngụ tại" là nghĩa thông dụng. Chú giải giải thích **viharati** là "vicchinditvā harati pavatteti" (cắt đứt rồi mang đi/duy trì/làm cho tiếp diễn). Theo đó, tiếp đầu ngữ **vi** trong **viharati** mang nghĩa "cắt đứt" (viccheda). Khi duy trì một trong bốn oai nghi đi, đứng, nằm, ngồi quá lâu gây ra sự đau nhức, khổ sở, thì phải thay đổi sang oai nghi khác để cắt đứt cái khổ đó.

Việc cắt đứt này gọi là viccheda. Căn **har** có nghĩa là mang đi hoặc duy trì. Nghĩa là xua tan sự mệt mỏi và duy trì thân xác này không để bị quỵ ngã. **Pavatteti** là từ giải thích thêm, nghĩa là sau khi cắt đứt cái khổ đó thì làm cho sự tồn tại của thân xác được tiếp diễn liên tục và bền vững.

Ngoài ra, Phụ chú giải giải thích tiếp đầu ngữ **vi** mang nghĩa là "đa dạng" (vividha), tức là Ngài mang lại, tạo ra nhiều loại lợi ích và hạnh phúc khác nhau (vividhahitasukhaṃ harati). Từ **viharati** được dịch bao hàm tất cả các lớp nghĩa này.

## PAGE 13

**tatra**: vào khi ấy (vào lúc Đức Thế Tôn đang ngự tại kỳ viên tự viện), hoặc: tại kỳ viên tự viện ấy nơi Đức Thế Tôn đang ngự, hoặc: tại địa điểm và thời gian thích hợp để gọi các Tỳ-kheo nhằm thuyết Pháp; **bhagavā**: Đức Thế Tôn; **bhikkhū**: đến các Tỳ-kheo; "**bhikkhavo**": "Này các Tỳ-kheo"; **iti**: như vầy; **āmantesi**: đã gọi (đã bảo). Trong cụm *tatra kho*, chữ *kho* không có nghĩa riêng, chỉ là hư từ làm đầy câu (padapūraṇa). "**badante**": "Bạch Thế Tôn"; **iti**: như vầy; **te bhikkhū**: những vị Tỳ-kheo ấy; **bhagavato**: (lời gọi của) Đức Thế Tôn.

**1. Ba cách giải thích chữ kho.**
Trong phần Nissaya, chữ *tatra* được giải thích theo ba cách như Chú giải đã nêu. Chữ *kho* cũng được gọi là hư từ làm đầy câu (*padapūraṇa*). (Cách khác) **bhagavā**: Đức Thế Tôn; **bhikkhū**: đến các Tỳ-kheo; "**bhikkhavo**": "Này các Tỳ-kheo"; **iti**: như vầy; **āmantesi kho** (*āmantesi eva*): chắc chắn đã gọi như vậy thôi.

Cũng có thể giải nghĩa như thế này: Trong cách này, chữ *kho* là hư từ mang nghĩa khẳng định (*avadhāraṇa*), nên phải giải nghĩa phối hợp với động từ *āmantesi*.

Chữ *kho* đó cũng được Chú giải giải thích là mang nghĩa thời điểm bắt đầu thuyết Pháp (*ādikāla*). Sách Tika giải thích *ādikāla* này là sự khởi đầu của câu nói (*vākyārambha*). (*Vākya* = lời sẽ nói tiếp theo + *ārambha* = sự nỗ lực, sự trình bày tiếp) Có nghĩa là bắt đầu lời nói để trình bày những điều sắp nói, sự kết nối giữa hai phần lời nói trước và sau được gọi là *vākyārambha* hay *upaññāsa*.

Đối với nghĩa *ādikāla* này, không cần phải phối hợp từ ngữ quá phức tạp. Trong sách Tika, đối với nghĩa khẳng định (*avadhāraṇa*), chỉ có ví dụ phối hợp là "*āmantesi eva*". Còn đối với nghĩa *ādikāla*, không chỉ không có ví dụ phối hợp cụ thể, mà còn được giải thích ngang hàng với *padapūraṇa* bằng cách dùng chữ "*matta*" (chỉ là): "*padapūraṇena vacanālaṅkāramattaṃ kataṃ hoti, ādikālatthena vākyassa upaññāsamattaṃ*". Do đó, trong ý nghĩa *ādikāla vākyārambha*, chỉ nên dịch thoát ý là lời mào đầu hoặc lời dẫn nhập như: "**tatra kho** = chính vào lúc ấy tại nơi đang ngụ (ngay lúc bấy giờ)".

**2. bhagavato paccassosuṃ.**
Như đã nói ở phần "bhagavā āmantesi", trong cụm "bhagavato paccassosuṃ": **bhagavato**: (lời của) Đức Thế Tôn.

## PAGE 14

**paccassosuṃ**: đã lắng nghe, hoặc: đã đáp lời và vâng phục; **bhagavā**: Đức Thế Tôn; **etadavoca**: đã thuyết lời này (đã nói như thế này). [Hỏi: **avoca**: Ngài đã nói gì?] Phải giải nghĩa bắt đầu từ câu ví dụ **yathayidaṃ bhikkhave itthirūpaṃ**. [*Yathayidaṃ* tách ra là *yathā + idaṃ*] **bhikkhave**: Này các Tỳ-kheo; **idaṃ itthirūpaṃ**: sắc diện này của người phụ nữ (bao gồm sắc diện do bốn nhân tạo thành - *catusamuṭṭhānika* - của thân thể người nữ, và sắc diện do thời tiết tạo thành - *utuja* - gắn liền với thân thể như trang phục, trang sức, hoa, hương thơm, v.v.); **purisassa**: của người đàn ông (người có sự ham thích đặc biệt nơi sắc diện); **cittaṃ**: thiện tâm (thuộc về bốn cõi: Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới và Siêu thế); **pariyādāya**: sau khi nắm giữ (sau khi chiếm lĩnh, hoặc: khiến cho cạn kiệt, hoặc: ngăn cản không cho phát sinh); **tiṭṭhati yathā**: đứng vững như thế nào [Sắc diện người nữ ngăn cản không cho thiện tâm phát sinh. Sự ngăn cản đó chính là ý nghĩa của việc "chiếm lĩnh" hay "làm cho cạn kiệt"].

**evaṃ**: cũng vậy; **yaṃ**: sắc diện nào; **purisassa**: của người đàn ông; **cittaṃ**: thiện tâm; **pariyādāya**: sau khi nắm giữ; **tiṭṭhati**: đứng vững; **bhikkhave**: Này các Tỳ-kheo [Lúc này mới giải nghĩa từ *bhikkhave* trong cụm *nāhaṃ bhikkhave*].

Dùng cách giải nghĩa liên kết này vì muốn chêm thêm từ "*āmantanaṃ*" (lời gọi), nên Chú giải giải thích: "*bhagavato paccassosunti bhagavato āmantanaṃ paṭiassosuṃ*".

Tuy nhiên, trong các sách văn phạm, chữ nương theo căn *su* (nghe) có tiền tố *patii + ā* sẽ tương ứng với chỉ định cách (Samphadān). Theo đó, nên dịch là: **bhagavato**: đến Đức Thế Tôn; **paccassosuṃ**: đã đáp lời và vâng phục.

**1. Sắc do bốn nhân và sắc do thời tiết.**
Sắc diện (rūpārammana) phát sinh do bốn nguyên nhân: Nghiệp, Tâm, Thời tiết, Vật thực được gọi là sắc do bốn nhân (*catusamuṭṭhānika*). Sắc này là sắc diện gốc của cơ thể chúng sanh hữu tình, nên không có trong các vật vô tri. Còn màu sắc trang phục, trang sức v.v. khoác trên thân thể người nữ là sắc do thời tiết (*utuja*) gắn liền với thân thể.

## PAGE 15

**aññaṃ**: khác với sắc diện người nữ; **taṃ ekarūpampi**: dù chỉ là một sắc diện như vậy (dù chỉ là một sắc diện có khả năng chiếm lĩnh hoặc làm cạn kiệt thiện tâm của người đàn ông); **ahaṃ**: Ta; **na samanupassāmi**: không thấy (không nhìn thấy dù đã quan sát khắp bằng Nhất Thiết Chủng Trí); **bhikkhave**: các ông; **itthirūpaṃ**: sắc diện người nữ; **purisassa**: của người đàn ông; **cittaṃ**: tâm; **pariyādāya**: nắm giữ; **tiṭṭhati**: đứng vững. **iti**: như vậy; (**avoca**: Ngài đã thuyết). [Sát nhập lại từ *avoca* trong *etadavoca*]. Sau đó, lược bỏ một chữ *iti* và hiểu ngầm: "**iti**: như vầy; **sutaṃ**: đã được nghe và ghi nhớ; (cách khác) **iti**: như vầy; **sutaṃ**: việc nghe và ghi nhớ; **ahosi**: đã xảy ra". Nếu muốn kết thúc bằng cách liên kết lại với câu "Evaṃ me sutaṃ" thì giải nghĩa như vậy. [*Yaṃ evaṃ purisassa cittaṃ pariyādāya tiṭṭhati* là câu được so sánh (*upameyya*).

*Yathayidaṃ bhikkhave itthirūpaṃ* là câu ví dụ so sánh (*upamāna*). Các từ như *purisassa cittaṃ* từ câu được so sánh phải được đưa vào để giải nghĩa cho câu ví dụ. Nếu không muốn giải nghĩa dài dòng như vậy thì có thể dịch ngắn gọn theo cách sau đây].

Cách khác: **bhikkhave**: các ông; **idaṃ itthirūpaṃ yathā**: giống như sắc diện người nữ này; **evaṃ**: cũng tương tự như vậy; **yaṃ**: sắc diện nào; **purisassa**: của người đàn ông; **cittaṃ**: tâm; **pariyādāya**: chiếm lĩnh; **tiṭṭhati**: đứng vững; **bhikkhave**: các ông; **aññaṃ**: khác; **taṃ ekarūpampi**: dù chỉ là một sắc diện như vậy; **ahaṃ**: Ta; **na samanupassāmi**: không thấy; **bhikkhave**: các ông; **itthirūpaṃ**: sắc diện người nữ; **purisassa**: của người đàn ông; **cittaṃ**: tâm; **pariyādāya**: chiếm lĩnh; **tiṭṭhati**: đứng vững; **iti**: như vậy; (**avoca**: Ngài đã thuyết; **iti**: như vậy; **sutaṃ**: đã được nghe và ghi nhớ). Đây là kinh Citta Pariyādāna thứ nhất. Trong năm cảnh là Sắc, Thinh... kinh này được thuyết liên quan đến người đàn ông có sự ham thích đặc biệt nơi sắc diện (*rūpagaruka*). Dựa vào cụm từ Pāḷi "*cittaṃ pariyādāya*" nên kinh này được gọi là kinh Citta Pariyādāna. [Trong các Tập (Nipāta) thì Tập Một (Ekakanipāta) là đầu tiên, trong các Kinh thì Kinh Citta Pariyādāna là đầu tiên - Theo Chú giải].
