## TRANG 1 # Lịch sử các bậc hành trì Pháp (Paṭipatti) và các bậc danh tăng đặc biệt tại Myanmar **Dhamma-cariya U Htay Hlaing** ## TRANG 2 Ấn phẩm Buddha Thanda (Tiếng nói Đức Phật) **Ehi-passiko (Hãy đến để thấy)** “Điều đang được thuyết giảng này không phải là lời của riêng vị sư này (bản sư), cũng không phải chỉ là những gì được rút ra từ kinh nghiệm của một, hai, năm hay mười hành giả tâm đắc rồi đến trình pháp mà chúng tôi lấy đó làm bài giảng. Hiện nay, đã có rất nhiều người thực chứng; số lượng hành giả nhận ra sự thật này đã lên đến hàng trăm người rồi. Chính dựa trên sự thực chứng đúng như vậy mà giáo pháp này đang được truyền giảng.” (Trích Pháp thoại Vô minh và Cội rễ của Hành giả (Vipassanā-a-chay-khan), trang 115, của Ngài Đại trưởng lão Mahāsi Sayādaw vào năm 1320 Miến lịch.) “... Những người đã thực hành theo đúng sự chỉ dẫn, cảm thấy hài lòng với tuệ giác Minh sát (Vipassanā) đạt được và đã đắc chứng Pháp đặc biệt, Đạo Quả, số lượng ấy đã vượt quá một trăm ngàn người.” Theo lời tuyên bố: “Này các tỳ-kheo, bất cứ ai (lược trích)... cho đến bậc Tam quả (Anāgāmī), dù chưa đạt đến đó thì quả vị Tu-đà-hoàn (Sotāpanna), quả vị A-na-hàm (Anāgāmitā)... lời xác nhận và giáo huấn đó là chắc chắn. Chính vì vậy, trong thời đại hiện nay, theo đúng như kinh điển Tứ Niệm Xứ (Satipaṭṭhāna) đã dạy, bắt đầu từ việc quan sát sự phồng và xẹp (của bụng), cho đến các cử động thân thể, các cảm thọ, các trạng thái tâm, và bất cứ bản chất pháp nào hiện khởi rõ rệt – bằng cách liên tục ghi nhận mỗi khi chúng xuất hiện, thì chỉ với khoảng một hoặc hai tháng nỗ lực thực hành, đã có rất nhiều người trực tiếp chứng ngộ Niết-bàn (Nibbāna).” (Trích Các bài pháp truyền bá giáo pháp thế giới – Trang 33, 50.) ## TRANG 3 Ấn phẩm Buddha Thanda (Tiếng nói Đức Phật) Hạnh bậc thiện tri thức, Pháp cao thượng Lan tỏa khắp thế gian, mãi trường tồn... **Chủ sở hữu bản quyền** **Ma Khe Ma Wa Ti và Ma Lar Ba Wa Ti** (Các con gái: Mi Mi Khaing và Mi Mi Hlaing) ## TRANG 4 Ấn bản lần thứ chín Tháng 5 năm 1993 Số lượng: 2000 bản Giá thành: ... Giấy phép xuất bản số: 667/92 (6) Giấy phép in bìa số: 3493 / (4) Họa sĩ trình bày bìa: San Toe In ấn và đóng tập: Mogok Offset (04964) Số 221 - Đường 40 Yangon. Tiger Offset (1429) Số 15 đường Thudassana, Kyaukmyaung Điện thoại: 555835 Nhà xuất bản: Daw Kyin Myint (Myai - 02009) Ấn phẩm Phật Âm (S), đường Mya Sabai, khu phố (8), Thành phố Mayangone, Yangon, Điện thoại: 65211. ## TRANG 5 Ấn phẩm Phật Âm số - 1 Truyền thừa Pạṭipatti tại Miến Điện CÁC BẬC A-LA-HÁN VÀ CÁC BẬC ĐẠI NHÂN **Dhamma-cariya U Htay Hlaing** Tập một, tập hai, tập ba, cùng với tập bốn chưa từng được xuất bản, nay được hợp nhất, biên tập hiệu đính và sắp xếp in ấn mới. Ấn phẩm Phật Âm Phát hành Dành cho Quỹ Nữ giới Pháp học (Pariyatti) Hộp thư số: 1323 Bưu điện Trung tâm, Yangon ## TRANG 6 # TRUYỀN THỪA PẠṬIPATTI TẠI MIẾN ĐIỆN ## CÁC BẬC A-LA-HÁN VÀ CÁC BẬC ĐẠI NHÂN ### LỜI NÓI ĐẦU ### PHẦN THỨ NHẤT Dọc theo hành trình lịch sử giáo pháp tại Miến Điện Ngài Mahāsi Sayadaw Ngài Webu Sayadaw 1. Thời kỳ vương quốc Pyu - Hanlin Bậc hộ trì tu viện, Ngài Sumedha - bậc A-la-hán chứng đạt **Thiền định và Thần thông (Jhāna-Abhiññā)** 2. Thời kỳ Sri Ksetra Ngài Uttamasiri, người đã đắc quả Minh triết khi thực hành thiền quán Vidassana 3. Thời kỳ Thaton Ngài Trưởng lão Sampati Ngài Trưởng lão Brāṇadassī - bậc chứng đạt **Thiền định và Thần thông (Jhāna-Abhiññā)** ## TRANG 7 #### 4. Thời đại Bagan — 50 Ngài Shin Arahan [và] Trưởng lão Paṃsukū — 54 Trưởng lão Paunglaung Shin Ashin Kassapa Paṇḍita — 58 Các bậc Thánh giả soạn thảo luận kinh hành trì thời đại Bagan — 65 (Nāguṇ Nge, Nāguṇ Gyi) Disāprāmok Sa-ya-daw (U Kyi Pway) và Đại vương Hốt Tất Liệt — 66 Nant-taung-mya Sa-ya và Tet-thay-gyi — 69 #### 4. Thời đại Pinya — 70 Shin Dibba-cakku Rahantā Htway — 71 Thầy trò Ngài Yay-gon (Maṇi-mañjū Sa-ya-daw) — 72 Trách nhiệm của người Miến Điện trước lịch sử — 76 Tại sao giáo pháp lại biến mất ở Ấn Độ? — 79 #### 6. Thời đại Ava (Innwa) — 89 Bậc thiện trí Tet-thay và Sa-di Sumedha vùng Pakhan-gyi — 89 Shwe-umin Sa-ya-daw và Taung-phi-la Sa-ya-daw — 91 PHẦN THỨ HAI Những điều cần ghi nhớ bước đầu cho mỗi hành giả — 103 #### 7. Thời đại Konbaung — 112 Huynh đệ Sa-ya-daw Catu-giri - Taung-lay-lon — 112 ## TRANG 8 MỤC LỤC Các bậc A-la-hán thời đại Ava: Ngài Ashin Muninda, Ngài Ashin Ghosa, Ngài Ashin Gambhīrasāra — 120 - 124 Bối cảnh sử liệu thời đại Ratanāpon — 129 - 133 #### 8. Thời đại Mandalay — 134 Hành trình xuất gia vào rừng của Đại Trưởng lão Rājaguru — 137 Thee-lon Sa-ya-daw và Kin-taw-ya Sa-ya-daw — 144 - 156 Bậc A-la-hán phân thân và bậc A-la-hán trong mộng — 176 Bậc A-la-hán bách tuế U Thā Shon (U Kavinda) — 182 Pein-ne-kwin Sa-ya-daw U Kalyāṇa — 196 Yay-sa-gyo Gu-phyu Taw-ya Sa-ya-daw — 198 Pathein Migadā-yon Sa-ya-daw — 201 Bậc tôn túc U Thīla — 208 PHẦN THỨ BA Sự đối chiếu tri ân — 246 Pakokku Sunlun Sa-ya-daw và hai bậc đặc dị đắc Thần thông — 248 (Lời thuyết giảng của cư sĩ Saya Thet Gyi) — 266 **Đại Trưởng lão Ledi Sa-ya-daw** — 279 Sa-ya-daw chùa Mahā Gandhayon, dãy núi Sagaing — 332 - 346 Pyay Engyin-myaung và Nibbinda Sa-ya-daw — 360 Kyaung-pan Taw-ya Sa-ya-daw — 365 Nyaung-lun Taw-ya Sa-ya-daw — 374 Thaton Shwe-taung Zetawun Sa-ya-daw U Tikkhindriya — 418 - 458 Thek-khya-taung Sa-ya-daw U Tiloka — 462 Mognyin Taw-ya Ko-daw-gyi — 482 ## TRANG 9 Theim-taung - In-ma-gyi Taw-ya Sa-ya-daw — 504 Sunlun Sa-ya-daw, bậc A-la-hán nhẫn chịu đại nghiệp quả U Kavimaṇisāra — 510 - 559 Kanni Shwe-theim-taw Taw-ya Sa-ya-daw — 576 Theim-taung-se-gyi Taw-ya Sa-ya-daw — 584 Tha-beik-aing Taw-ya Sa-ya-daw — 595 Nay-tha-mein Sa-ya-daw — 624 Mogok Sa-ya-daw — 629 Kathit-waing Sa-ya-daw — 649 Ý nghĩa duy nhất của kiếp sống — 652 Bản văn bia lịch sử hành trì (Paṭipatti) của **Đại Trưởng lão Ledi Sa-ya-daw** tôn kính — 624 ## TRANG 10 *(trang trống)* ## TRANG 11 Dưới sự trợ giúp của Đức vua Anawrahta, Ngài đã thực hiện công cuộc hoằng pháp, làm cho Giáo pháp Theravāda trở nên trong sạch, vững mạnh và lan tỏa rộng khắp. Hình ảnh **Ngài Shin Arahan** (Hiện đang tôn trí bên trong Chiêm bái tháp Ānanda tại Bagan.) ## TRANG 12 Tượng Ngài **Htut Khaung Sayadaw** ## TRANG 13 **Ngài Trưởng lão U Thā Shwin** (**U Kavinda**) – Xá-lợi (Trong ảnh đã được phóng đại gấp mười lần) (1182-1282) ## TRANG 14 **Ngài Trưởng lão Thiền viện Gū Phyū, Yezagyo** (1190-1281) ## TRANG 15 **Đại đức U Sīla** (1194-1269) ## TRANG 58 Ngài Mogok Sayadaw (1261-1324) ## TRANG 59 ### Lời nói đầu Lời mở đầu **Namō Vibhajjavādino Mahākāruṇikassa** Đối với các bậc Ariya (Thánh nhân) khác tại Myanmar, dù là về phương diện Pháp hành (Paṭipatti) hay lịch sử các bậc Thánh, (để đạt được tuệ giác siêu thế Ariya-ñāṇa thông qua định luận), việc các bậc Thánh nhân đã thực hành một cách ngay thẳng, thanh tịnh và phù hợp là một yếu tố cần thiết cho các hành giả đặc biệt sau này. Đây sẽ là một tập tư liệu tập hợp các nhóm hành giả, và cũng sẽ là một liều thuốc bổ trợ sức mạnh cho họ. Vấn đề rằng: “Trong thời đại này, liệu có thể chứng đắc A-la-hán tại nơi thực hành hay không? Liệu còn có thể đạt được Thiền định và Thắng trí (Abhiññā) hay không?” là điều mà mỗi cá nhân cũng như các bậc trí giả thường xuyên thầm kín chất vấn và cảm thấy hoài nghi. Do có nhiều câu trả lời khác nhau, một số người đã rời bỏ việc thực hành giáo điển (Pariyatti), một số buông xuôi, nản lòng và tinh thần trở nên yếu ớt. Điều này đã rõ ràng. Trong “Kinh Đại Bát Niết-bàn” (Mahāparinibbāna Sutta), Đức Thế Tôn đã thuyết giảng cho du sĩ Subhadda rằng: Giáo pháp là không có giới hạn, Giáo pháp đích thực luôn tồn tại bất kể thời gian, và chừng nào còn có những người nỗ lực thực hành đúng đắn, thì thế giới sẽ không vắng bóng các vị A-la-hán. Các ân đức **Akkhāto Sandhiṭṭhiko Akāliko** (Được khéo thuyết, Thiết thực hiện tiền, Không có thời gian) cũng làm sáng tỏ ý nghĩa này một cách trực tiếp, không che đậy. Tuy nhiên, một số người lại quá chấp trước vào các phân chia thời đại của các nhà Chú giải sau thời Đức Phật (chia thành 5 thời kỳ giáo pháp), rồi từ đó nảy sinh tâm lý buông xuôi mà không hề hay biết. Họ tự đóng lại cơ hội của chính mình bằng những câu hỏi tiêu cực. Cuối cùng, trong thời đại ngày nay, đức tin đối với việc chứng đắc Thánh quả bị lung lay, đến mức việc cho rằng ai đó có Thắng trí bị xem như một sự phạm lỗi lớn (Ariyūpavāda - phỉ báng bậc Thánh). Dù có cố gắng, họ cũng nghĩ rằng mình không thể đắc Đạo Quả. Ngay cả khi không phạm lỗi lớn, họ cũng đã nhiều lần thối thất đức tin. ## TRANG 60 ### Lời nói đầu Người ta bắt đầu xem nhẹ Đạo Quả Niết-bàn. Những lời biện hộ và phê phán cứ thế nảy sinh. Con người ngày nay dường như cảm thấy Thiền định và Thắng trí là điều gì đó xa vời, không xứng hợp với đời sống của mình. (Đây chính là cái nhìn phiến diện của những người tự xưng là trí thức, chỉ dựa trên kiến thức chữ nghĩa bề nổi mà thiếu đi Tuệ thấu suốt (Nibbedhikapaññā) – một cái nhìn sai lệch được gọi là **“Keraṭiyapakkha”**). Sự thực chứng trên thân và Pháp hành tà kiến (Đắc pháp do nhập xác/lên đồng) Mặt khác, nếu Pháp học (Pariyatti) không được vững vàng thì vấn đề Pháp hành lại càng trở nên phức tạp và khó gỡ. Có những người chỉ dựa vào (Định của bậc Thánh - Ariya Samatha) một cách thuần túy, tin vào năng lực định tâm rồi tự cho mình đã đắc A-la-hán, tuyên bố rằng: “Đạo Quả chỉ là thế này thôi, đắc A-la-hán là như vậy đó”. Họ trương biển hiệu “Thực chứng trên thân” rồi lại tỏ lòng thương hại đối với các bậc bậc thầy tinh thông Tam Tạng kinh điển. Họ còn trích dẫn trường hợp của Trưởng lão Poṭthila, Trưởng lão Nāga để phê phán rằng: “Đó chỉ là mớ kiến thức sách vở”, tạo nên những cuộc tranh luận ồn ào. Trong các hội nhóm bàn luận về Pháp hành, người ta thường bảo nhau: “Đừng nói về lý thuyết, chỉ nói về trải nghiệm cá nhân thôi”. Điều này gợi nhớ đến những nhóm bàn luận Thắng Pháp (Abhidhamma) chỉ để tranh cãi về các thuật ngữ như “Asaṅkhārika, Sasaṅkhārika” bên bàn trà hay bàn tiệc. Chính những người tranh cãi, gây gổ ngay trên giảng đường hay nơi làm phước đã làm cho danh tiếng của giáo lý Vi diệu pháp bị tổn hại. Do đó, những người hành thiền ngày nay dễ bị rơi vào hai thái cực: hoặc là nản lòng, hoặc là đi lệch lối. (Điều này xảy ra do chỉ có đức tin thuần túy mà thiếu đi tầm nhìn của trí tuệ). Vì vậy, các bậc thầy luôn giáo giới rằng cần phải giữ sự cân bằng giữa Đức tin (Saddhā) và Trí tuệ (Paññā) như hai đầu của một đòn gánh. Vấn đề trong việc thực hành không chỉ dừng lại ở đó. Có người giỏi Pháp học, cũng nỗ lực hết mình trong Pháp hành, nhưng khi đối mặt với sự trì trệ mệt mỏi hoặc những khó khăn không ngờ tới, họ lại bỏ cuộc. Thay vì đạt được định hướng tâm linh đúng đắn, họ lại bị cuốn vào những tư tưởng lệch lạc, có người phải vào bệnh viện tâm thần, người thì đi làm thầy bùa, thầy bói, thầy luyện kim... xoay chuyển đủ mọi hình thức tà kiến. Một số người khác, vì quá mong cầu vào lợi ích trước mắt, đã xem việc trở thành những “vị thầy” như vậy là một cơ hội hiếm có. Họ lấy mục tiêu là những lời tán dương bên bàn trà, và cuối cùng, thay vì thiền quán thực thụ, họ lại ngồi chờ “đắc pháp” theo kiểu nhập xác (đánh bóng tên tuổi bằng các hiện tượng lạ trên thân). ## TRANG 61 Lời nói đầu — **Bậc Thầy Thực Thụ và Người Bạn Lành** Những chướng ngại vô hình còn đáng sợ hơn cả những họng súng giảm thanh. Để vượt qua những khó khăn không nhìn thấy được này, ngay cả những bậc anh hùng đa tài đôi khi cũng dường như rơi vào cảnh bế tắc, không tìm ra giải pháp. Chỉ ai biết quan sát mới thấy, và ai thấy được mới có thể suy xét tường tận. • “Để nhìn thấy sự vật đúng như thật (**yathābhūtaṃ**) bằng pháp **tri biến** (**ñāta-pariññā**), nhất thiết phải tìm cầu một bậc Đạo Sư thực thụ (**ye sitabbos**).” = “Toàn bộ đời sống phạm hạnh chính là... tình bạn với thiện hữu tri thức (**sakalam-eva hidaṃ brahmacariyaṃ... yad-idaṃ kalyāṇamittatā**).” = “Bậc thiện hữu chính là nguồn sức mạnh toàn phần (100%).” Chúng ta không nên quên lời dạy này. Mỗi người cần phải hiểu rõ thế nào là bậc Thầy đích thực và người bạn chân chính. Pháp bảo vốn vô cùng sâu mầu. Dẫu nói rằng “có những chướng ngại và khó khăn”, nhưng chúng rất khó nhận diện, khó tin tưởng và đôi khi khó tránh né. Chúng ta thường ít khi biết cách lánh xa hoặc đối mặt để vượt qua những nghịch cảnh này. Đức Thế Tôn, dù sở hữu thần thông biến hóa vô biên, nhưng Ngài rất hiếm khi sử dụng chúng. Ngài cũng không cho phép các hàng môn đệ lạm dụng thần thông, mà thay vào đó, Ngài luôn dùng tâm Từ (metta) để cảm hóa và chiến thắng tất cả. Với tâm Từ, Ngài đã khuất phục voi dữ Nālāgiri đang cơn say máu và làm nhiếp phục vương tử Roja Malla đang đầy lòng kiêu mạn. Đừng lầm tưởng rằng “chỉ vì Ngài là Phật” mới làm được như vậy. **Dhamma-bala** = Sức mạnh của Giáo pháp không phân biệt nhân vật, thời gian hay không gian. Điều cốt yếu là phải đặt nền tảng trên lòng tin (tín tâm). #### Sức mạnh của Pháp kiềng ba chân Bên cạnh lòng Từ ái, còn có **Chân thực** (**Saccā** - sự chuẩn xác trong mọi việc) có khả năng làm tắt lửa đang cháy, chặn đứng dòng nước đang trôi; và **Giới hạnh** (**Sīla**) đức hạnh khiến mọi sở cầu đều như ý, mọi việc đều thành tựu. Đó là ba chân đế vững chắc, là điều kiện tối thiểu cần phải có để nương tựa. Tôi xin được nói thêm đôi chút về sức mạnh của Pháp. Những kẻ mê muội thường coi việc hành thiền (kammaṭṭhāna) là điều buồn chán hoặc lãng phí thời gian. Họ giống như người muốn cầm nắm mà không có tay (**saddhā** - đức tin), muốn bước đi mà không có chân (**sīla** - giới hạnh), hoặc như kẻ chưa làm việc đã đòi tiền công — tức là chưa gieo vốn liếng Tín tâm mà đã mặc cả, đòi hỏi quả báo của Trí tuệ. Họ không biết rằng trong sự tĩnh lặng đó ẩn chứa giá trị nghìn vàng. ## TRANG 62 Họ cũng không thấy được rằng sự tu tập xuất sắc của một người có thể mang lại an lạc cho hàng vạn quân binh. Tùy theo sức mạnh tâm linh của mình, các bậc tu hành có thể dập tắt những ngọn lửa chiến tranh của thế gian, cứu độ hàng triệu sinh linh và thiết lập nên một thế giới mới. Ngay cả núi thạch cương hay núi Meru vĩnh cửu cũng có thể bị nghiền thành tro bụi, hay biến thành vàng ròng bởi thần lực của các bậc chứng giác. Nếu định lực của vật vô tri còn có sức mạnh như vậy, thì sức mạnh của Pháp bảo được thuyết trong bộ **Tăng Chi** (Aṅguttara) quả thật không lời nào tả xiết. Đứng trước cơn bão táp đó, nếu chỉ có tâm Từ mà thiếu đi lực lượng của **Chân thực** (Saccā) và sự kiên định của **Giới hạnh** (Sīla), thì sẽ không có chiếc "kiềng ba chân" nào chống đỡ nổi. Chúng ta cần vươn bàn tay của Đức tin về phía nào? Nếu chỉ giữ **Giới** vì sợ hãi những hình phạt thế gian thông thường, hay chỉ rải **Từ** nơi đầu môi chóp lưỡi theo truyền thống, thì chắc chắn sẽ chẳng thể vượt qua được bất kỳ trở ngại lớn lao nào. Việc tu tập là khó hay dễ đều nằm ở chính tâm mình. #### Kế thừa và Phát huy trên lối cũ Bộ sách này được soạn thảo nhắm đến tất cả những chướng ngại và khó khăn nêu trên. Để có được những phương pháp thực hành đúng đắn và đối mặt thực tế, chúng tôi đã tìm tòi, nghiên cứu về cuộc đời và hành trạng (tiểu sử) của các bậc thánh nhân thuở xưa — những vị là tấm gương sáng về y đức và đạo hạnh. Đức Phật đã từng dùng bài kinh “**Đại Bổn**” (**Mahāpadāna Sutta**) để thuật lại con đường cũ (**purāṇaṃ maggaṃ**) — lối mòn mà chư Phật đời trước đã đi — cho vương tử Bodhirājakumāra nghe. Ngài cũng đưa ra những bài học về việc từng gặp sai lầm trong việc chọn thầy, những suy nghĩ lệch lạc và cả lúc suýt nguy khốn khi đi nhầm đường trước khi thành đạo. Chúng ta, những người đọc, cần phải tìm thấy những bài học từ lối cũ đó. Cần phải lấy tiểu sử của các bậc tiền nhân làm phương cách để tiến bộ và tăng trưởng sức mạnh tâm linh. > Lối cũ xưa ta gắng sức bồi, > Cần thì suy xét, định tâm soi. Việc tìm kiếm và đọc giữa vô vàn các kinh sách nằm rải rác là điều không hề dễ dàng. Nó tiêu tốn rất nhiều thời gian và công sức (nạn **gantha-palibodha** - sự bận rộn về kinh sách). Vì vậy, chúng tôi hy vọng tác phẩm này sẽ trở thành một cột mốc hữu ích trong công việc tu học. ## TRANG 63 Lời nói đầu (tiếp theo) Các nội dung đã được phân loại và tập hợp một cách có hệ thống. Tôi cũng xin thông báo rằng, trong phần tiểu sử về các bậc tiền nhân, tuyệt đối không có sự thêm thắt hay cắt bỏ các tình tiết gốc để chiều lòng độc giả thời nay. Bộ “Lịch sử Truyền thừa Pháp Hành tại Myanmar” này được chia làm ba phần: 1. Phần 1: Các thời đại Hanlin, Sri Ksetra, Thaton, Bagan, Pinya và Innwa. 2. Phần 2: Từ thời vua Alaungmintaya đến cuối thời Konbaung. 3. Phần 3: Từ thời bối cảnh thuộc địa Anh cho đến thời hiện đại. Trong quá trình biên soạn bộ kinh này, tôi xin ghi nhận và đặc biệt cảm ơn sự giúp đỡ về tư liệu, ý kiến đóng góp của: 1. Ông Lay Myaing (Tổng biên tập tạp chí Ngwe Tar Yi) 2. Ông Maung Maung (Biên tập viên, Ban dịch thuật Tam Tạng Myanmar) 3. Dhammācariya U Myo Myint (Romani, B.A.) 4. Ông Nyan Win (Tiến sĩ Pali, Chuyên viên nghiên cứu, Đại học Phật giáo Thế giới) 5. Ông Han Htay (Báo Working People’s Daily) 6. Các ông Myint Ohn, Sein Lha Aung, Quản lý Lha Win Sein, Chit Wai (Kaba Aye) 7. Ông Myo Win và đội ngũ (Yoke Book Computer & Offset) Nguyện cầu cho quý vị đạt được tri kiến đúng đắn và được an lạc. Nguyện cho năng lượng của bậc thiện nhân và Giáo Pháp cao thượng bao trùm khắp thế gian và trường tồn mãi mãi. **Htay Hlaing** (Dhammācariya U Htay Hlaing) Ngày 8 tháng sau Trăng Tròn tháng Thadingyut, năm 1335 (Miến lịch). (19/10/1973) Ấn bản lần thứ 9. ## TRANG 67 Nammo Tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa. ### Hành trình lịch sử truyền thừa Giáo pháp tại Myanmar Như một "pháo đài cuối cùng" của Phật giáo, Myanmar đã đứng vững vàng từ thời kỳ kinh đô hơn một ngàn năm trước cho đến tận ngày nay. Đất nước này cũng đóng vai trò như một kho tàng lưu giữ di sản văn hóa tâm linh cao quý và thuần khiết cho nhân loại trên khắp các châu lục. Nếu Myanmar không kiên trì gìn giữ như vậy, có lẽ Phật giáo ngày nay đã rơi vào cảnh "vàng thau lẫn lộn". Đối với chúng sinh đang mải miết dò dẫm trong đêm tối mịt mùng của những chặng đường gian khó, đại lộ **Majjhimā Patipadā** (Trung đạo) chắc hẳn đã bị lu mờ dấu vết, khiến họ chẳng thể nào thoát khỏi vực thẳm. Nhưng giờ đây, Myanmar đã có thể dùng ánh sáng Pháp bảo thuần khiết và chân thực để soi rọi, cứu độ cả thế gian hướng tới hòa bình. Chúng ta cũng cần bày tỏ lòng tri ân sâu sắc trước tầm nhìn xa trông rộng, đức tin và sự tinh tấn (**Saddhā** và **Vīriya**) của các bậc Tiền bối, cha ông. Người dân Myanmar ngày nay hoàn toàn có quyền tự hào khi hội đủ các điều kiện **Patirūpadesavāsa** (Trú ngụ ở nơi thuận lợi) và **Sappurisūpanissaya** (Gần gũi bậc thiện tri thức). Đây chính là minh chứng cho việc "có Ba-la-mật đã tích lũy từ nhiều đời kiếp", vì thế chúng ta cần biết trân trọng giá trị cao quý của kiếp sống này. Lược lại sử liệu Phật giáo và vương triều Myanmar, trong suốt một ngàn năm qua, chưa bao giờ thấy Pháp **Patipatti** (Hành pháp) hưng thịnh như thời đại ngày nay. Trước đây, dòng truyền thừa **Patipatti** chỉ duy trì ở mức không bị đứt đoạn. Qua các thời đại, sự chú trọng phần lớn nghiêng về **Pariyatti** (Học pháp), khiến việc tu học thường chỉ dừng lại ở mức kinh viện, chữ nghĩa. Có lời ví rằng: "Người chăn bò thuê được uống sữa nhưng không phải là chủ sở hữu, chỉ người làm chủ mới thực sự sở hữu đàn bò". Nếu chỉ dừng lại ở **Pariyatti** mà không muốn thực hành **Patipatti**, chúng ta mới chỉ chạm tới một phần mười ân đức của Phật Tổ. Trong việc hiểu rõ công hạnh hoằng pháp, nếu chỉ dựa vào **Pariyatti** đơn thuần thì không thể nếm trải được hương vị đích thực của hành trình tâm linh, cũng không có được sức mạnh nội tâm thực sự. Khi nhận thấy Giáo pháp có dấu hiệu suy giảm, từ những ngôi trường sơ cấp tại tự viện đến các đại học tăng già miễn phí đã được thiết lập để hoằng pháp cho phù hợp với thời đại — ## TRANG 68 Dù cứ ngỡ rằng chính sách này sẽ lan tỏa khắp thế giới, nhưng thực tế nó có thể khiến trình độ **Pariyatti** truyền thống bị sụt giảm đáng kể. Sức mạnh nội tâm thực chứng bị rò rỉ, chỉ còn lại cái vỏ hoằng pháp hào nhoáng bên ngoài. Từ năm 1247 (Lịch Myanmar - khoảng 1885 CN), khi mất đi nền độc lập và rơi vào tay thực dân Anh, các hội đoàn thúc đẩy **Pariyatti** đã được thành lập để gìn giữ dân tộc và tôn giáo như: Hội Hoằng pháp (Yangon), Suvaṇṇabhūmi (Thaton), Susamācāra (Mawlamyine), Cetiyaṅgaṇa (Mandalay), Vinayādhika (Bago), Sudhammā (Nyaungdon), cùng các hội hộ trì tứ vật dụng như hội Malun-hsan-hlū. Mặt khác, một số vị thầy đã đứng ra thiết lập các ngôi trường thế gian và tham gia lãnh đạo các công việc cộng đồng. Từ thời Pagan đến thời thuộc Anh, Phật giáo Myanmar chủ yếu ưu tiên vào **Abhidhamma** (A-tì-đàm) và hệ thống giáo khoa **Pariyatti**. Việc giảng dạy và nghiên cứu các kho tàng Pháp bảo thuộc bộ **Majjhima**, **Aṅguttara** và đặc biệt là **Saṃyutta Nikāya** còn khá hạn chế. Những bộ kinh này thậm chí còn bị ví như "những bộ kinh ngủ yên". Đây chính là dấu ấn cho thấy sự cách biệt với pháp hành **Patipatti** qua nhiều thời đại. Các kỳ thi cũng ưu tiên học thuộc lòng **Atthakathā** (Chú giải) và **Tīkā** (Phụ chú giải) hơn là nghiên cứu nguyên gốc **Pāḷi Canon** (Kinh điển Nguyên thủy); trong các bộ Chú giải và Phụ chú giải lại quá chú trọng vào ngữ pháp, dẫn đến việc xa rời **Vimuttirasa** (Hương vị giải thoát). Sau cuộc Kết tập Kinh điển lần thứ năm, các công trình dịch thuật **Nissaya** (Dịch đối chiếu), các bản dịch Pāli-Myanmar của Ngài Mohniti, ông Shwe Hlay, hay cư sĩ Myo (Aggamahāpaṇḍita) đã đem lại lợi ích to lớn, nhưng vẫn chưa thể phá vỡ được "ánh hào quang và định kiến về các bộ đại ngữ pháp, tiểu ngữ pháp" vốn bắt nguồn từ thời Pagan. Việc quá bám sát vào các nhà ngữ pháp và giải thích học đã khiến người học không có cơ hội được "chiêm bái dung nhan vàng ngọc của Đức Thế Tôn" ở khoảng cách gần nhất. Dù vậy, chúng ta vẫn phải vô cùng tri ơn các bậc Tiền bối đã giữ vững lập trường "không thay đổi, không điều chỉnh Giáo pháp theo thời đại" mà kiềm giữ chặt chẽ **Pariyatti**. Việc ngày nay chúng ta được thưởng thức "váng sữa" của pháp hành **Patipatti** dồi dào chính là nhờ ân đức của các bậc cha ông — những người dù theo lối dạy cũ nhưng đã giữ gìn Luật tạng và Vi diệu pháp một cách nghiêm cẩn, không để bị "thế tục hóa". Thực tế, dù ở bất kỳ thời đại hay thể chế nào, Phật giáo cũng không có gì để loại bỏ, không có gì để bổ sung hay sửa đổi; Pháp đã đạt đến sự hoàn hảo tuyệt đối '**Kevalaparipuṇṇa**'. Điều cần thiết duy nhất là nỗ lực học hỏi cho thấu đáo và thực hành cho trọn vẹn. Chính vì thế, dù đứng giữa các tôn giáo lớn trên thế giới có sự hậu thuẫn của quyền lực thực dân Anh — ## TRANG 69 Phật giáo tại Myanmar vẫn đứng vững vàng và uy nghi. Giữa những tôn giáo chú trọng vào cuộc sống hiện tại và sự cứu rỗi từ đấng tối cao (tôn giáo cứu độ), Phật giáo — với định hướng về đời sống tương lai và sự tự cứu độ (tôn giáo nghiệp báo) — lại càng trở nên nổi bật và rõ nét hơn. Các bộ Tam Tạng từ cung đình thời đó cũng đã được đưa sang thư viện Victoria, đóng vai trò như một cuộc hoằng pháp ngược dòng. Các bộ sách **Ledi Dīpanī** cũng góp phần hỗ trợ "đạo quân Pháp" lan tỏa khắp châu Âu. Sau Thế chiến thứ hai, khi chủ nghĩa vật chất coi khoa học là bất tử bắt đầu bao trùm thế giới, Phật giáo — với sự dẫn dắt của Myanmar — đã tổ chức đại lễ kỷ niệm 2500 năm Phật giáo (Phật Lịch 2500) thành công rực rỡ trên khắp toàn cầu. ### Để được chiêm bái Đức Phật ở gần hơn Trong thời kỳ sau khi giành độc lập, hệ thống thi cử quá chú trọng vào ngữ pháp đã bắt đầu thoái lui. Các kỳ thi do Chính phủ tổ chức hàng tuần về Vi diệu pháp, **Visuddhimagga** (Thanh Tịnh Đạo); các kỳ thi Nikāya đào tạo nên những bậc thuộc lòng kinh điển (với sự dẫn dắt của Ngài Masoeyein Sayadaw - bậc Abhidhaja Mahā Raṭṭha Guru); kỳ thi tuyển chọn Tipiṭakadhara (Bậc thông thuộc Tam Tạng) và kỳ thi Sāmaṇe Kyaw (Sa-di ưu tú); kỳ thi dịch thuật **Saṃyutta Nikāya** (Yangon), kỳ thi dịch thuật **Majjhima Nikāya** (Bago)... tất cả đã tạo nên một bước ngoặt cho nền giáo dục **Pariyatti** tại Myanmar. Và kỳ thi Nittaraṇattha hướng hoàn toàn về phía **Patipatti** chính là minh chứng cho câu nói "nước dâng thì hoa sen mới cao"; chiều sâu của **Pariyatti** chính là cột thủy ngân đo lường tầm vóc của **Patipatti**. Vì thế, chúng ta nên tham gia hỗ trợ ở những khía cạnh mà bản thân không tự thực hiện được. Chúng ta cũng cần tìm hiểu sâu sắc và khởi tâm kính tín trước cuộc đời của những vị Sa-di, Tỳ-kheo trẻ tuổi — những người đã gạt qua các phương pháp học tập hiện đại để chuyên tâm học thuộc lòng, giữ cho Giáo pháp được trường tồn bằng chính mạng sống của mình. Sự hưng thịnh của **Pariyatti** bắt đầu từ năm 1310 (Lịch Myanmar) cũng chính là sự tiến bộ của **Patipatti**. Từ kỳ thi tuyển chọn **Tipiṭakadhara**, đến nay đã xuất hiện 16 vị thông thuộc toàn bộ Tam Tạng, cùng với hơn 500 vị thông thuộc hai tạng hoặc một tạng Nikāya. Nói như vậy để thấy rằng, trên suốt hành trình lịch sử truyền thừa tại Myanmar, khi Giáo pháp đang tỏa sáng rực rỡ như thế này, làm sao có thể nói là đang suy giảm được? Chưa có thời đại nào hưng thịnh như thế này. (Hãy dẹp bỏ những tư duy cũ kỹ, những lối mòn cũ kéo lùi bước tiến của Chú giải và Phụ chú giải...) ## TRANG 70 Nếu những "anh hùng Tam Tạng" xuất hiện ngày càng nhiều hơn, chắc chắn rằng tương lai của Giáo pháp sẽ vô cùng rạng rỡ. ### Dòng chảy Thực hành (Paṭipatti) Cho đến thời kỳ đầu của thực dân Anh, giáo pháp Thực hành (Paṭipatti sāsana) vẫn chưa có đủ sức mạnh như thời kỳ Konbaung. Ngược lại, lộ trình của giáo pháp Pháp học (Pariyatti sāsana) đã có đà phát triển mạnh mẽ và thức tỉnh từ rất sớm. Các bộ kinh điển Pariyatti quan trọng của các bộ phái (Nikaya), vốn trước đây được coi là những bản văn "đang ngủ yên" và chỉ được tôn thờ như các bảo tháp Pháp (Dhammaceti) trong các tủ kính, thì nay ngay cả những phụ nữ trẻ cũng đã có thể đọc và nghiên cứu. Những bài kinh như **Kinh Chuyển Pháp Luân (Dhammacakkappavattana Sutta)**, **Kinh Vô Ngã Tướng (Anattalakkhaṇa Sutta)**, và **Kinh Đại Niệm Xứ (Mahāsatipaṭṭhāna Sutta)**, vốn trước đây chỉ được học thuộc để tụng đọc, nay đã trở thành những bản văn hướng dẫn thực hành thực tế. Nói về việc tụng niệm các ân đức Phật (Guṇa) và **Kinh Từ Bi (Metta Sutta)** như một hình thức nghi lễ bái Tam Bảo, Ngài Mogok Sayadaw từng dạy rằng: "Thực tế, nếu dùng sai thuốc thì ngay cả xoa bên ngoài cũng chẳng có tác dụng gì, làm sao khỏi bệnh được?". Khi những ao hồ, đầm lầy tràn đầy nước, chúng sẽ chảy thành những con suối, dòng kênh. Nhiều con suối nhỏ hợp lại thành sông nhỏ. Những con sông nhỏ dần chuyển mình thành những con sông lớn và cuối cùng đổ ra đại dương bao la. Ví dụ đó cũng giống như giáo pháp Thực hành trước đây, vốn chỉ tồn tại rải rác như những ao hồ, đầm lầy ở nơi này nơi khác. Cho đến giai đoạn đầu của thời kỳ này, nó vẫn chưa đủ sức mạnh để tạo thành một dòng chảy liên tục. Vào cuối thời Konbaung, trong thời kỳ của Ngài Htut Khaung Sayadaw (1160-1242) và Ngài U Sīla (1194-1269), dòng chảy này bắt đầu lan tỏa khắp nơi. Tuy nhiên, nó vẫn chưa đủ sức mạnh để vượt qua những cánh rừng rậm rạp hay những sườn núi cao của các quan kiến cũ. Đến thời của **Đại đức Ledi Sayadaw** (1208-1285), **Đại đức Thek-cha-taung Sayadaw** (1233-1293) và **Đại đức Mohnyin Sayadaw** (1234-1326), dòng chảy Thực hành đã trở nên mạnh mẽ rõ rệt, chuyển từ hình thái những con suối nhỏ sang những con sông lớn. Tiếng vang của dòng chảy này đã tác động mạnh mẽ đến khắp cả nước. (Ngày nay, tại Mỹ và Châu Âu, thông qua những người ngoại quốc "trở về từ Miến Điện", cùng với các kinh điển về Vipassana và các phương tiện truyền thông...) ## TRANG 71 Lòng từ ái và sự đóng góp của cư sĩ Saya Thet Gyi và cư sĩ U Ba Khin (Inya Myaing) đối với Phật giáo đã thu hút được sự chú ý lớn lao. Vị triệu phú quá cố, người đứng đầu các trung tâm thực hành, Ngài S.N. Goenka, đã gạt bỏ các công việc kinh doanh để mở các trung tâm thiền khắp đất nước Ấn Độ, và tính đến đầu năm 1974, số lượng hành giả đã vượt quá 20.000 người. Tại Mỹ và Canada, một hành giả người Mỹ là ông Robert Hoover đã hướng dẫn thiền cho hơn 1.000 người. Ông vốn là một chuyên gia về chế tạo tên lửa liên lục địa và tàu vũ trụ. Ông Coleman, người Anh, cũng đang hướng dẫn thiền tại Anh. Cả ba người nầy cùng nhau thiết lập các trung tâm thiền tạm thời và thường trực tại Ấn Độ, Mỹ và Châu Âu để tiếp tục lan tỏa giáo pháp Thực hành, hứa hẹn một tương lai đầy hy vọng. (Chi tiết được trình bày đầy đủ trong cuốn sách "Tương lai của cư sĩ **Saya Thet Gyi, bậc thầy Thực hành**"). ### Sự hỗ trợ của Chính phủ Sau khi giành được độc lập (năm 1309 Miến lịch - 1948 DL), các dòng chảy thực hành như những con sông Irrawaddy lớn, với sức mạnh của các đợt sóng cao, đã phát triển vô cùng mạnh mẽ. **Đại đức Thaton Jetawun Sayadaw** (1231-1316) **Đại đức Sunlun Sayadaw** (1239-1314) **Đại đức Kanni Sayadaw** (1241-1328) **Đại đức Webu Sayadaw** (1257-1339) **Đại đức Mogok Sayadaw** (1261-1324) Các bậc Trưởng lão gánh vác trọng trách Thực hành (1266-1344) đã làm tăng thêm vẻ huy hoàng của giáo pháp trong giai đoạn độc lập (như năm Phật lịch 2500). Trong đó, ảnh hưởng của Ngài Webu Sayadaw, Ngài Mogok Sayadaw và Ngài Mahasi Sayadaw là sâu rộng nhất. Từ năm 1303 (Miến lịch), chính phủ đã trực tiếp ủng hộ và tán dương. Hàng năm, số tiền 150.000 (kyat) được cấp cho Ban Thực hành thuộc Hội Phật giáo Buddhasāsana, nằm dưới quyền của Bộ trưởng Bộ Tôn giáo đặc trách giáo pháp Thực hành, để hỗ trợ cho khắp cả nước... ## TRANG 72 Hiện có 336 trung tâm thiền (Kammaṭṭhāna). Tùy theo số lượng hành giả, các trung tâm được chia thành bốn loại để nhận hỗ trợ cúng dường. Trung tâm có từ 5 đến 20 hành giả được hỗ trợ 100 kyat tiền gạo cúng dường; từ 21-30 hành giả nhận 150 kyat; từ 31-40 hành giả nhận 200 kyat; và từ 41 hành giả trở lên nhận 250 kyat. Chín vị Trưởng lão Kammaṭṭhānācariya (Thiền sư) đức độ mỗi ngài được cúng dường 750 kyat cùng với hai bộ y sa-môn hàng năm. Mặc dù số tiền hỗ trợ của chính phủ so với quy mô của các trung tâm thiền là không đáng kể, nhưng điều này thể hiện sự công nhận và tôn kính của chính phủ, một điều rất cần thiết. Thay vì tiền gạo, nếu chính phủ thường xuyên cúng dường các kinh sách về Thực hành hoặc phát hành các "bản tin hàng tháng" về những điều đáng ghi nhớ và kính ngưỡng trong việc tu tập, thì lợi ích thu được sẽ còn to lớn hơn nhiều. Từ thời độc lập cho đến ngày nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của giáo pháp Thực hành, cũng xuất hiện những tà kiến (micchādiṭṭhi) hữu hình và vô hình đang tìm cách tấn công một cách tinh vi. Có thể tóm lược như sau: 1. Các học thuyết cho rằng "không cần thiết phải tu tập thiền định đặc biệt" (coi si mê (moha) là Niết-bàn). 2. Những tà thuyết lợi dụng danh nghĩa "nhập định (samāpatti)" để chụp ảnh các chú tiểu hay thiếu nữ nhằm phô trương. 3. Những giáo phái nhân danh Kammaṭṭhāna, để mặc cho người đời gọi mình là "bậc Thánh (Ariya)", rồi công khai tuyên bố về việc chứng đắc "Bốn Đạo, Bốn Quả" một cách lộ liễu, làm giảm uy tín của giáo pháp Thực hành. 4. Những giáo phái tự cấp "giấy chứng nhận chứng đắc Thánh quả". 5. Những người tuy không rành Pháp học (Pariyatti) nhưng nhờ có tư duy và khả năng viết lách tốt nên đã dùng những lý lẽ ngụy biện để tự cho mình là bậc Thánh. Khi đối mặt với khó khăn hay cám dỗ, họ quan niệm rằng: "Bậc Dự Lưu (Sotāpanna) cũng không giữ trọn ngũ giới, vẫn còn uống rượu", từ đó khiến giáo pháp cao thượng của Đức Phật trở nên rẻ rúng như "phân chuột lẫn trong gạo", gây ra vô số sự hỗn loạn và sai lầm. Cũng giống như ở thời kỳ Tích Lan, để làm cho người ta tin rằng A-la-hán không hề giảm bớt, có những người theo quan niệm che giấu lỗi lầm, cho rằng bậc Thánh vẫn có thể phạm giới khi không kiềm chế được. Những loại "bậc Thánh" dùng sự xảo quyệt để bẻ cong kinh điển cho phù hợp với cái sai của mình cũng xuất hiện rất nhiều. ## TRANG 73 ### Vi khuẩn trong Pháp Hành (Paṭipatti) Sự bối rối và hoang mang này chính là pháp của kẻ giả mạo. Trong số những "kẻ giả danh tinh vi" ấy, có những hành giả sở hữu đức tin (saddhā) hời hợt hoặc trí tuệ (paññā) không tương xứng, dễ bị dao động. Trong thế giới của Pháp hành (Kammaṭṭhāna), ngoài những sự lừa dối tinh vi, tương tự như thật, thậm chí còn có những kẻ táo bạo đến mức mượn danh "truyền năng lượng" hay "nhập xác" để ban truyền đề mục thiền định. Tầng lớp dưới vốn thiếu kiến thức Giáo pháp (Pariyatti) không thể phân biệt được đâu là tôn giáo đích thực, dẫn đến tình trạng hỗn loạn, sa chân vào cạm bẫy. Trong một môi trường đầy rẫy sự rối ren như vậy, bất kỳ ai làm việc với một niềm hy vọng mong manh cũng đều dễ dàng trở thành nạn nhân của những kẻ lừa đảo chuyên gieo rắc những hy vọng hão huyền. Đó là lẽ thường tình. Lỗi chẳng hoàn toàn thuộc về kẻ lừa đảo. Tùy theo tầng lớp và mức độ hiểu biết, những kẻ này phân chia các cấp bậc đại diện, thần lực mạnh yếu khác nhau để truyền bá chủ nghĩa ngã chấp (attavāda). 1. Trong thế gian này, vũ khí chính được sử dụng để tàn phá giáo pháp của Đức Phật chính là chủ nghĩa ngã chấp vốn đã ăn sâu bám rễ. 2. Chủ nghĩa ngã chấp này lôi kéo các đệ tử Phật giáo, khoác lên mình hình thức Phật giáo nhưng lại lén lút đưa vào chủ nghĩa ngã chấp của Đại thừa (Mahāyāna), thiết lập ra các hệ phái từ hạ đẳng đến cao đẳng (tà đạo). 3. Họ tạo ra những kẻ đại diện sử dụng các loại quỷ thần cấp thấp, bóng quế, tinh ma, phù thủy, ngạ quỷ (peta). Theo những bài học từ lịch sử Sri Ksetra và Bagan, cần phải cảnh giác để không rơi vào con đường nhiễm độc của các tu sĩ Ari (Aryi) giả danh thuở xưa. Một vết thương cũ đã lành, hay người không có vết thương mới thì chất độc không thể xâm nhập. Cầm chất độc bằng bàn tay không có vết trầy xước thì không có gì đáng sợ. Khi tâm không có "vết thương mới" như: lòng ham muốn lợi dưỡng, quyền lực (từ nghiệp bất thiện cũ), khao khát kinh doanh nổi tiếng, hay niềm kiêu mạn về kiến thức Giáo pháp (Pariyat) và Pháp hành (Paṭipat), hoặc tham ái muốn sống lâu không bệnh tật... thì không cần phải sợ hãi Ma vương hay tay sai của chúng. Chúng chỉ có thể sai khiến và gây khổ đau cho những người đã có sẵn "vết thương cũ" (quả nghiệp quá khứ) và đang tạo thêm "vết thương mới" (nghiệp hiện tại). ## TRANG 74 Đó chỉ là những loài độc vật nhỏ bé. Điều quan trọng nhất là làm lành vết thương cũ và không để vết thương mới phát sinh. Để tiêu diệt tận gốc rễ và chữa lành mọi vết thương cũ - mới, không có phương thuốc nào khác ngoài thần dược Thiền định (Kammaṭṭhāna). **Yassa pāpaṃ kataṃ kammaṃ, kusalena pidhīyati.** (Kinh Angulimala.) *“Ai dùng các hạnh lành, xóa sạch nghiệp ác xưa.”* ### Phát quang và dẹp sạch sự hỗn loạn của kịch đời Thế gian này rộng lớn vô biên và vô cùng phức tạp, rối ren. Ngay cả với người rất khao khát Niết-bàn và đang thực hành Giáo pháp, nếu nền tảng Giới hạnh (Sīla) không vững chắc, làm việc gì cũng mập mờ, thiếu quyết đoán, lười biếng, trì trệ hoặc hời hợt, thì hành giả đó sẽ càng lún sâu vào sự rối rắm không lối thoát. Thường thì "kẻ giả danh làm thầy sẽ bị ma quỷ ám". **Sithilo hi paribbājo, bhiyyo ākirate rajaṃ.** (Pháp Cú.) *“Sống đời tu lỏng lẻo, càng vấy bẩn bụi trần.”* Một vị Thiên tử khi nhìn thấy khu rừng rậm thế gian đầy dẫy những chằng chịt, rối ren, khó lòng gỡ ra được, đã bạch hỏi Đức Thế Tôn rằng: **“Ko imaṃ vijaye jaṭi —** Ai có thể phát quang, dẹp sạch khu rừng rậm thế gian đang rối ren chằng chịt cả bên trong lẫn bên ngoài này, bạch Đức Thế Tôn?” Đức Phật đã thuyết giảng rằng, ngay cả với một hành giả có niệm - tỉnh giác (sati-sampajañña), có tinh tấn (vīriya) dũng mãnh và có trí tuệ chín chắn từ kinh nghiệm, cũng phải dựa trên nền tảng Giới hạnh (Sīla) vững chắc thì mới có thể tháo gỡ được sự rối ren này. Ngài Đại trưởng lão Buddhaghosa cũng đã chỉ rõ rằng: “Dù các hành giả nỗ lực tinh tấn để mong cầu sự thanh tịnh, thoát khỏi tà kiến, nhưng nếu không biết rõ ‘đâu là rối, đâu là sạch’ thì khó lòng đạt được sự thanh khiết. Vì vậy, ta sẽ viết bộ luận **Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga)** này.” Ngài bắt đầu bằng cách giải thích câu kinh **“Sīle patiṭṭhāya”** (An trú trong Giới) của Đức Thế Tôn để chỉ ra con đường thanh tịnh, thoát khỏi sự hỗn loạn của tà kiến. Ngài đã đặt mục tiêu vào bài kệ dẹp sạch sự hỗn loạn của kịch đời làm cương yếu, với tâm nguyện cuối cùng là mong cho chúng sinh đạt được Niết-bàn bằng con đường thực hành dễ dàng này. Khu rừng thế gian trong 31 cõi dẫn đến Niết-bàn đầy dẫy những quanh co, rối rắm, khiến người ta dễ lạc mất phương hướng. Để vượt thoát thế gian, đạt đến cõi siêu thế (Lokuttara), tìm cầu ánh sáng chân lý, thì Giới hạnh đóng vai trò vô cùng quan trọng. ## TRANG 75 Chỉ có những pháp nền tảng như Giới hạnh mới có thể dẹp sạch những rối ren của thế gian, những rối ren của đời sống. Chính những pháp này sẽ giúp chúng ta phân biệt rõ rệt từng mức độ: thế gian rối ren - thế gian thanh sạch, đời sống rối ren - đời sống thanh sạch, người làm rối - người gỡ rối, và mức độ rối - sạch đến đâu. Cũng chính những pháp nền tảng này sẽ cho chúng ta cơ hội được đảnh lễ những bậc vĩ nhân, những bậc thánh nhân đã phát quang và gạt bỏ mọi sự rối ren của đời sống. Nếu những pháp nền tảng này còn chưa thông suốt, chưa thực hành được mà đã vội vàng “trèo cao hái quả chín”, vươn đến các tầng Thiền định (Samatha), Tuệ quán (Vipassanā), hay các bộ Nikāya và Tạng Vi Diệu Pháp (Abhidhamma) đồ sộ, thì nỗ lực ấy cũng chỉ vô ích mà thôi. Giống như một người uống nước mà còn không tiêu hóa nổi, lửa tiêu hóa yếu ớt, nếu miễn cưỡng ăn cơm thịt (cơm Biryani/Danbauk) thì sẽ dễ bị nôn mửa và tiêu chảy. ### Những cơ hội tốt đẹp hiện tại Trong thế giới của Pháp hành (Paṭipatti), dù cho những sự rối ren do bàn tay Ma vương tạo ra thông qua các học thuyết giả mạo có vẻ như đang bao phủ cả một khu rừng rậm rạp, chúng cũng không thể xuyên thủng hay làm chuyển hướng dòng chảy mạnh mẽ của Pháp hành thực thụ. Chúng lại càng không thể bắt dòng chảy ấy phải dừng lại hay thụt lùi. Chúng chỉ như những đám lục bình, rác rưởi trôi nổi trên dòng sông Ayeyarwady, chỉ có thể làm bẩn dòng nước đôi chút mà thôi. Dòng sông Pháp hành đã được bồi đắp qua nhiều thế hệ, chẳng bao lâu nữa sẽ hòa vào đại dương bao la. Đây là quy luật tất yếu của sức mạnh không gì ngăn cản nổi. Sức mạnh tĩnh lặng, bình an của đại dương sẽ bao trùm lên toàn bộ khu rừng, san phẳng mọi đồi núi lung tung, biến những bụi gai, chướng ngại thành một bình nguyên đồng nhất. Ngày nay, sự hiện diện của **Ngài Đại trưởng lão Webu Sayadaw** (hơn 80 tuổi đời) và **Ngài Đại trưởng lão Mahāsi Sayadaw** (với hơn 70 hạ lạp trong Pháp hành) như hai mặt trời, hai mặt trăng chiếu sáng rực rỡ nhất. Các bậc thiện trí thức luôn đặt trọn niềm tin và nương tựa vào sức mạnh của các Ngài - sức mạnh có khả năng lan tỏa ánh sáng Giáo pháp khắp mọi nơi trên đất nước, từ những chiếc xe bò đến những con thuyền nhỏ, không một nơi nào bị bỏ sót. ## TRANG 76 **Ngài Đại trưởng lão Mahasi Sayadaw** Trong suốt giai đoạn Đại hội Kết tập Tam Tạng lần thứ VI — một sự kiện lịch sự trọng đại minh chứng cho năng lực phi thường của người dân Myanmar vào thời kỳ Phật lịch 2500 — thế giới không chỉ được thấy hào quang rực rỡ của Phật giáo tại Myanmar, mà còn có cơ hội để chiêm bái và tán dương năng lực uyên thâm về Pháp học (Pariyatti) của Ngài Đại trưởng lão Mahasi Sayadaw. Công tác trọng yếu nhất của Đại hội Kết tập lần thứ VI là việc hiệu đính, kiểm duyệt và ấn hành toàn bộ sưu tập 117 bộ Chánh tạng, Chú giải và Sơ giải (Pāḷi, Aṭṭhakathā, Ṭīkā). Hai bậc vĩ nhân gánh vác trách nhiệm nặng nề nhất, đứng ở vị trí hàng đầu trong công cuộc này chính là Ngài Mahasi Sayadaw và Ngài **Tam Tạng Thủ kho Pháp bảo (Tipiṭakadhara Dhammabhaṇḍāgārika) Ashin Vicittasāra**. Trong đó, Ngài Mahasi Sayadaw còn đảm nhận trách nhiệm chuyên sâu hơn trong việc kiểm duyệt văn bản. Có thể nói, đây là hai biểu tượng cao quý (như hai thăng tượng trắng) xuất hiện nhờ phước báu của giáo pháp và thiện sự của nhân dân Myanmar. Tại các buổi hành lễ của Đại hội, hai Ngài đã lần lượt đảm nhiệm các vai trò vấn và đáp, tuần tự diễn giải tỉ mỉ những điểm cần ghi nhớ để đại chúng cùng chiêm bái. Trong nhiệm vụ này, Ngài **Tam Tạng Sayadaw (Tipiṭakadhara Sayadaw)** đã gánh vác phần lớn trọng trách. Nếu những lời thuyết giảng của Ngài **Tam Tạng Sayadaw** giúp hàng thiện nam tín nữ tăng trưởng đức tin trong sáng, thì những giải đáp của Ngài Mahasi Sayadaw lại mang tính nghiên cứu lịch sử và phán quyết chuyên môn, giúp các bậc thông hiểu Phạn ngữ (Pāḷi) mở mang kiến thức và tuệ giác. Vào thời điểm đó, bậc trưởng thượng đứng đầu Hội đồng Tăng-già Mahānāyaka, Ngài Trưởng lão Masoeyein Sayadaw — bậc nhận danh hiệu cao quý “**Abhidhaja Mahā-raṭṭha-guru**” (hiện nay Ngài 96 tuổi) — đã từng ngợi khen rằng: “Ngài Mahasi Sayadaw có thể nhìn thấu những điểm sai sót mà ngay cả các bậc soạn luận Abhidhammattha Saṅgaha (Thắng pháp tập yếu), các bậc soạn Sơ giải (Ṭīkā-kyaw) hay các nhà soạn sách khác cũng không nhận thấy được. Chẳng hạn, tại chương **Diệu tri kiến (Diṭṭhivisuddhi)** trong phần Hành pháp (Kammaṭṭhāna) của bộ Thắng pháp tập yếu, có ghi rằng việc phân biệt Danh-Sắc phải dựa trên **Đặc tính - Tự tính - Phận sự - Nhân gần (Lakkhaṇa-Rasa-Paccupaṭṭhāna-Padaṭṭhāna)**. Ngài Mahasi đã chỉ ra rằng phương diện **Nhân gần (Padaṭṭhāna)** chưa nên được đề cập ở chương Diệu tri kiến, mà chỉ nên xuất hiện ở chương **Đoạn nghi tri kiến (Kaṅkhāvitaraṇavisuddhi)**. Ngài đã khẳng định điều này một cách xác đáng trong kỳ kết tập. Từ nay về sau, đừng nói đến việc tìm được ai ưu việt hơn, ngay cả tìm một bậc ngang tầm với Ngài Mahasi Sayadaw cũng không phải là điều dễ dàng. Chính vì nhận thấy năng lực xuất chúng này, nên tôi đã khuyến khích Ngài biên soạn bộ '**Niết-sa-ya của bộ Đại sơ giải Thanh tịnh đạo (Visuddhimagga Mahāṭīkā Nissaya)**'.” Lời nhận định này quả thật rất chuẩn xác. Bởi vì đối với bộ Đại sơ giải (Mahāṭīkā), nếu chỉ thông thạo tiếng Pāḷi hay tinh thông Pháp hành (Paṭipatti) thôi thì... ## TRANG 77 ...vẫn chưa đủ sức để chuyển ngữ sang tiếng Myanmar một cách trọn vẹn. Do bộ luận này chứa đựng nhiều quan điểm tư tưởng Ấn Độ cổ đại, nên người dịch cần phải am tường cả các ngôn ngữ Hindi, Sanskrit và tiếng Anh thì mới có thể hoàn thành xuất sắc được. Nhờ vậy mà đến thời đại ngày nay, chúng ta mới có thể thấu hiểu được ý nghĩa đầy đủ và sâu sắc của bộ Đại sơ giải. ### Pháp Hành Tứ Niệm Xứ Lan Rộng Khắp Thế Giới Cho đến nay, các bộ sách như “**Cẩm nang tu tập Thiền Minh Sát (Vipassanā Shuni-kyan)**” và hơn 40 tác phẩm khác đã minh chứng cho “**Đạo quả thuyết giảng (Desanā-paṭivedha)** và **Đạo quả chứng đắc (Paṭipatti-paṭivedha-ñāṇa)**” của Ngài. Ngay cả những bài kinh văn (Sutta) vốn dĩ khô khan, Ngài cũng có thể trang điểm và thuyết giảng một cách sinh động, hấp dẫn, cho thấy “**Trí tuệ thiện xảo trong thuyết giảng (Desanā-vilāsa-ñāṇa)**” vô cùng nổi bật của bậc đạo sư. Khi đọc các tác phẩm của Ngài, người đọc sẽ khởi lên niềm khao khát mãnh liệt muốn hiểu rõ thuật ngữ “**Panna-paṭisambhidāpatta**” (Bậc đạt được các tuệ phân tích/vô ngại giải) được đề cập trong kinh điển. Những tác phẩm này chính là những viên đá thử vàng giúp phân biệt rõ giữa giả và thật. Chúng giống như những con đê vững chãi bao quanh hồ nước Pháp hành (Paṭipatti), giữ cho dòng chảy được tinh khiết và đúng hướng. Ngài bắt đầu hướng dẫn hành thiền từ hạ lạp thứ 14. Cho đến trước khi Ngài đến Yangon vào năm 1311 (Miến lịch), đã có hơn 30 chi nhánh thiền viện được thiết lập. Hiện nay, tại Myanmar đã có 246 chi nhánh với gần 800.000 (777.212) hành giả. Tại Sri Lanka, đã có hơn 30 chi nhánh với gần 20.000 người đã thực hành pháp. Tại Thái Lan, Campuchia, Lào có hơn 300 chi nhánh; tại Indonesia có 70 chi nhánh, và chúng ta có thể hình dung được số lượng hành giả là vô cùng lớn. Danh tiếng về Pháp hành (Paṭipatti) của Myanmar, hay chính xác là của Ngài Mahasi, đã tỏa hương khắp thế giới ngay từ trước kỳ Kết tập Tam Tạng. Các hành giả từ khắp nơi trên thế giới đã không ngừng tìm đến để nghiên cứu và thọ giáo pháp thiền của Ngài. Nhiều nhất là từ Hoa Kỳ, Anh quốc, Đức và Úc. Nhiều người đã tự mình viết sách ghi lại những trải nghiệm cá nhân. Các bậc như Ngài Tỳ-kheo người Đức **Nyanaponika Thera** (tại Sri Lanka) đã dịch các chương cốt yếu từ các tác phẩm của Ngài sang tiếng Anh để phổ biến ra toàn cầu. Nếu trong thời đại của Ngài Ledi Sayadaw có những bậc như Ngài **U Ñāṇa** từ tu viện Masoeyein hay ông **U Shwe Zan Aung** đạt được trình độ tiếng Anh tầm cỡ quốc tế và am hiểu sâu sắc Phật học, thì những giá trị... ## TRANG 78 ...vô giá và tinh hoa của Phật học tại Myanmar sẽ được tỏa sáng một cách chính xác, uy tín và rộng rãi hơn nữa. Cho đến nay, những đóng góp và vinh quang của Myanmar mà người dân nước này thường nhắc tới (nhiều không kể xiết) vẫn còn được thế giới biết đến quá ít ỏi. Thời đại này cho thấy, thế giới biết đến Myanmar chủ yếu qua Phật giáo và quốc gia này cần thêm nhiều bậc trí giả am tường cả tiếng Anh lẫn tiếng Pāḷi — những người có niềm tin tuyệt đối rằng Myanmar đang nắm giữ nguồn năng lượng mạnh mẽ nhất để chuyển hóa thế giới một cách hòa bình. Về phần chư Tăng, các Ngài đã hoàn thành vô cùng trọn vẹn trách nhiệm của mình đối với Phật giáo, cũng như đối với quốc gia và dân tộc. Sở dĩ Pháp hành (Paṭipatti) của Ngài Mahasi có thể lan rộng khắp thế giới không chỉ dựa vào năng lực Pháp học và Pháp hành của cá nhân Ngài. Mà còn nhờ vào: phương pháp thực hành dễ hiểu, kỷ luật nghiêm ngặt, hệ thống giảng dạy và điều chỉnh hàng ngày như dạy trẻ nhỏ trong trường học, và hệ thống kiểm tra/theo dõi sát sao từng cá nhân (chấm điểm) cho hơn 300 hành giả thường trực. Về phía hàng cư sĩ hộ pháp, họ cũng nhiệt tâm gánh vác các “Phật sự” bằng cách cung cấp thực phẩm, thuốc men hoàn toàn miễn phí (khi cần thiết) cho các hành giả mới, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho việc tu tập. Tóm lại, dòng sông Pháp hành (Paṭipatti) của Ngài **Đại trưởng lão Mahasi Sayadaw** ân đức vô lượng là một dòng chảy vô vô cùng mạnh mẽ, với hệ thống đê điều vững chắc, đủ sức cuốn trôi mọi rác rưởi, bụi rậm và những chướng ngại phá hoại (những mầm mống sai lệch) còn tồn đọng. ## TRANG 79 # Sayadaw Webu Dòng sông Pháp hành (Paṭipatti) của bậc Ân sư tôn kính **Sayadaw Webu** tựa như một đại lưu chảy xiết nhưng tĩnh lặng, sóng yên biển lặng đến mức người ta khó lòng nhận thấy sức mạnh vĩ đại ẩn chứa bên trong. Ngài không cố ý xây dựng những con đập ngăn nước; dòng sông ấy vốn là một lộ trình tự nhiên, hùng vĩ và kiên cố, nhưng vì quá đỗi bình lặng nên ít ai có thể thấy được sự vững chãi đáng tin cậy của nó. Tiếng nước chảy cũng thật êm dịu, và chính sự tĩnh lặng ấy lại là minh chứng cho một nguồn nội lực thâm hậu. Thật khó để diễn tả hết năng lực thuyết Pháp của Ngài, bởi đó không phải là thứ có thể chỉ ra cụ thể bằng những số trang hay thư mục, khiến người viết cảm thấy thật dè dặt khi muốn trình bày. Chỉ những ai có mắt mới có thể thấy, chỉ những ai có tai mới có thể nghe. Những giáo pháp căn bản như Giới hạnh (Sīla) đã nêu chính là nền tảng giúp Định tâm (Samādhi) phát sinh một cách không chướng ngại, và chính Định tâm ấy mới có thể giúp hành giả xuyên thấu để đạt đến tri kiến đúng đắn. Do đó, chính những pháp căn bản như Giới (Sīla) là đôi mắt, là đôi tai để người ta có thể thấy và nghe được chân lý. Phác họa sơ lược về hành trạng của Ngài: Sayadaw luân phiên trú ngụ khoảng bốn tháng tại mỗi nơi trong ba trụ điểm: Thiền viện Webu (Kyaukse), Thiền viện Aung Myay (Shwebo), và Thiền viện Ingyinpin tại quê hương Ngài, cách phía bắc thị trấn Khin-U tám dặm. Ngài thường nhập hạ tại Kyaukse. Nhìn vào những công trình kiến trúc trang nghiêm tại cả ba nơi Ngài trú ngụ, cùng với dòng người tấp nập đến đảnh lễ, chiêm bái, ta có thể cảm nhận được đức hạnh "A-hu-ney-ya Pa-hu-ney-ya" (Xứng đáng được cúng dường, xứng đáng được tiếp đón) và cảm thấy tôn kính như thể đang được diện kiến Đức Phật thuở sinh thời. Thông thường, Sayadaw thuyết Pháp mỗi ngày hai lần, sáng và tối. Trong khoảng 10 đến 15 phút đầu, Ngài thường giảng tóm tắt các nguyên tắc cốt lõi mà hành giả cần hiểu và thực hành, giống như lời hồi hướng nước (Yei-set-cha). Giọng của Ngài rất nhẹ nhàng, nên những người chưa quen nghe có thể cảm thấy thiếu tập trung. Tuy nhiên, những lời tóm lược (Ud-de-sa), những danh mục (Mātikā) đó lại cực kỳ quan trọng và mang ý nghĩa vô cùng sâu sắc. Trong những lời hồi hướng, Ngài bao quát toàn bộ các tâm thế căn bản mà người làm phước (Dāna) cần có. Tương tự như vậy, trong phần Mātikā đầu bài giảng, Ngài nêu ra các điểm trọng yếu cho hành giả như sau: ## TRANG 80 ### Những điểm trọng yếu cho hành giả 1. Nếu có Giới (Sīla), mọi nguyện ước chân chính đều có thể thành tựu; vì vậy hãy nỗ lực vuông tròn Giới hạnh. 2. Sự an lạc trong 31 cõi không cần phải đặc biệt cầu nguyện, vì nó sẽ tự tìm đến như một quả báo tất yếu khó tránh khỏi; do đó chỉ nên hướng tâm nguyện cầu quả vị Giác ngộ như Thinh Văn Bồ-đề (Sāvaka-bodhi). 3. Những thiện sự giúp duy trì Giáo pháp (Sāsana) chính là đôi chân dẫn lối đến Niết-bàn (**Caraṇa** - Hạnh), hãy cố gắng thực hiện trong khả năng của mình. 4. Khi bố thí, cần giữ tâm trong sạch, cung kính, đích thân dâng cúng đối với cả tịnh vật và đối tượng thọ nhận. 5. Phải vâng giữ lời dạy của đức Phật và bậc Thầy một cách tuyệt đối, không để rơi rụng dù chỉ một lời (**Sovacassatā** - Thiện ngôn/Dễ dạy). 6. Việc có mặt tại buổi thuyết Pháp này chính là minh chứng cho một người "có Ba-la-mật". Thời điểm và kiếp sống tốt đẹp hiện tại không khác gì thời đức Phật. Những gì các bậc xuất gia và cư sĩ thời đức Phật đạt được, chúng ta cũng có thể đạt được; không có điều gì là không thể nếu ta có ước nguyện. Thậm chí kết quả nhận được còn nhiều hơn cả những gì ta hằng mong đợi, vì vậy hãy nỗ lực tinh tấn (Viriya) noi theo gương hạnh của các bậc tiền bối. 7. Những gì chúng ta học và ghi nhớ thì nhiều vô kể, nói không hết. Tuy vậy, điều quan trọng nhất là chọn lấy một pháp môn mình thích và thực hành một cách kiên định, chuyên tâm với sự tinh tấn dõng mãnh. Hơi thở ra - hơi thở vào luôn hiện hữu từ khi sinh ra cho đến lúc chết, là thứ ai cũng dễ dàng nhận biết; hãy chỉ việc hay biết sự xúc chạm của hơi thở tại đầu mũi mỗi khi hít vào - thở ra. Hãy làm ngay bây giờ, lửa phiền não sẽ tắt ngay bây giờ, và đạt được sự an lạc ngay hiện tại (**Akāliko** - Pháp không có thời gian). 8. Việc duy trì sự tỉnh giác như vậy sẽ giúp thân và khẩu không còn phóng túng (**Adhisīla** - Tăng thượng Giới), tâm không còn loạn động (**Adhicitta** - Tăng thượng Tâm). Khi đó, hành giả sẽ thấy rõ "chỉ có Danh và Sắc" thông qua sự vận động, sinh diệt không ngừng từ đầu mũi đến toàn bộ thân thể (**Adhipaññā** - Tăng thượng Tuệ). Như vậy, Tam học (Sikkhā) đã được thu nhiếp. Tám chi Thánh đạo (Bát Chánh Đạo) bắt đầu từ Chánh kiến cũng được bao hàm. 37 Phẩm Trợ Đạo (Bodhipakkhiya-dhamma) như Tứ Niệm Xứ cũng đã được thực hành. Việc thực hành Anapanasati (Niệm hơi thở) đã thâu tóm trọn vẹn cả Tam Tạng kinh điển; vì vậy đừng làm những chuyện vụn vặt tản mạn, bởi càng suy tư, tưởng tượng thì càng dễ sai lầm. 9. Ngay cả khi đang múc nước, nấu cơm cũng có thể hành thiền; như vậy một lúc có thể hoàn thành cả hai công việc. Có thể hành thiền trong bất kỳ tư thế (Oai nghi) nào. Đừng nghĩ rằng "Sao ngồi thiền mãi mà chẳng thấy gì, chẳng được gì". Lợi ích có được trong một sát-na là không thể kể xiết, và nó sẽ tiến triển hơn sau mỗi ngày. ## TRANG 81 10. Giống như khi lợp mái nhà, nếu lợp kín thì mới che được mưa; hãy nỗ lực thực hành liên tục suốt 24 giờ không gián đoạn (không ngủ) (**Thực hành hạnh đầu đà Nekkhamma/Nisajja**). Nếu có thể duy trì liên tục trong 24 giờ, hành giả sẽ thấy được sự chuyển hóa rõ rệt. 11. Đừng mong cầu hay ham muốn bất kỳ điều gì, kể cả việc làm vua trong 31 cõi. Tất cả đều là Khổ (Dukkha). 12. Những gì ta thấy, những gì ta nghe quanh mình, tất cả đều là ân sư. Đừng vì tiếng ồn mà đổi chỗ. Ta thường dễ tự mãn rằng "Ta có sự tinh tấn và định tâm tốt". Những tiếng ồn ấy chính là bậc ân sư đang nhắc nhở: "Hãy tăng cường sự tinh tấn lên nữa đi". Hãy giữ lòng từ, nhẫn nại và tiếp tục hay biết. 13. Việc thực hiện bổn phận với cha mẹ, vợ con, cho đến việc dỗ dành trẻ nhỏ khi chúng khóc, tất cả đều là thiện sự thuộc về Giới (Sīla) và Hạnh (Caraṇa). 14. Nhờ vào việc thực hành Niệm hơi thở (Anapana) của bản thân, chính mình cùng với những người xung quanh, chư Thiên và Phạm thiên cũng sẽ nhận được lợi ích vô lượng. ### Kiến thức sách vở và Thực chứng hiện tại Có khoảng ba loại văn phong Mātikā mà Sayadaw thường dùng để dạy, và khi tóm gọn lại, chúng ta sẽ thấy các điểm nêu trên. Có những ngày Ngài thuyết Pháp bốn, năm lần. Lần nào Ngài cũng giảng những điểm căn bản này trước tiên. Nếu giảng mười lần, cả mười lần Ngài đều lặp lại như thế. Điều này cho thấy tầm quan trọng của chúng như thế nào. Trong kinh điển có rất nhiều điều cần biết, cần làm. Trước khi bước vào khóa thiền, những điều cần tránh, những điều cần thực hiện nhiều đến mức khiến người ta chẳng dám bắt đầu. Thật khó để nắm bắt được điểm cốt yếu. Khi chúng ta nỗ lực đọc các kinh sách trong khả năng của mình, việc hiểu được "điều gì là quan trọng nhất" tưởng chừng như dễ nhưng thực ra lại rất khó. Người ta thường có xu hướng bỏ qua những điểm trọng yếu đầu tiên cần thực hiện vì cho rằng chúng không quan trọng. Những lời dạy nhằm khích lệ Đức tin (Saddhā) và Tinh tấn (Viriya), hay những câu chuyện tiền thân, thường bị xem là không phải cốt lõi nên không được chú tâm lắng nghe hay đọc kỹ. Thay vào đó, người ta chỉ lo đọc về Năm triền cái, Năm chi Thiền, các tầng Tuệ, tiến trình đắc Đạo, Quả, Tứ Thánh Đế hay cách chứng ngộ Niết-bàn. Các sách về Vipassanā cũng ưu tiên viết về những điều này. Những người thuyết giảng cũng chỉ tập trung nói về "phần Đạo, phần Quả" thực thụ. ## TRANG 82 Đức Thế Tôn luôn nằm nghỉ trong chánh niệm và tỉnh giác. Dù thân có những cơn đau thắt lưng hay sự mệt mỏi, rã rời của sắc thân, Ngài cũng chỉ thiền tịnh đôi chút để hồi phục, chứ tuyệt nhiên không thể nói là "ngủ" theo cách thông thường. Ngài chỉ tạm nghỉ ngơi để tránh những lời chỉ trích từ những kẻ ngoại đạo như Saccaka. Từ khi xuất gia cho đến khi nhập Diệt độ, suốt sáu mươi, tám mươi năm, có rất nhiều vị thinh văn đệ tử không hề nằm ngủ, chỉ thực hành hạnh đầu đà pháp ngồi (nesajjika-dhutaṅga), mà họ vẫn sống lâu và khỏe mạnh hơn người thường. Do đó, không nên dùng tâm phàm phu của mình để suy xét về các Ngài. Tóm tắt thời biểu sinh hoạt trong ngày (Buddhakicca) của Đức Thế Tôn: 1: Buổi sáng: Đi khất thực, thọ thực và thuyết Pháp chúc phúc (Anumodanā). 2: (a) Sau khi thọ thực xong: Ngài rửa chân và nhắc nhở về năm điều khó gặp (dullabha), sau đó ban đề mục thiền định cho các tỳ-khưu. (b) Kế đến, Ngài vào hương phòng (Gandhakuṭi), đôi khi nằm nghỉ đôi chút trong chánh niệm, rồi nhập thiền định độc cư, dùng Phật nhãn quán sát khắp thế gian. (c) Buổi chiều: Thuyết Pháp cho các hàng thiện nam tín nữ đến đảnh lễ tại tinh xá. 3: (Sau khi tắm rửa nếu cần thiết): Ngài dành trọn canh đầu đêm để giải đáp các thắc mắc và thuyết Pháp cho các tỳ-khưu đến từ khắp nơi. 4: Sau khi chúng tỳ-khưu lui gót: Trong suốt canh giữa (nửa đêm), Ngài giải đáp các câu hỏi cho chư Thiên và Phạm thiên từ mười ngàn thế giới đến hội kiến. 5: Canh cuối (lúc rạng đông) được chia làm ba phần: - Một phần Ngài đi kinh hành. - Một phần Ngài vào hương phòng nằm nghỉ trong chánh niệm. - Sau khi dậy, Ngài tọa thiền và dùng tuệ giác quét khắp thế gian để tìm xem chúng sinh nào có duyên lành có thể hóa độ. (Kinh Đại Bát Niết Bàn có dạy rằng nếu có chúng sinh đáng được độ, Ngài sẽ ngự đến tận các thế giới khác để thuyết Pháp). Các vị thinh văn đệ tử của Ngài cũng vậy, luôn nỗ lực hết mình, không màng ngủ nghỉ để phụng sự đạo pháp. ## TRANG 83 Năng lực của các bậc Thánh Thinh văn thật lớn lao, vượt ngoài sự hiểu biết của người phàm. Thước đo năng lực của các Ngài là cả ngàn hệ thống thế giới (tiểu thiên thế giới). Các Ngài có thể du hành và tác động đến toàn bộ phạm vi mười ngàn thế giới ấy; huống hồ là một quốc gia, một hành tinh hay một thái dương hệ nhỏ bé. Những bậc có năng lực tâm linh hay thần lực mạnh mẽ (vốn đã phải rèn luyện gian khổ qua nhiều đời kiếp mới đạt được) không bao giờ để uổng phí năng lực đó. Ngay cả khi các Ngài ngồi yên lặng, ngày cũng như đêm, thực chất các Ngài vẫn đang sử dụng những năng lực ấy để làm lợi ích cho đời. Điển hình như vị đạo sĩ (vốn là tiền thân của Phạm thiên Baka) sống bên bờ sông Hằng. Khi thấy bọn cướp tấn công một ngôi làng gần am thất, cướp bóc vàng bạc, gia súc, Ngài đã dùng thần lực hóa hiện ra một đạo quân chặn đường và thị hiện hào quang, khiến bọn cướp kinh hãi bỏ lại đồ đạc mà tháo chạy. ### Những bậc bận rộn nhất hành tinh Các bậc Thánh nhân có thắng trí (abhiññā), nếu nằm trong giới hạn của nghiệp quả và khuôn khổ Giới luật (Vinaya), các Ngài chắc chắn sẽ dốc hết tâm lực để cứu giúp chúng sinh. Tuy vậy, các Ngài làm mà không cần ai hay biết. Thế nên, dân làng bên bờ sông Hằng khi ấy chỉ nghĩ rằng họ được "quân đội của nhà vua" cứu giúp chứ không hề thấy được ân đức của vị đạo sĩ. Cái nhìn của chúng sinh thật hạn hẹp và đáng thương thay. Thuở trước, Thiền sư Ledi Sayadaw đã từng lập lời thệ nguyện chân thật (Sacca-adhiṭṭhāna) khiến trời đổ mưa lớn để cứu hàng ngàn mẫu ruộng tại vùng Henzada khỏi cảnh khô hạn. Thiền sư Mohnyin Sayadaw cũng từng dạy: "Phải rải tâm từ đến các quốc gia đang gặp nạn binh đao; nếu chiến tranh nguôi dịu bằng cách này hay cách khác, thì hãy hiểu rằng tâm từ của mình đã thành tựu". Dù chúng sinh không hề hay biết, các bậc Thánh nhân vẫn luôn âm thầm cứu độ mọi lúc với năng lực của mình. Câu nói "Làm việc không một phút nghỉ ngơi" và lời dạy của Ngài Cố Thiền sư Webū Sayadaw đức độ: "Dù bản thân quý vị không biết, nhưng nhờ quý vị mà vô số loài người, chư Thiên và Phạm thiên được hưởng lợi ích lớn lao", thật vô cùng sâu sắc và thấm thía. Ngày nay, để hiểu thêm về "thời biểu làm việc trong ngày" của các bậc Thánh nhân, chúng ta cũng cần... ## TRANG 84 ...cần quan sát gần gũi và học hỏi theo. Nhìn vào những gì các bậc tiền bối đã chỉ dạy một cách rõ ràng, chúng ta sẽ thấu hiểu được thực tế "ngày nay ra sao". Dựa trên các tư liệu kinh điển cũng như những gì mắt thấy tai nghe, có thể nói rằng những bậc bận rộn nhất trên thế gian này chính là Đức Phật và các vị Thánh đệ tử của Ngài. Trong một gia đình, trẻ con thường không biết tự thu xếp quần áo hay đồ chơi của mình; chỉ có người lớn, những người thấu hiểu lợi hại, mới phải làm việc không ngơi nghỉ. Những người không hiểu chuyện có thể lầm tưởng các bậc Thánh là "những kẻ chỉ lo giải thoát cho riêng mình để thoát khỏi vòng luân hồi", nhưng thực tế, các Ngài đang làm việc ngày đêm vì sự an lạc của chúng sinh (bằng nhiều hình thức che chở mà chúng ta không thể thấy hay biết được). Ân đức của Tam Bảo thật lớn lao và cao thượng thay. Giống như một kẻ hành khất không đủ ăn qua ngày, thật khó để hắn tin được rằng có những vị đại gia đang bố thí hàng triệu đồng mỗi ngày ngay bên tai hắn. ### Không phải cứ muốn tốt là được tốt Từ đó suy ra, khi tiếp cận các bậc Thánh nhân – những vị luôn chọn lọc và nỗ lực ngày đêm không ngủ để làm lợi ích cho chúng sinh – chúng ta cần phải hết sức lưu ý nhiều điều. Quan trọng là đừng để việc tiếp cận của mình trở thành sự quấy rầy, và cũng cần có trí tuệ để chọn lấy những gì tốt đẹp nhất trong những cơ hội hiếm có này. Các bậc Thánh nhân thường thương xót, nhẫn nhịn và bao dung cho sự thiếu hiểu biết của chúng ta. Khi cùng nhau dâng cúng, nếu ta dâng những vật thực không phù hợp (không đúng pháp) hoặc dâng trực tiếp những thứ không nên dùng ngay, thì vị thọ thí sẽ không thể sử dụng được. Ngay cả tiền bạc cũng không nên dâng cúng trực tiếp. Đối với nữ giới (mātugāma) khi đảnh lễ, tuyệt đối không được để tóc hay tay chạm vào người các Ngài. Dù các bậc Thánh không hề có lỗi, nhưng đối với người dâng cúng và người chứng kiến, phước báu sẽ bị suy giảm. Vì vậy, đừng chỉ nhìn vào những người đệ tử chưa thuần thuần thục mà vội đánh giá phẩm hạnh của các bậc Thánh nhân. ## TRANG 85 Một thuở nọ, có người đệ tử bổn đạo dâng cúng cho Trưởng lão **U Sīla** một trái dừa xiêm vừa mới chặt từ vườn nhà. Ngài dạy rằng: "Hãy cứ đặt tạm ở đó một lát đã". Nhưng vị ấy lại khăng khăng cung thỉnh: "Để lâu sẽ nhạt mất vị, xin Ngài hãy thọ dụng ngay cho", và ép Ngài phải dùng. Vị đệ tử dâng dừa lúc đầu thì hoan hỷ, nhưng chẳng bao lâu sau lại sinh lòng hối hận. Ấy là vì Ngài là bậc trì hạnh **Ekāsanika-dhutaṅga** (Hạnh Đầu đà Nhất tọa thực), mỗi ngày chỉ thọ thực một lần duy nhất. Pháp hành của các bậc Thánh tri thức và giới luật của chư Tăng vốn vô cùng rộng lớn và sâu mầu, người bình thường khó lòng thấu hiểu hết được. **"Nói mình là bậc Dự Lưu" quả là điều đáng hổ thẹn** Các bậc Thánh tri thức thường đặc biệt ẩn mật về pháp chứng đạt cũng như công phu tu tập của mình. Đó chính là đức tính **Appicchatā** (Ít muốn/Thiểu dục) — một trong những đặc tính của bậc Thánh nhân. Chẳng những không bao giờ phô trương, các Ngài còn sợ người khác nhận ra dấu vết tu chứng của mình. Bởi lẽ người đời trí tuệ còn non kém, thường hay gây ra nhiều sự phiền nhiễu không đáng có. Vào thời điểm trước khi kinh **Mahāsamaya** (Kinh Đại Hội) được thuyết giảng, có 500 vị Tỳ-kheo đệ tử Phật đang thực hành pháp tại rừng **Mahāvana**. Sau khi hoàn tất phận sự của bậc Sa-môn (đắc quả Thánh), các Ngài cùng nhau đến đảnh lễ Đức Thế Tôn. Lúc bấy giờ, vị nào cũng giữ kẽ, hổ thẹn nên không ai dám bạch trình về việc mình đã hoàn tất phận sự. Trong chú giải kinh **Mahāsamaya** có chép rằng, ngay cả vị thiên nữ cư ngụ tại cội cây, người từng được nghe pháp và chứng quả **Sotāpanna** (Dự Lưu) trong đại hội ấy, khi bị một vị Tỳ-kheo gặng hỏi: "Ngươi có phải là bậc Dự Lưu không?", nàng đã cảm thấy vô cùng hổ thẹn và thưa rằng: "Bạch Ngài, Ngài đang hỏi một điều không nên hỏi." Tâm nguyện của các bậc Thánh A-la-hán là muốn cho tất cả chúng sinh đều được nếm trải hương vị pháp bảo mà các Ngài đã chứng đắc. Tuy nhiên, các Ngài không bao giờ tuyên bố hiển lộ như thể khoe khoang việc mình tìm được hũ vàng. Dù vậy, vẫn có rất nhiều phương cách để nhận biết được các Ngài (điều này sẽ được trình bày ở những phần sau khi có duyên sự). **Đến ngưỡng cửa cuối cùng của sự bố thí thì lại ôm lòng hối tiếc** Bởi vì các bậc Thánh tri thức thường đặc biệt giữ kín giới hạnh, lại thêm người đời kiến thức và hiểu biết còn hạn hẹp, nên khi các Ngài còn tại thế, nhiều người vẫn cứ thờ ơ, xem thường. Những người có duyên gần gũi thì cũng chỉ dừng lại ở vai trò thí chủ dâng cúng tịnh xá, vật thực... rồi kết thúc lộ trình tu tập của mình ở mức độ Bố thí và Trì giới, bỏ lỡ mất cơ hội quý báu trong kiếp người ngắn ngủi này. Thậm chí, một số người thực hiện những loại bố thí không thực sự cần thiết hoặc không mang lại lợi ích lớn cho chính mình, cho người thọ nhận hay cho giáo pháp. Chỉ với tâm niệm đơn thuần: "Cúng dường bậc A-la-hán thì sẽ được quả báo ngay trong kiếp này", họ đã tiếp cận các Ngài bằng sự cúng dường mang tính "trông đợi quả báo" (vị lợi) một cách quá mức cần thiết. Từ 4 giờ sáng đến tận 12 giờ trưa, để tế độ cho những hàng cư sĩ còn kém hiểu biết, các bậc Thánh tri thức đã phải dành trọn quỹ thời gian vô cùng trân quý của mình vào việc ăn uống. Sự lợi dưỡng đôi khi lại gây ra phiền toái ngay cả đối với các bậc Thánh **A-la-hán**. Có những vị thí chủ giống như kẻ lên được đến núi ngọc rồi mà lại chọn nhầm đá mài dao mang về; họ không đón nhận được di sản pháp bảo cốt lõi từ những lời giáo huấn. Chỉ đến khi các Ngài viên tịch, được nghe kể hoặc đọc lại tiểu sử mới biết đó là những bậc phi thường, lúc ấy mới sinh lòng hối hận thì cũng đã muộn. Việc không biết bậc cao đức, không tin nên để tuột mất cơ hội vàng, hay dù biết và tin nhưng không biết cách tiếp nhận nên không có được lợi ích, quả thật còn đau xót hơn cả nỗi lòng của đạo sĩ **Devīla** khi lỡ duyên gặp Phật. ## TRANG 86 **Thời điểm quan trọng nhất đối với chúng ta** Cũng giống như các bậc Thánh tăng thời Đức Phật, nếu chúng ta tự thân nỗ lực, chúng ta hoàn toàn có cơ hội đạt được những quả vị cao thượng, từ Thiền định, Thần thông cho đến quả vị **Arahattaphala** (A-la-hán). Phận sự của bậc Sa-môn không chỉ dừng lại ở việc chấm dứt phiền não; trong thế gian này vẫn luôn hiện hữu những bậc trọn vẹn với các thắng trí thế gian. Chỉ người có mắt mới thấy, chỉ người có tai mới nghe. Chỉ những ai có trái tim mới khởi sinh đức tin và hành trì theo giáo pháp. Nhìn lại tiến trình lịch sử giáo pháp, chúng ta thấy đã trải qua biết bao chặng đường gian nan, vượt qua những cánh rừng rậm và lối mòn hiểm trở. Từ **Suvaṇṇabhūmi** qua **Pagan**, từ **Pagan** đến **Konbaung**, trải qua hàng ngàn năm, ngọn cờ **Theravāda** (Phật giáo Nguyên thủy) đã được truyền thừa. Trong đêm dài tăm tối ấy, đôi khi ánh sáng chỉ lóe lên như một tia chớp. Phải từ thời vua Bodawpaya trở đi, giáo pháp mới bắt đầu tiến bước một cách hệ thống và mạnh mẽ. Tuy nhiên, việc thực hành giáo pháp (**Paṭipatti**) khi ấy vẫn còn bó hẹp trong phạm vi cá nhân. ## TRANG 87 So với hơn một ngàn năm trước, giáo pháp thực hành (**Paṭipatti**) ngày nay không chỉ dừng lại ở quy mô quốc gia mà đang hướng đến tầm vóc toàn cầu. Chúng ta cần phải dùng cả mạng sống của mình để suy ngẫm, sao cho không bỏ lỡ những cơ hội tuyệt vời hiện có trong kiếp sống này. ## TRANG 88 # 1 - VƯƠNG QUỐC PYU THỜI KỲ HALIN ## Các Bậc A-la-hán và Những Vị Đặc Phách Ngày nay, kinh đô Halin không còn được sử sách và giáo sử chính thống ghi chép đậm nét. Thành phố cổ này giờ đây chỉ còn hiện diện qua các truyền thuyết truyền khẩu và những mẩu sử liệu rời rạc. Tuy nhiên, những cổ vật khai quật từ lòng đất đã minh chứng rằng vương quốc Halin không phải là một vương quốc huyền thoại. Đặc biệt, khi tìm hiểu về lịch sử các bậc Thánh tăng (A-riya) tại Myanmar, không thể không nhắc đến Halin. (Một số thông tin cần biết về Halin sẽ được trình bày ở phần sau). Chúng tôi xin thuật lại câu chuyện về một vị Thánh tăng thần kỳ tại vương quốc Halin theo ghi chép của các bậc tiền trí. Người ghi lại tư liệu này là ông 'Bo Waziya', chủ bút thời vua Mindon tại kinh đô Yadanabon. Đây là bản trường ca lịch sử về Dấu chân Phật gồm 27 khổ thơ, được viết tương đương với phong cách các bản trường ca của Nawadei U Nu. Theo bản trường ca này, câu chuyện về vị Thánh tăng thời kỳ Halin như sau: ### Vị Sa-di Thánh tăng đắc Thiền định và Thần thông Thuở xưa, tại vương quốc Halin có đức vua tên là Cittaraja cai trị. Chánh cung Hoàng hậu là Paduma Devi, và em trai nhà vua là Dibbaraja giữ ngôi Thái tử (Uparaja). Nhờ đức vua cai trị đúng theo Chính pháp, đất nước thái bình thịnh trị, Phật pháp hưng thịnh. Giữa lúc ấy, Thái tử nảy sinh ý định phản nghịch chiếm ngôi. Sự việc bị phát giác kịp thời, Thái tử bị tòng giam. Tuy nhiên, ông ta đã bí mật vượt ngục, tập hợp binh mã để phản loạn một lần nữa. Với lực lượng quân sĩ đông đảo, quân phản loạn bao vây hoàng cung, khiến đức vua và hoàng hậu phải cải trang bỏ trốn. Khi ấy, hoàng hậu đang mang thai kỳ cuối, việc đi lại vô cùng khó khăn, nhọc nhằn. ## TRANG 89 Từ Halin, họ chạy về hướng Nam tiến vào rừng sâu, vượt qua bao gian khổ giữa chốn rừng rậm, bụi gai (đến một dốc núi nay nằm giữa Myinmu và Ohndaw, cách phía bên phải khoảng 3 dặm). Tại đó, họ tìm thấy một sườn núi với cây trái tươi tốt, hoa cỏ chẳng tàn, nguồn nước dồi dào. Vì nơi đây rừng sâu núi thẳm, cách biệt với kinh đô nên họ quyết định chọn làm nơi nương náu lâu dài. Như thể được chư thiên sắp đặt sẵn nguồn nước, họ còn tìm thấy một hang động lớn trong dốc núi ấy. Noi gương Bồ-tát Vessantara và hoàng hậu Maddi, họ sống đời ẩn dật, giữ giới và tu tập. Không bao lâu sau, tại hang động giữa rừng xanh này, họ đã hạ sinh một vị vương tử khôi ngô, tuấn tú. Từ khi bắt đầu biết nói và hiểu chuyện, vị tiểu tử đã biết giữ gìn Ngũ giới. Cùng với cha mẹ, vị ấy chỉ mặc y phục nhuộm từ vỏ cây như một vị Sa-di thánh thiện. Khi thì vị ấy cùng cha mẹ đi tìm hoa quả, khi thì ở lại một mình nơi cửa hang. Đối với vị ấy, niềm vui thú duy nhất là được vui đùa cùng bầy hươu, thỏ và mang rừng. Những lúc ấy, dù cha mẹ có gọi, vị ấy cũng chẳng muốn rời đi. Vào một buổi sáng nọ khi cha mẹ đi hái quả, lúc vị ấy đang cho bầy hươu ăn, một con hươu đang ăn thức ăn trên tay vị ấy bỗng nhiên đổ gục xuống. Những con khác kinh sợ bỏ chạy. Vị ấy không hiểu chuyện gì đã xảy ra, chỉ biết đau lòng nhìn con hươu nhỏ đang nằm vật vã, quằn quại trên đất mà chết lặng. Vị ấy chẳng hề nhận ra mũi tên đang cắm sâu trên mình con vật. Từ lùm cây đằng xa, gã thợ săn vì thấy y phục màu vỏ sồi nên lầm tưởng vị ấy cũng là hươu, đang lúc định gương cung bắn phát thứ hai thì nghe tiếng vị tiểu tử gọi cha mẹ vừa trở về. Tiếng gọi ấy khiến gã thợ săn bừng tỉnh, hối hận tiến lại gần và xin thú tội. Sự việc được tường trình rõ ràng, khi gã thợ săn chuẩn bị ra về, hoàng hậu bỗng nảy sinh nỗi lo âu: "Nếu tin tức đến tai kinh đô thì thật nguy khốn". Nghĩ đoạn, bà tháo chiếc nhẫn báu trên tay trao cho gã thợ săn và dặn: "Này em, xin đừng tiết lộ cho ai biết chúng ta đang sống ở nơi này", coi như vật báu để bịt đầu mối. Nhưng định mệnh khó tránh, dù đã dùng vật báu để cầu an, vận hạn vẫn kéo đến. Gã thợ săn nhận chiếc nhẫn mang về nhà, vì sợ người quen phát hiện nên định bí mật bán đi. Tuy nhiên, không ai có đủ tiền bạc hay phúc duyên để mua nổi vật quý ấy, cuối cùng chiếc nhẫn được dâng lên đức vua Dibbaraja tại kinh đô Halin. Khi bị tra hỏi, gã thợ săn không thể che giấu, đành phải tâu lên toàn bộ sự thật. Nghe xong, Dibbaraja phán: "Mối họa của ta vẫn chưa dứt", liền lệnh cho binh mã cùng gã thợ săn ## TRANG 90 làm dẫn đường, tiến vào rừng sâu để truy bắt. Nghe thấy tiếng voi ngựa rầm rập, vua Cittaraja nhận ra ngay từ chiếc nhẫn nवरत्न (Navarat - Cửu bảo) rằng kẻ thù đã bao vây. Ngài bảo hoàng hậu và vương tử: "Này hiền thê, nợ luân hồi không thể trốn chạy. Quả báo bất thiện này xin một mình ta gánh chịu. Nàng hãy mau đưa con đi tìm nơi ẩn náu an toàn". Sau khi thúc giục mẹ con chạy trốn, đức vua một mình ở lại trước cửa hang, nhiếp tâm hành thiền. Không lâu sau, ngài bị quân lính bao vây và bắt giữ. Hai mẹ con người con Phật chạy mãi cho đến khi tới được một thiền am trong rừng của một vị Trưởng lão. Vị Trưởng lão sau khi thăm hỏi đã khai thị: "Ngoài Giáo pháp ra chẳng còn nơi nào để nương tựa. Sự an lạc chỉ là khách trọ mà thôi", qua đó giúp họ nguôi bớt khổ đau. Vị ấy hướng dẫn hai mẹ con thực hành thiền quán **Marananussati** (Niệm chết) và tâm Từ. Không bao lâu sau khi nghe pháp, vị tiểu vương tử đã được cho phép xuất gia làm Sa-di. Vị Sa-di nhỏ tuổi khi thực hành thiền định một mình cảm thấy an lạc hơn cả lúc vui đùa cùng bầy hươu khi trước. Tuy con trai cảm nhận được hỷ lạc khi đơn độc tu hành, nhưng người mẹ vẫn không khỏi lo âu cho đức vua: "Giờ này chắc vương thượng đã mệnh chung rồi. Ước gì ngài được nhìn thấy con trai một lần". Với người đang mang nỗi sầu, ngay cả niềm vui cũng trở thành mồi lửa cho sự lo âu. Vì thế, bà thường tìm cách hỏi thăm tin tức từ những người dân thỉnh thoảng ghé qua thiền am. Cuối cùng, hung tin "Vua Cittaraja đang bị giam cầm và em trai ngài đang chuẩn bị hành quyết ngài" đã khiến hoàng hậu đang hành thiền phải ngất lịm. Khi tỉnh lại, bà đệ trình lên vị Trưởng lão rồi dắt tay vị Sa-di trẻ tuổi tìm đường trở về kinh đô Halin. Dù còn nhỏ, vị Sa-di vẫn nói lời an ủi, vỗ về mẹ mình. Với dòng máu vương tộc vinh hiển, vị ấy quả quyết sẽ đứng ra chịu chết thay cho phụ vương. ### Tòa sen và sự kiện bay lên hư không Hai mẹ con vừa kịp lúc đến giữa buổi thiết triều của đức vua. Đứng giữa điện tiền, vị Sa-di dõng dạc: "Thưa thúc phụ vương, con chính là cháu của người, và đây là chị dâu của người, cũng là mẫu thân của con. Con đến đây để chịu tội chết thay cho phụ vương. Xin hãy đào một cái hố lớn ngay bây giờ. Xin hãy lấy củi trám đốt lửa mà thiêu sống con" — Ngài phán như vậy, khiến tất thảy đều kinh ngạc. ## TRANG 91 Trong lúc Dibba Rāja (Vua Dibba) còn đang bàng hoàng chưa biết ứng đáp ra sao, thì một vị quan tàn ác bước ra tâu rằng: “Tâu Đại vương, dẫu đứa cháu này đã xuất gia làm Sa-di, nhưng nó vốn là mầm mống của kẻ phản nghịch, hiểm họa khó mà dập tắt. Chẳng phải tự chúng ta muốn hại nó, mà chính là quả báo và vận mệnh của nó đã dẫn dắt như thế, xin Đại vương cứ thuận theo đó mà hạ lệnh.” Lời tâu ấy khiến tâm hồn Hoàng hậu như bị thêm dầu vào lửa, đau đớn khôn cùng. Đức vua vì quá đau lòng mà phải ngoảnh mặt đi, quân đao phủ lập tức đào hố, đốt than sừng sững chuẩn bị thi hành án. Cho đến khi vị Sa-di nhỏ tuổi bước xuống hố than, mẫu hậu vì quá xúc động mà ngất lịm đi. Quân đao phủ liên tục đổ thêm than củi Acacia hồng rực lên thân mình ngài. Vị Sa-di nhỏ nhẹ khép đôi mắt, an trú trong đề mục **Niệm sự chết (Maraṇānussati)** rồi tiến sâu vào **Định Tâm Từ (Mettā Kammaṭṭhāna)**. Than hồng đổ vào bao nhiêu cũng đều lịm tắt, vị Sa-di chẳng hề hấn gì. Ngay trong khoảnh khắc quán chiếu sự sanh diệt của Danh - Sắc (Rūpa-Nāma) ấy, ngài đã đắc quả A-la-hán. Đống than hồng bỗng chốc nguội lạnh, và từ nơi vị Sa-di đang đứng, một đóa sen khổng lồ bỗng nhiên mọc lên. Sự kiện kỳ diệu (Ukkogeuyya) này khiến đám đông vây quanh kinh ngạc, có kẻ vội chạy về cung báo tin cho Đức vua. Trong lúc hội chúng đang cung kính chiêm bái, đóa sen lớn bỗng nở rộ rực rỡ, tỏa hương thơm ngào ngạt khắp cả cung điện. Trước khi Đức vua kịp đến nơi, vị Sa-di đã hiện ra giữa đóa sen, trên mình mang đầy đủ **Tám món vật dụng (Aṭṭha Parikkhāra)**, rồi ngài cùng tòa sen bay vút lên hư không. Khi Đức vua đến, từ trên không trung, ngài đã thuyết pháp rằng: “Đời người chỉ là một khoảnh khắc ngắn ngủi. Bậc trưởng thượng có giữ gìn chánh pháp thì hàng hậu học mới noi theo; con người có sống theo chánh pháp thì mới có được an lạc. Kẻ tạo tác là mới, nhưng pháp vận hành vẫn là quy luật cũ mà thôi.” Nghe xong, vua Dibba Rāja thành tâm sám hối tội lỗi và ngỏ ý trao lại ngai vàng cho người anh cả. Nhưng người anh đáp rằng: “Này em, ta coi vinh hoa phú quý nơi cung điện này chẳng khác nào nhà vệ sinh. Chỉ vì em bị lòng tham chi phối, nóng giận che mờ nên mới quá lo âu như vậy. Ta sẽ cùng với chị dâu em chuyên tâm tu tập theo giáo pháp mà con trai chúng ta vừa thuyết giảng. Mong em hãy trị vì thiên hạ theo đúng **Thập vương pháp (Rāja-dhamma)**, không để sai chạy, khiến nhân dân thái bình và giáo pháp được hưng thịnh.” Nói rồi, ba người (cha, mẹ và con) cùng trở về nơi ở cũ. Người em cũng phát nguyện hộ trì bốn món vật dụng và hứa sẽ vâng theo mọi lời chỉ dạy. Giống như đóa sen mọc lên từ đống lửa, người con quý báu đã đắc chứng Thần thông và quả vị A-la-hán (với danh hiệu **Padumuttara**). Ngài thường bay trên không trung đến thành Hanlin để khất thực và dùng cả hai phương diện: vật chất và giáo pháp để đền đáp công ơn cha mẹ. ## TRANG 92 Để cha mẹ có thể chiêm bái trọn đời, Ngài đã dùng đá thạch anh tạc lại dấu chân của Đức Thế Tôn từ vùng Mann Set-ta-ya rồi dùng thần thông thỉnh về tôn trí tại đó. Đóa sen mọc từ trong lửa của Hoàng hậu Paduma Devī mãi luôn tỏa hương thơm ngát trong lịch sử tu tập (Paṭipatti Sāsana) của đất nước Myanmar. ### Đế quốc Pyu Hùng mạnh và Tráng lệ Vào thời Đức Phật, có vị Sa-di **Uttara**, dù bị vu oan là trộm cướp và bị đóng cọc xuyên người nhưng không chết. Nhờ ơn đức của ông Bo Wajira, chúng ta có duyên được biết đến vị Sa-di ở thành Hanlin này cũng có hành trạng tương tự. Ngọn núi nơi tôn trí dấu chân ấy hiện nay vẫn còn ở vùng Myinmu. (Tư liệu này được trích từ sách của ông Bo Wajira do Maha Swe viết). Những sự thật lịch sử, nếu trí tuệ con người không vươn tới được, thường bị coi là huyền thoại. Thành cổ Beikthano trước khi được phát lộ vốn chỉ được xem là chuyện cổ tích, nhưng khi khai quật lên, đó lại là một kinh thành vĩ đại nằm dưới lòng đất. Vào năm 800 sau Công nguyên (AD), người Pyu từng cử một đoàn nghệ thuật gồm 35 người sang Trung Hoa. Nghệ thuật ca múa của người Pyu được người Trung Hoa vô cùng yêu thích, và đại văn hào Bạch Cư Dị (Bo Juyi) đã ghi chép lại sự kiện này. Những bài hát họ trình diễn đều liên quan đến Phật giáo, gồm tổng cộng 12 bài. Lịch sử Myanmar không ghi lại nhiều về sự hùng mạnh của đế chế Pyu thời bấy giờ, nhưng trong "Cựu Đường thư" và "Tân Đường thư" của Trung Hoa có đoạn trích dẫn miêu tả như sau: Kinh thành này nằm ở khoảng miền Trung Myanmar ngày nay, mà Viện Khảo cổ nhận định chính là thành Hanlin (tên tiếng Trung gọi là 'Lin-yang', âm đọc khá tương đồng). Trong cuốn "Lịch sử Hanlin" của tác giả U Aung Phyo cũng có chép về mối liên hệ với phương Bắc. Sử nhà Đường viết rằng: “Kinh đô của người Pyu có 12 cửa thành, bốn góc có các bảo tháp. Tường thành xây bằng gạch men, chu vi khoảng 160 dặm (tương đương một ngày đường). Bên trong thành có hàng vạn hộ dân cư ngụ. Có hơn một trăm ngôi chùa Phật giáo, được trang hoàng bằng các màu sơn rực rỡ, bên trong trải thảm quý. Trẻ em từ 7 tuổi, cả trai lẫn gái, đều vào chùa học tập và phải cạo tóc. Đến năm 20 tuổi, nếu không thể tiếp tục đời tu hành thì mới để tóc dài trở lại và về nhà. Họ giữ giới không sát sinh, ngay cả tơ lụa cũng không mặc vì thương tổn sinh linh. Họ biết đúc tiền vàng, tiền bạc. Cửa cung điện ## TRANG 93 có một pho tượng đá trắng khổng lồ cao khoảng một trăm bộ (feet). Trước tôn tượng này, những người có tranh chấp phải đến để phân xử.” Những ghi chép này cho thấy đây là một quốc gia vô cùng văn minh và hùng mạnh. Vào năm AD 832, người Nanzhao (Nam Chiếu - vùng Vân Nam ngày nay) đã tấn công và khiến vương quốc Pyu sụp đổ. Căn cứ vào những bằng chứng lịch sử này, kinh đô Hanlin vốn bị vùi lấp như huyền thoại Atlantis, chắc chắn một ngày nào đó sẽ minh chứng cho những sự thật lịch sử về vị Thánh tăng Sa-di **Padumuttara**. ### Đi đến nghĩa trang, quán chiếu Thọ uẩn “Đừng mải mê diệt trừ Tham ái (Taṇhā) vốn là quả. Hãy diệt trừ cái nhân là Thọ (Vedanā). Hãy luôn quán chiếu sự sinh diệt của **Cảm thọ (Vedanā)**. Quán chiếu mỗi ngày, quán chiếu liên tục. Thân xác của các vị đang từng bước đi về nghĩa trang. Hãy vừa đi về phía nghĩa trang vừa quán chiếu. Cuộc đời này chỉ có một lần đi này thôi, nếu không quán chiếu, các vị sẽ còn phải quay lại nghĩa trang này nhiều lần nữa. Người ta thường đi đưa đám tang nhưng lại mải mê chuyện trò mà quay về, chẳng hề hướng tâm vào giáo pháp. Ngày của các vị cũng gần kề rồi. Nếu muốn thoát khỏi cái già khổ, cái đau khổ, cái chết khổ, thì hãy luôn quán chiếu sự sinh diệt của **Cảm thọ (Vedanā)**.” **Mogok Sayadaw** ## TRANG 94 **Vị Alahan Đắc Thiền Và Thông Thần — Trưởng Lão Sumedha, Người Chăn Bò** Tại thành phố Hanlin (Hán-linh) lớn, có một bậc thánh Alahan lừng danh được gọi là Trưởng lão Sumedha chăn bò, người đã chứng đắc các tầng Thiền và Thần thông. Câu chuyện về ngài được ghi lại trong tập *Sāsanālaṅkāra (Giáo Pháp Trang Nghiêm)*. Trong tác phẩm *Sāsanavaṃsappadīpikā* (viết bằng ngôn ngữ Pāli), chi tiết về ngài được trình bày rộng rãi hơn. Tuy nhiên, các tài liệu không ghi rõ ngài sống vào thời đại nào. Ở khu vực thành cổ Hanlin, có một ngôi làng tên là Hmat-thi-tha-yaing. Ngài cư ngụ tại một chuồng bò nằm ở phía đông nam của ngôi làng này. Vị Trưởng lão ấy luôn thọ trì đầu đà phấn tảo y (pāṃsukulika), cực kỳ tôn kính và nghiêm cẩn trong Luật tạng (Vinaya). Ngài là một bậc thánh Alahan đã chứng đắc các tầng Thiền và Thần thông. Hàng ngày, vị Trưởng lão này thường du hành đến các ngôi bảo tháp Dấu chân Phật (Cetiya) cách xa từ tám đến chín do-tuần (yojana). Sau khi thực hiện các phận sự tại sân tháp (cetiyaṅgana-vatta), ngài mới trở về khất thực tại làng Hmat-thi-tha-yaing. Ngài duy trì nề nếp lễ bái đức Phật và khất thực như vậy mỗi ngày. ### Minh chứng lịch sử tại địa phương Tại vùng Hanlin, những dấu tích kỷ niệm liên quan đến hai vị trưởng lão này (thánh tăng nầy) vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay, đó là một điều vô cùng hân hoan. Trong các kinh sách như *Sāsanālaṅkāra*, địa danh này được ghi là "làng Hmat-thi-tha-yaing", nhưng thực tế đó là hai ngôi làng riêng biệt: làng Hmat-thi và làng Tha-yaing. Tại làng Hmat-thi, cho đến nay vẫn còn ngôi tháp nổi tiếng mang tên Tháp Sumedha (thuộc thị trấn Wet-let, quận Shwe-bo). Tại làng Tha-yaing, cũng có "Giới đàn Alahan" (Arahanta Sīma), nơi Ngài Cố Đại Trưởng lão Mahā Visuddhārāma đã thọ giới Tỳ-khưu. Trước đây, giới đàn này cùng ngôi bảo tháp gần đó đã rơi vào tình trạng hoang tàn, hư hại; nhưng vào năm 1336 (Miến lịch), Ngài Đại Trưởng lão Janakābhivaṃsa đã cùng với sự hỗ trợ của các thí chủ tâm đạo từ Yangon như ông Htein Win, ông Nyi Nyi, ông Aung Thein, ông Ko Ko đã tiến hành trùng tu. Đây là những công trình kiến trúc mang giá trị lịch sử, thật đáng khâm phục và hoan hỷ. Điều đáng hoan hỷ hơn nữa là ngay gần Giới đàn Alahan này, có một ngôi bảo tháp nhỏ mang tên "Ley-kyun-myay" (Đất Bốn Châu), do một vị Sa-di thánh tăng ở Hanlin xây dựng. Hiện nay tháp đã được tu sửa. Người dân địa phương thường gọi bằng cái tên dân dã là "Tháp Sa-di Đắc Thiền". Ngoài ra, trong khuôn viên chùa làng Shwe-nyaung, người ta vẫn còn có thể chiêm bái một bệ gạch kỷ niệm — nơi vị Sa-di đắc thiền này đã nhập định để bay lên không trung khi ngài thực hiện thần thông. ## TRANG 95 ### Trẻ em và Niết-bàn: Những tấm gương của người Miến Trong kinh điển, chúng ta luôn được đọc và khởi tâm tịnh tín về những vị như Ngài **Dabba**, Sa-di **Paṇḍita**, Sa-di **Sopāka**, Sa-di **Sumana**, những bậc đã chứng đắc quả vị Alahan khi chỉ mới bảy tuổi. Trong tạng Pāli *Apadāna*, có vị Trưởng lão **Pañcasīla Samādāniya** đã chứng thánh quả khi mới lên năm. Ngay cả bà Visākhā cũng đã đắc quả Tu-đà-hoàn (Sotāpanna) khi mới là một bé gái bảy tuổi. Khi Di mẫu Gotamī sắp nhập Niết-bàn (parinibbāna), bà đã đến đảnh lễ đức Thế Tôn lần cuối và bạch rằng: "Bạch đức Thế Tôn, bậc Trưởng tử cao thượng. Những vị giáo chủ ngoại đạo đời đời kiếp kiếp không thể tìm thấy được an vui cao thượng của Vô vi giới Niết-bàn (Asaṅkhata-dhātu), thì nay (nhờ ân đức của Trưởng tử) ngay cả những bé gái bảy tuổi cũng đã được diện kiến và nếm trải an lạc ấy rồi, bạch Đức Thế Tôn." Bà đã tán thán ân đức sâu dày của Phật và sự rõ ràng, dễ hiểu, dễ thực hành của giáo pháp đến mức ngay cả trẻ nhỏ cũng có thể thấu hiểu và tu tập được. Qua tiểu sử của "Vị Sa-di đắc thiền" vừa trình bày ở trên, lịch sử Phật giáo thực hành (Paṭipatti Sāsana) tại Miến Điện một lần nữa đã khẳng định và củng cố niềm tin rằng: "Ngay cả trẻ nhỏ cũng có thể chứng đắc được Pháp thượng nhân (dù là trẻ em cũng đắc được thiền đức quả thánh)". ## TRANG 96 ## 2 - Các Bậc Thánh Alahan Và Các Bậc Đặc Biệt Thời Kỳ Sri Ksetra (Thanh-khiết-địa) Vào năm 101 Phật lịch, dưới triều đại vua Duttabaung tại vương quốc Sri Ksetra (còn gọi là vương quốc Rishis - Đạo sĩ), lịch sử và giáo sử ghi nhận có đến ba ngàn vị thánh tăng Alahan. Nhà vua đã hộ độ tứ vật dụng (catupaccaya) cúng nhường hàng ngày. Ngài cũng đã xây dựng các ngôi bảo tháp thờ phụng Xá-lợi (Dhātu) như tháp Thaw-kyamma, Nyee-nyee, Zee-zee, Paw-paw, Lyaw-lyaw, Mya-thi-tin, Phaya-taung, Su-taung-pyay, Myin-bahu và bảo tháp Phutho-gyi. Có một thời gian, ngọn giáo do Thiên chủ Sakka (Đế Thích) ban tặng dù có ra lệnh cũng không chịu đi, những chiếc đại hồng chung và trống lớn dù có đánh cũng không phát ra tiếng. Khi đem chuyện này thưa lên các bậc thánh Alahan, các ngài phán rằng: "Tâu đại vương, đó là vì ngài đã chiếm đoạt 5 pè (đơn vị đo lường) đất cúng dường chùa của một bà bán bánh đối với thầy của bà ấy, nên mới xảy ra nông nỗi này". Nhà vua liền cho trả lại vùng đất ấy và cúng dường trở lại. Trong bia ký của vua Kyanzittha có ghi lại rằng ngay từ khi khởi công xây dựng thành phố, đã có sự tham gia của một vị đạo sĩ tên là Vishnu, người có thần thông quảng đại và đầy đủ năm loại thần thông (abhiññā). Chắc chắn rằng tại Sri Ksetra, Phật giáo nguyên thủy (Theravāda) đã hưng thịnh và có rất nhiều bậc thánh Alahan. Các di vật cổ và những ngôi bảo tháp được khai quật chính là minh chứng hùng hồn nhất. Tuy nhiên, cũng rõ ràng là trong các thời kỳ chuyển tiếp, các hệ tư tưởng Đại thừa (Mahāyāna) và Bà-la-môn (Ấn Độ giáo) cũng đã du nhập và tồn tại đan xen. Phật lịch năm 433, vua Nga-tapa, người được gọi là "vua đầu gà", lên ngôi. Giáo sử ghi lại rằng dưới thời vị vua này có 500 vị thánh Alahan, hàng ngày được cúng dường tứ vật dụng; còn số lượng các bậc thánh Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm thì nhiều vô kể. Tuy nhiên, theo tác phẩm *Maha Yazawin Gyi (Đại Thống Sử)*, các vị vua như vua Rakkan, vua Berinda rất tinh thông về chiêm tinh, bói toán và y học. Điều này cho thấy Phật giáo đã phải tồn tại và phát triển song hành, đôi khi là cạnh tranh với các môn khoa học thế gian (Lokiya-vijjā) và các triết thuyết ngoại đạo (Lokāyata). ## TRANG 97 ### Trưởng lão Uttamasiri: Từ tu tập Vipassanā trở thành Pháp sư Bùa chú (In-weizza) Trong thời đại Sri Ksetra (Tharee-khittara), có một sự kiện đặc biệt đáng ghi nhớ. Đó là vào triều đại của đức vua **Supanyat-nagarasindha**, vị vua thứ 25 và cũng là vị cuối cùng của triều đại này. Đây là thời kỳ quốc gia Sri Ksetra rơi vào cảnh suy vong và tai ương, do người dân đã đem nung chảy pho tượng vàng lớn cao 88 hắc tay (taung) từ vương quốc Kanyan để sử dụng vào mục đích riêng. Dưới triều vua này, có một bậc kỳ nhân xuất hiện tên là **Shin Uttama**. Ngài sinh vào ngày rằm tháng Tabodwe (tháng 11 âm lịch Myanmar), ngày Chủ nhật, năm 596 dưới triều vua Mudda, tại làng Mijigon phía đông thành phố. Cha ngài là ông **U Po Sa** và mẹ là bà **Daw Nhya**, vốn là người làm rẫy. Năm 7 tuổi, ngài xuất gia Sa-di với vị giáo thọ sư trong hoàng cung. Đến năm 19 tuổi, ngài đã thông suốt toàn bộ Tam Tạng (Pitaka). Sau khi thọ đại giới Tỳ-khưu, ngài chuyên tâm thực hành thiền định (Samatha). Đến hạ lạp thứ hai, ngài chuyển sang thực hành thiền quán (Vipassanā) và trở nên nổi tiếng là người đã đạt đến sự thấu triệt trong đề mục hành trì, được vua **Sumundari** vô cùng kính trọng và hộ độ. Trong tăng đoàn, ngài được tặng danh hiệu "Siri" (Cát Tường), từ đó được gọi là "**Trưởng lão Uttamasiri**". Về sau, tại phía đông thành phố Sri Ksetra khoảng 2 do-tuần (yuzana), có một ngọn núi hình đầu voi. Ở phía nam ngọn núi đó có một hang đá, nơi vị đạo sĩ **Dibba-cakkhu** (Thiên Nhãn đạo sĩ) từng trú ngụ. Gần hang đá này, vào năm 619, đại thần **Rajasankyan** của vua **Supanyat-nagarasindha** đã xây dựng một trú xứ sơn dã (forest monastery) cúng dường đến ngài để ngài chuyên tâm tu tập thiền quán. Tuy nhiên, một vấn đề đã nảy sinh, khiến công phu thiền quán dứt trừ sinh tử luân hồi của ngài không thể hoàn tất. Sự việc diễn ra như sau: Một ngày nọ, sau giờ ngọ trai, người hộ tăng (kappiya) phát hiện hang của đạo sĩ **Dibba-cakkhu** đã bị đổ nát và tìm thấy một bản kinh bằng đồng trong một chiếc rương đá. Người này mang đến trình cho thiền sư **Shin Uttama**. Ngài dùng nước chua rửa sạch kinh và bắt đầu đọc, thì thấy bên trong chứa đựng những ký tự vô cùng kỳ lạ. Ngài đã bỏ dở việc hành thiền, dành cả ngày để nghiên cứu bản kinh đó. Ngay khi ngài vừa đọc xong, một trận mưa to gió lớn dữ dội ập đến, trời đất tối đen như mực. Bản kinh bằng đồng để bên cạnh cũng biến mất một cách kỳ bí. Đầu đêm hôm đó, ngài hồi tưởng lại các ký tự trong bản kinh đồng và viết lại những gì mình nhớ được lên các bản kinh gỗ suốt ba canh đêm. Mỗi canh, ngài hoàn thành 3 quyển kinh (tổng cộng là 9 quyển), mỗi quyển đều có thể đem lại 3 loại lợi ích khác nhau. Đến sáng hôm sau, ngài đã sao chép từ kinh gỗ sang lá buông. Cụm từ **Cunniya-bandha** — trong phần kết của bộ kinh, ngài đã viết đầy đủ chi tiết bằng hai ngôn ngữ Pali và Myanmar rằng: "Ta đã soạn thuật phần kinh văn (Cunniya-bandha) không lẫn lộn với các kệ ngôn, và đã chép lên lá buông (potthakam)". ## TRANG 98 Bộ kinh này được gọi là "**Sarabhū chín tập**" (Tharabhu-ko-twe), hiện vẫn còn tồn tại; ngài cũng đã biên soạn bộ kinh **Kappālankāra**. Thực chất, những bộ kinh này vốn thuộc về hệ thống kinh bùa chú (In-kyan) của các tu sĩ Ari hệ phái Mahayana (Đại Thừa) thuộc lĩnh vực **Gandhārī-vijjā** (Minh chú học). Trưởng lão **Uttamasiri**, từ một người được tôn kính là bậc tu hành đắc đạo (có khả năng thiên nhãn) khi tuổi đời còn rất trẻ, cuối cùng đã chôn vùi đời sống phạm hạnh thanh cao của mình vào việc nghiên cứu và thực hành bùa chú. Kỹ năng hay kiến thức, dù là gì đi chăng nữa, đều mang lại lợi ích nhất định cho chúng sinh. Tuy nhiên, giống như câu nói: "Đáng lẽ phải được đón voi trắng vào cung, lại vì một cuộn chỉ mà đánh mất cơ hội", dù gặp những kẻ tà kiến dẫn dụ hay phô trương thần thông, chúng ta cũng nên dùng trí tuệ dẫn đường để tinh tấn trong chánh đạo, đừng để uổng phí kiếp người khó được (Manussatta-dullabha). Dù lúc bắt đầu có ý định đúng đắn và sẵn sàng hy sinh mạng sống để tu tập, nhưng hiện nay vẫn có vô số người vì những sự cám dỗ không thể thấy trước dọc đường mà tách khỏi con đường **Majjhima-patipadā** (Trung Đạo). (Vào khoảng năm 100 Phật lịch, dưới thời vua **Duttabaung**, người cùng thời với vua **Kālāsoka**, nhà vua đã chứng đắc quả Tu-đà-hoàn; Hoàng hậu, Thái tử và Công chúa cũng đều trở thành các bậc Trưởng lão, Trưởng lão ni A-la-hán. Chi tiết xin xem tại chương "Sasanā thời kỳ đầu tại Myanmar", trang 123, cuốn sách "Các bậc Thánh giả tiêu biểu thời kỳ Sri Lanka" do chúng tôi biên soạn). ## TRANG 99 ### 3. Các bậc A-la-hán và các bậc vĩ nhân thời đại Thaton #### Trưởng lão Gavam-pati Tiểu sử về Trưởng lão **Gavam-pati** có phần mang màu sắc huyền thoại. Tuy nhiên, ngài không chỉ được đề cập trong các bộ sử ký (Yazawin), sử liệu tôn giáo (Sasanā-win) và văn bia chùa **Shwemawdaw**, mà còn được ghi nhận là vị đã mang giáo pháp đến vùng Hạ Myanmar ngay sau hai vị thương gia **Tapussa** và **Bhallika**. Ngài là vị Trưởng lão nhận được lòng tôn kính và ngưỡng mộ sâu sắc trong tâm khảm của người dân vùng Ramanna (vùng đất của người Mon). Chính vì lòng tôn kính quá mức này mà những truyền thuyết về ngài có phần mang tính huyền thoại. Ngài chính là vị Trưởng lão **Gavam-pati** từ thời Đức Phật. Tóm tắt về tiểu sử của ngài như sau: Vào thời xưa trước khi Đức Phật xuất hiện, dưới triều vua **Tissa** ở thành **Subinna**, vương quốc **Karannaka**, con trai của vị đại thần là **Tissakumma** và **Vijayakumma** đã xuất gia đạo sĩ tại núi đá **Gajjagiri** gần biển. Khi đó, một Long nữ và một vị Minh chú tiên (Vijjā-dhara) giao kết sinh ra hai quả trứng, hai vị đạo sĩ mỗi người nhận nuôi một quả. Từ hai quả trứng nở ra hai người con trai. Con của vị đạo sĩ em qua đời năm 10 tuổi và tái sinh làm người tại vương quốc Majjhima vào thời Đức Phật, xuất gia và chứng quả A-la-hán năm 7 tuổi. Con của vị đạo sĩ anh thì trở thành vua với danh hiệu **Sīha-rājā**. Không lâu sau khi chứng quả A-la-hán, thân mẫu qua đời, Ngài dùng **Thiên nhãn** (Dibba-cakkhu) xem "Thân mẫu đã sinh về đâu?" và thấy bà tái sinh vào một gia đình ngư dân vùng Ramanna, ngài đã từ không trung hiện đến để thuyết pháp hóa độ. Tại thành Thaton (hay còn gọi là Sudhamma-pura), theo lời thỉnh cầu của người anh (kiếp trước) là vua **Sīha-rājā**, vào hạ lạp thứ 8 của Đức Phật, ngài đã thỉnh Đức Thế Tôn đến vùng Ramanna. Đức Phật đã thuyết pháp cho dân chúng và ban tặng 6 sợi tóc (Xá-lợi tóc) cho 6 vị đạo sĩ. Sau khi Đức Phật nhập Niết-bàn, Thượng tọa **Gavam-pati** cũng đã thỉnh 33 chiếc răng (Xá-lợi răng) về, từ đó 33 ngôi bảo tháp đá được xây dựng để thờ tự. (Chi tiết xin xem thêm trong "Tổng tập lịch sử tháp chùa và sử lược Mon"). Trong phần kệ ngôn của Trưởng lão Gavam-pati (**Gavam-pati-thera-gāthā**) và **Apadāna** thuộc tạng Luật, những tình tiết này không được đề cập. Tuy nhiên, Trưởng lão **Gavam-pati** không chỉ được người Mon mà cả người Myanmar vô cùng tôn kính. Đức vua **Anawrahta** thậm chí đã tự mình tạc tượng ngài để thờ phụng. Vua **Kyansittha** cũng tôn thờ tượng ngài bên cạnh tượng Phật trong cung điện mới. (Theo văn bia Shwezigon, v.v.). ## TRANG 100 **Đại đức Prāṇadassī – Vị Đắc Thần Thông, Kiến Giải Sâu Sắc** Trong lịch sử truyền thừa giáo pháp (sāsanavaṃsa) tại Thaton, dường như có rất nhiều bậc Thánh tăng A-la-hán đắc Thiền định và Thần thông (jhānābhiññā). Đây là kết quả thành tựu từ công cuộc hoằng pháp của Ngài Soṇa và Ngài Uttara – thành viên của phái đoàn truyền giáo đến chín phương (Cửu địa) vào năm 235 Phật lịch. Các sử gia và soạn giả của *Paritta Nidāna* ghi chép rằng cho đến thời vua Manuha, dòng dõi các bậc A-la-hán tại đây vẫn được duy trì liên tục, không hề đứt đoạn. Nói một cách chính xác, cũng giống như lời mô tả trong *Paritta Nidāna* và chú giải *Vibhaṅga* về lịch sử thực hành giáo pháp tại đảo quốc Sīhaḷa (Sri Lanka) rằng: “Các bậc Thánh phi hành trên hư không nhiều đến mức dân chúng không thể phơi lúa trên sân; hễ là bậc xuất gia thì hiếm khi còn là phàm nhân”, chúng ta có thể suy đoán rằng đất nước Myanmar thời bấy giờ cũng hưng thịnh tương tự như vậy. Sử liệu ghi lại rằng tại Thaton, Trưởng lão Anomadassī – một bậc đắc thiền định (jhāna samāpatti) – đã thống lĩnh 500 môn đồ, kế thừa và gìn giữ trọn vẹn di sản của Ngài Soṇa và Ngài Uttara. Trong số các đệ tử của Ngài, Đại đức Prāṇadassī là vị nổi danh nhất. Ngài chính là thầy của bậc thầy của Ngài Shin Arahan. Trong dòng dõi 52 đời vua Thaton (hoặc 82 đời theo văn bia Manuha), Ngài là quốc sư của ba đời vua liên tiếp: Mandakarājā (đời 49), Adindarājā (đời 50) và Udindarājā (đời 51). Văn bia Kalyāṇī tại Pegu đã ghi lại danh hiệu của Ngài: **“Prāṇadassī (la) so tu lokiyajjhānābhiññālābhī”** (Prāṇadassī là vị đã chứng đắc các tầng thiền và thần thông hiệp thế). Nội dung văn bia khi được dịch ra có ý nghĩa như sau: “Đại đức Prāṇadassī là bậc đắc thiền định và thần thông hiệp thế. Mỗi ngày, từ vương quốc Thaton, Ngài khởi hành sớm để đến quét dọn sân đại bồ đề (Mahābodhi) tại Magadha (Ấn Độ). Sau đó, Ngài trở về Thaton để thọ thực. Ngài luôn duy trì công việc quét dọn và khất thực này hàng ngày. Một lần nọ, các thương gia từ Magadha cư ngụ tại thị trấn Uruvelā đến Thaton (còn gọi là Sudhammapura) để buôn bán, họ kể với người dân Thaton rằng đã thấy Đại đức Prāṇadassī quét dọn sân đại bồ đề mỗi ngày. Khi biết Ngài vẫn có mặt tại Thaton để khất thực hàng ngày, dân chúng mới thấu hiểu và tin kính rằng Ngài là bậc đã đắc các tầng thiền và thần thông (samāpatti).” Trong lịch sử thực hành giáo pháp tại Myanmar, Ngài là vị Trưởng lão cần được ghi danh đặc biệt dựa theo các bằng chứng văn bia. *Suvaṇṇabhūmi (theo quan điểm đa số) bao gồm các đảo Sumatra, Java (Yava).* ## TRANG 101 Bao gồm cả Thaton và vùng Rāmaññadesa. Chú giải *Nidāna Saṅgītikathā* ghi chép rằng khi Ngài Soṇa và Ngài Uttara đến hoằng pháp, đã có sáu mươi ngàn người đắc được Pháp nhãn (tây: Tứ thánh đế). Thời bấy giờ, không chỉ nam giới mà cả nữ giới cũng gia nhập giáo đoàn (với tư cách là Thập giới nữ – sikkhamāna hoặc Trưởng lão ni – therī). Các nhà nghiên cứu lịch sử hiện đại dựa trên nhiều bằng chứng văn bia chỉ ra rằng giáo đoàn Tỳ-khưu-ni đã tồn tại cho đến tận thời kỳ Bagan. (Vấn đề này cần được tiếp tục nghiên cứu sâu hơn.) ### Suvaṇṇabhūmi – Vùng Đất Không Thể Tách Rời Với Myanmar Bên cạnh đó, thông tin về các bậc A-la-hán tại tu viện Kelāsa thuộc Thaton (Suvaṇṇabhūmi) cũng được tìm thấy trong *Mahāvaṃsa* (Đại Thống Sử), chương 29, kệ số 43. Khi vua Duṭṭhagāmaṇi tổ chức lễ đặt đá xây dựng Đại Bảo Tháp (Mahācetiya), các bậc A-la-hán từ khắp nơi đã phi hành đến đảo Sīhaḷa. Từ tu viện Kelāsa, Trưởng lão A-la-hán Suriyagutta đã dẫn đầu một đoàn gồm rất nhiều vị A-la-hán (chừng sáu mươi ngàn vị – saṭṭhi sahassa) đến tham dự lễ hội này. Theo cuốn 'Lịch sử Phật giáo' của Tiến sĩ Shivali người Sīhaḷa, xá-lợi của Ngài Soṇa và Ngài Uttara – những vị lãnh đạo phái đoàn hoằng pháp Suvaṇṇabhūmi – được tôn thờ trong đại tháp “Nakhon Pathom” (Nagara Pathama) tại Thái Lan. Tuy nhiên, người dân Myanmar lại tin tưởng rằng khi hai Ngài nhập Niết-bàn, nhục thân của các Ngài đã biến thành đá, hiện vẫn có thể chiêm bái tại núi Kusināru, cách thị trấn Bilin khoảng ba dặm. Người Myanmar luôn khẳng định Suvaṇṇabhūmi chính là Thaton, điều này được lưu truyền qua nhiều thế hệ. Tính xác thực của khẳng định này có lẽ sẽ sớm được làm sáng tỏ. Bởi hiện nay, Bộ Khảo cổ thuộc Chính phủ đang tiến hành khai quật tại các làng Winka và Ayettheima thuộc vùng Thaton-Kyaikto. Vào năm 1976, họ đã phát hiện những nền gạch lớn (có thể là kiến trúc tu viện Saṅghārāma?) kỳ lạ và đáng kinh ngạc, tương tự như phế tích tu viện Jetavana ở Trung Ấn. Hy vọng rằng ngành khảo cổ sẽ sớm giải mã được những bí ẩn trong “Lịch sử cầm gậy” (Totehtan Rājavaṃsa) của Suvaṇṇabhūmi. Dưới tuệ nhãn nhìn thấu tương lai (Anāgataṃsa-ñāṇa) của Ngài Mahā Moggalliputta Tissa, Suvaṇṇabhūmi đã được chọn để trở thành nơi lưu giữ giáo pháp. Khi Phật giáo tại Ấn Độ và Sīhaḷa suy yếu hoặc gián đoạn, thì chính hệ tư tưởng Theravāda ## TRANG 102 Đã đứng vững như một pháo đài duy nhất cho toàn thế giới tại đế chế Bagan trong cương vực của người Myanmar; có lẽ không một nơi nào khác xứng đáng hơn vị trí này. Các bảo tháp quan trọng tại vùng Sri Ksetra cũng như thực trạng vật chất của giáo pháp hiện nay đều minh chứng cho tầm nhìn sáng suốt của các bậc Thánh tăng A-la-hán. Quả thực, Suvaṇṇabhūmi không thể là nơi nào khác ngoài Myanmar. ### Sự Phát Triển Của Các Pháp Thuật Ma Thuật (Vijjāmayiddhicariya) Di sản giáo pháp từ phái đoàn Cửu địa truyền đến Thaton và lịch sử Rāmaññadesa chỉ còn lưu lại dấu tích rõ nét đến thời của Đại đức Prāṇadassī và thời của Ngài Shin Arahan sắp được đề cập tới đây. Thời kỳ đó giáo pháp vô cùng hưng thịnh. Về sau, dưới triều đại của các vị vua kế cận, giáo pháp Theravāda thuần túy khi mờ khi tỏ, lúc thăng lúc trầm tựa như cánh chim chao lượn. Nhìn sang vùng Sri Ksetra cũng thấy tình trạng tương tự. Bà-la-môn giáo, Đại thừa giáo (phái Ari – pha trộn giữa Bà-la-môn và Theravāda) và Theravāda chính thống luôn tranh giành tầm ảnh hưởng lẫn nhau. Tại vùng Rakhine (vùng đất Kamyam), tình hình còn tệ hơn. Từ năm 518 TCN đến năm 720 SN, Bà-la-môn giáo và Đại thừa cực kỳ lớn mạnh và bành trướng thế lực. (Có thể xem thêm văn bia tại chùa Shite-thaung ở Mrauk-U). Nhìn về đảo quốc Sīhaḷa, tình cảnh cũng chẳng khá hơn. Do sự chèn ép của Bà-la-môn và Đại thừa, giáo pháp Theravāda phải rời khỏi Ấn Độ sang Sīhaḷa, nhưng tại đây lại gặp phải các tu sĩ Đại thừa phái Jetavanavāsī và Abhayagiri vốn ưa chuộng sự mới lạ và tân thời, khiến những bậc chân tu phải lánh nạn. Tại Thaton dưới thời vua Manuha, quốc gia bất ổn. Các pháp thuật phù thủy của Đại thừa (Vijjādhara) dường như chiếm thế thượng phong. Mặc dù câu chuyện về thầy trò Byat Wi và Byat Ta không thể coi là hoàn toàn xác thực, nhưng nó phản ánh đúng bản chất của thời đại đó. Việc Ngài Shin Arahan thỉnh Tam Tạng kinh điển về vương quốc Bagan có lẽ cũng là vì tình hình tại Thaton không còn thuận lợi, cần phải di dời kho báu giáo pháp. Dù thế nào đi nữa, rõ ràng là các tông phái Đại thừa như Mật tông (Tantrayana) và Chân ngôn tông (Mantrayana) đã từng thiết lập một nền tảng vô cùng vững chắc tại vùng đất Ramanya (vùng đất của người Mon). Phần lớn mọi người đều lầm tưởng rằng giáo phái Ari (Ariya-gyi) chỉ từng tồn tại ở vương quốc Bagan mà thôi. Nhưng không phải vậy. Tại Ramanya, ngay từ thời kỳ rất sớm, họ đã lập được chỗ đứng vững chắc và đẩy lùi Theravada (Phật giáo Nguyên thủy). Thậm chí, ngay cả khi không thể áp đảo hoàn toàn, họ cũng đã tìm cách trà trộn, tiêm nhiễm và làm đảo lộn [nền tảng Theravada nơi đây]. ## TRANG 103 Vào khoảng năm Phật lịch 1500 (thời kỳ trước vua Taungthugyi và vua Anawrahta ở Bagan), đây cũng là thời đại mà Đại thừa (Mahāyāna) phát triển mạnh mẽ tại vùng Ramanya. Người ta nói rằng các phương diện học thuật tại đây thậm chí còn tiến bộ hơn cả ở chính quốc Ấn Độ. Vì những kiến thức về minh chú và thần thông (vijjāmayiddhi) đang đổi mới và phát triển như vậy, nên một vị tăng sĩ Đại thừa người Bengal tên là **“Atīsa”**, còn gọi là **Dīpaṅkarasirīñāṇa** (A-đề-sa), đã lặn lội đến vương quốc Pegu và các vùng khác của Ramanya để tầm sư học đạo. Sự việc này xảy ra vào khoảng năm Phật lịch 1570. Sau khi hoàn tất việc học, ngài đã sang Tây Tạng để hoằng pháp, điều này đã được ghi chép lại trong nhật ký của đệ tử ngài là **“Barumtwon”**. Theo ghi chép của vị Lạt-ma Tây Tạng **‘Tāranātha’**, vị thủ lĩnh tông phái Đại thừa tại Bengal là **Shin Vasubandhu** (Thế Thân) đã cử các đệ tử của mình đi hoằng pháp tại Bagan và Pegu vào khoảng năm Phật lịch 1050. Những nhận định trên chỉ là các ghi chép của phía Đại thừa. Theo tác phẩm *Vaṃsadīpanī* của Ngài Mehti Sayadaw, sự ảnh hưởng của Đại thừa dưới triều đại vua Tissarāja của vương quốc Pegu đã xuất hiện từ rất sớm, vào năm Phật lịch 697. Xin được trình bày đôi chút về tình hình dưới triều vua ấy. Trong sách *Vaṃsadīpanī*, các tăng sĩ Đại thừa bị gọi là **“những tu sĩ phi pháp (alajjī), hạ tiện (caṇḍāla) từ hải đảo xa xôi”**. Tại Bagan, họ thường được gọi là các tu sĩ Ma-thi (Ma-hê) hay các tu sĩ Aris (Yết-lợi). ### Các tăng sĩ Đại thừa và nàng Subhaddā Vào năm Phật lịch 697, dưới thời vua Tissarāja vùng Pegu, các tăng sĩ Đại thừa đã dùng các thuật thuật minh chú và thần thông để chiếm lòng tin của nhà vua. Sau đó, họ thuyết giảng rằng: **“Những pho tượng người chết là điều bất hạnh, điềm gở. Nếu Đại vương không thờ cúng những pho tượng gở ấy trong cung điện, uy quyền và thần lực của ngài sẽ còn to lớn hơn nữa”**. Nghe theo lời khuyên đó, nhà vua đã hạ lệnh vứt bỏ các pho tượng Phật vào những nơi dơ bẩn, không thanh tịnh và trừng phạt những ai cung kính thờ phụng. Khi ấy, khắp kinh thành lâm vào cảnh loạn lạc, đói kém. Bấy giờ, nàng thiếu nữ **Subhaddā**, con gái của một vị đại phú trưởng giả, tròn 16 tuổi, đã suy nghĩ rằng: **“Đức vua vì theo tà kiến mà khiến dân chúng phải chịu cảnh lầm than. Ta vì sự an lạc của mọi người, dù có phải chết cũng cam lòng. Nguyện nhờ oai lực của Tam Bảo, ước nguyện của con sẽ được thành tựu”**. Sau khi phát nguyện, nàng đã đi đến những nơi không thanh tịnh ## TRANG 104 để tìm và nhặt lại những pho tượng Phật đã bị vứt bỏ. Nàng dùng nước thơm tắm rửa sạch sẽ cho các pho tượng, rồi dựng lên một nhà rạp lớn để tôn thờ và cúng dường. Khi nghe tin ấy, nhà vua nổi trận lôi đình, sai binh lính và đao phủ đi bắt nàng. Tuy nhiên, Subhaddā không hề nao núng. Dù bị trói bằng dây thừng và lôi đi, nàng vẫn không hề khởi tâm oán hận mà trái lại, nàng trải lòng từ ái (mettā) đến tất cả họ. Nàng nhất tâm hướng về Tam Bảo, hành trì pháp môn tâm từ. Nhờ oai lực của lòng từ, ngay khi Subhaddā vừa xuất hiện trước mặt vua, nét mặt của nhà vua bỗng chốc trở nên tươi vui, rạng rỡ. Khi được hỏi duyên cớ, nàng đã không chút sợ hãi mà trả lời rằng: “Tâu Đại vương, Đức Thế Tôn cũng giống như Ngài, vốn đang hưởng thụ vinh hoa phú quý của bậc quân vương, nhưng vì muốn cứu độ chúng sinh nên Ngài đã xuất gia, hành đạo suốt 45 hạ lạp để ban tặng cho đời món quà bất tử. Những pho tượng này chính là biểu hiện thay cho thân tướng của Ngài để lại cho chúng sinh đời sau. Đây không phải là tượng của người chết. Dù chỉ được tạc từ gỗ, nhưng nếu chúng ta có lòng thành muốn được chiêm bái, Ngài sẽ hiện thân trở về”. Nghe vậy, nhà vua lấy làm kinh ngạc và phán rằng: **“Nếu Ngài có thể trở về, ta cũng muốn được chiêm bái”**. Subhaddā liền thỉnh mời chư thiên chứng giám, chắp tay phát lời thệ nguyện chân thật (Saccādhiṭṭhāna). Ngay lập tức, các pho tượng Phật bay lên không trung phía trên sân đình cung điện như thể đang thực hiện thần thông của bậc đắc Định và Huệ (Jhāna-Abhiññā). Sau khi dừng lại một lúc trên không, các ngài bay đến ngự trên một đống cát ở góc phía Tây Nam kinh thành. Nhà vua sinh lòng hối hận sâu sắc, quỳ xuống tạ lỗi và cầu xin sự tha thứ. Sau đó, vua phong Subhaddā làm Hoàng hậu. Tại nơi các pho tượng ngự xuống, vua cho xây dựng một ngôi bảo tháp mang tên **“Kyaik Paw”** để thờ cúng. Đối với các tăng sĩ Đại thừa phá hoại giáo pháp, vua sai đào hố để hành quyết. Một số đã tự tử bằng cách buộc chum gốm vào người rồi nhảy xuống dòng sông Hlaing. Một số khác thì bỏ trốn. Năm 1043 sau Công nguyên, vua **Mahātissa** vùng Pegu và Hoàng hậu **Mahāsubhaddā** (còn gọi là **Bhadrādevi**) đã cùng nhau xây dựng bảy ngôi tháp Phật. Do trải qua thời gian dài bị hư hại, đến năm Phật lịch 2032 (năm 832 lịch Miến Điện), Nữ vương người Mon là **Shin Saw Pu** đã trùng tu lại. Hiện nay vẫn còn bài minh văn bằng tiếng Mon tại khu vực Bảy Ngôi Tháp Phật ghi lại điều này. (Chi tiết về câu chuyện của nàng Subhaddā, xin quý vị hãy xem thêm trong tác phẩm **Mettāvāda - Giải thích về Phạm Trú** do chúng tôi biên soạn). Năng lực của lòng từ và sự hành trì của nàng thiếu nữ **Subhaddā** mới 16 tuổi thật đáng để chúng ta học tập. Bất kể già trẻ, người nào hộ trì Chánh pháp thì sẽ được Chánh pháp hộ trì lại. Tinh thần kiên định theo kiểu **“dù ai có từ bỏ Chánh pháp, ta vẫn quyết không rời xa”** thật đáng được tán dương. ## TRANG 105 Dù tuổi đời còn rất trẻ và không tương xứng với sự thấu hiểu về oai lực, ân đức và giá trị của Tam Bảo, nhưng điều cốt yếu chính là niềm tin (Saddhā) mãnh liệt của nàng – một báu vật mà dù có đổi bằng vàng cũng không thể mua được. Thật vô cùng hy hữu và đáng kinh ngạc. ## TRANG 106 ### 4. Các bậc A-la-hán và những vĩ nhân thời kỳ Bagan #### Trưởng lão Shin Arahan *“Nawrahta kan, Arahan, khun pyan kya lar wae.”* (Kavi Lakkhana) Pháp danh của Ngài Shin Arahan là **Ashin Dhammadassī**. Ngài là đệ tử của bậc Thánh A-la-hán tôn quý hiệu là **Ashin Sīlabuddhi** tại vương quốc Thaton. Ngài được thầy tế độ và cho xuất gia từ thuở nhỏ. Ngài thông suốt cả bốn tập Veda cùng toàn bộ Tam Tạng Kinh điển (Piṭaka) và đã chứng đắc quả vị A-la-hán. Danh tiếng của Ngài vang xa đến mức các thí chủ từ thành Sokkate (thành phố Nontaburi, Thái Lan ngày nay) đã thỉnh Ngài đến đó trú ngụ. Sau hơn 10 năm hoằng pháp tại đó, Ngài trở về Thaton và ẩn tu tại một ngôi chùa rừng (tọa thiền tự). Thời điểm đó là năm 406 Miến lịch, khi **Đại vương Anawrahta** vừa lên ngôi tại vương quốc Bagan. Tại Bagan lúc bấy giờ, hệ tư tưởng tà đạo của các tu sĩ Ari truyền qua nhiều thế hệ vốn không nhận được sự đồng thuận của Đức vua, khiến người luôn trăn trở, phân vân. Biết được tâm tư ấy, để tạo niềm tin cho Đức vua, các tu sĩ Ari đã đục rỗng một cây vối rừng (thakhut) lớn ở vương quốc Sri Ksetra, nhét các kinh sách đại thừa vào trong, sau đó trát bùn và làm giả như lớp vỏ cây tự nhiên lâu năm. Xong xuôi, họ tung tin đồn cho thấu đến tai vua rằng có người nằm mộng thấy kinh văn quý ẩn trong cây vối rừng. Đức vua bèn sai quân binh đến đập thân cây ra xem, thấy trong đó có những bộ kinh chép rằng “các tu sĩ Ari có đức tin và hành trì đúng đắn, chính là đệ tử của **Đức Phật Gotama**”. Dù lòng vẫn còn nghi ngại, nhưng vì trách nhiệm quốc gia, Đức vua vẫn phải tiếp tục hộ trì họ. Thế lực của các tu sĩ Ari lúc bấy giờ không hề nhỏ, gồm 30 vị thủ lĩnh và 60.000 thuộc hạ. Bậc Thánh **Sīlabuddhi-arahant** tôn quý khi nghe được tình hình tại Bagan đã truyền dạy sự tình cho Ngài Shin Arahan và giao phó trọng trách đến Bagan để chấn hưng Giáo pháp. Ngài Shin Arahan khoác tấm da thú trên vai (vật trải ngồi), quảy bình bát, rời Thaton khởi hành. Khi đang nghỉ chân tại một khu rừng gần kinh thành Bagan, một người thợ săn đã bắt gặp Ngài; tưởng Ngài là người rừng (người lạ kỳ), người thợ săn liền đưa Ngài vào cung điện yết kiến vua. ## TRANG 107 Các tu sĩ Ari thường mặc y màu xanh đen, để tóc và râu dài, nên khi nhìn thấy diện mạo của Ngài Shin Arahan, mọi người đều thấy vô cùng kỳ lạ. Chỉ vừa nhìn thấy uy nghi đĩnh đạc của Ngài Shin Arahan, nhờ căn lành ba-la-mật, Đức vua đã nhận ra ngay rằng: “Người này không phải hạng phàm phu, mà chính là bậc thiện tri thức có pháp bảo trong lòng”. Để thử tâm tính, Đức vua mời: “Xin Ngài hãy chọn chỗ ngồi nào thấy phù hợp”. Ngài Shin Arahan liền bước lên ngồi ngay trên ngai vàng cao quý. Nhìn cách Ngài chọn nơi an tọa, Đức vua vô cùng hoan hỷ, xác tín rằng: “Đây đích thực là bậc Thánh nhân”. Sau đó, giữa hai người đã có cuộc đàm đạo như sau: Đức vua: “Bạch Ngài, Ngài thuộc dòng dõi nào? Từ đâu đến? Và Ngài thọ giáo theo giáo pháp của ai?” Trưởng lão đáp: “Tâu Đại vương, dòng dõi của bần tăng chính là dòng dõi của **Đức Phật Chánh Biến Tri Vô Thượng (Acinteyya Sammāsambuddha)**, Đấng trọn đủ 9 ân đức cao thượng. Bần tăng đến từ Thaton, nơi có thầy tế độ và các bậc đồng phạm hạnh của bần tăng. Bần tăng thọ trì giáo pháp do chính **Đức Thế Tôn Chánh Biến Tri** truyền dạy.” Đức vua: “Kính bạch Ngài, xin hãy thuyết giảng giáo pháp ấy cho trẫm nghe.” Trưởng lão liền thuyết giảng rộng về pháp **Appamāda** (Không phóng dật), nhắc nhở Đức vua không được lơ là trong các thiện pháp Bố thí, Trì giới và Tu tiến (giống như cách Sa-di Nigrodha đã thuyết cho đại vương Siridhamma Asoka ngày trước). Đức vua vô cùng hoan hỷ, bạch hỏi thêm: “Bạch Ngài, hiện giờ Đức Thế Tôn đang ở đâu? Giáo pháp của Người rộng lớn bao nhiêu? Và ngoài Ngài ra, còn có các vị đệ tử Tăng già nào khác nữa không?” Trưởng lão đáp: “Đức Thế Tôn đã nhập Niết-bàn, hiện chỉ còn lại các câu chuyện tiền thân (Jātaka). Toàn bộ Tam Tạng Kinh điển gồm 84.000 Pháp uẩn. Tại vương quốc Thaton hiện có tới 30 bộ Tam Tạng đầy đủ. Ngoài bần tăng ra, còn có rất nhiều chư Tăng khác nữa.” Đức vua thưa: “Kính bạch Ngài, thật hoan hỷ thay! Ngoài Ngài ra trẫm không còn nơi nương tựa nào khác. Trẫm xin dâng cúng cả mạng sống này. Trẫm nguyện y giáo phụng hành theo mọi lời dạy của Ngài.” Nói rồi, Đức vua cho xây dựng và cúng dường ngôi chùa hiệu là Jetavana ở phía Đông kinh thành. (Trong các sử liệu khác có ghi chép rằng chùa rừng được xây ở hướng Đông Bắc đường mòn phía sau vườn Nyaung-U, phía trước Urūveḷa Mutho). Theo văn bia số 152/6, vào năm 1243 Pas (AD), trong khuôn viên chùa của Ngài Shin Arahan có tới 20 ngôi trường cho chư Tăng nghiên cứu kinh điển. Hàng ngày, Đức vua đích thân gánh nước, Hoàng hậu đích thân bưng khay đồ lễ, đến chùa cúng dường. Mọi việc liên quan đến Phật sự, Đức vua đều thỉnh ý Ngài Trưởng lão. ## TRANG 108 Đức vua ra lệnh cho 60.000 tu sĩ Ari phải hoàn tục, giao cho họ việc cầm giáo mác canh gác và dọn dẹp phân voi, phân ngựa. Trưởng lão Shin Arahan cũng làm lễ xuất gia cho những người có lòng tín thành với Giáo pháp. Theo bộ Vamsadīpanī, thời bấy giờ số lượng Tăng chúng lên đến hơn 3 vạn vị. Đức vua và bậc Thầy cùng nhau bàn bạc, quét sạch những nhơ uế của Giáo hội. Các tu sĩ Ari vì bị mất đi lợi lộc nên nảy sinh lòng oán thù với Ngài Shin Arahan. Đức vua biết chuyện, bèn cắt cử 100 người luân phiên bảo vệ ngôi chùa để ngăn chặn sự hãm hại từ các tu sĩ Ari. Ngài Shin Arahan đã cho những người lính này xuất gia và dạy cho họ học tập văn hóa Pháp bảo (Pariyatti). (Về sự kiện Ngài Shin Arahan đến Bagan, còn có một vài điểm khác biệt nhỏ trong sử liệu khác; xin xem thêm trong Sāsanālaṅkāra). Vào một ngày năm 419 Miến lịch, theo lời khuyên của Trưởng lão Shin Arahan, Đức vua sai các đại thần thông ngôn mang lễ vật đến yết kiến vua Manuha của vương quốc Thaton để thỉnh Xá-lợi Phất và các bộ kinh Tam Tạng. Vua Manuha buông lời xúc phạm: “Hạng tà kiến ngoại đạo như các ngươi mà cũng xứng đáng có được Pháp bảo sao?”. Các sứ giả trở về bẩm báo, Đức vua nổi trận lôi đình, bèn điều động đại quân thủy bộ tiến đánh Thaton. Dù có những dũng tướng như Kyansittha phò trợ, nhưng ban đầu vẫn không thể công thành. Chỉ đến khi họ dùng phương thuật (Vijjāmayiddhi), đào bới và vứt bỏ đôi tay chân của Byat Wi vốn được trấn yểm trong thành chôn dưới tường thành, quân Bagan mới phá cổng thành và giành chiến thắng. Đức vua cho thỉnh 30 bộ Tam Tạng và các Xá-lợi lên lưng 30 thồ voi đưa về Bagan. Đi cùng đoàn còn có một ngàn bậc Thánh trí thông suốt Tam Tạng. Vua Manuha và một số nghệ nhân tài hoa cũng bị đưa về. Sau này, khi đối chiếu những bộ kinh này với các bản kinh thỉnh từ Ceylon (Sri Lanka), chính Ngài Shin Arahan đã xác nhận chúng hoàn toàn trùng khớp, không hề sai lệch. (Theo Sāsanālaṅkāra, năm thỉnh kinh từ Thaton về là năm Phật lịch 1601, Miến lịch 419). Kể từ đó, Giáo pháp chân chính và thanh tịnh bắt đầu hưng thịnh và phát triển rực rỡ tại vương quốc Bagan. Đại vương Anawrahta khi nghĩ về các bậc tổ tiên từng phải sống trong bóng tối tà kiến của phái Ari đã vô cùng xúc động; vừa bi thương vừa hoan hỷ, người thốt lên: “Nguyện cho thiện sự này mang lại phước báu ba-la-mật cho tổ tiên con”. Ngài Shin Arahan nhập Niết-bàn vào năm thứ 2 triều đại vua Alaungsithu, thọ 81 tuổi. Đức vua và dân chúng đã tổ chức đại lễ cúng dường suốt 7 ngày đêm trước khi làm lễ hỏa táng. Xá-lợi của Ngài được đặt trong một rương vàng và tôn thờ trong bảo tháp xây tại chân núi Tuyin (Turin). Người ta cũng tạc tượng Ngài để thờ phụng (hiện đặt bên trong đền Ananda). Ngôi tháp của Ngài nằm ở phía Tây Bắc làng Taung Par, một trong 19 ngôi làng gốc hình thành nên Bagan. ## TRANG 109 Nơi cách Thùy Tuyệt khoảng 500 [vĩ độ/độ dài] chính là ngôi chùa Thí Tảo (Hthi-saung). (Điều này được ghi lại trong bộ *Tiểu sử Chùa Shwezigon* mới do Ngài Aggamaha Pandita **U Nandavamsa Mahathera** ở thành phố Pakokku biên soạn. Các mốc thời gian về Ngài Shin Arahan nên được tiếp tục nghiên cứu thêm.) Công cuộc hoằng pháp của Ngài **Shin Arahan**, vị Thánh Tăng Alahan, con trưởng của Đức Thế Tôn và là ân nhân của bao thế hệ người dân Myanmar, có thể nói là cao cả nhất trong lịch sử Phật giáo Myanmar. Trong văn bia tiếng Môn tại cung điện của Vua Kyansittha, có mô tả trang trọng về buổi lễ lên ngôi điện mới vào năm 463 [Miến lịch], trong đó có 4108 vị Tăng do Ngài **Shin Arahan** dẫn đầu đã cùng tụng kinh Paritta. ## TRANG 110 ### Ngài Trưởng lão Pansukula (Pansukula Mahathera) Sau khi Ngài Shin Arahan nhập Niết-bàn, vương tử của Vua Seinnyet (người từng là những vị trợ thủ đắc lực trong công cuộc hoằng pháp của Ngài Shin Arahan) cùng với các bậc đại Trưởng lão Ananda và Bodhi đã tiếp nối sự nghiệp hoằng pháp. Tất cả các Ngài đều là những bậc Thánh nhân (Ariya). Vào thời kỳ sau đó, trọng trách Phật sự được giao phó cho Ngài **Pansukula Mahathera**, chủ nhân của Ngaswe. Ngài chính là vị Tăng thống (Sasana-paing). Ngài quản lý các bậc Trưởng lão thông suốt Tam Tạng như Ngài Ananda và Bodhi để hoằng dương giáo pháp. Pháp hiệu gốc của Ngài là **Shin Silabuddhi**. Sở dĩ Ngài được gọi là "Ngaswe Shin Pansukula" vì vị Trưởng lão này luôn có thói quen chỉ nhặt những mảnh vải từ tử thi (vải phấn tảo - pansukula) để làm y phục. Một ngày nọ, một cậu bé chăn bò tên là Ngaswe Ngal muốn tạo công đức nên đã giả chết ở nghĩa địa, dùng vải đắp lên người và bảo bạn bè đi báo tin cho vị Trưởng lão. Khi Ngài đến nhặt vải pansukula, thấy cậu bé không còn thở, Ngài liền tụng kinh Paritta và tỏa tâm từ sau khi nghe cha mẹ cậu bé trình bày. Cậu bé Ngaswe Ngal liền tỉnh dậy và đảnh lễ Ngài. Cha mẹ của cậu sau đó đã dâng cúng cậu cho vị Trưởng lão. Kể từ đó, Ngài có danh hiệu là "Ngaswe Shin Pansukula". ### Ngài Pansukula và Vua Narathu Vì vị Trưởng lão ấy được kính trọng như cha mẹ của đất nước, nên dù không muốn, Ngài vẫn phải can thiệp vào các việc quốc sự. Nguyên do là vương tử Min Shin Saw, con trai của Vua Alaungsithu, do có hành vi bất kính với Anantathuriya và một vương phi người Ấn Độ (Kula), nên phải rời kinh đô đi lánh nạn ở vùng Htuntone Putet, phía đông Mandalay. Trong thời gian đó, người em trai là Narathu, trong lúc đưa Phụ vương đi chiêm bái chùa Shwegu, đã dùng vải siết cổ giết chết cha rồi tự mình lên ngôi. Khi nghe tin Min Shin Saw tiến quân về Bagan, Narathu đã đến khẩn cầu Ngài Pansukula: "Nếu hai anh em tranh chiến, dân chúng sẽ lầm than. Con sẽ không chống lại huynh trưởng mà sẽ nhường ngôi. Xin Ngài hãy đi thuyết phục anh con." Ngài phán: "Nếu ngươi không giữ lời, ta sẽ mang trọng tội." Vì Narathu đã thề thốt nên Ngài mới đi thuyết phục. Narathu ra đón tiếp Min Shin Saw và trao lại cung điện. Tuy nhiên, ngay đêm đó, Min Shin Saw đã băng hà do chất độc mà người em trai đã hạ. Khi hay tin, vị Trưởng lão đến và quở trách: "Hỡi kẻ bạo chúa gian ác, ngươi chỉ nhìn thấy vinh hoa nhất thời mà chẳng hề biết ## TRANG 111 khiếp sợ hiểm họa của vòng luân hồi, ngươi cũng chẳng màng đến mặt mũi của ta." Narathu trơ tráo đáp lại: "Chẳng phải con đã giữ lời thề đưa huynh trưởng lên ngôi rồi đó sao?" Ngài phán: "Hỡi kẻ hèn hạ, không ai đồi bại hơn ngươi. Ta không muốn sống trong quốc gia của một kẻ đê tiện như vậy," nói rồi Ngài rời sang tích lan (Sri Lanka). Vì vị Trưởng lão mà cả nước kính ngưỡng đã bị lợi dụng và rời đi, dân chúng vô cùng bất bình với nhà vua. Vị vua đó vẫn tiếp tục gây ra những điều ác đức. Ông ta cho các vũ công ăn mặc hở hang biểu diễn ngay trong chùa để ép các vị tu sĩ phải hoàn tục. Narathu, kẻ đã giết hại cha và anh, đồng thời đàn áp các bậc hiền thánh, cuối cùng đã tử nạn dưới tay người Ấn Độ (Kula). Các sử gia đã đặt cho ông ta danh hiệu là "Kulakyaminn" (Vua bị người Kula giết). ### Ngài Pansukula và Vua Narapatisithu Trong bia ký Mahabodhi niên đại 660 thời Vua Pyu Tandaing (Pyu-tit-thinn), dòng 3-4 có ghi: "Có một vị Pansukula Mahathera đã tu sửa nơi thọ trai cổ xưa này sau thời gian dài hư hại, sau đó là Vua Thamo đã tu bổ thêm." Qua đó ta biết rằng Ngài Pansukula cũng đã đóng góp vào việc trùng tu cội Đại Bồ Đề (Mahabodhi). Sau bốn năm trị vì của Narathu và ba năm của người con là Min Yin Naratheinkha, Vua Narapatisithu (con của Narathu) lên ngôi, Ngài Pansukula đã từ Sri Lanka trở về. Ngài lại được giao phó trọng trách hoằng pháp. Vào năm thứ 9 sau khi lên ngôi, trên đường trở về từ núi Tongwut ở phía đông Bagan sau khi chiêm bái Xá-lợi răng, nhà vua nhìn thấy một ánh sáng rực rỡ trong một khe vực. Khi sai người xuống xem thì không thấy gì, vua nghĩ rằng: 'Nơi này hẳn muốn ta xây chùa,' nên đã ra lệnh cho dân chúng gấp rút lấp đầy khe vực đó. Khi mặt đất phẳng như mặt trống thì mới xây bảo tháp được. Việc này khiến dân chúng vô cùng khổ cực. Ngài Pansukula nghe biết chuyện đó liền phán: "Đại vương, việc này Ngài làm tưởng là để tạo công đức, nhưng thực chất công đức chẳng thấy đâu, chỉ thấy toàn là ác nghiệp." Ngài nói rồi không thọ dụng vật thực do nhà vua dâng cúng, thực hiện việc lật úp bát (đình chỉ sự hỗ trợ đối với nhà vua). Nhà vua bất kính đáp lại: "Nếu Ngài không thọ thực của con, Ngài cũng đừng ở trên đất của con nữa. Chẳng lẽ vật thực do dân chúng dâng cúng không phải là vật thực của trẫm hay sao?" Ngài liền lên đường đến vùng Zwekyo để chuẩn bị sang Sri Lanka lần nữa. Vị Dạ-xoa (Belu) canh giữ cổng thành Tharaba biết chuyện, khi nhà vua định ngự giá ra ngoài, vị ấy đã đứng chắn ngang trên cổng thành. Dù đã dùng bùa chú nhưng vị ấy vẫn không tránh ra. Sau khi bói toán mới biết nguyên do là vì vua đã bất kính với vị Trưởng lão, các quan đại thần mới được lệnh đến Zwekyo để khẩn cầu Ngài. Dù đã thỉnh cầu nhiều lần nhưng Ngài không trở lại mà đã vượt biển sang Sri Lanka. ## TRANG 112 **Trưởng lão Paṃsukūla** (tiếp theo) Sau đó, vua phải sai đại thần Turangappaccaya đi thỉnh mời vị trưởng lão bằng mọi giá. Vị đại thần đi bằng thuyền, mang theo một pho tượng Phật bằng vàng. Khi cập bến, ông liền thỉnh rằng: "Đức Thế Tôn đã ngự đến nơi này. Cầu mong Ngài Paṃsukūla hãy ngự đến." Vì không muốn trái lệnh Phật, vị trưởng lão bèn bước lên thuyền để đảnh lễ Phật. Thừa lúc trưởng lão đang đảnh lễ, vị đại thần truyền lệnh dốc sức chèo thuyền ra khơi. Ông cũng hết lời thỉnh cầu trưởng lão hãy vì sự hưng thịnh của Giáo pháp mà ở lại. Theo bia ký 289, dòng 3, đại thần Turangappaccaya là người rất am tường Tam Tạng. Khi về đến hoàng cung, chính đức vua đã dìu trưởng lão từ dưới thuyền lên, thỉnh vào cung và dâng cúng vật thực. Khi đi đến cửa Tarabā, vị Dạ-xoa canh cửa cũng hiện xuống đảnh lễ. Sau khi dâng cúng vật thực, đức vua thưa rằng: "Kể từ hôm nay, con xin vâng giữ giáo huấn của Ngài." Vua cũng dâng cúng năm người con trai, trong đó có hoàng tử Zeyyasura, cho trưởng lão. Khi trưởng lão khởi hành trở về, các hoàng tử cũng đi theo. Giữa đường, vị trưởng lão vẽ năm vòng tròn trên đất rồi bảo các hoàng tử quay về. Đức vua hiểu ý rằng trưởng lão muốn vua xây dựng năm ngôi bảo tháp, nên đã dùng số vàng bằng đúng trọng lượng cơ thể của mỗi hoàng tử, chi trả công xá và cho xây dựng 5 ngôi chùa đẹp, bắt đầu bằng tên "Cākyu Phayā Lha". Ngôi chùa mà nhà vua dùng uy quyền để cưỡng ép dân chúng xây dựng một cách gấp rút chính là chùa Cūḷāmaṇi. Khi chùa hoàn thiện, vua dùng số gạch còn dư để xây thêm một ngôi chùa hai tầng ở hướng đông bắc tháp này, gần hồ Ñāntalapphat. Để ghi nhớ việc vị trưởng lão Paṃsukūla đã đứng về phía dân chúng mà lật úp bát (biểu thị sự phản đối), dân gian truyền tụng tên ngôi chùa này là "Tháp Lật Bát" (Thapeit Hmauk Phayā). Vào năm 565 Miến lịch (1203 DL), tại nơi nhà vua quỳ xuống sám hối xin lỗi trưởng lão, vua lại cho xây dựng một ngôi tháp khác tên là "Gatdawpalin" (Ngai Sám Hối). Sợ trưởng lão lại quở trách nên vua không dám cưỡng ép dân chúng làm gấp, thế nên công trình chưa kịp hoàn tất thì vua đã băng hà. Sau đó, hoàng tử Nantaungmya kế vị và tiếp tục xây dựng cho xong. ### Paṃsukūla và vua Narathihapate Trong lịch sử và cuốn "Lịch sử 17 ngôi chùa Bagan" của ngài Myataung Sayadaw, có nhắc đến việc trưởng lão Paṃsukūla xuất hiện vào thời vua Narathihapate (617-648 Miến lịch). (Điều này cần xem xét liệu có phải là một vị khác hay không. Cần phải nghiên cứu thêm về niên đại để xác minh về vị trưởng lão này.) Khi xây dựng chùa Mingalazedi, vua Narathihapate (còn gọi là Taroke-pyay Min - vị vua chạy giặc Tàu) nghe lời tiên tri: "Chùa xây xong, quốc gia tiêu vong," nên đã dừng việc thi công suốt 6 năm. Khi ấy, trưởng lão Paṃsukūla đã thuyết giảng cho vua về giáo lý vô thường (saṅkhāra). ## TRANG 113 Ngài phán rằng: "Nếu thấy đống gạch dở dang này, hậu thế sẽ ghi vào sử sách chê cười ngươi là vị vua quá khiếp nhược trước cái chết và sự mất nước." Nhờ lời khuyên đó, nhà vua mới tiếp tục hoàn thành công trình. Theo sách Sāsanālaṅkāra, thời bấy giờ mọi người đều tôn xưng trưởng lão Paṃsukūla là một bậc A-la-hán. Xem xét những lời dạy và hành động uy nghiêm của ngài trong cả Pháp học (Pariyatti) và Pháp hành (Paṭipatti), có thể thấy rõ ngài chỉ quan tâm đến sự an lạc của chúng sinh mà không hề e sợ quyền lực quân vương. Ngài hiển thị tâm đức của một bậc chân nhân vô cùng thanh tịnh. ## TRANG 114 ## Chương: Ngài Paṇḍita ở núi Ngatpyit Sự việc cũng diễn ra dưới thời vua Narapatisithu. Khi ấy có vị Trưởng lão Paṇḍita là bậc lãnh đạo giáo đoàn trên núi Ngatpyit. Ngài là đệ tử của Trưởng lão Uttarājīva. Ngài vô cùng nghiêm cẩn trong giới luật, có thần thông quảng đại, được tin là đã đắc các tầng Thiền định và Thắng trí (Abhiññā). Đức vua cùng dân chúng hết mực kính trọng và dâng cúng những lễ vật cao quý. Trong thời gian đó, có một nữ thí chủ tâm địa bất thiện đã âm mưu làm vẩn đục thanh danh giới hạnh của ngài. Người này giả dạng làm một nữ hành giả (yogī) đến trú ngụ ở vách đá gần chùa của ngài suốt khoảng 15 ngày. Khi trở về nhà, thị thêu dệt nên những câu chuyện thì thầm rằng ngài đã phạm giới với thị. Những người thân cận đã tìm đến báo tin cho trưởng lão. Tin đồn này lan rộng khắp kinh đô, đến tai của đức vua và đông đảo chư tăng. Vì tin đồn ác ý ngày càng lan rộng, trưởng lão không thể dùng lời nói để thanh minh. Dù có giải thích cũng chưa chắc người đời đã tin. Do đó, ngài thỉnh mời đức vua cùng chư tăng và các hàng thí chủ đến chùa. Khi đại chúng đã tập hợp đông đủ, ngài dẫn họ từ chùa đi xuống ven sông Irrawaddy. Tại bến sông, ngài gặp một người đang mài dao bên tảng đá, ngài liền thỉnh nhận tảng đá và con dao ấy. Trước mặt đại chúng, ngài thỉnh nguyện chư thiên hộ pháp chứng giám và lập lời thề chân thật (Saccādhiṭṭhāna): "Nếu giới hạnh của ta có điều nhơ nhuế, nguyện cho tảng đá và con dao này khi vừa chạm nước liền chìm nghỉm ngay lập tức, và ta nguyện sẽ đọa vào bốn đường ác đạo. Nếu ta hoàn toàn trong sạch, không hề can hệ đến nữ nhân này và giới hạnh của ta thanh tịnh, nguyện cho chúng trôi nổi trên mặt nước như loài cá. Và nguyện cho ta sẽ thoát khỏi vòng luân hồi." Sau khi lập thề, ngài thả tảng đá và con dao xuống nước. Kỳ diệu thay, tảng đá mài và con dao trôi ngược dòng nước. Đức vua cùng đại chúng vô cùng hân hoan, niềm tín thành càng tăng trưởng gấp bội so với trước kia. Để hậu thế có thể tăng trưởng trí tuệ, đức tin và sự tinh tấn, vua Narapatisithu đã cho đục vách đá tạo thành các hang động (umeng) ở phía đông Nyaung-U khoảng 700 ta, dùng gạch đá xây dựng một ngôi chùa tên là "Chùa Kyauk-ku". Trên đỉnh đồi phía bắc ngôi chùa này, vua lại xây thêm một tháp nữa. Do việc tảng đá nổi lên (Kyauk-ku) có kèm theo cả con dao (Dhamma-pā), nên ngôi tháp đó được gọi là "Tháp Dhamma-pā". Theo ghi chép của ngài Myataung Sayadaw, hai ngôi tháp này thường được gọi chung là "Chùa Kyauk-ku Dhamma-pā". ## TRANG 115 Trong các tập tiểu sử, nội dung này đã được ghi chép lại như vầy: Ở thế gian này, vì nghiệp nói dối và bốn nghiệp ác ngữ, Trong vòng luân hồi khốn khổ, nghiệp khẩu dẫn dắt những điều sai quấy, Nếu tâm cứ bám chấp vào những điều không thực, thì bằng năng lực của sự thật, Vị ấy có thể hóa giải những sai lầm và dẹp tan mọi nghịch cảnh. (Pāramīkhān-pyo, 128) ## TRANG 116 **Ngài Paung Laung Shin Kassapa** Vị trưởng lão này là một bậc thánh được tôn kính là A-la-hán dưới triều vua Narapatisithu. Ngài sinh quán tại làng Guni Newin, gần dãy núi phía Tây Nam thuộc vùng Pakhan (nay là vùng Pakokku). Có một lần, nhóm cướp Shan Palaung từ dãy núi phía Tây Nam đã tràn vào làng cướp bóc và bắt đi nhiều dân làng. Trong số những người bị bắt có cha mẹ của Ngài Paung Laung Shin tương lai. Người cha đã may mắn trốn thoát được khi đang băng qua rừng núi, nhưng người mẹ với cái thai sắp đến ngày sinh thì kẹt lại. Hôm sau, dân làng Guni Newin đã lần theo dấu vết của bọn cướp để giải cứu. Tại một khu rừng nọ, họ nhìn thấy một cậu bé đang bú sữa mẹ bên cạnh xác người mẹ đã qua đời, và có một con hổ lớn đang nằm chực sẵn bên cạnh. Cậu bé đó chính là tiền thân của Ngài Paung Laung **Shin Kassapa**. Khi dân làng đến đông đủ, con hổ lớn mới lặng lẽ rời đi; dường như nó đã ở đó để bảo vệ đứa trẻ. Dân làng bèn bồng đứa trẻ trở về nuôi dưỡng. Nhiều năm sau, toán cướp Shan Palaung lại kéo đến tấn công làng Guni Newin lần thứ hai và bắt đi nhiều người. Lúc bấy giờ, vị thiếu niên năm xưa đã xuất gia với pháp danh **Kassapa**. Bọn cướp cũng bắt Ngài đi theo. Tuy nhiên, nhìn vào y phục và phong thái uy nghi, điềm tĩnh khác thường của Ngài **Shin Kassapa**, bọn cướp bắt đầu nảy sinh tâm lý e sợ. Thấy Ngài không hề có chút biểu hiện sợ hãi mà vẫn an nhiên tự tại, chúng lại càng kinh hãi hơn. Chúng xì xào với nhau rằng: "Người này không phải kẻ phàm trần, hẳn là phù thủy hoặc thiên thần giáng thế". Vì lo sợ, bọn cướp đã nhốt vị trưởng lão vào một cái chuồng rào kín trên núi. Do ác tâm xúc phạm đến bậc chân tu, toàn thể toán cướp bỗng nhiên bị ngứa ngáy khắp người, chúng gãi đến rách da thịt mà không rõ nguyên nhân, cũng không có thuốc nào chữa khỏi. Trong khi tuyệt vọng, một thương nhân Miến Điện đi ngang qua, nghe chúng hỏi về thuốc trị ngứa, sau khi tìm hiểu sự tình đã giải thích rằng đây là quả báo do chúng đã mạo phạm một vị tu sĩ. Dù lúc đầu chưa tin, nhưng sau khi xem bói xỉa xương gà và nhận thấy kết quả ứng nghiệm, bọn cướp đã lập tức thả Ngài **Shin Kassapa** ra khỏi chuồng, tắm rửa sạch sẽ cho Ngài. Chúng dâng cúng y phục mới và thành tâm đảnh lễ tạ lỗi. Ngay lập tức, chứng ngứa ngáy kỳ lạ kia biến mất hoàn toàn. Sau biến cố đó, vị trưởng lão không quay về làng cũ mà ở lại vùng đất của người Palaung để truyền bá Giáo pháp. ## TRANG 117 Sau khi nền tảng Giáo pháp đã vững chắc, Ngài đưa các thiếu niên Palaung trở về làng. Lúc ấy, vua Narapatisithu đang trong chuyến đi săn và nghỉ chân tại một thảo am kết bằng cành lá. Một người thợ săn đến trình tấu rằng ông ta trông thấy một thớt bạch tượng ở dưới gốc cây lớn trong rừng sâu. Nhà vua bèn lệnh cho quan đại thần **Anantathuriya** đi thu phục. Vị quan này vốn nổi danh về tài thu phục các loài thú dữ như voi, hổ, cá sấu và từng được ban thưởng rất nhiều. Khi đại thần **Anantathuriya** tiến vào rừng, ông không thấy bạch tượng đâu mà chỉ thấy Ngài **Shin Kassapa** đang tọa thiền dưới gốc cây. Nghĩ rằng đây hẳn là sự dẫn dắt của chư thiên, ông đã thành tâm đảnh lễ và thỉnh vấn. Nhận thấy Ngài là một bậc đầy đủ **Giới (Sīla)** và **Định (Samādhi)**, tinh thông cả **Pháp học (Pariyatti)** lẫn **Pháp hành (Patipatti)**, ông đã xin được làm thí chủ hộ độ tứ sự và thỉnh Ngài về kinh đô Bagan. Khi nhà vua biết chuyện, ngài cũng muốn thỉnh vị trưởng lão vào cung để dâng vật thực mỗi ngày, nhưng vị trưởng lão đã từ chối vì đã nhận lời hộ độ của đại thần **Anantathuriya**. **Việc cúng dường tinh xá của vợ chồng đại thần Anantathuriya** Phu quân và phu nhân **Anantathuriya** quyết định kiến tạo một ngôi chùa và tinh xá để dâng cúng cho Ngài **Paung Laung Shin Kassapa**. Trong khi chuẩn bị, vị đại thần đã cẩn trọng xem xét lại tài sản của mình để chọn ra những phần tài sản thanh tịnh nhất cho việc cúng dường. Ông cho rằng những phần thưởng có được từ việc săn bắt, giết hại voi, hổ, cá sấu là những tài sản không thanh tịnh. Ông chợt nhớ lại có lần một vị triệu phú vùng Myinkaba vì muốn nhờ sự giúp đỡ của nhà vua nên đã nhờ ông hỗ trợ. Sau khi công việc hoàn thành, vị triệu phú nọ đã tặng ông một đấu hồng ngọc làm quà đáp lễ. Tuy nhiên, ông vẫn không chắc chắn món quà đó có hoàn toàn thanh tịnh hay không và tâm vẫn còn mối nghi ngại. Không còn món tài sản nào khác để cân nhắc, ông bèn đem số hồng ngọc đó đổi lấy một ngàn đồng bạc, rồi đi đến bờ sông Nyaun-U và phát nguyện: "Nếu số tiền này thực sự là tài sản thanh tịnh, xin hãy sớm trở về với tôi". Nói đoạn, ông ném gói tiền xuống nước. Ngày hôm sau ở chợ, những người đánh cá rao bán một con cá lớn nhưng không ai mua, họ bèn mang vào trong thành rao bán. Phu nhân của vị đại thần đã mua con cá đó, và khi mổ bụng cá, bà kinh ngạc thấy gói tiền hôm qua hiện ra. Vợ chồng đại thần **Anantathuriya** vô cùng hân hoan, liền dùng chính số tiền đó để xây dựng tinh xá và tháp Phật dâng cúng cho Ngài **Shin Kassapa**. Ngôi tháp đó được đặt tên là "Chùa Ngư Tạng" (Nga-u-thin Phaya). "Tài sản của bậc thiện trí, dù có ném xuống nước cũng chẳng thể mất đi." (**Maghadevá**, Tika-**Majjhaddānajātaka**). ## TRANG 118 --- Nếu là một bậc nhân hiền chắc chắn sẽ đắc chứng đặc biệt pháp ngay trong kiếp sống này, thì dù có phải đối mặt với hiểm nguy chết chóc to lớn đến thế nào đi nữa, cũng không bao giờ có chuyện phải tử nạn. Điều này được gọi là **Ñāṇavipphāra-iddhi** (Tuệ biến mãn thần thông). Ở Tôn giả Paunglaung Shin Kassapa, ta thấy ngài có những năng lực này, nên nhiều người tin rằng ngài là một bậc A-la-hán, và niềm tin đó thực sự có cơ sở. Khi Tôn giả Paunglaung Shin Kassapa đang trên hành trình hoằng đạo tại các vùng núi rừng ở Yaw, ngài đã viên tịch tại vùng Pon-taung Pon-nyar, cách thành phố Monywa khoảng 60 dặm. Ngài được an táng và trà tỳ tại chính nơi đó. Người ta nói rằng khi Đức Phật Ariya Metteyya (Di-lặc) xuất hiện, nhục thân của ngài mới được hỏa thiêu bằng thiên hỏa. (Theo cuốn sách về Ngài Kassapa của học giả U Pho Kyar, hiện nay mọi người vẫn thường đến đó để chiêm bái và gọi là Aloungdaw Kassapa). Tuy nhiên, trong cuốn sách nhỏ "Lịch sử Aloungdaw Kassapa" do Ngài Đại đức Bhaddanta Sirisaṃvara — trụ trì chùa Myo-daung ở Taungoo, nguyên quán làng Nyaung-gan — biên soạn và phổ biến trong kỳ Kết tập Tam tạng lần thứ VI, lại viết rằng: Tôn giả Shin Mahā Kassapa, sinh quán tại làng Taung-kyar (phía nam suối Manyay-kan, huyện Sagaing) dưới thời vua Min Khaung đệ nhất của triều đại Innwa, mới chính là Ngài Aloungdaw Kassapa. Vị Tôn giả Kassapa đó đã sang Sri Lanka (Tích Lan) để học tập kinh điển. Ngài lập tự viện tại Shwe-lay ở bờ phía đông sông Chindwin để thuyết giảng. Sau đó, do đồ chúng ngày càng đông đảo, ngài đã tuần tự chuyển đến cư ngụ tại vùng núi Aloungdaw Kassapa hiện nay, sau khi đi ngang qua các vùng Kyauk-myet, A-neint, Nga-tha-yauk và 35 ngọn núi khác. Ngài được các lãnh chúa Tha-lay-pwar và Thaung-thwut hộ trì. Ngài cũng rất giỏi về y thuật. Nghe nói khi ngài viên tịch, người ta đã tạo một pho tượng bằng thạch cao dài 10 hắc tay (khoảng 5m) để tôn thờ. Dù có cho rằng Shin Mahā Kassapa vùng Taung-kyar chính là Ngài Aloungdaw Kassapa đi chăng nữa, thì đối với Tôn giả Paunglaung Shin Kassapa — vị lừng danh từ thời Bagan — chúng ta vẫn có thể hoàn toàn chấp nhận ngài là một bậc thánh giả cao thượng và phi thường, nổi tiếng là một bậc A-la-hán như đã trình bày. ### Những lời đồn thổi sai lệch của các tông phái Ở đây có một điểm cần lưu ý: Trong các sách thực hành pháp thuật thế gian (Lokī), có ghi chép rằng một vị thầy thuộc giáo phái Gandharī Vijjā từ trên núi Zin-kyaik đã tuyên bố Paunglaung Shin Kassapa là một bậc đắc đạo theo đường lối đạo sĩ (Weizza). Có lẽ một số người đã đọc qua điều này. Tuy nhiên, xét thấy những thông tin đó không có sự thống nhất về thời đại cũng như thiếu các bằng chứng xác thực, tôi thiết nghĩ không cần phải giải thích thêm làm gì. ## TRANG 119 Điều cần đặc biệt chú ý là: Một số vị lãnh đạo các giáo phái mang tư tưởng Đại thừa (Mahāyāna) thường liệt kê cả các vị Trưởng lão đã chứng đắc A-la-hán vào danh sách những người đắc đạo theo lối đạo sĩ thế gian. Khi các ngài còn sinh tiền, họ thường xuyên tuyên truyền rằng: "Đây là vị lãnh đạo của chúng tôi", rồi giả làm đệ tử để đến ngồi thiền cùng. Tôi đã từng chứng kiến nhiều trường hợp họ đưa vào những nghi thức giáo phái, dùng các thủ thuật đánh lừa để làm cho mọi người hoang mang, chẳng biết đâu là thật đâu là giả. Chúng ta cần phải hết sức tỉnh táo trước những hành vi bắt chước tương tự trong cách thực hành pháp hay cách nói năng của họ. ### Những sự kiện lịch sử cần biết Trong các văn bia, sử liệu, lịch sử tôn giáo và các ghi chép cung đình, những dữ kiện liên quan đến Tôn giả Shin Kassapa được ghi nhận như sau: Tôn giả Paunglaung Shin Kassapa sống vào thời vua Narapatisithu. Vì được người dân tộc Paunglaung tôn kính nên ngài có danh hiệu là Paunglaung Shin Kassapa. Ngài đã nuôi dạy các thanh thiếu niên người Paunglaung để phụng sự giáo pháp. Truyện kể rằng khi ngài muốn sang đảo Tích Lan, Thiên chủ Sakka đã hóa thành một con hổ để cõng ngài đi. (Đến nay, tại các vùng người Palaung, ta vẫn có thể thấy các bức tượng vị A-la-hán cưỡi hổ). Có lần ngài đi Tích Lan bằng tàu thủy, giữa biển khơi tàu bỗng dừng lại không đi được, các thương buôn và hành khách đồng lòng rút thăm, và cả ba lần đều trúng vào Tôn giả Shin Kassapa. Ngài bị thả xuống biển. Một con cá sấu đã cõng ngài trên lưng để đưa đi. Khi đến Tích Lan, ngài dùng nước từ tâm (Mettā) rảy cho các vị Dạ-xoa (Yakkha) bị mù, giúp họ tìm lại ánh sáng; do đó hai anh em Dạ-xoa tên là Nga Yaman và Nga Tin Kyi đã được hiến cúng cho ngài. Sách "Sāsanālaṅkāra" có ghi rằng ngài đã mang về từ đảo Tích Lan các mô hình Đại Bảo Tháp (Mahā Cetiya), lầu Lohapāsāda, cùng với Xá-lợi và hạt giống cây Bồ-đề. Sách cũng chép rằng ngài được tôn xưng là một bậc A-la-hán. Trong tác phẩm **"Sāsana Vaṃsappadīpikā"**, ác nghiệp cũ khiến Tôn giả Shin Kassapa bị thả xuống biển được giải thích như sau: Vào kiếp thứ 7 về trước, ngài sinh ra trong một ngôi làng nọ, khi còn là một đứa trẻ đang tắm sông, ngài đã bắt một con chó xuống tắm và bắt nó bơi. Sau một lúc, chính ngài đã ôm con chó đó vào lòng và đưa nó lên bờ. Theo "Lịch sử Pityakat" (Tam tạng), Tôn giả Shin Kassapa là tác giả của bản giải trình (Nissaya) cũ cho bộ chú giải **Khuddasikkhā**. Thậm chí vị cao tăng lừng danh vùng Taung-bi-lar cũng đã trích dẫn tên ngài trong phần kết của bộ **Vinayālaṅkāra-ṭīkā**. Theo lời thỉnh cầu của hoàng tử Siṅgha-vijaya, ## TRANG 120 vào năm Miến lịch 565, ngài đã biên soạn bộ chú giải **"Bodhivaṃsa-ṭīkā"** (còn gọi là Sahassaraṃsī) bằng tiếng Pāḷi. Đến nay chúng ta vẫn có thể đọc được bộ chú giải này. Dựa trên các văn bia, tên của ngài xuất hiện liên tục từ năm 534 đến năm 639, nên có thể ước đoán ngài thọ trên 100 tuổi. Việc ngài tinh thông Tam tạng và có giới hạnh cao khiết là điều vô cùng rõ ràng. Văn bia chùa Taw-kyaung ở vùng A-neint (khắc năm 740) có ghi chép rằng có một vị **Shin Mahā Kassapa Lớn**, người cực kỳ tinh thông Tam tạng và có giới hạnh tương đồng với vị Trưởng lão Mahā Kassapa thời Phật tiền. Văn bia tại chùa Shwe Paunglaung ở huyện Myaung, tỉnh Sagaing (khắc năm 750) ghi lại rằng ngài sinh năm 531 tại làng Kyauk-yit, huyện Myaung; tên thuở nhỏ là Nga Paunglaung Thin, pháp danh là Mahā Kassapa; văn bia còn bao gồm lá số tử vi và tiểu sử tóm tắt của ngài. Văn bia Pa-rim-ma (khắc năm 706) thì lại nói ngài là người làng Pa-rim-ma. Ngài cũng được ghi nhận là đã nhận được thọ ký trong số mười vị thánh tăng vùng Yin-mar. Sau này, ngài trú ngụ tại chùa rừng (Taw-kyaung) ở làng Kyauk-yit. Ngài cũng rất am hiểu về y thuật. Năm 577, vua Bagan (vua Nandaungmya) bị bạo bệnh, đã thỉnh ngài đến chữa trị và được bình phục; nhà vua đã vô cùng cung kính cúng dường, thậm chí còn cung thỉnh ngài che lọng trắng (biểu tượng của hoàng gia). Theo các văn bia liên quan đến Paunglaung Shin Kassapa, trong khoảng thời gian từ năm 539 đến 634, ngài vô cùng lừng lẫy tại vương quốc Bagan, được muôn dân cung kính; ngài là người khai sáng tông phái Chùa Rừng (Taw-kyaung), thực hiện việc khai khẩn đất mới và nhận cúng dường để phát triển nông nghiệp, cũng như mở rộng các chùa rừng. Một văn bia khắc năm 606 còn ghi ngài là cháu của vị đại thần Saṅkram-ma-thu. Những dữ kiện này cần được đối chiếu và xem xét kỹ lưỡng. Một điều cần đặc biệt lưu ý là: Một vị Tôn giả Kassapa đã từng biên soạn những tác phẩm như **Khuddasikkhā-nissaya** (Luật tạng) và **Bodhivaṃsa-ṭīkā** chắc chắn không thể là kiểu tu sĩ mang nặng tính thế tục như một số nhà sử học hiện đại lầm tưởng. ## TRANG 121 ### Các bậc Thánh giả biên soạn kinh sách Thiền định thời Pagan Mặc dù các minh chứng về giáo pháp thực hành (*Paṭipatti Sāsana*) thời Pagan không thể trình bày một cách chi tiết, nhưng rõ ràng là các pháp môn thiền định (*Kammaṭṭhāna*) đã phát triển và lan rộng rất mạnh mẽ. Có thể thấy rằng các pháp môn **Brahmavihāra** (Pháp hành Phạm trú/Tâm từ), **Buddhānussati** (Niệm Phật) và **Ānāpāna-kammaṭṭhāna** (Niệm hơi thở) được sử dụng vô cùng phổ biến. Trong bộ "Visuddhi-dīpanī" (Biên soạn bởi ngài **Uttamārāma** thuộc hệ phái Aranyavasi vùng Chiang Mai và được hiệu đính bởi Ngài Kyapinn Sayadaw – bậc danh sư được ban danh hiệu “**Kavindābhi Sīrisaddhammadhaja Mahādhamma Rājādhirājaguru**”; ấn bản nhà in Myanmar Thandawsint, năm 1251 Miến lịch, trang 187) có ghi chép đôi chút về các bộ kinh sách Thiền định và những bậc Thánh giả biên soạn chúng vào thời Pagan. Các danh mục được nhắc đến bao gồm: "**Mahanta Kammaṭṭhāna**" (Đại thiền tập), "**Naguṇ Kammaṭṭhāna**" (Thiền tập Nagun), "**Mahā Paṃsukū Kammaṭṭhāna**" (Thiền tập của bậc Đại Phấn Tảo Y), "**Mahā Maṅgala Thera Kammaṭṭhāna**" (Thiền tập của Trưởng lão Mahā Maṅgala), v.v. Ngoài ra còn có các đoạn trích đáng kính về nội dung kinh sách và những điểm đặc biệt của các vị tổ sư truyền thừa như sau: “Trong pháp thiền **Naguṇ-krī** (Naguṇ lớn), hành giả bắt đầu bằng pháp **Buddhānussati** (Niệm Phật) rồi từ đó chuyển sang thực hành Vipassanā (Thiền Minh Sát). Trong pháp thiền **Mahā Bāhugam**, hành giả cũng thiết lập nền tảng bắt đầu từ **Buddhānussati**.” “Trong số đó, vị **Mahāpāmukka-krī** (Đại trưởng lão Mahāpāmokkha) được tương truyền là bậc Anāgāmī (A-na-hàm). Để đời sau biết về quả vị của mình, Ngài đã dặn lại vị đệ tử lớn rằng: ‘Khi ta vừa viên tịch, hãy đánh chuông ba tiếng’.” “Hai vị Trưởng lão **Mahā Maṅgala Thera** và **Mahā Bāhunga Thera** đều là những bậc A-la-hán. Khi làm lễ trà tỳ, di cốt của các Ngài đều biến thành Xá lợi (*Dhātu*). Thân thể các Ngài cũng không có mùi tử khí (tức là sau khi viên tịch, nhục thân không hôi thối, phân hủy mà lưu lại xá-lợi).” “Hai vị **Naguṇ-krī** và **Naguṇ-ṅay** chính là những vị thầy dạy Thiền đời trước của các bậc cao tăng này. Người ta đều khẳng định các Ngài đều là những bậc Thánh giả (A-riya).” ## TRANG 122 ### Ngài Đại sư Disāpāmukka (Dithapramuk) Trong đoạn sử liệu trên, danh xưng “**Mahāpāmukka-krī**” dường như chính là để chỉ Ngài Đại sư **Disāpāmokkha** (Dithaparmokkha). Tên hiệu của Ngài còn được gọi theo âm Phạn là “**Disāprāmuk**” (Dithapramuk). Đây chính là vị mà ngay cả trẻ nhỏ ngày nay cũng biết đến qua danh xưng “**Sayadaw U Kyee Pway**” (Ngài Đại sư Cái Chày). Theo truyền thuyết, Ngài bắt đầu học tập khi tuổi đã cao, nhưng nhờ sự nỗ lực đã thông suốt Tam Tạng đến mức được nhà vua vô cùng kính trọng. Trong nghi thức học bộ **Abhidhammattha-saṅgaha** (Vi Diệu Pháp Sơ Cấp), khi giảng về các **Aññasamāna-cetasika** (Tâm sở Tha phối) và **Aññapādāna**, người ta thường dẫn chứng câu chuyện về ngài **U Kyee Pway** như một tấm gương điển hình. Tại Pagan vẫn còn một địa danh gọi là hồ “Yoke-may-yoke-phay” (Hồ hỏi đáp về tính chất pháp). Đây được cho là nơi các vị Trưởng lão uyên bác đã khảo hạch trình độ giáo lý của ngài **U Kyee Pway**. Câu chuyện về ngài **U Kyee Pway** không dừng lại ở đó. Dưới thời vua Tayok-pyay-min (vị vua chạy loạn quân Nguyên), khi vương triều Pagan đứng trước nguy cơ sụp đổ bởi quân xâm lược Nguyên Mông, Ngài đã thay mặt toàn thể nhân dân Miến Điện trực tiếp đến Bắc Kinh hội kiến Hoàng đế **Hốt Tất Liệt (Kublai Khan)** để thuyết phục đình chiến. Ngài chính là một nhà lãnh đạo hòa bình vĩ đại. #### Cuộc thảo luận với Hốt Tất Liệt Năm Ngài lên đường sang Trung Hoa là năm 1285 sau Công nguyên. Từ năm 1283, các thành phố Ngasaunggyi, Kaungsin và Tagaung đã bị thất thủ, quân Nguyên Mông đã lập căn cứ khắp nơi. Mỗi khi đến một trạm dừng, Đại sư đều phải viết thư trên lá vàng (*Suvaṇṇalip*) gửi cho các tướng lĩnh chỉ huy quân sự để thông báo mới có thể tiếp tục hành trình đầy gian khổ. Đại sư đã nhập hạ năm đó tại Yaxu (Vân Nam) và đến tháng 12 thì tới Dadu (Bắc Kinh) để thảo luận gay gắt với Hoàng đế **Hốt Tất Liệt**. Những lời lẽ của Ngài vô cùng sâu sắc và ấn tượng, hiện vẫn còn được lưu lại trên văn bia nổi tiếng gọi là “**Văn bia Disāpāmukka**”. Văn bia ghi chép lại đầy đủ cuộc đối thoại với **Hốt Tất Liệt**, dưới đây là một đoạn trích: **Hốt Tất Liệt**: "Thưa bậc trí giả, ta lệnh cho hai ngàn binh lính của ta cùng đi với ngài về (Pagan) để hoằng dương Phật pháp." ## TRANG 123 **Đại sư**: "Tâu Đại vương, toàn bộ binh lính và tăng chúng này chỉ có thể an định khi có lúa gạo. Lúa gạo chẳng phải là gốc rễ của sự phồn vinh của một đất nước sao? Nếu binh lính chỉ ăn quả thốt nốt và lõi cây thốt nốt thì chẳng phải họ sẽ đau bụng mà chết cả sao? Khi đó tăng chúng còn lại cũng chẳng dám vào kinh thành, phải chạy trốn vào rừng sâu rồi cũng bỏ mạng. Đó chẳng phải là việc đại sự thất bại của Đại vương sao? Người trồng vườn tưới nước để cây cối lớn lên, chứ không ngắt bỏ mầm non. Chỉ khi cây đã kết trái, người ta mới hái trái mà ăn. Xin hãy để nước Tampadīpa (Pagan) được tưới tẩm thêm một thời gian nữa. Giáo pháp của bậc Chánh Biến Tri hiện đang suy tàn lắm rồi." "Đại vương chẳng phải là người đang cầu nguyện quả vị Phật (Bồ-tát) sao? Xin đừng làm hủy hoại giáo pháp của Đức Từ Phụ Cồ-đàm. Những vùng đất Đại vương chinh phục được vừa nhiều, vừa lớn, trong khi nước Tampadīpa chỉ là một nước nhỏ. Chỉ vì nơi đây có giáo pháp nên mới có thể giúp bậc Bồ-tát viên thành đại nguyện. Xin hãy cho dừng việc hành quân. Tôi sẽ về hướng dẫn dân chúng gieo trồng mùa màng. Khi lúa gạo đã xong xuôi, lúc đó hãy tiến quân." (Sau khi Ngài hứa rằng Pagan sẽ cống nạp lễ vật...) **Hốt Tất Liệt**: "Trong lời này cũng có lợi cho ta. Này bậc trí giả, hãy đi gọi những vị tăng đã bỏ trốn quay về. Hãy cho dân chúng gieo trồng mùa màng." (Nói đoạn, nhà vua hứa sẽ thu quân). Sự kiện này cho thấy dù là việc quốc gia đại sự, các bậc xuất gia đôi khi vẫn tham gia hỗ trợ vì lợi ích của quân vương và nhân dân. (Nguồn: **Văn bia Disāpāmukka**, "Lịch sử Miến Điện dưới góc nhìn mới" của Tiến sĩ Than Tun và "Lịch sử Chính trị Miến Điện sơ khai"). ### Cuộc vấn đáp giữa Naguṇ-ṅay và Naguṇ-krī Theo bộ "Visuddhi-dīpanī" đã dẫn, hai vị Trưởng lão **Naguṇ-krī** và **Naguṇ-ṅay** không chỉ là những vị thầy dạy Thiền khởi thủy truyền thừa qua nhiều thế hệ thời Pagan, mà còn được biết đến là những bậc Thánh giả (A-riya) cao thượng. Về hành trạng của hai vị này, trong bộ "Saccā-pāragū" (viết năm 1293 Miến lịch) của **Đại sư Kanni Sayadaw**, chương nói về "Bốn điều kiện cần thiết để thấy Niết-bàn", trang 406, có ghi lại cuộc vấn đáp giữa hai vị Đại sư này. ## TRANG 124 Cuộc vấn đáp đó (theo nguyên văn) như sau: Tại đây, xin trình bày các câu hỏi của ngài Nāguṇ-nge (Nāguṇ Nhỏ) dành cho ngài Nāguṇ-gyi (Nāguṇ Lớn). Vào một thời nọ, tại kinh đô Pukkam (Bagan), một vị tỳ-kheo tên là **Nāguṇ-nge** đã thưa hỏi ngài **Nāguṇ-gyi** về câu hỏi liên quan đến **Ariyuppatti** (sự đắc chứng quả vị Thánh) mà ngài đã từng thấy trong các bản chép tay cổ. Câu hỏi là: **2.** Này hiền giả Sơ quả (Sotāpanna), hiền giả nói rằng chắc chắn mình đã từng thấy Niết-bàn, vậy khi ấy hiền giả thấy một loại hương vị và ăn một loại hương vị khác phải không? Có phải từ hai cái này đứng dậy và trở lại hai cái này không? **3.** Có phải đã thoát khỏi ba cái này và hiện kinh ba cái này không? **4.** Có phải thực hiện cả bốn cái cùng một lúc và thoát khỏi cả bốn cái đó không? “Nếu có thể phân định và giải đáp được những câu hỏi thâm sâu này, như cầm viên ngọc quý đặt trong lòng bàn tay, thì người đó xứng đáng là bậc Đã-đến-bờ-kia (Pāragū), tỏa rạng ngàn tia sáng như mặt trời, là bậc am tường về bến bờ Niết-bàn (Nibbāna). Tôi rất muốn tìm gặp một người như vậy trong khắp cõi này, nếu dễ xin hãy giải đáp theo đúng kinh điển.” Đó là lời thỉnh cầu giải đáp câu hỏi đã được ghi lại. #### Lời giải đáp của ngài Nāguṇ-gyi về cách thấy Niết-bàn Ngài Nāguṇ-gyi đã đáp lời rằng: Này đệ tử Nāguṇ-nge, về câu hỏi “thấy một loại hương vị và ăn một loại hương vị khác phải không”, thì đối với bậc hữu học (Sekkhapuggala) khi thấy Niết-bàn sẽ hưởng được **Pháp vị (Dhammarasa)**, còn đối với bậc vô học (Asekkhapuggala) sẽ hưởng được **Giải thoát vị (Vimuttirasa)**, này hiền giả. Về câu hỏi “từ hai cái đứng dậy và trở lại hai cái không”, thì người thấy Niết-bàn sẽ từ bỏ **Tướng (Nimitta)** và **Sự vận hành (Pavatta)** để trở lại với **Vô vi cảnh (Asaṅkhatārammaṇa)** và **Tục đế cảnh (Sammutisaccārammaṇa)**, này hiền giả. Về câu hỏi “thoát khỏi ba cái và hiện kinh ba cái không”, thì người thấy Niết-bàn sẽ thoát khỏi ba thời (Quá khứ, Hiện tại, Vị lai) và hiện kinh đồng thời cả ba loại Niết-bàn là **Phiền não Niết-bàn (Kilesa-nibbāna)**, **Uẩn Niết-bàn (Khandha-nibbāna)** và **Vô vi Niết-bàn (Asaṅkhata-nibbāna)**, này hiền giả. Về câu hỏi “thực hiện cả bốn cái cùng một lúc và thoát khỏi cả bốn cái không”, thì người thấy Niết-bàn sẽ thực hiện đồng thời bốn phận sự là **Khổ trí (Pariññeyya)**, **Đoạn trí (Pahātabba)**, **Chứng trí (Sacchikātabba)** và **Tu trí (Bhāvetabba)** (tức 4 việc: Biết, Đoạn, Chứng, Tu), để từ đó giải thoát khỏi Sắc - Danh, và Lạc - Khổ, này hiền giả. Ngài kết luận: “Nếu cái thấy đúng như vậy thì đó chính là người đã thấy Niết-bàn.” Khi ấy, ngài Nāguṇ-nge càng thêm lòng tín thành đặc biệt đối với ngài Nāguṇ-gyi, vượt xa lòng kính tín của hạng phàm phu. ## TRANG 125 Ngài Nāguṇ-gyi đó, vào lúc lâm chung trên giường bệnh, đã trăng trối với các đệ tử rằng: “Khi thầy viên tịch, các con hãy thỉnh ba hồi chuông.” Lành thay! Lành thay! Lành thay! ### Các bậc đắc Thiền và Thần thông thời Bagan Ngoài những vị đã nêu, vào thời Bagan còn có những bậc xuất chúng khác nổi danh về việc đắc Thiền và Thần thông. Những vị đó gồm có: #### Ngài Nan-taung-mya Sayadaw Vị lãnh đạo tinh thần (Sayadaw) của vua Nantaungmya tại thành Pyay, vào một ngày nọ, ngay khoảnh khắc đức vua Sinbyushin (Chủ nhân voi trắng) ở thành Bago băng hà, ngài đã trực giác biết được và thốt lên: “Ôi! Cha tôi!”. Một người đệ tử đứng gần đó đã nghe thấy và ghi nhớ lại ngày giờ. Sau đó, khi tin tức truyền đến, ngày giờ đức vua băng hà hoàn toàn trùng khớp với thời điểm ngài đã ghi nhận. Ngoài ra, có lần ngài đang ở một nơi không thể nhìn thấy bờ vực, nhưng ngài đột nhiên thốt lên: “Ôi, một con bò đã ngã xuống vực chết rồi!”. Những người nghe thấy đã đi kiểm chứng và thấy đúng như lời ngài nói. Sự việc này đã được ghi chép lại trong Sāsanālaṅkāra. #### Ngài Tet-thay-gyi Trưởng lão Tet-thay-gyi ở Bagan cũng là một bậc có thần thông, hàng ngày đều có vị thần Mahagiri đến hầu cận, và khi có việc cần ngài đều có thể sai bảo vị thần này. Trong sách **Visuddhimagga Dīpanī** cũng ghi nhận ngài là bậc đắc Thiền và Thần thông. Nếu xét đến sức mạnh của giáo pháp học thuật (Pariyatti Sāsana) và các đền tháp nổi tiếng thế giới vào thời Bagan, có thể ước đoán rằng dù không được ghi chép lại, chắc chắn đã có rất nhiều bậc Thánh Ariya đắc Thiền và Thần thông. Cũng có thể còn nhiều ghi chép mà chúng ta chưa tìm thấy được. Sách Sāsanālaṅkāra ghi rằng: “Dưới thời vua Anawrahta, ngay cả bậc A-la-hán cũng có đến cả ngàn vị, còn các bậc Sơ quả, Nhị quả, Tam quả thì nhiều không kể xiết.” ## TRANG 126 # 5- Các bậc A-la-hán và bậc xuất chúng thời kỳ Pinya ### Ngài Shin Dibba-cakka Rahantā-htway Sau khi vương triều Bagan sụp đổ, tại các vùng như Myinsaing, tình hình trở nên loạn lạc như bó tre bị tháo lạt. Đạo Phật cũng theo đó mà suy vi. Đây là thời kỳ mà các tu sĩ tà đạo Ariyi (thuộc Đại thừa) vốn đang lẩn trốn nơi rừng sâu lại bắt đầu trỗi dậy. Vị vua Thihathu (Chủ nhân của một con ngựa trắng) đã xây dựng thành Panya (Pinya) vào năm 674 (Miến lịch). Vua có ba người con trai là Uzzana, Kyawswa và Athinhkaya Saw Yun. Người ta thấy rằng có rất nhiều tu sĩ Ariyi đã tìm đến nương tựa dưới trướng người con út Saw Yun như những thuộc hạ. Họ trở thành bạn nhậu của hoàng tử. Khi hoàng tử say khướt không thể đi lại, các tu sĩ Ariyi này đã dùng cáng khi هنگ hoàng tử về (Xem thêm trong các tài liệu phân tích về Thenu). Nền tôn giáo thời kỳ đó một lần nữa trở nên hỗn tạp với các yếu tố Đại thừa. Nhờ vào phước báu của đất nước Myanmar và uy đức của giáo pháp, một bậc xuất chúng đã xuất hiện để cứu vãn tình hình tương tự như ngài Shin Arahan trước đây. Vị đó chính là **Ngài Shin Dibba-cakka Rahantā-htway**. Đúng như tên gọi **Dibba-cakka** (Thiên nhãn), ngài là một vị Trưởng lão A-la-hán đắc Thần thông. Các bộ sử Phật giáo ghi rằng, theo lời thọ ký của Đức Phật và với sự trợ giúp của Thiên chủ Sakka (Đế Thích), ngài đã từ thành Vesālī (Tỳ-xá-ly) du hành sang đây. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng chi tiết này có phần mang tính huyền thoại hóa. Bởi vì vào thời kỳ đó, Vesālī không còn là nơi có thể xuất hiện bậc A-la-hán như ngài Shin Dibba-cakka nữa. Cuối thế kỷ 12, tình hình Phật giáo tại Ấn Độ vô cùng bi đát. Theo District Gazetteer của Mr. Morley (4, 26), năm 1193 là thời kỳ mà hàng ngàn tu sĩ đã phải đổ máu và Phật giáo hoàn toàn bị nhổ tận gốc rễ (theo Lịch sử Đức Phật của ngài U Nārada Me-gha-wa-ti, trang 49). Tuy nhiên, nếu xét theo văn phong truyền thống thì vẫn ghi là Vesālī thuộc Trung Ấn. Dù thế nào đi nữa, việc một vị A-la-hán tên là Shin Dibba-cakka đã hoằng dương giáo pháp vào thời kỳ đó là một sự thật hiển nhiên. Chúng tôi xin tóm tắt lại theo nội dung trong sách Vaṃsadīpanī như sau: ## TRANG 127 **Thuyết Pháp Giữa Hư Không** Do lời khuyến tấn của thầy là Ngài Trưởng lão Mahindapāla và sự thỉnh cầu của vị đại tiên (nát) ở Sagaing là bậc Sơ quả (Sotāpanna), nhận thấy thời điểm thọ ký đã đến, vào năm 674 (Miến lịch), Ngài Đại đức Dibbacakka trẻ tuổi từ kinh thành Vesālī đã lên đường hành đạo. Trước tiên, Ngài đến Tích Lan thỉnh tám viên Xá-lợi rồi sau đó mới đến Bagan. Vào ngày thứ Năm, mồng 3 sau ngày rằm tháng Tabodwe năm đó, đúng vào giờ ngọ, Ngài đã đặt chân đến vùng đất nơi xây dựng kinh thành Inwa. Lúc bấy giờ, vua Thihathu từ vùng biển trở về, dẫn quân từ sông Myit Nge qua Inwa để đi về hướng Tây; trên đường đi, vua đã được chiêm bái Ngài Dibbacakka đang an trụ giữa hư không. Vua Thihathu lấy làm hoan hỷ vô cùng. Khi Ngài Dibbacakka hạ xuống trú cột dưới một gốc cây đa, đức vua đã đến đảnh lễ và bạch rằng: Vua: "Bạch Đại đức, Ngài từ đâu đến đây ạ?" Ngài: "Tâu đại vương, bần tăng đến từ thành Vesālī." Vua: "Dặm dài xa xôi như thế, Ngài đã dừng chân nghỉ lại bao nhiêu nơi rồi ạ?" Ngài: "Tâu đại vương, bần tăng mới khởi hành từ sáng sớm hôm nay. Đến giờ (ngọ) này thì tới nơi." Dù chỉ qua vài lời vấn đáp và chiêm bái như vậy, đức vua đã hoàn toàn tin tưởng đây là bậc Alahan, nhưng hàng binh sĩ vẫn còn hoài nghi. Tuy nhiên, họ không dám mạo muội hỏi rằng: "Ngài có phải là bậc Alahan chăng?". Biết được tâm niệm đó, Ngài Dibbacakka đã bay lên không trung và thuyết giảng bài kinh **Rājovāda Sutta** (Kinh Giáo huấn bậc Quân vương). Khi Ngài cho biết rằng mình đến đây theo lời giáo giới của thầy để cùng đức vua hộ trì giáo pháp, đức vua vô cùng hoan hỷ và thỉnh cầu Ngài chỉ dạy các phương cách để hoằng dương Phật pháp. Ngài dạy rằng: "Tâu đại vương, việc chư Tăng tuân giữ giới luật (Vinaya) cần có sự hỗ trợ và giám sát của các vị vua; phải khuyến khích việc học tập Pháp học (Pariyatti) và xây dựng bảo tháp để tôn thờ Xá-lợi thân Phật". Lúc trời đã về chiều, vua cho dựng một ngôi chùa tạm tại nơi xây dựng tháp Yan Aung Myin và bạch rằng: "Bạch Ngài, kính thỉnh Ngài nghỉ lại nơi ngôi chùa này, và sáng mai kính mời Ngài quang lâm cung điện để dùng bữa cúng dường." Ngài đáp: "Tâu đại vương, hôm nay bần tăng chưa tạm trú lại đây. Còn về bữa thọ trai, bần tăng sẽ quang lâm để ban phước lành". Nói đoạn, Ngài liền trở về thành Vesālī. Sáng hôm sau, Ngài cùng với năm vị tỳ-khưu tùy tùng quang lâm thọ trai. Sau khi dùng bữa, Ngài thuyết về pháp **Appamāda Sati** (Sự Không phóng dật) và ban truyền Tam quy Ngũ giới. Ngài cũng chỉ dạy vua nên xây dựng kinh thành tại vùng Thin Pan. Đức vua và quân dân bấy giờ ## TRANG 128 đang trong lúc tâm tư chấn động (saṃvega) vì chứng kiến nhiều bệnh tật và sự chết chóc, nay được định đô vững chãi nên lòng ai nấy đều hân hoan. Ngài Dibbacakka đã ở lại hộ trì giáo pháp cho đến khi bảo tháp Shwezigon hoàn thành. Ngài đã cho xuất gia khoảng năm ngàn vị tăng. Đối với những vị tăng sẵn có, Ngài cũng dùng uy quyền của vua để thanh lọc, chọn lựa, giúp cho giáo hội trở nên thanh tịnh. **Hoa Sen Từ Đống Lửa** Tám viên Xá-lợi mà Ngài Dibbacakka mang về đã được tôn trí trong tháp Shwezigon xây dựng vào năm 679. (Trong sách Sāsanalankāra nói có bảy viên, trong đó hai viên tôn trí tại tháp Ponnya Shin). Đại lễ này có sự tham gia của bốn vị vua từ Rakhine, Ayutthaya (Xiêm), Zinme (Chiang Mai) và Pinya cùng với tùy tùng của mỗi vị; đây là một sự kiện đặc biệt minh chứng cho sự đoàn kết bền vững giữa các vương quốc. Bốn ngôi bảo tháp kỷ niệm cũng được xây dựng. Sau khi đại lễ kết thúc, Ngài Dibbacakka trở về. Năm 684, vua Thihathu băng hà sau 22 năm trị vì (7 năm ở Pinya, 15 năm ở Inwa). Khi một vị thiên thần giữ đất (Bhummasso nát) báo tin đức vua đã băng hà, Ngài đã thuyết về pháp Hành (Sankhāra) để an ủi mọi người. Khi vương tử Uzzana lên ngôi, Ngài Dibbacakka còn trở lại một lần nữa, mang theo Xá-lợi của Ngài Sīvalī từ núi Gijjhakūṭa và Xá-lợi của thầy mình là Ngài Mahindapāla từ núi Makula để ban phước lành. Năm 699, thọ 85 tuổi, Ngài nhập Niết-bàn tại kinh thành Vesālī. Hành trạng của vị Trưởng lão này vô cùng đặc biệt và mầu nhiệm. Vận mệnh của Giáo pháp và người dân Miến Điện thật vô cùng tương hợp. Về việc Ngài nói đến từ thành Vesālī là một điều cần suy ngẫm. Vì ở thành Vesālī thuộc Trung Ấn khi ấy Giáo pháp không còn hưng thịnh, nên có lẽ đó là thành Vesālī ở vùng Rakhine hoặc Vesālī ở vùng Assam. Điều này không thể khẳng định chắc chắn. Dù thế nào đi nữa, khi nhìn vào gương của các Ngài **Nāgasena**, **Moggalliputtatissa**, **Arahan** và vị **Dibbacakka** này, chúng ta cần nhận thấy rằng: chính trong những thời đại suy vi, khó khăn nhất, các bậc thánh nhân kiệt xuất mới thường xuất hiện. **Thầy Trò "Ngậm Nước"** Năm 684 vua Uzzana lên ngôi, đến năm 702, vua đã dâng cúng ngôi chùa chính làm bằng gỗ tếch cùng với 6 ngôi chùa phụ cho Ngài **Sudhamma Mahāsāmi**. Ban đầu, các vị tỳ-khưu theo truyền thống Theravāda tu hành chân chính nắm quyền quản lý, nhưng sau một thời gian dài, các vị sư bắt đầu tham gia vào việc quản lý ruộng vườn, điều hành tá điền, cày bừa, ## TRANG 129 thu gom lúa gạo, và cuối cùng tiến tới việc trừng phạt, cùm kẹp ngay tại chùa những người không nộp đủ tô. Đức vua cũng không thể can thiệp. Về sau, họ từ những kẻ không biết hổ thẹn (alajjī) đã trở thành hạng phá giới (dussīla) và biến thành các Argyi. Các hủ tục như luyện bùa chú (piyasiiddhi), đấu quyền, múa kiếm, múa thương, bùa hộ mệnh... ngày càng phát triển mạnh mẽ. Các vị tỳ-khưu đức hạnh không còn nơi nương náu, Ngài Sāsanadhara phải lánh sang núi Tuyin, hai anh em Ngài Parakkama phải dời về động Parakkama ở Sagaing (ngày nay). **Cả Đời Hành Trì Chỉ Được Bốn Hạt Chuỗi** Ngài Ariyavaṃsa, vốn lỗi lạc về Pháp học (Pariyatti), cũng phải rời khỏi chùa Saga và đến ẩn tu tại dãy núi Sagaing. Dù Ngài là vị Trưởng lão lừng danh từ thời vua Narapati (năm 844) cho đến thời vua Mingkhaung, nhưng vì có sự liên quan nên xin được kể vào thời Pinya này. Lúc bấy giờ, gần tháp Ponnya Shin trên núi Sagaing có một vị Trưởng lão được gọi là "Sư Ngậm Nước". Ngài vốn tinh thông kinh điển nhưng luôn chuyên tâm thiền định; vì sợ nói những lời vô ích nên Ngài thường ngậm nước trong miệng, do đó mới có tên gọi như vậy. Một lần nọ, trong một buổi họp tăng, các vị Trưởng lão đang bàn tán xôn xao về việc trì niệm chuỗi tràng hạt. Người thì nói một ngày niệm được một ngàn biến **Guṇavā** (Đức Phật), người nói được mười ngàn biến, dường như họ chú trọng vào số lượng hơn là chất lượng. Nghe vậy, Ngài "Sư Ngậm Nước" mới phán rằng: "Tôi nay đã ngoài tám mươi tuổi, cả đời trì niệm đến nay mới chỉ được có bốn hạt chuỗi mà thôi." Ý Ngài muốn nói rằng Ngài luôn thường trực quán tưởng về bốn pháp hộ thân (Caturārakkha) mà mỗi người xuất gia hay cư sĩ đều nên thực hành hằng ngày, đó là: **Buddhānussati** (Niệm Phật), **Mettā** (Tâm từ), **Asubha** (Quán bất tịnh) và **Maraṇassati** (Niệm sự chết). Nghe lời ấy, các vị sư đang khoe khoang về số lượng vòng chuỗi đều im bặt. Vị **Ariyavaṃsa** đã nhắc ở trên, dù đã giỏi nhưng vẫn thấy mình chưa đủ, nên đã đến xin học bộ kinh **Ṭīkā-kyaw** (Abhidhammattha-vibhavini) từ vị Trưởng lão này. Chỉ sau 3 ngày, Ngài thấu triệt và thưa: "Con đã hiểu kinh rồi". Theo lời thầy, Ngài viết bộ đại luận **Maṇisāramañjūsā Ṭīkā** để giải thích thêm cho bộ kinh đó. Vào ngày lễ Uposatha tại tháp Ponnya Shin, Ngài đã đọc bộ luận này trước đại tăng. Có một vị tỳ-khưu trẻ đến từ Bagan ngồi ở phía ngoài, vừa nghe vừa gật đầu "ừ, ừ". Khi được hỏi, vị tăng trẻ đã chỉ ra được hai điểm sai sót, và Ngài Ariyavaṃsa đã hoan hỷ dâng cúng một tấm y đại (du-gu-t) để tạ ơn. ## TRANG 130 Nhờ những nhân duyên đó mà các bộ luận thư của Ngài vẫn còn nổi danh trong giới Pháp học (Pariyatti) cho đến tận ngày nay. Tuy nhiên, những chi tiết liên quan đến phương diện Pháp hành (Paṭipatti) của Ngài có phần bị ẩn khuất, nên tôi xin được trình bày thêm tại đây. Có một lần, vua Mi-khon (Min-khaug) đến chùa (Ariya-vamsa-chuaug) để thính Pháp; sau khi thuyết giảng xong, Ngài đã ngỏ ý xin nhà vua dâng cúng khoản thuế thuyền bè (chuyến vận tải thủy giữa Ava và Sagaing) để làm phước. Nhà vua lúc ấy chưa đồng ý dâng cúng. Trên đường trở về bằng thuyền rồng, khi đến gần vùng She-kyet-yet, bánh lái thuyền bỗng bị một con cá sấu cắn chặt không sao di chuyển được. Lúc bấy giờ nhà vua chợt nhớ lại lời ngỏ ý của Ngài, bèn chấp tay hướng về phía chùa mà thưa rằng: "Con xin dâng cúng khoản thuế thuyền bè như Ngài đã vận động". Ngay lập tức, thuyền rồng mới có thể tiếp tục hành trình. Lại có một lần khác, con voi cái ngự dụng tên là Yin-tha đã lỡ bẻ ăn cành cây Bồ-đề trong khuôn viên chùa nên bị ngã lăn ra chết ngay tại chỗ. Ngài thiền sư đã thực hiện lời thệ nguyện chân thật (Sacca-adhiṭṭhāna) và thực hành rải tâm từ (Mettā), rưới nước mát lên con voi, nhờ đó nó mới có thể bình an đứng dậy được. Vua Mi-khon sau đó đã cho lát một con đường bằng đá hoa cương từ Ariya-vamsa-chuaug dài đến tận bến sông Ayeyarwady, với giá trị tương đương với một con voi chiến, để dâng cúng lên Ngài. Đây chính là minh chứng cho năng lực của Giới hạnh (Sīla), Tâm từ (Mettā) và Định lực (Samādhi) mà Ngài đã dày công tu tập giữa những trọng trách giảng dạy giáo điển và biên soạn luận thư cho tăng chúng. ### Thời kỳ các đạo sĩ Ari làm Giáo chủ Dưới thời vua Ngà-si-shin Kyaw-swa của vương triều Pinya, người lên ngôi năm 704 (văn minh Miến), thế lực của các đạo sĩ Ari vẫn còn chiếm giữ đến một nửa sức ảnh hưởng. Vào thời bấy giờ, thậm chí còn xuất hiện cả những vị "A-la-hán giả". Một ngày nọ, khi nhà vua đang chuẩn bị dùng bữa ngự thiện thì có một vị tu sĩ đến đứng bát. Nghĩ rằng "đây hẳn là một vị A-la-hán hiện thân để ban phước cho mình", nhà vua đã dâng cúng toàn bộ mâm cơm ngự thiện. Sau đó, vua sai một viên quan cận thần bí mật đi theo dõi. Khi đến một nơi nọ, viên quan nhìn thấy một người phụ nữ ra đón lấy bình bát, còn vị tu sĩ thì cởi bỏ y phục để thay đồ thường dân. Viên quan định quay về báo cáo, nhưng rồi lại suy xét: "Nếu tâu sự thật thì thật là khó xử. Thà rằng để nhà vua giữ được đức tin, bản thân mình cũng được đẹp mặt, mà vị tu sĩ giả kia cũng tránh được tội chết". Nghĩ vậy, viên quan về tâu rằng: "Khi hạ thần vừa theo dấu đến nơi thì vị thiền sư ấy đã thần thông biến mất". Nhà vua nghe vậy liền đắc ý: "Quả đúng như ta dự đoán", rồi vỗ tay khen ngợi. Ngay ngày hôm đó, nhà vua lại nhận được một con ngựa trắng quý giá dâng tặng, nên càng hân hoan tin rằng: "Phước báu cúng dường của ta đã trổ quả ngay tức thì". Đến thời vua Kyaw-swa lên ngôi năm 813 (văn minh Miến), tình hình Pháp hành được ghi chép trong *Sāsanālaṅkāra* như sau: "Trong thời của vị thầy (Su-twin-pyit) đó, về hai gánh nặng của giáo hội, những vị tỳ-khưu chuyên tâm học kinh điển (**Ganthadhura**) có rất đông. Những vị tỳ-khưu cao niên chuyên tâm hành thiền và quán chiếu nội tâm (**Vipassanādhura**) cũng có đến gần một ngàn vị". Tình hình vào đầu thời kỳ Pinya, Sagaing và Ava vốn dĩ quốc sự chưa được ổn định ## TRANG 131 cũng giống như tình hình tôn giáo lúc bấy giờ cũng đầy rẫy sự hỗn tạp và nhiễu nhương. Nhìn vào việc các đạo sĩ Ari thuộc phái Đại thừa và các nhóm đạo sĩ biến tướng có thể leo lên đến chức Giáo chủ (Thāthanā-paing), chúng ta có thể đánh giá được thực trạng của giáo pháp thực hành (Paṭipatti) thời bấy giờ. Đó là thời kỳ thống trị của những vị "sư" chuyên về bùa chú, thuật số, chiêm tinh và thậm chí là giỏi cả võ thuật, đấm đá. Ví dụ như: **Saṅgharājā** (Tăng vương) Rakkhine (646-660), **Saṅgharājā** vùng Pinley (thầy của Min-swe và Min-theik-dat), **Saṅgharājā** vùng Aung-si-khon (thời Swa-saw-ke), **Saṅgharājā** Patu-gyi (thành Sagaing), hay các vị Bar-me, Bar-ta-maw... Trong các văn bia, họ thậm chí còn được khắc ghi như là những "anh hùng hộ trì Tam Tạng". Quan điểm của các thế hệ thầy trò họ thời đó là: "Thông suốt Tam Tạng chỉ cần ở mức vừa phải là đủ". Chính vì việc các vị quân chủ bổ nhiệm những vị không xứng đáng vào vị trí Giáo chủ như vậy nên dưới thời vua Swa-saw-ke, có một vị cao tăng tên là Shin Khe-ma-ca-ra đã thực hiện một hành động phản đối đầy kịch tính. Vào ban đêm, khi mọi người đã say giấc, Ngài sai người đánh hồi trống lớn trước điện Phật liên hồi. Theo tập tục, trống chỉ đánh như vậy khi có một vị cao tăng viên tịch, nên dân chúng đều ngỡ rằng có vị thiền sư nào đó vừa qua đời. Khi được hỏi, Ngài trả lời rằng: "Thiên chủ Sakka đã chết nên tôi đánh trống báo tang". Ngài giải thích thêm rằng Thiên chủ Sakka đã từng hứa với Đức Phật trước khi Ngài nhập Niết-bàn là sẽ hộ trì Giáo pháp, nhưng nay lại để Giáo pháp suy tàn, không người che chở, nên Ngài đồ rằng Thiên chủ chắc đã qua đời nên mới đánh trống. Chỉ sau sự kiện đó, vị cao tăng Shin Khe-ma-ca-ra – một bậc kế thừa chân chính của truyền thống Thượng tọa bộ (Theravāda) – mới được nhà vua cung thỉnh về vùng Dant-taw thuộc kinh thành Ava để xây dựng tháp và chùa dâng cúng. ### Những kẻ ngoại đạo không cam lòng trước vua Bo-daw Về sau này, những vấn đề rắc rối trong giáo hội vẫn liên tục nảy sinh, như việc các tu sĩ đội mũ, hay việc quấn khăn ngang ngực, hoặc các tranh cãi về việc phải đắp y như thế nào khi đi vào trong xóm làng. Tất cả những hỗn loạn này chỉ thực sự được chấm dứt dưới thời vua Bo-daw-paya. Vua Bo-daw đối với sự nghiệp tôn giáo có thể ví như một vị vua Anawrahta của thời kỳ Konbaung. Trong suốt 38 năm tại vị (dù bận rộn nhiều việc nên không tránh khỏi sai sót), ông đã cống hiến hết mình để hộ trì và chấn hưng Giáo pháp. Chính vì thế, những kẻ ngoại đạo đố kỵ cho đến nay vẫn không thôi oán hận, họ rêu rao rằng "Maung Waing (tên thật của vua Bo-daw) là kẻ phản bội", "không giữ lời thề". Nếu ta hiểu rằng đằng sau sân khấu của lịch sử chính trị và tôn giáo luôn có những kẻ muốn thao túng bằng đủ mọi phương kế từ "lối dưới" (tà thuật) đến "lối trên" (quyền lực) mà vẫn không đạt được mục đích, thì ta sẽ nhận ra rằng vẫn luôn tồn tại những cuộc chiến tranh thầm lặng mà mắt thường không nhìn thấy được. ## TRANG 132 ### Đại thừa và Bà-la-môn Ngày nay, những kẻ đại diện cho phái đạo sĩ Ari và cả những đạo sĩ Ari đang ẩn mình dưới lớp áo tu sĩ (không mặc đồ đen nhưng che giấu bản chất) đã không còn chỗ trốn tránh trước ánh sáng của sự thật. Thuyết Bà-la-môn (**Attavāda** - Thuyết Ngã), vốn từng có sức ảnh hưởng mạnh mẽ trong các nghi lễ cung đình, ngày nay cũng lộ rõ bộ mặt thật của mình thông qua những lời chiêu dụ xảo trá theo kiểu "chúng ta cũng giống nhau cả thôi, thậm chí ta còn có trước cả các ngươi". ### Trách nhiệm của người Miến Điện do lịch sử trao phó Trong thời kỳ Pinya, sự hoạt động của phái Ari thuộc Đại thừa vẫn còn rất mạnh mẽ. Thậm chí, ngôi đại tự Sa-ga-khu-kyaung, vốn được xem là một "Trường Đại học Thượng tọa bộ", cũng từng bị định hướng để trở thành một "Pwe-kyaung" (chùa Ari) hay một "Trường Đại học Đại thừa". Thời đó còn có cả những đạo sĩ Ari làm việc quan trong triều đình. Các nhà nghiên cứu sử học hiện đại thường có xu hướng chỉ dựa vào những văn bia tìm thấy được và nhìn nhận lịch sử chỉ bằng một con mắt mang nhãn quan xã hội học, nên khó lòng tái hiện được những trang sử chân thực về tâm linh. ### Những cột mốc đáng nhớ thời Pinya 1. Tình hình của các bậc Thánh nhân cao thượng trong phương diện **Pháp hành (Paṭipatti)** cùng thời, như các Ngài Dibba-cakku, Parakkama (hai anh em)... những vị mà dưới con mắt của người hiện đại thường bị coi là những nhân vật huyền thoại. 2. Những bậc vĩ nhân trong lĩnh vực **Pháp học (Pariyatti)** như Thiền sư Mani-manjusa, Thiền sư Su-twin-pyit (Ngài Nāgita), vị đại thần Catu-raṅga-bala... cùng các bộ luận thư uyên thâm mà các Ngài đã biên soạn. 3. Các chứng tích lịch sử khác cùng thời (như văn bia) cho thấy tiêu chuẩn của **Pháp học** và **Pháp hành** thời bấy giờ. Ví dụ: Hai vợ chồng Min-thiri-zeya-thura, quan trấn thủ Taung-dwin, vào năm 800 (văn minh Miến) đã xây dựng và dâng cúng một ngôi đại tự tại Te-nwe-chaung, phía Tây tháp Shwe-zi-khon, Bagan. Trong thời kỳ loạn lạc suy đồi đó, để giữ cho các bộ kinh điển Tam Tạng không bị thất truyền, họ đã tham vấn các bậc hiền trí để sao chép và cúng dường toàn bộ kinh sách. Văn bia này được gọi là Văn bia Te-nwe-chaung. Nếu nhìn vào danh mục các kinh điển thuộc Tạng luật và Tạng kinh Theravada (Phật giáo Nguyên thủy) được khắc trên văn bia ấy, người ta sẽ không khỏi kinh ngạc khi tìm thấy rất nhiều bộ kinh văn bằng tiếng Pali mà ngay cả các nhà học giả Pali ngày nay cũng chưa từng nghe danh. Đó là chưa kể đến vô số các thư tịch thuộc các lĩnh vực khác (ngoại điển) như ngữ pháp (saddā), y học và tinh tú học/chiêm tinh. ## TRANG 133 ### Từ phòng thủ từng bước đến thế tấn công Trong việc nghiên cứu và khai phá sử học Miến Điện theo góc nhìn hiện đại, nếu bỏ qua những dẫn chứng mang tính giáo pháp thì không thể trở thành một công trình nghiên cứu lịch sử hoàn chỉnh, cũng như không thể xem là một sử gia thực thụ. Bởi lẽ, người dân Miến Điện xác định lấy Phật giáo làm cốt lõi, là điểm tựa tri thức kiên cố; họ là dân tộc đã tồn tại và đứng vững trong cuộc đời bằng chính tư duy và thế giới quan ấy. Lòng kiên trì, sự dũng mãnh, nỗ lực tinh tấn và trí tuệ mẫn tiệp của tổ tiên Miến Điện trong công cuộc vượt qua muôn vàn gian khó để dựng xây nên dòng chảy sử học Thượng tọa bộ (Theravāda) cho đến ngày hôm nay thật đáng kính phục thay: 1. Đức vua Bodawpaya đã phái các đoàn truyền giáo cùng các bộ Tam Tạng Thánh Điển đến khắp mọi nơi, từ chốn kinh thành đến tận vùng biên thùy hoang sơ nhất cả trong và ngoài nước, để quét sạch mầm mống của Đại thừa giáo (Mahāyāna). 2. Đức vua Mindon, vào thời điểm chủ nghĩa thực dân đang bủa vây và xâm chiếm toàn cầu, đã ngăn chặn sự băng hoại bằng cách tổ chức Đại hội Kết tập Thánh điển lần thứ năm. 3. Trong thời kỳ mà chủ nghĩa duy vật đang đè nặng lên cả thế giới, người dân Miến Điện đã tổ chức Đại hội Kết tập Thánh điển lần thứ sáu, góp phần làm cho giáo pháp Thượng tọa bộ ngày càng trở nên vững rắc. Dù nhân loại đã dùng đủ mọi lý thuyết, tư tưởng và phương thuốc để điều trị những nỗi thống khổ đeo bám ngày qua ngày, nhưng cuối cùng, người dân Miến Điện đã trao tặng "linh dược" rốt ráo nhất để cứu khổ cho mọi chúng sinh. Phước báu của dân tộc Miến Điện thật vô cùng to lớn vậy. ### Người Miến Điện mà người Miến chưa hay biết Công đức của Đức vua Anawrahta — người đã tiếp nhận lòng từ ái và ơn nghĩa sâu dày của các bậc Thánh Alahan như **Ngài Moggaliputtatissa**, **Ngài Soṇa**, **Ngài Uttara**, **Ngài Sīlabuddhi** và **Ngài Arahan**, những bậc đã dùng trí tuệ Vị lai kiến (Anāgataṃsa-ñāṇa) để quán chiếu và hoằng dương chính pháp — thật vô cùng vĩ đại. Người dân Miến Điện quả thực không tầm thường; họ chính là những người đang gánh vác sứ mệnh mà lịch sử đã ủy thác. ## TRANG 134 Tuy nhiên, giáo pháp Thượng tọa bộ mà các bậc Thánh Alahan và thí chủ hộ trì phương trưởng — Đức vua Anawrahta — hằng mong mỏi, đôi khi lại như vầng trăng len lỏi giữa những tầng mây dày đặc, khi tỏ khi mờ qua từng thời kỳ. Chính vì lịch sử giáo pháp tại Miến Điện có những giai đoạn uẩn khúc và rối ren như vậy, nên ngay cả các giáo sư sử học hay giáo sư văn học đôi khi cũng bị nhầm lẫn. Họ đánh đồng các bậc tu hành chân chính trong rừng (tôn túc lâm viên) với các tu sĩ mật giáo (Ari). Họ thậm chí còn viết những lời mang tính "giáo dục" sai lệch như: "Từ Aranyaka (Trú rừng) mà thành ra Ari. Việc các Ari khai hoang trồng trọt thật đáng ngọn khen", hay "Cần khôi phục lại các học viện dạy cưỡi ngựa, múa thương". Chính vì lẽ đó, một số học giả nước ngoài có tầm nhìn đa chiều đã nhận xét rằng: "Lịch sử trong sách giáo khoa ngày nay, nếu đem so với sự thật lịch sử thì quả là một chuyện khôi hài". Từ nhà khảo cổ học Ấn Độ J.H. Marshall trở đi, giới học thuật đều phải ca ngợi rằng trong những giai đoạn giáo pháp tại Ấn Độ và Tích Lan (Sri Lanka) bị đứt đoạn hay gặp khó khăn, Miến Điện đã đứng vững như một pháo đài duy nhất. Thậm chí, Miến Điện đã vượt qua cả những quốc gia lớn như Ấn Độ, Trung Hoa để trở thành một quốc gia nhỏ bé dẫn đầu về văn minh tại phương Đông. Nếu không có sự kiên định ấy, kho tàng giáo pháp Thượng tọa bộ ngày nay có lẽ chỉ còn là những đóm lửa tàn lụi ở một nơi nào đó. Qua đó ta có thể hình dung được trí tuệ Vị lai kiến của **Ngài Đại Trưởng lão Moggaliputtatissa** và sức mạnh phước báu của người dân Miến Điện. Dù vậy, một số nhà khảo cổ và sử gia phương Tây cùng các thế hệ học trò của họ — những người luôn tìm cách "thu nhỏ tầm vóc của người Miến" — do không thấu hiểu được ý đồ không thành thực của các bậc tiền bối đi trước, cũng như không suy xét đến bản chất của những hiện vật tôn giáo bị che giấu, nên vẫn tiếp tục viết những điều sai lệch theo ý kiến chủ quan. Điều này khiến cho lớp người trẻ ngày nay, dù rất muốn tin tưởng vào các chuyên gia sử học, cũng chẳng dám đặt trọn niềm tin. ## TRANG 135 ### Đại trưởng lão Aññāta Koṇḍañña, bậc đắc Thiền và Thần thông Thời kỳ suy tàn của Pagan và Pinya là giai đoạn mà ngay cả các vị giáo sư cũng dễ bị lầm lạc vì sự đan xen phức tạp giữa Đại thừa và Thượng tọa bộ, rất khó để phân định rạch ròi. Dẫu vậy, ngay cả khi đất nước loạn lạc, hàng ngũ xuất gia có phần lỏng lẻo, nhưng vẫn hiện hữu những bậc dị nhân đắc Thiền (Jhāna) và Thần thông (Abhiññā). Điều này cho thấy sức mạnh của Pháp bảo (Dhamma) đã bắt rễ sâu dày và vững chắc, dù biểu hiện bên ngoài không mấy rầm rộ. Vào khoảng năm 700 (Miến lịch), có rất nhiều tu viện trong rừng tọa lạc tại các vùng như Myinmu (Ah-myint, Ah-neint). Qua các bi ký thời bấy giờ, ta được biết các vị sư trú rừng thường được tôn kính gọi là "Taw Myat Gyi" (Đại Bậc Thánh Trú Rừng). Nội dung trong văn bia tu viện Min Ye vùng Ah-myint, được tạc vào năm 733 (Miến lịch), kể về một vị Đại Thánh Trú Rừng vô cùng thú vị. Danh hiệu của ngài là **Đại trưởng lão Aññāta Koṇḍañña**. Văn bia ghi chép rõ rệt về việc ngài đắc thế gian Thiền và Thần thông. Không chỉ dừng lại ở Thần thông, nơi ngài còn toát ra sức mạnh của bậc xuất thế gian, nên có thể nói ngài chính là một bậc Thánh (Ariya). Về vị Trưởng lão này, văn bia có đoạn chép rằng: "Trong giáo pháp của Đức Thế Tôn, có một bậc Đại Trưởng lão danh hiệu là **Aññāta Koṇḍañña**, bậc đầy đủ giới hạnh, kham nhẫn, đắc thế gian Thiền định sâu dày và có ân đức quảng đại. Ngài trú tại gốc cây trong rừng, không gần làng mạc, phía Nam kinh thành Kantu. Trong lúc ngài trải tấm da thú (Sammākhan), đặt bát sắt phía trước và đang an trú trong thiền định (bhāvanā), có một thợ săn thấy một con voi rừng hung dữ, vòi vươn cao, rống vang cả cánh rừng, đang lao đến tấn công. Khi con voi đến gần vị Đại Trưởng lão, nó bỗng dừng lại như thể không dám sát hại, nó bẻ một cành cây cúng dường, đi nhiễu quanh ngài về phía bên phải (axin) rồi mới rời đi. Những người đánh cá chứng kiến sự việc này đã đi báo lại cho vị quan quản lý bốn vạn dân tên là Suvaṇṇapakran. Vị đại thần này bèn tìm đến đảnh lễ bậc có phước đức lớn ấy... Đại thần hỏi: 'Bạch Ngài, Ngài định sẽ đi về đâu?' Trưởng lão đáp: 'Này đại thần, ta nương nhờ kinh thành này để trì bình khất thực và trú ngụ'. Vì lẽ đó, vị quan ấy đã phát tâm xây dựng tu viện cúng dường cho ngài." (Trích văn bia...) ## TRANG 136 Đây chính là một minh chứng cho thấy rằng dù thời đại có suy đồi hay hư hỏng đến mức nào đi chăng nữa, thì diệu pháp của bậc thiện trí (Saddhamma) vẫn không bao giờ bị mai một. (**Satañca dhammo na jaraṃ upeti** = Trích từ Đại kinh Sutasoma Jātaka.) ## TRANG 137 ### Tại sao Giáo Pháp lại biến mất ngay tại Ấn Độ – nơi Đức Phật đản sinh? **Rāhula Sāṅkṛtyāyana** Tại đây, nguyên nhân dẫn đến sự biến mất của Phật giáo ngay chính tại Ấn Độ – thánh địa mà Đức Phật đã thị hiện – là một chủ đề vô cùng thú vị và để lại những bài học sâu sắc cho hậu thế. Thay vì để chúng tôi (những người Myanmar) trình bày, thì việc để chính người Ấn Độ tự mình viết và thừa nhận điều đó sẽ hợp lý và có tính xác thực cao hơn. Do đó, chúng tôi xin được trích dẫn và tóm lược nội dung bài viết của tác giả nổi tiếng **Rāhula Sāṅkṛtyāyana** theo đúng nguyên tác như sau: (Bản gốc của bài viết này đăng trên Tạp chí Mahā Bodhi số 81, tháng 9 năm 1973 tại Ấn Độ, và đã được Giáo sư Nghiên cứu Đại học Phật giáo Thế giới **U Han Htay** dịch sang tiếng Myanmar.) "Một trăm năm sau khi Đức Thế Tôn nhập Niết-bàn (Parinibbāna), các tỳ-khưu thuộc bộ tộc Vajjī bắt đầu không còn tôn trọng và tuân giữ giới luật một cách nghiêm cẩn. Họ đã đưa ra mười điều phi pháp (Adhamma) như chấp nhận vàng bạc, uống rượu mạnh và rượu nhẹ... Họ muốn sửa đổi giới luật (Vinaya) để trở nên gần gũi với đời sống thế tục hơn. Tuy nhiên, các vị Trưởng lão đã khẳng định rằng Giới luật là giáo lệnh tối thượng (Āṇā-desanā) nên phải được tuân thủ một cách nghiêm ngặt. Những cuộc tranh luận gay gắt đã nổ ra, dẫn đến sự chia rẽ sâu sắc trong tăng đoàn. Vì lý do đó, dưới sự bảo trợ của Vua Kālāśoka tại thành Vesālī, cuộc Kết tập Thánh điển lần thứ hai đã được tổ chức để loại bỏ các điều phi pháp này. Những vị Trưởng lão kiên quyết giữ gìn và tôn trọng giới luật thời bấy giờ được gọi là phái Thượng tọa bộ (Theravāda), còn nhóm tăng sĩ đưa ra mười điều phi pháp được gọi là phái Đại chúng bộ (Mahāsaṅghika). Sau đó, phái Đại chúng bộ cũng đã tổ chức một cuộc kết tập riêng. Trong khoảng 125 năm từ thời điểm Kết tập Thánh điển lần thứ hai đến lần thứ ba (thời Vua Asoka), từ Thượng tọa bộ đã phân chia thành 12 bộ phái, và từ Đại chúng bộ phân chia thành 6 bộ phái khác nhau. Vào thời điểm đó, các bộ phái mang danh nghĩa Phật giáo đã bắt đầu sáng tạo nên các tư tưởng mới, coi 'Đức Thế Tôn là một vị Thượng đế vĩnh cửu (Eternal Buddha), trú ngụ tại cảnh giới vĩnh hằng'... Vì lý do đó, các bậc trưởng lão như Ngài Mahāmoggalliputta Tissa đã nương nhờ uy lực của Vua Asoka tại kinh đô Pāṭaliputra để tổ chức cuộc Kết tập Thánh điển lần thứ ba. Những tăng sĩ không muốn tuân theo giáo pháp nguyên thủy cũng đã tự mình biên soạn ra các bộ Kinh, Luật, Luận (Sutta, Vinaya, Abhidhamma) riêng và tổ chức các cuộc kết tập riêng biệt. ## TRANG 138 Sự khác biệt trong quan điểm và thực hành giới hạnh đã trở nên vô cùng cực đoan. Trong thời kỳ sau vua Asoka, tại Ấn Độ, nhiều sắc tộc và các triều đại khác nhau đã xâm nhập vào. Dưới triều đại Śuṅga của vua Puṣyamitra, Phật giáo đã suy yếu trầm trọng. Bà-la-môn giáo đã được hưng khởi trở lại thông qua các thư tịch mới. Bộ phái Sarvāstivāda (Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ) nhân danh Phật giáo cũng đã biên soạn nhiều kinh sách và nảy sinh tranh luận nội bộ. Dưới sự bảo trợ của Vua Kaniṣka và sự lãnh đạo của các vị Trưởng lão Vasumitra (Thế Hữu), Aśvaghoṣa (Mã Minh) tại thành Jalandhara (Kashmir), một cuộc kết tập khác đã được tổ chức. Vào lúc này, ba bộ đại chú giải gọi là Vibhāṣā (Đại Tỳ-bà-sa) được biên soạn, dẫn đến sự hình thành phái Vaibhāṣika. Người ta đã tạo ra ba con đường tu tập khác nhau: 1. **Hīnayāna** (Tiểu thừa - gồm **Arahattayāna** và **Sāvakayāna**), 2. **Pacceka-buddhayāna** (Duyên Giác thừa), và 3. **Buddhayāna** (Phật thừa - còn gọi là **Mahāyāna**, con đường **Bodhisatta**). Vào thế kỷ I và II sau Công nguyên, người ta đã đả kích Hīnayāna là nhỏ hẹp, thấp kém và bắt đầu xem thường quả vị A-la-hán. Để khiến những quan điểm của mình có sức ảnh hưởng và thu hút quần chúng, họ đã mượn danh nghĩa Đức Phật để soạn thảo các bộ kinh lớn như Bát-nhã Ba-la-mật-đa (Prajñāpāramitā), làm như thể đó là những lời do chính Đức Phật thuyết giảng. Đến thế kỷ II và III, hệ tư tưởng của phái Đại thừa (Mahāyāna) đã được trình bày một cách công khai và rõ ràng. Vô số các vị Phật và Bồ-tát (Bodhisatta) mới cũng đã được 'sáng tạo' ra. Khoảng 500-600 năm sau khi Đức Phật nhập Niết-bàn, các bộ Kinh và Luận mới đã được biên soạn một cách mạnh dạn, tạo nên một khoảng cách xa vời so với giáo Pháp nguyên bản ban đầu. Sau đó, tại quốc gia Vidarbha ở miền Nam Ấn Độ, vị đại luận sư Nagarjuna (Long Thọ) đã lập nên phái Mādhyamika (Trung Quán hay còn gọi là Śūnyavāda - Không luận). Bằng phương pháp luận logic và biện chứng, ông đã tạo ra một học thuyết mới dựa trên lý Duyên khởi (Paṭiccasamuppāda). Tiếp đó khoảng 200 năm, phái Sautrāntika (Kinh Lượng Bộ) ra đời, bác bỏ thuyết Vibhāṣā và chỉ chấp nhận các bộ kinh điển (các kinh điển Đại thừa). Những lãnh đạo nổi tiếng nhất của giáo phái này là Ngài **Vasubandhu** (Thế Thân) xuất hiện vào thế kỷ IV sau CN, và người em trai **Asaṅga** (Vô Trước) – người sáng lập ra phái **Vijñānavāda** (Duy thức tông). Từ giáo phái này, một bộ phái logic Phật giáo (Yogācāra-Vijnānavāda) đã được tách ra với sự xuất hiện của các Ngài **Dignāga** (Trần Na) và **Dharmakīrti** (Pháp Xứng), khiến cho những cuộc tranh luận trong và ngoài tôn giáo ngày càng trở nên phức tạp." ## TRANG 139 **Chư thiên thay chỗ của Đức Phật** Vào thế kỷ VI sau Công nguyên (khoảng 400 năm sau khi Chúa Jesus ra đời), bốn tông phái triết học Phật giáo lớn gồm Vaibhāṣika (Tỳ-bà-sa), Sautrāntika (Kinh lượng bộ), Vijñāna (Duy thức - Yogācāra) và Mādhyamika (Trung quán) đang trên đà phát triển. Các tông phái này liên tục dấn thân vào các cuộc tranh luận tư tưởng khốc liệt với các Bà-la-môn. Trong thế kỷ này, tại Ấn Độ, Phật giáo nguyên thủy là Theravāda cùng với nền văn học Pāḷi Theravāda đã hoàn toàn mai một. Việc thấu hiểu "đâu là giáo pháp nguyên gốc chân thực của Đức Phật" trở nên vô cùng khó khăn. Mọi người bắt đầu chuyển sang tôn thờ chính các vị Bodhisatta (Bồ-tát) như là Phật. Các thi sĩ Đại thừa đã biên soạn nhiều loại văn học như Sutta (Kinh), Kāvya (Thi ca), Carita (Hạnh) để xiển dương việc thờ cúng Bồ-tát, cũng như chứng minh rằng chỉ có Đại thừa mới là con đường dẫn đến Niết-bàn. Vào các thế kỷ V và VI này, họ tuyên bố rằng tất cả chúng sinh đều là Bồ-tát, và mọi người (bao gồm cả các bậc A-la-hán) đều sẽ trở thành bậc Chánh Đẳng Chánh Giác (Sammāsambuddha). Một lần nữa, các vị Bồ-tát lại được chú trọng hơn cả Đức Phật. Không chỉ dừng lại ở vị Bồ-tát tương lai **Arimetteyya** (Di-lặc), họ còn sáng tạo ra các vị "thần Phật" mới như **Avalokiteśvara** (Quán Thế Âm), **Mañjuśrī** (Văn Thù Sư Lợi), **Varapaṇṇi**... Cuối cùng, vì thừa nhận rằng việc mỗi người trở thành Phật hay Bồ-tát là điều khó khăn, họ lại hướng dẫn mọi người chỉ cần tôn thờ các vị Bồ-tát ở cõi trời. Khắp nơi trên đất Ấn Độ, các vị Bồ-tát bắt đầu được cúng tế dưới hình thức các vị thần. Chánh pháp chân thực đã bị lu mờ (điều này gợi nhắc đến đền Nat-hlaung-kyaung ở Bagan). **Từ tóm lược trở thành bùa chú (Yantra)** Từ thế kỷ IX đến thế kỷ XII, những người theo Đại thừa lại thiết lập nên tông phái Mantrayāna (Mật tông). Vì các kinh điển Đại thừa lớn như Paññāpāramitā (Bát-nhã Ba-la-mật-đa), Saddharmapuṇḍarīka (Diệu pháp Liên hoa) quá dài dòng và phức tạp, nên họ đã viết các bài kệ tóm tắt gọi là Dhāraṇī (Đà-la-ni) để trì tụng. (Về sau, họ chỉ đọc câu kệ đầu hoặc câu kệ cuối; rồi rút gọn lại thành các âm tiết ngắn như Saṃ, Guṃ, Pa, Ma; cuối cùng thậm chí không tụng nữa mà viết lên giấy rồi đốt lấy tro để nuốt). Họ đặc biệt chú trọng vào việc trì tụng mật chú, lần tràng hạt và quay các bánh xe pháp có ghi lời cầu nguyện. Từ sau thế kỷ V, các trào lưu này lan rộng sang Trung Hoa, Tây Tạng... Thậm chí họ còn tôn thờ chính các bộ kinh như là Phật và tạc tượng như "tượng Bát-nhã Ba-la-mật-đa" để cúng bái. ## TRANG 140 **Sự khởi đầu của các tông phái "Minh sư" (Vijjā) và tu sĩ tà thuật mặc y** Từ sau thế kỷ V, do được các vương tôn công tử và giới hào phú sùng bái, cúng dường xây dựng những ngôi chùa nguy nga và hào phóng trong việc bố thí, những hạng người kém phẩm hạnh đã trà trộn vào hàng ngũ tăng già. Khi những hạng tỳ-kheo thấp kém này trở nên đông đảo, họ bắt đầu coi nhẹ Kỷ luật (Vinaya), không màng đến Pháp học (Ganthadhura) hay Pháp hành (Vipassanādhura), mà chỉ lo hưởng thụ ăn uống. Chính những hạng tỳ-kheo này đã sửa đổi kinh điển và soạn thảo các văn bản Tantra (Mật thư). Họ thực hiện rầm rộ các việc thế tục như trì chú, đúc bùa (In), luyện bùa phép, chữa bệnh, xem bói, xem tinh tú. Họ bí mật tập hợp và lôi kéo quần chúng một cách tinh vi. Họ thêu dệt luận điệu rằng: **Kinh Chuyển Pháp Luân** (Dhammacakkappavattana Sutta) dành cho hàng Thinh văn (Sāvakayāna), các thời pháp ở Rājagaha dành cho Đại thừa, nhưng vì Đại thừa vẫn chưa đủ cho những người cực kỳ thông minh nên Đức Phật đã phải thuyết giảng giáo pháp Vijjāyāna (**Vajirayāna** - Kim Cương thừa) tại vùng Dhanyakaṭaka. Đến thế kỷ IX, những người Đại thừa sơ khởi đã không còn ngăn cản nổi tông phái Vajirayāna (Mật chú). Tông phái Vajirayāna (một nhánh biến tướng của Phật giáo Đại thừa) đã thực hiện những hành vi bí mật, huyễn thuật đánh vào tâm lý đám đông. Ví dụ: nhập bùa vào quả bầu, dùng những ngôn từ thần bí khó hiểu, luyện giả kim (Aggyat), chế thuốc, đúc bùa, viết riêng các mật thư như **Guhyamanta**, **Cakkasambhava**, **Guḷamanta**... nhằm phô diễn phép thuật và năng lực thần thông để lôi kéo những người nhẹ dạ. Các thuật thôi miên và định tâm ảo giác càng trở nên phổ biến. Điều này không chỉ làm lu mờ giáo pháp gốc mà còn biến đổi cả các nhánh Đại thừa sang mô hình Vajirayāna. Những tệ đoan như dâng hoa quả đầu mùa (Pañ-u-hlut), thọ lễ quán đảnh, nhận vàng bạc, mưu cầu lợi ích riêng, tận hưởng dục lạc, tu khổ hạnh ép xác, hay mải mê với các phép thần thông đã khiến giới hạnh dần suy đồi vào thế kỷ XII do sự biến tướng về dục lạc và lạm dụng quyền năng. Vào thế kỷ VIII và IX, ngay cả các đại học như Nālandā, Vikramasīla cũng giảng dạy các lộ trình Vajirayāna. Từ đó, họ nghiên cứu thêm cả các thuật lên đồng, nhập xác, phù thủy, ma thuật và tà thuật (hạ đẳng). Những người theo Tantrayāna đã tạc đủ loại tượng Bồ-tát, thậm chí tạc cả những hình tượng đáng sợ để thờ cúng. Từ thế kỷ VIII đến thế kỷ X, dưới danh nghĩa Phật giáo, bốn vị Minh sư (Vijjā), Ẩn sĩ (Zawgyi), và đạo sĩ (Wasī) lớn đã xuất hiện. ## TRANG 141 Họ thiết lập và lôi kéo mọi người vào các học thuật của tông phái Minh sư. Các vị tổ sư nổi tiếng bao gồm: Sarthapā (còn gọi là Sayarpasara), Dhammarūpa, Gūdharūpa, Sambhava... Họ thực hiện những hành vi kỳ quái như mặc quần áo rách rưới, luyện giả kim, trì chú, sống ở nghĩa địa, dùng hộp sọ người, chế luyện thuốc men. Thậm chí họ còn uống rượu và thực hiện các nghi lễ dâng hoa đầu mùa. Với việc phô diễn các năng lực thần thông bí mật, họ được mệnh danh là những bậc thầy huyền học (Mystic). Trong thời kỳ giáo pháp suy tàn tại Ấn Độ, ngay cả các bậc triệu phú và quốc vương cũng hết lòng tôn sùng và hộ trì những hạng "dị nhân" này. Để cầu cho đất nước thái bình, an ninh và thoát khỏi hiểm họa, chính các vị vua đã sử dụng rất nhiều phương thuật Tantra, Mantra và Vijjāyāna của họ. Những vị tỳ-kheo chân chính sống đúng theo Giới luật thì ngày càng trở nên khốn khó, mệt mỏi và quân số ít ỏi dần. Khi sức mạnh nội tại của tăng già suy yếu, một số tỳ-kheo bắt đầu chuyển sự chú ý sang các pháp luyện của Minh sư. Đến thế kỷ XI, tại Ấn Độ, đa số người dân trở nên mê tín dị đoan, chia bè phái và tranh luận gay gắt. Các tỳ-kheo cũng trở nên suy đồi đạo đức hơn khi lo tích trữ tài sản và buôn bán. **Các "Minh sư" thất thế và tháo chạy sang Bagan** Những dân tộc khác giáo như người Turk, người Mongol, người Afghan đã tấn công và cướp phá những ngôi chùa nguy nga, giàu có của các tỳ-kheo. Dù các giáo đồ tông phái Minh sư và Ẩn sĩ đã nỗ lực dùng bùa chú, thần thông để chống trả nhưng đều vô hiệu. Các đại học và tu viện lớn bị thiêu rụi. Phật giáo hoàn toàn biến mất do một mặt, giới tỳ-kheo mượn danh Phật giáo đã suy đồi về giới hạnh và trở thành những kẻ ham hố tài sản; mặt khác, tình hình chính trị quốc gia quá hỗn loạn. Sự trỗi dậy của các tông phái Minh sư làm suy yếu sức mạnh nội tại của tăng già chính là nguyên nhân chính dẫn đến sự diệt vong của Phật giáo tại Ấn Độ. Trong khi những người theo Bà-la-môn giáo có thể khôi phục lại đền đài, thì các tu viện Phật giáo (Vihāra) không bao giờ được phục dựng lại. vì cách ăn vận **khác biệt nên càng dễ bị nhắm làm mục tiêu hơn.** ## TRANG 142 Quần chúng nhân dân sau khi chứng kiến kẻ thù xâm nhập, cũng không còn tin tưởng vào thần thông và phép thuật (idhipāda) của các vị đạo sư mật giáo (weizza) nữa, nên sự tín tâm sụt giảm đến mức không thể vực dậy nổi. Các tu sĩ thuộc phái Vị-tạng-da-na (Vajrayana), những người mượn danh Phật giáo Đại thừa tại Ấn Độ, đã phải chạy trốn và ẩn náu tại các vùng như Tây Tạng, Nepal, Bagan, v.v. Từ chỗ nội tâm của các vị tu sĩ bị mục nát, cộng với việc thiếu vắng các vị lãnh đạo tăng đoàn và các cơ sở tôn giáo bị phá hủy, người dân Ấn Độ đã quay trở lại với truyền thống Bà-la-môn và từ bỏ Phật giáo. Đến thế kỷ 14, tại nơi Đức Thế Tôn đản sinh — đất nước Ấn Độ — Phật Pháp đã hoàn toàn biến mất. Đến đây, phần trích lược nội dung bài viết kết thúc. **Để hỏi thêm ngài Rahul Sankrityayan một chút** *Ghi chú:* Ý chính của ngài Rahul Sankrityayan chỉ có bấy nhiêu. Nguyên nhân chính yếu rằng "do bản thân hàng ngũ tu sĩ suy yếu và mục nát từ bên trong khiến giáo pháp bị hủy diệt" là một nhận định rất xác đáng. Nó phù hợp với cả quy luật tự nhiên lẫn thực tế lịch sử. Tuy nhiên, những chi tiết và tư tưởng còn lại thì không hoàn toàn tương đồng với quan điểm của chúng tôi. Việc kẻ thù xâm nhập và phá hoại chỉ được nêu lên như nguyên nhân thứ hai. Trong khi đó, việc những người theo Bà-la-môn giáo dùng cả biện pháp mềm mỏng lẫn cứng rắn (như tranh luận giáo lý hay trấn áp bằng vũ lực) để bức hại và chèn ép một cách liên tục thì lại chỉ được xem như những tình tiết phụ trong lịch sử mà không được đưa vào hai nguyên nhân chủ chốt. Không chỉ vậy, ngài dường như còn muốn né tránh cả những sự kiện đã được các nhà sử học Ấn Độ thừa nhận. Ví dụ, trong các bộ sử Ấn Độ cũ và mới của Giáo sư Altekar và Ishwari Prasad, vào năm 184 trước Công nguyên, vua Pushyamitra của vương triều Shunga, vì mục đích phục hưng và bành trướng Bà-la-môn giáo, đã phá hủy nhiều cơ sở tôn giáo như chùa Kukutaram cùng sát hại vô số tăng sĩ. Với những vị tăng còn sống sót, ông ta còn treo thưởng 500 đồng tiền vàng cho mỗi chiếc đầu người. Ngoài ra, vào thế kỷ thứ 6, còn có vua Sashanka, người đã tìm mọi cách gán tội để bức hại tăng đoàn và phá hoại cây Đại Bồ Đề. Năm 340, vua Samudragupta đã dùng những biện pháp mềm mỏng để tiêu diệt Phật giáo bằng cách ban hành các bộ luật như "không được thọ giới, không được thuyết pháp". Năm 750 là Kumarila Bhatta. Có vẻ như Rahul Sankrityayan muốn lãng quên những nhân vật này. ## TRANG 143 Khi đề cập đến những người này, giọng văn của ngài trở nên mờ nhạt đi. Sự thiếu khách quan thể hiện rõ nhất khi nói về "Shankaracharya". Ông sinh năm 788 tại miền Nam Ấn Độ, sau khi học tập kinh điển Phật giáo, ông đã thiết lập nên hệ thống Bà-la-môn giáo, Sanatana giáo và thế giới quan sơ khai. Ông thách đấu các vị tu sĩ trong các cuộc tranh luận giáo lý, sau đó dùng thế lực của chính quyền để ép họ phải chuyển sang thuyết Hữu ngã (Attavada), thậm chí dùng những hình phạt tàn khốc như dìm người trong dầu nóng; ông nổi danh là người bất khả chiến bại nhờ việc kết hợp giữa lý luận và vũ lực. Về nhân vật này, các bộ sử và sử liệu tôn giáo các đời đều thừa nhận và xác nhận. Vậy mà ngài Rahul Sankrityayan lại thẳng thừng phủ nhận với lập luận rằng "không có bằng chứng trong văn học Phạn ngữ (Sanskrit) và Pali". Có lẽ việc sinh ra trên đất Ấn đã khiến ngài phải né tránh sự thật lịch sử. Chỉ với một bài viết của mình, ngài không thể đảo ngược được lịch sử tôn giáo thực sự của Ấn Độ. Bánh xe lịch sử sẽ vẫn cứ tiếp tục quay như nó vốn có. (Về sự tàn phá hủy diệt bằng bạo lực của các tôn giáo khác, thiết nghĩ không cần phải lật lại hồ sơ quá chi tiết để tránh phát sinh những vấn đề mới. Những điều này vốn đã rất rõ ràng trong các tài liệu như: *Bihar and Orissa Gazetteers* hay *Bhagalpur District Gazetteer* của ông Molley; nhật ký hành trình *Gorakhpur District* của ông Cleit; cuốn *Buddhist Shrines in India* của ông Devapriya; *Hướng dẫn về Migadaya* của ông Daya Ram Sahni và nhiều bộ sử Ấn Độ khác.) ### Truy tìm gốc rễ vấn đề Chúng tôi chấp nhận và xác nhận rằng có ba nguyên nhân chính khiến Phật giáo biến mất tại Ấn Độ: (1) Các vị tu sĩ bị suy giảm và yếu kém trong các giới đức căn bản như Giới hạnh (Sīla), Tâm từ (Mettā), Nhẫn nhục (Khantī); và cuối cùng là hoàn toàn không còn giới thân huệ mạng. (2) Thuyết Hữu ngã (Attavada) đã thâm nhập và lũng đoạn từ bên trong thông qua nhiều hình thức và nhiều vị thủ lĩnh khác nhau (cuối cùng dẫn đến việc các tu sĩ Đại thừa tuy mang danh Phật giáo nhưng lại lấy cái Ngã làm cốt lõi; từ đó biến thành các vị đạo sư mật giáo, thầy phù thủy). (3) Cuối cùng là sự bức hại và tàn sát bằng bạo lực của các kẻ thù ngoại đạo (gần đây, một quốc gia nhỏ bé nơi Mật giáo Đại thừa từng hưng thịnh cũng lâm vào cảnh tương tự như Ấn Độ). Việc phê bình và trình bày ở đây cốt chỉ để làm sáng tỏ quy luật tự nhiên và các sự kiện lịch sử. Đúng như câu nói "thấy họa đến thì tìm cách tránh", con đường mà một số vị tu sĩ ngày nay đang tập hợp thành nhóm để bước đi ## TRANG 144 đều được chúng tôi dẫn chứng chỉ nhằm mục đích giúp quý vị soi xét và suy ngẫm xem có phù hợp với **Trung Đạo (Majjhima Patipada)** hay không. Chúng tôi không hề có lòng thù hận đối với những kẻ thù trong dòng lịch sử, cũng không phải vì lòng đau xót u buồn. Thực chất, nguyên nhân (2) và (3) đối với người bình thường chỉ là những duyên phụ nuôi dưỡng thêm lòng tự phụ (mana), sân hận (dosa), đố kỵ và bủn xỉn (issa-macchariya). Chúng không mang lại nhiều lợi ích và cũng không phải là gốc rễ. Nguyên nhân cốt lõi, quan trọng nhất, mang tính bản chất và thực chứng nhất chính là: "Người tu không sống đúng hạnh người tu". Nếu sống đúng như vậy thì dù là tà pháp ở nguyên nhân (2) cũng không thể lũng đoạn, hay vũ lực ở nguyên nhân (3) cũng không tài nào xuyên phá được. ## TRANG 145 #### 6. Các bậc Thánh Tăng và các bậc cực thức thời đại Ava **Bậc Chân Nhân Tet-the: Vị đắc Thiền Định Thông và Sa-di Sumedha** Vào thời Vua Minh-khau-ky (Minkhaung I) trị vì vương quốc Ava (763–783 Miến lịch, khoảng 1401–1421 Tây lịch), có một vị trưởng lão trú ngụ tại Bagan được gọi là **Tet-the Thu-myat** (Bậc Chân nhân Tet-the). Một ngày nọ, Ngài đến gặp Vua Minh-khau-ky để xin miễn thuế cho các phương tiện vận tải tại Bagan. Vua thưa rằng: "Để tôi hỏi ý kiến Hoàng hậu Shin Bo-me đã." Ngài liền phán: "Này Đại vương, ông thuộc quyền sở hữu của Hoàng hậu đó sao?" Nghe thuật lại lời này, Hoàng hậu vô cùng tức giận, nói với Đức vua rằng: "Ông ta chỉ là kẻ tu hành, nếu là người phàm thì đã bị trị tội rồi." Ít lâu sau, Đức vua và Hoàng hậu cưỡi linh tượng Bo-khau đến Shwezigon (Bagan) để lễ bái. Ngài Tet-the cũng xuất hiện tại đó và nói: "Này con (A-saw), nếu muốn trị tội ta thì hãy trị tội ngay đi." Cả Đức vua và Hoàng hậu đều tái mặt kinh hãi vì nhận ra Ngài có tha tâm thông, nghe được cả những lời riêng tư giữa hai người. Về sau, khi cử người đến dò xét, người ta cho rằng vị trưởng lão này có thiên thần **Te-pa-thin** hộ trì và báo tin. Ngài cũng nổi tiếng là bậc "khẩu xà tâm phật" (lời nói linh ứng). Tác giả cuốn *Visuddhimagga Dipani* (Minh Giải Thanh Tịnh Đạo) xác nhận Ngài là bậc đắc Thiền Định và Thần Thông. Theo *Sử ký Twin-thin*, sau sự kiện đó, Đức vua đã phát tâm cúng dường bằng cách miễn thuế đúng như lời Ngài cầu xin. Ngoài ra, vào thời Vua Thalun (990–1010 Miến lịch, khoảng 1629–1648 Tây lịch), cũng xuất hiện một vị Sa-di nổi tiếng đắc Thiền Định Thông tên là **Sa-di Sumedha**, trú tại chùa Ma-hein thuộc vùng Pa-khang-kyi. Nghe danh vị đệ tử có thần thông, vị thầy của Ngài đã tìm một hạt quả gôn-nyin (một loại hạt dùng để chơi đánh sỏi) mà Sa-di Sumedha từng chơi lúc nhỏ, đem chôn tại một nơi cách đó hai ngày đường bộ, rồi bảo: "Con hãy đi lấy hạt gôn-nyin lúc nhỏ con hay chơi về đây." Theo sách *Sasanalamkara*, vị Sa-di đã đi và mang về chỉ trong chớp mắt. ## TRANG 146 **Bằng chứng tại Pa-khang** Liên quan đến vị Sa-di kiệt xuất Sumedha, ngày nay tại vùng Pa-khang-kyi vẫn còn những dấu tích lịch sử. Theo sách *Những điều cần biết về Pa-khang-kyi* (trang 140–141) của tác giả Pa-khang Kyaw: Nằm ngay sát hành lang phía Đông của đại tự viện Pa-khang là tu viện Kyauk-ka. Tu viện Kyauk-ka ngày nay vẫn rất sầm uất, với nhiều bảo tháp và công trình kiến trúc uy nghiêm. Đây được tương truyền là nơi trú ngụ của vị Thánh tăng Sa-di, người vốn sinh trưởng tại chính vùng Pa-khang-kyi và là đệ tử của Ngài trụ trì chùa Ma-hein năm xưa. Các văn bia ghi lại rằng Ngài là **Sa-di Depankara**, một vị Thánh Alahan đắc **Lục Thông và Tứ Phân Tích Thông** (Chaḷabhiñña Paṭisambhidāpatta) ngay từ khi còn là bậc Sa-di. (Tuy nhiên, danh hiệu của vị Sa-di này có sự khác biệt; trong sách *Pa-khang Kyaw* ghi là "Dipakandara"). Tu viện này cũng là nơi trú ngụ của Ngài Chaung-kauk Sayadaw **Ashin Saddhammanandi** danh tiếng. Trước đây nơi này có tên là Tu viện **Bhummizeyya**, nhưng sau khi thỉnh Ngài Ashin Saddhammanandi từ làng Kyauk-ka vùng Yaw về đây trụ trì, tên gọi đã được đổi từ Bhummizeyya thành Kyauk-ka như ngày nay. ## TRANG 147 **Những bậc kiệt xuất vùng Shwe-umin và Taung-phi-la (940–1012)** **Ngài Taung-phi-la Sayadaw** là một bậc cao tăng cực kỳ lỗi lạc thời Vua Thalun (990–1010). Ngay từ năm 15 tuổi, Ngài đã soạn tác tác phẩm *Vessantara Pyo*. Ngài còn biên soạn nhiều bộ luận như *Visati Vannana*, *Yasavaddhana Vatthu*, *Vinayalankara Tika*, các bản toát yếu *Abhidhammanyawa*, văn bia chùa *Kaung-hmu-daw*, các bản giải đáp thắc mắc của Vua Thalun (*Min-ame-daw-pon*) và bộ *Taung-nyun Kyauk-nyun*. Đến nay, những tác phẩm này vẫn vô cùng nổi tiếng. Trong cuốn *Byadhi Visela Kyauk-kyam* (của U Pan Tha), có chép rằng vào năm 806 Miến lịch thời Vua Sin-phyu-shin, tại các vùng Sagaing, Pinya và Ava xảy ra đại dịch đậu mùa khiến vô số người thiệt mạng. Đức vua đích thân đến lễ bái tại chùa Shwezigon và nghe được những lời tiên tri: "Tìm Taung-phi-la mới thấy; gió Bắc thổi về mới an; sẽ nâng tảng đá lớn." Vì tin theo điềm báo, Vua đã thỉnh **Ngài Taung-phi-la Sayadaw** đến để dâng vật phẩm cúng dường và cầu xin Ngài giúp đẩy lùi dịch bệnh. (Tuy nhiên, sự sai lệch về niên đại giữa các tài liệu cần được xem xét kỹ). Ngài còn biên soạn các y điển như *Dhatuvitthara*, *Sampanna Dhat-kyam*, *Mahanari Dhat-kyam*, *Kun-char Dhat-kyam*. Theo sử liệu *Pitaka Thamain*, Ngài cũng để lại những bài thơ giáo huấn *Taung-phi-la Paik-son*. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng dù soạn thảo y điển, Ngài không phải là một "vị tăng chữa bệnh" theo cách hiểu thông thường hiện nay. Đó chỉ là sự thực hành hạnh lợi tha (Lokanatthacariya) trong khuôn khổ giới luật và giáo pháp. Từ thuở thiếu thời, Ngài đã bộc lộ tài năng phi thường, xuất chúng hơn người, được mệnh danh là "Sa-di kiệt xuất" (Sa-man-ne Kyaw) và "Tỳ-kheo kiệt xuất vùng Pyay" (Pyay Pyin-zin Kyaw). Ngài được coi là hậu thân của vị Sayadaw chùa Shwe-kyaung vùng Si-taw thời Ava, người từng là thầy của 6 đời vua. Ngài sinh năm 940 Miến lịch tại Salin (cùng quê với vị Sayadaw chùa Si-taw). Dù sinh ra tại vùng tháp Tha-htun-u phía Đông thị trấn Salin, nhưng do loạn lạc người Shan, Ngài đã lánh từ Pyay sang Taungoo và theo học với **Ngài Dhammadharajaguru**. Ngài thọ giới Sa-di tại Pyay với pháp danh **Munindaghosa**. Khi thọ giới Tỳ-kheo, Ngài lấy hiệu là **Ashin Upali** (theo tên người chú). Sau này Ngài được ban tước hiệu **Tipitakalankara Rajaguru**. Sau khi đến Ava, Ngài thọ giới Tỳ-kheo lần nữa dưới sự hộ độ của lãnh chúa Yan Naing Hmu vùng Pyay và sự dẫn dắt của **Ngài Ashin Abhisinketa**. Ngài nổi danh là "Tỳ-kheo kiệt xuất vùng Pyay", thường xuyên luận đạo và so tài với vị "Tỳ-kheo kiệt xuất vùng Ava" (**Ariyalamkara**). Năm 977, Ngài trở thành bậc thầy quốc sư của Min-ye Kyaw-swa (em trai Vua Thalun). (Chi tiết xem thêm trong *Sasanalamkara*). ## TRANG 148 Kiến thức về pháp học (Pariyatti) của vị Thiền sư ấy quả thực không còn gì để bàn cãi, và điều này cũng được đông đảo mọi người công nhận. Do đó, tôi sẽ chỉ tuyển chọn và trình bày những phương diện tu tập (Paṭipatti) ẩn khuất nhưng đầy lòng tịnh tín của Ngài. ### Việc tìm kiếm hai dấu chân Phật (Saccabandha) Vào một thời nọ (tầm khoảng năm 1000 niên lịch Miến Điện), có người dâng tấu lên vua Thalun đề nghị tìm kiếm hai dấu chân Phật tại vùng sông Mann vốn đã bị thất lạc từ nhiều năm qua. Nhà vua lấy làm tâm đắc nên đã khởi thân đi tìm thánh tích này. Các bậc cao tăng như Ngài Thiền sư **Anantadhaja**, Ngài Thiền sư **Ariyālaṅkāra** và Ngài Thiền sư **Tilokālaṅkāra** cũng đi cùng đoàn. Đoàn khởi hành từ Hoàng thành Ava tiến về Minbu, băng rừng lội suối, leo đèo lội bộ tìm kiếm ròng rã nhiều ngày. Sau một thời gian, trong lúc đoàn đang tạm nghỉ chân tại làng Mashet gần khu vực dấu chân Phật, vào một đêm nọ, Ngài Thiền sư Taung-phila đã nằm mộng. Trong giấc mộng, có một người đàn ông đi cùng một con chó đen lớn đến gặp Ngài và hỏi: "Việc các Ngài đến đây thật là nguy hiểm. Rừng thiêng nước độc, cầm thú dữ tợn rất nhiều. Tại sao các Ngài lại muốn đến đây?". Ngài đáp rằng có các tài liệu cổ ghi chép về hai dấu chân Phật mà các vị minh quân thời trước vẫn thường đến tri kỷ, nên Ngài đến để tìm kiếm. Khi đó, người thí chủ thưa: "Nếu vậy, xin hãy đi theo con đường mà con chó đen này đi vào rừng, các Ngài sẽ tìm thấy". Ngài bừng tỉnh giấc. Sau khi thuật lại giấc mộng cho ba vị đồng hành, các Ngài cùng suy xét về việc Thiên tử Vissakamma (Tỳ-văn) từng hóa thân thành chó đen để dẫn đường trong thời kỳ giáo pháp suy tàn tại thành Bārāṇasī. Ngày hôm sau, họ tiến sâu vào rừng để tiếp tục tìm kiếm. Đúng như giấc mộng, các Ngài đã thấy một con chó đen lớn đi phía trước dẫn đường cho đến tận nơi có dấu chân Phật rồi mới biến mất. Khi các Ngài đến được bờ suối Mann, một vị dạ-xoa (Yakkha) hiện thân rõ rệt ra chào hỏi và tận tình chỉ dẫn vị trí chính xác của hai dấu chân Phật. Các Ngài đã nghỉ đêm trên đỉnh núi đó. Khi Ngài Thiền sư Taung-phila tụng đọc giáo pháp **Paṭṭhāna** (Thuyết Pháp Duyên Hệ), chư thiên đã tụ tập đến nghe pháp. Ngài hỏi vị thiên đại diện ở gần đó: "Ngươi là ai?", vị ấy thưa: "Con là một vị chư thiên **Sotāpanna** (Bậc Thánh Dự Lưu)". Ngài hỏi tiếp: "Ngươi có từng gặp Đức Thế Tôn không?", vị ấy đáp: "Dạ có". Ngài lại hỏi: "Kinh **Paṭṭhāna** mà ta đang tụng đây có đúng với lời Phật dạy không?". ## TRANG 149 Vị chư thiên đáp: "Giống như cá mắm thối được bao bọc bởi nhiều lớp lá, thì lớp lá ngoài cùng cũng sẽ có mùi giống hệt vậy". Ngài liền quở: "Ngươi tự xưng là chư thiên **Sotāpanna** mà sao lời lẽ lại thô thiển như thế. Kinh **Paṭṭhāna** ta tụng hoàn toàn đúng với lời Phật dạy. Nếu lời ta nói là sai, nguyện cho luân xa thiên lôi giáng xuống đầu ta". Khi đó, vị chư thiên liền thưa: "Con quả thật là bậc **Sotāpanna**. Kinh pháp **Paṭṭhāna** của Đại đức cũng hoàn toàn đúng với lời Phật dạy. Con chỉ vì muốn Đại đức nỗ lực tinh tấn không ngừng nghỉ nên mới mạo muội thưa như vậy, xin Đại đức rộng lòng tha thứ", rồi vị ấy biến mất. Sau đó, Ngài lấy tấm y Pāṃsukūla (y phấn tảo) đắp lên dấu chân Phật và phát nguyện: "Nếu con chắc chắn sẽ thành Phật trong vị lai, xin cho 108 tướng hảo của dấu chân Phật hiện rõ trên tấm y này". Tấm y bỗng nhiên cuộn cao lên như hình chim hạc. Ngài giải điềm rằng: "Cần phải nỗ lực (Kyoe), nhưng sẽ còn lâu (Kyar)". Sau khi dùng sợi chỉ đo đạc kích thước của hai dấu chân Phật mang về, Ngài đã dâng lên để đức vua tôn thờ. ### Nếu sợ hãi, hãy ở rừng một mình Câu chuyện về việc Ngài Thiền sư Taung-phila trên đường trở về từ thánh tích dấu chân Phật đã đến thăm Ngài Thiền sư Shwe-u-min đã đi vào sử sách. Ngài Thiền sư Shwe-u-min bấy giờ thường sống ẩn dật tại thành Pakhangyi với duy nhất một người nam cư sĩ phụ tá (Kappiya). Phân đoạn gặp gỡ giữa Ngài Thiền sư Shwe-u-min đạo hạnh và Ngài Thiền sư Taung-phila vô cùng thú vị và đầy sự tịnh tín. (Chùa Shwe-u-min nằm ở phía bắc thành phố). Tôi xin trích dẫn nguyên văn đoạn này từ tác phẩm nổi tiếng "Sīlavisodhanī" (trang 85-88) của Ngài Thiền sư Namaw đời thứ ba, hiệu là Đại đức **Vinandāsabha**, viết vào năm 1199: [ Các vị Thiền sư trụ trì chùa Maṇiratana, chùa Pubbārāma và Ngài Thiền sư Shwe-u-min hiệu là **Jambudhaja** ở Pakhang đều là thầy của tất cả các bậc giáo thọ sư đương thời. Về mặt kinh điển, không ai vượt qua được các Ngài; kiến thức của các Ngài vô cùng sâu rộng và xác thực. Dưới triều vua Thalun, Ngài Thiền sư **Taung-phila-kyaw**, quốc sư của đức vua, đã đích thân tìm đến hang động Wak-kya ở Pakhang Sāgara – nơi Ngài Thiền sư hiệu là **Jambudhaja**, người đã soạn thảo các bộ Chú giải (**Aṭṭhakathā**) và Bản dịch (**Nissaya**) cho **Năm bộ Luật** (**Vinaya**), đang cư ngụ. Ngài Taung-phila đến mang theo nhiều lễ vật với ý định: "Ta sẽ đến đối chiếu bản dịch **Vinaya Nissaya** do ta soạn với bản của vị ấy". ] ## TRANG 150 Khi đó, Ngài Shwe-u-min đang sống với đồ dùng thanh bạch, chỉ có một người đệ tử cư sĩ phục vụ. Thấy vị Quốc sư cùng đông đảo tùy tùng đến thăm mà trong hang không có gì để trải làm chỗ ngồi trang trọng, Ngài đã lấy tấm **Cammakhaṇḍa** (tấm da lót ngồi) của mình ra phủi bụi rồi trải xuống mời khách. Hai bậc trí giả đã chào hỏi nhau một cách thân tình, chân thành và đầy trách nhiệm. Sau khi kết thúc những lời thăm hỏi xã giao (**Sāraṇīyakathā**), vị Quốc sư nói: "Trông Ngài có ít người tùy tùng quá. Xin Ngài đừng sợ hãi (khi sống nơi hoang vắng này)". Ngài Shwe-u-min liền đáp lại: "Chính vì sợ hãi nên tôi mới ở nơi rừng sâu với ít người thế này". Ngài Quốc sư nghe vậy liền thầm nghĩ: "Ồ, hóa ra ta lại là kẻ không biết sợ (sinh tử luân hồi) sao?". Sau đó, Ngài Quốc sư đích thân cầm các lễ vật dâng cúng và thưa: "Bạch Đại đức, đây là bộ y, là vật phẩm cao quý nhận được từ đức vua, giống như tấm y **Dukuṭa** (y tăng-già-lê hai lớp) mà Đức Thế Tôn đã ban cho Ngài **Mahā Kassapa**. Xin Ngài hãy thọ dụng để làm lợi lạc cho vòng luân hồi". Ngài Shwe-u-min nhận lấy bằng tay rồi nói: "Sādu, Sādu! Tôi xin cúng dường lên bảo tháp Shwezigon", rồi đặt sang một bên. Đối với tất cả các vật phẩm khác được dâng cúng, Ngài đều thực hiện tương tự. Thấy vậy, Ngài Quốc sư tự nhủ: "Ồ, vì ta là Quốc sư (được vua sùng bái) nên vị ấy có chút e dè về vật dụng của ta (nghi ngại về mặt **Luật** tịnh vật) nên mới làm như vậy". Tuy nhiên, Ngài Quốc sư không hề nảy sinh tâm sân hận hay tự ái. ### Dùng Pháp để khai thị Về phần Ngài Shwe-u-min, Ngài tâm niệm rằng: "Vị Đại đức này tuy là Quốc sư của đức vua nhưng đã không quản ngại thân chinh đến đây để cúng dường ta với rất nhiều lễ vật. Ta không có vật chất tương xứng để đáp lễ, vậy ta sẽ dùng lời giáo giới (**Anusāsanī**) cao quý để cúng dường lại Ngài, giúp Ngài có thể buông bỏ lợi dưỡng và tùy tùng để tìm cầu lợi ích của việc độc cư nơi lâm dã". Ngài nói như vậy không phải vì ghét bỏ vật dụng dâng cúng, mà mang một ý nghĩa khác: "Tuy đã đắc được thân phận Sa-môn khó đắc, nhưng nếu cứ mãi đắm mình trong danh xưng Quốc sư thì chẳng có lợi ích gì. Ta phải giúp Ngài tìm cầu cái thực sự có ích". ## TRANG 151 Sau đó, Ngài (**Shwe Umin Sayadaw**) đã mượn và xem bản chú giải Luật Tạng (Vinaya Nissaya) do Ngài (**Taungphila Sayadaw**) biên soạn, rồi ngẫm nghĩ rằng: "Bản chú giải do ta soạn thì quá rộng (chi tiết), còn bản của vị này lại súc tích. Chỉ cần mức này thôi cũng đủ làm chỗ nương tựa cho hậu thế rồi. Nếu tồn tại cả hai bản, giống như trong thế gian có hai đức Phật cùng xuất hiện đồng thời, chúng sinh sẽ chỉ tranh cãi xem vị Phật nào cao quý hơn, dẫn đến tranh chấp vô ích mà không mang lại lợi lạc gì." Nghĩ vậy, Ngài đã mang bản chú giải do chính mình biên soạn đến trước bảo tháp và thiêu hóa để cúng dường, rồi trở về. Sau đó, một vị cư sĩ hộ độ đi đến gần Ngài **Shwe Umin** và hỏi rằng: "Bạch Ngài, trong Giới luật có dạy rằng khi một người có đức tin dâng cúng tịnh tài, vị Tỳ-kheo không được từ chối mà không thọ dụng, hoặc không được đem cho người khác ngay trước mặt người thí chủ. Nếu làm vậy là phá hủy đức tin của họ, gọi là phạm lỗi '**Saddhādeyya Vinipātana Dukkaṭa**' (tội ác tác do làm hỏng vật phẩm cúng dường bằng đức tin) có đúng không? Tại sao khi đức vua (vị thầy của nhà vua) đích thân đến dâng cúng tịnh vật, Ngài lại không ngần ngại mà đem cúng dường vào tháp Shwezigon ngay trước mặt người? Chẳng lẽ Ngài không giữ gìn (lòng tin của thí chủ) hay sao?" Ngài đáp rằng: "Này thiện nam, ta có giữ gìn đấy chứ. Ta đang giáo huấn thầy của ngươi đó thôi. Nếu từ đây trở về mà thầy của ngươi vẫn dám bước vào ngôi chùa Sitgu Lay-tat-gyi (nơi ông ấy ở) thì ông ấy quả là bậc trượng phu (người có bản lĩnh phi thường) trong thiên hạ." (Trong sách Sīlavisodhanī chép rằng Ngài **Shwe Umin** là bậc đàn anh; còn sách Sāsanālaṅkāra lại nói hai Ngài bằng tuổi nhau.) Sau khi hai vị Đại Trưởng lão lừng danh trong lịch sử Giáo hội đàm đạo và chào hỏi thân thiết, lúc Ngài Taungphila xuống chùa trở về, Ngài **Shwe Umin** đi tiễn. Khi đó, Ngài **Taungphila Sayadaw** – vốn là Quốc sư – đã khiêm cung nói rằng: "Tôi là Quốc sư. Xin hiền hữu hãy đi phía trước." Ngài nói vậy vì sợ rằng mọi người sẽ nghĩ Ngài tự phụ vì là thầy của vua mà đi trước. Ngài **Shwe Umin** cũng thưa lại: "Hiền hữu là Quốc sư, xin mời đi trước." Ngài đáp lời như vậy vì lo rằng người ta sẽ nghĩ Ngài không tôn kính Quốc sư nếu Ngài bước đi phía trước. Những lời đối đáp thanh cao và khiêm nhường giữa hai bậc vĩ nhân này đã trở thành một giai thoại đẹp đẽ, một dấu ấn cát tường trong lịch sử Giáo hội. Cách hành xử, sự giáo hối đầy văn minh của hai bậc trí giả tài đức, và cách vị được giáo hối học tập một cách cung kính, nhu nhuyễn, không màng đến danh dự thế gian, thật là điều đáng tán dương khôn xiết. Sau khi trở về, Ngài **Taungphila Sayadaw** cảm thấy hổ thẹn vì danh vị Quốc sư cư ngụ nơi làng mạc (Gāmavāsī), nên Ngài đã quyết định đi vào rừng sâu, tìm nơi tĩnh mịch tại khe núi phía Đông dãy núi Minwun (nay là núi Sagaing). ## TRANG 152 Ngài đã vào ẩn tu tại khu rừng **Taungphila**. Đó là ngày rằm tháng Táp-tu (Tabaung), năm 1000 theo lịch Myanmar, khi Ngài vừa tròn 60 tuổi. Hai anh em nhà vua vì muốn tìm Ngài để cúng dường, đã hứa rằng "ai tìm thấy Ngài trước sẽ được xây dựng chùa". Cuối cùng, **Min-ye-kyaw-swa** (em trai vua **Thalun**) đã tìm thấy Ngài và được phép xây dựng ngôi chùa vàng bốn tầng Jetavana để dâng cúng. Vào năm 1003, Ngài cũng cho xây dựng một bảo tháp để thờ phượng. Tương truyền rằng mỗi tháng bốn lần, chư thiên thường hiện xuống dâng vật phẩm cúng dường lên Ngài. ### Một đêm với người thiếu nữ Thời gian Ngài **Taungphila** tu hành trong rừng, đã xảy ra một sự kiện kỳ lạ đến mức khó tin. Ở đời, bất kể công việc nào cũng thường nảy sinh những khó khăn không ngờ tới. Những khó khăn đó có khi xuất hiện từ những nơi không ai ngờ, như câu nói "lửa bùng lên từ hũ nước cúng". Không lâu sau khi Ngài vào rừng ẩn tu, một trở ngại hy hữu đã xuất hiện, thử thách bản lĩnh của Ngài. Lúc bấy giờ, vùng Sagaing, Pinya và Inwa đang trải qua trận hạn hán trầm trọng. Cả đất nước lâm vào cảnh thiếu hụt lương thực. Sự bất lương gia tăng, dân chúng không ai dám đi lại vào những giờ giấc bất thường. Vào một buổi hoàng hôn mờ ảo, có một cô gái tóc tai rũ rượi, quần áo rách rưới, hớt hải chạy về phía chùa rừng **Taungphila**. Dáng vẻ cô thật đáng thương, nhưng diện mạo và trang phục trông rất khác biệt. Lúc đó, Ngài vừa rời khỏi nơi đi kinh hành gần hồ nước giữ nước núi chảy xuống và đang chuẩn bị vào lễ bái trước tượng Phật, thì cô gái chạy xộc tới như muốn ôm chầm lấy Ngài, miệng kêu cứu: "Bạch Ngài, xin cứu mạng con!" Dù mặt trời đã lặn, nhưng ánh trăng mờ vẫn đủ để nhìn rõ hình dáng tội nghiệp của cô gái. Ngài khẽ thốt lên: "Ôi... thật là khổ nạn." Cô gái vừa khóc vừa thưa: "Con gặp nạn giữa đường, xin Ngài cho con được ở lại chùa đêm nay." Ngài rơi vào tình cảnh khó xử: đuổi một người đang gặp nạn ra giữa rừng sâu núi thẳm đêm hôm thì không đành, mà nhận cho ở lại chùa thì lại trái với quy tắc. Ngài thốt ra lời: "Chùa của bậc tu hành, phụ nữ ở lại sao cho tiện," nhưng trong tâm Ngài biết rõ lúc này không thể chối từ, nên vô cùng bối khoăn. ## TRANG 153 "Chỉ một đêm nay thôi, bạch Ngài," tiếng nói của cô gái xen lẫn tiếng nấc, chất chứa sự khẩn cầu thiết tha. Ngài im lặng hồi lâu, thở dài suy nghĩ. Sau cùng, Ngài tìm ra một giải pháp để an lòng và cho phép cô được ngủ ngoài hành lang phía ngoài chùa (Samyin). Sau khi sắp xếp chỗ nghỉ, Ngài đi lên sân bảo tháp **Taungphila** để lễ Phật, hồi hướng công đức và trải lòng từ đến chư thiên hộ trì núi rừng. Dù không muốn trở lại ngôi chùa nhỏ nhưng cũng không thể đứng mãi bên ngoài, bước chân kinh hành của Ngài đã không còn giữ được nhịp đều đặn như trước. Cuối cùng, Ngài bước vào chùa, chỉ nói vỏn vẹn: "Này cô, hãy ngủ ở đó đi", rồi cài then cửa thật chặt, ở phía trong bắt đầu hành thiền quán tưởng. Nhưng tâm Ngài không được thanh tịnh như mọi khi. Hơi thở ra vào trở nên dồn dập hơn. Ngài tự trấn an rằng "mọi chuyện xảy ra đều có lý do tốt đẹp của nó", rồi thắp một ngọn đèn dầu treo giữa phòng. Ngài quyết tâm tỉnh giác không ngủ suốt đêm nay, vì Luật Tạng dạy rằng: "Tỳ-kheo không được ngủ cùng dưới một mái nhà với phụ nữ." Ngài tự nhủ: "Vì ngươi đến mà ta phải thức trắng đêm quán Pháp", rồi Ngài thu thúc tâm ý, chuẩn bị cho một đêm hành thiền. Dù trong tu tập, mỗi khi gặp khó khăn là một cơ hội để tiến hóa, nhưng vượt qua được những thử thách này quả thực không hề dễ dàng. Chỉ khi có được thành trì nhẫn nại (Khanti) vững chắc mới có thể đứng vững. Vừa lúc Ngài bắt đầu đạt được định tâm thì có tiếng đập cửa. Cô gái vì quá sợ hãi và lạnh lẽo, run rẩy xin được vào trong nhà ngủ. Sau khi cân nhắc kỹ lưỡng, lòng bi mẫn đối với một chúng sinh đang gặp khổ nạn đã chiến thắng, Ngài đành cho cô vào. Lần này Ngài lại đi ra ngoài hành lang để ngồi thiền. Nhưng chẳng bao lâu, cô gái lại kêu sợ không dám ngủ một mình nên Ngài phải vào lại bên trong. "Cô... cứ ở yên đó, đừng có nói năng gì thêm nữa!" Ngài chỉ cho cô một góc phòng rồi quát lên bằng giọng cứng cỏi để che giấu sự bối rối. Cô gái co rùm lại trong một góc chùa, cố gắng dùng tấm áo rách và chiếc sà-long cũ kỹ để che đậy thân mình. Dưới ánh đèn dầu mờ ảo, dù Ngài không chủ ý nhìn, nhưng đôi mắt to tròn long lanh như mắt nai của cô gái trẻ trong độ tuổi xuân thì vẫn hiện rõ trước mắt. Ngài đành quay mặt đi, xoay lưng lại và tập trung theo dõi hơi thở ra vào như đang kéo một sợi dây thừng. Dù rất muốn nằm xuống hay đi kinh hành cho đỡ mỏi, nhưng nhưng lại phải nhắm mắt ngồi im. ## TRANG 154 Hễ khi nào chánh niệm khởi lên, Ngài lại hướng tâm vào những đề mục quán tưởng về sự kinh động (saṁvega) và sự bất tịnh (asubha). Bất chợt, câu chuyện về đạo sĩ trẻ Isisinga hiện ra trong tâm trí, Ngài tự trấn an mình: "Ta là đệ tử của Đức Thế Tôn, đã ngoài 60 tuổi và cái chết đã cận kề". Chốc chốc, tiếng rên rỉ của người phụ nữ lại vang lên. Thiền sư không hỏi han bất cứ điều gì, Ngài chỉ giữ tâm xả (upekkhā) mà an trú. Tiếng chuông gió từ bảo tháp Taungphila luôn văng vẳng bên tai Ngài. Thỉnh thoảng, tiếng vỗ cánh bay đi trong hoảng hốt của lũ chim bồ câu rừng như đang phác họa lên một kiếp sống đầy rẫy bất an. Dưới ánh trăng thanh, tiếng chim đêm vui đùa vô tư lự nghe thật êm đềm. Ngài lại nghe thấy tiếng sủa và tiếng chạy tán loạn của loài chó rừng và bầy hươu nai vì sợ hãi trước mối hiểm nguy từ loài báo dữ. "Nếu có bị hổ vồ chết thì cũng chỉ là một kiếp thân này mà thôi", Ngài hướng tâm suy xét như vậy. Với người có tiêu hóa tốt, mọi đồ ăn thức uống đều trở thành sức mạnh. Với bậc hữu trí hữu niệm, mọi cảnh trần gặp phải đều là giáo pháp. Trời dần về sáng, tinh thần của Thiền sư càng thêm phấn chấn. Ngài đã nghe thấy tiếng chuông đá từ bảo tháp Punnyashin vang lên trầm mặc từ phía xa. "Trời ơi, xin Thiền sư cứu con với, con chết mất thôi!" Trước tiếng kêu cứu đó, Thiền sư hỏi: "Này thí chủ, lại có chuyện gì nữa vậy?" Ngài vừa hỏi vừa cầm lấy chiếc đèn dầu bước đến gần, thấy người phụ nữ đang run cầm cập với vẻ mặt bệnh hoạn. "Buddha, Buddha", Ngài lẩm bẩm rồi quay mặt đi chỗ khác: "Ta chẳng có thuốc men gì cả. Trời sắp sáng rồi, hãy nhẫn nại và hướng tâm về Đức Phật đi." Cô ta dường như định lao tới ôm chặt lấy bắp chân Ngài. Ngay lúc ấy, Ngài nảy ra một ý định, liền đi lấy con dao nhỏ vốn dùng để gọt tăm cắm trên vách chùa. Rồi Ngài tự rạch vào bắp chân mình. Dòng máu tươi tuôn ra xối xả. Người phụ nữ vốn đã sợ hãi từ lúc Ngài cầm dao, giờ thấy cảnh máu chảy thì vô cùng kinh hãi và bàng hoàng. "Cúi xin Ngài tha lỗi cho con, con đã sai rồi!" Cô ta phủ phục đảnh lễ Ngài. Chẳng bao lâu sau, trời sáng rõ, người phụ nữ lẳng lặng rời đi. Ngay khi cô ta vừa đi khỏi, từ đằng xa lại vang lên những tiếng người xôn xao chưa từng nghe thấy trước đây. Một lúc sau, những âm thanh đó im bặt. Mọi chuyện diễn ra thật kỳ lạ và ly kỳ ngoài sức tưởng tượng. Căn nguyên là vì có một số vị quan tâu với nhà vua rằng nạn hạn hán xảy ra là do giới đức của Thiền sư Taungphila quá tinh nghiêm. ## TRANG 155 Ban đầu nhà vua chưa tin, nhưng các vị quan lại dẫn chứng câu chuyện tiền thân Alinika (Alinnakara Jātaka), kể rằng vì đạo sĩ Isisinga tu hành khổ hạnh quá kiên trì khiến vương quốc Kāsī bị hạn hán suốt ba năm, đến mức Thiên chủ Sakka cũng phải bảo công chúa Alinika của vua Bārāṇasī đi phá hỏng đạo hạnh của đạo sĩ. Cuối cùng nhà vua cũng tin theo và sai một vị công chúa có nhan sắc diễm lệ phối hợp cùng quân lính đi thực thi kế hoạch. Chuyện nghịch lý như vậy vẫn thường xảy ra trong cõi đời là lẽ tự nhiên. Vị công chúa cũng phải tâu với vua rằng: "Con đã làm theo lời dạy, đã dùng nhan sắc cám dỗ và phá hỏng giới hạnh của Thiền sư Taungphila rồi" để tránh khỏi bị tội. Những loại tin đồn thất thiệt như thế này thường lan đi rất nhanh mà chẳng tốn một xu quảng cáo. Người tin thì tin, người không tin thì vẫn chẳng tin. Khi đó, nhà vua cùng tùy tùng kéo đến vờ như muốn làm phước. Ngài chỉ ra bắp chân vẫn còn quấn băng vải rách, rồi cầm lấy con dao nhỏ mà tuyên thệ: "Nếu giới đức của ta bị hoen ố, xin cho con dao này khi ném xuống nước sẽ bị chìm ngay lập tức. Nếu giới hạnh của ta vẫn thanh tịnh, xin cho nó được nổi lên và bơi lội trên nước." Thiền sư đã thực hiện lời thề (Sacca-adhiṭṭhāna) ngay tại hồ nước Taungphila. Con dao sau khi ném xuống đã lướt đi và bơi lội tung tăng trên mặt nước như một chú cá. Thiền sư viên tịch vào năm 1012 (Miến lịch), hưởng thọ 72 tuổi. Đến tận ngày nay, tại khu tu viện rừng đó vẫn còn hồ nước mang tên "Hồ Dao Bơi". Năm 1228, bà hoàng hậu Sein Tone (vợ vua Mindon) đã cho trùng tu hồ nước cũ này và có dựng bia đá ghi lại sự việc mà chính tác giả đã tận mắt sao chép được. Tại tu viện Taungphila, người ta vẫn còn thấy hai dấu chân Phật (Buddhapāda) mô phỏng từ thời đó đang nằm lộ thiên giữa rừng. Trong phần kết của bộ luận **Vinayālaṅkāra Ṭīkā**, Thiền sư đã phát nguyện chứng đắc đạo quả **Chánh Biến Tri (Sammāsambuddha)** và nguyện sau khi thác sinh làm vị thăng thiên (Rukkha-deva) tại núi Gandhamādana để tiếp tục hỗ trợ các vị minh quân hộ trì Phật pháp. (Dựa trên lịch sử truyền thừa và tư liệu về vùng núi Sagaing do cụ U Ba Tin viết năm 1297, tôi đã biên soạn lại theo lối văn phong hiện đại nhưng vẫn giữ nguyên cốt truyện gốc cho quý độc giả dễ theo dõi – Tác giả). Hết phần thứ nhất. ## TRANG 156 ## TRANG 157 **THỜI ĐẠI KONBAUNG** (Từ thời Vua Alaungmintaya đến sau thời kỳ Mandalay) --- ## TRANG 158 **THIỀN QUÁN PHÂN TÍCH TỰ TÁNH ABHIDHAMMA (VÔ TỶ PHÁP)** “Theo đúng giáo lý **Satipaṭṭhāna** (Tứ Niệm Xứ), đối với những vị hành giả hằng quán chiếu và hay biết không gián đoạn danh sắc đang sinh khởi trong từng sát-na, thì con đường thực hành Bát Chánh Đạo – vốn cần được tu tập và phát triển theo kinh điển là ‘**Cakkhukaraṇī, Ñāṇakaraṇī**’ – sẽ giúp ‘mở ra tuệ nhãn, làm phát sinh tri kiến’. Điều này hiển lộ rõ ràng thông qua kinh nghiệm tự thân của họ. “Liệu trí tuệ đặc biệt như vậy có thể phát sinh chỉ bằng cách học thuộc lòng và tư duy theo những gì kinh điển Abhidhamma đã trình bày hay không? Liệu có thể có cái thấy biết vượt trội hơn những gì vốn đã học thuộc trước đó? Nếu bỏ mặc không suy xét, không quán chiếu, thì ngay cả những gì đã học chẳng phải cũng sẽ bị mai một hay sao? Tại sao lại như vậy? “Bởi lẽ đó rõ ràng chỉ là cái biết của Tưởng (Saññā-ñāṇa) do học thuộc, chứ không phải cái biết của Tuệ (Paññā-ñāṇa) do tự thân chứng nghiệm.” — Đại trưởng lão Mahāsi Sayadaw (Kinh Chuyển Pháp Luân, trang 122-3) --- ## TRANG 159 **NHỮNG ĐIỀU CẦN GHI NHỚ ĐẦU TIÊN CHO MỖI HÀNH GIẢ** **KẺ THÙ VÀ BẠN HỮU** Trong việc trình bày “Lịch sử Truyền thừa Pháp hành tại Miến Điện” này, có hai điểm chính mà chúng tôi muốn các vị thông suốt: 1. **Kẻ thù**. 2. **Bạn hữu**. “**Kẻ thù**” ở đây muốn nói đến những chướng ngại (phần tử quấy nhiễu) khác nhau mà vị hành giả chắc chắn sẽ ít nhiều gặp phải trong quá trình thực hành. “**Bạn hữu**” chính là những năng lực tự nhiên (Ni-yā-ma) mạnh mẽ và sắc bén nhất trong việc loại bỏ những phần tử quấy nhiễu đó. Thông thường, cả hai loại này đều không thể nhìn thấy bằng mắt thường, nên khó lòng tin được. Dù hành giả đang tự mình nếm trải, nhưng vẫn không biết đâu là kẻ thù, đâu là bạn hữu. Do đó, dù có dốc lòng nỗ lực suốt nhiều năm, nhưng đường đi không tới, khổ công bao nhiêu vẫn không tiến bộ, chẳng khác nào đang chạy trong giấc chiêm bao. Kẻ thù vốn có nhiều mưu chước, cương vực thống trị của nó vô cùng rộng lớn. Những kẻ đồng minh của nó – dù hữu hình hay vô hình – đều nhiều vô kể, thủ đoạn lại tinh vi. Trong cõi quốc độ của nó, giữa bao nhiêu thuộc hạ làm theo sai khiến của nó, vị hành giả chỉ có một mình. Nếu không có bậc Đại nhân (Mahāpurisa) – người có khả năng khơi dậy những nguồn năng lực tự nhiên vĩ đại – xuất hiện, thì thật là nan giải. **Kẻ thù** xâm nhập từ đâu? Hành giả có ba cửa (thân, khẩu, ý), chúng đi vào từ đó. Chúng bám chặt vào thân, chế ngự lời nói, và che mờ tâm trí. Nếu đã như vậy, người hành giả đơn độc kia liệu có dám nương tựa vào thần dân và đồng minh của kẻ thù? Con cái, cha mẹ cũng chỉ là tạm thời; thầy trò cũng chỉ là danh xưng thế gian. Nếu lỡ nương tựa vào những người đó, khi tham ái, sân hận và si mê trong họ lớn dần, họ có thể gây ra khổ lụy như ngọn lửa bùng lên từ bình nước cúng dường. Hành giả chỉ có một mình. Được rồi, nếu nói rằng “tôi chỉ nương tựa vào chính mình thôi”, thì hãy xem xét: những hành vi mà hành giả đang làm hiện nay, liệu có thực sự là những hành động xuất phát từ bản tính tự nhiên và sự yêu thích chân thật của hành giả? Những lời thốt ra từ miệng, liệu có phải là lời tự thân hành giả muốn nói? Thậm chí, những suy nghĩ đang ấp ủ trong tâm lúc này, liệu có phải là những tư duy thuận theo ý muốn của đức Phật, phù hợp với bản tâm thuần khiết và đúng với tinh thần **Majjhima Paṭipadā** (Trung Đạo) hay không? Tư duy là thứ có quyền năng mạnh mẽ nhất trên thế gian. Đó chính là **Manokamma** (Ý nghiệp). Nó chính là tâm thức luôn mải mê tìm kiếm một điều gì đó để hiện thực hóa. ## TRANG 160 Một khi cái tâm ấy đã ưa thích, nó sẽ dấn thân không lùi bước. Ý nghĩ đó có thể hủy diệt cả thế giới, nhưng cũng chính nó là thứ có thể kiến tạo nên một thế giới mới. (Trích Trung Bộ Kinh, Kinh Upāli và Kinh Pháp Cú) Đối với đời sống của một hành giả, cái tâm ấy có khả năng tạo ra những biến chuyển kỳ diệu một cách dễ dàng. Những thế lực hùng mạnh của cõi thế gian (Loka-yatta) – vốn là những kẻ luôn kéo ghì chúng sinh trong vòng luân hồi – khi hiểu thấu mãnh lực của tâm (aññā), họ sẽ tận dụng những điểm yếu để tâng bốc, đe dọa hoặc mê hoặc nhằm lôi kéo hành giả. Do đó, đối với một hành giả, sự chướng ngại không chỉ đơn thuần là chuyện ma nhát quỷ nhương, mà nó giống như một ván cờ vây hay cờ tướng, đầy rẫy những cạm bẫy tinh vi đánh vào những chỗ sơ hở để từng bước thâm nhập. Tuy nhiên, dù vô minh có to lớn và dày đặc đến đâu, nó cũng không bao giờ có đủ sức mạnh bằng minh (vijjā). Dù các chướng ngại có nhiều đến mấy, dù những chiêu trò lừa mị có xảo quyệt đến đâu, ta cũng không cần phải bận tâm. Nếu có thể nhận được sự trợ giúp từ những nguồn năng lượng thuận tự nhiên, ta có thể dễ dàng nghiền nát và đập tan mọi trở lực để giành lấy chiến thắng. Chẳng phải một thành phố dù rộng lớn đến đâu cũng có thể bị thiêu rụi thành tro bụi chỉ trong chớp mắt bởi một que diêm nhỏ bé đó sao? Khi một hành giả có niềm tin kiên cố và nắm bắt được một nguồn năng lượng tự nhiên nào đó, những nguồn lực vô biên cùng bản chất trong khắp các cõi giới sẽ tuôn chảy mãnh liệt như đê vỡ, giúp hành giả dẫm nát và tiêu diệt kẻ thù. Chính hành giả sẽ phải kinh ngạc trước thực tại đó. Chẳng phải Đức Phật toàn giác cũng đã từng sử dụng và phô diễn những nguồn năng lượng tự nhiên vô song và không giới hạn này đó sao? Điều đáng tiếc là chính các hành giả thường không nhận diện được đâu là kẻ thù, đâu là bạn đồng hành, rồi tự mãn rằng “ta đang làm việc tốt” mà sinh lòng cao ngạo, thiếu hiểu biết, thiếu đức tin và sống hờ hững. Chính lúc đó, trái tim của hành giả đã rơi vào tay kẻ thù. (*“Này các Tỳ-kheo, kẻ còn chấp ta là đang bị Ma vương trói buộc”* - Kinh Yavakālāpī, Tương Ưng Bộ 4, trang 410). ### Giáo pháp đầy rẫy hiểm nguy Giáo pháp Vô ngã (Anatta) tràn đầy những hiểm nguy. Ngay từ khi hạt giống mới nảy mầm, sâu bọ đã chực chờ cắn phá. Trong một thế giới vốn đầy rẫy bản ngã (Atta), người gieo hạt giống Vô ngã chính là Thái tử Siddhattha. Ngay cả phụ hoàng của Ngài cũng không mong muốn Ngài thành Phật. Vì mong mỏi con mình trở thành một vị Chuyển Luân Thánh Vương, đức vua Tịnh Phạn đã vô tình tạo ra một “điểm yếu” để các thế lực chướng ngại bám vào. ## TRANG 161 Chính bản thân đức vua Suddhodana (Tịnh Phạn) cũng không hề hay biết điều này. Tuy nhiên, những bậc có tuệ nhãn đã nhìn thấy rõ. Họ đã sớm sắp đặt thế trận và thâm nhập vào. Khi ấy đức vua Tịnh Phạn đã làm gì? Ông đã tính kế để Siddhattha không thể thành Phật. Ông vây quanh Thái tử bằng các cung phi, nhạc nữ, những người hầu hạ khéo léo để che mắt Ngài. Ngài bị bao bọc bởi tầng tầng lớp lớp mỹ nữ, cốt để dìm Ngài thật sâu trong dục lạc thế gian. Đức vua Tịnh Phạn cứ ngỡ mình đang làm theo ý định của riêng mình, nhưng thực chất ông đã trở thành công cụ cho kẻ thù mà không hề hay biết. Lại nói về đạo sĩ Koṇḍañña (Kiều-trần-như), người hết sức tin tưởng vào kiến thức Vệ-đà của mình và đặt trọn kỳ vọng vào Thái tử. Với niềm tin tuyệt đối rằng “Siddhattha chắc chắn sẽ thành Phật”, ông đã chịu khổ hạnh trong rừng hơn ba mươi năm để hộ trì Bồ-tát, vậy mà ngay sát thời điểm Ngài chuẩn bị thành đạo, ông lại quay lưng bỏ đi. Sự thay đổi của Koṇḍañña diễn ra quá nhanh chóng; dù là người có tri thức thế gian và nghị lực phi thường, nhưng vì sự chấp thủ (điểm yếu) vào con đường khổ hạnh cực đoan (Attakilamathānu-yoga) đang thịnh hành thời bấy giờ, ông đã vô tình hành động đúng theo ý đồ của thế lực chướng ngại. Thêm vào đó, ngay cả chính vị Bồ-tát cũng có lúc khởi lên một niệm sai lầm, hoặc nói cách khác, do sự dẫn dụ vô hình của kẻ thù mà Ngài đã dấn thân vào con đường sai lầm suốt 6 năm ròng rã cho đến khi sức cùng lực tận. Lúc bấy giờ, thế gian không thiếu những vị đại tiên có thần thông có thể thấu suốt bốn mươi đại kiếp quá khứ và vị lai (Luật tạng chú giải 1, 130; Thanh Tịnh Đạo 2, 41). Cũng có những vị thiên thần hộ địa muốn mang lại sự hưng thịnh cho thế gian. Vào những lúc như vậy, việc bảo vệ giáo pháp bản ngã chính là trách nhiệm lớn lao của họ. Vượt qua muôn vàn trở ngại và khó khăn đó, Bồ-tát cuối cùng cũng đã tiến về cội Bồ-đề và tòa Kim Cang. Ngài sắp sửa thành Phật. Vào khoảnh khắc đó, các thế lực bản ngã đã huy động toàn bộ binh lực và khí giới mà họ có. Ma vương không hề chậm trễ, hắn đích thân ra tiền tuyến. Với đạo binh và khí giới vô biên, hắn hòng chiếm đoạt tòa Kim Cang. Không phải vì hắn muốn ngồi lên đó, mà vì hắn sợ Ngài thành Phật. (Một số học giả Pali ở châu Âu, do không thấu hiểu bản chất này, đã lầm tưởng rằng: “Ma vương không phải là một thực thể hữu hình, mà chỉ là một cách ẩn dụ cho những diễn biến trong tâm thức”). Sau khi Ngài thành Phật, những chướng ngại vẫn tiếp diễn không ngừng: từ những xung đột trong Tăng đoàn, sự xuất hiện của các vị Phật giả hiệu, cho đến những kẻ trà trộn vào giáo pháp để đánh cắp đạo lý rồi rêu rao rằng “chúng tôi cũng thuyết giảng và thực hành như thế”. Rồi những vụ vu khống bằng phụ nữ, sự đối đầu quan điểm của các đại phạm thiên chấp ngã như Baka, và cuối cùng là những âm mưu ám hại cho đến tận khi Ngài nhập Niết-bàn. Nếu đã như vậy, thì hành giả nào có thể thoát khỏi vòng vây của hắn? Không nên lầm tưởng rằng chỉ cần giữ chánh niệm trong hành thiền là đã đủ an toàn. (*“Bậc có chánh niệm luôn được bảo vệ tốt, nhưng không thể dễ dàng thoát khỏi kẻ thù”* - Kinh Maṇibhadra, Tương Ưng Bộ 1, trang 210). ## TRANG 162 ### Những kẻ muốn thao túng cả thế giới Sau khi Đức Thế Tôn nhập Niết-bàn, tại vùng Trung Ấn (Majjhima Desa), thuyết bản ngã lại trỗi dậy mạnh mẽ. Người ta tạo ra những giáo lý mới với danh nghĩa "Phật giáo hiện đại và tiến bộ". Những vị tăng sĩ vốn là đại diện của Ma vương đã thành lập nên tông phái Mahayana (Đại thừa). Họ giương cao khẩu hiệu: “Phật không phải là trọng tâm, mà Bồ-tát mới là trọng tâm”. Cuối cùng, kết hợp với đủ loại bùa chú, chú thuật theo sở thích của dân gian, giáo pháp nguyên thủy đã hoàn toàn biến mất khỏi đất nước Ấn Độ. (Bài viết về sự biến mất của Phật giáo tại Ấn Độ của Rahula Sankrityayan sẽ được trình bày đầy đủ ở phần kết của tập một). Nhìn lại lịch sử giáo pháp tại Myanmar, chúng ta cũng thấy sự tàn phá qua từng thời đại. Để đạt được các mục tiêu luyện vàng, luyện bạc và các loại thần thông, ngay cả các vị vua sau này cũng đã cổ xúy cho những con đường sai lệch đó. Các phe phái chia rẽ xuất hiện. Chỉ riêng cuộc tranh luận về cách đắp y cũng đã kéo dài suốt tám mươi năm. Nếu không có những vị vua như Anawrahta hay Bodawpaya xuất hiện kịp thời thì thật khó khăn biết bao. Do đó, các thế lực thế gian cũng tìm cách đảo ngược cả lịch sử. Có như vậy, họ mới có được những thí chủ hộ pháp theo đúng ý đồ của các giáo phái bản ngã. Vị tiểu hoàng tử Setchyar trong thời vua Bagyidaw chính là mầm mống được các thế lực thần thông tạo ra để diễn một vở kịch lịch sử. (Nếu xem xét các ghi chép về lời tiên đoán trong triều đình, chúng ta sẽ thấy rõ điều này). Bởi vậy, cho đến tận bây giờ, họ vẫn còn thù hằn vua Bodawpaya; họ không ngừng rêu rao rằng: “Maung Waing (tên thật của vua Bodawpaya) là kẻ không giữ lời hứa”. Những người dân thiếu hiểu biết thì cho đến nay vẫn còn than khóc thương tiếc cho hoàng tử Setchyar. Lịch sử và giáo pháp đã bị vấy bẩn bởi những loại thần thông thấp kém khác. Không chỉ ở Myanmar, trong lịch sử châu Âu, từ cuộc Cách mạng Pháp trở đi, trong các sự kiện thay triều đổi đại với phương châm “phò trợ kẻ mình thích, lật đổ kẻ mình không ưa”, các thế lực thần thông hữu hình và vô hình đã dàn dựng và phô diễn quyền năng. Đó là những chuyển động thầm lặng mà các sử gia không hề hay biết. (Trích tác phẩm 'Cuộc đối thoại với một người bạn vô hình' của Wal Burga - Pegay) ## TRANG 163 Cũng tương tự như vậy trong các cuộc chiến tranh ở Ấn Độ vào khoảng thế kỷ 12. Thuở xưa, khi vua Kaliṅga và vua Assaka giao chiến, vua Kaliṅga vốn có binh lực hùng hậu nhưng lại quá tin rước vào lời tiên tri của một vị đạo sĩ nên đã phải chuốc lấy thảm bại. Trong cuộc chiến đó, có ghi chép rằng không chỉ con người mà cả các vị thiên thần hộ pháp cũng giao tranh với nhau; đó chính là cuộc chiến thầm lặng đã từng tồn tại từ thời cổ đại. (**Cầu-từ-ca Ni-pát-ta, Chuyện Culasakalaṅga-bodhi - Jātaka 479.**) Ngày nay, khắp nơi trên thế giới cũng có rất nhiều người có khả năng thấu thị và thần thông. Các quốc gia duy vật thậm chí còn đầu tư nghiên cứu mạnh mẽ hơn vào các năng lực siêu nhiên này. Tại Bulgaria, người ta nói rằng một phụ nữ có khả năng thấu thị tên là “Vanga Dimitrova” thậm chí còn được tuyển dụng làm nhân viên hưởng lương. Thời Đức Phật có những vị ngoại đạo có thể nhìn thấy bốn mươi kiếp quá khí và vị lai, thì nay hẳn cũng vẫn có những người như thế. Tuy nhiên, những nguồn năng lực tự nhiên vô song có được thông qua Nghiệp - Tuệ - Tinh tấn (Kamma - Ñāṇa - Viriya) có thể làm chệch hướng sự thấu thị của các bậc thần thông, và có thể làm phá sản cả những kế hoạch đại quy mô. Vì vậy, khi thuyết về giáo lý Nghiệp, Đức Phật đã từng ngăn giữ rằng: “Đối với những việc liên quan đến sự vận hành của Nghiệp, chớ vội tin ngay cả lời của những bậc có thể nhìn thấu suốt các hệ thống thế giới.” (**Kinh Đại Nghiệp Phân Biệt - Mahākammavibhaṅga Sutta, Trung Bộ.**) Do đó, nếu gạt bỏ nghiệp quá khứ và nỗ lực hiện tại, thì bậc thần thông nào có thể thay đổi hoàn toàn trắng thành đen cho được? Tuy nhiên, cũng cần phải hết sức cảnh giác với việc “thịt không ăn được thì vẩy cát cho bẩn” (những thế lực xấu ác phá hoại khi không đạt được mục đích). (**Kinh Vepacitti, Tương Ưng Bộ - Sagāthā-vagga.**) ### Hiểm họa Tà Kiến: Xa mà lại gần Trước khi bước chân vào đường tu tập, chúng ta thường chỉ nghĩ rằng già, bệnh, chết mới là những mối nguy đáng sợ. Trong đời này, ta chưa từng hình dung ra cơ hội hay lý do nào khiến hiểm họa Tà kiến (hiểu biết sai lầm) có thể xảy ra. Chẳng phải chúng ta đã có đủ trí tuệ để thậm chí không bao giờ mơ tưởng đến việc chuyển sang một tôn giáo khác đó sao? Thế nhưng, khi bắt đầu thực hành, chúng ta lại nghe thấy tiếng gõ cửa của những hiểm họa Tà kiến còn đáng sợ và rùng rợn hơn cả già - bệnh - chết ngay tại cửa thiền đường. Tuy nhiên, khi mở cửa đón vào, ta lại niềm nở tiếp đãi chúng như những người bạn tốt. Chúng trình diễn những màn ảo thuật khiến hành giả lầm tưởng mình sắp đạt được những gì ưa thích nhất: Pháp cao thượng, quyền lực, tài lộc, sức khỏe, v.v. ## TRANG 164 Chúng đưa ra những ví dụ nhỏ lặp đi lặp lại để dụ dỗ. Hành giả nghĩ rằng: “Pháp của ta đang tiến triển rồi.” Ban đầu đó chỉ là những luồng tư duy và hình ảnh tưởng tượng. Hành giả không còn muốn ăn những món bình thường. Có người lại nghĩ rằng phải ăn uống khổ hạnh theo một cách đặc biệt nào đó thì mới đắc Pháp. Sau đó là đến cách ăn mặc, nơi ở... (Chính vì vướng mắc vào những suy nghĩ này mà vị đại trưởng lão Saṅgharakkhita đã không thể chứng đắc Alahan trong suốt nhiều năm. Vị ấy đã có tư duy sai lầm khi nghĩ rằng “đợi đến thời Đức Phật Metteyya mới đắc”. **Thanh Tịnh Đạo I, 45.** Xem chi tiết trong sách *Bậc Thánh Mẫu Mực*). Những ảo tưởng trong tâm trí thật đáng sợ. Sau khi suy nghĩ khởi lên, hành giả có thể nghe thấy những âm thanh lạ. Có khi tiếng nói ấy hướng dẫn các đề mục thiền như hơi thở (ànāpāna) hay định (kasiṇa). Nó chưa vội tiết lộ danh tính vị thần thông nào cả. Tiếp đó, như một thước phim lướt qua, nó hiển lộ hình dáng rõ ràng. Nếu cần, nó có thể xuất hiện như thể từ trên trời rơi xuống ngay trước mặt. Khi đó, một số hành giả do yếu lòng đã bị mê hoặc và thay đổi lý tưởng. Họ rời bỏ Trung Đạo để chạy theo những ham muốn phàm tình (trong tưởng tượng): Muốn trở thành đại gia để hộ trì giáo pháp, muốn sống lâu trăm ngàn tuổi để cứu độ chúng sinh và đợi đến thời Đức Phật Di Lặc mới nhập Niết-bàn, hoặc phát nguyện những đại nguyện viển vông. (Những người phát nguyện đại nguyện cần suy xét xem trong đời sống hiện tại họ có giữ được đức hạnh của một bậc Bồ-tát hay không). Hoặc có hành giả lại tự huyễn hoặc rằng mình đã chứng Thánh. Có người lại khao khát đạt được những năng lực Lokāyata (thuật chú thế gian) để mở rộng luân hồi. Tất cả những điều đó chính là sự kết hợp giữa lòng tôn kính giáo pháp và cái Ngã không muốn rời khỏi cõi dục, tạo thành một loại “rượu mật sâm” ngọt ngào nhưng gây tiêu chảy tâm linh. Loại độc dược này có thể dẫn dụ hành giả từ địa vị một người tu sĩ (Sadhu) đến việc tham đắm quyền năng của các vị Phạm thiên; từ một thầy phù thủy đến vị đạo sĩ (Vijjādhara) tự đắc là bậc Thánh. Hành giả vốn còn non nớt, trong khi thế giới thì bao la, là địa bàn hoạt động của đủ loại bậc thần thông. Những bậc thần thông ấy đang thở dài đầy uy lực quanh ngôi thiền đường nhỏ của người hành giả đang mải mê tìm kiếm Vô ngã mà quên đi việc phân biệt bạn và thù. Những “đại diện” tự lầm tưởng mình đang hộ trì giáo pháp cũng đang xuất hiện dày đặc quanh đây. (**Khi ấy, Ma vương ác độc ngồi cách đó không xa, lặng lẽ, sầu muộn, suy tư... Kinh Ái Nữ của Ma Vương, Tương Ưng Bộ - Sagāthā-vagga.**) ## TRANG 165 ### Pháp vượt ngoài lý luận (Atakkāvacaro Dhammo) Trong việc phân tích và trình bày về cuộc đời của các bậc thiện tri thức trong giáo pháp này, có thể sẽ xuất hiện những cách viết mà không phải độc giả nào cũng thấu hiểu. Đối với những người quen phê phán dưới góc nhìn thế gian hoặc chỉ bám chặt vào góc nhìn lý thuyết (Pariyatti), có thể sẽ có một vài quan điểm mà họ cho là phi lý, không thể chấp nhận. Nếu bắt gặp những điều đó, mong quý vị đừng vội trách cứ, mà hãy tạm dừng lại và ghi nhớ lấy. Bởi lẽ, những sự quấy nhiễu của kẻ thù cũng như năng lực vô song của Chánh Pháp không phải là những thứ có thể nhìn thấy bằng mắt hay cầm nắm bằng tay. Đó là những điều: **Gambhīra** (Sâu sắc), **Duddasa** (Khó thấy), **Paṇḍitavedanīya** (Chỉ những hành giả có trí mới có thể liễu tri), và **Atakkāvacara** (Vượt ngoài tầm tư duy lý luận của những người chỉ dùng trí thức thời đại để phê phán). (**Luật Tạng, Đại Phẩm 5.**) Thực sự, khi biên soạn tập tiểu sử này, theo như những gì đã trình bày, nếu nắm bắt được những nguyên lý này, quý vị sẽ cảm nhận được những dư vị không nằm trên trang giấy khi đọc về tiểu sử của các bậc Thánh giả ưu tú. Những đạo lý này không phải được viết ra do sự mê tín, hiểu lầm hay chấp trước, cũng không phải được viết ra bằng trí tưởng tượng thuần túy. Chúng được viết dựa trên những bộ Kinh lớn như Kinh Phấn Đấu (Padhāna Sutta), Kinh Phạm Thiên Thỉnh Mời (Brahmanimantanika Sutta), Kinh Ma Ha Ha (Māratajjanīya Sutta), Kinh Yavakalāpi, Tương Ưng Ma Vương, Kinh Đại Bát Niết-bàn, v.v., cùng với những chứng cứ lịch sử xuyên suốt tiến trình truyền thừa. Tôi cũng đã đối chiếu và kết nối chúng bằng năng lực tư duy với các môn khoa học huyền bí và tâm lý học Đông - Tây trong phạm vi hiểu biết của mình. Không chỉ có vậy, tập sách còn phản ánh những trải nghiệm thực tế từ các bậc thầy, cha mẹ, anh chị em và bạn đạo – những bậc thiện tri thức. Tóm lại, đây là sự đại diện cho những hiểu biết có được từ sự thực hành Pháp. Vì vậy, chúng tôi xin được nói trước rằng: “Xin hãy lượng thứ nếu chúng tôi chưa thể trình bày đầy đủ để quý vị hoàn toàn chấp nhận và tin tưởng. Tuy nhiên, xin đừng vội vàng bác bỏ những kiến thức này, mà hãy tạm dừng lại và ghi khắc vào lòng. Thời gian sẽ cho quý vị câu trả lời thỏa đáng.” Đạo lý thật sâu thẳm thay! (**Thật không thể có chuyện một người đang mải mê tìm kiếm dục lạc lại có thể hiểu được những gì cần phải hiểu bằng sự xuất hành - ly dục. Kinh Dantibhūmi, Trung Bộ.**) ## TRANG 166 Khi hành giả (**yogī**) đã phân biệt rõ đâu là kẻ thù và đâu là bạn hữu thì chắc chắn sẽ gặt hái được những lợi ích vô lượng trong công phu của mình. Chúng tôi có thể khẳng định rằng trí tuệ tự thân của quý vị sẽ ngày càng tăng trưởng. Hành giả sẽ thấu hiểu rằng: "Nếu vì sợ kẻ thù mà chọn con đường xuôi dòng thì chỉ chuốc thêm đau khổ mà thôi." Từ đó, không những không sợ hãi kẻ thù mà trái lại còn thêm phần phấn chấn. Vì đã nắm thấu "bài vở" nên hành giả không còn sân hận, không còn ưu phiền, mà thậm chí còn cảm thấy hân hoan. Bởi lẽ chính hành giả tự nhận biết rằng mỗi khi gặp phải một chướng ngại là mình lại tiến thêm được một bước. Nếu hành giả giữ vững niềm tin vào sự hiểu biết này, thì lâu dần, không chỉ đối với thân tâm và môi trường xung quanh, mà rạng rỡ thấu suốt đến cả những diễn tiến của toàn thể thế giới và vũ trụ vô tận. Như câu nói "từ nhỏ mà thành lớn", từ một tuệ giác nhỏ bé sẽ phát triển thành đại tuệ. Đó chính là những tuệ giác tiền chặng của **thần thông** (**abhiññā**). Khi thâu tóm mọi sự kiện trên thế giới và vũ trụ này vào một mối, hành giả thấu triệt ngay đặc tính **vô thường** (**anicca**) rằng: "Tất cả mọi **hành** (**saṅkhāra**) đều không có thực thể cốt lõi", khi ấy đại sự của bậc **Thánh** (**Ariya**) cũng được hoàn tất viên mãn. Chúng tôi đưa ra lời dẫn giải dài dòng như vậy là có nguyên nhân. Có thể có người cho rằng chúng tôi muốn bài bác những vị sở hữu thần thông biến hóa (**gandhārī**) hay các hội nhóm của họ – những người đang nỗ lực vì một lợi ích thế gian nào đó. Sự thực hoàn toàn không phải vậy. Vì ai nấy đều đang nỗ lực theo tầm mức trí tuệ của mình, nên không có gì để khiển trách. Việc họ có thể giúp ích cho nhân loại ở một mức độ nào đó (đối với những người chỉ có tầm nhìn đến đó) cũng là điều đáng trân trọng. Tuy nhiên, xin cho phép tôi được thành thật nói rõ mục tiêu trọng yếu. Thời đại này không phải là lúc để chúng ta tự mãn với bấy nhiêu đó. Chớ nói chi đến những loại ngoại cảm tạm bợ, mập mờ, không xác thực; ngay cả khi đắc được **thần thông** (**abhiññā**) thực thụ đi nữa thì cũng chưa phải lúc để hài lòng. Trong một thế giới ngày càng rộng mở với đủ loại tri thức đa dạng như hiện nay, thì chỉ trở thành một bậc **A-la-hán Thuần Quán** (**Sukkhavipassaka Arahant**) thôi thì vẫn chưa thể nói là đủ cho hàng Giáo Pháp ngày nay. Thế giới trong thời đại này đang tha thiết mong cầu và thỉnh mời những bậc **Thánh A-la-hán** vẹn toàn cả thần thông lẫn trí tuệ. Thế giới này đang... ## TRANG 167 ... tha thiết và mãnh liệt cầu khẩn điều đó. Những người am tường thời thế đều tuyệt đối tin tưởng rằng điều này chắc chắn sẽ sớm được thành tựu, không thể sai lệch. Những lời dạy của Đức Phật cũng đã hiển thị cho phép điều này một cách minh bạch. Những bậc **Thánh** nhân trong giáo pháp này cũng đã để lại những tấm gương tiền lệ. Vì những bậc vĩ nhân toàn tài như thế, khoa học đã và đang góp phần chỉnh trang, chuẩn bị cho thế giới này. (**Eva-rūpena kho Sāriputta bhikkhunā Gosingasālavanaṃ sobheyya. Mahāgosingasutta. Mūlapaṃ-281.**) Do đó, trong thời đại cao quý này, với lòng chân thành và thiện chí, chúng tôi mong muốn vạch ra một lộ trình tốt hơn, tốt hơn nữa và tốt nhất, để toàn thế giới hướng tới bến bờ bình an. ## TRANG 168 ## CHƯƠNG 7 — CÁC BẬC A-LA-HÁN VÀ CÁC BẬC CỰC TRỌNG THỜI KONBAUNG ### Ngài Sayadaw Taung Lay Lone (Satu Giri) (1088 – 1186 Phật lịch / 1726 – 1824 DL) "Này con trai, những pháp quán mà con viết thật là những bộ kinh quý báu phụng sự giáo pháp đúng theo ý nguyện của Đức Thế Tôn. Dù hằng ngày ai cũng hít thở, co duỗi, nhưng có rất nhiều người không hề hay biết mình đang hít vào, thở ra hay đang co duỗi. Hãy nỗ lực biên soạn để mang lại lợi ích cho chính mình và mọi người, này con." "Bạch Thầy, xin vâng lời dạy của Thầy." "Nay tập kinh 'Những pháp quán' này, con tự mình chép lên lá buông để dâng lên Thầy, vừa để Thầy có thể xem bất cứ khi nào Thầy muốn, vừa nương nơi Thầy làm duyên để tuệ **nhàm chán** (**nibbiddā-ñāṇa**) được tăng trưởng và phát đạt theo như sở nguyện." Đó là lời đối thoại khi vị tỳ-kheo trẻ U Medhāvī, khoảng 30 tuổi, trú ngụ tại làng Dīghāyugāma (làng Thọ), đang dâng bộ kinh lá buông "Nāmarūpanibbiddā-shupwe" (Các pháp quán nhàm chán danh sắc) lên thân phụ của mình – cũng là một vị tỳ-kheo. Vị tỳ-kheo thân phụ lúc bấy giờ đang độc cư tu tập tại thiền viện rừng Kyee Ma Noe, ngài đã 80 tuổi đời và 52 tuổi hạ. Ngài xuất gia từ khi người con trai U Medhāvī mới lên 2 tuổi. Thời điểm đó là thời loạn lạc, chỉ còn khoảng 5 năm nữa là vương quốc Inwa hoàn toàn sụp đổ. U Medhāvī sinh năm 1088 (Phật lịch Miến Điện) vào thời kỳ chuyển giao giữa Inwa và Konbaung. Quê ngài ở làng Oksit, vùng Shwebo. Vào năm 1114, khi vua Alaung Mintaya lên ngôi, ngài xuất gia tỳ-kheo và mới có 6 hạ lạp. Ngài được biết đến với pháp danh U Medhāvī. Vào thời vua Bodawpaya, ngài nhận được danh hiệu "Munindābhilaṅkāra Saddhammasāmī Mahādhammarājaguru" – đó chính là vị Sayadaw Taung Lay Lone (Ngài Trụ trì chùa Bốn Ngọn Núi). ## TRANG 169 ### Những điều kỳ diệu và cảnh tượng đáng chiêm bái lúc ngài viên tịch Ngay từ khoảng hạ lạp thứ sáu khi vua Alaungpaya (A-lăng-mâm-ta-ra) mới lên ngôi, Sayadaw Taung Lay Lone đã biên soạn nhiều tác phẩm Shwe Pwe (Những điều đáng chiêm bái) khác nhau. (Danh mục ghi chép có hơn ba mươi tác phẩm Shwe Pwe; hiện nay chùa Sudhammavadi đã ấn hành bốn bộ, mỗi bộ gồm tám tác phẩm). Dựa trên niên hiệu hoàn thành kinh sách, có thể ước tính rằng tác phẩm *Dhamma Nibbinda Shwe Pwe* (viết vào năm 1116 Miến lịch, khi ngài 6 hạ lạp) là tác phẩm đầu tiên, và tác phẩm *Sar Yin Pann Shwe Pwe* được viết vào năm 1185 Miến lịch, khi ngài 97 tuổi. Trong tác phẩm **Namotassa Gambhira Shwe Pwe**, có đoạn viết: "Ta cũng đã từng viết Sar Yin Pann Shwe Pwe rồi", nên đây có thể xem là tác phẩm cuối cùng của ngài. Căn cứ vào nội dung và ý nghĩa (đầy đủ và sâu sắc hơn), điều này hoàn toàn có cơ sở. Việc ngài vẫn có thể viết lách cho đến khi ngoài chín mươi tuổi thật là điều vô cùng kinh ngạc. Trong các tác phẩm như **Amata Sopana**, **Amata Dvara**, **Dhamma Piya**, **Sanatha**, v.v., ngài thường lồng ghép Phật lịch và Miến lịch (đôi khi dùng cả tiếng Pali lẫn tiếng Miến), qua đó chúng ta biết được tuổi đời và tuổi đạo của ngài. Vào năm 73 và 74 tuổi là thời gian ngài viết nhiều nhất. Tuy nhiên, về niên hiệu cũng có điều đáng nghi vấn là: "Đây là niên hiệu viết nguyên thủy, hay là do những người chép kinh đời sau thêm vào?". (Ở đây, niên hiệu năm sinh và năm viên tịch được trình bày theo các tác phẩm Amata Sopana, Sar Yin Pann và Namotassa Gambhira Shwe Pwe). Các con số về niên hiệu vốn có nhiều sai lệch qua các bản chép tay. Tác phẩm **Namotassa Gambhira Shwe Pwe** trong các bản in ghi là năm 1151, nhưng trong bản chép tay trên lá buông (parabaik) lại ghi là năm 1182. Trong bản chép tay về tiểu sử 105 vị đại trưởng lão nổi tiếng do Min Hla Thiri Siha Thu ghi chép năm 1213 có đoạn: "24. Sayadaw Taung Lay Lone sinh năm 1090, tuổi Mậu Thân, thọ 78 tuổi, viên tịch năm 1168. Ngài tên là Shin Medhavi, sinh tại làng U-shít. Con gái vua Hinthada hộ độ. Ngài được ban danh hiệu **Munindabhilankara Saddhamma Mahadhammarajaguru**, trú tại chùa Ba Tầng, làng Myauk Min, thành Amarapura." Đây là ghi chép tương đối đáng tin cậy. Quý vị có thể tùy nghi lựa chọn thông tin theo ý mình. Các tác phẩm Shwe Pwe được ngài chọn lọc những tinh hoa cốt yếu từ Tam Tạng kinh điển, viết bằng văn phong tiếng Miến bình dân, bộc trực, mạnh mẽ khiến ai đọc cũng hiểu ngay và không thấy nhàm chán. Dù đã trôi qua hơn hai trăm năm, các tác phẩm này vẫn đứng vững như một pho giáo điển xuất sắc nhất, có tác động mạnh mẽ nhất trong việc cảnh tỉnh đại đa số quần chúng và thúc đẩy các hành giả tu tập. Về sự viên tịch của ngài, có những sự kiện kỳ diệu vô cùng đặc biệt. ## TRANG 170 Nếu chưa từng đọc qua những ý nghĩa sâu sắc về Tứ Niệm Xứ và hơi thở (Anapana) trong các tác phẩm Shwe Pwe, mà chỉ nghe kể về sự viên tịch của ngài, có lẽ người ta sẽ khó lòng tin được. Bởi lẽ, chính nội dung các bộ Shwe Pwe đã minh chứng cho trình độ chứng đắc thâm sâu của ngài. ### Những điều cần ghi nhớ từ Shwe Pwe Trước khi trình bày về sự kỳ diệu lúc ngài viên tịch, tôi xin trích dẫn vài đoạn tiêu biểu để thấy được văn phong và ý nghĩa thâm thúy trong các tác phẩm của ngài. "Về hơi thở ra hơi thở vào, ngay cả loài **Sonasingala** (chó nhà, chó rừng) cũng biết rõ. Do đó, nếu chỉ biết hơi thở ra là hơi thở ra, hơi thở vào là hơi thở vào ở mức độ thuần túy thì chưa gọi là tu tập Tứ Niệm Xứ." (Tập 1, tr. 24). "Nếu thực hành đúng như lời dạy, sẽ chứng đắc Đạo Quả ngay trong hiện tại (ditthadhamma) - điều này đã được thuyết giảng lặp đi lặp lại trong giáo pháp. Dù đã rõ ràng như vậy, nhưng nếu vẫn còn hoài nghi (vicikiccha) rằng bản thân có đắc được Đạo Quả trong đời này hay không, thì hãy hiểu rằng đó là vì 'không thầy chỉ dạy, không nắm được pháp hành'. Còn nếu đã có thầy chỉ dạy, đã nắm được pháp hành mà vẫn hoài nghi về việc có đắc Đạo Quả hay không, thì đó chính là hạng người không tin vào trí Toàn Giác (Sabbannuta-nana) không thể nghĩ bàn của Đức Phật. Ngoài lý do này ra, không còn lý do nào khác." (Tập 1, tr. 51). "Nếu chỉ nói cửa miệng các từ **Anicca (Vô thường), Dukkha (Khổ), Anatta (Vô ngã)** thì không thể tạo nên đại phước đức (maha-punna) được." (Ngài nhấn mạnh rằng nếu nhìn thấy rõ ràng bản chất Vô thường, v.v., thì phước đức đó còn cao quý hơn việc mỗi ngày xây dựng một trăm ngôi chùa vàng, một trăm ngôi chùa bạc hay xây dựng 84.000 bảo tháp vàng). (Tập 1, tr. 64). "Vị tỳ-kheo lười biếng không nỗ lực tu tập Thiền định (Samatha) và Thiền quán (Vipassana), chỉ sống sao cho không phạm giới, không tạo ác nghiệp, thì cũng giống như người bệnh chỉ lo kiêng khem ăn uống (ăn thực phẩm chức năng) mà không chịu uống thuốc chữa bệnh; đại bệnh hủi phiền não (kilesa) sẽ không bao giờ khỏi được." (Tập 1, tr. 60). "Người nào nỗ lực thực hành bố thí, trì giới nhưng chỉ mong cầu lợi ích và hạnh phúc thế gian, người đó được gọi là kẻ tự đem bán mình hoặc cầm cố bản thân vào vòng khổ đau luân hồi." (Tập 1, tr. 210). "Nếu ngay cả chân lý thế gian là Tuệ như thực (Yathabhuta-nana) mà cũng không chấp nhận, thì người đó chính là kẻ thù thực sự của Đức Phật không thể nghĩ bàn. Vì chưa đạt đến mức độ Chánh kiến (Samma-ditthi) trong giáo pháp, nên không thể gọi là người hữu Chánh kiến." (Tập 1, tr. 296). ## TRANG 171 "Sự phát khởi của Tuệ như thực (Yathabhuta-nana) cũng giống như lúc rạng đông. Chẳng bao lâu nữa, cũng như vầng thái dương rực rỡ hiện lên, trí Đạo, trí Quả và Niết-bàn sẽ xuất hiện. Thời điểm đó đã cận kề bên con rồi, hãy hết sức tỉnh giác." (Tập 1, tr. 354). "Nếu chịu khổ một ngày mà chắc chắn được hạnh phúc nhiều ngày, thì không nên sợ hãi cái khổ của một ngày đó. Nếu chịu khổ một tháng, một năm, hay thậm chí cả một đời mà chắc chắn được hạnh phúc trong nhiều tháng, nhiều năm, nhiều đời sau, thì cũng không nên sợ hãi cái khổ của một tháng, một năm hay một đời đó. Đừng nên chiều theo ái dục (tanha), tham lam (lobha) hay dục lạc (raga) của hiện tại. Hãy nhìn xa trông rộng, đem cả tính mạng mình dấn thân vào con đường của bậc thiện tri thức một cách hân hoan." (Tập 1, tr. 363). "Nếu cứ khăng khăng bám chặt vào ý nghĩ 'mẹ của ta, cha của ta, vợ của ta, chồng của ta', thì giống như con chuột chui tọt vào cái bầu khô; cũng vậy, hạng **Mahabalumattaka** (kẻ đại ngu si) chui vào giáo pháp chỉ để quấy phá mà thôi. Khi hạng người điên rồ rông rỡ, thiếu Tuệ nhãn (Yathabhuta-nana) này trở nên đông đảo, hãy tỉnh giác rằng giáo pháp sắp bị hủy diệt và hiểm họa đã cận kề. Hãy biết sợ hãi điều đó." (Do hiểu sai lệch nên họ phỉ báng Phật, tự hủy hoại bản thân và làm nảy sinh vô số điều bất thiện). (Tập 1, tr. 291; Tập 2, tr. 88). "Nếu không đạt được **Yathabhuta-nana Sampajanna** (Tỉnh giác bằng Tuệ như thực), thì khi đi không biết mình đang đi, khi đứng - ngồi - nằm cũng không biết là mình đang đứng - ngồi - nằm. Như vậy thì cũng chẳng khác gì trâu, bò, chó, lợn, gà, chim và các loài bàng sanh vậy." (Tập 2, tr. 388). ### Răn dạy người em là U Dhammapiya Ngài Sayadaw Caturagiri Taung Lay Lone có một người em trai tên là U Dhammapiya. Không rõ là em họ hay em cùng mẹ khác cha. U Dhammapiya dường như cũng tu hành tại một ngôi chùa rừng. Trong khi đọc và thực hành theo các tác phẩm của người anh, có những điểm chưa rõ nên ông đã thỉnh vấn, và vào năm 1162 Miến lịch, ngài đã viết tác phẩm "Dhammapiya Shwe Pwe". Vào thời điểm đó, người em đã 62 tuổi, còn người anh đã 73 tuổi. Ngài mở đầu một cách đầy hân hoan và răn dạy một cách rành mạch rằng: "Việc sư em Dhammapiya thỉnh cầu 'Pháp bảo tài sản' từ sư anh, cũng ví như muốn khóc mà có người vỗ vai, như đang ngứa mà có người gãi đúng chỗ vậy..." --- ## TRANG 172 Cách ngài viết ra trong niềm hỷ lạc vô biên, cùng những lời giáo huấn vô cùng thẳng thắn, rõ ràng, khiến người ta có cảm giác như hai huynh đệ đang đàm đạo Chánh pháp một cách vô cùng thân tình, không chút câu nệ. Cảnh tượng ấy hiện lên mồn một ngay trước mắt người đọc. “Đừng để bản thân rơi vào cảnh ngộ như gảy đàn cầm bên tai chó, cạnh tai lợn. Hỡi sư đệ, chớ nên như thế. Nếu hành vi còn uế tạp, ắt phải trầm luân mãi trong vòng sinh tử. (**Handadāni bhikkhave**) Vì lòng bi mẫn mà ta nhắn nhủ lại, đệ hãy ghi nhớ kỹ. Khơi dậy lòng tầm cầu giải thoát (samvega), giữ vững chánh niệm, nỗ lực hết mình ngay trong kiếp hiện tại này để đạt đến Đạo, Quả và Niết-bàn là điều tối thượng” (Th. 142). “Sư đệ Ācariya Dhammapiya hiền giả, hãy luôn giữ chánh niệm, dùng trí tuệ để tu tập sao cho có lợi ích thực sự trong mọi thời khắc. Hãy kiên trì, nghiến chặt răng mà thực hành. (149) Đừng sống phóng dật khi chưa thấu triệt chân lý. Hãy tìm bậc thầy có khả năng chỉ dạy và nỗ lực tinh tấn để đạt được tri kiến đúng đắn” (151). “Kẻ nào còn chấp thủ, nói điều sai quấy rằng ‘đây là cái tôi của tôi’... kẻ đó chưa thực sự bước chân vào giáo pháp của ta. **Puthujjano ummattaka sadiso** — Hãy nhớ rằng phàm phu được ví như kẻ điên cuồng vậy. Nếu cứ tiếp diễn như thế, hương vị của Đạo và Quả sẽ chẳng thể chạm tới, Niết-bàn sẽ ngày càng xa vời, chẳng khác nào loài bàng sanh (179). Ngay cả loài vật hiện nay cũng từng là những công chúa, hoàng tử, hay tiên nam, tiên nữ thuở trước” (156). Ngài Sayadaw đã đưa người học vượt qua những hiểu biết thông thường kiểu ý nghĩa của '**Namo Tassa**' hay '**Buddhaṃ saraṇaṃ gacchāmi**', để trực tiếp đẩy mạnh họ tiến sâu vào lộ trình thực hành Tứ Niệm Xứ (Satipaṭṭhāna) và Anapanasati (Niệm hơi thở). Các phần về Bố thí (Dāna) và Trì giới (Sīla) cũng không hề bị bỏ sót. Ngài đã viết cho mọi tầng lớp, từ việc chỉ ra việc các thí chủ xây chùa, đúc tượng thường rơi vào tà kiến mà không hay biết, cho đến việc nhấn mạnh điều gì là quan trọng nhất khi hữu duyên gặp được giáo pháp. ### Gương báu soi chung cho Đức vua (Rājajetmon) Trong tác phẩm ‘Sīlavisodhanī’ (123, 170) có ghi lại rằng, Ngài Ngài Taung Lay Lone Sayadaw không giữ bất kỳ vật phẩm nào làm của riêng mà luôn đem bố thí hết, đức hạnh vô cùng cao thượng. Do đó, Đức vua Bodawpaya đã dâng tặng danh hiệu “Rājaguru” (Quốc sư) để cúng dường Ngài. Chính Ngài Sayadaw cũng ghi lại rằng, Công chúa cai quản các vùng Hinthada và Taloke, người sinh năm 1123, là một trong những vị hộ đạo nhiệt tâm của Ngài. Ban đầu, Ngài cư ngụ tại ngôi chùa rừng trong thung lũng Mandalay — nơi được bao quanh bởi bốn ngọn núi (Tứ Sơn - Catugiri) là Núi Vàng, Núi Bạc, Núi Ngọc Bích và Núi Hồng Ngọc, vô cùng mỹ lệ. ## TRANG 173 Sau đó, có lẽ Ngài đã di dời về phía tây bắc Amarapura, cư ngụ tại tu viện Min Ywa. Từ đó trở đi, tu viện này cũng được gọi là Tu viện Taung Lay Lone (Tứ Sơn). (Theo lời kết của tập Khuddakapāṭha Ṭīkā do Ngài Ngakhun Sayadaw soạn). Về địa danh “Tứ Sơn” nguyên thủy, trong các bản văn mô tả nơi ngụ của mình như “**Vehācaṅkama** = đường kinh hành giữa hư không, **Acchariya pabbāra** = hang núi kỳ diệu”, Ngài có nhắc trực tiếp đến cái tên “Mandalay”. Do đó, có khả năng cao đó chính là Ngọn núi Mandalay hiện nay, dù điều này chưa thể khẳng định tuyệt đối. Dù thế nào đi nữa, không thể phủ nhận rằng dưới triều đại vua Bodawpaya, Ngài là một bậc truyền thừa vĩ đại, được kính ngưỡng không chỉ bởi các bậc vương tôn công tử mà còn bởi đông đảo tầng lớp nhân dân, bao gồm cả vị thí chủ của ngôi chùa vàng ba tầng ở khu vực chợ lớn kinh thành Amarapura. Vào ngày 18 tháng Tazaungmon (tháng 8 Miến lịch) năm 1148, Đức vua Bodawpaya đã triệu mời bảy vị Đại Trưởng lão có danh hiệu vào hoàng cung để thưa thỉnh về việc cử đoàn truyền giáo sang Arakan (Rakhine): “Bạch chư Đại đức, nếu thấy điều gì Trẫm làm không đúng với vương pháp, xin các Ngài hãy giáo huấn. Điều gì thực hành được Trẫm sẽ thực hành. Điều gì chưa thể, Trẫm cũng xin được trình rõ. Chỉ khi được lắng nghe và hành theo lời dạy của chư Tăng, việc quy y ngưỡng mộ các Ngài của Trẫm mới thực sự có ý nghĩa”. Đức vua đã bạch lời với tâm thái vô cùng hoan hỷ. Lời thỉnh cầu của vua Bodawpaya thật sâu sắc và tinh tế, thể hiện phong thái quân tử nhã nhặn. Chính trong bối cảnh đó, Ngài Sayadaw đã soạn tác phẩm “Rājajetmon” (Gương báu cho bậc quân vương) để giáo huấn. Nội dung và văn phong của Ngài không theo lối mòn của các quy tắc trị quốc thông thường, mà chứa đựng những yếu tố cốt lõi mà bất kỳ nhà lãnh đạo nào cũng cần thấu hiểu. Ngài dạy rằng một người lãnh đạo phải sừng sững như ngọn núi cao thì cây cỏ (thần dân) nương tựa vào đó mới có thể vươn cao. Ngài cũng chỉ ra những lợi hại để giúp nhà lãnh đạo vượt qua ba chướng ngại: sự dối trá, lòng sân hận và thái độ hời hợt, buông lung. Tóm lại, “Rājajetmon” là một bộ cẩm nang về nghệ thuật lãnh đạo, một chiếc “gương soi” mà mọi vị chủ gia đình cho đến những người đứng đầu đất nước đều nên soi vào mỗi ngày. ### Sự viên tịch kỳ lạ Vào một ngày nọ, khi đang cư ngụ tại ngôi chùa ba tầng thuộc tu viện Min Ywa, kinh thành Amarapura, Ngài Sayadaw gọi các thí chủ đến và bảo: ## TRANG 174 “Ta tuổi đã cao, giờ lâm chung đã cận kề. Các con hãy đóng hai chiếc quan tài mang đến đây cúng dường cho ta”. Các thí chủ nghe vậy không ai dám hỏi lại, chỉ biết lẳng lặng rút lui và cố gắng chuẩn bị những chiếc quan tài tốt nhất, nhanh nhất có thể. Khi quan tài đóng xong, họ mang đến chùa. Sau khi đặt một chiếc ở vị trí thích hợp, họ mang chiếc còn lại đến gần Ngài để trình xem mẫu. Ngài Sayadaw liền rời khỏi chỗ ngồi, bảo: “Để xem cái quan tài của các con có vừa với ta không nào”. Nói đoạn, Ngài bước vào nằm thử trong quan tài. Nhưng rồi, Ngài không còn ngồi dậy nữa. Ngay khi vừa nằm xuống, hơi thở đã dứt, Ngài đã thu thần tịch diệt, kết thúc vở diễn cuộc đời. Các thí chủ nhìn nhau ngơ ngác, sững sờ hồi lâu, không biết phải xử trí ra sao. Đúng lúc đó, một vị sư khách (āgantuka) bước tới. Mọi người trấn tĩnh lại và đảnh lễ vị sư ấy. Gương mặt vị sư khách không hề lộ vẻ ngạc nhiên hay bàng hoàng. Ngài tiến đến bên kim thân của Ngài Taung Lay Lone Sayadaw rồi chỉ nói nhẹ nhàng: “À... thì ra đức Đại Hòa thượng đã viên tịch rồi”. Nói xong, Ngài đứng yên, nhắm mắt tĩnh lặng quán chiếu về định luật vô thường (saṅkhāra). Các thí chủ cũng lặng lẽ chắp tay chờ đợi. Một lúc sau, vị sư khách mở mắt, nhìn về phía một góc chùa rồi hỏi: “Ồ... đằng kia cũng có một chiếc quan tài nữa sao?”. Nói rồi Ngài đi tới chiếc quan tài thứ hai, cũng bước vào nằm thử. Và rồi, vị sư này cũng không bao giờ dậy nữa. Ngài đã xả báo thân, tịch diệt ngay tại đó. Lần này, các thí chủ còn kinh ngạc hơn nữa khi chưa kịp thưa thỉnh điều gì. Đến lúc này, họ mới hiểu tại sao Ngài Sayadaw lại bảo đóng hai chiếc quan tài. Vị sư khách ấy không ai khác chính là sư đệ của Ngài Taung Lay Lone Sayadaw — Ngài U Dhammapiya. Câu chuyện về sự viên tịch kỳ lạ của hai anh em Ngài Sayadaw được ghi lại trong tác phẩm ‘Visuddhimagga Arathar’ (trang 129) của Ngài Nyaung Lay Pin Taw Ya Sayadaw U Ariya. Tuy nhiên, trong cuốn sách đó ghi vị sư khách là sư huynh của Ngài Taung Lay Lone Sayadaw. Dựa trên các tình tiết nghiên cứu trong ‘Dhammapiya Jetmon’, có nhiều khả năng đó chính là sư đệ Dhammapiya. Vì thế, tôi ghi lại ở đây là “sư đệ U Dhammapiya”. ## TRANG 175 ### Nguyện vọng và Lời huấn thị của Ngài Sayadaw Mặc dù Ngài Sayadaw vĩ đại đã biên soạn rất nhiều bộ kinh sách quán chiếu khác nhau, nhưng nguyện vọng và mục đích của Ngài chỉ duy nhất có một điều. “Mong sao quyển sách nhỏ này, giống như lớp váng dầu lan tỏa trên mặt nước, sẽ được phổ biến rộng rãi khắp mọi nơi. Ngay cả khi ta qua đời, bộ kinh này sẽ thay mặt ta phục vụ cho sự nghiệp của bậc **Sabbaññu** (Chính Biến Tri), làm tròn ý nguyện của Đức Phật và mang lại lợi ích cao thượng cho tất cả chư thiên và nhân loại cho đến khi viên thành.” (Trích lời kết của *Namotassa Gambhīra* và *Amatadvāra Shwebwe*.) Ở hầu hết các tập quán chiếu, Ngài thường tự tay dùng bút chì sắt khắc ghi những lời trên vào lá buối ở phần kết thúc. Theo đúng nguyện vọng đó, từ năm 1164 (lịch Myanmar), tức là khá lâu trước khi Ngài viên tịch, nhà in “Rammapura” ở thành phố Mawlamyine đã cho in ấn trọn bộ 12 tập quán chiếu đã hoàn thành, góp phần hiện thực hóa tâm nguyện của Ngài. Khi đó Ngài vẫn còn tại thế nên có thể đã được tận mắt chứng kiến điều này. Ngoài ra, trong nội dung của tập “Amatadvāra Shwebwe” (Tập 2, trang 66), chúng ta còn đọc được một lời giáo huấn đặc biệt mà Ngài đã để lại cho hậu thế. Lời huấn thị đó như sau: “Vào năm **Ekasaṭṭhi satasahassa** = (1161), Ngài Sayadaw xứ Catugiri đã để lại lời giáo huấn và nhắn nhủ cho những người thuộc thế hệ mai sau rằng: ‘Hãy luôn giữ chánh niệm (Sati) và nỗ lực tinh tấn (Viriya).’ Chúng ta sẽ không thể sống mãi bên nhau mà không già, không chết, không tan rã. Một người bỏ lại người kia mà ra đi, điều này đã từng xảy ra rất nhiều trong quá khứ, sẽ còn tiếp tục diễn ra trong tương lai, và ngay cả hiện tại cũng đang diễn ra như vậy. Hãy khởi tâm kinh cảm (Saṃvega) rằng đây là bản chất tự nhiên, là quy luật của vòng luân hồi (Saṃsāra-vaṭṭa).” ## TRANG 176 ### Ngài Muninda-ghosa và Ngài Gambhīsāra – Những bậc đắc Thiền Vào năm 1114, dưới triều đại của Vua Bodawpaya – người sáng lập kinh đô Amarapura, tại vùng Yesagyo lan truyền tin tức về sự xuất hiện của hai bậc tu sĩ đặc biệt. Đó là bậc thầy – Tỳ-khưu Muninda-ghosa và người đệ tử – Tỳ-khưu Gambhīsāra. Dù là thầy trò nhưng mỗi vị trú ngụ tại một ngôi chùa riêng biệt. Vào một ngày đại lễ Rằm tháng Tư (tháng Wasit) bắt đầu mùa An cư, khi Ngài Gambhīsāra đến chùa của thầy mình để đảnh lễ, Ngài Muninda-ghosa sau khi ban lời giáo huấn đã kết luận bằng lời khuyến tấn: “Này Hiền giả Gambhīsāra, đừng lầm tưởng rằng hiện nay tinh hoa của Giáo pháp đã đoạn tuyệt. Tinh hoa ấy vẫn còn hiện hữu. Chỉ vì người ta thiếu đi sự nỗ lực và tinh tấn nên mới cảm thấy như Giáo pháp đã mất đi cốt lõi. Hiền giả cũng chớ nên hờ hững. Đã đến lúc thích hợp để nỗ lực vun bồi giới hạnh và tiến tu đề mục hành thiền (Kammaṭṭhāna) rồi.” Câu nói “Đừng lầm tưởng rằng tinh hoa đã đoạn tuyệt” là cách nói dựa trên Pháp bảo (dhamma-adhiṭṭhāna), vì là bậc xuất gia nên Ngài không trực tiếp nói về chứng đắc cá nhân do tôn trọng giới luật (Vinaya), mà chỉ ám chỉ một cách khéo léo. Ngài Gambhīsāra hiểu rõ thâm ý đó. Vị đệ tử cung kính tiếp nhận lời dạy rồi trở về chùa, bắt đầu nghiên cứu lại các kinh điển Pāḷi và các luận thư về Minh sát (Vipassanā). Khi đọc trong năm bộ Chú giải lớn (Aṭṭhakathā), Ngài thấy cách phân chia năm thời kỳ của Giáo pháp dường như cho rằng thời nay không còn có thể đắc được Thiền định (Jhāna) và Thắng trí (Abhiññā), điều này khiến Ngài không khỏi trăn trở. Một số bậc đa văn túc học cũng nản lòng, cho rằng thời này đừng nói đến quả vị A-la-hán, ngay cả Thiền định cũng khó lòng đạt được. Chỉ đến khi đọc được lời Đức Phật dạy cho du sĩ Subhadda trong kinh Đại Bát Niết-bàn (*Mahāparinibbāna Sutta*): “Dù trải qua một ngàn năm hay mười ngàn năm, chừng nào Chánh pháp còn được thực hành đúng đắn, thì mục đích cứu cánh vẫn có thể đạt được vào bất cứ lúc nào”, Ngài mới hạ quyết tâm tin tưởng tuyệt đối và lập kế hoạch hành trì. Trong 40 đề mục hành thiền, Ngài chọn đề mục phù hợp với tính khí (carita) của mình: đó là Biến xứ màu xanh (Nīla-kasiṇa). Trong khi tu tập đề mục này, chẳng bao lâu Ngài đạt được định lực, cảm nhận được sự an tịnh và hỷ lạc của Pháp (dhamma-pīti, dhamma-sukha). Một ấn tướng (nimitta) xanh biếc như hoa đậu biếc hiện ra rõ rệt. Lúc bấy giờ, Ngài vô cùng hoan hỷ và càng thêm kính trọng lời dạy của thầy mình rằng tinh hoa Giáo pháp vẫn chưa đoạn tuyệt. Với tâm niệm “đây mới chỉ là bắt đầu”, Ngài tiếp tục quán chiếu thâm sâu hơn. Trong luồng ánh sáng xanh ấy, hình ảnh một con voi xuất hiện. Rồi trên hình ảnh con voi, các ấn tướng sư tử, long vương, kim xì điểu lần lượt xuất hiện chồng lên nhau. Thêm vào đó, vô số những ấn tướng kỳ lạ khác hiện khởi không sao đếm xuể. Ngài vẫn chưa tường trình việc này với thầy mình, trong lòng vẫn còn chút phân vân, chưa chắc chắn. ## TRANG 177 Một ngày nọ, trong khi đang đi bát vào làng, hơi thở ra vào bỗng nhiên ngừng bặt, trạng thái này kéo dài suốt hai đến ba giờ đồng hồ. Lúc bấy giờ, khi mùa An cư đã kết thúc, nhân dịp đến đảnh lễ thầy, Ngài đã tường trình đầu đuôi sự việc. Sau khi kiểm tra kỹ lưỡng, vị thầy vô cùng hoan hỷ, trích dẫn các đoạn kinh Pāḷi để xác chứng và nói rằng: “Này Hiền giả, trạng thái này được gọi là Tứ thiền (Catuttha Jhāna).” Rồi Ngài dặn dò đệ tử tiếp tục nỗ lực hành trì. ### Tin tức lan đến kinh đô Tin tức về việc hai thầy trò tại thành phố Yesagyo đắc Thiền đã lan tới hoàng cung của Vua Bodawpaya tại kinh đô Amarapura và truyền đi khắp mọi thị tứ, làng mạc. Khi đó, nhà vua đã thỉnh bốn vị Hòa thượng bác học lừng danh vào cung và thưa rằng: “Trẫm rất lấy làm hoan hỷ khi nghe tin tức về hai vị tăng sĩ ở thành phố Yesagyo. Trẫm tin rằng đây là dấu hiệu của sự hưng thịnh của Giáo pháp. Kính mong các Ngài ai lân lặn lội đến Yesagyo để thẩm tra, đối chiếu sự việc xem có phù hợp với kinh điển hay không. Nếu thực sự đúng như lời đồn, Trẫm mong muốn được thỉnh các Ngài về kinh đô để cúng dường và quy y.” Bốn vị Hòa thượng đó gồm có: Sayadaw Bhākarā, Sayadaw Methī, Sayadaw Mañjīto và Sayadaw Mahādān-wun. Các Ngài hoan hỷ nhận lời và ấn định ngày lên đường. Nhà vua cũng ban sắc lệnh cho các quan cai quản và các bậc thân hào nhân sĩ tại vùng Yesagyo chuẩn bị đầy đủ các vật dụng hộ độ (tứ vật dụng) để đón tiếp phái đoàn. Ngài Muninda-ghosa thông qua các quan chức địa phương đã nghe biết được tin này, Ngài liền gọi Ngài Gambhīsāra đến chùa và nói: “Này Hiền giả, từ vài lời hé mở với một vài người thân cận mà tin tức cứ thế lan rộng, đến mức kinh đô cũng đã hay biết. Ta nghe nói nhà vua đã thỉnh bốn vị Hòa thượng đại trưởng lão đến đây để thẩm vấn chúng ta. Các Ngài sắp đến rồi...” ## TRANG 178 “Khi được thẩm vấn, con hãy trình bày tất cả những gì sinh khởi trong tâm mình một cách đúng như thật, không thêm bớt. Ta cũng sẽ chịu thẩm vấn như vậy thôi”. Ngài đã nhắc nhở đệ tử như thế. Đối với các hành giả, điểm này vô cùng quan trọng. Việc trình bày hoặc thảo luận về những gì mình chứng nghiệm một cách trung thực, không thêm bớt, chính là chi pháp “Trung thực, không quanh co” (**Asaṭho, amāyāvī**) trong năm **Pháp Cần** (**Padhāniyaṅga**). Chỉ khi có được sự ngay thẳng đó, hành giả mới có thể thăng tiến. Vào ngày đã định, bốn vị Đại Trưởng lão đã ngự đến và an trú tại một ngôi chùa tạm ở thị trấn Yesagyo. Hai thầy trò Ngài **Munindaghosa** được cung thỉnh đến để thẩm vấn. Ngài **Munindaghosa** bạch rằng: “Bạch Ngài, con có thể đắc định từ Sơ thiền đến Tứ thiền một cách thuần thục. Tuy nhiên, về phần **Về-si-bo** (**Vasībhāva** - sự thuần thục tự tại), con đã cố gắng rèn luyện nhưng vẫn chưa thực sự viên mãn”. Khi các vị Đại Trưởng lão thẩm vấn: “Các sư có thầy hướng dẫn hành thiền không?”, Ngài **Munindaghosa** đáp: “Bạch các Ngài, con không có thầy hướng dẫn. Con chỉ dựa vào việc nghiên cứu bộ luận **Thanh Tịnh Đạo** (**Visuddhimagga**) để thực hành”. Vị đệ tử là Ngài **Gambhīsāra** cũng trình bày rõ ràng, không giấu giếm tất cả những gì đã sinh khởi trong tâm từ lời sách tấn của thầy cho đến các tướng định (nimitta) đã hiện khởi. Bốn vị Đại Trưởng lão đã thẩm vấn và cân nhắc nhiều lần, sau đó phán rằng: “Hừm, theo như những lời trình bày thì có những điểm phù hợp với kinh điển, nhưng cũng có những điểm không phù hợp”. Lúc ấy, Ngài **Munindaghosa** bạch rằng: “Bạch các Ngài, xin các Ngài chỉ giáo rõ điểm nào phù hợp với kinh điển và điểm nào không phù hợp”. Các vị Đại Trưởng lão đáp: “Hừm... Pháp phát sinh nơi tâm người khác không phải là pháp nơi tâm mình, thế nên chúng ta không thể khẳng định tuyệt đối đâu là đúng, đâu là sai”. Sau đó, bốn vị Đại Trưởng lão trở về kinh đô. Không lâu sau, Vua Bodawpaya băng hà, khiến cho vấn đề này vẫn chưa được giải quyết dứt điểm. Năm Vua Bodawpaya băng hà là năm 1181 (lịch Miến Điện). Sau đó, dưới triều vua Bagyidaw (1181-1199), bậc thượng nhân **Munindaghosa** đã chuyển đến trú ngụ tại tịnh thất Pabha (Pabhā-khyoung) ở dãy núi Sagaing. (Suối Pabha nằm gần chùa Punnyashin và hang Umìn-ko-se, vẫn còn tồn tại đến ngày nay. Cũng có nơi viết là Pabbā-khyoung). Nhà vua cũng đã hộ độ bốn món vật dụng cho Ngài. Tại tịnh thất Pabha, ## TRANG 179 Ngài đã thuyết giảng và hướng dẫn pháp **Hành thiền** (**Kammaṭṭhāna Bhāvanā**) cho đông đảo đệ tử gồm cả chư tăng và cư sĩ từ khắp nơi đổ về. Danh tiếng của Ngài lừng lẫy khắp bốn phương là một bậc Thánh đắc Thiền (**Jhānalābhī**). (Thông tin này được ghi lại trong bộ **Bhāvanānaya Dīpanī**). ## TRANG 180 ### Vị A-la-hán thành Inwa: Ngài Saddhamma-laṅkāra Vào triều vua Bagyidaw, tại chùa Mohnyin ở thành Inwa, có hai vị sư bạn lữ đang cùng nhau tu học Pháp học (**Pariyatti**). Một vị là Ngài **Saddhamma-laṅkāra**, vị kia là Ngài **Visuddhācāra**. Cả hai đều vô cùng cung kính Luật tạng và rất thân thiết với nhau. Họ cũng rất tinh thông Pháp học. Một ngày nọ, Ngài **Saddhamma-laṅkāra** bàn luận với Ngài **Visuddhācāra** rằng: “Này hiền giả, chúng ta đã có được thân người khó đắc, lại được xuất gia làm Tăng. Chúng ta cũng đã am hiểu Pháp học (**Pariyatti**) trong khả năng của mình. Tuy nhiên, ngoài việc giữ mình không phạm lỗi, chúng ta vẫn chưa thực hiện phận sự của một vị sa-môn. Một khi phận sự chưa hoàn tất, hiểm họa luân hồi vẫn là điều đáng lo ngại. Thuở trước, có một con cá lớn tên là **Piṅgala**, kiếp trước vốn là một vị Trưởng lão cực kỳ thông thái, từng dạy Pháp học cho hàng ngàn đệ tử tại nhiều tự viện lớn. Chỉ bấy nhiêu Pháp học thôi vẫn chưa thể giúp thoát khỏi hiểm họa khổ cảnh. Kinh dạy: “**Pariyatti bahulo no dhammavihārī**” - người chỉ thông thạo kinh điển thì chưa được gọi là người an trú trong Pháp. Này hiền giả, tôi nghĩ đã đến lúc chúng ta nên thực hành thiền **Vipassanā**”. Ngài **Visuddhācāra**, vốn có sẵn hạt giống trí tuệ **Sanh-vê-ga** (**Saṃvega** - sự chấn động tâm tư trước sanh tử) và **Ba-la-mật**, đã đáp rằng: “Hiện nay, con tin rằng các pháp **Đạo, Quả, Niết-bàn, Thiền định và Thắng trí** vẫn có thể chứng đắc được. Con vốn đã có tâm nguyện tu tập **Vipassanā** từ lâu, nay nghe Ngài nói vậy con vô cùng hoan hỷ. Tuy nhiên, việc này không nên làm mà thiếu thầy hướng dẫn. Kinh cũng dạy: “**Yathābhūtaṃ ñāṇāya satthā pariyesitabbo**” - muốn biết đúng như thật về Danh và Sắc thì phải tìm thầy chỉ dạy. Bạch Ngài, Ngài đã tìm được vị thầy nào chưa?”. “Ta rất đồng ý với ý kiến của hiền giả. Nếu vậy, chúng ta hãy đi tìm một vị thầy vừa tinh thông kinh điển, vừa có khả năng hướng dẫn thực hành đạt đạo. Như Ngài **Upatissa** và **Koliṭa** thuở xưa, hiền giả hãy đi một ngả, tôi đi một ngả. Hễ ai tìm được minh sư thì phải báo cho người kia biết”. Ngài **Saddhamma-laṅkāra** đề nghị như vậy và hai vị đã lập lời thệ nguyện với nhau. Mỗi vị chỉ với một bình bát và ba tấm y, họ lên đường tìm thầy, hành trình ấy kéo dài hơn hai năm. Ngài **Saddhamma-laṅkāra** đi khắp nơi vừa dò hỏi tin tức vừa tu tập, cuối cùng đã đến núi Sagaing. Lúc ấy, bậc thiền đắc từ Yesagyo là **Ngài Pabhā Chaung** đang trú tại đó. Ngài **Saddhammālaṅkāra** không biết ngài **Visuddhācāra** đang ở đâu, nên một mình đến Pabhā Chaung. ## TRANG 181 ### Chuẩn bị trước khi vào thiền đường Ngài Shin Saddhammālaṅkāra đến đảnh lễ bậc đắc Thiền (jhāna-lābī) tại tu viện Pabā-chaung và cung kính khẩn cầu ngài ban truyền pháp hành thiền (kammaṭṭhāna). Sau đó, vị thầy đã khai thị các chuẩn bị sơ khởi (parikamma) cho pháp hành Minh sát vốn là điều mà các hành giả phải tuân thủ nghiêm ngặt. Ngài ra lệnh phải tuyệt đối tránh xa **10 pháp chướng ngại (palibodha)**. Vị thầy dạy rằng: “Này hiền giả, trước hết phải làm cho Giới hạnh được thanh tịnh. Không có đôi chân của Giới thì không thể tiến bước. Dẫu phân tích chi tiết theo 227 giới luật thì rất nhiều, nhưng nếu có thể giữ gìn ba nghiệp thân, khẩu, ý thì coi như đầy đủ. Trong ba điều đó, nếu chế ngự được tâm mình thì không còn giới luật nào là nặng nề nữa. Mọi thứ sẽ trở nên nhẹ nhàng. Ngoại trừ tám món vật dụng thiết yếu (bát kỉnh pháp/bát phụng sự), không được giữ thêm bất cứ vật tư hữu nào. Nếu giữ đồ dư thừa, dù sống một mình cũng không gọi là bậc độc cư (ekacāra). Như câu ‘vị sa-di không dứt khói thì chưa thực sự xuất gia’, nếu cứ nuông chiều theo vị giác thì không bao giờ dứt được; phải biết tri túc với những gì mình có. Này hiền giả, ông có làm được không?” Ngài Shin Saddhammālaṅkāra thưa rằng: “Con nhất định sẽ tuân theo mọi lời thầy dạy.” ### Niệm hơi thở và "túi ngọc báu" Khi đó, vị thầy tiếp tục dạy rằng: “Này hiền giả, tốt lắm. Nếu đã vậy, trước hết ông hãy hướng tâm vào ân đức Phật trước bảo tháp và hành lễ. Hãy dâng hiến cả thân và mạng sống lên đức Thế Tôn một cách không hối tiếc, rồi sau đó mới nỗ lực tu tập tâm từ (metta). Sau khi hướng tâm về đạo quả Niết-bàn (Nibbāna), ông phải thực hành pháp niệm hơi thở (ānāpāna-kammaṭṭhāna). Phải tỉnh giác theo dõi hơi thở ra và hơi thở vào tại đầu mũi, mỗi khi nó chạm vào thì phải biết rõ. Đừng để tâm rong ruổi ra ngoài. Thiền định không khó, chỉ cần có đức tin (saddhā) và sự tinh tấn (viriya) mà thôi. Này hiền giả, hãy chỉ hướng tâm đến Đạo vô vi (Asaṅkhata) và Niết-bàn cao thượng. Dẫu cho hôn trầm (thīna-middha) và vô minh (avijjā-moha) có xâm chiếm đến mức phải nằm xuống nghỉ ngơi, cũng không được buông lơi sự tỉnh giác tại đầu mũi. Giống như tư thế ngủ của sư tử chúa, khi thức dậy, tư thế thân mình và chân tay không được xáo trộn. Ngoài ra, giống như người đàn ông mang theo túi vàng và ngọc quý đi đường dài, dù muốn ngủ cũng không dám ngủ. Dẫu cho quá mệt mỏi mà ## TRANG 182 ngủ thiếp đi dưới một bóng cây, nhưng vì vẫn lo lắng cho tài sản nên không ngủ một cách bình thản, mà hễ thức dậy là tay liền nắm chặt túi vàng; ông cũng phải bảo vệ hơi thở ra, hơi thở vào như thế đó, này hiền giả. Nếu chưa thể nắm bắt rõ ràng pháp niệm hơi thở (ānāpāna kammaṭṭhāna), thì khi đi khất thực, khi đi múc nước, hễ bước chân trái thì biết là chân trái, bước chân phải thì biết là chân phải; phải chú tâm tỉnh giác đặt vào bàn chân mà ghi nhận. Này hiền giả, ông là người thông suốt kinh điển Pháp học (Pariyatti) nên rất tốt. Những người không thấu hiểu kinh điển thường quá tin vào kiến giải cá nhân dẫn đến sai lạc. Hãy cố gắng giữ cho Tín - Tuệ và Tấn - Định được quân bình, này hiền giả.” Vị thầy đã chỉ dạy tỉ mỉ mọi điều liên quan đến pháp hành thiền không thiếu sót điều gì. ### Không ngủ không nghỉ, dẫu có chết cũng không sờn Ngài Shin Saddhammālaṅkāra tìm được một hang động tại tu viện Pabā-chaung để bắt đầu công phu. Trước tiên ngài hành lễ, dâng hiến trọn vẹn thân thể cho đức Thế Tôn không chút tiếc rẻ. Sau đó ngài rải tâm từ và hồi hướng công đức. Trong quá trình thực hành, ngài bị các chướng ngại như si (moha) và hôn trầm (thīna-middha) hành hạ; ban ngày thì nỗ lực, ban đêm lại bị vô minh che lấp, tâm thức lúc mờ lúc tỏ (một lớp vô minh xen kẽ một lớp trí tuệ). Ngài phải đi kinh hành, rửa mặt bằng nước lạnh, đọc tụng kinh điển, nhéo tai... để chế ngự cơn buồn ngủ. Sau bốn, năm ngày, vị thầy dạy rằng: “Này hiền giả, nếu không thể chịu đựng được mà đi ngủ, ông sẽ mãi chìm đắm trong vòng luân hồi không bao giờ tỉnh thức. Ông đã ngủ quá đủ rồi. Đối với một hành giả, có một ‘nơi không buồn ngủ’, hiền giả phải đạt đến đó mới được.” Nghe lời dạy đó, với đức tin và sự tinh tấn không chùn bước, ngài thưa: “Con xin được phép thọ trì hạnh đầu đà Nhất tọa thực (Nisajja-dhutaṅga) nếu thầy cho phép.” Vị thầy liền khuyến khích ngài thực hiện. Hạnh đầu đà Nisajja (hạnh không nằm) nghĩa là vị hành giả phát nguyện không nằm ngủ dù ngày hay đêm. Không chỉ là không ngủ, mà ngay cả khi thức cũng không được đặt lưng xuống giường. Đây là một phương pháp đại nguyện để tiêu diệt tận gốc si và hôn trầm. Bậc thánh nhân ấy đã nỗ lực với tâm niệm “dẫu không ngủ không nghỉ mà phải chết cũng cam lòng”, thậm chí không màng đến việc thân thể đang lâm bệnh. Trong lúc thực hành, vì hôn trầm quá mạnh, có khi ngài ngã quỵ ngay khi đang đi kinh hành. Nhưng hễ ngã xuống, ngài lại gượng dậy tiếp tục bước đi. Vào một đêm nọ, ngài lên bảo tháp Puñña-shin tại Pabā-chaung, không chỉ trước vị thầy mà còn trước tôn tượng đức Phật, ngài đã cung thỉnh thọ trì hạnh Nisajja-dhutaṅga một cách nghiêm cẩn hơn nữa: “Tôi nguyện từ nay cho đến trọn đời, chừng nào chưa đắc quả Alahan, tôi sẽ không nằm ngủ.” ## TRANG 183 Ban đầu tưởng chừng như rất khó khăn, nhưng khi đức tin, nguyện lực và sự tinh tấn dâng cao thì mọi việc trở nên dễ dàng. Chẳng bao lâu, ngài bước vào giai đoạn Tuệ Minh sát sơ khởi (Taruṇa-vipassanā) và Tuệ Kiến thực như (Yathābhūta-ñāṇa), quan sát thấy rõ sự sinh diệt của danh và sắc. Ngài đã có thể đoạn trừ phiền não bằng phương pháp Đoạn trừ từng phần (Tadaṅga-pahāna) và Chế ngự (Vikkhambhana-pahāna). Theo chú giải Tăng Chi Bộ (Aṅguttara Aṭṭhakathā), những ai nỗ lực tu tập Minh sát Chánh kiến như vậy, nếu không đắc quả Alahan ngay trong kiếp này thì cũng không quá bảy kiếp nữa. Trong số các hành giả tăng tục tại Pabā-chaung, danh tiếng của ngài Shin Saddhammālaṅkāra ngày một vang xa, ngài trở thành vị đệ tử khiến thầy vô cùng hài lòng và an tâm. Vào một ngày nọ, ngài xin phép vị thầy đắc Thiền để rời khỏi Pabā-chaung, vì ngài nhận thấy mình có trách nhiệm phải báo tin cho ngài Shin Visuddhācāra như lời hứa trước kia. Sau khi rời đi, ngài dò hỏi tin tức của ngài Shin Visuddhācāra nhưng không thấy tăm hơi, bèn quay về tu viện cũ là Moe-hti ở kinh thành Ava. Lúc đó, ngài Shin Visuddhācāra sau hai, ba năm bôn ba tìm thầy không thành, đang tạm dừng chân dạy học tại tu viện Moe-hti để khuây khỏa tâm trí, nên hai người đã gặp lại nhau. Sau khi hàn huyên tâm sự và nghe kể về vị thầy tại Pabā-chaung, ngài Shin Visuddhācāra đã đồng ý cùng đi đến đó. Hai vị cùng rời tu viện Moe-hti, đến đảnh lễ bậc đắc Thiền và cùng nhau tọa thiền. Chẳng bao lâu sau, ngài Shin Saddhammālaṅkāra sau khi đã nỗ lực tu tập đạt được kết quả như ý, đã cung kính đệ trình lên thầy và rời khỏi Pabā-chaung. Ngài chọn làng Nat-su thuộc huyện Lamain, phía đông thành phố Amarapura làm nơi khất thực (gocara-gāma) và dừng chân trú ngụ. Ngài vừa tự mình tu tập pháp thiền Định và thiền Minh sát, vừa hướng dẫn phương pháp cho đông đảo tăng tục. ### Bệnh càng nặng, nỗ lực càng cao Thời gian trôi qua, ngài Shin Saddhammālaṅkāra mắc phải một căn bệnh hiểm nghèo vô cùng đáng sợ. Dù cơn đau có dữ dội đến mức nào, ngài vẫn âm thầm chịu đựng, chưa bao giờ đặt đầu và lưng xuống gối hay giường (không hề nằm ngủ), vẫn luôn ngồi kiên cố thực hành thiền định. Các đệ tử khi nhìn thấy cảnh tượng đó đều không khỏi xót xa, thương cảm. Cuối cùng, các đệ tử cùng nhau bàn bạc và thưa rằng: “Bạch thầy, thầy đã quá nhọc nhằn rồi, bệnh tình cũng cần được thuyên giảm. Cúi xin thầy tạm xả hạnh đầu đà Nhất tọa (Nisajja-dhutaṅga), đợi đến khi sức khỏe bình phục thì hãy tiếp tục nỗ lực tu hành.” Nghe vậy, giữa tiếng thở yếu ớt, thều thào không còn chút sức lực, ngài liền đáp: ## TRANG 184 “Này các đệ tử, pháp hành **Nisajjadhutaṅga** (Hạnh Đầu đà Ngồi) không phải chỉ được thọ trì vì lời phát nguyện. Pháp **Kammaṭṭhāna** (Thiền định) chính là vào lúc cận tử, khí lực suy yếu thì càng phải nỗ lực tinh tấn. Ngay cả người không có bệnh tật còn từng dùng đá đập vào đùi để tạo ra thọ khổ mà tu tập. Để đối kháng với tật bệnh, này các đệ tử, chỉ có duy nhất pháp hành **Kammaṭṭhāna** mà thôi. Sự chết vốn không phải là điều xa lạ; ngay cả chư Phật và các bậc A-la-hán cũng không ai có thể tránh khỏi.” Các đệ tử nghe vậy chỉ biết giữ im lặng. Sau một hồi nghỉ ngơi cho vơi bớt mệt nhọc, ngài nói lời cuối cùng: “Này các đệ tử, nếu các con yêu mến ta, thì trong lúc ta đang sắp lâm chung này, hãy chỉ nên khuyến khích ta phát khởi những pháp chưa từng được tu tập. Đừng vì lòng thương xót mà ngăn cản hay làm suy giảm những pháp mà ta đang nỗ lực hành trì.” Các đệ tử không còn ai dám thưa thỉnh thêm lời nào nữa, chỉ biết chuyên tâm chăm sóc hỗ trợ ngài trong lúc lâm bệnh. Chẳng bao lâu sau, **Cuti-kammaja-rūpa** (Tâm tử và các sắc do nghiệp tạo) chấm dứt, ngài chính thức xả bỏ thân xác (viên tịch). Thời điểm đó là lúc vua Pagan lên ngôi tại kinh đô Amarapura. Các đệ tử đã lo liệu pháp thể của ngài và gửi tin báo về cung đình. Bởi lẽ, vị Thiền sư vốn là bậc thầy quy y mà Hoàng tử em trai vua (**Vua Mindon**) hằng tôn kính. Sau đó, đích thân Hoàng tử Mindon (người mà sau này trở thành vị vua vĩ đại chủ trì kỳ Kết tập Tam tạng lần thứ V) đã đứng ra tổ chức lễ hỏa táng. Khi pháp thể đã cháy thành tro và lửa đã tắt, các đệ tử tranh nhau dội nước để tìm kiếm và thu gom xá-lợi xương để thờ phụng. Trong khi các phần xương khác đều bị thiêu trụi và vỡ vụn, thì hai khúc xương cánh tay (từ khuỷu tay đến cổ tay) vẫn còn nguyên vẹn, tỏa ra sắc vàng óng ánh đẹp đẽ như thể vừa được dát một lớp vàng nguyên chất. Người dân từ khắp nơi gần xa nghe danh đã kéo đến chiêm bái rất đông. Mọi người đều truyền tụng rằng ngài chính là một bậc Thánh A-la-hán. (Sự việc này được ghi chép đúng theo thực tế trong tập sách *Bhāvanānaya Dīpanī*. Trong bản gốc vốn không ghi rõ năm tháng cụ thể). ## TRANG 185 ### Ngài Visuddhācāra ở tu viện Mothi Về Ngài **Visuddhācāra**, không thể khẳng định chắc chắn ngài là bậc Thánh (Ariya). Tuy nhiên, vì ngài có mối liên hệ với các bậc tiền bối thuở xưa, cũng như đức tin (**Saddhā**), sự tinh tấn (**Vīriya**) và những dấu hiệu chứng đắc pháp của ngài là tấm gương cho hậu thế noi theo, nên nơi đây tôi xin tóm lược tiểu sử của ngài theo bản gốc. Vào đêm trước khi cùng với người bạn là Ngài **Saddhammālaṅkāra** rời tu viện Mothi ở Inwa để đến Sagaing, Ngài **Visuddhācāra** trước khi ngủ đã thực hiện rải tâm từ, thỉnh cầu chư Thiên và mong cầu một điềm báo trong giấc mộng. Ngài nằm mơ thấy một chiếc thuyền vàng lớn chở đầy người đang chèo tới; khi ngài đứng ở bến cảng vẫy tay ra hiệu, chiếc thuyền đã dễ dàng đưa ngài sang bờ bên kia. Suy luận từ ý nghĩa giấc mơ, ngài vô cùng hoan hỷ, mang theo một bình bát, ba tấm y và cuốn sách lá buông **Visuddhimagga** (Thanh Tịnh Đạo), cùng Ngài **Saddhammālaṅkāra** lên đường đến động Pabhā. Khi đến động Pabhā, vị Thiền sư **Jhānalābhī** (Bậc đắc Thiền) sau lời chào hỏi đã hỏi rằng: “Này hiền giả, ông muốn ở đây để hành đạo hay để học tập kinh điển? Nếu muốn hành đạo, hãy ở lại tu viện trong rừng này. Nếu muốn học tập kinh điển, hãy ở một tu viện nào đó gần làng. Trên đường đi khất thực về, ta sẽ truyền dạy pháp cho ông.” Nhìn vào xấp sách lá buông lớn mà ngài đang mang theo, Ngài **Visuddhācāra** cùng lúc thưa rằng: “Con vừa muốn hành đạo, lại vừa muốn học tập kinh điển ạ.” Khi đó, vị Thiền sư liền đưa ra ví dụ: “Này hiền giả, những người lái đò trên dòng sông Ayeyarwady này, đối với người có mang theo hành lý, họ lấy một kyat (một đồng bạc). Đối với người không mang theo hành lý, họ chỉ lấy một nửa. Nếu một người mang hành lý nói rằng: ‘Thưa chủ đò, tôi sẽ không đặt hành lý xuống thuyền của ông mà sẽ tự mình vác trên vai trong suốt chuyến đi, xin ông hãy chỉ thu của tôi một nửa tiền thôi’, liệu người lái đò có đồng ý đưa đi hay không?” Nhận ra mình đã thưa sai và việc mang theo xấp sách **Visuddhimagga** là một gánh nặng tâm trí, ngài bèn sửa lời: “Con xin chỉ chuyên tâm hành pháp **Kammaṭṭhāna** (Thiền định) mà thôi.” Vị Thiền sư sau đó đã chỉ dẫn những giáo pháp căn bản theo phương pháp cổ xưa. Ngài phán: “Nếu muốn hành **Samatha** (Thiền định), phải thu thúc tâm. Nếu muốn hành **Vipassanā** (Thiền tuệ), phải quán chiếu **Ba tướng** (Lakkhana-ye) lên tất cả những gì nhìn thấy để buông xả tâm.” Ngài Visuddhācāra đã nỗ lực thực hành đề mục **Ānāpāna** (Niệm hơi thở). Dù trải qua sáu ngày, ngài vẫn không thể ghi nhận được, cảm thấy trong bụng căng tức và mệt mỏi vô cùng, nên đã đến thưa với bậc Thầy. “Này hiền giả, ông có **Dosa-carita** (Sân tính) rất nặng. Không phù hợp với **Ānāpāna**. Ông phải tu tập **Kasiṇa** (Đề mục biến xứ).” ## TRANG 186 Vừa dứt lời, Thầy đã ban cho ngài một đĩa **O dāta Kasiṇa** (Biến xứ màu trắng) đã được chuẩn bị sẵn. Thầy cũng hướng dẫn cách đặt đĩa Kasiṇa ở khoảng cách vừa phải trước mặt, không được cúi đầu hay ngẩng đầu quá cao để quan sát. ### Biến xứ Màu trắng và Tưởng về sự bất tịnh Khi ngài chuyên tâm quan sát và tâm niệm “Trắng, trắng”, sau chín ngày, ngài thấy từ trong đĩa Kasiṇa phát ra những luồng khói nghi ngút như một dấu hiệu (Nimitta). Khi ấy ngài vô cùng hoan hỷ, tin rằng mình đã cận kề Đạo Quả. Ngài không còn trò chuyện với bạn đồng tu, không cùng đi khất thực hay ăn chung với đại chúng mà chỉ một mình nỗ lực tinh tấn. Chẳng bao lâu, trong đĩa Kasiṇa ngài lại thấy ánh sáng lấp lánh như đom đóm, rồi rực rỡ như ánh trăng. Ngay cả khi rời mắt khỏi đĩa Kasiṇa, ở bất cứ nơi đâu ngài nhìn vào cũng thấy ánh sáng hiện lên rõ ràng như ánh trăng. Ngài càng thêm phần phấn chấn, lòng đầy hỷ lạc vì nghĩ rằng Đạo Quả đã tiến gần hơn bao giờ hết. Sau nhiều ngày duy trì được tướng của **O dāta Kasiṇa**, ngài suy nghĩ rằng: “Ta đã đạt được đề mục Kasiṇa một cách thanh tịnh rồi. Nay ta nên chuyển sang thực hành **Paṭikūlasaññā** (Tưởng về sự ghê tởm/bất tịnh) xem sao.” Nghĩ vậy, sau khi đi khất thực về, ngài múc một bát nước đặt trước tượng Phật trong hang đá, rồi quán chiếu bát nước đó như là một bát phân lớn. Ngay lập tức, hình ảnh đó hiện ra đúng như tâm ý ngài tưởng tượng. Tuy nhiên, khi đến giờ thọ thực, ngài nhìn vào bát cơm cũng chỉ thấy toàn là phân, khiến ngài chỉ ăn được một chút ít. Ngày hôm sau, ngài quán chiếu về đờm dãi, kết quả cũng tương tự khiến ngài không thể ăn được. Đối với người đã đạt được định (**Samādhi**) thông qua một dấu hiệu, việc chuyển đổi như vậy vốn luôn dễ dàng. ### Gặp Đức Phật và nỗi niềm rơi lệ Cho rằng “**Samatha** (Thiền định) như vậy là đã đủ, nay phải quán chiếu **Saṅkhāra** (Hành) lên tất cả những gì nhìn thấy để chuyển sang **Vipassanā** (Thiền tuệ) mới là đúng đắn”, vào một buổi chiều, ngài bắt đầu chuyển sang tu tập Vipassanā. Khi ấy, hình bóng một người phụ nữ mà ngài từng có sự vướng bận tâm trí từ thuở nhỏ lại hiện lên đầy tham luyến. Ngài phải tu tập đề mục **32 thể phần** (32 Koṭṭhāsa Kammaṭṭhāna) như tóc, lông, móng, răng... để phá tan sự dính mắc đó. Ngài quán chiếu về sự uế nhiễm tuôn ra từ chín cửa đạo, về sự thụ thai (**Paṭisandhi**), sự già, bệnh và chết. Ngài nhìn thấy hình ảnh một xác chết hiện ra. Khi ấy, ngài nhận ra **Ba tướng** (**Anicca** - Vô thường, **Dukkha** - Khổ, **Anatta** - Vô ngã) đã hiển hiện rõ rệt, và nhìn thấy rõ sự nguy hại của hạ liệt **Taṇhā** (Tham ái) trong tâm khảm của chính mình. ## TRANG 187 “Này **Taṇhā** (Ái dục) hèn hạ, khao khát tồi tàn! Vì ngươi mà ta phải luân hồi trong vòng sinh tử, lạc mất bao nhiêu vị Phật,” v.v... Ngài quán chiếu sâu sắc về những lỗi lầm của **Taṇhā** (Ái dục) và không ngừng quở trách nó. Khi ngài đối chất như vậy, Ái dục lại hiện ra dưới hình dạng một con người. Thực thể Ái dục đó thốt lên rằng: “Không phải chỉ mình ta hành hạ ngươi đâu,” rồi nó triệu tập 12 tâm bất thiện đồng hành cùng hiện ra. 12 thực thể này tăng thêm. Vị tỳ-kheo lại tiếp tục khiển trách và mắng nhiếc chúng. Chúng lại chỉ tay nói: “Không chỉ có chúng ta, còn có cả 10 phước nghiệp sự (Puñña-kiriyā) nữa kìa.” Thế là lại có thêm 10 thực thể nữa xuất hiện. Lúc này, ngài không còn sức để mắng mỏ gì thêm, cảm thấy không còn nơi nương tựa, ngài liền chạy trốn (trong tâm) về phía đức Phật. Nhóm kẻ thù vẫn đuổi theo sát nút. Nghe có tiếng gọi “Hãy đến đây!”, ngài chạy về hướng phát ra âm thanh và nhìn thấy một lâu đài vàng tráng lệ. Lâu đài có ba bậc thang; khi ngài lên đến bậc thứ nhất rồi bậc thứ hai, kẻ thù vẫn còn đuổi theo. Sau đó ngài lịm đi. Vừa khi tỉnh lại, từ bậc thang thứ ba ngài tiến vào bên trong lâu đài, lúc đó ngài cảm thấy thân mình tỏa ánh sáng vàng rực rỡ. Trước mặt ngài là đức Thế Tôn vô cùng uy nghiêm, ngài vui mừng khôn xiết, ôm lấy chân Phật mà đảnh lễ. Ngài thưa thỉnh rất nhiều điều rồi khóc nức nở một trận thỏa lòng. Tiếng khóc ấy không chỉ là trong tâm tưởng mà ngài đã thực sự bật khóc thành tiếng, nước mắt tràn trề ướt đẫm. Ngài **Saddhammālaṅkāra**, người đang hành thiền gần đó, nghe tiếng khóc liền ngoảnh lại nhìn. Thấy ngài đang khóc, vị ấy liền nói: “Chà... hiền giả **Visuddhācāra**, hỷ lạc (pīti) của hiền giả quả thật sâu dày thay!” Vị ấy không hỏi tại sao ngài khóc. Mặc dù nghe thấy lời nói đó, nhưng ngài vẫn không thể trả lời được. [ Ghi chú: “Cảnh giới” (Ārammaṇa) có thể do tưởng tri (**Saññaja**) của tâm tạo ra; cũng có thể là do những chuyện thực sự đã xảy ra trong quá khứ nay hiện lại; hoặc cũng có thể do các thế lực phi nhân biểu diễn để đánh lừa. Cần phải lưu ý rằng nếu buông lơi đề mục quán chiếu Danh - Sắc của mình mà cứ chạy theo các cảnh giới đó thì sẽ không có điểm dừng. Ở đây, cũng xin lưu ý việc hành giả tự ý thực hành mà không trình báo hay thỉnh giáo thiền sư khi có những hiện tượng đặc biệt diễn ra, cũng như việc thiền sư tự ý chuyển đổi đề mục cho đệ tử. ] ### Tưởng rằng đã đắc quả Thánh Sau khi được diện kiến đức Phật và khóc xong, sau khi cơn xúc động dần lắng xuống và nỗi khổ sầu tan biến, các tuệ giác về sự đáng sợ, lỗi lầm và sự nhàm chán đối với sinh tử bắt đầu hiện khởi. Lúc bấy giờ: ## TRANG 188 “Ta đã chứng đắc đạo đặc biệt, đạt đến Đạo cao Quả thượng rồi!” Với suy nghĩ (**Cintāmaya** - Tư tuệ, **Sutamaya** - Văn tuệ) như vậy, ngài lần lượt vượt qua 10 tiến trình của Tuệ quán và tâm **Adhimāna** (Tăng thượng mạn - ảo tưởng mình đã đắc thánh quả) lại khởi lên. Khi xả thiền và ngước nhìn lên bầu trời, sao Chitra đã lên đến đỉnh cung. “À... ta đắc đạo vào đêm rằm tháng Tư (Tagu), đúng vào lúc nửa đêm,” ngài tự ghi nhớ trong tâm như vậy. (Người hành thiền thường có thói quen ghi lại những điều đặc biệt xảy ra). Sáng hôm sau, ngài hân hoan đến gặp vị Thiền sư vốn là bậc đắc thiền định và thưa rằng: “Nhờ lòng từ bi rộng lớn của thầy mà con đã chứng đắc pháp đặc biệt (Đạo Quả) rồi.” Vị thầy đáp: “Ừm... hiền giả **Visuddhācāra**, hãy giữ chánh niệm cho thật kỹ. Gốc rễ của **Avijjā** (Vô minh) và **Taṇhā** (Ái dục) vốn đã bám sâu vào dòng dõi phàm phu, rất khó đoạn tuyệt. Ví như một cây đa lớn bị sét đánh, dù cành lá có gãy đổ hết nhưng nếu rễ cái (rễ nuôi cây) không bị tổn thương, thì khi mưa xuống, từ gốc cây khẳng khiu ấy mầm non sẽ lại đâm chồi. Hãy thật trọng nấy!” Sau khi ở lại với thầy một thời gian, vì bạn đạo là ngài **Saddhammālaṅkāra** không còn ở đó nữa, ngài quyết định từ giã thầy. Ngài nghĩ rằng vì đã đắc pháp rồi nên không cần thiết phải ở lại thêm. Với tâm lòng đại bi muốn chia sẻ sự an lạc này cho cha mẹ già, thầy tổ và chúng sinh, ngài trở về thị trấn Taungpila ở vùng Kambawza để nhập định trong rừng. Ngài vừa tự mình nỗ lực, vừa hướng dẫn cho nhiều người khác. Tính từ tháng Tư (Tagu) khi ngài tưởng mình đắc đạo, đến tháng 11 (Tazaungmon) là tháng thứ tám, các pháp ngủ ngầm (**Anusaya**) vốn ẩn giấu bấy lâu nay bỗng nhiên trỗi dậy. “Chao ôi... lời thầy dạy thật đúng làm sao! Ta vẫn chưa vượt qua được dòng dõi phàm phu, gốc đa khẳng định nay đã đâm chồi rồi!” Ngài vô cùng hối hận và đau khổ. (Cần lưu ý rằng ngay cả các bậc thông thạo kinh điển cũng có thể gặp phải điều này. Pháp tánh vốn vô cùng sâu mầu). Nhận biết rõ mình chưa tận diệt được phiền não, ngài **Visuddhācāra** tiếp tục nhiếp tâm hành trì các pháp trong khả năng và trải qua phần đời còn lại trong rừng sâu. Tùy theo ba-la-mật của mỗi người, nhiều đệ tử theo học ngài đã đạt được sự tăng trưởng trong tuệ giác **Samatha** (Chỉ) và **Vipassanā** (Quán), không ít người đã chứng đắc pháp. Về sau, do duyên sự không thuận lợi, ba-la-mật đã tận, ngài không còn ở trong tăng đoàn mà sống đời cư sĩ đạo hạnh (Yogī), tiếp tục hành thiền trong rừng cho đến năm 1234 (Miến lịch). ## TRANG 189 Ngài qua đời vào thời vua Thibaw. Trải qua năm đời vua, ngài đã tận hiến vì lợi mình và lợi người bằng giáo pháp tùy theo ba-la-mật của mình. Ngài thực sự là một bậc đại sĩ dành cả đời ẩn dật nơi rừng sâu. (Về tiểu sử ngài **Visuddhācāra**, tôi đã tóm lược từ bản tiểu sử dài 27 trang tại vùng Demaisaik để đảm bảo sự đầy đủ và súc tích). ## TRANG 190 ### 8. Bối cảnh lịch sử thời đại Yadanabon của Giáo pháp Thực hành (Patipatti) tại Mandalay Thời đại Yadanabon Mandalay (1221-1247 Phật lịch, tương đương 1859-1885 Dương lịch) nên được gọi là thời kỳ mà Giáo pháp Học vấn (Pariyatti) đạt đến đỉnh cao. Những bản khắc kinh trên đá tại chân núi Mandalay từ kỳ Kết tập Tam Tạng lần thứ V chính là minh chứng sống động cho thời đại này. Dân số thành phố Mandalay bấy giờ hơn một trăm ngàn người, với tổng cộng 15.366 vị Tăng sĩ (tính cả vùng Amarapura). (Trong tập sách Ledi Tīkā Kyaw, căn cứ theo vần thơ “U-aw-twun-than-tha Man-myo-myat-thanh-ga”, con số này được ghi nhận lên đến 60.000 vị). Một đặc điểm nổi bật của thời đại Mandalay là việc hộ trì Giáo hội một cách hệ thống thông qua việc bổ nhiệm Hội đồng Sudhamma (Giáo hội trưởng), các quan đại thần Mahā-dān-wun, và các vị giảng sư (Cā-taw-cha) bậc nhất, bậc nhì, bậc ba. Trách nhiệm của hàng cư sĩ hộ pháp bấy giờ không có gì phải phàn nàn. Đức vua Mindon, với đức tin thuần thành của một bậc hộ pháp, không chỉ mong muốn Giáo pháp Học vấn (Pariyatti) hưng thịnh mà còn có thiện chí mãnh liệt trong việc phát triển Giáo pháp Thực hành (Patipatti). Ngài thấu hiểu rằng: "Có tri thức mà thiếu thực hành thì cũng bằng thừa". Vì thế, ngài đã ban hành "Đại sắc lệnh Dhamma-Vinaya" (Sắc lệnh Pháp và Luật) trên khắp kinh đô. Sắc lệnh này quy định: "Không được cúng dường cho các vị 'sư thầy bốc thuốc', 'sư thầy bói toán', hoặc những vị tỳ-kheo phi luật (alajji) – những vị dù khỏe mạnh vẫn cưỡi xe có thú kéo, mang giày trong làng xóm, che lọng, ăn trầu uống trà vô độ... Các bậc trưởng thượng trong làng phải nghiêm khắc ngăn cấm những vị này". Mục đích của sắc lệnh là rất tốt đẹp. Tuy nhiên, phần lớn các vị tu sĩ thời bấy giờ lại không hài lòng, họ phản đối và chống đối. Có sự phản kháng của chư Tăng đối với lệnh vua. Họ thậm chí còn ném những lời nhục mạ vào Sayadaw đảo Shan-kalay-gyun – người soạn thảo sắc lệnh – gọi ngài bằng những biệt danh như "lão bò rừng cụt sừng trong rừng sâu". Tuy nhiên, trước khi sắc lệnh được ban hành, số lượng các bậc đại trưởng lão hộ trì giáo pháp với giới hạnh thanh tịnh tuyệt đối cũng không hề ít. Cổ nhân và kinh điển có dạy: “Attānaṃ eva paṭhamaṃ, paṭirūpe nivesaye” – Người muốn uốn nắn, giáo huấn kẻ khác, trước tiên phải tự sửa mình. Người muốn thi uy quyền lực, trước tiên phải tự mình có uy lực (có nghĩa là quyền lực của giới hạnh – Sīla) thấm nhuần trong tâm khảm. Các bậc Bồ-tát qua muôn vàn kiếp sống chưa từng phá bỏ lời thề (Hạnh Chân thật – Sacca). Nhờ đó, trong mọi kiếp, quyến thuộc xung quanh luôn thuận theo ý ngài và giữ trọn lời hứa. Việc thực thi Đại sắc lệnh Dhamma-Vinaya ## TRANG 191 không đạt được kết quả như ý có lẽ là do năng lực triển khai của những người thực hiện còn yếu kém. Dù vậy, kết quả cuối cùng là kể từ đó, Giáo pháp Học vấn (Pariyatti) chỉ còn mạnh về lý thuyết suông, trong khi "cơ bắp" của đôi chân Giáo pháp – chính là Giới hạnh – đã dần lỏng lẻo mà không ai hay biết. #### Tu sĩ và Tiền bạc Chẳng hạn, theo lệ thường hàng năm, nhà vua đều dâng cúng gạo ăn cho toàn thể chư Tăng. Các vị giảng sư (Cā-taw-cha) được dâng cúng theo cấp bậc: bậc nhất 5 thùng, bậc nhì 4 thùng, bậc ba 3 thùng. Những vị thi đỗ kỳ thi Pariyatti bậc cao (Pathamongyi) sẽ được ban thưởng một chiếc nhẫn hồng ngọc và 1.500 tiền thưởng. Việc dạy và học cũng được thúc đẩy theo lệnh vua. Một hội đồng lãnh đạo tăng đoàn cùng với các vị Giáo hội trưởng được thành lập để hộ trì giáo pháp một cách hệ thống. Các quan chức phụ trách tôn giáo như Mahā-dān-wun được trả lương để chuyên tâm lo việc đạo. Theo thời gian, các quan chức này vì muốn tiện lợi nên thay vì dâng gạo (thời đó giá một thùng gạo là 2 kyat), họ đã chuyển sang dâng các loại đồng tiền bạc (tiền con công) cho nhanh chóng. Kể từ đó, "những bậc đắp y vàng" bắt đầu bị vướng vào vòng xoáy của "tiền con công". Vì tu sĩ và tiền bạc là hai thứ hoàn toàn không tương xứng, nên vào năm 1232 (Phật lịch), Ngài Sayadaw Visuddhācāra (chùa Maha Visuddhārāma) đã viết "Bức thư tâm tình về tiền con công" (Daung-metta-sar) đệ trình lên vua, giải thích rằng không nên dâng cúng tiền bạc cho chư Tăng. Dù mục đích là để làm cho giáo pháp hưng thịnh, nhưng việc dâng cúng vàng bạc thực chất là vũ khí hủy hoại giáo pháp. Điều này đã bị nghiêm cấm trong Luật tạng (Vinaya). Trong **Kinh Maṇicūḷaka thuộc Tương Ưng Bộ, Chương Sáu Xứ**, Đức Phật đã dạy: "Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo không được tìm cầu vàng bạc bằng bất cứ hình thức nào. Nếu vàng bạc là hợp lẽ, thì ngũ dục cũng là hợp lẽ. Nếu vàng bạc hợp lẽ, thì phụ nữ cũng hợp lẽ. Nếu chấp nhận ngũ dục, thì không còn gọi là Tỳ-kheo nữa." Trong Phật giáo Myanmar, kể từ thời điểm đó, một số vị tỳ-kheo đã bắt đầu quay lưng lại với những giới luật nghiêm cẩn này. Họ trở nên táo tợn hơn trong việc vi phạm. Họ dường như đã quên mất rằng chính vì vấn đề cầm giữ tiền bạc mà kỳ Kết tập Tam Tạng lần thứ II đã phải diễn ra để chấn chỉnh. Khi đã đầy đủ tứ vật dụng, còn mong cầu điều gì nữa? Nếu vật dụng vượt quá mức cần thiết, Đức Phật cũng không hài lòng. Trong bối cảnh giáo pháp hiện nay, cả người xuất gia lẫn người tại gia đều cần phải suy xét vấn đề tiền bạc này một cách thấu đáo và nghiêm túc. Phải suy xét thật kỹ! Mệnh lệnh của Đức Thế Tôn là tuyệt đối, không có chỗ cho những lý lẽ bao biện hay những mưu mẹo để lẩn tránh. Đó là một con đường thẳng tắp và trực diện. Các quy luật về Giới luật chính là ## TRANG 192 giáo pháp uy quyền, điều này cần phải được đặc biệt lưu tâm. #### Giáo pháp Thực hành căn bản thấm sâu vào hàng ngũ dân chúng Thời đại Yadanabon còn có một công cuộc hoằng pháp đặc biệt khác. Dù lợi ích to lớn không kém gì kỳ Kết tập Tam Tạng lần thứ V, nhưng công việc này thường không được nhìn nhận đúng tầm quan trọng của nó. Đó chính là việc đào tạo đội ngũ những người giữ giới (Uposatha-dāyaka) trong hàng ngũ thường dân. Ban đầu, một nhóm gồm hơn 2.400 người giữ giới đã được thành lập, mỗi tháng họ đều được trợ cấp quần áo và lương bổng. Cứ vào mùng 5 hàng tháng, "Đại sắc lệnh Garu-dhamma (Ngũ giới)" sẽ được truyền bá khắp bốn phương thành phố bằng đoàn diễu hành voi trắng. Chiếc trống pháp lớn cần đến 50 người khiêng cũng được đánh lên vang dội. Với sự hộ tống của quân binh bên trái, bên phải, sắc lệnh được công bố một cách vô cùng long trọng. Sau khi làm lễ cung kính trước bản sắc lệnh ba lần, từ trên lưng voi, vị quan sẽ đọc vang lời truyền dạy của đức vua. Nội dung bao gồm: "Khuyên nhủ dân chúng giữ gìn Ngũ giới, Bát giới; thực hành tâm từ (Mettā Bhāvanā); cung kính những bậc đáng kính... hãy sống đúng theo những lời dạy trong Kinh Hạnh Phúc (Maṅgala Sutta)". Đây chính là những lời kêu gọi thực hành Giáo pháp căn bản. Tại kinh đô, nhà vua cho xây dựng 11 giảng đường (Dhamma-yုံ) để dân chúng đến tụng kinh hằng ngày, và tại 12 cửa thành cũng có 12 nhà tạm để thuyết pháp. Những người giữ giới cũng được thống kê bốn lần mỗi tháng. Họ được chia thành hai nhóm: Andha (kẻ mù) và Kalyāṇa (người trí). Những người chưa hiểu rõ về đạo làm người, cũng như về Uẩn (Khandha), Giới (Dhātu), Xứ (Āyatana), Đế (Sacca) thì xếp vào nhóm Andha. Những người đã thông hiểu thì xếp vào nhóm Kalyāṇa. Vào mỗi ngày giới (Uposatha), họ đều được hỗ trợ trang phục. Vua cũng ban thưởng tiền cho nhóm Andha (mức 1/8 kyat) và nhóm Kalyāṇa (mức 1/4 kyat) để khích lệ. Một phương cách hoằng pháp thực hành căn bản như thế này chưa từng có trước đây và cho đến nay cũng chưa thấy lại. Đây chính là di sản văn hóa và tôn giáo tốt đẹp, được đặt nền móng vững chắc để thấm sâu vào xương tủy của các thế hệ mai sau. Lợi ích của công cuộc này thật vô cùng to lớn, chẳng kém gì việc Kết tập Tam Tạng. Ngày nay, nếu quan sát kỹ Mandalay, ta vẫn thấy được tầm nhìn xa trông rộng của vua Mindon. Ở Mandalay, mọi khu phố đều có những nhà nghỉ chân cho người giữ giới (Uposatha-zayat). Vào mỗi đêm trước ngày giới trong mùa An cư, các nhóm tụng kinh lại rộn ràng khắp nơi. Vào ngày giới, dân chúng lại tập trung cùng nhau thọ trì giới pháp. Ngay cả những đứa trẻ lên bảy, lên tám cũng mặc áo trắng tinh khôi, hãnh diện tham gia vào đoàn tụng kinh mà không hề biết mệt mỏi. Người lớn thì luân phiên đảm nhận trách nhiệm chuẩn bị các mâm lễ vật dâng cúng, rồi hào hứng thi đua nhau trong việc nấu nướng đãi đằng và làm phước cúng dường. ## TRANG 193 Ban đêm, họ đi quanh các khu phố tụng kinh **Paritta** và **Dhammacakka** (Kinh Chuyển Pháp Luân). Khi kỳ An cư kiết hạ kết thúc, tất cả các hội thiện nguyện trong thành phố đều dâng lễ vật lên đại tượng Phật **Mahamuni** vào lúc sáng sớm tinh sương. Đoàn người nối đuôi nhau dài thăm thẳm, cung nghinh vật thực cúng dường trong tiếng trống hừng sực, tiếng tù và vang vọng, cùng sự trang trọng của các nghi lễ hoàng gia như lọng che, gậy trượng; khung cảnh ấy thật vô cùng hỷ lạc. Sau khi mãn hạ, khắp các ngả đường, khu phố lại rộn ràng âm vang của các lễ hội dâng y Kathina. Đây chẳng phải là nhờ ân đức của vua Mindon, người đã có công gieo rắc hạt giống giáo pháp thực hành — gọi là **Patipatti** Sasana (Pháp hành) — thấm sâu vào tận đời sống của tầng lớp bình dân đó sao? Bằng cách tạo ra một môi trường thiện lành xung quanh, việc tu tập thiện sự đã trở nên dễ dàng hơn đối với mọi người. Truyền thống tập trung tại các giảng đường (zayat) trong mùa hạ và tổ chức lễ cúng dường bình minh tại các ngôi bảo tháp linh thiêng khi mãn hạ là một nếp đạo hạnh mà mọi địa phương nên noi theo. ### Cuộc viễn ly vào rừng của vị Rajaguru Hòa thượng Dưới thời đại Ratanabon Mandalay, đức vua và các hoàng hậu đích thân thi đua hộ trì cúng dường, khiến cho **Pariyatti** Sasana (Pháp học) hưng thịnh đến mức không lời nào tả xiết. Tại một số thiền viện lớn, nhà vua còn bổ nhiệm cả những vị **Kappiya-karaka** (người giúp việc tự viện) để lo liệu việc nấu nướng vật thực sao cho phù hợp với luật tạng (Vinaya). Thời ấy, những vị tỳ-kheo trân trọng và giữ gìn giáo pháp **Vinaya** (Luật tạng) như chính mạng sống của mình cũng rất đông đảo. Các vị học trò của ngài Thilon Sayadaw như: ngài Shwekyin Sayadaw, ngài Mahabo Sayadaw, ngài Sham-kalay-kyun Sayadaw, ngài Kyaung-taw-ya Sayadaw, ngài Mahavisuddharama Sayadaw... đều là những bậc cao tăng hết sức trân quý và thấu hiểu giá trị của di sản **Patipat** (Pháp hành) từ thầy mình. Các ngài thường xuyên rời bỏ những ngôi chùa vàng cao sừng sững do vua chúa dâng cúng để bước vào rừng sâu ẩn tu. Giữa lúc sợi dây quyến luyến pháp học gọi là **"Ganthapalibodha"** còn đang thắt chặt, các ngài lại phải tiếp tục thọ nhận những đại thiền viện trị giá hàng vạn bạc, gọi là **"Avasapalibodha"** (sự bận rộn về trú xứ). Các ngài không chỉ có giới hạnh thanh tịnh đáng được tán dương, mà còn lừng lẫy trong sự nghiệp **Pariyatti** (Pháp học). Tuy nhiên, trong dòng truyền thừa **Patipatti** (Pháp hành), dường như các ngài vẫn chưa hội đủ ba-la-mật để lưu danh thiên cổ như những vị đắc đạo. Vào thời đó, có một vị Hòa thượng danh tiếng lẫy lừng, giữ chức vị thủ tọa (Nayaka) cai quản một tăng đoàn lớn lao và được triều đình ban tặng danh hiệu **Rajaguru** (Quốc sư). Ngài đã quyết định từ bỏ thiền viện với năm trăm tăng chúng, chỉ mang theo một người **Kappiya** làm bạn đồng hành để lên đường vào rừng tu tập. Ngài cảm thấy vô cùng nhàm chán cuộc sống giữa đám đông. Bản thân ngài cũng từng biên soạn những bộ luận lớn về **Kammatthana** (Pháp môn thiền định) và có tâm nguyện viễn ly **"Nekkhammaj-jhasaya"** (ý chí xuất gia tu rừng) rất mãnh liệt. Những tác phẩm ngài viết ## TRANG 194 sâu sắc đến mức các vị tỳ-kheo từ vùng hạ Miến Điện phải lặn lội gánh những xấp lá buông ghi chép bộ luận **Kammatthana** ấy tìm đến tận nơi để học hỏi, vì cho rằng: "Người soạn ra bộ luận này ắt hẳn phải là bậc đã chứng đắc giáo pháp". Dù gọi là luận về **Kammatthana**, nhưng nội dung hoàn toàn dựa theo bộ **Visuddhimagga** (Thanh Tịnh Đạo). Nhờ kiến thức uyên bác, ngài viết văn rất lôi cuốn và đi sâu vào lòng người. Vị Hòa thượng ấy đến trú ngụ tại một ngôi chùa rừng nhỏ bé, tĩnh mịch từ đầu mùa hạ và bắt đầu nỗ lực hành trì cực kỳ tinh tấn ngay từ ngày đầu tiên. Ngài cảm thấy hối tiếc vì đã dành quá nhiều năm tháng làm bậc đa văn quản lý tăng chúng. Trạng thái **Samadhi** (Sứ định) của ngài ngày một tăng trưởng. Cùng với định lực, các hương vị của **Piti** (Phỉ), **Sukha** (Lạc) và **Passaddhi** (Khinh an) cũng dần dần sâu đậm hơn. Lúc bấy giờ, nếu có ai bảo rằng: "Ông đừng làm việc này nữa, nếu còn làm ta sẽ dùng kiếm sát hại", ngài thà chịu chết chứ nhất quyết không rời bỏ việc quán chiếu giáo pháp. Vì đã tự mình nếm trải sự an lạc, ngài không hề thối chí, chẳng cần ai phải thúc giục thêm. Chỉ trong vòng một tuần, ngài đã chứng nghiệm được đặc tính **Sanditthika** (Thiết thực hiện tiền) của giáo pháp và tâm nguyện giữ gìn hương vị ấy trong lòng — tức đặc tính **Opaneyyika** (Hướng thượng) — cũng tự nhiên nảy nở. Khi ấy, giống như một vị tướng lĩnh nhận thấy thời cơ thắng lợi liền dốc sức tấn công nghiền nát quân thù, năm vị **"Bot-choke"** (Ngũ Lực) gồm: **Saddha** (Tín), **Viriya** (Tấn), **Sati** (Niệm), **Samadhi** (Định), **Panna** (Tuệ) cũng dàn trận tiến về phía trước để tiêu diệt đội quân phiền não. Nếu năm vị "tướng" này phối hợp nhịp nhàng, công thủ hài hòa thì có thể dễ dàng chiến thắng quân thù. Ngược lại, nếu người thoái kẻ tiến, thiếu sự kết nối, thì vị tướng nào xông quá xa vào trận địa sẽ rơi vào tay giặc, dẫn đến bốn cánh quân còn lại cũng tan rã theo. Đúng như ví dụ trên, sau hơn một tháng hành thiền, do những trải nghiệm thực chứng, đôi khi niềm tin của vị Hòa thượng tăng cao quá mức cần thiết. Có lúc ngài nỗ lực không ăn không ngủ, ngỡ rằng mình sắp đắc được đạo quả lạ lùng ngay trong ngày một ngày hai. Ngài không nhận ra một vài "vị tướng" trong tâm mình đã xông quá đà. Ngài dành cả ngày để giảng giải đạo lý cho người **Kappiya** một cách dồn dập. Khi thấy đệ tử không theo kịp tâm nguyện của mình, ngài đâm ra mệt mỏi và khởi sinh tâm **Domanassa** (Ưu não). Lại có lúc ngài dự tính sẽ quay về kinh đô để gây dựng lại một nền đạo pháp toàn diện cả về **Vijja** (Minh) và **Carana** (Hạnh). Dù đây là những ý định thiện lành liên quan đến giáo pháp và có giá trị ở ngoài đời, nhưng đối với một hành giả trong thiền viện, chúng lại là những kẻ thù lớn. Trong **Vipassana** (Thiền Quán), ## TRANG 195 đó là nguyên nhân gây ra sự cấu uế; đó chính là hiện tượng **Saddha-bo** (Tín lực) vượt quá giới hạn. Có câu nói: "Nếu dồn ép tâm quá mức trong lúc hành trì, nếu không chịu nổi, nó sẽ bung ra từ chỗ yếu nhất". Mỗi hành giả đều có những điểm yếu riêng. Người vốn có tính **Dosa** (Sân) thì khi ngồi thiền, tâm sân hận lại càng dễ bộc phát mạnh mẽ hơn, giống như khi mới uống thuốc thì bệnh tình chuyển biến dữ dội. Nếu không thể đè nén cho căn bệnh tan biến, hành giả sẽ phải tháo chạy khỏi nơi kinh kệ ấy. ### Phải chăng đi tu rừng là một sai lầm? Đến khoảng giữa mùa hạ, thay vì hối tiếc rằng "mình tu rừng quá muộn", vị Hòa thượng lại rơi vào tâm trạng không thể nguôi ngoai: "Chắc mình đã sai lầm khi chọn vào rừng". Ngôi chùa rừng nhỏ bé mà lúc mới đến ngài thấy thanh tịnh, vui vẻ, giờ đây lại trở nên hiu quạnh và buồn tẻ đến cực độ. Ngài thấy ngày đêm dài dặc, mãi chẳng thấy mãn hạ. Sự buồn chán cứ thế gặm nhấm tâm hồn ngài. Ngài không còn nhớ đến việc hành thiền, sống chỉ để sống, ăn chỉ để ăn. Đó chính là đội quân thứ hai mang tên **"Arati"** (Sự chán ngán) trong mười đạo quân của Ma vương. Giữa mùa hạ, một vài người học trò từ kinh đô tìm đến chùa rừng để xem xét mọi sự có **Sappaya** (thích hợp) với ngài hay không. Đó cũng là lúc vị Hòa thượng đang muốn chạy trốn khỏi nơi đây vì quá buồn chán. Nhưng việc quay về kinh đô khi chưa mãn hạ là điều rất khó khăn; nếu không chịu đựng nổi dù chỉ một mùa hạ mà đã bỏ về, ngài sẽ trở thành câu chuyện đàm tiếu cho thiên hạ. Vị Hòa thượng cứ thế thẩn thờ, cầm một nhành củi nhỏ vẽ nguệch ngoạc lên mặt đất dưới gốc cây. Theo luật tạng, tỳ-kheo không được phép vẽ lên đất. Vậy mà vị Hòa thượng vốn cực kỳ tôn kính **Vinaya** (Luật tạng) ấy lại quên bẵng đi điều luật này trong cơn chán chường tột độ. Người đệ tử từ kinh đô đến thấy cảnh tượng đó cũng tiến thoái lưỡng nan. Vì không thể vượt qua được **"Arati"** — đội quân thứ hai của Ma vương, tức là sự lười biếng, chán nản trong công việc — ngay khi vừa mãn hạ, ngài đã lập tức quay trở về kinh thành. Tại thiền viện lớn ở kinh đô, các thí chủ đang chờ đợi để cúng dường hàng ngàn bạc mỗi tháng, và các đệ tử tỳ-kheo cũng đã chuẩn bị sẵn sàng để khẩn khoản thỉnh cầu: "Nếu không có Hòa thượng, chúng con không biết phải làm sao". Thật vậy, giống như việc phải đãi cát tìm vàng, để một bậc Thánh nhân Ariya xuất hiện ở đời là điều chẳng dễ dàng chút nào. Câu chuyện **pháp hành (paṭipatti)** của Đại Thiền sư giữ trọng trách giáo hội, được phong tặng tước hiệu **Rājaguru** chỉ là vậy thôi. ## TRANG 196 Có vẻ như kể từ đó, ngài đã dứt khoát từ bỏ ý định xuất gia vào rừng tu hành. Ngài đã dành trọn phần đời còn lại để phụng sự giáo pháp Pariyatti (Pháp học) cùng với đại chúng **Tăng (Saṅgha)**. Ngài cũng không khuyến khích các đệ tử của mình xuất gia vào rừng. Dòng dõi đệ tử của Ngài Đại sư cho đến nay vẫn rất nổi tiếng và phát triển rộng rãi trong lĩnh vực Pháp học cũng như về Giới hạnh (Sīla) và Học giới (Sikkhā). Tuy nhiên, về phương diện Pháp hành (Paṭipatti), vẫn chưa thấy xuất hiện những gương mặt thật sự kiệt xuất. "Đến như Ngài Đại sư của chúng ta, một người tôn trọng giới luật như thế, uyên bác kinh điển như thế, ít ham muốn và sống như một bậc Thánh (Ariya) thực thụ mà khi vào rừng tu tập còn chẳng đắc được gì, thì những người như chúng ta quả là còn xa vời lắm" — dường như suy nghĩ này đã khiến họ đầu hàng ngay cả trước khi bước vào cuộc chiến. Đó chính là sự bại trận ngay từ đầu. Nếu có thể xuyên phá và vượt qua đạo quân lười biếng, thối chí (**Arati**, **Thīna**, **Middha - Bất lạc, Hôn trầm, Thụy miên**), thì sau lưng một bậc vĩ nhân như thế, biết bao nhiêu chúng sinh (Veneyya) hẳn sẽ chiến thắng được quân ma. Những vị đệ tử tài ba có khả năng thành công không phải là ít, nhưng đòn tấn công của Ma Vương quả là lợi hại và nhanh chóng vô cùng. Một vị Đại sư đức cao vọng trọng, không ai bằng trong lĩnh vực kinh điển, giới hạnh và đức tính ít ham muốn, sau khi đã hạ quyết tâm từ bỏ tất cả để dấn thân vào rừng sâu, mà lại nảy sinh tâm ý không thích thú với công việc hành trì, rơi vào trạng thái lười biếng cực độ, thì điều này quả thật không bình thường. Chính vì để tâm ấy vùi lấp cả một kiếp người, nên có thể nói đó không phải là bản tâm, tự tính nguyên thủy của Ngài Đại sư. "Tôi làm vì tôi muốn làm, tôi đi vì tôi muốn đi, tôi suy nghĩ vì tôi muốn nghĩ, tôi lười vì tôi muốn lười" v.v... Dù chúng ta thường lầm tưởng rằng "tâm của tôi" và "chính tôi", nhưng trong lĩnh vực hành trì (Paṭipatti), cái "tâm của tôi" ấy chưa chắc đã là thật. Không chỉ có tâm lười biếng, mà bất kỳ loại tâm nào khác cũng không nên dễ dàng chấp nhận. Đó là Ý nghiệp (Manokamma) có được sự hỗ trợ của định lực (Samādhi) nên sức mạnh của nó vô cùng lớn lao. Nó có khả năng sinh ra các Khẩu nghiệp (Vacīkamma) và Thân nghiệp (Kāyakamma) mãnh liệt tiếp theo. ### Bí ẩn phía sau cuộc đời Đức Phật Tại đây, để suy xét xem đó có phải là bản tâm, tâm tự nhiên hay tâm thuần khiết hay không, chúng ta hãy cùng phân tích những sự kiện trong cuộc đời của Bồ-tát (Đức Phật tương lai). Khi Thái tử Siddhartha chào đời và được xem tướng, các vị Bà-la-môn tiên tri lỗi lạc khác đã giơ hai ngón tay để đưa ra hai khả năng. Riêng ngài Koṇḍañña (Kiều-trần-như) đã khẳng định chắc nịch bằng một ngón tay rằng: "Chắc chắn Ngài sẽ đắc quả Phật". ## TRANG 197 Không chỉ vậy, chúng ta cũng không nên quên rằng ngài Koṇḍañña tin tưởng vào kiến thức của mình và trông cậy vào Bồ-tát đến mức nào. Ngài đã xuất gia làm ẩn sĩ và chờ đợi sẵn tại Uruvela. Ngài đã tin tưởng và trông cậy đến mức chấp nhận chịu khổ trong rừng suốt gần ba mươi năm để chờ đợi. Khi Bồ-tát xuất gia vào rừng, họ đã cùng nhau tu tập. Ngoài ra còn có bốn người đồng hành khác như Vappa (Váp-pa). Trong lúc tìm kiếm con đường **Trung Đạo (Mazzhimapaṭipadā)** để đạt được Toàn Giác Tuệ (Sabbaññutañāṇa), Bồ-tát đã nảy sinh ý định rằng phải nỗ lực tu hành khổ hạnh đến chết mới có thể thành Phật. Ngài đã lầm tưởng như vậy. Với nhận thức đó, Ngài đã thực hành "Khổ hạnh (**Dukkharacariya**)" — một con đường sai lầm kinh khủng — bằng Thân nghiệp suốt sáu năm ròng rã. Dù đó là "Tôi làm vì tôi muốn làm", nhưng chúng ta cũng cần phải suy xét về cái tâm ấy. Một điểm nữa là trong lúc Bồ-tát đang thực hành con đường sai lầm đến mức thập tử nhất sinh, thì ngài Koṇḍañña cùng nhóm năm vị đồng tu (**Pañcavaggiya - Năm anh em Kiều-trần-như**) đã tận tình chăm sóc, phục vụ không thiếu thứ gì, như thể thúc đẩy Ngài lún sâu hơn vào sai lầm ấy. Tuy nhiên, khi chính Bồ-tát nhận ra sai lầm và chuyển sang con đường **Trung Đạo (Mazzhimapaṭipadā)**, Ngài bắt đầu thọ thực trở lại. Khi đã tìm thấy con đường đúng đắn và việc thành Phật đã cận kề, thì nhóm năm vị Koṇḍañña lại bỏ đi. Hay nói cách khác là họ đã tẩy chay Ngài. Họ thậm chí còn chỉ trích rằng: "Gotama đã từ bỏ nỗ lực và đang làm việc để trở nên sung sướng". Ngay cả khi Đức Phật đã thành đạo và tìm đến để thuyết bài pháp đầu tiên, họ cũng không buồn để tâm. Họ cùng nhau lập giao ước rằng: "Sẽ không đảnh lễ, không đón tiếp, không đỡ lấy bình bát và y (vì Ngài là người thuộc giai cấp cao), nhưng sẽ trải sẵn chỗ ngồi nếu Ngài muốn ngồi thì ngồi". Một người như ngài Koṇḍañña, vốn đã có quyết định tin tưởng tuyệt đối vào kiến thức của mình và vào Bồ-tát, đã có thể chịu khổ suốt gần ba mươi năm, vậy mà ngay khi sắp đến đích lại bỏ đi, liệu đó có phải là bản tâm của ngài ấy không? Sự thay đổi đó quả là quá nhanh chóng, quá lạnh lùng và tàn nhẫn. Những người có mắt tuệ đã thấy trước rằng một bậc Anh hùng mang danh hiệu Phật (Buddha), người có thể đảo lộn cả vũ trụ vô biên, sắp xuất hiện. Có những người mong đợi, nhưng cũng có vô số kẻ ganh ghét. Trong số những kẻ không mong muốn đó, Ma Vương (Māra) luôn dẫn đầu. Theo trách nhiệm của mình, đó không phải là lúc Ma Vương chậm trễ. Có thể nói đây là một sự thật bí ẩn đằng sau cuộc đời Đức Phật. Hãy cùng xem tiếp một chút nữa. Trong khi nhóm năm vị Kiều-trần-như đang lập giao ước và quay lưng lại với Ngài, thì Đức Phật đã tìm đến họ. Ngay lúc đó, những giao ước chắc chắn mà họ đã lập ra bỗng dưng bị phá vỡ một cách lạ lùng. Khi Đức Phật đến, người thì trải chỗ ngồi. ## TRANG 198 Người thì đỡ lấy bình bát và y. Về sự thay đổi tâm tính này, các nhà chú giải (**Mūlapaṇṇāsa Aṭṭhakathā** và **Sāratthadīpanī Ṭīkā**) giải thích là "nhờ vào thần thông của Đức Thế Tôn". Trong khi đó, các nhà chú giải (**Buddhavamsa** và **Jātaka Aṭṭhakathā**) lại cho rằng đó là "nhờ vào năng lực Tâm Từ (Mettā) của Đức Phật". Họ còn chỉ rõ cách thức ngài hướng tâm từ như sau: "Tất cả năng lực tâm từ có thể lan tỏa như một tấm lưới bao trùm khắp vô số chúng sinh trong vũ trụ vô biên, Ngài đã tập trung toàn bộ năng lực ấy chỉ vào nhóm năm vị Kiều-trần-như (giống như gom tất cả ánh sáng của đèn rọi từ diện rộng vào một điểm duy nhất)". (Cách thức này cũng được giải thích khi Ngài dùng tâm từ để điều phục voi **Nālāgiri**). Thật là điều đáng ghi nhớ. Chẳng phải chính Tâm Từ đó là thần thông của Đức Phật hay sao? Nếu ngay cả một vị Phật có đại thần thông như thế mà vẫn còn bị quấy nhiễu, thì ngày nay có hành giả nào có thể thoát khỏi vòng vây của Ma Vương? Năng lực của Tâm Từ — thứ có thể dễ dàng chiến thắng sự khuấy đảo đó — quả thật rất đáng để nương tựa. ### Khả năng tác động của các bậc có thần thông Tiếp theo, xin được nói đôi chút về việc thay thế tâm trí theo hướng tốt đẹp. Thuở xưa, tại xứ Gandhāra có hai mẹ con người nghèo khổ. Người con trai được bổ nhiệm làm phó thuyền trưởng trên một con tàu đi từ Gandhāra đến Suvaṇṇabhūmi, và anh ta đã đưa mẹ đi cùng. Giữa đường gặp bão, con tàu bị đắm. Người con trai đã cõng mẹ trên lưng và bơi vượt biển. Ngoại trừ hai mẹ con, tất cả các hành khách khác đều tử nạn. Một vị Phạm thiên A-la-hán từ cõi Phạm thiên Akanittha, thấy rằng đã suốt một trăm ngàn đại kiếp không có đức Phật ra đời, con đường thiện hạnh bị đóng lại và các lâu đài ở cõi trời trở nên hiu quạnh, nên ngài đã quan sát xem có người nào đang phát nguyện thành Phật hay không. Lúc đó, chàng thanh niên tên là **Mātuposaka** (người nuôi dưỡng mẹ) đang cõng mẹ trên lưng bơi giữa biển khơi không thấy bờ bến. Vị Phạm thiên A-la-hán nhìn thấy cảnh đó và suy nghĩ: "Người này biết ơn nghĩa và có tinh thần tinh tấn lớn lao. Thật tốt nếu có thể khiến cho tâm nguyện muốn thành Phật nảy sinh trong người này". Nhờ vào thần thông của Phạm thiên, anh ta đã được cứu và phát nguyện thành Phật. Vị ấy đã truyền cái tâm muốn thành Phật vào người thanh niên. Chàng thanh niên đó chính là tiền thân của Đức Phật Gotama chúng ta. (**Sotattakī Aṭṭhakathā**, trang 9-12). Trong câu chuyện về **Thiên tử Dhamma** thuộc hệ Ekadasanipāta, **Thiên tử Dhamma** cùng với tùy tùng đã đi quanh Diêm-phù-đề (Jambudīpa) theo chiều bên phải để khuyến khích loài người làm việc thiện. Tương tự, **Thiên tử Adhamma** cũng đi theo chiều bên trái để khuyến khích làm việc ác. Vào thời kỳ sau của giáo pháp Đức Phật Kassapa, chính **Thiên chủ Sakka** đã hóa thân thành một con chó. ## TRANG 199 **Thông qua những câu chuyện này, chúng ta thấy rằng khi con người thực hiện các thiện nghiệp hay bất thiện nghiệp (khẩu nghiệp, thân nghiệp) dựa trên tâm thiện hay tâm bất thiện (tâm nghiệp), thì luôn có sự hiện diện của những tác động kích động và dẫn dắt vô hình từ chư thiên thiện hoặc chư thiên ác. (Trong giới tu tập, điều này thường được gọi là "Sự thôi thúc của tâm thức - Manotaitathi").** Nói như vậy để chỉ ra một khía cạnh nhỏ rằng, không nên hoàn toàn tin tưởng một cách mù quáng vào ý nghĩ: "Tôi làm vì tôi muốn làm, chuyện đó xảy ra vì nó muốn xảy ra". Vị Trưởng lão Rajaguru (Quốc sư) được đề cập ở đây là bậc đại danh tăng vô cùng lỗi lạc vào thời đại Mandalay, hơn nữa các hàng môn đệ kế thừa của Ngài vẫn đang hưng thịnh, do đó người viết xin phép không nêu rõ danh tính của Ngài. Mục đích duy nhất khi kể lại câu chuyện về "một niệm lười biếng" đã khiến bậc Thầy phụng sự giáo pháp lừng lẫy này phải nhận lấy sự tổn thất, khiến cho những năng lực vốn có thể thắp sáng ánh đạo giải thoát cho toàn thế gian phải bị vùi lấp trong suốt một đời người, là để chúng ta rút ra bài học kinh nghiệm sâu sắc cho chính mình. ## TRANG 200 ### Ngài Trưởng lão Thilone và Ngài Trưởng lão Kintawya #### (1148-1222 Phật lịch) Ngài Trưởng lão Thilone trú ngụ tại chùa Thilone Tawya, gần làng Seikhun, huyện Shwebo vào triều đại vua Shwebo và vua Mindon. Ngài là bậc Thầy của Ngài Trưởng lão Shwegyin đời thứ nhất và Ngài Trưởng lão Mula Kyuangtawyar (U Sasana), những bậc danh tăng vô cùng nổi tiếng trong giáo pháp. Pháp danh của Ngài là Ashin Candima. Các bậc Trưởng lão thời xưa không hề lơ là việc học Pháp (Pariyatti). Đến giờ dạy Pháp thì các Ngài dạy, đến giờ hành thiền (Patipatti) thì các Ngài hành trì. Các Ngài thực hành song hành cả hai phương diện này và không thể tách rời chúng. Ngài Trưởng lão Mahasi cũng tu tập theo cách này. Các vị Tăng sư dạy Pháp ở khắp các vùng trên đất nước Myanmar cũng dành những khoảng thời gian riêng biệt để thực hành như vậy. Thậm chí các Ngài còn không muốn cho ai biết việc mình đang hành thiền. Chỉ khi nào có những lý do chính đáng và thực sự cần thiết, các Ngài mới thể hiện ra bên ngoài một cách kín đáo. Vào năm 1199 Phật lịch, vua Shwebo khi đăng cơ đã vô cùng hộ trì và sùng bái Ngài Trưởng lão Thilone như một vị Thầy độc lập ngoài các giáo phái. Nhà vua cũng dâng tặng Ngài danh hiệu "Candima-bhivamsa Sīrisaddhamma-dhaja Mahādhammarājādhirājaguru". Vua Mindon khi ấy còn là một vị hoàng tử, thường đến công đường để xét xử cũng đã hết lòng kính ngưỡng Ngài. Khi lên ngôi vua, Ngài đã thỉnh Ngài Trưởng lão về kinh đô Mandalay. Tuy nhiên, Ngài Trưởng lão đã không đi. Do đó, nhà vua đã cho xây dựng ngôi chùa Ratanabonsan ngay tại làng Thilone để cúng dường lên Ngài. Vì là bậc tinh thông cả Pháp học lẫn Pháp hành, Ngài Trưởng lão Thilone đã khởi thảo tám bộ kinh sách, bao gồm: Mūlapaṇṇāsa Aṭṭhakathā Nissaya (Sớ giải Trung Bộ Kinh), các quyết định về Luật tạng (Vinaya), Kuladūsaka Vinicchaya, Gambhīrattha Desanā, Visuddhimagga Dīpanī (Thanh Tịnh Đạo Minh Đăng), Paṭipatti Pakāsanī. Những bộ sách này vẫn còn nổi tiếng cho đến ngày nay. Tương truyền Ngài có tổng cộng 64 bộ kinh sách. Trong phần dẫn nhập của bộ "Paccaya-thāvabodhanī", có ghi lại rằng vào đêm trước khi nhận một cậu bé (sau này là Ngài Trưởng lão Thayanka, người sau đó hoàn tục thành cư sĩ U Ohn Nyunt) vào tu học tại chùa, Ngài đã nằm mộng thấy một con bạch tượng nhỏ đến nằm phủ phục dưới chân cầu thang. Tương tự như vậy, trong "Tiểu sử Ngài Trưởng lão Kyaungtawyar", có chép rằng vào đêm vị sẽ trở thành Ngài Trưởng lão Shwegyin Kyaungtawyar tương lai đến, Ngài đã nằm mộng thấy ngôi sao Kim vô cùng rực rỡ từ trên trời lao thẳng vào lòng mình. Theo như lời dạy trong "Sớ giải Trường Bộ Kinh" (Mahāvagga Aṭṭhakathā), các bậc đại phước đức thường ứng hiện các điềm báo trước như điềm mộng, đó là điều chúng ta nên lưu tâm. ## TRANG 201 ### Những điều đáng ghi nhớ từ tác phẩm Paṭipatti Pakāsanī Có ghi chép rằng Ngài Trưởng lão Thilone đã khởi thảo tổng cộng 64 bộ kinh sách. Những tác phẩm đã nêu trên là những bộ hiện còn lưu truyền rõ rệt nhất. Vào năm 1315 Phật lịch, nhờ sự nỗ lực của ông U Maung Gyi và các bạn đạo hữu Pháp lữ, bộ "Paṭipatti Pakāsanī" gồm tám quyển đã được nhà in Myanmar Tara tại Mandalay tái bản lần thứ hai. Tương tự như vậy, có thể vẫn còn tìm thấy thêm những tập sách nhỏ khác liên quan đến Pháp hành. Trong bộ tám quyển đó, có tổng cộng 291 trang, bao gồm: 1. **Paṭipatti Pakāsanī** (Pháp Hành Minh Đăng) 2. **Paññatti Pakāsanī** (Chế Định Minh Đăng) 3. **Diṭṭhibheda Pakāsanī** (Phân Tích Kiến Giải Minh Đăng) 4. Giải thích chi tiết và tóm tắt về Ân đức Phật (Guṇadaw) 5. Nghi thức lễ bái theo 9 phần của Sangaha 6. Chánh văn và ý nghĩa của **Kinh Kawlin** 7. Chánh văn và giải thích chi tiết về **Dwattimsakāra** (32 thể trần) 8. Giải thích chi tiết về **Bốn mươi đề mục thiền định** (Bhāvanā) Ngoài ra còn có: 18 điều kỳ diệu (Anpweh), lễ bái 4 loại Bảo Tháp, phần giải đáp các câu hỏi của cư sĩ Bo Lun Phyay và Bo Ohn (về các chi phần để chứng đắc Đạo Quả). Trong bộ sưu tập tám quyển này, có thể tìm thấy lời kết thúc do chính Ngài Trưởng lão viết: "Pháp danh là Ashin Candima, sinh quán tại làng Shunshun-tet". Bộ Paṭipatti Pakāsanī được hoàn thành vào thứ Bảy, ngày 12 tháng Tagu năm 1205 Phật lịch. "Kinh Kawlin" là tập hợp các bài kệ và văn xuôi ghi chép những lời giáo huấn từ kinh điển của Đức Phật mà Ngài đã thuyết cho vị quan trấn thủ vùng Kawlin. Cùng với đó, Ngài cũng gửi kèm hai bộ kinh là "Niccādi-dosa Dīpanī" và "Kammaṭṭhāna Dwattimsakāra". Tác phẩm được kết thúc bằng bài kệ sau: **Caja dujjana saṃsaggī, bhaja sādhu samāgammaṃ.** **Kara puññaṃ ahorattiṃ, sara niccamaniccataṃ.** *Hãy từ bỏ (Caja) việc thân cận với kẻ ác (Dujjana saṃsagga).* *Hãy nương nhờ (Bhaja) và gần gũi với bậc thiện trí (Sādhu samāgama).* *Hãy thực hiện (Kara) những thiện nghiệp (Puñña) suốt cả ngày lẫn đêm (Ahoratti).* *Hãy thường niệm tưởng (Sara) về tính vô thường (Aniccata) của thân ngũ uẩn này.* ## TRANG 202 **Niccaṃ** = Không gián đoạn/Thường xuyên. **Sara** = Hãy ghi nhớ. Hoặc: Hãy quán chiếu về sự khổ của tính vô thường. Trong lời thỉnh cầu của cư sĩ Cappiya Bo Lon Pyay và Bo Ohn, khi trình bày về các nhân tố dẫn đến việc đắc Đạo Quả, sau khi nêu rõ việc quy y Tam Bảo, giữ gìn ngũ giới thanh tịnh, luôn an trú tâm vào hình bóng Đức Thế Tôn khi Ngài còn tại thế, và tầm cầu bậc trí giả để nương tựa, ngài [Thiền sư Thilone] đã giáo giới rằng: "Đối với những người lấy Tuệ và Tấn (Nghị lực) làm tiền đề, lại sẵn có hai loại Nghiệp (Thiện nghiệp quá khứ và hiện tại), họ sẽ nhanh chóng thọ hưởng các hạnh phúc và lợi ích ở cả thế gian lẫn xuất thế gian. Hãy ghi nhớ rằng: chỉ khi có Trí tuệ đồng hành và nỗ lực nuôi dưỡng lòng tinh tấn thì quả báu của thiện nghiệp Ba-la-mật mới có thể phát khởi mạnh mẽ." Đây là lời nhắc nhở rằng dù thiện nghiệp quá khứ (pubbe ca kata-puññatā) là yếu tố chính yếu, nhưng cần phải dùng Trí tuệ và Tấn lực của hiện tại để khơi dậy tiềm năng đó. (Xem thêm phần chú giải kinh Cakka, Tăng Chi Bộ Kinh, chương Bốn pháp). Tại trang 279 của bộ sưu tập đó, có một ghi chép rất hữu ích cho các nhà nghiên cứu: "Đại trưởng lão Thiền sư Thilone, danh hiệu Ashin Candimā Laṅkāra, sinh năm 1148 (Miến lịch) và viên tịch năm 1222. Ngài trụ thế 75 năm." ### Lễ cúng dường đức tính Nhẫn nhục (Khanti) Ngay từ thuở thiếu thời, Thiền sư Thilone đã biểu hiện sức mạnh nhẫn nhục phi thường. Khả năng chịu đựng trước những biến động của thế sự (Loka-dhamma) – dù nóng hay lạnh, khổ hay lạc, khen hay chê – chính là sức mạnh nền tảng cho bất kỳ ai muốn đạt đến đỉnh cao [của tâm linh]. Thuở ngài còn là Sa-di Candimā, một ngày nọ khi đang tắm dưới hồ, có một vị Sa-di lớn hơn đã đem giấu hết y phục của ngài. Sau khi tắm xong, Sa-di nhỏ Candimā không có y để thay, phải đứng chịu trận giữa trời lạnh đến mức run lẩy bẩy. Một lúc sau, vị Sa-di lớn kia xuất hiện, không những không trả y mà còn buông lời trêu chọc, hành hạ đủ điều. Sa-di nhỏ Candimā không hề nổi giận, vẫn cung kính thưa thỉnh; khi thấy không có kết quả, ngài lặng lẽ nhẫn nhịn đứng đó với tấm bình tự (y nội) ướt sũng. Vị Sa-di lớn trêu chọc cho thỏa thuê rồi bỏ đi. Những bạn đồng tu khác thương tình đã đi lấy y trả lại cho ngài. Nhưng vị Sa-di lớn kia vẫn chưa dừng lại. Khi Sa-di Candimā vừa thay xong cả y nội lẫn y vai quế, anh ta từ chỗ ẩn nấp bước ra, xách theo bình nước đổ ập lên người ngài. Dù toàn thân ướt sũng một lần nữa, Sa-di Candimā vẫn giữ nguyên nụ cười trên môi. ## TRANG 203 "Ta không tin thằng bé này có thể nhẫn nhục như vậy nên mới thử xem sao," vị Sa-di lớn nói. Hơn bốn mươi năm sau, vào độ tuổi ngoài năm mươi, sự việc đó đã được nhắc lại. Khi ấy, một vị chủ thuyền giàu có ở vùng Hạ Miến đã chở một thuyền đầy ắp mắm, cá khô, thực phẩm và các vật phẩm cúng dường đến để dâng hiến. Đây là một đại lễ cúng dường vô song (asadisa) đối với một ngôi chùa rừng hẻo lánh và thiếu thốn. Sau khi vị chủ thuyền tha thiết đảnh lễ và trình bày sự tình, Thiền sư bảo: "Khoan đã... khoan đã... này thí chủ, hãy đánh chiếc khánh gỗ (tùng) treo ở đằng kia. Đợi một lát." Khi tiếng khánh vang lên báo hiệu, khoảng ba mươi vị Tỳ-khưu và Sa-di trong chùa rừng đã vân tập đến trước mặt Thiền sư. "Này các thầy, các chú... hãy nghe thí chủ đây trình bày lý do vì sao ông ấy lại mang đến nhiều thực phẩm cúng dường như vậy," Thiền sư truyền bảo. Khi ấy, vị chủ thuyền thưa rằng: "Thuở nhỏ, con vốn là bạn học thân thiết với Ngài, chúng con đã cùng nhau tầm học các bộ kinh điển lớn cho đến tận trước lúc xuất gia Tỳ-khưu. Vì không tin vào đức tính nhẫn nhục của Sa-di Candimā nên con đã mạo muội dùng hành động thực tế để thử thách. Nay nghe danh tiếng lẫy lừng của Thiền sư Thilone, con tìm hiểu thì biết đó chính là Sa-di Candimā năm xưa, lòng con vô cùng hối hận về những gì mình đã làm." Các vị Tỳ-khưu và Sa-di nghe xong đều hết sức xúc động và quan tâm, còn các chú Sa-di nhỏ thì hân hoan khi nhìn thấy những thực phẩm cúng dường. "Trong giáo pháp, hạnh nhẫn nhục là cao quý nhất; cũng như thế, kẻ nào tìm cách hãm hại, áp chế người có đức nhẫn nhục thì sẽ chịu đại địa ngục, chịu tổn thất lớn nhất. Càng ngày con càng cảm thấy khiếp sợ, nên hôm nay con đến đây đảnh lễ Ngài để cầu xin sám hối, mong các ác nghiệp đã phạm được tiêu trừ," vị chủ thuyền tiếp tục thưa thỉnh. Thiền sư Thilone bèn huấn từ: "Này các Tỳ-khưu, như các con đã nghe, nhờ có sự giáo huấn của thầy tổ và nhờ thông hiểu kinh điển nên thí chủ đây mới có thể suy xét được như vậy. Nhẫn nhục chính là pháp cao thượng nhất trong giáo pháp. Phải có Nhẫn (Khanti) thì các học giới về Giới, Định, Tuệ mới có thể phát sinh. Đức Thế Tôn và các vị Phật quá khứ đều lấy câu **Khanti paramaṃ tapo titikkhā** (Nhẫn nhục là pháp khổ hạnh tối thượng) làm tôn chỉ giáo giới cốt lõi. Nhờ có Nhẫn mới có thể dễ dàng trì giữ Giới luật. Các pháp thiện như Từ ái, Định tâm... mới dễ dàng phát sinh. Có Nhẫn mới khuất phục được thù địch bên trong lẫn bên ngoài. Chúng ta không được phép sát hại những pháp thiện cao thượng này. Chỉ khi các pháp này hưng thịnh và trường tồn thì chúng ta mới có được hạnh phúc trong hiện tại và an lạc trong vòng luân hồi; vì vậy, cần phải giữ gìn và duy trì mạng mạch cho những đức tính này. ## TRANG 204 "Này thí chủ, ông đừng nghĩ rằng ông đang cúng dường những vật phẩm này cho bần đạo, cũng không phải cúng dường riêng cho tăng chúng này. Hãy ghi nhớ rằng ông đang cúng dường để tôn vinh đức tính Nhẫn nhục (Khanti) cao thượng – điều mà chư Phật các đời đều tán dương và giáo huấn. Còn các vị Tỳ-khưu và Sa-di, các con cũng đừng nghĩ rằng những y phục, dù, giày dép và thực phẩm này là do thí chủ này cúng dường hay do bần đạo ban tặng. Hãy ghi nhớ rằng chính Pháp Nhẫn nhục đã ban tặng những thứ này cho các con." Ngài đã thuyết giảng như vậy không chỉ để người đương thời ghi tạc suốt đời mà còn để lại bài học cho con cháu đời sau. (Theo lời kể của Ngài U Kalyāṇa, Thiền sư Maung Daung thuộc tu viện Yadanabon, Mandalay). Dù ẩn tu nơi rừng sâu mà vẫn được các bậc quân vương, hoàng hậu tôn kính cúng dường; dù tài năng xuất chúng về cả Pháp học (Pariyatti) lẫn Pháp hành (Paṭipatti), lại đắc cả Thiền định và Thần thông, nhưng cội nguồn sức mạnh tâm linh chủ chốt khiến ngài trở nên phi thường chính là đức Nhẫn. (**Sadatthapparamā atthā, khantā bhiyyo na vijjati** – Lợi ích của bậc thiện trí là tối thượng, không có gì cao hơn đức Nhẫn. Kinh Vepacitti, Tương Ưng Bộ). ### Cách tiếp cận của Thiền sư Kin-taw-ya Dưới thời vua Mindon, Thiền sư Thilone vô cùng nổi tiếng trong lĩnh vực Pháp học. Trong khi ngài đang ở làng Thilone truyền dạy kinh điển cho đông đảo đệ tử, thì ngài U Khemacāra – người bạn học thân thiết từ thuở nhỏ tại đạo tràng của Thiền sư Namo lừng danh – thường xuyên đến thăm chùa Thilone vào mỗi buổi chiều. Ngài U Khemacāra lúc bấy giờ đang chuyên tâm tu tập Pháp hành tại vùng Kin-taw-ya, phía bắc Mingun, nên thường được gọi là Thiền sư Kin-taw-ya. Thiền sư Kin-taw-ya thường vượt qua quãng đường xa xôi từ Sagaing Mingun đến ngôi chùa làng Thilone ở huyện Shwebo vào các buổi chiều chỉ để đàm đạo về Pháp học và Pháp hành. "Này hiền hữu Thilone, tôi không dám chết khi chỉ mới dừng lại ở việc làm Pháp sư dạy kinh điển (Ganthadhura) và nhận sự cúng dường của người đời đâu," ngài mở lời, rồi dẫn dắt câu chuyện sang các chủ đề về Đạo Quả, về Niết-bàn, về khả năng đắc Thần thông trong thời đại này, cũng như về sự chứng ngộ, thấy rõ thực tính pháp và giá trị lớn lao trong công phu tu tập Định và Tuệ (Samatha - Vipassanā) dựa trên cả lý thuyết lẫn thực chứng. Với tâm từ bi muốn bạn mình cũng được nếm trải hương vị giải thoát, ngài âm thầm dẫn dắt, đóng vai trò của một bậc Thiện tri thức vô giá. Tuy nhiên, lúc bấy giờ Thiền sư Thilone vẫn đặt nặng tầm quan trọng của Pháp học, tâm ngài vẫn thiên về kinh điển và chưa mấy bận tâm đến việc tu tập Thiền định hay Đạo Quả, vì cho rằng đó là những điều không dễ gì đạt được. ## TRANG 205 #### Pháp học và Pháp hành Mỗi khi Ngài Kintawya Sayadaw thuyết giảng về các tầng Thiền (Jhāna), Đạo (Magga) và Quả (Phala), Ngài Zilone Sayadaw luôn đối chiếu trực tiếp với Pāḷi, Chú giải (Aṭṭhakathā) và Phụ chú giải (Ṭīkā). Chỉ khi nào thấy hoàn toàn tương thích, ngài mới bày tỏ sự ủng hộ. Ngược lại, nếu thấy điểm nào dường như không khớp với kinh điển, ngài sẽ phản đối và chất vấn ngay. Ngài Kintawya Sayadaw giải thích rằng trong lộ trình thực hành (paṭipatti), có những chi tiết trải nghiệm thực tế có thể không hoàn toàn rập khuôn theo văn bản, nhưng Ngài Zilone Sayadaw nhất quyết không chấp nhận điều đó. Ngài đưa ra đủ loại lý lẽ và dẫn chứng kinh điển để tranh luận. “Này vị hiền hữu Zilone, trong phạm vi về **siêu nhân pháp (uttarimanussadhamma)** – tức là cảnh giới siêu thế (lokuttara) – không phải mọi trải nghiệm thấy biết đều nhất thiết phải trùng khớp hoàn toàn với những gì ghi lại trong kinh điển mới được xem là đúng đắn. Có rất nhiều điều ẩn mật không hề được chép lại trong sách vở. Kinh điển vốn dĩ chỉ trình bày những phương cách tổng quát, tùy thuộc vào căn cơ, cá tính và trí tuệ của từng hạng người khác nhau. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là kinh điển sai lạc.” “Kinh (Sutta) cũng giống như sợi dây mực (tằm chỉ) của người thợ mộc, chỉ là những đường kẻ hướng dẫn cơ bản để đục đẽo. Khi thực sự bắt tay vào đục khoét, những ngõ ngách, độ nông sâu không thể lúc nào cũng cứng nhắc theo một khuôn mẫu cố định. Người thợ không nên bỏ qua đường mực hướng dẫn mà đục bừa bãi thế nào, thì các bài Kinh của Đức Phật cũng vậy. Chúng khái quát trọn vẹn mọi căn tính chúng sinh, và trong đó tuyệt nhiên không bao giờ có điều sai trái.” “Nếu một trải nghiệm không khớp hoàn toàn với kinh điển mà vội cho rằng không thể chứng đắc Thiền (Jhāna), Thần thông (Abhiññā), Đạo, Quả hay Niết-bàn, thì đó là cách hiểu phiến diện. Giáo pháp của Đức Thế Tôn thực sự hoàn hảo, không cần thêm bớt. Cái chúng ta cần chính là một trí tuệ sắc bén để có thể dung hòa được trải nghiệm thực chứng của bản thân với những gì sách vở đã ghi lại,” Ngài Kintawya Sayadaw ôn tồn giải thích. Thật đúng như vậy. Trong Kinh Saṅkāsana và Kinh Mahāsīhanāda thuộc Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya), Đức Phật đã dạy rằng giáo lý về Bốn Sự Thật (Tứ Diệu Đế) sâu rộng đến mức dù có dùng hết các ngôn từ chữ viết cũng không thể diễn tả hết được. Những gì Ngài thuyết giảng mới chỉ là phần cốt lõi súc tích nhất. Và khi những phần súc tích đó được kết tập và ghi lại trên lá buông qua các kỳ Kết tập Kinh điển, chúng lại càng trở nên cô đọng hơn nữa. Có lần, khi đang ngự tại rừng cây Simsapā (rừng cây Cẩm Lai), Đức Thế Tôn đã bốc một nắm lá trong tay và ví dụ cho các vị tỳ-kheo thấy rằng: những pháp mà Ngài biết nhưng không thuyết giảng nhiều như lá trong rừng, còn những pháp Ngài đã dạy chỉ như nắm lá trong tay. Những điểm này chính là cơ sở cho lời dạy của Ngài Kintawya Sayadaw. (**Kinh Sīsapa, Tương Ưng Đại Phẩm.**) Mỗi khi đến Zilone, Ngài Kintawya Sayadaw đều cố gắng tìm mọi lý lẽ thuyết phục để kết nối ## TRANG 206 giữa lý thuyết và thực hành, nhưng Ngài Zilone Sayadaw vẫn giữ vững lập trường, coi trọng pháp học (pariyatti) hơn cả. Ngài chỉ bám sát vào những gì kinh điển đã ghi. Ngài Kintawya Sayadaw kiên nhẫn dùng nhiều thiện xảo để dẫn dắt. Về sau, ngài không còn tranh luận nhiều bằng lời nói nữa mà chỉ tập trung khuyến khích Ngài Zilone tiến tới thực hành. #### Lời giáo huấn cuối cùng Trong lần ghé thăm cuối cùng, Ngài Kintawya Sayadaw chỉ an trú trong chánh niệm và sự không phóng dật (appamāda), rất ít khi thuyết giảng hay thảo luận. “Nào... vị hiền hữu Zilone, đã đến lúc ta phải quay về rồi,” ngài nói đoạn rồi đứng dậy. Ngài Zilone Sayadaw vẫn như mọi khi, tiễn ngài ra tận bìa rừng. Đến nơi, Ngài Kintawya dừng lại, quay sang phía Ngài Zilone và bảo: “Này vị hiền hữu Zilone, giáo pháp trong Pāḷi của Đức Thế Tôn không chỉ chân thực mà vẫn còn 'nóng hổi' (nguyên vẹn giá trị thực chứng). Điều cần thiết bây giờ chỉ là lòng tin (saddhā) và sự tinh tấn (vīriya). Vị hiền hữu đã gặp được giáo pháp trong thời điểm này, hãy biết quân bình giữa Đức tin và Trí tuệ (paññā), thiết lập một sự Chánh niệm (sati) vững chắc với lòng tinh tấn dõng mãnh.” Dứt lời, ngài rũ nhẹ tấm y bát, rồi ngay trước mắt Ngài Zilone, ngài từ từ bay vút lên không trung và biến mất. Ngài Zilone Sayadaw vô cùng kinh lạc, hai tay chắp lại, đứng lặng người trân trối nhìn theo. Ngài không biết mình đã đứng ở đó bao lâu. Trong lòng ngài trào dâng một đức tin mãnh liệt, một ý chí tinh tấn và mong muốn được theo chân vị thầy ấy ngay lập tức. Ngài không khỏi vui mừng khôn xiết cho tương lai của Giáo pháp. Bây giờ ngài mới nhận ra tại sao Ngài Kintawya lại có thể từ vùng Mingun xa xôi tìm đến ngài vào mỗi buổi chiều tà dễ dàng đến vậy. Những pháp thoại và thảo luận bấy lâu nay, giờ đây ngài mới thực sự thấu triệt: “Hóa ra là vì vậy!” Nghĩ lại những lúc mình từng mang những câu kinh đoạn chữ ra để tranh biện, Ngài Zilone cảm thấy vô cùng hổ thẹn. Lòng ngài nôn nóng muốn được gặp lại vị thầy ấy ngay lập tức để bày tỏ sự sám hối và xin lỗi về những sai sót của mình. #### Chiều tối ngày hôm sau Đến giờ thường lệ mà vẫn không thấy Ngài Kintawya xuất hiện, vị sa-di thị giả Ko Yin Koing đã đi từ chùa ra tận bìa rừng để tìm. Chú thấy Thầy mình đang đứng lặng người nhìn xa xăm một cách lạ thường. Thậm chí khi chú đến gần, ngài cũng không hề hay biết. Chỉ đến khi vị sa-di cung kính bạch: “Bạch Ngài,” Ngài Zilone mới giật mình tỉnh sáo và thốt lên: ## TRANG 207 “Ôi... những người như Ko Khema (tên của Ngài Kintawya) thật không uổng phí khi gặp được Giáo pháp. Còn Zilone, Zilone này thật chẳng đáng gì, chẳng làm nên trò trống gì cả!” Ko Yin Koing hoàn toàn không hiểu chuyện gì đang xảy ra. “Bạch Ngài, tại sao ngài lại nói như vậy ạ?” chú hỏi vì tò mò. “Đó không phải là việc của con!” ngài quở trách rồi quay bước trở về chùa. Vị sa-di không dám hỏi thêm, chỉ cúi đầu lẳng lặng theo sau. Ngài Zilone Sayadaw thì lòng đầy náo nức, mong sao cho mau đến chiều tối ngày tiếp theo. Thế nhưng, buổi chiều tối hôm sau đã không diễn ra như ngài hằng mong đợi. Mọi dự định về một buổi thảo luận chân tình, lời sám hối và những lời hứa quyết tâm thực hành đều trở nên dang dở. Niềm vui sướng tột độ mà ngài chuẩn bị sẵn đã chuyển thành nỗi đau buồn và sầu bi. Ngay từ lúc rạng đông, có tin báo từ Mingun rằng Ngài Kintawya Sayadaw đã viên tịch. Ngài Zilone cảm thấy mất đi nơi nương tựa, lòng tràn đầy niềm hối hận và cảm xúc kinh cảm (saṃvega) sâu sắc. Chính Ngài Zilone Sayadaw đã đích thân đến Mingun để chủ trì và lo liệu tang lễ trong suốt bảy ngày cho đến khi hoàn tất. Kể từ thời điểm đó, ngài bắt đầu vào rừng nhập thất cùng với một người hộ độ, dốc sức tu tập vô cùng tinh tấn. Không lâu sau, Ngài Zilone đã đạt được những bước tiến tâm linh đúng như kỳ vọng. Ngài cảm thấy hổ thẹn vì trước đây đã từng đánh giá thấp bản thân khi tự hỏi: “Liệu thời nay còn có thể đắc được Thiền định hay Thần thông không?”, rồi từ đó chỉ thiên về học thuật và để cho ý chí trở nên bạc nhược. (**Dựa trên tiểu sử của Ngài Mingun Jetawun Sayadaw.**) #### Thần thông và chuyến du hành trên không Có một câu chuyện gây lòng tin và sự kinh ngạc liên quan đến Ngài Zilone Sayadaw như sau: Trong thời gian ngài sống cùng một vị hộ độ tại một ngôi chùa trong rừng, vào một đêm xuân thanh vắng, vị hộ độ xin phép ngài đi đến một hồ nước cách xa chùa để tắm. Dưới ánh trăng sáng tỏ, từ xa, vị hộ độ đã thấy có ai đó đang tắm ở hồ. Khi tiến lại gần, ông vô cùng kinh ngạc. Lý do là vì người đi tắm chính là vị Đại thiền sư. Vị Đại thiền sư tuy đã già yếu, nhưng đêm hôm đó lại đến một nơi xa xôi như vậy bằng cách nào mà nhanh **đến thế?** — người hộ tăng (kappiya) cũng tự hỏi. ## TRANG 208 Khi người ấy vừa đến nơi thì ngài đại sư đã tắm xong rồi. Sau khi xong việc, ngài liền bảo người hộ tông (kappiya) rằng: “Này thiện nam, khi ta còn sống, con không được nói chuyện này cho bất kỳ ai biết.” Ngài đã dùng lời lẽ ngăn cấm như vậy, rồi từ trên hư không ngài trở về chùa. Người hộ tông ấy mãi đến khi ngài viên tịch mới dám tiết lộ chuyện này. Liên quan đến sự việc đó, trong cuốn “Lịch sử Giáo hội Shwegyin” (trang 97) có ghi chú như sau: Ngài đại sư Thiloong không chỉ có thế gian hiệp thông (lokiya abhiññā), mà không ai dám khẳng định rằng ngài không phải là bậc Lục thông (chaḷabhiñña) cùng với lậu tận thông (āsavakkhaya). Đặc điểm của các bậc thiện tri thức là họ thường có phong thái vô cùng kín đáo và thận trọng. Xưa kia, tại núi Cittala, có một vị tỳ-khưu già phục vụ một vị đại trưởng lão A-la-hán. Một ngày nọ, khi đang đi theo sau cầm bát cho đại trưởng lão để đi khất thực, vị tỳ-khưu già hỏi rằng: “Bạch ngài, bậc Thánh (Ariya) là người như thế nào? Phong thái của họ ra sao?” Vị đại trưởng lão đáp rằng: “Này hiền giả, có những người tuy đi theo sau bậc Thánh, cầm y bát và luôn ở bên cạnh, nhưng vẫn không biết đó là bậc Thánh. Này hiền giả, bậc Thánh rất khó nhận biết như vậy đó.” Vị tỳ-khưu già ấy vẫn không hề nhận ra thầy mình chính là một bậc Thánh. Lại nữa, ngài đại sư Jetawun ở Thaton từng có lời dạy với vị trụ trì Alakappa ở Sagaing rằng: “Ngài đại sư Thiloong là một bậc đại Bất lai (Anāgāmī). Ngài biết rõ từ làng Thiloong đến Shwesettaw ở Minbu có bao nhiêu bước chân. Một bậc Bất lai có trí nhớ và sự tỉnh giác cực kỳ tốt. Không phải là ngài cố tình để tâm ghi nhớ, mà đó là bản tính tự nhiên.” Đây là lời kể lại được ghi chép lại. Trong cuốn “Bhāvanānaya Dīpanī” do ngài đại sư Gu Kyaung ở khu rừng Thapyay San phía đông thành phố Magway viết vào năm 82 tuổi (in năm 1916 tại nhà in Sinton Tan Thathana Linkara Pitaka, Yangon) cũng chép rằng: “Vì ngài đại sư Thiloong thường xuyên tu tập thiền quán về **32 thể thân** (dvattiṃsākāra - 32 koṭṭhāsa), nên khi nhìn các thiện nam tín nữ đến chùa lễ bái, ngài không còn nhìn thấy hình tướng chúng sinh nam hay nữ nữa. Thay vào đó, ngài nhìn thấy trong khoảng không gian một hai tầm chiếu ấy, chỉ toàn là thịt, xương, gân, máu chất chồng lên nhau, giống như hình ảnh những con trâu bò chết bị chặt xẻ thành từng khúc.” ## TRANG 209 ### Ngài đại sư Thiloong và ngài đại sư Thingaza Khi danh tiếng của ngài đại sư Thiloong vừa mới lan xa, vua Mindon nghe tin đã vô cùng khởi tâm tịnh tín. Để hiểu rõ hơn về phẩm hạnh Pháp học (pariyatti) và Pháp hành (paṭipatti) của ngài cho chính xác, nhà vua đã thưa với các vị cao tăng hãy tìm cách dò xét. Các vị cao tăng đã chọn ngài đại sư Thingaza, một người thông hiểu kinh điển và có tài hùng biện, để phái đi. Khi đó, ngài đại sư Thiloong đang trú ngụ tại chùa rừng làng Khatthin, gần bờ sông Ayeyarwady về phía bắc thị trấn Kyaukmyaung. Giữa làng và chùa có dòng nước ngăn cách, nên ngài đại sư Thingaza phải đi thuyền từ làng Khatthin sang chùa rừng. Khi ngài đến nơi vào một buổi sáng nọ, ngài thấy ngài đại sư Thiloong đang thong dong xỉa răng bằng que gỗ tăm (danpu). Ngài đại sư Thiloong đã giải đáp những câu hỏi hóc búa về Pháp học và Pháp hành mà ngài Thingaza đã chuẩn bị sẵn một cách rất dễ dàng trong khi vẫn đang thong thả xỉa răng. Sau khi đã vấn đáp xong, lúc ngài đại sư Thingaza chuẩn bị đảnh lễ để ra về thì ngài Thiloong bảo rằng: “Này Thingaza, dân làng Khatthin có thỉnh chúng tôi sang thọ thực. Con hãy dùng bữa xong rồi hãy về.” Ngài nói tiếp: “Này Thingaza, lúc con đến đây, con qua sông bằng phương tiện gì?” “Bạch ngài, con đi bằng thuyền ạ.” “Ừm, vậy thì con cứ đi bằng thuyền về trước đi.” Ngài đại sư Thingaza lúc bấy giờ không kịp suy nghĩ hay thưa hỏi gì thêm, chỉ đảnh lễ rồi lấy thuyền quay trở lại làng Khatthin như lúc đến. Khi thuyền vừa cập bến, ngài vô tình nhìn lên phía trên bờ thì thấy một vị tỳ-khưu đang đắp y, đó chính là ngài đại sư Thiloong. Ngài đại sư Thingaza cảm thấy vô cùng mãn nguyện vì đã nhận được câu trả lời cho một nghi vấn mà ngài vẫn để trong lòng nhưng chưa kịp hỏi, sau đó ngài trở về kinh đô. ### Thuyết giảng dựa trên kinh nghiệm thực chứng Ngài đại sư Mahasi khả kính trong phần lời nói đầu của cuốn “Phương pháp tu tập thiền quán (Vipassanā)” cũng đã viết rằng: [Ngài đại sư Thiloong đã trở nên rạng rỡ như mặt trời, mặt trăng trong công hạnh **tu tập không phóng dật** (appamāda-paṭipatti). ## TRANG 210 Có lời kể lại rằng tại làng Sheimmaka, nhân dịp đại lễ kiết giới (sīmā), nhiều vị đại sư được triều đình phong tặng danh hiệu Rājaguru (Quốc sư) từ Mandalay, Sagaing và các nơi khác đã hội tụ về đây. Nhận lời cung thỉnh của đại chúng, ngài đại sư Thiloong đã thuyết giới và ban lời giáo huấn cho hội chúng tăng già. Khi thuyết pháp, ngài đã mở lời rằng: “Tôi sẽ thuyết giảng theo đúng những gì tôi đã tự tâm tác ý và nỗ lực thực hành.” Sau đó, ngài đã thuyết giảng một cách thấu đáo về cách thực hành thiền quán, các tầng tuệ giác Minh sát, cách chứng đắc đạo quả A-na-hàm và cách nhập vào quả định (phalasamāpatti). Pháp thoại được thuyết giảng sâu sắc và vi diệu đến mức ngay cả các bậc đại sư thông hiểu tam tạng kinh điển cũng phải kinh ngạc. Vì thế, ngài đại sư Thingaza đã thưa rằng: “Bạch ngài, nếu ngài biên soạn thành kinh sách theo đúng những gì ngài vừa thuyết giảng thì quả là điều tuyệt vời.” Khi đó, ngài đại sư Thiloong đã đáp rằng: “Này Aggare (tên của ngài Thingaza), việc thuyết giảng hay tu hành thì có thể làm theo ý mình, nhưng nếu viết thành kinh sách thì phải làm cho phù hợp và đồng nhất với kinh điển của tiền nhân. Khi ta còn sống, nếu có ai thắc mắc thì ta còn có thể giải đáp, nhưng chẳng bao lâu nữa ta sẽ qua đời. Khi đó, ta e rằng những điểm khác biệt này sẽ gây ra sự tranh cãi về sau.” Đây là lời kể lại mà tôi (ngài Mahasi) được nghe từ ngài đại sư tu viện Ingyin Taw ở làng Seikkhun, một bậc trưởng lão thường có thói quen ghi nhớ kỹ lưỡng các tiểu sử cổ xưa. Dựa trên lời kể lại trên, có thể thấy rõ rằng “ngài đại sư Thiloong đã không tự mình viết lại các công hạnh thực hành của ngài thành kinh sách”. Sở dĩ ngài không viết có lẽ là vì ngài nhận thấy vào thời kỳ đó có ít người sẽ thực hành theo. Còn về việc nói rằng “cách thực hành và kinh điển không giống nhau” thì có lẽ chỉ là sự khác biệt về thuật ngữ và tên gọi; còn về phương diện ý nghĩa và bản chất thì chắc chắn là phải đồng nhất.] Trong số rất nhiều đệ tử của ngài đại sư Thiloong, có ngài đại sư U Mañjusā ở tu viện Alay Taw thuộc dãy núi Sagaing Mingun. Ngài là vị không màng đến các Phật sự khác, chỉ luôn hoan hỷ trong công hạnh **tu tập không phóng dật** (appamāda-paṭipatti). Ngài đại sư Jetawun Mingun, vị từng được học hỏi và thọ nhận phương pháp từ ngài U Mañjusā, từ hơn sáu mươi năm trước đã bắt đầu thuyết giảng và hướng dẫn một cách rõ rệt về công hạnh **Tứ Niệm Xứ không phóng dật** (appamāda satipaṭṭhāna). Ngày nay, di sản tu tập **không phóng dật** (appamāda paṭipatti) này đã được ngài đại sư Mahasi khả kính kế thừa và đang được truyền bá vô cùng rộng rãi. Lời giáo huấn mà ngài đại sư Thiloong thường xuyên khuyên dạy là: ## TRANG 211 **Dhale na bhavati paṅkaṃ, jaleneva visujjhati.** **Cittena bhavati pāpaṃ, citteneva visujjhati.** Bùn nhơ sinh ra từ nước (đất ướt). Duy chỉ nhờ nước mới tẩy sạch được. Ác nghiệp sinh khởi từ tâm. Duy chỉ nhờ tâm mới thanh tịnh được. (Những cấu uế bất thiện phát sinh do nơi tâm, chỉ khi dùng chính tâm ấy để gột rửa thì mới có thể trở nên trong sạch). ## TRANG 212 ### Trưởng lão Thut Khaung (Htwut Khaung Sayadaw) (1160 - 1242) Dưới triều vua Mindon, bậc Đại đức có khả năng hoằng dương giáo pháp Hành Trì (Paṭipatti), trở thành chỗ nương tựa cho đông đảo hành giả tu hành, chính là Ngài Trưởng lão Thut Khaung. Ngày nay, dù ít người còn tường tận về tiểu sử chi tiết của Ngài, nhưng danh hiệu của Ngài vẫn được truyền tụng khắp nơi. Tại các giảng đường thọ giới (Uposatha), những lời giáo huấn của Ngài vẫn vang vọng cho đến tận hôm nay. 1. Hết thảy chúng sinh, hàng hữu học, luân hồi đã quá dài lâu. 2. Chẳng có cõi nào là định cư, chẳng có kiếp nào là vững bền. 3. Cứ ngỡ sẽ được, dòng tham ái, chỉ mang lại khổ lụy mà thôi. 4. Với thân và lực, chẳng biết thương, ngươi thật là lầm lạc lắm thay. ... 6. Sanh đặng làm người, chẳng hưởng quả, thật là tổn thất lớn lao thay. 7. Kiếp này chẳng rõ đạo vô sinh (Amata), kinh thành vàng ấy chẳng thấy mùi. 101 bài kệ tụng (Thanyauk) về đề mục thiền quán (Kammaṭṭhāna) của Ngài đã đi vào lòng người, ngay cả những cụ già không biết chữ cũng thuộc lòng. Sức lan tỏa của chúng trong công cuộc hoằng pháp còn rộng lớn hơn cả 13 bộ đại luận mang tên "Pamoja" do Ngài biên soạn (như Rāja Pamoja, Dhamma, Pīti, Pakiṇṇaka, Saṃvega, Ajjhāsaya, Samanta, Sādhujana Pamoja...). (Riêng bộ Rāja Pamoja đã được nhà in Hanthawaddy ấn hành). Cuộc đời mong manh như bọt nước, dù hữu duyên gặp được giáo pháp nhưng chẳng dám dấn thân, cứ mỗi chỗ một ít, tâm cứ lưỡng lự hoài nghi, khiến kiếp sống phàm phu cứ mãi quanh quẩn trong vô vọng. Nếu đạt được thân người mà không có trí tuệ tỉnh thức, thì ngay cả mùi hương của Niết-bàn cũng không thể chạm tới. "Mỗi kiếp đều bại, như đá tảng giữa đời, chỉ còn đường chìm nghỉm mà thôi" - Những bài kệ của Ngài như những hồi chuông cảnh tỉnh mạnh mẽ, khiến những kẻ đang mải mê trong dục lạc phải rúng động, phát sinh tâm kinh cảm (Saṃvega) sâu sắc. Nó tựa như những nhát gõ dồn dập đánh thức những người đang ngủ say. Khi Đức Thế Tôn xuất hiện và vang rền giáo pháp **Vô ngã (Anatta)**, ngay cả các bậc Đại Phạm thiên dù thọ mạng dài lâu tưởng chừng vĩnh cửu cũng phải run rẩy khiếp sợ. Những lời dạy của Ngài Thut Khaung cũng sắc sảo và chạm đến tâm can như thế. Nếu mỗi ngày kiên trì đọc tụng một lần, chắc chắn tâm tính sẽ có sự chuyển hóa và tiến bộ. ## TRANG 213 157 ### Cuộc đời của Ngài Trưởng lão Thut Khaung Trưởng lão Thut Khaung không chỉ nổi danh về phương diện Hành Trì (Paṭipatti) mà còn xuất chúng trong phương diện Pháp Học (Pariyatti). Ngay từ thời còn là Sa-di, Ngài đã đỗ kỳ thi Pathamagyi, bằng năng lực học thuật của mình, Ngài đã trở thành niềm tự hào của dòng tộc. Ngài quê quán tại làng Myin Ka Kone, gần thị trấn Laymyethna, huyện Hinthada. Phụ thân là U Lu Gyi, mẫu thân là Daw May. Ngài sinh vào ngày rằm tháng Tabaung năm thăng 1160, lúc mặt trời vừa mọc, nhằm ngày thứ Ba. Tên thuở nhỏ là Maung Soe, Ngài có một người chị gái tên là Ma Ngwe. Năm Maung Soe 13 tuổi, Ngài gặp được bậc đại học giả từ kinh thành Ava là Ngài Trưởng lão Manyee Taw khi vị này đang tạm lưu trú tại tu viện Ngataw Kywe Khaing, vùng Laymyethna. Cha mẹ đã gửi gắm Ngài cho vị Trưởng lão này và không lâu sau Ngài xuất gia Sa-di, pháp danh là **Shin Ñāṇavanta**. Khi Ngài xuất gia, phụ thân của Ngài đã qua đời. Khi Trưởng lão Manyee Taw quay về kinh thành Ava, **Shin Ñāṇavanta** đã xin phép mẫu thân để tháp tùng thầy về kinh đô. Thời điểm ấy là dưới triều đại vua Bodawpaya tại kinh đô Amarapura. Đến Ava, Ngài nỗ lực trau dồi Pháp Học. Nhờ trí tuệ nhạy bén, Ngài đã thông suốt các giáo trình tôn giáo vượt xa so với độ tuổi. Không chỉ có tướng mạo trang nghiêm, lục căn của Ngài cũng vô cùng thuần thục. Đúng như câu nói "Chỗ có ngọc quý, ngọc quý sẽ tụ hội", Ngài không chỉ tinh thông học thuật mà giới đức cũng vô cùng thanh tịnh, các hạnh nết (Caraṇa) không chút khiếm khuyết. Do đó, Ngài không chỉ được thầy yêu bạn mến mà còn nhận được sự hộ trì tứ vật dụng từ Hoàng hậu mang danh hiệu "Siri Pavara Tiloka Mahā Rājindā Ratana Devī". **Pubbe ca kammaṃ, ariṅ khan, kyam taiṅ aoṅ samyè.** **(Nghiệp từ kiếp trước là gốc rễ, mọi dự định ắt sẽ thành công).** Người có **Năng lực Phước đức từ quá khứ** (Pubbe ca katapuññatā) mạnh mẽ, dù sinh ra ở nơi thấp kém thế nào, chính nghiệp ấy cũng sẽ đưa họ đến trú ngụ tại trú xứ thích hợp (Paṭirūpa). Chính nghiệp ấy sẽ sắp đặt để họ gặp được bậc thiện tri thức và minh sư dù khó khăn đến mấy, khiến cho vòng quay **Hương nương tựa bậc thiện nhân** (Sappurisūpanissaya) tiếp tục vận hành. Chưa dừng lại ở đó, để con đường đời không bị lệch lạc, khả năng tự kiểm soát và định hướng bản thân đúng đắn — vòng quay **Chánh tự hướng tâm** (Attasammāpaṇidhi) — cũng được điều hành bởi chính thiện nghiệp quá khứ ấy. (Đây là lời chú giải trong kinh Cakka, Tăng Chi Bộ). ## TRANG 214 Hãy lưu ý những gì người quá thiên về vật chất thường viết và nói: “Nghiệp quá khứ chỉ chiếm khoảng một phần tư (một măt)[^1] trong một lượng (một tjat)[^2]”. Tuy nhiên, chúng ta hãy tiếp tục nhìn vào sức mạnh của đức tính **Pubbe ca katapuññatā** (phước báu đã làm trong quá khứ) nơi bậc tiền thân của Trưởng lão Htut Khaung – Ngài Shin Ñāṇavanta. [^1]: Một măt (madha) là đơn vị đo trọng lượng cổ của Myanmar, bằng 1/4 tjat. [^2]: Một tjat (kyat) là đơn vị đo trọng lượng cổ, tương đương khoảng 16,33 gram. Khi còn là một Sadhu (Sa-di), Ngài Shin Ñāṇavanta đã thông suốt hoàn toàn lộ trình học tập Tam Tạng kinh điển. Trong kỳ thi sát hạch Sudhammā Paṭhamapyan, Ngài đã xuất sắc giành được danh hiệu Paṭhamakyaw (Thủ khoa danh dự). Hoàng hậu đã thỉnh cầu: “Bạch Ngài, xin hãy mời cha mẹ và anh chị em của Ngài về kinh đô. Con xin được hộ độ và chăm sóc họ đầy đủ.” Sau đó, chị gái Daw Ngway và anh rể U San Lone (cùng các con là Maung Thar Ywe, Maung Thar Pel, các con gái Ma Ma Thie, Ma Lun Mae) được bố trí định cư tại khu vực bến tàu Pwe-seik thuộc Sagaing. Vào thời gian đó, mẫu thân của Ngài cũng đã qua đời. Đó là vào năm 1180 Miến lịch. Sau khi đỗ Paṭhamakyaw, vào năm 1181, nhờ sự hộ độ về tứ vật dụng của cùng ngôi chùa, cùng vị Thầy và các thí chủ đó, Ngài Shin Ñāṇavanta đã thọ giới Tỳ-kheo. ### Từ cuộc sống chùa vàng vào rừng sâu Ngài đảm đương Phật sự giáo giới kinh điển (Pariyatti) cho đến hạ lạp thứ tám. Vào năm 1186, từ vị thế của một bậc Pháp sư (Sākhya Sayadaw) trẻ tuổi đầy uy tín, trú tại ngôi chùa vàng (Shwe Kyaung) và được đức vua, hoàng hậu hết lòng tôn kính, Ngài đã một mình tiến bước vào rừng sâu, ẩn mình dưới gốc cây, lùm tre mà không màng đến người đồng hành. Nơi đầu tiên Ngài đến ẩn tu là vùng chân núi phía Tây của dãy Min-wun (núi Sagaing), nằm gần bảo tháp cổ Zie-khone. Chẳng bao lâu sau, Ngài chuyển đến gần bảo tháp Ratana Htut-khaung trên đỉnh núi. Bảo tháp Ratana Htut-khaung này hiện vẫn còn tồn tại. Đây là công đức của Công chúa Soe Min Ko-daw Gyi, con gái của vua Asankhayā Saw Yun, người đã thành lập thành phố Sagaing vào năm 677. Ngài trú ngụ ở phía Nam đầu hành lang phía Tây của bảo tháp. Kể từ đó, dân chúng bắt đầu gọi Ngài là “Vị Sư trẻ Ratana Htut-khaung”. Ngài giữ gìn tỳ-kheo giới (bhikkhu-sīla) vốn là nền tảng một cách kiên cố, tròn đầy và thực hành 13 hạnh đầu đà (dhutaṅga) bất cứ khi nào có cơ hội. Từ hạ lạp thứ tám, suốt hơn 20 năm gần 30 năm, Ngài không định cư tại bất kỳ nơi nào cố định. Ngài chỉ luân chuyển giữa những nơi thanh vắng phù hợp với pháp sa-môn, khi thì vào rừng này, lúc sang núi nọ. Phần lớn Ngài lấy núi Min-wun làm trung tâm để trú ngụ; vào thời đó, núi Min-wun là một khu rừng già thực thụ, nơi voi thường xuyên qua lại và hổ báo ẩn mình. Trưởng lão Munindaghosa (người có được Thiền định - Jhānalābhī), vị Thầy hướng dẫn thiền pháp (Kammaṭṭhāna) đã nhắc đến ở phần trước, cũng đang trú ngụ tại động Paba trong thời gian này. ## TRANG 215 Trưởng lão Htut Khaung quả là một bậc anh hùng của đời người, khi dám đánh đổi cả cuộc đời mình để dấn thân trọn vẹn suốt hơn 20 năm với tâm niệm “làm việc trong kiếp này” bằng một nghị lực không hề thoái thác. Dù đối mặt với bất kỳ lý do gì, Ngài cũng không bao giờ quay đầu lại, mà luôn dùng lòng nhẫn nại (khantī) để chiến thắng mọi đau khổ khổ hạnh gặp phải. Chỉ khi chịu thua cái tôi mới đạt được chiến thắng thật sự, chỉ khi không màng đến thế gian mới thấy rõ bản chất thế gian; tuệ giác tự thân đó đã thúc đẩy Ngài luôn tiến về phía trước. Điều này giống như lời dạy trong **Kinh Bālapaṇḍita** (Kinh Hiền ngu) rằng: một người chơi bạc khi thấy có cơ hội thắng sẽ càng dồn hết tài sản vào để đặt cược. Bất kỳ gốc cây nào gặp được cũng đều là chùa của Ngài. Khi trời bắt đầu sập tối, Ngài dâng hoa cúng Phật, rải tâm từ, hiến dâng trọn vẹn mạng sống và thân xác đến đức Phật rồi hồi hướng phước báu. Khi chim chóc đã về tổ, Ngài bắt đầu công phu thiền định (kammaṭṭhāna) vào canh đầu. Do tu hành miên mật không ngủ nghỉ hàng ngày, khi định lực (samādhi) bắt đầu phát triển mạnh, cũng là lúc Ngài mắc phải căn bệnh phong nghiêm trọng (đau dạ dày do khí) do tình trạng thực phẩm và nước uống khan hiếm. Khi căn bệnh lên đến đỉnh điểm khiến cơ thể gầy gò, kiệt sức, thầy thuốc Maung Chan Thar cùng các thí chủ từ dân làng đi khất thực đã thỉnh Ngài về ngôi chùa nhỏ tại rừng Myin-mway để chữa trị. Rừng Myin-mway cách trú xứ Htut-khaung khoảng bốn dặm về phía Tây Bắc. Vừa khi bệnh tình thuyên giảm, Ngài đã rời khỏi đó để tiếp tục luân chuyển tu tập tại các trú xứ như Let-louk, Pauk-taw-kan, Pae-kattoe và các khu rừng quanh bảo tháp Kaung-hmu-daw vĩ đại. Mặc dù nhiều lần đối mặt với ma quỷ, ác quỷ và thú dữ, nhưng tâm từ của Ngài luôn mang lại sự ấm áp như người thân ở bất kỳ nơi nào Ngài đến, và che chở Ngài khỏi mọi hiểm họa. ### Vũ khí dám đối mặt với hiểm nguy Trong suốt thời gian sống đời ẩn sĩ (Aññavāsī) luân chuyển qua các khu rừng, Trưởng lão Htut Khaung thường xuyên phải đối mặt với nhiều loại nguy hiểm khác nhau theo đúng đặc thù của người tu rừng. Một lần nọ, trên đường đi khất thực từ chùa trong rừng, Ngài bất ngờ gặp phải một đàn voi rừng đi ngược chiều. Trưởng lão đã dừng lại, đưa lòng bàn tay ra hiệu ngăn lại và an định tâm từ (Mettā-bhāvanā). Đàn voi ngay lập tức tản ra nhường đường. Có những con voi thậm chí còn cúi đầu chào trước khi đi qua. Điều này cũng giống như khi Đức Thế Tôn đối mặt với voi Nālāgiri đang trong cơn say rượu hung mạn. Khi Ngài tập trung và tỏa chiếu toàn bộ năng lượng tâm từ vô lượng đến khắp vạn loại hữu tình trong vô biên vũ trụ vào con voi ấy, nó ngay lập tức tỉnh cơn say và phủ phục dưới chân Ngài. ## TRANG 216 Nếu chúng ta có thể phóng thích sức mạnh tâm từ của mình một cách tập trung, sâu sắc và vững chãi, bao trùm lấy đối tượng như một tấm lưới bủa vây, thì ta sẽ hiểu rõ được điều mà những bậc thiện trí gọi là "thần thông" vốn rất khó tin này. Trong thời gian trú ngụ tại rừng Pauk-taw-kan, Ngài cũng đã đối mặt với một hiểm họa cận kề cái chết. Không chỉ ở trong những ngôi chùa nhỏ giữa rừng, Trưởng lão còn thực hành các hạnh đầu đà như: ở gốc cây (**Rukkhamūlika-dhutaṅga**), ở ngoài trời (**Abbhokāsika-dhutaṅga**). Một ngày nọ, Ngài chọn một nơi bụi rậm rạp làm trú xứ ban ngày để tiến hành quán chiếu Pháp. Có một người thợ săn tên là "Bo Tet Khar" đang săn bắn trong khu rừng đó. Anh ta nhầm tưởng Trưởng lão là con mồi nên đã nổ súng bắn. Nhưng kỳ lạ thay, súng không cháy thuốc, còn bản thân Bo Tet Khar thì cảm thấy choáng váng rồi ngã lăn ra. Trưởng lão khi đó hoàn toàn không hay biết gì. Khi người thợ săn tỉnh lại và nhìn kỹ, nhận ra đó là một bậc Trưởng lão thì vô cùng kinh hãi. Ngay lập tức, anh ta phủ phục dưới chân Ngài, thuật lại sự việc và cầu xin tha thứ. Sau đó, vì phát tâm chấn động (saṃvega), Bo Tet Khar đã xuất gia đi tu. Những quy luật tự nhiên như Giới (Sīla) và Tâm từ (Mettā) vốn không phân biệt thời gian, không phân biệt nơi chốn, cũng không phân biệt địa vị. Nếu thật sự tin tưởng và thực hành, thì thời đại của Đức Phật và ngày nay chẳng có gì khác biệt. Điều này đã được các bậc Thánh nhân (Ariya) ở Myanmar chứng minh qua các ví dụ thực tế. Từ **Archimedes** đến **Newton** và **Einstein**, các nhà khoa học qua nhiều thế hệ, dù không có những kinh điển huyền bí chỉ dẫn một cách chính xác, vẫn có thể khám phá ra những điều kỳ diệu của thế giới như điện năng hay nguyên tử. Họ đã cống hiến cả cuộc đời vào một lĩnh vực mà mình quan tâm, gạt bỏ thế gian, chịu đựng sự chê bai của xung quanh, thậm chí đôi khi còn phải chịu sự trừng phạt từ chính quyền hay tôn giáo cực đoan để tìm ra chân lý cho bằng được. Tuy nhiên, việc thực hành Giáo pháp (Paṭipatti) thì không như vậy. Chúng ta đã có những kinh điển hướng dẫn chính xác, có những bậc lãnh đạo dẫn đường không ít, và con đường ấy đã quá đồi quang lộng lẫy rồi (đã có người đi mòn lối rồi). “Khi bị kẻ thù bao vây, nếu con đường đào thoát đã mở sẵn mà người đàn ông ấy vẫn không chạy thoát, thì đó không phải là lỗi của con đường.” Trưởng lão không chỉ gặp nguy hiểm từ thú vật hay con người, mà còn phải chịu đựng sự trêu chọc đủ kiểu từ các thế lực vô hình như ma quỷ, Atula. Trong thời gian trú ngụ tại ngôi chùa rừng phía Bắc bảo tháp Kaung-hmu-daw, khi thực hành hạnh đầu đà nơi nghĩa trang (**Susānika-dhutaṅga**), Ngài đã bị các thế lực vô hình nhiễu loạn theo nhiều cách. Tuy nhiên, cũng không ít hạng quỷ dạ xoa (Vemānika-peta) đã đến đảnh lễ và thỉnh Ngài thuyết pháp cho nghe. ## TRANG 217 #### Các vị A-la-hán và những bậc phi thường Đối với những bậc đã đạt đến tầng cấp tâm linh như vậy trong vòng luân hồi, thì từ ma quỷ, phù thủy cho đến các loại bùa chú, linh phù, hay các loại hỏa khí, vũ khí hủy diệt cũng chẳng còn là điều gì lạ lẫm hay đáng kinh sợ nữa. **Người không lành nấu cơm, kẻ tật nguyền dâng nước** Ngài Thiền sư Htut Khaung thường xuyên du hành, ẩn tu trong các khu rừng; mãi đến năm 50 tuổi, ngài mới bắt đầu lưu trú cố định tại một nơi. Khi ngài ở cùng đại chúng, số lượng đệ tử tỳ-kheo và sa-di theo học thiền lên đến hơn ba trăm vị. Các tu nữ và hành giả tại gia cũng đông đảo vô cùng. Ngay cả Làu Shei (Laungshay) Thái hậu, mẫu thân của Vua Thibaw, cũng đến xuất gia tu nữ dưới sự hướng dẫn của ngài. Các vị phu nhân và cung nữ trong cung điện, khi đã chán ngấy cảnh phù hoa, thường bảo nhau: "Hãy nỗ lực thoát khỏi vòng nghiệp chướng, về nương tựa nơi chân ngài Htut Khaung". Họ xem việc được thực hành pháp bảo bên cạnh Thiền sư Htut Khaung là một niềm vinh dự lớn lao. Điều chúng tôi muốn nhấn mạnh ở đây là: Dù khi tuổi cao, phải sống cùng đại chúng và nhận được sự hộ độ, kính tin từ giới hoàng tộc, ngài Thiền sư vẫn giữ nếp sống tri túc và khổ hạnh cực độ. Khi dùng nước hay các loại nước uống, ngài không dùng những loại ly tách pha lê sang trọng từ Trung Quốc hay Pháp vốn dành cho vua chúa, mà chỉ dùng duy nhất một chiếc gáo bằng gáo dừa. Tại trú xứ của ngài, có các tu nữ phụ trách việc nấu nướng, cúng dường thực phẩm, đứng đầu là bà Daw Uttara. Trong số đó có tu nữ Daw Kula Ma, một người đang mang trọng bệnh. Vị quản sự (kappiya) trực tiếp dâng cơm và nước uống cho ngài là ông Ko Thar Han. Ông Ko Thar Han này từng mắc bệnh phong (hủi) rất nặng và chưa hoàn toàn khỏi hẳn. Các ngón tay của ông đã bị rụng, ngắn lại và co quắp. Vào những buổi chiều mùa hè, ngài Thiền sư thường dùng nước me. Chính vị quản sự căn bệnh phong Ko Thar Han là người chuẩn bị và ngâm nước me này. Trước khi dâng lên, ngay trước mặt ngài Thiền sư, ông Ko Thar Han dùng bàn tay của mình để nhào trộn, khuấy và lọc hỗn hợp đường thốt nốt, me và muối cho thật đều. Ông còn nếm thử xem vị ngọt, chua, mặn đã vừa miệng chưa. Sau đó, cũng chính bàn tay ấy cọ rửa chiếc gáo dừa thật kỹ rồi mới rót nước vào dâng lên. Dù tận mắt chứng kiến những ngón tay ngắn cụt của Ko Thar Han nhào trộn và lọc nước ngay trước mặt, ngài Thiền sư không hề có chút tâm ghê tởm, mà vẫn thọ nhận một cách ngon lành. Vào những lúc ấy, nếu có người nào khác đến gần, ngài thường chia sẻ nước me đó cho họ và ## TRANG 218 bảo họ dùng. Những người mới đến, khi nhìn thấy diện mạo và cách làm của ông Ko Thar Han, thường cầm chén nước me rồi đặt nhẹ xuống trước mặt, chỉ lo trò chuyện để lảng tránh việc uống. Nhưng trước lời thúc giục ân cần của ngài Thiền sư: "Uống đi vị này, nước mát và ngọt lắm", họ đành phải miễn cưỡng uống vì lòng kính trọng ngài. **Gương sáng của Tôn giả Đại Ca-diếp (Mahā Kassapa)** Việc ngài Thiền sư không hề có tâm ghét bỏ hay ghê tởm dù người nấu lẫn người dâng thực phẩm đều là những bệnh nhân phong nặng đã trở thành một câu chuyện được lưu truyền rộng rãi. Tâm của bậc thiện tri thức quả thật vô cùng cao thượng. Đặc tính thiện lành này của Thiền sư Htut Khaung — được gọi là **Appaṭikūla-saññā** (Tưởng không ghê tởm) — đã minh chứng rằng tâm của ngài cùng một bản chất với tâm của các bậc Thánh nhân thời đức Phật. Thuở xưa, Tôn giả Đại Ca-diếp từ trên núi cao đi vào làng khất thực đã thọ nhận vật thực của một người mắc bệnh phong để tạo phước lành cho họ. Khi người đàn ông ấy sớt bát, do các ngón tay đã thối rữa và đầy máu mủ, một ngón tay bị rụng đã rơi thẳng vào trong bát của Tôn giả. Ngài Đại Ca-diếp nhìn thấy điều đó, và người thí chủ cũng biết. Để giúp người thí chủ phát khởi tâm tịnh tín sâu dày, Tôn giả đã ngồi tựa lưng vào bức tường ngay cạnh ngôi nhà đó, dùng tay gạt ngón tay bị rụng ra một bên và thọ nhận bữa ăn một cách ngon lành. Điển tích này đã được ghi lại trong kinh Thera-gāthā (Trưởng Lão Tăng Kệ). Vị đại sư sớ giải (Aṭṭhakathā) còn nhận xét thêm rằng: "Đối với hạng phàm phu, cảnh tượng ấy chắc hẳn sẽ khiến họ phải nôn mửa đến mức ruột gan lộn nhào". **Những ngã rẽ trên con đường Niết-bàn** Việc không ghê tởm trước những đối tượng đáng ghê tởm, và giữ tâm xả ly trước những đối tương đáng ưa thích, được gọi là "**Paṭikūle appaṭikūla-saññā, appaṭikūle paṭikūla-saññā**" (Trong cái đáng ghê tởm thì tưởng là không ghê tởm, trong cái không ghê tởm thì tưởng là đáng ghê tởm). Bản tâm bất biến trước mọi cảnh dù xấu hay tốt còn được gọi là "**Tādi-guṇa**" (Đức tính Tự tại - Như thị) hay "**Chaḷaṅgupekkhā**" (Lục chi xả). Trạng thái tâm này ở các bậc Thánh không phải do cố gắng tạo ra, mà chính là "**Ariyiddhi**" (Thánh năng lực - một trong mười loại thần thông của bậc Thánh) như đã được thuyết dạy trong kinh Sampasādanīya Sutta, Paṭisambhidāmagga (Phân Tích Đạo) và Visuddhimagga (Thanh Tịnh Đạo). Đối với những người tâm chưa đạt đến độ chín muồi như vậy, họ cần phải quán chiếu về sự bất tịnh (asubha) và vô thường (anicca) đối với những đối tượng tốt đẹp; quán chiếu về lòng từ (mettā) và bản chất của các đại (dhātu) đối với những đối tượng xấu ác để trừ khử tham (lobha) và sân (dosa). ## TRANG 219 Đức Phật dạy rằng loại năng lực (thần thông) này vô cùng cao quý, hơn hẳn các loại thần thông biến hóa khác. Tuy nhiên: - Tham ái (rāga) có thể giả mạo làm lòng Từ (mettā). - Sầu ưu (soka) có thể giả mạo làm lòng Bi (karuṇā). - Hôn trầm thùy miên (thina-middha) có thể giả mạo làm Định (samādhi). - Si mê (moha) cũng có thể giả mạo làm tâm buông xả, nhẫn nhịn trước mọi cảnh tốt xấu. - Tâm sân hận, oán ghét (byāpāda) có thể giả mạo làm tâm ghê tởm (paṭikūla). - Dục ái (kāmacchanda) cũng có thể giả mạo làm tâm không ghê tởm (appaṭikūla) — tức là giả mạo tâm cao thượng không còn ghét bỏ. Theo chú giải Nettippakaraṇa, đây chính là những "ngã rẽ sai lệch" trên con đường tiến về Niết-bàn mà các hành giả cần phải thận trọng nhận diện. **Sống trong rừng vẫn trở thành bậc Thầy của Quân vương** Từ hạ thứ 8 đến hạ thứ 27 (khoảng năm 1208 Miến lịch, thời Vua Bagan), ngài Thiền sư Htut Khaung không có trú xứ cố định. Đến năm hạ thứ 27, ngài về lưu trú tại Sin Ma Chauk (còn gọi là Sin Ma Chaung) ở dãy núi Sagaing. Sin Ma Chaung là một thung lũng sâu, được bao bọc bởi các dãy núi như những bức tường thành cao vút. Xây xưa, đây là nơi chăn thả các thây voi của nhà vua nên mới có tên gọi là Sin Ma Chaung (Suối voi cái). Một ngày nọ, khi ngài Thiền sư đang hành thiền, có hai người thanh niên diện mạo thanh tú âm thầm tìm đến thung lũng này. Không ai rõ họ đến với ý định gì. Họ nhìn quanh bốn hướng với vẻ đầy nghi ngại, rồi vừa lau mồ hôi vừa tiến đến đảnh lễ và xin phép được phục vụ ngài. Ngài Thiền sư không hỏi han chuyện thế sự, chỉ thuyết giảng Pháp bảo cho họ nghe. Hai người thanh niên cung kính lắng nghe. Dù ban đầu trên khuôn mặt họ hiện rõ vẻ lo âu và lưỡng lự vì một điều gì đó, nhưng khi đã thấm nhuần dòng sữa Pháp, cả hai đều thở phào nhẹ nhõm và cúi đầu thành kính. "Bạch ngài, xin ngài cho phép hai anh em con được xuất gia tỳ-kheo và thực hành thiền định tại đây," người anh vừa nói vừa nhìn vào mắt người em. Người em cũng gật đầu đồng thuận với vẻ mặt tràn đầy sự tin cậy nơi Thiền sư. Ngài Thiền sư gật đầu, mỉm cười rạng rỡ và hỏi: "Các con từ đâu đến và định đi về đâu?" "Bạch ngài, chúng con từ Amarapura đến và đang định đi về phía Shwebo," họ thưa. Ngài thiền sư gật đầu rồi trầm ngâm suy nghĩ. ## TRANG 220 Trong không gian tĩnh lặng, mát mẻ của vùng thung lũng núi rừng sâu thẳm, sau một hồi lâu im lặng trầm tư, mỗi người theo đuổi ý nghĩ riêng, Ngài bèn hỏi thẳng: “Hừm—Này các con, dù các con có giả làm dân nghèo, mặc quần áo lấm lem đi nữa, chẳng phải các con chính là các vương tử hay sao?” Bị hỏi trực tiếp như vậy, họ không thể che giấu thêm. Hai anh em bèn đảnh lễ thưa thật rằng mình là con của vua Shwebo, là bào đệ của vua Pagan, gồm vương tử Mindon (chủ thành Mindon) và vương tử Kanaung (chủ thành Kanaung). “Các vương tử vẫn còn phước báu để hộ trì Giáo Pháp. Nếu muốn xuất gia, hãy đợi đến sau này rồi hãy thực hiện,” Ngài ôn tồn giáo huấn như người thấu suất cả quá khứ lẫn vị lai. Nghe vậy, hai vương tử mừng rỡ không xiết, như thể đại kế hoạch đang còn dang dở của mình đã đạt được thành công. Có lẽ họ cũng đã tạm dừng những quyết định cấp bách mà họ đã định liệu trước đó. “Chúng con xin tuân theo lời chỉ dạy của ngài,” hai vị thưa thỉnh rồi hủy bỏ hành trình, lưu lại tại vùng Hsin Ma Chaung, tự tay khiêng đá dọn đường, chỉnh trang lại nơi ở. Khi hai anh em sắp quay về và cử hành các phận sự hộ trì, Ngài đã thuyết giảng về năm điều khó gặp (Dullabha), về trị quốc minh chính (Thập vương pháp) và những lợi ích của việc sống đúng đạo hạnh. Cuối cùng, Ngài ban lời giáo huấn sâu sắc: “Các con chớ để phước báu từ quá khứ bị hủy hoại bởi tâm si mê trong hiện tại. Cây cối đến thời mới ra hoa kết trái, không thể cưỡng ép mà xong. Hãy sống sao cho có trí tuệ và khéo léo.” ### Sức mạnh vô hình của các bậc thiện tri thức Lời dạy của Ngài thật sâu sắc, trí tuệ của Ngài thật sáng suốt. Là người luôn giữ gìn chân lý, uy lực và đức độ của Ngài có sức ảnh hưởng mạnh mẽ lên người khác. Dù là người hiền hay kẻ hung hãn, Ngài đều có thể nhiếp phục họ trở nên thuần hậu mà không cần dùng đến gậy gộc, đao kiếm hay dây thừng. Ngài xứng đáng là bậc trưởng tử của Đức Thế Tôn, bậc Đạo sư của những kẻ đáng được điều phục (**Anuttaro Purisadammasārathi**). Việc hai anh em vương tử đến gặp Ngài là vì họ đã biết trước trí tuệ siêu việt của Ngài nên đến để hỏi về sự thành bại của đại sự như xem bói? Hay do chư thiên dẫn dắt để dòng nước Pháp cam lộ hóa giải những mê lầm? Không ai có thể khẳng định chắc chắn. Giữa thung lũng Hsin Ma Chaung, ba người họ gặp gỡ một cách tình cờ, nhưng từ đó... ## TRANG 221 ...một sự chuyển biến vĩ đại đã diễn ra mà không ai hay biết. Trong lúc đất nước đang đứng trước bờ vực của một kiếp nạn (satthantara-kappa) với cảnh lửa cháy bừng bừng, người chết chóc vô số, thì chính tại thung lũng Hsin Ma Chaung này, kiếp nạn ấy đã âm thầm được tiêu trừ và dập tắt. Nguyên cớ là hai anh em vương tử đang mang trong lòng đại kế hoạch phản kháng lại người anh là vua Pagan đang ngự trị tại Amarapura. Nếu họ không gặp được ngài Htut Khaung Sayadaw, không thể lường trước được có bao nhiêu chúng sinh sẽ phải chết chóc và chịu cảnh đói khổ. Trong thế gian này, sức mạnh vô hình từ những bậc thánh nhân đang tĩnh lặng tu hành thiền định, dù chỉ ngồi yên một chỗ nhưng có khả năng điều phối và giữ gìn trật tự cho thế giới, quả thật vô cùng lớn lao và nhạy bén. (Về sức mạnh của sự tĩnh lặng, xin xem chương về trưởng lão Nālaka trong kinh Sutta Nipāta). Dù trông có vẻ như các Ngài đang lìa bỏ thế gian, chọn sự tĩnh lặng mát mẻ để tự giải thoát bản thân khỏi vòng luân hồi, nhưng thực tế, bằng năng lực tự nhiên của Giới (Sīla), Chân thật (Sacca), Từ ái (Mettā) và Nhẫn nhục (Khanti), các Ngài có khả năng kiềm tỏa và dẫn dắt cả thế gian mà người thường không thể nhìn thấy được. Điều này quả thật rất khó tin. Thuở xưa, có vị đạo sĩ vốn là tiền thân của Phạm thiên Baka đã từng dùng thần lực để cứu giúp các đoàn xe buôn đang kiệt sức vì đói khát giữa sa mạc. Dù những người buôn ấy được uống nước dễ dàng nhưng họ không nhận ra ơn nghĩa của vị đạo sĩ. Phàm phu cũng vậy, thường lầm tưởng những bậc tu sĩ thiện tri thức là những người lãng phí thời gian, chỉ lo cho bản thân, mà không thấy được sức mạnh tĩnh lặng không phát ra âm thanh của các Ngài. Giống như sức hút của ánh sáng khiến chúng sinh và vật chất đều hướng về, hay sức hút của mặt trăng âm thầm điều khiển thủy triều lên xuống (thậm chí ảnh hưởng đến cả những chum mắm), cũng như áp suất không khí luôn tồn tại để duy trì sự cân bằng của tự nhiên—những sức mạnh ấy dù không nghe thấy, không nhìn thấy nhưng luôn hiện hữu để điều phối thế giới. So với những lực mà các nhà khoa học tìm thấy, sức mạnh của các bậc thiện tri thức còn lớn lao hơn gấp trăm ngàn lần. Chính vì vậy: “**Yattha arahanto viharanti, taṃ bhūmi rāmaṇīyakaṃ**” – Nơi nào có các bậc A-la-hán trú ngụ, nơi đó trở nên khả ái, bình an và thoát khỏi mọi hiểm họa. Chẳng cần nói đến các bậc ẩn sĩ nơi rừng sâu (Araññavāsī) như ngài Htut Khaung Sayadaw, ngay cả sự hiện diện của một vị tăng sĩ ở làng (Gāmavāsī) cũng có thể dùng đức độ của mình để... ## TRANG 222 ...giữ gìn sự bình yên cho ba bốn trăm hộ gia đình. Nếu không có những vị chân tu như thế, người ta sẽ phải tốn kém nhiều chi phí và nhân lực hơn gấp bội cho việc an ninh và trật tự, vậy mà chắc gì đã đạt được sự thái bình và yên lạc thực sự. Tuy nhiên, cũng giống như câu nói: "Khi dòng họ Sakya bị tàn sát, dù chính Đức Thế Tôn cũng không thể cứu vãn do nghiệp chướng của họ quá nặng," đối với những nghiệp cũ mà ngay cả chư Phật cũng không thể can thiệp, chúng ta cần nhìn nhận đó là ngoại lệ. Sức mạnh vô hình của thánh nhân và nghiệp báo của chúng sinh đều thuộc về những điều bất khả tư nghị (Acinteyya). Ngài Htut Khaung Sayadaw tiếp tục trú ngụ tại Hsin Ma Chaung. Vào hạ thứ 34 (năm 1214 Miến lịch), vua Pagan bị phế truất, vương tử Mindon lên ngôi, và vương tử Kanaung trở thành hoàng thái đệ (Uparājā). Khi hai anh em đạt đến đỉnh cao quyền lực, để tỏ lòng tri ân nời Ngài trú ngụ, vua Mindon đã tự tay góp sức xây dựng ngôi chùa chính ba tầng, còn hoàng đệ xây dựng thiền đường (caṅkama) tại Hsin Ma Chaung. Họ cũng cho khắc bia đá đặt tên nơi này là “Dhammika Chaung”. Chưa dừng lại ở đó, họ còn thỉnh Ngài vào hoàng cung. Khi Ngài đến, trước mặt quần thần, vua đã dâng tặng danh hiệu cao quý **Rājaguru** (Quốc sư). Ngài bèn nói: “Cái ấn triện lớn này dùng để làm gì? Ta thật xấu hổ nếu khi ta chết, người ta đặt cái ấn này bên cạnh quan tài của ta. Nếu các con có lòng thành kính, hãy thực hành theo những lời dạy của ta.” Nói rồi, Ngài quay trở về vùng núi Sagaing. ### Sự mỉa mai của ngài Bhamo Sayadaw Dù sống trong rừng sâu, ngài Htut Khaung Sayadaw vẫn trở thành bậc thầy của quốc vương. Ngài cũng nhận những vật phẩm cúng dường về tứ vật dụng. Nhà vua còn ban cho Ngài đặc quyền ‘Gaṇavimutti’. ‘Gaṇavimutti’ có nghĩa là Ngài được phép hoạt động độc lập, không chịu sự điều hành hay triệu tập của hội đồng các bậc trưởng lão Sudhamma do nhà vua bổ nhiệm. Ngài Sayadaw ở chùa San Kyaung cảm thấy không hài lòng với ngài Htut Khaung Sayadaw vì Ngài đã tiếp nhận vị tăng Shin Nāgasena – người bị đuổi khỏi chùa San Kyaung vì đã điên cuồng tự xưng mình là bậc A-la-hán. Sự việc được trình lên đức Tăng thống (Sāsanabaing) U Ñeyyadhamma. Khi vua Mindon hay biết sự tình, nhà vua đã bạch rằng: ## TRANG 223 “Con đã làm lễ Gaṇavimutta (Giải phóng khỏi sự quản lý của tăng đoàn) để **Ngài Htut Khaung Sayadaw** không phải tuân theo mệnh lệnh của bất kỳ ai khác ngoại trừ lời dạy của Đức Phật.” Vì chính vua Mindon đã nhận thấy ân đức mà thành kính cúng dường, nên những người khác trong hoàng cung cũng đua nhau cúng dường, bái lạy. Hoàng hậu Sinpyumashin đã dâng cúng một ngôi chùa gạch (Prasad), Trung cung Hoàng hậu dâng ngôi giới đường (Sima), Bắc cung Hoàng hậu dâng ngôi tịnh xá lớn bằng vải khô, mẫu hậu của hoàng tử Thonze là Hoàng hậu Khun-ywa, cùng các quan chức như quan trông coi rừng, quan thu thuế bạc... cũng dâng cúng các ngôi chùa khảm kính, bảo tháp, hang động (gu), gạo thóc, khiến cho vùng Dhammika Gyaung trở nên sầm uất, đông đúc đến mức 'chim bay không lọt'. Số lượng tăng chúng tu tập thiền quán lên đến hơn ba trăm vị, còn các thiền sinh cư sĩ và tu nữ (thilashin) thì vô cùng đông đảo. Chính vì thế, Ngài Bhamo Sayadaw, người vốn có thói quen châm biếm bằng thơ ca, đã từng viết những lời mỉa mai rằng: "Cầm xâu chuỗi trên tay, vị Htut Khaung đó đang ẩn mình. Cùng với ông Shwe So có 'giới đức mượt mà' (thila chaw), cả vùng thung lũng ấy đã trở thành nơi ẩn náu trong rừng." (Từ *thila chaw* ở đây mang hai nghĩa: một là giới hạnh thanh tịnh, hai là cũng ám chỉ việc có nhiều tu nữ xinh đẹp). Có một lần, chính Ngài Bhamo Sayadaw, khi đang ở cùng với các bậc tăng chúng tụ họp không xa Ngài Htut Khaung Sayadaw, đã nói vui với chúng tăng rằng: "Vị Htut Khaung của các ông giống như con bò không có dây mũi vậy." Khi các vị tỳ-kheo trẻ hỏi: "Giống như thế nào thưa Ngài?" Ngài cười và đáp rằng: "Chúng ta đây, lúc thì muốn gặm cỏ chỗ này, lúc lại muốn kéo cỏ chỗ kia, chẳng phải vẫn còn sợi dây mũi lủng lẳng đó sao? Còn ông ấy thì có thể thu thúc lục căn một cách tuyệt vời, chẳng cần đến sợi dây [kiểm soát] nào nữa cả." Tuy nhiên, vì số lượng người kéo đến Dhammika Gyaung quá đông nên Ngài Sayadaw cảm thấy mệt mỏi. Ngài không thể tránh né hoàn toàn, nhưng cũng không muốn cứ ở mãi như vậy. Do đó, ít nhất mỗi mùa an cư Ngài thường lánh xa đại chúng để độc cư. Vào những năm tháng cuối đời, Ngài thường an cư tại chùa Rừng Shwe Myin Tin trên dãy núi Mingun, cách Dhammika Gyaung khoảng hai dặm về phía bắc. Nơi đây chính là địa điểm Ngài soạn thảo tác phẩm "**Rājapāmojja Kyam**" (Vương mẫu lạc luận) theo lời thỉnh cầu của **Vua Mindon**. Đó là vào tháng Tabaung năm thết 1220 (Mynamar). ### Nhờ ơn vua ban đặc ân, muôn dân được an lạc Trong thời đại Mandalay, cũng giống như sự kính ngưỡng vô biên của vua và hoàng hậu, dân chúng cũng hết lòng tôn kính Ngài Sayadaw. Khi thấy Ngài nhận được sự ân sủng đặc biệt của nhà vua, thậm chí có thể nói là 'đứng trên cả đức vua', những người bị kết tội hoặc chịu hình phạt của triều đình thường đến cầu xin Ngài sự giúp đỡ. ## TRANG 224 Vào thời kỳ đó, Dhammika Gyaung giống như một tòa án lớn, và Ngài Sayadaw trở thành nơi nương tựa của những người phạm tội. Vì sự sống còn của chúng sinh đang gặp nạn, Ngài dù không muốn can dự nhưng cũng không thể chối từ. Có một lần, hoàng tử Kyauk-sau mắc tội và bị giam trong ngục sắt. Vợ của hoàng tử là công chúa Yin-taw-ma-lay đã đến khóc lóc cầu xin trong khi Ngài Sayadaw đang thọ thực, và Ngài đã ra tay cứu giúp. Lúc quan Yan-aung-myin bị bãi chức, ông đã đến nương tựa dưới bóng mát tâm từ của Ngài. Ngài bảo ông phải thọ trì bát quan trai giới dài ngày và học thuộc lòng các bản kinh Pali như **Kinh Chuyển Pháp Luân** (Dhammacakkappavattana Sutta) và **Kinh Tứ Niệm Xứ** (Satipaṭṭhāna Sutta). Khi Ngài Sayadaw vào cung, Ngài dẫn ông theo cùng và bảo ông đọc lại những bài kinh đã thuộc trước mặt nhà vua, đồng thời Ngài cũng nhắc lại những công lao trước đây của ông. Kết quả là ông được phục chức. Ngài cũng từng cứu giúp ông U Chein ở làng Man-kyi-zin thuộc Sagaing, người mắc tội gian lận bán bông của triều đình rồi ngụy tạo hỏa hoạn; và 16 vị phú thương đã lén lút bán ngọc quý của hoàng gia sang phương Tây. Ngài cũng cứu giúp hai ông U Bo Maung và U Meit ở Sagaing, những người đã ăn cắp lúa mì của triều đình và bị nhà vua trừng phạt bằng cách mỗi người phải cầm một quả dừa, đi đến làng Than ở phía nam Ava – một vùng đất đầy rẫy bệnh sốt rét – và ra lệnh rằng 'khi nào dừa ra trái mới được quay về'. Ngài đã cứu họ tùy theo duyên sự. Có một lần, quan huyện Sagaing là U Yo quá áp bức dân chúng, một thí chủ đã đem chuyện này tâu với Ngài Pakhan Sayadaw. Ngài đáp: "Ta không giải quyết nổi, hãy đến gặp Tăng thống (Thathanabaing)." Vị Tăng thống cũng nói rằng: "Ta chỉ quản lý giáo hội, chứ không quản lý được Htut Khaung." Được biết, quan huyện U Yo chính là đệ tử của Ngài Htut Khaung Sayadaw. Lại có lần, những người liên quan đến tội phạm đang ẩn náu dưới bóng mát từ bi của Ngài Sayadaw, quan Thandawsint (Quan truyền lệnh) đã đích thân dẫn lính đến bắt giữ và xảy ra xô xát với các vị tỳ-kheo trẻ. Các vị tỳ-kheo trẻ đã đánh vào mặt và tai của quan Thandawsint. Khi quan về tâu lại với nhà vua, vua Mindon đã nói rằng: "Này Khanh, những bậc thiện đức ấy vì quá sợ hãi nên mới trốn trong rừng, khanh lại đến đó xúc phạm họ, vậy hãy mau đi xin lỗi đi." Vua đã dùng những lời lẽ xoa dịu và bảo vị quan phải đến làm lễ tạ lỗi. Điều này có vẻ giống như người bị hại lại phải chịu thua, hoặc giống như nhà vua quá 'nuông chiều' các vị tăng sĩ. Nhưng thực tế không phải vậy. Đó là cách nhà vua dùng sự nhu hòa và lòng tôn kính đối với hàng Thích tử để giáo hóa một cách khéo léo. Trong thời đại đó, có rất nhiều người gặp nạn vì đủ mọi loại tội trạng đã được Ngài Sayadaw cứu giúp và bảo toàn mạng sống. Ngài đã dùng giáo pháp để răn dạy họ "sau này không được làm như thế nữa", bảo những người cần học kinh sách phải chuyên tâm học tập, bảo những người cần hành thiền phải nỗ lực hành trì. Ngài đã dùng chính pháp để cảm hóa cả những kẻ hung ác trở nên thuần hậu. ## TRANG 225 Khi biết Ngài Sayadaw có uy tín lớn với nhà vua, chắc hẳn cũng có những kẻ muốn lợi dụng uy danh của Ngài để trục lợi cá nhân. Ngay cả từ thời Đức Phật, cũng đã có những người vi phạm luật pháp thế gian, những binh sĩ mệt mỏi với chiến tranh đào ngũ, hay những người lâm bệnh không có tiền chữa trị muốn nhờ danh y Jīvaka điều trị nên đã tìm cách nương nhờ cửa Phật. Đây chính là bản tính của con người. ### Quân thượng xảo kế đáng học hỏi Bản thân vua Mindon vốn là một người có đức tin sâu dày nơi giáo pháp, đồng thời cũng nhận thấy rõ giới hạnh, định lực và trí tuệ của Ngài Sayadaw để tôn kính, nên việc nhà vua hết lòng ủng hộ và cung kính Tăng đoàn là điều không cần bàn cãi. Tuy nhiên, liên quan đến việc Ngài Htut Khaung Sayadaw cứu giúp những kẻ phạm tội, có thể có những ý kiến phê phán phiến diện cho rằng cả thầy lẫn trò đều quá nhu nhược, hoặc đã để việc đạo và việc đời (chính trị và tôn giáo) lẫn lộn với nhau. Nhưng thực tế thì không nên trách cứ như vậy. Các bậc quân vương cai trị đất nước, về bản chất không vị nào muốn có người phải chịu tổn thất hay thiệt mạng vì hình phạt. Họ cũng không thích sự bất công gia tăng và luôn muốn giữ gìn uy quyền của mình. Dù ai đó phạm tội, sâu thẳm họ cũng không muốn trừng phạt, nhưng nếu không phạt thì không được. Đặc biệt, đôi khi những người từng có công với mình hoặc những người thân cận lại phạm phải những tội lỗi không thể tha thứ, điều đó lại càng khó khăn hơn. Thả đi thì không được, mà trừng phạt thì không đành lòng. Nếu phải sửa đổi hay hủy bỏ pháp luật chung mà mình đã ban ra thì chẳng khác nào "nhổ ra rồi lại nuốt vào", điều đó làm tổn hại đến uy nghi của bậc quân vương. Khi ấy, họ thường sử dụng một mưu kế tinh vi sao cho "mật cũng ngọt mà sóc cũng chạy được" (vẹn cả đôi đường). Điều này được gọi là "Rājupāya" (Quân thượng xảo kế). Đây là một loại học vấn mà những người làm vua chúa buộc phải tinh thông. Các bậc minh quân đời trước đã làm, đời nay vẫn đang làm, và đời sau chắc chắn vẫn sẽ phải dùng đến phương pháp này. Lấy một ví dụ... xảy ra dưới thời vua Bayinnaung. Khi vua Bayinnaung dẫn đại quân đi chinh phạt xứ Chiang Mai, vì không có lính giữ thành, ngài đã tập trung khẩn cấp các nhóm "Rakasō" Shan, Môn cùng các sắc dân vùng biên "thot ra" để lập đội quân giữ thành tạm thời. ## TRANG 226 Trước khi Vua Bayinnaung (Bureng-naung) trở về, đội vệ binh này đã chiếm giữ quyền lực trong bảy ngày; cảm nhận được hương vị của vương quyền, họ không muốn buông bỏ và nảy sinh ý đồ phản loạn, chống lại ngay cả ân nhân là Vua Bayinnaung. Sau đó, do lực lượng không tương xứng nên họ đã thất bại. Vua ra lệnh gom tất cả các chỉ huy quân đội lâm thời và quân lính dưới quyền vào một dãy lán lớn rồi phóng hỏa thiêu sống. Những người lính như gà nhốt trong giỏ, không lối thoát, vô cùng hối hận và than khóc thảm thiết. Nhà vua vốn đã hạ quyết tâm thực hiện kế hoạch. Tuy nhiên, trước khi phóng hỏa, chính nhà vua đã tìm cách gián tiếp khẩn cầu các vị Cao tăng đứng ra thay mặt để xin tha mạng (chỉ những kẻ cầm đầu mới bị hành quyết). Nhờ đó, uy tín của Giáo pháp (Sāsana) càng thêm hưng hiển; đây chính là sách lược "ba người khiêng bình vàng" (Rājūpāya) của bậc quân vương. Ngày nay, dựa trên những dịp đại lễ, người ta cũng thường thực hiện việc ân xá hoặc giảm án cho phạm nhân. Đó là những việc nên làm đúng thời điểm. ### Vị bác sĩ người Đức Mabe (Dr. Marbt) Những người suy ngẫm và đón nhận pháp hành thiền (Bhāvanā) của Ngài Trưởng lão Htut Khaung không chỉ có người Myanmar mà còn có cả những người Châu Âu sống thời đó. Trong số đó, bác sĩ người Đức Mabe là người đi đầu. Dưới thời Vua Mindon, nhà vua đã xây dựng các nhà thương cho người già và người bệnh, cấp lương bổng để khuyến khích việc chăm sóc y tế. Bác sĩ Mabe là một ngự y nhận bổng lộc của hoàng gia. Thông tin về ông đã được đăng trên tờ báo "Loki Thuta Pyinnyā" xuất bản tại Yangon vào thứ Bảy, ngày 7 tháng Giêng năm 1238 (20/01/1877) như sau: "Ngài Mabe, người gốc Đức, trước đây từng làm quản lý rừng cho chính quyền Anh tại Yangon một cách mẫn cán. Sau đó, ông lên Mandalay, thề trung thành với Đức vua Myanmar, bỏ trang phục phương Tây để mặc đồ Myanmar. Trong lúc đang phục vụ với vai trò quản lý rừng (từ năm 1238), ông đã qua đời. Tang lễ của ông đã được tổ chức ngay trong khuôn viên nhà riêng với sự cung thỉnh các vị Tỳ-khưu Myanmar đến làm lễ hỏa táng." Thực tế, bác sĩ Mabe đã chuyển từ Kitô giáo sang Phật giáo, không chỉ là một cận sự nam (Upāsaka) thuần thành mà còn cúng dường một ngôi chùa tại Dhammika Chyaung và trở thành một thí chủ hộ trì (Kyaung-daga). ## TRANG 227 ### Phước báu lớn và vật dụng dồi dào Ngài Trưởng lão vốn có phước đức lớn lao và vật dụng hộ trì dồi dào từ khi còn trẻ. Đặc biệt là vào thời kỳ Mandalay, phước báu và sự lợi lộc của Ngài lớn đến mức không ai sánh kịp; điều này đã được Ngài Ngã-su Sayadaw ở phía tây Mandalay, người từng sống cùng thời, kể lại. Bên cạnh Ngài Trưởng lão có một người hộ tăng (kappiya) tên là U Shwe Yin. Người này thường cùng Ngài vào cung điện và được phép tự do ra vào nội cung. Ngài Trưởng lão thường ưu ái nói rằng: "Này, người dân quê này chưa từng thấy hoàng cung, hãy cứ để ông ấy ra vào tự nhiên," nhờ đó ông có quyền ra vào cửa bắc, cửa nam mà không gặp bất kỳ trở ngại nào. Có một lần, khi mặt trời sắp lặn, Ngài Trưởng lão hỏi: "Này Shwe Yin, sáng mai ta muốn dâng cúng dường đến 300 vị Tăng với đầy đủ bình bát, túi lọc nước, dừa và chuối, liệu có làm được không?" Dù biết rằng việc chuẩn bị vào đêm khuya là rất khó khăn, nhưng để làm hài lòng và hoàn thiện ba-la-mật (pāramī) cho thầy, ông đã thưa: "Bạch Ngài, có thể làm được ạ." U Shwe Yin lập tức sắp xếp, rời khỏi Dhammika Chyaung, dùng thuyền của bến đò Kho-taung dưới danh nghĩa lệnh của Ngài Trưởng lão để đi vào kinh thành. Khi đến một ngôi nhà của một vị đại quan thư lại (Sā-yay-taung-gyi), sau khi nghe trình bày sự việc, vị quan rất hoan hỷ nói: "Tốt lắm, đừng báo cho ai khác, hãy để một mình tôi thực hiện phước sự này. Tôi sẽ dâng cúng không chỉ 300 mà là 500 vị Tăng." Lập tức họ huy động người làm, nấu nướng và vượt sông sang Sagaing khi trời đã quá nửa đêm. Vừa đến nơi, họ bắt tay vào nấu nướng ngay và sáng hôm sau đã có thể dâng cúng đến 500 vị Tăng. Trong buổi lễ cúng dường, đích thân Ngài Trưởng lão đứng giám sát, quan sát với tâm vô cùng thanh tịnh và hoan hỷ. Khi các vị Sa-di nhỏ đi qua, Ngài còn nhắc: "Hãy dâng thêm cho các con nữa," khiến cho lễ vật được dâng cúng tràn đầy. Vị quan thư lại vì việc này mà không thể vào chầu điện đình ngày hôm đó. Ngày hôm sau, khi Đức vua hỏi nguyên do, ông đã tâu trình toàn bộ sự việc. Đức vua phán rằng: "Ngươi thật là người có phước lớn! Ngài Trưởng lão đã không yêu cầu ta cúng dường việc này mà lại dành cơ hội cho ngươi. Ngươi thật sự có duyên may. À... vậy thì hãy để ta cũng được góp phần phước báu cho 300 vị Tăng này." Nói xong, nhà vua đã ban thưởng 300 đồng bạc cho vị quan. **Puññavantānaṃ devatā paripācenti** = Đối với những người có phước đức, chư Thiên sẽ giúp chuẩn bị thức ăn (Chú giải Sammmoha). Đúng như vậy, bữa thực phẩm cho 500 vị Tăng với đầy đủ ## TRANG 228 bình bát, dừa và chuối được chuẩn bị xong tức khắc; thật khó mà tin được điều này có thể thành tựu chỉ bằng năng lực của người thường hay những người có giới hạnh tầm thường. Vì vậy, trong kinh "A-kankheyya Sutta" (Trung Bộ) và "Sukhapatthanā Sutta" (Itivuttaka) đã dạy trực tiếp rằng: "Dù là tăng hay tục, người muốn có đầy đủ bốn món vật dụng thì hãy nỗ lực trau dồi giới hạnh (Sīla)." Khi tuổi đã cao, Ngài Trưởng lão từ bỏ việc trì bình khất thực (Pattapo-na) và hạnh nhất tọa thực (Ekāsanik), Ngài thọ thực ba lần mỗi ngày. Bữa sáng tinh sương của Ngài được chuẩn bị với 50 món ăn. Sau khi thọ thực xong, Ngài chờ một lát rồi lại đi khất thực. Những người dân từ Mandalay, Amarapura, Sagaing, Inwa... thường đợi sẵn tại một giảng đường lớn bằng gạch (Ot-sa-rut) trước khi Ngài đến. Sau khi khất thực xong, Ngài lại thọ thực một lần nữa ngay tại đó, rồi sau đó khi về đến chùa lại thọ thực thêm một lần nữa. Có lẽ Ngài làm vậy là vì lòng bi mẫn đối với đức tin (saddhā) của các thí chủ. Đối với các bậc thiện trí, có những lúc lợi lộc dồi dào hơn mức cần thiết, nhưng cũng có những ngày họ hoàn toàn không có gì để thọ thực. Bất cứ điều gì quá dư thừa cũng có thể trở thành một sự chướng ngại. Đối với những bậc đã hoàn tất phạm hạnh thì không đáng ngại, nhưng với người đang tu hành, cần phải tỉnh thức để không bị cuốn trôi trong cái gọi là "phước báu". Nhìn vào những ân đức đáng được cúng dường (Āhuneyya, Pāhuneyya) này, chúng ta có thể phần nào ước đoán được Giới - Định - Tuệ của Ngài Trưởng lão Htut Khaung. Nếu không đạt được một trạng thái an vui thực tại (Diṭṭha-dhamma-sukha-vihāra) thì việc một mình ẩn tu trong rừng sâu suốt 30 năm, nhẫn chịu muôn vàn gian khổ, chắc chắn là điều không hề dễ dàng. Dù trong thời kỳ lợi lộc dồi dào vô biên, hay lúc kham khổ ăn uống đạm bạc, Ngài vẫn giữ được tâm bình thản theo đúng Trung đạo (Majjhimā-paṭipadā) và đức tính "Tādi-guṇa" (tâm bất biến trước tám ngọn gió đời). Đó chính là nếp sống của các bậc Thánh nhân. Sau nhiều năm quên mình phụng sự lợi ích cho chúng sinh, dùng năng lực tu tập thực hành (Paṭipatti) vô biên để hộ trì dân tộc, tôn giáo và Giáo pháp, vào lúc 1 giờ sáng (giờ Myanmar) ngày 1 tháng Sáu nhuận (Waso) năm 1242, ở tuổi 81 và 61 hạ lạp, Ngài Trưởng lão Htut Khaung đã thị tịch (chấm dứt sắc pháp do nghiệp sinh) ngay tại ngôi chùa của bác sĩ người Đức Mabe ở Dhammika Chyaung. ## TRANG 229 Không lâu sau khi Ngài viên tịch, ngôi chùa ấy cũng bị hỏa hoạn thiêu rụi. Riêng bảo tháp xá-lợi (A-rô-dhát-tê-đi) thì được xây dựng và thờ phụng tại vùng đất bằng phẳng, cách Dhamma-ka-chaung khoảng bốn trăm tầm về phía đông. Tại Dhamma-ka-chaung, người ta vẫn có thể chiêm bái hang động nơi bậc Đạo sư từng cư ngụ và pho tượng gỗ tạc chân dung Ngài – một tác phẩm khiến những người từng được diện kiến Ngài phải thốt lên kinh ngạc vì "quá đỗi giống với bậc Đạo sư". [Những dữ kiện có được về Ngài Đại trưởng lão như thế này (trích từ cuốn 'Tiểu sử Ngài Đại trưởng lão Htuṭ-kaung' xuất bản lần thứ hai bởi nhà in In-san, Lha-khin, Mandalay vào năm 1301 Miến lịch) chính là nhờ công đức sưu tầm và biên soạn của Ngài Đại trưởng lão Shwe-hin-tha (**U Paṇḍita**) vùng núi Sagaing.] ### Các bài kệ vần (Thaṃ-pauk) về đề mục Thiền định của Ngài Đại trưởng lão Htuṭ-kaung 1. **Sabbe sattā** (Tất cả chúng sinh), những vị hữu học (vê-nê-ya), vòng luân hồi đã quá dài lâu rồi. 2. Chẳng có nơi nào vững chãi, chẳng có kiếp sống nào, mà chúng ta chưa từng trải qua. 3. Cứ ngỡ sẽ được gì đó, hạt giống tham ái (lô-bha) trỗi dậy, làm tổn giảm lợi ích lớn lao. 4. Ba ngọn lửa (tam độc) hừng hực, thiêu đốt dữ dội, đang đè nặng tâm tư. 5. Bị si mê (mô-ha) che lấp, chẳng biết mình đang cháy, thật là u mê quá đỗi. 6. Như loài thiêu thân lao mình vào lửa, tự chuốc lấy sự hủy hoại cho chính mình. 7. Đắm chìm trong ngũ dục, kẻ si mê này, chẳng thể nào dứt bỏ được. 8. Chẳng thể dứt bỏ, hạng người phàm phu (bā-la), đã đến lúc phải tỉnh ngộ sự u mê. 9. Như cát sông Hằng, chư Phật đã xuất hiện, số lượng thật nhiều thay. 10. Vô số bậc Chánh Biến Tri (Shiṇ-saw-htway), ta đã từng lỡ bước tránh xa. 11. Dẫu lỡ vị này thì còn vị khác, nhưng nay đã đến lúc đáng được gặp gỡ và chiêm bái. 12. Hành xử bất chính, làm điều sai quấy, sự si mê đã quá nặng nề. 13. Đừng nuông chiều ham muốn, sự u mê này, thật đáng phải đoạn trừ. 14. Chẳng chịu đoạn trừ hay bẻ gãy, cứ như voi mù đâm sầm tới, lại ngỡ là đúng đắn. 15. Tin vào điều sai lầm, làm theo mọi ý thích, nên mới dẫn đến nông nỗi ngày nay. 16. Rời xa giáo pháp, như chim rụng cánh, chẳng thể thoát khỏi vòng luân hồi (vaṭṭa). 17. **Manussatta** (Được thân người), **dullabha** (là điều khó), nhưng phần lớn đều chẳng đạt được. 18. Thật là may mắn thay, có được kiếp sống này, hãy tinh tấn tu tập cho thật tốt đẹp. 19. Thật đúng lúc thay, khi Giáo pháp (Sāsana) vẫn còn đang tỏa rạng hào quang. 20. Hãy giữ lòng chánh niệm, những công đức (puñña) cao quý, nên được thực hiện sao cho xứng đáng. 21. Ngày qua ngày lại, cứ hẹn đến ngày mai, sự lãng quên thật không nên có. 22. "Thân ta đây, con ta đây, vợ ta đây", đó là niềm chấp ngã sai lầm lớn lao. ## TRANG 230 23. Niềm chấp ngã sai lầm ấy, thân kiến (sakkāya-diṭṭhi), tà kiến cần phải được gạt bỏ. 24. Năm uẩn (khandhā) này, danh và sắc, cần phải được ghi nhớ một cách đúng đắn. 25. **Sammasana** (Tuệ thẩm sát), khởi đầu của trí tuệ, nên được thắp sáng rõ ràng. 26. Hãy tự răn dạy chính mình: "Này ngươi, mọi việc của ngươi đều là do chính ngươi". 27. Nếu ngươi không tự dạy mình, thì nỗi khổ đau của ngươi, ai sẽ là người gánh chịu? 28. Tâm tư muôn hình vạn trạng, cứ lặp đi lặp lại, dáng vẻ của ngươi thật sự thô tháo. 29. Ngươi và nghiệp lực của ngươi, chính là người sắp đặt và tạo tác, điều đó chắc chắn sẽ xảy ra. 30. Với tấm thân hiện tại, những ham muốn của ngươi, biết bao giờ mới được tròn đầy? 31. Ngươi tự dìm mình xuống, lỗi lầm của ngươi, chính ngươi phải gánh chịu kết quả. 32. Với sức lực và tấm thân này, nếu ngươi không tự thương xót mình, thì ngươi đã lầm lạc rồi. 33. Bố thí (dāna), Trì giới (sīla), và Hành thiền (bhāvanā), chỉ có chính ngươi mới nên thực thi. 34. **Jāti-jarā** (Sanh và già), **maraṇā** (và chết), chẳng mấy chốc ngươi sẽ phải đối mặt. 35. Chỉ trong một cái chớp mắt, một ánh chớp lóe, ngươi sẽ chứng kiến cái chết của chính mình. 36. Chẳng quản là năm nào tháng nào, chẳng chọn lựa thời gian khi nó ập đến. 37. Chẳng phân biệt già trẻ, những kẻ cùng trang lứa, giờ đây cũng đã nằm xuống rồi. 38. Sự chết là lẽ đương nhiên, phận làm người ấy, cần phải biết kinh sợ và ghê lùi. 39. Nếu không đưa vào tâm khảm, niềm tin sẽ sụp đổ, sự hủy diệt là điều chắc chắn. 40. Khi xác thân đã tan rã, nếu vẫn còn hiện hữu, thì việc cúng dường là điều quý báu. 41. Răng rụng tóc bạc, khi điều đó xảy đến, hỏi có ai mà không kinh sợ? 42. Người vợ này, đứa con này, chính xác là những tia lửa mồi. 43. **Jaya-vaya** (Sanh và diệt), **bhijjana** (sự tan rã), đang diễn ra một cách khốc liệt. 44. **Appiyehi**, **piyehi** (Gặp người không ưa, xa người yêu dấu), nỗi khổ đau đã ập đến rồi. 45. Những nỗi khổ muôn vàn, cứ lặp đi lặp lại, hằng ngày phải cam chịu. 46. Bờ kia Niết-bàn cao quý, nơi bến bình an, hãy nỗ lực để đạt tới. 47. Nếu chẳng chịu thực hành, cứ tìm cách né tránh, thì chính ngươi là kẻ quá u mê. 48. Cứ dùng những lý lẽ biện minh, ngươi tự bày vẽ ra, ngăn cản bậc Đạo sư một cách quá đáng. 49. Đi đến chùa chiền, đi đến tu viện, nhưng tâm ý của ngươi chẳng được thanh tịnh. 50. Khi làm việc bố thí hay trì giới, tâm tư và sự nhiệt huyết (javana) của ngươi chẳng hề trong sáng. 51. Cứ muốn làm như thế, thì công đức của ngươi, sẽ dẫn dắt ngươi đi về đâu? 52. Pháp siêu thế (Lokuttara), hương vị bất tử (amata), đối với ngươi thật là xa vời. 53. Với tâm tốc lực (javana) mạnh mẽ, công đức thực thụ, ngươi cần phải khởi tâm tạo tác. 54. Chỉ khi làm được như vậy, thì chốn an lạc (khe-mā) này, ngươi mới có thể tiến gần. 55. Hãy suy xét vẹn toàn như thế, quán chiếu ngược xuôi, và thiết lập tâm ý cho thật vững chãi. ## TRANG 231 56. **Anamatagga** (Vô thủy), **saṃsāra** (vòng luân hồi), đã trải qua thời gian quá dài lâu. 57. Ví như cát sông Hằng, số kiếp lầm lạc, còn nhiều hơn cả số cát ấy. 58. Đừng cứ mải miết đi theo sau, từng bước một, sự dắt dẫn của ái dục (taṇhā). 59. Con sông ái dục, dẫn ra biển lớn, đã nhấn chìm biết bao người rồi. 60. Ái dục càng tăng trưởng, khổ đau càng chồng chất, chẳng bao giờ có điểm dừng. 61. Chính ái dục đã đưa đẩy, khiến kẻ hữu tình, nhanh chóng rơi vào bốn đường ác đạo (apāya). 62. Trong vương quốc của thần chết, hết lần này đến lần khác, ta buộc phải đi theo. 63. Ví như núi Vepulla, xương chất thành đống, còn nhiều hơn cả ngọn núi ấy. 64. Lúc hiện ra lúc tan đi, trong ba cõi (ti-bhava), ta lại phải đối mặt với chúng. 65. Hạnh phúc thì chẳng thấy đâu, chỉ toàn gặp khổ đau, thật đáng để sinh lòng nhàm chán (nibbidā). 66. Đỉnh cao của sự lầm lạc, chính là si mê (mô-ha), đang hành hạ chúng ta một cách tàn nhẫn. 67. **Nīvaraṇa** (Các triền cái), che lấp lối đi, khiến khởi đầu chẳng thấy đâu là kết thúc. 68. Như con bò quay quanh cối xay, cứ quanh quẩn mãi, chẳng bao giờ ra khỏi. 69. Cứ mỗi kiếp lại chết đi, vùng đất nghĩa trang, càng lúc càng mở rộng thêm. 70. Cứ đi theo những con đường quanh co, phần đông nhân thế, đều ưa thích những điều sai lạc. 71. Đi chệch khỏi lộ trình đúng đắn, thì Niết-bàn cao quý, chắc chắn là đã bị bỏ lỡ. 72. Kiếp sống chẳng dứt, khối khổ đau này, hoàn toàn phải gánh chịu. 73. Bậc Thiên Nhân Sư (Lô-ka-myet-shu), Đấng Toàn Tri (Sabbaññu), giờ đây vẫn đang hiện hữu qua Giáo pháp. 74. Khi Phật xuất thế, Giáo pháp (Sāsana) của Ngài, tỏa rạng hào quang rực rỡ. 75. **Manussatta** (Được thân người), **dullabha** (là điều khó), hãy nỗ lực để đạt được. 76. Từ cõi Phạm thiên hạ một cây kim, trên mặt đất dựng một cây kim khác. 77. Để hai đầu kim chạm được vào nhau, hãy ghi nhớ sự hy hữu ấy (ví dụ về sự khó được thân người). 78. **Niyyanika** (Pháp dẫn đến giải thoát), Chánh pháp cao quý, là điều rất khó được lắng nghe. 79. **Saddhā-balava** (Tín căn mạnh mẽ), **dullabha** (là điều khó), hãy cố gắng đạt được. 80. Nhân lúc còn có thân người thuận lợi, giữa cõi nhân gian, hãy tinh tấn hết sức mình. 81. Nếu không tự tạo vốn liếng cho mình, thì tương lai về sau, sẽ chỉ còn là sự khờ dại. 82. Tất cả những gì xảy ra trong đời, trong mọi kiếp sống, ta đều phải lãnh đủ. 83. Có được kiếp người vô cùng đặc biệt, hãy biết trân quý và đừng để lãng phí. 84. Những điều cao quý thì không chịu hiểu, kẻ phàm phu (bā-la) chỉ toàn ôm giữ sự u mê trong tâm. 85. Nếu cứ mãi là kẻ phàm phu, thì tội lỗi của con người, sẽ còn kéo dài mãi mãi. 86. Chẳng hưởng được lợi ích của việc làm người, thì quả là một sự thất bại thảm hại. 87. Thất bại trong mọi kiếp sống, như phiến đá người, chìm sâu xuống tận đáy. 88. Một khi đã chìm sâu mà không trồi lên được, thì định mệnh tăm tối đang bủa vây ngươi. ## TRANG 232 --- Dhamma-cariya **U Htay Hlaing** 89. Lối vào Niết-bàn, được chỉ bày như sau, hãy ghi nhớ và tác ý: 90. Cần phải thân cận bậc thiện hữu tri thức, bậc hiền triết, là bậc đứng đầu trong các hạng người. 91. Phải vâng theo lời giáo huấn của bậc thiện hữu ấy, hỡi người. 92. Như lý tác ý, ngày đêm luôn ghi nhớ vào lòng. 93. Khi thọ trì giới luật và các pháp đầu-đà, đó chính là khởi đầu của sự tu tập. 94. Không tham, không sân, không si, xuất ly, viễn ly, giải thoát; sáu pháp này là điều cần phải mong cầu. 95. Hãy quán xét tường tận về nếp sống vàng son, một thời đại rực rỡ, hỡi người. 96. Nếu mong hưởng phúc lạc ở quốc độ vàng son, hãy tìm đến những nơi thanh tịnh, u nhàn. 97. Hãy tác ý để thấy rõ thân này là vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh. 98. Hãy dốc lòng tác ý: chỉ toàn là vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh. 99. Khi thấy rõ được như vậy, hãy ghi nhớ rằng đó chính là khởi đầu của con đường hạnh phúc. 100. Chỉ khi bước lên và cưỡi trên chiếc bè lớn Bát Chánh Đạo, mới có thể đạt đến quốc độ bất tử Niết-bàn; hãy ghi nhớ lấy, hỡi người. 101. Nếu kiếp này không thấu triệt, thì quốc độ vàng son gọi là bất tử ấy sẽ chẳng hề tỏa ngát hương thơm. ### Vị A-la-hán với thân phân thân và vị A-la-hán trong giấc mơ Vào thời kỳ Ratanabon (Mandalay), những tin đồn về các vị A-la-hán xuất hiện một cách đặc biệt. Các vị Tỳ-khưu thực hành pháp hành (Patipatti) dường như cũng rất đông đảo. Như đã trình bày trước đây, các bậc Thánh đức như Ngài Kyun-taw-ya Sayadaw, Ngài Thee-lon Sayadaw – những vị đắc Thiền và Thắng trí – chính là những bậc hộ trì pháp hành vĩ đại của thời đại Ratanabon. Theo quan điểm của các bộ Chú giải, dường như thời đại của Thắng trí không còn nữa, nhưng trên thực tế, không có gì nghi ngờ về việc các ngài đang đắc đắc Thắng trí. Với bậc được gọi là "**Katadhikara**" – người đã từng phát nguyện và tích lũy ba-la-mật qua nhiều đời kiếp, thì ai có thể ngăn cản hay cấm đoán được? Nếu thiết lập và thực hiện với một sự tinh tấn đủ mức, thì không có việc gì là không thể hoàn thành. Những bậc anh hùng của Giáo pháp, những người có thể tiếp nối mạng mạch của Giáo hội như Ngài Nagasena, Ngài Moggaliputta Tissa, Ngài Arahan, Ngài Dibba-cakkhu Mahathera, luôn luôn xuất hiện trong mỗi thời đại. Giống như họ thay phiên nhau từ cõi Phạm thiên xuống để đảm đương trọng trách vậy. Do đó, chừng nào vẫn còn những người tin tưởng tuyệt đối vào Chánh pháp và đang nỗ lực thực hành, thì chừng đó sẽ không có thời kỳ nào vắng bóng các vị A-la-hán, như đã được thuyết giảng trong kinh Đại Bát Niết-bàn (Mahaparinibbana Sutta). ## TRANG 233 Cũng chính từ lời dạy này, rõ ràng là quan niệm về tuổi thọ Giáo pháp chỉ kéo dài 5000 năm không có căn cứ vững chắc từ kinh điển (Pali). Con số giới hạn 5000 năm vốn xuất phát từ một ví dụ ẩn dụ trong Tỳ-khưu-ni Phân tích (Bhikkhuni Vibhanga), rồi dần dà theo kiểu "sai mãi hóa đúng", nó đã nằm trên đầu môi của cả những bậc đại trí giả uyên thâm kinh điển. Nếu không có giới hạn Tuổi thọ Giáo pháp 5000 năm, thì cách phân chia năm thời đại của Chú giải như "1000 năm đầu là thời đại gì..." cũng trở nên vô nghĩa, giống như "gốc đã ngã thì ngọn cũng thành củi". Những lời nói về "Giáo pháp của Thiên chủ Sakka" (Sakka Sasana) cũng không còn gì để bàn luận. Các bậc Thánh nhân thời Ratanabon đã dùng chính bản thân mình để minh chứng rằng những quan niệm đó là không xác thực. Vào thời Ratanabon, tin tức về các vị A-la-hán cũng thường xuyên xuất hiện. Tại ngôi đại tự San-kyaung ở phía Bắc thành phố Mandalay, nơi có hàng ngàn chư tăng, vị cao tăng trụ trì đã nằm mộng thấy rằng "Trong tự viện có một vị A-la-hán". Ngài đã triệu tập toàn thể chư tăng, cúng dường mỗi vị một bộ y, sau đó thuật lại giấc mơ và gặng hỏi. Khi ấy, một vị Tỳ-khưu giảng sư tên là **U Nagasena**, mới 5 hạ lạp, đã trình lên rằng vị A-la-hán đó chính là mình. Tuy nhiên, sau khi thẩm vấn kỹ lưỡng, rõ ràng lời nói đó không đúng sự thật, Ngài trụ trì đã kết tội "phạm ba-la-di" (khoe pháp cao nhân không có thật) và trục xuất vị ấy. Tỳ-khưu **U Nagasena** sau đó đã đến gặp Ngài Thut-khaung Sayadaw (một bậc ẩn sĩ tại vùng đồi Sagaing). Ngài Thut-khaung nhận thấy vị này nói vậy là do tâm trí loạn động, nên đã tận tình bốc thuốc chữa trị. Ngài trụ trì San-kyaung không hài lòng, cho rằng: "Tại sao lại nhận một người đã phạm ba-la-di và bị trục xuất khỏi tự viện của mình?", sự việc này thậm chí đã trình lên tới đức Vua và vị Tăng vương. Khi biết được **U Nagasena** bị loạn trí, mọi người đều cảm thấy vô cùng thương tiếc. **U Nagasena** vốn được Công chúa Salin nhận làm thí chủ hộ độ. Dù tuổi còn trẻ nhưng Ngài là một người cực kỳ giỏi về kinh điển. Ngài là người làng Ma-gyi-zin ở Sagaing. Năm 13 tuổi, khi còn là một vị Sa-di nhỏ, Ngài ngồi ở phía cuối hội chúng lắng nghe bài giảng của Ngài Saku Sayadaw. Ngài Sayadaw khi ấy đã cằn nhằn: "Cậu Sa-di này đầu thì đầy gàu, mũi thì chưa sạch, sao lại đến nghe ta giảng kinh". Nhưng khi được khảo hạch và biết rằng mỗi ngày cậu có thể học thuộc lòng một Anga (12 lá buông) kinh điển, Ngài Sayadaw đã khen ngợi và bảo: "Mỗi ngày hãy đến chỗ thị giả của ta lấy hai bát thức ăn". Cha mẹ của Ngài vốn nghèo khổ, phải đi làm thuê xay lúa mướn, Ngài Sayadaw cũng đã hỗ trợ để họ thoát khỏi cảnh khổ cực đó. Thời đại đó là thời đại mà cha mẹ của những người giỏi kinh điển đều được miễn trừ các nghĩa vụ quân dịch (Min-taing 12) để ## TRANG 234 --- Dhamma-cariya **U Htay Hlaing** Có thể nói đây là thời đại mà học thuật Giáo pháp (Pariyatti) được khuyến khích một cách hiệu quả nhất. Sau đó, Sa-di **Nagasena** được Ngài Saku Sayadaw gửi gắm cho Ngài trụ trì San-kyaung. Ngài đã thi đỗ thủ khoa (Pathamakyaw) và sớm trở thành một vị giảng sư khi tuổi đời còn rất trẻ. Cuối cùng, **U Nagasena** đã viên tịch trong tình trạng bệnh tâm trí không thuyên giảm. ### Vị A-la-hán với thân phân thân Dưới triều đại Vua Mindon, tại vùng Pakhan, có một vị cao tăng sống ẩn dật trong rừng. Tiếng lành về sự trì giới trong sạch, tri túc và việc chuyên tâm tu tập trong rừng sâu của Ngài khiến ai nghe thấy cũng vô cùng kính ngưỡng. Vị cao tăng này thường đi khất thực luân phiên qua các làng, mỗi làng ba ngày. Sau một thời gian, dù đã hết ba ngày ở một ngôi làng nọ nhưng Ngài vẫn tiếp tục đi khất thực như cũ, khiến dân làng vô cùng hoan hỷ. Họ phát khởi đức tin đặc biệt và thành tâm cúng dường. Một ngày nọ, khi các thí chủ ở các làng khác nhau trò chuyện, họ ngạc nhiên nhận ra rằng: "Ngài cũng đến làng tôi", "Ngài cũng đến làng anh". Sau khi tìm hiểu, dân làng phát hiện ra rằng vị cao tăng đã phân thân thành hai để đi khất thực cùng lúc. Từ đó, danh tiếng "Bậc A-la-hán" bắt đầu lan truyền rộng rãi. Kể từ đó, Ngài rời vùng Pakhan đến chùa Ariyavamsa ở vùng đồi Sagaing để chuyên tâm tu tập ngày đêm không nghỉ. Tin tức về việc "Có một vị A-la-hán đang cư trú tại chùa Ariyavamsa" đã lan truyền đến tận hoàng cung Mandalay. Khi ấy, Vua Mindon đã cử các vị cố vấn hoàng gia (Rajaguru Sayadaw) sang Sagaing để thẩm vấn xem vị ấy có thực sự là A-la-hán hay không. Các vị cố vấn hỏi rằng: "Bạch Ngài, mọi người đang đồn đại Ngài là một vị A-la-hán. Họ nói rằng đã tận mắt chứng kiến Ngài phân thân để đi khất thực. Việc Ngài đi khất thực ở hai ngôi làng cùng một lúc có đúng sự thật không?" Sau khi suy nghĩ một hồi, vị cao tăng chậm rãi trả lời: "Người ta nói như vậy đó. Nhưng mà, ừm, đây cũng là một loại phiền hà thôi." Ngài kể lại việc có một con quỷ hóa hình thành vị sư để đi khất thực ở ngôi làng khác— "Vậy sự phiền hà đó là như thế nào, bạch Ngài?" một vị cố vấn hỏi tiếp. "Khi đã nổi tiếng là A-la-hán thì người ta đến cúng dường nhiều hơn. Những người muốn gặp gỡ, đảnh lễ cũng ngày một đông, khiến tôi không thể ở lại Pakhan được nữa. Giờ đến Sagaing này, các Ngài lại phải lặn lội sang đây thẩm vấn, làm các Ngài mất thời gian, mà tôi cũng chẳng phải là bị gián đoạn công việc hay sao? Ấy là chưa kể, đối với chính mình, việc tự đắc..." (còn tiếp) ## TRANG 235 179 **Bậc Alahan** “Nếu cứ giữ lấy lòng **Ngã mạn** (Mana - tưởng rằng mình đã chứng đắc trong khi thực tế chưa đạt được Đạo Quả) thì sẽ rơi vào lầm lạc ngay lập tức. Kể cả khi mầm mống Đạo Quả còn chưa kịp nảy nở. Ma vương vốn dùng đủ mọi cách thức để quấy nhiễu như vậy đó” – Ngài dạy. Sau một hồi im lặng ngắn, Ngài giải thích tiếp: “Thôi, chuyện đó hãy để sang một bên. Các sư đã biết những gì cần biết rồi. Gặp được thời kỳ Giáo pháp còn tồn tại, các sư cũng hãy nỗ lực để **Giáo pháp Thực hành** (Paṭipatti Sāsanā) được thiết lập vững vàng. Dù có nhiều chướng ngại, nhưng nếu có lòng tin vào những bài kệ mà Đức Phật đã truyền dạy, oai lực của chúng sẽ hiển hiện.” . “Đức vua vì lòng kính ngưỡng đặc biệt nên đã sai chúng con đến cung thỉnh, đồng thời hỏi thực hư về những lời đồn đại mà Ngài đã nghe được” – các vị quốc sư thưa hỏi và dò xét. Khi đó, vị thiền sư đáp rằng: “Bần tăng vẫn đang nỗ lực hết sức mình trong công phu **Thực hành** (Paṭipatti). Bần tăng không phải là bậc **Alahan** (Arahant). Thậm chí, ngay cả quả vị **Tu-đà-hoàn** (Sotāpanna), bần tăng cũng chưa dám tự nhận là mình đã đạt đến.” Nghe vậy, các vị quốc sư vô cùng kinh ngạc và không thể tin nổi. Sau đó, các vị quốc sư trở về kinh đô. Vị thiền sư cũng không lưu lại Ariyavaṃsa Chyaung lâu dài. Cần phải lưu tâm rằng, chính Ma vương (Māra) cũng từng giả dạng hình tướng Đức Phật để quấy nhiễu. Khi thì giả làm bò, khi thì giả làm người tàn tật khập khiễng để cản trở. #### Những thứ giả tạo trông rất hợp lý và giống như thật Trong muôn vàn hình thức giả mạo đó, việc giả mạo giáo lý (Pháp giả) là điều đáng lo ngại hơn cả, vì chúng có vẻ ngoài rất tương đồng với Chánh pháp, dễ gây nhầm lẫn. Ví dụ: Thay thế **Tam bảo** (Saranagon) bằng khái niệm “Năm thực thể vô hạn” không hề có trong kinh điển. (Chỉ có như vậy, các thầy pháp [thầy phù thủy] mới có chỗ đứng trên bàn thờ Phật). Hay như đối với Ngũ giới – vốn là luật định tự nhiên của thế giới, không thể thêm bớt – người ta lại thay thế bằng Nhị giới hay Tam giới (để lôi kéo mọi tầng lớp, làm tăng số lượng tín đồ). Trong lĩnh vực **Thiền định và Thiền quán** (Samatha – Vipassanā), thay vì hướng dẫn đúng đắn, họ lại nói rằng: “Phải chán ghét luân hồi rồi mới chuyển sang Vipassanā”, sau đó dùng những lời hứa hẹn về sự giàu sang, quyền lực, thần thông không chắc chắn cho đến tận thời Đức Phật Ariya Metteyya để mồi chài, khiến cho sợi dây luân hồi càng thêm dài ra (**Vaṭṭābhirata**). Đó chính là việc dùng những giáo lý giả dưới danh nghĩa Samatha – Vipassanā để trì hoãn thời gian. Đối với những người không thể lôi kéo công khai bằng cách đó, họ lại dùng đủ mọi loại tà thuật, đạo thuật huyền bí để đe dọa hoặc tâng bốc. ## TRANG 236 Cuối cùng, họ còn tạo ra các trạng thái Đạo giả, Quả giả để làm cho người ta tưởng là đã chứng đắc pháp thượng nhân. Hỡi các bậc thiện trí, hãy lấy mạng sống của mình ra mà suy xét cho kỹ. #### Lệnh từ cấp trên và những giấc mơ Vị thiền sư đầu tiên trú ngụ tại Pathama Gandhayone Chyaung, phía tây ngôi bảo tháp Punya Shin trên dãy đồi Sagaing, cũng là một bậc **Trì giới Thực hành** (Paṭipatti-vadhara) vĩ đại. Bất kể ở trong làng hay ngoài làng, trong chùa hay ngoài chùa, sự giữ gìn oai nghi của Ngài được các bậc hành giả **Paṭipatti** hết lời tán thán là vô song. Ngài luôn giữ hạnh **Đầu đà Khất thực** (Piṇḍapāta-dhutaṅga), thường vào nội thành Sagaing để hóa duyên. Người dân vẫn thường gọi Ngài là “Vị sư nhận được nải chuối chín”. Ngài thường thuyết giảng về đề mục thiền **Quán thân xác** (Aṭṭhika - bộ xương) cho những ai đến gặp. Vào một ngày nọ, có một vị thương gia lớn thường giao thương dọc theo dòng sông Ayeyarwady, khi đang xuôi thuyền từ các thị tứ miền dưới lên, trong đêm dừng chân giữa đường, ông đã nằm mơ một giấc chiêm bao. Trong mơ, một người ăn mặc sạch sẽ bảo ông: “Nếu muốn đảnh lễ bậc **Alahan**, hãy đi theo ta.” Ông ghi nhớ lộ trình và đi theo, chẳng bao lâu sau thì đến một ngôi chùa nhỏ trên sườn núi. Người đó chỉ vào vị thiền sư và nói: “Bậc **Alahan** chính là vị tôn túc này đây”, rồi biến mất. Ngày hôm sau, khi thuyền cập bến Sagaing, ông lên bờ tại đúng bến cảng đã thấy trong mơ và men theo con đường lên núi mà không hề lạc lối. Thấy đường sá, cảnh vật và các công trình kiến trúc y hệt như trong giấc chiêm bao, ông càng tin chắc rằng: “Nhất định mình sẽ được đảnh lễ bậc **Alahan**.” Lòng vui mừng khôn xiết, ông đi phăng phăng không hề biết mệt. Chẳng mấy chốc, ông tìm thấy ngôi chùa nhỏ và vị thiền sư trên sườn núi đúng như trong mơ. Vị thương gia hết sức hân hoan. Vị thiền sư ấy chính là vị trụ trì tại Pathama Gandhayone Chyaung. Vị thiền sư không hề hé môi xác nhận mình có phải là bậc **Alahan** hay không. Nhưng nhìn vào oai nghi trang nghiêm, đĩnh đạc của Ngài, vị thương gia đã mặc định Ngài là bậc **Alahan** và thành tâm cúng dường không thiếu sót thứ gì. Những ngôi Sīma (giới đàn), hang động, chùa chiền còn tồn tại đến ngày nay chính là những phước báu được tạo nên từ lòng thành của vị thương gia đó. Sau cùng, điều đáng tiếc là tại ngôi chùa rừng vốn thanh tịnh của vị thiền sư chuyên tu hạnh **Độc cư** (Ekacārī), cùng với các công trình kiến trúc, các quyến thuộc cũng dần xuất hiện theo. Điều này ít nhiều đã làm tiêu hao thời gian dành cho việc tu tập của Ngài. ## TRANG 237 - **Lợi lộc** (Lābha - nhận được bốn món vật dụng), - **Sự kính trọng** (Sakkāra - được tôn kính và cúng dường), 181 - **Danh tiếng** (Siloka - tiếng lành đồn xa). Ba điều này chính là một dạng **đội quân của Ma vương** (Māra) vô cùng vi tế, ẩn nấp trong tâm trí. Đối với những bậc đã hoàn tất phận sự (bậc Thánh đã xong việc), dù chúng có gây phiền toái thì cũng không mấy hề hấn. Nhưng với những người đang trong quá trình tu tập, rèn luyện, đây lại là một sự chướng ngại vô cùng to lớn. Trong giới **Giáo pháp Thực hành** (Paṭipatti Sāsanā), vấn đề về những giấc mơ báo mộng cũng thường xuyên xảy ra. Đôi khi đó là sự sắp đặt của những vị thần thông có đức tin quá mức, hoặc của những vị **Phàm phu** (Puthujjana) như các vị thọ thần (Rukkhaso). Có lần, vị thiền sư tại chùa rừng núi Myay Phyu, phía tây thị xã Thonze, đã phải quở trách một vị thọ thần vì thường xuyên tạo ra những giấc mơ như vậy cho các thí chủ ở phương xa. Lắm lúc, sự quấy nhiễu diễn ra một cách lộ liễu. Cũng có khi, theo lời của những “bậc bề trên”, có những vị tìm đến các hành giả đang tiến tu và xin làm đệ tử với lý do “để được nghe pháp và thực hành theo”. Thực chất, đó là cách để đưa người ta lên cao rồi hạ bệ (tâng bốc rồi khiến họ ngã lòng). Điều này khiến một số **Hành giả** (Yogi) còn ít kinh nghiệm và kiến thức nông cạn nảy sinh ý nghĩ: “Ơ, hóa ra mình cũng cừ khôi đấy chứ.” Để gây ra ảo tưởng đó, họ còn dùng nhiều phương kế khác nữa. Những lúc ấy, cần phải dùng lòng Từ ái bao la và sự Nhẫn nại kiên trì để hóa giải. Mỗi người cần phải luôn luôn tìm tòi, quan sát và suy xét tường tận những điểm yếu, nơi lỏng lẻo trong con đê tâm thức của chính mình như **Tham** (Lobha), **Sân** (Dosa), **Mạn** (Mana), **Tín** (Saddhā), **Tấn** (Viriya)... để bồi đắp cho nó thêm vững chắc. ## TRANG 238 **Ngài A-la-hán U Thar Shwe (U Kavinda) thọ một trăm tuổi** **(1182 - 1282 Phật lịch)** Vùng phụ cận Maung Daung và Nyaung Kan dường như đã từng có rất đông các vị hành giả ẩn cư tại các trú xứ rừng già (araññavāsī). Khu vực này tiếp giáp với dãy Himalaya, rừng núi rậm rạp. Các bậc thầy như thiền sư Kyaung Pan, Ledi, Kanni cũng đã từng đến đây ẩn tu. Khi khảo sát dưới góc độ của một hành giả, người ta nhận thấy đây là một địa phương lý tưởng cho việc tu tập. Cách làng Maung Daung Gyi khoảng sáu dặm về phía Bắc là vùng Wet Ye Taw, nơi rừng rậm thâm u hơn, từng là nơi ẩn cư của những bậc thiện tri thức cao đức. Đây chính là phần phía Nam của khu rừng Mahamyaing rộng lớn. ### Các trú xứ ẩn tu (Aranya) nổi tiếng Vào khoảng cuối thời Thaton đầu thời Bagan, có một vị thánh tăng tên là Khin Gyi Moe đã viên tịch tại chính khu rừng này. Vào thời điểm đó, giữa chốn rừng sâu núi thẳm, hầu như đêm nào dân làng cũng nghe thấy tiếng tụng kinh cùng tiếng chuông và khánh đồng vang vọng. Thấy vị cao tăng Khin Gyi Moe thường ngày vẫn đi khất thực nay không thấy đến, dân làng Wet Ye đã vào rừng tìm kiếm và phát hiện Ngài đã viên tịch. Họ liền thỉnh thi hài Ngài về làng. Dân làng Maung Daung nghe tin, vì muốn tôn thờ vị hương linh nên đã đề nghị thỉnh thi hài Ngài về quê nhà Maung Daung. Sau khi bị từ chối, họ đã đến lấy trộm vào ban đêm. Khi họ khiêng thi hài Ngài trở về, dù là đêm cuối tháng (trăng non) giữa rừng già tối mịt, nhưng lạ thay suốt dọc đường đi, ánh trăng lại tỏa sáng rạng ngời. Chỉ khi về đến Maung Daung ánh sáng mới biến mất, lúc đó họ mới sực nhớ ra hôm ấy thực sự là đêm cuối tháng tối trời. (Câu chuyện này được ghi lại trong cuốn "Maung Daung Rup Lon Phaw Tika"). Cách làng Nyaung Kan khoảng tám dặm về phía Tây có một trú xứ rừng già với địa hình đồi núi hiểm trở, nhiều khe suối và vách đá dựng đứng. Có những vực sâu từ năm mươi đến một trăm feet, dưới lòng suối tự nhiên hình thành nên những khoảng đất bằng phẳng rộng khoảng một trăm feet. Trên các vách đá có những hang động, biến nơi đây thành một địa điểm xuất sắc cho việc thực hành thiền định (kammaṭṭhāna bhāvanā). Những nơi như Kho Chaung Chat... ## TRANG 239 Các ngôi làng này có thể dùng làm nơi khất thực (gocara-gāma). Thuở trước, tại vực sâu này có một vị sư tên là U Ka cư ngụ, Ngài vốn nổi tiếng là một vị A-la-hán. Ngài thường sưởi ấm bên cạnh những con báo gấm và đã viên tịch trong khi để mặc cho giòi bọ ăn thịt mình (pháp xả thân). Người tiếp tục trông nom khu rừng hang đá này — thường được gọi là Vực Ngài U Ka — từ năm 1298 đến 1311 là Ngài đại trưởng lão U Ukkaṃsa, vị Thừa chỉ (Ovadacariya) của Hội đồng Tăng già Trung ương. Ngài sinh năm 1239 tại làng Alal, vùng Pin. Ngài là đệ tử của các bậc thầy tại Manle, Taline Kone và chùa Min Kyaung Wat Chet. Năm 1293, tại đầu làng Maung Daung Gyi, Ngài cũng đã thành lập một học viện Phật giáo (Sāthin-taik) tên là Ceti Hla. Ngài cũng là tác giả của các bộ luận như "**Gambhīratthapakāsanī**" (Thâm Nghĩa Đăng), "**Catukkavinicchaya**" (Tứ Pháp Quyết Trạch), và "**Buddhasaraṇatthadīpaka**" (Phật Bảo Quy Y Đăng). Từ vị thế một vị giảng sư (Cā-cha) tại chùa Kyaik Pa Tai ở Sagaing, Ngài đã rời bỏ để vào rừng ẩn tu. Ngài là bậc có dũng mãnh tinh tấn (vīriya) và đức tin (saddhā) vô cùng lớn lao. Trong thời gian trú tại khu rừng Nyaung Ni, cách thị trấn Budalin khoảng tám dặm về phía Đông Bắc, Ngài thường xuyên bị các loài phi nhân (phi tặc) quấy nhiễu vào ban đêm; dù dùng nhiều cách bảo vệ cũng không hiệu quả. Chỉ khi rải tâm từ (mettā) Ngài mới nhiếp phục được chúng, do đó Ngài thường xuyên khuyến tấn về uy lực của vũ khí tâm từ. Trong thời gian ở tại rừng Ingyin San, phía Đông Bắc làng Maung Daung Gyi, mỗi khi những người thợ săn đi vào vùng phụ cận chùa rừng, trời lại bỗng dưng tối sầm khiến họ không thể săn bắn được. Sự việc lặp lại nhiều lần khiến họ sinh lòng kính tín và ngưỡng mộ sâu sắc. Khi vị trưởng lão này ở tại Vực Ngài U Ka, Ngài đã truyền dạy thiền định cho một vị đệ tử trên một thiền đường kinh hành (caṅkama) dài sáu mươi cubit (khoảng 30m). Có lần vị đệ tử đang ngồi thiền ở đầu đường kinh hành này thì thân mình bỗng nhiên bay bổng lên và dịch chuyển sang đầu đường kinh hành phía bên kia. Vị trưởng lão cư ngụ tại hang đá cho đến lúc viên tịch. Một ngày nọ, ông U Pho Khin từ làng Nga Ye Win đang hành thiền tại một am nhỏ không xa chỗ của Ngài. Quá nửa đêm, ông nhìn về phía am của Ngài thì thấy cả ngôi chùa rực sáng ánh kim quang. Ông chạy đến xem nhưng không thấy Ngài đâu. Sáng hôm sau, khi ông bộc bạch với Ngài rằng đêm qua không thấy Ngài đâu, Ngài chỉ trả lời: "Khi thanh vắng thì phải tu tập quán chiếu như thế thôi". Ông không biết bình luận gì hơn ngoài lòng kính ngưỡng vô biên. Trưởng lão là bậc có ý chí và sự tinh tấn phi thường. Khi có Phật sự, Ngài thường đi bộ từ chùa rừng đến các làng cách đó năm, tám dặm từ sáng sớm tinh sương. Vào mùa đông, việc phải băng qua những nương ngô cao quá đầu người sũng nước sương đêm là một thử thách lạnh buốt xương tủy. Gặp ai trên đường... ## TRANG 240 ... mà không dừng lại đảnh lễ, Ngài thường giơ gậy lên ra hiệu yêu cầu họ phải lễ bái. Đó chính là cách Ngài trao tặng phước báu. Một ngày nọ, gặp một người đàn ông làng Ku Taw đang say rượu thốt nốt trên một con đường hẹp, Ngài đã dùng gậy nhẹ nhàng ấn vào đầu bảo anh ta ngồi xuống đảnh lễ. Sau khi ban lời giáo huấn, Ngài hỏi xin (alhu-khan) việc từ bỏ rượu thốt nốt, anh ta đã hứa: "Con xin không uống trong một tháng". Ngài căn dặn: "Này, con đã hứa cúng dường theo khả năng của mình, nếu thất hứa thì tự con sẽ gánh chịu khổ đau. Đời này điên, đời sau cũng có thể bị điên đấy, đừng nên uống nữa". Nói rồi Ngài bước đi. Ba ngày sau, người đàn ông đó đi đến làng Nga Pyaw Yay Tin, vì bạn bè rủ rê, anh ta đã uống lại rượu thốt nốt. Đám bạn còn thúc giục: "Ôi, hứa thì hứa thế thôi, mình uống thì Ngài làm sao mà biết được". Sau khi uống xong trên đường trở về, anh ta đã bị rắn cắn chết. Trưởng lão đã ban truyền trí tuệ cho mọi tầng lớp nhân dân trong vùng. Tuy nhiên, những người thực sự hiểu được ân đức của Ngài lại rất ít. Những kẻ muốn vào vùng đất của chùa rừng để săn bắn, chặt củi, hay canh tác lại coi Ngài như kẻ thù ngăn cản họ. Năm 1311, khi thọ 75 tuổi, dù đang bị chứng phù nề gây khó thở trầm trọng, Ngài vẫn không ngừng thuyết pháp cho các đệ tử, khiến cơn mệt càng thêm dữ dội. Vào đêm mồng 8 tháng Nat-taw (tháng 9 Miến lịch) năm đó, sau khi bảo các đệ tử hãy nhìn lên ngôi sao Thuyền (Ship Star) trên bầu trời, Ngài phán rằng: "Này... hãy cố gắng ghi nhớ lời ta nói. Mệt thì cứ để nó mệt. Khi sao Thuyền lặn xuống (ngã bóng) thì cơn mệt này sẽ dịu đi thôi". Giọng thuyết pháp của Ngài bắt đầu xen lẫn tiếng đờm đặc, mờ nhạt dần rồi tắt hẳn. Cơn mệt có vẻ dịu xuống, ông U Mya Aye cùng một vài người chăm sóc bước ra ngoài am nhỏ để rải tâm từ. Khi nhìn lên ngôi sao Thuyền (tên gọi là Punnavajju), họ thấy nó đã ngả về phía tây. Họ kháo nhau rằng lời Ngài nói thật linh nghiệm. Nhưng thực chất, vị trưởng lão đã cùng ngôi sao ấy đi vào cõi vĩnh hằng (viên tịch). Hiện nay, tại trú xứ rừng già đó, Ngài hòa thượng U Kalyāṇa từ chùa Wa taw ma vẫn đang tiếp tục trông nom và truyền dạy thiền định. Lại nữa, cách thị trấn Budalin năm dặm về phía Bắc, hiện nay vẫn còn trú xứ rừng già mang tên Taung Kalat. Đã từng có một vị sư tên là U Dway Hnaung, pháp danh U Ariyañāṇa cư ngụ tại đó. Ngài chung sống hòa bình với những con báo gấm. Ngài thường hay nói: "Chùa Shwedagon cũng ở gần đây thôi mà", cho nên mọi người cho rằng hằng ngày Ngài đều đến đó để chiêm bái Phật. Vua Bodawpaya từng ba lần thỉnh mời Ngài về kinh đô để cúng dường thì Ngài mới chịu đăng trình. ## BẢN DỊCH VIỆT - BATCH output-241-to-243 ## TRANG 241 ### Các Bậc A-la-hán và Những Bậc Đặc biệt Cách núi Taung Kalat hơn ba dặm về phía bắc có vùng Oke Pho Taung, và khoảng mười dặm là làng Latt Pan, nơi có trú xứ Latt Pan Tawya. Đây là nơi ẩn tu của Ngài Hòa thượng Latt Pan (thường gọi là U Ādicca), vị thầy của Ngài Hòa thượng Kanni – người biên soạn bộ Luận Yogipāragū. Ngài là đệ tử của các bậc tôn túc như Hòa thượng Lone Taw, Hòa thượng Ayadaw và Hòa thượng Sīlatissa người Tây Tạng. Ngài vô cùng nổi tiếng trong giới thực hành thiền định (paṭipatti). Đây là các trung tâm thiền lâm thuộc khu vực tam giác xung quanh các vùng Maung Htaung và Nyaung Kan thuộc huyện Budalin. Những nơi này vẫn còn tồn tại cho đến tận ngày nay. Việc quan sát một địa danh cụ thể như vậy chỉ nhằm giúp chúng ta hình dung được bối cảnh tu tập thực hành thời bấy giờ. #### Trưởng lão U Thar Shun Điểm mà tôi muốn trình bày ở đây chính là về Ngài U Kavinda, thường được gọi là Trưởng lão U Thar Shun. Về cuộc đời của Ngài U Thar Shun, tôi xin trích dẫn theo những ghi chép được nghiên cứu và biên soạn bởi người sư huynh của chúng tôi là Ngài Thawbita, trụ trì chùa Maung Htaung Yon Satike. Bản ghi chép đó được thực hiện dựa trên việc ph vấn ông U Lu Min (85 tuổi) – một người hộ tông (kappiya) của Ngài U Thar Shun tại làng Oke Ai gần làng Nyaung Kan – và các vị sư tại chùa Oke Ai. Chính người viết cũng đã trực tiếp đến ngôi chùa đó để xác minh thêm từ những vị này trước khi biên soạn. Ngôi chùa ba tầng cổ kính nơi Ngài từng cư ngụ hiện vẫn còn có thể tham quan được. Ngài U Thar Shun sinh quán tại làng Kyet Yoe Kone, gần làng Nyaung Kan. Ngay từ khi còn nhỏ, Ngài đã có thiên hướng và tâm nguyện mãnh liệt đối với đời sống viễn ly nơi rừng núi. Đầu tiên, Ngài trú ngụ tại khu rừng Thit Khaung Pa Loke Toke, nằm giữa làng Thee Pin Ai và làng Kokko Su. Vào khoảng năm 1247 (Miến lịch), Ngài cư ngụ tại thiền lâm Latt Pan bên trục đường Budalin - Ye U. Thời điểm đó, kinh đô Mandalay đang bị quân đội Anh chiếm đóng, đất nước rơi vào cảnh loạn lạc, bất ổn. Trộm cướp hoành hành khắp nơi. Khi đang hành thiền, tâm trí Ngài cũng bị ảnh hưởng bởi những xáo trộn và lo âu. Trong lúc ấy, quân lính Ấn Độ (thuộc quân đội Anh) đã tiến đến bao vây núi Oke Pho Taung vì nghi ngờ có quân địch ẩn náu. Ngài càng thêm phần hoang mang lo sợ. Vì thế, Ngài phải trùm chiếc mền lớn che kín đầu, lặng lẽ rời khỏi ngôi chùa nhỏ tại thiền lâm Latt Pan. Ngài chuyển đến tu tập tại rừng Wet Ye, cách làng Maung Htaung sáu dặm về phía bắc. Khu rừng Wet Ye thời bấy giờ vốn nổi tiếng là nơi có nhiều thú dữ. Khi đó, Trưởng lão đã trông thấy... ## TRANG 242 ...những con rắn độc lớn bằng thân cây thốt nốt, nhưng thú dữ và rắn độc dường như đã trở thành những người bạn của Ngài. Từ đó, Ngài tiếp tục du hành và tu tập qua các vùng rừng Gway Pin Kyin, rừng Se Gyi và các dãy núi Shwe Sar Yay. Ngài thường dùng ba bốn tàu lá thốt nốt gác lên cây để làm lán tu tập; khi thấy nơi nào bắt đầu có nhiều người qua lại, Ngài lại dời đến một khu rừng khác. Trong thời gian Ngài ở thiền lâm Se Gyi, một người tên là Ko Thar Pyan đã từ bỏ nhà cửa, vợ con để đi theo phục vụ Ngài với vai trò người hộ tông. Lúc bấy giờ, Trưởng lão đã ngoài 70 tuổi. #### Tiếng Pháp từ Vực Shin Ma Vị tỳ-kheo trẻ **U Thawbita** (người sau này trở thành Ngài Hòa thượng Kanni), sau khi thọ nhận các pháp môn thiền quán và tu tập dưới sự chỉ dạy của Hòa thượng Latt Pan, trên đường trở về thành phố Kanni đã dừng chân tại làng Nyaung Kan để dò hỏi tin tức về Ngưởng lão U Thar Shun. Vị tỳ khưu trẻ đã đi sâu vào từng cánh rừng, tìm kiếm khắp những nơi nghi ngờ có Ngài cư ngụ. Cuối cùng, thầy đã được diện kiến Trưởng lão đang hành thiền bên trong vực Shin Ma, cách làng Nyaung Kan (quê hương của Ngài Buat) khoảng ba dặm về phía nam. Vực Shin Ma sâu khoảng năm mươi đến một trăm bộ, với các lớp đá chồng lên nhau một cách tự nhiên, là một nơi vô cùng yên tĩnh và thanh tịnh. Trưởng lão đang ngự trên một phiến đá lớn dưới chân vách vực. Giữa vực có một dòng suối cát nhỏ đã cạn nước, tỳ khưu U Thawbita liền ngồi xuống bãi cát đó để cung kính đảnh lễ. Sau khi đảnh lễ xong, thầy thưa rằng: "Bạch Ngài, con vốn hết lòng ngưỡng mộ và kính tín vào con đường tu tập của các bậc tiền bối. Sau khi thọ giáo từ Hòa thượng Latt Pan trở về, con vốn đã nghe danh đức của Ngài từ trước nên đã cất công tìm kiếm để được thọ nhận giáo pháp. Cúi xin Ngài từ bi thuyết giảng những pháp môn giúp thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi này; xin Ngài hãy ban lời giáo huấn cho con." Nghe lời thỉnh cầu đầy hân hoan đó, Trưởng lão sau khi hỏi thăm đôi chút về căn nguyên đã dạy rằng: "Hừm, kinh điển đã thông suốt cả rồi đấy thôi. Chỉ cần làm đúng theo kinh điển là được. Chẳng ai có thể làm gì hơn ngoài những điều kinh điển đã dạy; điều quan trọng là phải thực sự tin vào kinh điển. Đức Thế Tôn cũng chỉ dạy có hai loại pháp mà thôi. Thầy chắc cũng đã biết rõ cái gì là **Pahātabba** (những pháp cần phải đoạn tận - Phiền não), và cái gì là **Bhāvetabba** (những pháp cần phải tu tập, tăng trưởng - Thiện pháp) rồi chứ? Điều gì bảo 'chớ làm' thì đừng làm, điều gì bảo 'hãy làm' thì phải làm, chỉ có vậy thôi. Ta hiện đang sống đúng theo tinh thần đó đây." Ngài đã thuyết giảng một cách ngắn gọn nhưng vô cùng súc tích và đúng trọng tâm. Ngoài tiếng chim cu gáy trên đỉnh vách vực, không gian xung quanh hoàn toàn tĩnh mịch và an bình. ## TRANG 243 Người hộ tông Ko Thar Pyan, khi thấy có một vị tỳ khưu lạ đến thăm, đã từ dưới một gốc cây gần khúc quanh của suối vực Shin Ma đi theo các bậc đá quanh co bước xuống. Anh dùng một cái gáo dừa múc nước từ quả bầu khô được bọc bằng sợi gai để dâng lên vị khách tăng. Sau đó, anh trở về gốc cây của mình và tiếp tục công việc hành thiền như cũ. Trưởng lão lại tiếp tục câu chuyện: "Này Sư trẻ, chúng ta gặp được giáo pháp (Sāsana) là một điều đại phước hữu duyên. Tìm được một vị thầy có khả năng hướng dẫn thiền định đúng phương pháp là điều không hề dễ dàng. Ngài **U Ādicca** ở Latt Pan Tawya quả thực là bậc thiện tri thức. Khi đã gặp được giáo pháp và gặp được thầy như vậy, điều quan trọng nhất là phải có lòng tin tuyệt đối, sẵn sàng hiến dâng cả mạng sống mình cho giáo pháp và cho thầy. Vào thời kỳ cuối của giáo pháp Đức Phật Kassapa, khi thấy phần đông tăng chúng đã buông lung về giới hạnh, có bảy vị tỳ khưu là bạn đạo đã cùng nhau lập lời thệ nguyện và tin chắc rằng: 'Nếu tu tập nhân này, nhất định sẽ gặt hái được quả này'. Cả bảy vị đã dùng thang dây leo lên một đỉnh núi cao, và ngay khi vừa lên đến đỉnh, họ đã đẩy chiếc thang xuống vực để cắt đứt đường về. Họ nỗ lực tu tập với quyết tâm: Hoặc là đắc chứng thánh quả, hoặc là gửi xác lại trên đỉnh núi này. Sau một ngày, có một vị đắc quả A-la-hán, ngài đã dùng thần thông đi khất thực ở Bắc Câu Lưu Châu rồi mang về cho các vị còn lại. Nhưng những vị khác không ăn, họ khẳng định rằng phải tự mình chứng đắc thì mới thọ dụng, và tiếp tục nỗ lực không ngừng nghỉ. Ngày hôm sau, thêm một vị nữa chứng quả A-na-hàm. Sau bảy ngày, năm vị còn lại dù chưa đắc chứng thánh đạo nhưng đã kiệt sức vì nhịn ăn và viên tịch, sau đó được sanh về cõi chốn thiên đàn. #### Tự làm tròn bổn phận - Một mũi tên trúng hai đích Này Sư trẻ, chúng ta bây giờ đang ở trong thời kỳ giáo pháp còn rực rỡ hơn cả lúc bấy giờ, điều quan trọng là mình phải thực sự tin và thực sự thực hành. Đừng có kiểu bản thân mình chưa đến đâu mà đã lo nhìn trước ngó sau muốn lôi kéo người khác. Sống độc cư không có nghĩa là mình chỉ ích kỷ tìm đường thoát thân cho riêng mình đâu. Việc tự mình tu tập cho thật tốt cũng chính là cách thức phụng sự lợi ích cho số đông hiệu quả nhất. Trong kinh điển **Mahāvagga Saṃyutta**, Đức Thế Tôn có giảng qua ví dụ về người thầy và trò cùng biểu diễn xiếc trên một cây gậy tre dựng đứng. Cả người thầy vác gậy trên vai lẫn người trò leo lên đỉnh gậy đều phải tự mình cẩn trọng trong công việc của mình, tự bảo vệ chính mình thì cũng là bảo vệ người khác vậy. (Lời của Ngài Dhammācariya U Hte Hlaing) ## TRANG 244 "Y như ví dụ ấy, việc tự mình nỗ lực thực hành thiền định chính là đang bảo vệ các chúng sinh khác (*attānaṃ rakkhanto paraṃ rakkhati*). Việc tu tập đức nhẫn nại, tâm từ, tâm bi và tâm hỷ cũng vậy (*paraṃ rakkhanto attānaṃ rakkhati*) — khi bảo vệ người khác, ta cũng chính là đang bảo vệ chính mình. Đây là một công việc đem lại lợi ích vô cùng to lớn (*Kinh Sedaka*). Đây cũng chính là công việc có thể thanh toán những món nợ bất thiện nghiệp trong vòng luân hồi (*aparāpariya-vedanīya-kamma*). Nếu chỉ dùng thân xác này để đền bù thì món nợ ấy chẳng bao giờ dứt được. Thôi, mặt trời cũng đã xế bóng rồi, hãy lên đường theo ý nguyện đi." Nói rồi, bậc đạo sư ra hiệu kết thúc câu chuyện. Vị thiền sư Kanny tương lai (khi ấy là ngài U Sobhita) đảnh lễ rồi quẩy bát đứng dậy. Người cư sĩ trợ niệm (kappiya) Tha Phyu đi theo phía sau để dẫn đường. Trong ánh hoàng hôn nhạt nhòa, hai người cùng nhau băng qua những rừng thốt nốt đại thụ, những nương rẫy xanh mướt, và thỉnh thoảng là những vực sâu thăm thẳm chừng năm mươi bộ. Phía bên tay phải, họ nhìn thấy núi Twin (một ngọn núi được hình thành từ miệng núi lửa đã tắt). Trên những cánh đồng, những tảng đá lớn chừng một người ôm, vốn bị văng ra từ ngọn núi ấy, nằm rải rác khắp nơi khiến họ phải vất vả tránh né để tiến bước. Ở phía Tây Nam và Tây Bắc, núi Shwe Chay và núi Kanny cũng hiện ra thấp thoáng ở phía xa. Mặt trời lúc này sắp sửa lặn hẳn. "Này cư sĩ, việc được đi theo phục vụ và làm các công việc công quả cho một vị Tỳ-kheo như thế này là một phước báu rất lớn. Hãy vừa làm việc, vừa nỗ lực thực hành giáo pháp nhé." Khi vị Tỳ-kheo quay sang nhắn nhủ như vậy, người cư sĩ dẫn đường cung kính đáp lời: "Bạch vâng, con xin vâng lời sư ạ." "Thôi, cư sĩ hãy ở lại đây. Sư đã biết đường đi rồi. Ừm... Đừng bao giờ khinh thường những thiện nghiệp hay bất thiện nghiệp dù là nhỏ nhất nhé. Chúng cũng giống như những mạch nước ngầm vậy. Khi ta đào một cái giếng thủ công, nước từ khắp mọi ngả trên cùng một mạch ngầm sẽ tự động cuộn chảy và thấm vào đó. Lại còn một điều này cần ghi nhớ, nếu không thể giữ gìn tối thiểu năm giới cho được trong sạch thì việc tu tập sẽ không đem lại nhiều lợi ích đâu. Bởi vì có Giới mới sinh Định, có Định mới phát Tuệ. Thôi, cư sĩ hãy về đi." Nói xong, giữa màn đêm đang dần buông xuống, vị Tỳ-kheo tiếp tục sải bước đi sâu vào cánh rừng. Người cư sĩ Tha Phyu sau đó trở về nơi Trưởng lão đang trú ngụ tại vực Shin Ma. (Câu chuyện về thiền sư Kanny sẽ được trình bày ở phần sau). Khi Trưởng lão đã ngoài 70 tuổi, sức khỏe suy yếu, các thí chủ đã cung thỉnh ngài về trú ngụ tại chùa Phía Bắc thuộc làng Oke Ai, gần làng Nyaung Kan. Ngôi chùa này tọa lạc trên một gò đá cao, xung quanh được bao bọc bởi những hàng me cổ thụ. --- ## TRANG 245 Dù trú ngụ tại một ngôi chùa trong làng, nhưng ngài không tiếp đón chư Tăng hay người thế tục. Ngài chỉ ở cùng với người cư sĩ trợ niệm. Ngay cả những thân quyến đến thăm, ngài cũng không trực tiếp gặp mặt. Phải thông qua người cư sĩ trợ niệm thỉnh cầu hai ba lần, họ mới được diện kiến ngài. Có những thân quyến thậm chí phải khóc lóc van xin mới có cơ hội được đảnh lễ ngài. Tất cả vật thực hay phẩm vật cúng dường nhận được, ngài đều dâng lên cúng dường đức Phật trước rồi mới thọ dụng. Đầu năm 1282, người cư sĩ trợ niệm Tha Phyu đột ngột qua đời, cư sĩ U Pwa Paw tiếp quản công việc phục vụ ngài. Trưởng lão đã tổ chức lễ hỏa táng cho cư sĩ Tha Phyu một cách trang trọng. Một ngày nọ, khi cư sĩ U Pwa Paw nhìn thấy Trưởng lão đang ngồi thiền mà nước mắt cứ tuôn rơi không ngừng, ông liền cung kính hỏi thăm nguyên do. Ngài bùi ngùi đáp lại với giọng buồn bã: "Ta chợt nhớ đến thằng nhỏ Tha Phyu quá..." Được biết, cho đến thời điểm đó, Trưởng lão vẫn chưa chứng đắc quả vị A-na-hàm. Tuy nhiên, không lâu sau, tuệ giác của ngài dường như đã có sự tiến bộ vượt bậc. Cư sĩ U Pwa Paw, người thường ngủ ở một vị trí không xa chỗ ngài trong ngôi chùa ba tầng, kể lại rằng mỗi khi thức giấc, ông đều thấy ngài không hề ngủ mà luôn ngồi thiền. Ông còn cho biết thêm rằng, hằng đêm, ông đều nhìn thấy những luồng hào quang sáng rực rỡ tỏa ra xung quanh ngài và bao trùm lấy toàn bộ không gian bên trong ngôi chùa. ### Phân tích về hào quang của thân Ngày nay, có lẽ cũng có nhiều hành giả có được những luồng hào quang rực rỡ như vậy. Bậc đại trưởng lão Mogok Sayādaw, vị chứng đắc danh hiệu Aggamaha-paṇḍita, từng thuyết giảng rằng thông qua việc quan sát hào quang, người ta có thể biết được tâm tính của một người. Liên quan đến vấn đề hào quang này, các hành giả Ấn Độ, đặc biệt là các vị Lạt-ma Tây Tạng có thần thông, thường rất chú trọng thảo luận. Họ nghiên cứu sâu sắc đến mức có thể nói chính xác những suy nghĩ, tâm tư cũng như tình trạng bệnh tật của đối phương. Họ tin và đã viết lại rằng, hào quang của đức Phật và các bậc A-la-hán là một màu vàng thuần khiết. Họ cũng tin rằng mỗi người đều tỏa ra một loại ánh sáng riêng. Trong các kinh điển Pāḷi, chúng ta tìm thấy ghi chép rằng khi Đức Thế Tôn quán chiếu bộ *Vị Trí (Paṭṭhāna)* liên tục trong bảy ngày, sáu luồng hào quang rực rỡ đã phóng ra, chiếu sáng rực rỡ xuyên suốt khắp vô lượng thế giới từ trên xuống dưới. --- ## TRANG 246 (Lời của Ngài Dhammācariya U Hte Hlaing) Điều này cũng được mô tả trong chú giải bộ *Pháp Tụ (Dhammasaṅgaṇī)*. (Cũng có quan điểm cho rằng dựa trên màu sắc của máu được phóng ra từ tâm cơ — *hadaya-vatthu*, người ta có thể phán đoán được tính cách và tâm tư của một người). Việc tỏa ra hào quang như vậy là do tâm được thanh tịnh và trong sáng, dẫn đến máu trong tâm cũng trở nên thanh tịnh. Khi đó, các sắc do tâm tạo và sắc do thời tiết tạo liên quan đến tâm ấy đều trở nên thuần khiết và phát ra ánh sáng. Đây không phải là do biến hóa thần thông, mà là kết quả của việc quán chiếu những giáo pháp thâm sâu mà hào quang được hiển lộ. Trong chú giải *Kinh Gila (Tương Ưng Bộ)*, có chép rằng Trưởng lão Mahākassapa khi lắng nghe và quán chiếu về các chi phần Giác ngộ (Thất Giác Chi), ngài đã khởi lên tâm hỷ lạc với ý nghĩ rằng: "Giáo pháp của Đức Thế Tôn thực sự là con đường giải thoát." Từ tâm hỷ lạc ấy, bắt đầu từ tâm cơ (*hadaya-vatthu*), các sắc thân khác cũng trở nên thanh tịnh và bệnh tật của ngài nhờ đó mà được tiêu trừ. Việc quán chiếu giáo pháp không chỉ làm cho sắc diện trở nên tươi sáng, tỏa ra hào quang, mà thậm chí còn có khả năng chữa lành các căn bệnh. Đây là điều cần lưu ý về mối liên hệ hỗ tương giữa danh pháp và sắc pháp. Thuở xưa, một nhà tâm lý học người Ấn Độ đã nghiên cứu và viết về hào quang của con người rằng: mỗi người đều có hào quang, chỉ là do chúng ta không chú ý đến việc nắm bắt và chỉ ra nó mà thôi. Hình ảnh phản chiếu của con người trong gương thực chất cũng là hào quang. Hào quang ấy luôn tồn tại và lan tỏa khắp không gian vô tận. Nếu đặt một chiếc gương cách mình một bộ, ta sẽ thấy hào quang của mình hiện diện ở khoảng cách đó. Tương tự, nếu có một chiếc gương đủ sức thu hút để nắm bắt ở khoảng cách hàng trăm bộ, một dặm, hai dặm hay thậm chí là ở một thế giới khác, ta cũng có thể nhận thấy hào quang của mình đang hiện diện ở đó. Các học giả Tây Tạng cũng cùng quan điểm rằng hào quang này tồn tại vĩnh cửu. Các nhà khoa học cũng sử dụng đơn vị năm ánh sáng, với tốc độ ánh sáng là 186.000 dặm mỗi giây. Trong chú giải *Kinh Thánh Cầu (Bản Sinh Kinh)*, có khẳng định rõ ràng rằng những luồng hào quang xuất hiện khi quán chiếu bộ *Vị Trí (Paṭṭhāna)* vẫn đang lan tỏa và tồn tại trong vũ trụ cho đến ngày nay. Tương tự, chú giải *Bồ-đề Sử (Boddivaṃsa)* cũng ghi chép rõ rằng những hào quang từ thần thông song hành khi Đức Thế Tôn từ cõi trời Tāvatiṃsa trở về nhân gian vẫn sẽ tồn tại cho đến ngày giáo pháp biến mất. Đứng dưới góc độ A-tì-đàm (Abhidhamma), đó chính là sự kế thừa liên tục của các đại hiển sắc và sắc pháp. Các nhà tâm lý học theo trường phái Psychometry thì cho rằng không chỉ hình dáng, bóng, màu sắc, mà cả ý định và suy nghĩ của một người cũng không hề biến mất. Mọi thứ người ấy tiếp xúc đều để lại dấu vết — họ tin như vậy. ## TRANG 247 Nếu một người từng sống trong một căn phòng, dù thế giới có tan rã, những bóng dáng tư duy của người đó vẫn luôn hiện hữu trong căn phòng ấy. Trên thế giới này, bóng dáng, dấu vết và tư duy của những người từng thành công trong các lĩnh vực thế gian, xuất thế gian, quân sự, kinh tế... từ thuở xa xưa vẫn luôn lan tỏa và tồn tại vĩnh cửu. Người ta tin rằng khi quý vị giữ tâm trống rỗng, tĩnh lặng (lìa xa triền cái - *nīvaraṇa*), quý vị có thể tiếp xúc với những phương cách cũ mà không cần nỗ lực quá mức, từ đó nảy sinh trí tuệ lóe sáng tức thời và đạt được thành công tiến bộ trong lĩnh vực mong muốn. Có rất nhiều ví dụ minh chứng cho điều này. Trong công phu thực hành (*paṭipatti*), cũng có những hành giả và những minh chứng thực tế tin rằng khi ngồi thiền tại những nơi như ranh giới giới đàn (*sīma*) hay nơi cư ngụ mà các bậc Thánh A-la-hán thủa trước từng thiết lập và sinh sống, thì việc đắc Pháp sẽ trở nên dễ dàng hơn. Còn đối với các bậc Thánh A-la-hán vẫn đang hiện tiền thì không còn gì phải bàn cãi. Lời dạy: "**Dhātuso va, bhikkhave, sattā saṃsandanti samenti** (**Dhātusaṃyutta Pāḷi**) - Này các Tỳ-kheo, chúng sinh tùy theo giới tính chất (*dhātu*) mà hòa hợp, tụ họp với nhau" chính là minh chứng cho điều này. Đây chỉ là những trình bày sơ lược về việc có thể tiếp xúc và kết nối với các "thánh giới" (*ariya-dhātu*) không hư mất, có liên quan đến tâm lý học và khoa học. Nói thêm một chút về hào quang, có lần khi Đức Thế Tôn đến làng Bà-la-môn Venāgapura, người ta đã chiêm ngưỡng làn da của Ngài rạng rỡ, sáng ngời như quả thốt nốt chín, như quả táo ta chín, hay như vàng ròng Jambu vừa được trui rèn. Các vị Bà-la-môn đều kinh ngạc trầm trồ. Tuy nhiên, vị Bà-la-môn Vacchagotta lại cho rằng vì Ngài được nằm trên giường nệm mềm mại bằng lụa nhung nên làn da mới sáng đẹp như vậy, và đã lên tiếng hỏi. Khi ấy, Đức Thế Tôn phán rằng: "Các Tỳ-kheo khó lòng có được giường nệm mềm mại, mà nếu có thì cũng không phù hợp với các Tỳ-kheo," rồi Ngài giải thích về ba loại nơi cư ngụ cao quý mà các Tỳ-kheo thường sử dụng và an lạc. Ba loại nơi cư ngụ (**uccāsayana mahāsayana**) đó là: (1) Thiên trú (an tâm bằng bốn tầng Thiền - *jhāna*), (2) Phạm trú (an tâm bằng bốn tâm cao thượng - *brahmavihāra*), ## TRANG 248 (3) Thánh trú (an tâm bằng cách nhập vào Thiền quả - *samāpatti*). Ý chính của Ngài là khi sống bằng một trong ba cách này, làn da sẽ trở nên thanh tịnh và hào quang sẽ tỏa ra. (**Tika Aṅguttara, Venāgapura Sutta.**) Ngày nay, các hành giả cũng nhờ thực hành quan sát và tu tập như vậy mà tâm trở nên thanh tịnh, sắc thân thanh tịnh và hào quang tỏa lộ. (Vấn đề này cũng sẽ được trình bày trong chương về Ngài Thiền sư Gandhayone và Ngài Thiền sư Thekkyetaung.) Chắc hẳn quý vị cũng từng đọc qua chuyện ông trưởng giả Anāthapiṇḍika khi đi buôn bán, vì tâm tha thiết muốn đỉnh lễ Đức Phật nên đã khởi hành từ khi trời chưa sáng; nhờ vào tâm hỷ lạc tùy niệm Phật (*Buddharammaṇa-pīti*) mà hào quang tỏa ra từ thân mình đã giúp ông có thể đi lại trong đêm tối. Hào quang của Đức Thế Tôn luôn rực rỡ lan xa tới tám mươi sải tay (*hattha*), nhưng người thường chỉ thấy được khoảng một tầm. ### Tự mình sắp xếp tang lễ Hiện nay, đối với Ngài Hòa thượng U Thayarshun, sự sáng rực ấy không phải do chư Thiên hay Phạm thiên đến lễ bái, mà chính là nhờ thần lực của thiền đề mục (*kammaṭṭhāna*) được tạo ra từ việc tu tập quan sát Pháp (*bhāvaniddhi*). Ngài đã ngăn cấm vị hộ tăng U Pwa Paw không được nói chuyện này cho bất kỳ ai biết. Cho đến khi nhập Niết-bàn, Ngài không tham dự bất kỳ sự kiện vui buồn nào. Ngài sống tách biệt với đám đông đến mức tối đa. Quả thực, đám đông là điều đáng sợ vậy. Đối với một hành giả thiếu nền tảng chánh niệm - định lực (*sati - samādhi*) và sự hiểu biết từ ái, thì đám đông – dù là người thân thiết – cũng có thể gây ra nhiều loại khổ đau và quấy rầy bằng cách này hay cách khác. Ma vương vốn không thể bắn trực diện vào hành giả trong mỗi lần quay chuyển, nên thường thông qua những người thiếu hiểu biết ấy mà gây khó khăn, giống như việc một mồi lửa nhỏ có thể thiêu rụi cả tòa lâu đài. Từ những trải nghiệm thực tế đó của người hành trì, sự sợ hãi đối với đám đông có lẽ đã nảy sinh. Từ sau tuổi 70 cho đến năm 1282 (99 tuổi), Ngài Hòa thượng cư ngụ ẩn dật tại ngôi chùa ba tầng ấy. Ngài không hề có bệnh tật gì đặc biệt. Vào tháng Tabodwe năm đó, Ngài mời các bậc kỳ lão và chư Tăng trong vùng đến chùa. Vì là lần đầu tiên được mời, mọi người đều hân hoan tụ họp. Khi mọi người đã đông đủ, Ngài Hòa thượng nói: "Việc tôi mời mọi người đến hôm nay không có gì khác ngoài việc: sau khi tôi mất, ## TRANG 249 xin đừng tổ chức lễ hội linh đình. Các vị Sư cũng xin đừng đứng ra hỗ trợ (tổ chức linh đình) như vậy." Vì thấy Ngài vẫn tươi tỉnh, khỏe mạnh nên mọi người đều nói: "Bạch Thầy, vào lúc này xin Thầy đừng nói những lời ấy. Khi thời khắc đến, chúng con sẽ thực hiện theo ý nguyện của Thầy." Về phần các vị kỳ lão, Ngài đã yêu cầu họ thề nguyện để ngăn chặn trước việc tổ chức linh đình. Những hành giả tu pháp Anāpāna (Niệm hơi thở) thường có thể thấu triệt chính xác thời điểm mình qua đời đến từng phút. Ngài cũng khuyến tấn rằng: "Trong tang lễ của tôi, xin đừng để xảy ra điều bất thiện thay vì được phước báu. Chư Tăng và các vị lãnh đạo bản làng hãy nỗ lực dẫn dắt việc tu tập thiền quán (*bhāvanā*) để xứng đáng với việc gặp được Giáo Pháp cao quý." Vị hộ tăng U Pwa Paw thường xuyên tẩm quất và phục vụ Ngài vào mỗi buổi tối trong khi lắng nghe thuyết Pháp. Vào một đêm nọ, khi Ngài đang nằm cạnh chiếc tủ bưu điện trong ngôi chùa ba tầng để được phục vụ: "Này con Pwa Paw, thời nay hiếm có cả Tăng lẫn tục thực lòng tin vào Tam Bảo. Mọi việc đều phải tin rồi mới làm, mà có làm thì mới thấy được những điều đáng tin con ạ. Có tin thì mới thực sự dựa dẫm (nương tựa), mà đã nương tựa thì lợi ích trong hiện tại lẫn vòng luân hồi đều trở nên to lớn." Ngài thong thả nói những lời sâu sắc ấy trong khi U Pwa Paw đang bóp chân nghe. Sau một hồi xoa bóp tay chân, tiếng của Ngài im bặt. Đang là tháng Tabaung nên thời tiết rất nóng nực. U Pwa Paw vẫn tiếp tục lắng nghe tiếng Pháp của Ngài, nhưng không thấy gì nữa. Chiếc đèn gương treo cạnh tủ bưu điện cũng tự động tắt lửa. Cả ngôi chùa ba tầng chìm trong bóng tối. U Pwa Paw cảm thấy bất an, vội thắp đèn lên rồi nhìn lại Ngài thì vô cùng đau xót. Hòa thượng U Thayarshun (U Kavinda) đã chấm dứt thọ hành (*āyu-saṅkhāra*) và vĩnh viễn nhập vào cõi tịch diệt Vô vi (*Asaṅkhata*). ### Chỉ đến khi thấy Xá-lợi mới hối tiếc Ngày Ngài nhập Niết-bàn ấy, thật đặc biệt khi Ngài vừa tròn 99 tuổi, 9 tháng và 9 ngày. Dù gặp phải bất kỳ hoàn cảnh nào, sự sắp đặt của định nghiệp (*kamma*) vẫn vô cùng chính xác, không hề sai lệch. Dù Ngài thọ đến trăm tuổi, nhưng do căn tính Ba-la-mật của Ngài và nghiệp lực yếu kém của chúng sinh, nên số lượng người có duyên được Ngài tế độ có lẽ không nhiều. ## TRANG 250 Tang lễ được tổ chức theo đúng di nguyện của Ngài. Vị đệ tử thân cận của Ngài là Ngài U Su Pan (mẹ là Kokko Su, cha là Ka Toe), quan viên truyền tin (Thandawsint) của thành phố Mandalay, đã đứng ra lo liệu ngôi điện thờ Niết-bàn (Nibbana-san kyaung) cùng việc tiếp đãi thực phẩm bốn phương (catudisā) cho tất cả các đoàn khách đến viếng. Để bớt gánh nặng cho các hộ độ (daka dakamā) tại địa phương, Ngài quan viên truyền tin đã tự mình đài thọ toàn bộ chi phí cho lễ hỏa táng. Sau khi hỏa táng, chỉ có xương đùi, xương hông và xương ống chân là còn giữ nguyên hình dáng xương, còn lại tất cả da thịt và các xương khác đều biến thành Xá-lợi (dhātu). Một số viên xá-lợi nhỏ mọc ra từ ba khúc xương lớn ấy như những nụ hoa kết thành từng chùm. Ba khúc xương lớn này sau đó đã được tôn trí bên trong bảo tháp xá-lợi (Arū-oe Ceti) tại cửa ngõ vào chùa Tàu (Taung Kyaung), làng Oke-aing. Nghe nói rằng trong ngôi tháp ấy, xương của Ngài đã được để chung với xương của hai vị trụ trì khác. Riêng các viên xá-lợi thì được chia ra để các nơi thỉnh về cúng dường; hiện có thể chiêm bái tại chùa Oke-aing và tại tu viện Maung Htaung Yunn Satt. Ngài Kani Sayadaw cũng đã thỉnh bảy viên xá-lợi về và thường xuyên dâng đèn cúng dường hàng đêm. Chính người viết bản tiểu sử này cũng đã thỉnh một phần xá-lợi từ Ngài trụ trì tu viện Yunn Satt để cúng dường. Những viên xá-lợi này là những phần đầu tiên được trích ra từ tráp xá-lợi vốn đã được niêm phong kỹ lưỡng tại chùa Oke-aing kể từ khi Ngài viên tịch (Parinibbāna). (Xem ảnh minh họa). Khi tận mắt chứng kiến xá-lợi hiện ra sau lễ hỏa táng kim thân của Ngài, hàng tứ chúng đệ tử đều không khỏi xúc động, vừa thương tiếc vừa hân hoan xen lẫn niềm tàm quý sâu sắc. Một số người cung kính suy tôn Ngài là bậc **Thế-đầu A-la-hán** (Samasīsī Arahanta) — tức là hạng A-la-hán nhập Niết-bàn ngay sau khi đắc quả. (**Về ba hoặc bốn loại Samasīsī Arahanta, có thể xem chi tiết tại: Puggala-paññatti Pāḷi-116; Abhi-ṭṭha-3. 37, Aṅ-ṭṭha-3, 149; Saṃ-ṭṭha-1, 168; Paṭisaṃ-ṭṭha-1, 39.**). Tuy nhiên, dù thời gian từ khi đắc quả đến khi viên tịch không dài, nhưng cũng không thể khẳng định chắc chắn Ngài thuộc hạng Samasīsī. ### Có phải vị A-la-hán nào cũng để lại xá-lợi? Tại đây, thiết nghĩ cũng cần trình bày sơ lược để quý vị am tường thêm về câu hỏi: "Có phải tất cả các bậc A-la-hán khi nhập Niết-bàn đều để lại xá-lợi hay không?". Xin được tóm lược như sau: Đối với chư Phật Chánh Đẳng Giác, việc để lại xá-lợi là điều hiển nhiên không cần bàn cãi, như đã được ghi rõ trong **Kinh Đại Bát Niết-bàn** (Mahā-parinibbāna Sutta). (**Sutta Mahā-vagg-aṭṭhakathā-196**). Với chư Phật Độc Giác (Paccekabuddha), trước khi nhập Niết-bàn, các Ngài phải nhập định thần thông và phát nguyện ## TRANG 251 thì mới có thể để lại xá-lợi. (**Sutta-nipāta Aṭṭhakathā - Ratana Sutta; Khaggavisāṇa Sutta-117**). Đối với các bậc Đại A-la-hán cũng vậy, xá-lợi chỉ lưu lại khi các Ngài có lời phát nguyện tương ứng. (**Aṅ-ṭṭha-1, Vaṅgīsa-vatthu-209**). Xá-lợi của Ngài Sāriputta (Xá-lợi-phất) còn lưu lại trắng muốt như vỏ ốc mới mài. (**Mahā-vagga Saṃyutta Aṭṭhakathā - Cunda Sutta-254**). Ngài Đại đức Dabba thì thị hiện tọa thiền kiết già trên hư không, nhập định và phát nguyện dùng hỏa giới (tejo-dhātu) thiêu đốt kim thân đến mức không còn lại dù chỉ là một nắm tro tàn. (**Udāna Aṭṭhakathā - Dabba Sutta-389**). Có lẽ vì khi còn tại thế, Ngài Dabba từng bị vu khống và gặp nhiều lùm xùm liên quan đến sự thanh tịnh, nên Ngài đã không để lại xá-lợi chăng? Ngài Đại đức Bākula, bậc đệ tử trường thọ, vì không muốn làm phiền lụy đến người khác nên đã tự mình nhập hỏa giới trong tư thế ngồi để nhập Niết-bàn, khi ấy xá-lợi rơi xuống đẹp tựa những nụ hoa lài. (**Upari-paṇṇāsa Aṭṭhakathā Bākula Sutta-140**). Ngoài ra, còn một điểm đáng lưu ý đã được giải thích trong (**Chú giải Kinh Āmagandha thuộc Kinh Tập-303**): "Kim thân của các bậc A-la-hán đã đoạn tận lậu hoặc (kilesā āsava) thì sẽ không bao giờ phát ra mùi hôi thối". [Về các đốt xương nối kết, xin xem thêm chương về Ngài Mogok Sayadaw.] Qua những dữ liệu về việc lưu lại xá-lợi của Ngài U Sīla (trong lịch sử Phật giáo thực hành Myanmar) và vị Sayadaw này, chúng ta có thể tin tưởng và hoan hỷ khẳng định rằng các Ngài thực sự là những bậc **Khīṇāsava** (Bậc lậu tận) – những vị A-la-hán chân chính không hề nghi ngờ. ## TRANG 252 # NGÀI PINNÈ-KWIN SAYADAW U KALYĀṆA (1188 - 1270) Khi Ngài Pinnè-kwin Sayadaw U Kalyāṇa cùng vị Sayadaw đời thứ hai và thứ ba viên tịch, kim thân của cả ba vị đều không bị hư nát hay phát mùi, mà vẫn giữ nguyên vẹn cho đến tận ngày nay. Tiểu sử của vị Sayadaw đời thứ nhất, Ngài U Kalyāṇa, đã được một người tên là Maung Kyaw Din biên soạn cách đây khoảng 80 năm. Do được viết theo lối văn vần biền ngẫu nên một số ý nghĩa còn chưa được rõ ràng. Trên bìa sách có in hình của vị Sayadaw đời thứ hai là Ngài U Vāyama. Cuốn sách chỉ vỏn vẹn 18 trang. Các vị hộ độ chùa (kyaung daka) được nhắc đến là Bo Pan Ya và U Par. Ngài sinh vào thứ Hai, ngày 13 tháng Hai (tháng Wazo thứ hai) năm 1188 tại thị trấn Shwedaung, là con của bà Daw Rit, tên thuở nhỏ là Maung Chein. Sau khi thông thạo các kinh điển pháp học, Ngài từ Shwedaung đến lưu trú tại làng Pinnè-kwin. Ngài cũng đã đón mẹ già về để tận hiếu phụng dưỡng. Pinnè-kwin thuộc huyện Okepho (Ingapu), nằm gần dãy núi Arkan (Phía Tây), thuộc cụm sáu làng Kwin-kauk. Sau khi trú tại chùa làng được 7 hạ, đến hạ thứ 12, Ngài bắt đầu du phương hành đạo tại 15 trú xứ rừng núi (dhutaṅga) trên dãy núi phía Tây, bao gồm các đỉnh núi cao nhất như núi Thit-say, núi Kabyo (Kan-pyo), núi Yan-kin, núi Kywema-thanar, núi Ko-kwe, núi Ko-maung, núi Sai, v.v. Tại mỗi nơi trong số 15 trú xứ này, Ngài đều cho xây dựng các bảo tháp kỷ niệm. ## Thần lực của Pháp và những chuyện kỳ diệu Vì Ngài lưu trú tại những vùng núi rừng hẻo lánh, xa dấu chân người, nên đã nhiều lần phải đối mặt với các loài thú dữ như voi rừng, hổ dữ, những loài đại xà có thể quấn chết cả trâu bò, cũng như nhiều hạng phi nhân như Thiên nhân đọa lạc (Vemānika Peta), ngạ quỷ (Peta). Những cuộc chạm trán này đều được ghi chép tỉ mỉ từng sự kiện một theo lối thơ vần trong bản tiểu sử. Đây là minh chứng hùng hồn cho thấy oai lực của lòng Từ (Mettā) còn đáng tin cậy và mạnh mẽ hơn cả những thần thông biến hóa như độn thổ hay phi hành. Những chuyện kỳ đặc được nghe kể lại qua lời của ông U Ohn Myint (con trai của ông U Lu Hla – người từng được diện kiến Ngài) cũng nhiều vô số kể. ## TRANG 253 ### Bậc A-la-hán và các bậc cao nhân Xin lược thuật một vài chuyện phi thường về Ngài: (1) Khi Ngài trú tại núi Kywematat-nar, rất đông người đã đến đảnh lễ Ngài. Một ngày nọ, có một nữ thiện tín đến tắm ở hồ nước tự nhiên (Nāt-ye-kan - hồ nước Thiên), ngay sau đó hồ nước bỗng cạn khô. Bà trình sự việc lên thiền sư, và chỉ trong vòng vài giờ đồng hồ, nước lại phun ra đầy hồ như cũ. (2) Khi Ngài ngụ tại núi Kampyo, vào lúc quá nửa đêm, người dân sống ở khu vực xung quanh thường nghe thấy tiếng nhạc trời du dương vang lừng trên không trung. (3) Tại núi Yankin, trong khi sửa chữa một ngôi bảo tháp cổ bằng cách xây trùm lên một lớp mới, chiếc lọng (hti) cũ bám chặt đến mức sức người không sao tháo xuống được. Khi mọi người đang định bỏ cuộc thì bất ngờ một trận động đất xảy ra, làm chiếc lọng rụng xuống đất mà vẫn nguyên vẹn không hề hỏng hóc. (4) Cũng tại núi này, có khoảng ba bốn mươi người đến dâng vật thực. Mỗi khi họ đến, hầu như không ai tìm thấy Ngài trong tăng phòng. Nhưng hễ đến giờ dùng bữa, khi nghe tiếng chuông (khốc) báo hiệu, Ngài lại xuất hiện ngay trước mặt họ. (5) Tại hang Nankathu, Ngài thường chỉ ở cùng một người hộ tăng (kappi-ya). Có những chúng sinh giống như Naga hay rắn lớn xuất hiện, Ngài thường ban lệnh: “Thiện nam tiến lên, thiện nữ lùi lại”, và chúng đều tuân theo để Ngài thuyết Pháp. Ngài cũng thuyết Pháp cho các loài chúng sinh huyền bí (būta) khác. Một lần nọ, khi tìm thấy các kho báu, do người hộ tăng nảy sinh tâm bất thiện nên cửa hang bỗng đóng sầm lại, khiến Ngài phải quở trách người hộ tăng đó... v.v. Năm 1270 (Miến lịch), Ngài chuyển về ngôi chùa trong làng. Khoảng hai năm sau, vào tuổi 82, Ngài đã viên tịch. Lễ trà tỳ được tổ chức vô cùng trang nghiêm. Khi sắp hỏa táng, nhục thân của Ngài vẫn tươi nhuận như người đang nằm ngủ tự nhiên mà không qua bất kỳ sự bảo quản nào, nên đại chúng đã đưa Ngài vào tháp tôn thờ. Hiện nay tại núi Kampyo, Phật tử từ bốn phương vẫn thường xuyên đến đảnh lễ. Tương truyền nhục thân Ngài không hề bị khô héo, ngay cả tóc và lông vẫn còn nguyên vẹn. ## TRANG 254 # Thiền Sư Gu-Phyu Taw-Ya Ở Yesagyo ### (1191 – 1281) Ngài sinh năm 1190 (Miến lịch) tại làng Thazi, cách thị trấn Yesagyo khoảng ba dặm về phía Tây Bắc. Thân phụ là ông U Htat, thân mẫu là bà Daw Ngo. Thuở nhỏ tên là Maung Kyaw Ywe, Pháp danh là Ashin Medhā. Ngài học pháp tại làng Kyauk-khat, sau đó tiếp tục cầu học với Thiền sư Yesagyo **U Varasambodhi**, các bậc Trưởng lão tại chùa Bhākarā và chùa Nannyaung ở kinh đô Inwa. Ngài đặc biệt nổi danh về trì giữ Luật tạng, được xem là bậc chuẩn mực cho đời sau. Ngài được tương truyền đã thuyết giảng bộ **Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga)** và Tam Tạng Kinh điển tới 52 lượt. Suốt 72 hạ lạp trong tổng số 91 năm cuộc đời, Ngài luôn trì giữ trọn vẹn 13 hạnh đầu đà (dhutaṅga), đặc biệt là hạnh trì bình khất thực. Chỉ đến 11 ngày cuối đời trước khi viên tịch, Ngài mới thôi đi khất thực. Trong những vật thực khất thực được, nếu có loại gạo trắng ngon, Ngài đều dành cúng dường lên chư Tăng; còn phần mình, Ngài chỉ dùng loại gạo đỏ, gạo thô. Ngài không mang dép, không che lọng, không dùng quạt, chỉ cầm một chiếc lá thốt nốt được tỉa sơ qua cho vừa vặn. ### Ngài Mohnyin Sayadaw từng cầu học Vị thiền sư lừng danh Mohnyin Sayadaw khi mới xuất gia tầm đạo, trước khi gặp Ngài Ledi Sayadaw, đã từng có ba tháng cầu học với Ngài Gu-Phyu Sayadaw. Trong tập **Mohnyin Therāpādāna (tử vi Trưởng lão)** (trang 82-83), đệ tử của Ngài là U Kovida đã ghi lại như sau: [ “Đức thầy (Ngài Gu-Phyu) không tiếp khách, không nói chuyện phiếm, Ngài ở một mình trong ngôi chùa vắng để nỗ lực hành thiền. Ban đêm, Ngài giăng một sợi dây thừng băng ngang qua tăng xá, luồn vào đó một ống tre. Ngài cầm ống tre đó để giữ thăng bằng rồi đi kinh hành không ngừng nghỉ. Đôi khi do quá buồn ngủ, Ngài va đầu vào vách tường nghe một tiếng 'đùng', khi đó Ngài chỉ thốt lên: 'Ôi khổ thay, khổ thay! Thùy miên (thina-middha) thật là lợi hại!', rồi lại tiếp tục bước đi. Ngài hành trì miên mật như vậy cho đến tận hừng đông. Do sự tinh tấn quá đỗi thiện lành đó, người dân cả vùng đều tôn xưng Ngài Gu-Phyu là bậc A-la-hán.” ] Những ghi chép từ các cuộc vấn đáp của Ngài Shwe Hintha Sayadaw ở Sagaing về vị thiền sư này cũng vô cùng thú vị. Quý vị có thể tham khảo thêm trong bộ “Lịch sử Giáo hội Shwegyin Nikāya”. ## TRANG 255 ### Bậc A-la-hán và các bậc cao nhân ### Đến Trưởng lão U Sīla cũng phải kính nể Ngay cả Trưởng lão U Sīla, người lừng danh ở vùng Hạ Miến là bậc A-la-hán, cũng từng có lời tán thán rằng: “Ngài Gu-Phyu còn cao thượng hơn cả chúng ta nữa”. Lời này dường như ám chỉ đến sự nghiêm cẩn tuyệt đối của Ngài trong trì giữ Luật tạng. Thời kỳ của Ngài Gu-Phyu Sayadaw cũng là lúc khoa học kỹ thuật bắt đầu phát triển, các loại phương tiện, thực phẩm, trang phục đang dần thay đổi theo xu hướng hiện đại. Các bậc Trưởng lão thời đó thường không bận tâm nghiên cứu xem vật dụng này làm từ gì hay cấu tạo thế nào, mà giữ lập trường rằng: “Cái gì mới lạ, kỳ dị thì tốt nhất là không dùng để tránh vi phạm giới luật”. Vì thế, trong một số trường hợp, dù vật dụng đó là hợp lẽ (kappiya) theo Luật tạng, các Ngài vẫn chấp nhận chịu khổ hạnh không dùng tới, khiến người ngoài nhìn vào có cảm tưởng các Ngài quá cứng nhắc. Dù thế nào chăng nữa, “Luật tạng là mạng mạch của giáo pháp”, tấm gương của các Ngài thật xứng đáng cho hậu thế kính ngưỡng và noi theo. Đây cũng là điều nhắc nhở cho chư vị tăng sĩ thời nay, khi mà các sản phẩm khoa học công nghệ đang phát triển không ngừng. Vào thời điểm đó, có ba vị Trưởng lão là **U Sīla**, **Sayadaw Khin Mon** ở thành Alon và Ngài Gu-Phyu đều không muốn đi xe lửa khi phương tiện này mới xuất hiện. Ngài Gu-Phyu hỏi Ngài Khin Mon: “Theo kinh điển, việc đi xe lửa thời nay là nên hay không nên, ông hãy trả lời xem?”. Rồi Ngài tụng đọc lại các đoạn Luật tạng Pāḷi về sáu loại phương tiện mà người không có bệnh (gilāna) không nên sử dụng là: kiệu, xe, xe bò, võng, cáng, cán tay. - Ngài hỏi tiếp: “Vậy các loại xe lửa chạy ngược xuôi giữa Mandalay và Yangon hiện nay thì có hợp lẽ không, ông thấy thế nào?”. - Ngài Khin Mon hỏi ngược lại: “Muốn biết thế nào thì ông hãy mô tả cách thức vận hành của cái xe lửa đó tôi xem?”. - Ngài Gu-Phyu đáp: “Tôi có bao giờ thấy nó đâu mà biết kể!”. - Ngài Khin Mon cười nói: “Nếu cả hai ta đều chưa từng thấy nó thì làm sao có thể đưa ra quyết định hợp lẽ hay không được?”. - Ngài Gu-Phyu kết luận: “Vậy thì không đi là chắc chắn không có lỗi rồi!”. Cuộc thảo luận về việc đi xe lửa khép lại như thế. Cuộc gặp gỡ và đối thoại giữa Trưởng lão **U Sīla** và Ngài Gu-Phyu Sayadaw cũng được ghi lại trong cuốn **U Sīla Atth-uppatti (Tiểu sử Ngài U Sīla)**. Qua những lời đối đáp và phong thái ứng xử của các Ngài, ta có thể thấy rõ trái tim thuần khiết của những bậc thiện tri thức. Khi Ngài U Sīla đến Bago và trú tại chùa Leikpyakan, thì Trưởng lão Pakhan từ rừng Gu Phyoo ở Pakokku, vùng Yesagyo, Thượng Miến đã đi thuyền từ Yangon đến Bago thăm Đại Đức. ## TRANG 256 Vị ấy lớn hơn ngài một hai hạ lạp, và giữa hai vị vốn đã có sự tôn kính lẫn nhau qua các tin tức từ trước. Khi gặp, Ngài Pakhan Sayadaw đã quở trách ngài: "Nghe nói ông đã bắt đầu đi xe lửa rồi. Có thật vậy không?" "Con bắt đầu đi từ dịp đi cung thỉnh kiết giới Sīmā ở Ouktwin. Xin Ngài từ bi dạy bảo. Con xin thành tâm thọ giáo," Ngài cung kính chắp tay nhận lỗi. "Nếu lâm bệnh, sức khỏe yếu kém thì không thể trách được. Riêng ta thì vẫn còn khỏe mạnh," vị Trưởng lão phán bảo. Khi đó, thái độ nhận lỗi của Hòa thượng (**U Sīla**) tĩnh lặng như một pho tượng A-la-hán được tôn trí cạnh đức Phật, khiến những người chứng kiến không ai nỡ rời mắt. Mọi người cũng hết lời tán thán đức hạnh trì giới và định lực vô biên của Ngài Pakhan Sayadaw khi đã thẳng thắn quở trách Đức Hòa thượng. Lúc Ngài Pakhan Sayadaw ra về, Đức Hòa thượng đã gửi cúng dường y bát và rất nhiều vật phẩm thực phẩm, chất đầy cả một cỗ xe. Ngài viên tịch vào năm 1281 (Âm lịch Myanmar), thọ 91 tuổi. Ngài đã biên soạn hai tác phẩm để lại cho đời. Khoảng 50 năm trước, nhà in Guṇavatī ở Mandalay đã ấn hành một lần, và năm 1322 lại được nhà in Sudhammavatī tái bản. Lần thứ hai là do Ngài **U Visuddha** ở chùa Shwe Kyet Yet, Yangon (cháu của Ngài Gu Phyu Sayadaw) ấn tống, và trong bản in đó người ta còn được chiêm bái di ảnh của ngài. Hai tác phẩm đó có tên là "Diṭṭhiviccheda Pakāsanī" và "Dhātubhedavinicchaya". ## TRANG 257 ### Ngài Migadāyon Sayadaw ở Pathein ( 1194 - 1238 ) Câu chuyện về Ngài Migadāyon Sayadaw (pháp danh **U Sumanācāra**) ở thành phố Pathein khiến người đời vô cùng khởi tâm tịnh tín vì sau hơn 30 năm viên tịch, nhục thân của ngài vẫn còn được tìm thấy một cách nhiệm mầu. Ngài quê ở thành phố Amarapura, xuất thân từ dòng dõi Bà-la-môn. Ngài được cho là có dòng máu Manipur (Kathe), cùng huyết thống với Ngài Shan Kalay Kyun Sayadaw và vị Nữ tu nổi tiếng Daw Kin. Ngài sinh vào sáng sớm ngày thứ Sáu, mùng 10 tháng Nayon năm 1194. Ngài đã theo học thông suốt Tam Tạng kinh điển với đức Tăng thống đời thứ hai (**Ashin Ñeyyadhamma**) và Ngài Shan Kalay Kyun Sayadaw. Ngài đã đi hoằng pháp tại các vùng Tanintharyi, Ye, Myeik, Dawei, sau đó qua Yangon, Letpadan, Hinthada và cuối cùng dừng chân tại Pathein. Có lẽ ngài đến Pathein vào khoảng năm 1238. ### Ngài Phyo Kwin Sayadaw Khi mới đến Pathein, ngài độc cư tu tập tại khu vực gần hồ nước ba tầng (hiện nay thuộc khuôn viên chùa Migadāyon). Thuộc thời đó, nơi đây vẫn còn là rừng sâu hẻo lánh, dấu chân voi hổ dày đặc. Ngài phải đi khất thực tận vùng Ah Thae Gyi Kone. Một ngày nọ, có một vị thí chủ phát rẫy gần tịnh thất mini của ngài, đã gom rác lại phơi khô để đốt. Sáng sớm hôm đó, ngài đang ngồi hành thiền định tĩnh bên cạnh đống rác ấy. Vị thí chủ châm lửa đốt rồi quay đi, đến khi nhìn lại thì thấy ngọn lửa đã bùng lên bao vây lấy ngài. Dù nỗ lực dập lửa nhưng không thành, vị ấy phải liều mình xông vào bế ngài đặt ra chỗ an toàn. Vị thí chủ vô cùng lo sợ, không ngừng dập đầu xin lỗi. Ngài phán bảo: "Này thí chủ, ta không sao cả. Ta kham nhẫn được. Đó là do con không biết mà làm thôi," lúc đó vị ấy mới an lòng. ## TRANG 258 ### Di dời vì sự náo động của dân chúng Cứ như thế, ngài trú ngụ tại khu vực đó để tu tập định và tuệ (Samatha và Vipassanā). Tại mỗi khu phố, ngài chỉ đi khất thực trong ba ngày, đồng thời nghiêm trì các khổ hạnh (dhutaṅga) như hạnh đầu đà ở nghĩa trang. Do những giấc mơ về việc "có một vị A-la-hán đi khất thực" và những lời đồn thổi, số người đến cúng dường và chiêm bái đông đảo đến mức làm gián đoạn việc tu tập. Ngài phải liên tục di dời từ nơi này sang nơi khác như Thit Nyo Kone, Myo Chaung, Ta Kone Gyi, Koe Thaung, Yay Twin Kone, Yay Kyaw Gyi ở phía đông Pathein. Dần dần, ngài bắt đầu thuyết giảng giáo pháp và giáo giới ngắn gọn. Đến năm 1242, ông U Kala và vợ chồng ông buôn chuyến U Yan Saik - bà Daw Chin Ma ở khu vực Ah Thae Gyi đã xây dựng ngôi chùa kính (Hman Kyaung) cúng dường, nên ngài rời nơi tu hành biệt lập để về trú trì tại chùa Migadāyon hiện nay. Thí chủ U Yan Saik mỗi ngày đều đi bộ hơn hai ba dặm từ nhà đến chùa, vì ông không biết chán khi được chiêm bái hào quang phát ra từ thân của ngài khi đang hành thiền. Việc buôn bán và gia sự đều được giao cho bà Daw Chin Ma. Bà nhận thấy việc kinh doanh vô cùng thuận lợi: gạo bán mãi không hết, các hũ dầu luôn tràn đầy, từ đó bà càng thâm tín vào quả báo hiện tiền (**Diṭṭhadhamma vedaniya kamma**). Năm 1243, họ còn xây thêm một tòa tàng kinh các. Trong lễ khánh thành, Ngài Okpo Sayadaw đã cùng đoàn tùy tùng đến chứng minh và lưu lại tu học suốt một mùa An cư. ### Vẻ đẹp của Chánh niệm — Nhìn đâu cũng thấy trang nghiêm Theo thời gian, bốn oai nghi đi, đứng, nằm, ngồi của ngài đều toát ra vẻ thanh tịnh khiến người ta phát tâm tịnh tín. Ngài luôn giữ mắt nhìn xuống, không nói lời vô ích. Ngay cả với thị giả thân cận, ngài cũng chưa bao giờ để lộ các phần bên trong của y, luôn đắp y cực kỳ trang nghiêm và kín đáo ngay cả ở nơi khuất vắng. Khi dùng bữa, từ việc lấy cơm, ăn, nuốt cho đến cầm muỗng bát, tất cả đều nhẹ nhàng, thanh thoát. Nhờ đó, bất cứ ai được chiêm bái ngài đều cảm nhận được chất liệu an lạc, tĩnh tại thấm đẫm vào lòng, nhìn mãi không thấy chán. ## TRANG 259 “Từ tâm ý khởi lên suy nghĩ, cho đến mọi cử động, xúc chạm hay tạo tác thuộc về thân hành, tất cả đều được quán sát, ghi nhận liên tục; đó gọi là thực hành giáo pháp. Trạng thái tỉnh giác và ghi nhận đó (**Sambajañña Satipaṭṭhāna**) luôn hiện hữu một cách tự nhiên nơi tâm của các bậc Thánh giả cao thượng (Ariya).” Tuy lời dạy này chưa được thấu hiểu tường tận bởi nhiều người, nhưng lòng kính ngưỡng vẫn thôi thúc họ, thậm chí có những người nảy sinh ý định nhìn trộm qua khe cửa vào tận phòng riêng của thiền sư chỉ để được chiêm ngưỡng ngài cho thỏa lòng. Thời Đức Phật, bà đại thí chủ **Visākhā** sở hữu vẻ đẹp kiều diễm đến mức khó có thể phân biệt bà với các con gái và cháu gái của mình. Người đời khi nhìn thấy bà, nếu lúc bà đang cúi xuống thì họ e sợ rằng bà sẽ ngước lên; còn khi bà đang ngước lên, họ lại tiếc nuối nếu bà cúi xuống. Bởi lẽ, bất cứ tư thế hay cử chỉ nào họ nhìn thấy ở bà cũng đều khiến họ muốn tận hưởng vẻ đẹp ấy mãi mà không muốn thay đổi. Thực chất, vẻ đẹp của bà **Visākhā** không phải chỉ là vẻ đẹp tự nhiên thông thường. Có một vẻ đẹp không bao giờ phai nhạt, luôn tỏa sáng rạng ngời, đó chính là vẻ đẹp của các bậc Thánh, vẻ đẹp của sự thực hành **Satipaṭṭhāna** (Tứ Niệm Xứ). (Những ai mong muốn xinh đẹp, hãy tinh tấn hành thiền!) “Đức Phật **Gotama** ngay cả khi thọ thực cũng không bao giờ ăn một cách vô ý. Trong mỗi miếng ăn, Ngài đều thọ dụng với tám mục đích rõ ràng.” Những chi tiết tỉ mỉ về oai nghi của Đức Thế Tôn như thế đã được thanh niên **Uttara** quan sát và kể lại cho thầy mình là vị Bà-la-môn **Brahmāyu**. Tương tự như vậy, có không ít người lặn lội đến cúng dường thiền sư chỉ vì lòng thành kính sau khi được chứng kiến phong thái thọ thực trang nghiêm (vẻ đẹp thoát tục) của ngài. Khi thiền sư tuổi tác đã cao, ngài bàn giao bốn mươi vị đệ tử Tăng cho vị trụ trì **U Sudassana** quản lý; còn phần mình, ngài dành trọn thời gian an trú trong sự thực hành **Appamāda Satipaṭṭhāna** (Tứ Niệm Xứ với tâm không phóng dật). Khi ngài ngoài tám mươi tuổi, cơ quan thính giác (thần kinh tai) bị suy giảm, mọi việc trình thưa đều phải dùng thư viết tay. Khi trai phạn đã chuẩn bị xong, chính Ngài **U Sudassana** phải vào tận phòng để thỉnh ngài. Khi bước ra khỏi phòng, y bát của ngài luôn được quấn chỉnh tề, ngay ngắn, tấm y tăng-già-lê (du-gu-t) vắt trên vai trái; khi ngồi xuống, ngài cũng ngồi một cách nhẹ nhàng, từ tốn. Lúc trở vào phòng, ngài cũng bước đi thong thả và an tĩnh như vậy. ### Giấc mơ và sự lễ kính của Thiền sư Manle (Màn-lề) Vào năm 1268 (Miến lịch), khi ấy ngài đã bảy mươi tuổi, ngài thường xuyên ẩn tu và quán chiếu trong ngôi nhà gạch một tầng do hai vị thí chủ **U Tha** và Daw Saw đặc biệt xây cúng dường. Cho đến khoảng năm tám mươi tuổi, ngài vẫn thường đi đến nghĩa trang vào ban đêm. ## TRANG 260 Vào năm 1281 (Miến lịch), **Thiền sư Manle** đã đến Pathein. Khi ấy, việc lắp đặt đèn điện tại đại bảo tháp Shwemokhtaw đã gây ra tranh luận giữa vị Trưởng lão U Paduma ở Pathein và những người khác về việc có phù hợp với Luật tạng (Vinaya) hay không; ngài (Manle) đến để phân xử. Ngài đã cư ngụ ngay trên sân chùa, vừa thuyết pháp cho hàng đệ tử, vừa dập tắt được sự tranh chấp ấy. Một đêm nọ, **Thiền sư Manle** nằm mộng thấy một giấc mơ lạ kỳ. Ngài thấy một vị thiền sư có phong thái vô cùng trang nghiêm và thanh thoát đang đi kinh hành ngay trên trán của mình. Theo điềm báo của giấc mơ, ngài bắt đầu tìm hỏi về những bậc cao đức đặc biệt, và khi nghe danh tiếng của Thiền sư Migadayon, lòng ngài khởi lên niềm kính tin sâu sắc, bèn mang các phẩm vật đến đảnh lễ. Ngài Migadayon cũng đáp lễ bằng cách tặng lại các phẩm vật cúng dường, sau đó hai vị cùng đàm đạo về Phật sự rồi ngài (Manle) ra về. Khi vừa đến cổng tu viện, vì cảm thấy việc chiêm bái thiền sư vẫn chưa đủ thỏa lòng, ngài Manle đã quay trở lại một lần nữa. Do đang trong chuyến hành trình nên ngài cảm thấy các vật phẩm cúng dường chưa thực sự xứng đáng với sự cao thượng của vị thiền sư, lòng ngài vẫn chưa thấy an tâm. Bất chợt, ngài nảy ra ý định và thưa thỉnh xin được cúng dường tấm y đại bào bằng nhung vô cùng quý giá mà ngài đang khoác trên mình. “Thiền sư Manle là bậc đại phước đức, một bậc thiện trí thức xuất chúng. Do đó, tấm y quý giá mà ngài ấy cúng dường, ta không xứng đáng được khoác lên. Hãy đem tấm y này đắp lên kim thân Phật nhập Niết-bàn đang ngự trong tòa Sima (giới đường) lớn,” thiền sư (Migadayon) phán bảo. Theo lời ngài, các vị thí chủ gần đó đã mang tấm y đi thành kính dâng lên kim thân Đức Phật. ### Đời tư của vị Tăng thống (Sāsanāpaing) Thiền sư Migadayon cũng là bậc uyên thông về Pháp học (Pariyatti). Ngài đã soạn thảo nhiều bộ luận như: **Dasasīlavinicchaya**, **Vandanādivinicchayakathā**, **Sakkāyadiṭṭhikathā**, **Ovādakathā Cātān**, **Yathāvinayavapanāyika** (tập 1, 2)... trong khoảng năm 1271 (Miến lịch). Sau khi Ngài Okpho Sayadaw và Ngài Letpadan Mahābodhiwan Sayadaw – những vị Tăng thống (Sāsanāpaing) đời thứ nhất và thứ hai của giáo hội Dwara – lần lượt viên tịch vào năm 1260 và 1275, thiền sư đã được suy tôn làm vị Tăng thống đời thứ ba từ năm 1275. Tuy nhiên, thiền sư vẫn luôn giữ vững tôn chỉ xem việc hành trì **Satipaṭṭhāna Ānāpāna** (Niệm hơi thở và Tứ Niệm Xứ) là phận sự cốt lõi, là công hạnh của giáo pháp đúng theo ý nguyện của Đức Thế Tôn, và ngài đã miên mật thực hành cho đến trọn đời. ## TRANG 261 Không có sự sở hữu nào cao quý bằng việc làm chủ được chính mình. Nếu một người chưa thể làm chủ được ngay cả chính bản thân (hay nói cách khác là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý của mình) mà lại muốn làm chủ hay cai quản những chúng sinh và vật chất khác, thì đó là một trạng thái đáng sợ nhất của kiếp sống. “**Sarī** (Sa + Īra = Pavattana) **Sayaṃvasi** = Tự chủ theo ý mình, tự cai quản chính mình, có khả năng điều phục bản thân” là điều vô cùng quan trọng ở thế gian này. Phần lớn mọi người vì không làm chủ được (tâm của) chính mình, nên khi nhìn thấy gì thì tâm chạy theo cái thấy, nghe thấy gì thì tâm trôi dạt theo cái nghe. Nếu không dễ dàng tiếp xúc với một đối tượng nào đó, họ cũng cảm thấy bận rộn ngay cả khi đang ngồi yên để tìm kiếm và suy tính về các đối tượng ấy. Vì cứ mải chạy theo mỗi khi thấy hay nghe, họ không thể dùng những gì thấy nghe được làm thức ăn cho tâm (không thể quán sát ghi nhận), mà trái lại bị các đối tượng tác động, đánh đập tùy theo sự tốt xấu của chúng, khiến họ luôn bị chìm nổi giữa những đợt sóng của bát phong (thế gian pháp). ### Kim thân kỳ lạ Thiền sư là bậc cao niên, nhờ trí tuệ dự tri được thời khắc cuối cùng, nên từ khoảng năm 1279 (Miến lịch), ngài đã cho xây dựng một bảo tháp gạch theo đúng ý nguyện. Ngài cũng hạn chế lời nói đến mức tối đa và thường an trú một mình. Vào năm 1282, cây Lin-lun (một loại cây linh thiêng) được mang về từ Tích Lan và ba cây Pauk lớn trước ngôi nhà gạch của thí chủ **U Tha** bỗng nhiên khô héo cành lá rồi tự chết đi. Khi ấy, thiền sư đã dặn dò: “Khi ta qua đời, đừng hỏa táng kim thân, cũng đừng tổ chức lễ hội linh đình, hãy đặt ta vào trong bảo tháp gạch này.” Vào ngày 12 tháng Tư nhuận năm 1283 (Miến lịch), khi ngài 89 tuổi, ngài đã xả bỏ báo thân, tịch diệt trong sự tỉnh giác (**Appamāda**), mà không hề phải chịu đựng bất kỳ sự đau đớn hay bệnh tật nặng nề nào. Kim thân của ngài vẫn hồng hào, rạng rỡ như người đang sống, nên cho đến tận tháng Tabaung năm đó, thiên hạ vẫn kéo đến đảnh lễ rất đông. Vì quá đỗi kính ngưỡng, họ đã dát vàng lên cả gương mặt và phần đầu của kim thân ngài. Do có sự việc kẻ xấu muốn lấy trộm kim thân, nên cuối cùng vào ngày 12 tháng Tà-băng (Tabaung), lễ trà tỳ (an táng) cuối cùng đã được tổ chức. Kim thân được đặt vào trong ba lớp quan tài: quan tài gỗ tếch, quan tài đồng và quan tài kính, rồi đưa vào trong bảo tháp. Vị thí chủ tu viện là **U Tha** đã xây dựng thêm một ngôi tháp gạch kiên cố bao quanh để không ai có thể xâm phạm, và phía trên được xây thành một ngôi bảo tháp (Ceti). ## TRANG 262 Các bậc Thánh giả cao thượng đã dùng chính thân mình để thực hành thực tế, làm gương đi đầu trong việc chứng minh ân đức **Thiết thực hiện tại** (*Sandiṭṭhiko*) và **Không thời gian** (*Akāliko*) của giáo pháp Đức Thế Tôn. Các Ngài không chỉ tự mình đạt được an lạc, trở thành bậc **Ứng cúng** (*Aggadakkhiṇeyyo*) tối thượng, mà còn giúp cho đông đảo chúng sinh có được sự an vui, lợi ích trong hiện tại cũng như trong vòng luân hồi. Ông U Alice – Bà Daw Sein cùng các con tại thành phố Pathein, vốn là những người theo Thiên Chúa giáo gốc, cũng đã trở thành Phật tử ngay từ khi ngài Trưởng lão còn tại thế. Họ đã y giáo phụng hành theo lời dạy của ngài để phụng sự giáo pháp. Nhờ tuân giữ những lời chỉ dạy của ngài mà việc làm ăn kinh doanh của họ ngày càng phát triển, giàu có rõ rệt, cũng giống như trường hợp của ông U Yan Saik và bà Daw Chin Ma. Sau khi ngài Trưởng lão viên tịch, vào năm 1940, họ đã xây dựng và cúng dường một ngôi chùa lớn hai tầng. [Về chuyện các thí chủ xây chùa đã trở nên giàu có lạ thường, không hề bị hao hụt tài sản do việc cúng dường, xin xem thêm trong cuốn "Ân Đức Tam Bảo" do chúng tôi biên soạn.] Vào tháng Tabodwe năm 1318 (âm lịch), tức 35 năm sau khi kim thân ngài được nhập tháp, ngài U Jineyya – vị trụ trì đời thứ tư của chùa Migadayon – vì một duyên sự đã cho khai quật các ngôi mộ. Khi khai quật, người ta phát hiện ra rằng không chỉ có kim thân của vị trụ trì đời thứ nhất, mà cả kim thân của vị trụ trì đời thứ hai (ngài U Sudassana) và đời thứ ba (ngài U Kusala) cũng được an táng chung trong các quan tài riêng biệt. Vì hai quan tài sau đã bị hư hỏng, mục nát nên được đem thả trôi sông. Riêng kim thân của ngài Trưởng lão trụ trì đời thứ nhất của chùa Migadayon thì lại hiện ra với những điều đặc biệt kỳ diệu đến khó tin: 2. Lớp quan tài ngoài bằng gỗ teak đã bị mối ăn sạch, nhưng khi chúng xâm nhập vào lớp quan tài đồng thiếc bên trong, người ta thấy mối chỉ làm tổ ngay bên cạnh kim thân của ngài Trưởng lão mà thôi. 3. Dù nằm dưới lòng đất suốt 35 năm dài, nhưng những tấm y đắp trên kim thân vẫn không hề bị mục nát hay hư hỏng. Mối cũng không hề đụng đến. Mặc dù có tổ mối ngay bên cạnh kim thân, nhưng y áo cũng như thân thể của ngài không hề bị tổn hại hay khiếm khuyết, các phần thân thể vẫn còn nguyên vẹn. Lớp vàng lá được dát lên trước khi nhập tháp cũng vẫn giữ nguyên màu sắc, không hề bị xỉn màu. ## TRANG 263 4. Khi tháp gạch – nơi tôn trí kim thân – được phá bỏ để khai quật, một mùi hương thơm ngát tỏa ra ngào ngạt. Vì kim thân của ngài không hề có mùi hôi, không bị khô héo hay hư hoại, trông như thể ngài vẫn đang nằm nghỉ một cách bình thản, nên người dân ở Pathein đã gọi đó là "Kim thân A-la-hán tái hiện", và cho đến nay họ vẫn đến đảnh lễ với lòng tịnh tín sâu sắc. [Chi tiết đầy đủ hơn xin tham khảo cuốn tiểu sử do ngài U Ācikkhana, thiền sư hướng dẫn phương pháp Tứ Niệm Xứ tại thành phố Pathein, biên soạn.] ## TRANG 264 # Trưởng lão U Sīla (1194 - 1269) Trong lịch sử các bậc tu hành theo **Pháp hành** (*Paṭipatti*) tại Myanmar, tiểu sử của Trưởng lão U Sīla vô cùng cao quý và đặc biệt. Không chỉ tu tập cho riêng mình, ngài còn khuyến khích các vị Tỳ-kheo có cùng quan kiến và giới hạnh thực hành lối sống ẩn dật nơi núi rừng, từ đó khai sáng và thành lập sơn môn Forest Sect (Tăng đoàn Lâm cư) ở vùng Hạ Miến. Ngài cũng đã thành lập các học viện Phật giáo lớn. Tự mình thực hành lối sống lâm cư mẫu mực, cuộc đời ngài đầy rẫy những điều kỳ diệu, đáng để soi rọi và đảnh lễ, giống như các bậc Thánh giả trong **Trưởng Lão Tăng Kệ** (*Therāpadāna*) thời Đức Phật. Tiểu sử của Trưởng lão U Sīla cũng rất khác biệt so với những bản tiểu sử thông thường. Đây không phải là tác phẩm được viết dựa trên quan điểm chủ quan của một soạn giả duy nhất. Thay vào đó, nó được tập hợp từ những thông tin được gửi về từ chư Tăng, Ni và Phật tử khắp nơi – những người đã từng quen biết hoặc được diện kiến ngài Trưởng lão. Tên và địa chỉ của người cung cấp thông tin đều được ghi chú rõ ràng kèm theo sự kiện. Không phải mọi thông tin gửi về đều được đưa vào; soạn giả đã kiểm chứng kỹ lưỡng nhiều lần, chỉ khi thấy hợp lý mới ghi chép lại. Soạn giả không ai khác chính là ngài Trưởng lão Nyaung Lay Pin Taw Ya (ngài U Ariya) – bậc **Đại tăng Chính trực bậc nhất** (*Aggamahāpaṇḍita*) lừng danh trong giáo pháp. Xét cả 3 yếu tố chính: nội dung viết, người viết và phương pháp viết, bản tiểu sử này đều vô cùng vững chắc và đáng tin cậy. Có thể nói rằng "Một bản tiểu sử như thế này chưa từng có tại Myanmar". Ngày nay, khi viết về lịch sử giáo phái hay tiểu sử của thầy mình, nhiều người thường có xu hướng chỉ đề cao "giáo phái của ta, thầy của ta", đó là điều rất đáng hổ thẹn. Những bản lịch sử giáo pháp và tiểu sử được viết một cách khách quan để tránh bị bậc trí giả chê cười là rất hiếm hoi. Thực ra, trong sự nghiệp phụng sự giáo pháp cao thượng và duy nhất này, không nên có sự phân biệt giữa "giáo phái của ta" hay "thầy của ta". ### Thời niên thiếu và giai đoạn học Pháp hành Trưởng lão U Sīla sinh ra tại ngôi làng Ah Tet Zine Gaine, cách thành phố Bago khoảng hai dặm về phía Bắc. Ngài sinh vào sáng thứ Sáu, lúc 8 giờ, ngày mùng 8 tháng Natdaw năm 1194 (âm lịch). Thân phụ là ông U Tun Aung, thân mẫu là bà Daw Cho. Anh chị em gồm có ông U Shwe Thar, ## TRANG 265 Bà mẫu thân Daw Cho, trong thời gian mang thai bậc hữu học (Bodhisatta), đã phát khởi ước muốn được gìn giữ giới hạnh (Sīla) mỗi ngày và chỉ muốn dùng các loại thực phẩm thuần chay. Bà đã thực hành đúng như những gì mình mong muốn. Đúng như câu nói: "Cái gai sắc nhọn ngay từ khi mới nhú", bậc hữu học ngay từ thuở nhỏ đã biết giữ gìn oai nghi tề chỉnh, biết hổ thẹn và ghê sợ tội lỗi. Cậu bé không hề kén chọn thức ăn, nếu có món gì ngon đều biết chia sẻ cho bè bạn. Ai xin món gì, cậu cũng rộng rãi cho đi mà không hề giấu giếm. Cậu chưa từng mắng nhiếc hay đánh đập ai, và thường thích chơi trò làm tu sĩ. Đối với bạn bè, cậu luôn có lòng nhẫn nhịn bao dung. Năm 10 tuổi, cậu đến học tại chùa của ngài U Hmu ở làng Kaw Pyin, gần bảo tháp Kyaik Dayya, phía tây bắc Pegu (Bago). Đến năm 12 tuổi, cậu được xuất gia Sa-di với pháp danh là **Shin Sīlasāra**. Vào tháng Tabodwe năm 1213 (theo lịch Myanmar), tại giới đàn (Sīmā) trên đồi tháp Kyaik Dayyone, làng Tanga, cậu đã thọ đại giới Tỳ-kheo với ngài trụ trì làng Pila Khat làm Thầy tế độ (Upajjhāya). Sau hai hạ lạp, ngài đến cầu học Pháp học (Pariyatti) tại trú xứ của ngài Bhone Gyi Pone (pháp danh **U Candālaṅkāra**) và ở đó cho đến khi được năm hạ. Chùa của ngài Bhone Gyi Pone khi ấy là một tu viện lớn với nhiều dãy liêu cốc bao quanh, tọa lạc tại góc đông bắc gần chợ lớn Pegu ngày nay, thường được gọi là chùa Htaung Kyaung. Ngay từ thời đó, ngài đã nổi tiếng là bậc khéo thuyết giảng và có lập trường kiên định. Năm 1218, khi được năm hạ, ngài đến học tại chùa của ngài U Medhāvī tại vùng Puzundaung Taung Lon Pyan, Yangon (nay là tu viện Kyaikhtiyo). Sau một mùa an cư, ngài trở về Pegu và học thêm một năm với ngài U Vaṇṇa tại chùa rừng Kalyāṇī, vị vốn là người cùng làng. (Thời bấy giờ, các khu vực như Kalyāṇī, Hinghakone vẫn còn là nơi hoang vu, có voi hổ ẩn náu. Ngay cả tượng Phật nằm Shwethalyoung khi ấy cũng bị đất vùi lấp thành một gò cao, đến mức xe bò có thể đi ngang qua bên trên. Mãi đến năm 1243 mới được khai quật và tôn trí lại). Năm 1220, khi được bảy hạ, ngài cùng hai vị pháp lữ đến học tại tu viện Ye Ngon, Ariyavaṃsa trên dặm đồi Sagaing trong một mùa an cư. Sau đó, ngài lại đến học tại tu viện Salin ở ngoại ô phía đông Mandalay thêm một năm nữa. Như vậy, bậc Trưởng lão đã dành trọn thời gian từ hạ thứ tám đến hạ thứ chín để chuyên tâm nghiên cứu Pháp học (Pariyatti), trước khi chính thức bước vào con đường tu hạnh đầu đà (Dhutanga) nơi rừng sâu. Dù cư ngụ tại bất cứ núi rừng nào, ngài vẫn song song thiết lập các trường Phật học lớn để hộ trì giáo pháp (Sāsana). Riêng phần mình, ngài nguyện trọn đời là bậc tu sĩ ẩn dật nơi rừng núi (Araññavāsī), một hành giả (Yogī) tiêu dao chốn lâm tuyền. ## TRANG 266 ### Thọ hạnh nghĩa địa và dấn thân vào rừng sâu Năm 1222, khi được chín hạ, phần vì lao lực do nghiên cứu kinh điển, phần vì quả báo từ ba-la-mật (Pāramī) quá khứ thúc giục, sức khỏe ngài suy giảm nên phải quay về quê nhà. Khi sức khỏe dần bình phục, ngài lần lượt chuyển đến trú ngụ tại làng La Ka Mut phía tây Pegu, làng Nyaung Pin phía nam chợ, và làng Kone Tan ở Kyaik Patine. Những nơi ngài dừng chân không phải là chùa chiền, mà chính là các bãi tha ma (nghĩa địa) của các làng đó. Vì những nơi này chưa đủ sự tĩnh lặng để gọi là tu viện rừng, nên ngài thường chọn những khu rừng cách xa làng mạc khoảng năm phà-lông (tương đương 500 tầm) để tịnh tu. Các vị pháp lữ cùng học ngày trước là ngài U Vaṇṇa (ở Kalyāṇī) và ngài U Sumana (người làng Nyaung Pin) cũng lần lượt vào rừng Kalyāṇī và vùng Shwe Natha phía đông để tu tập. Ngài U Ācara, vị đồng hành từ Mandalay về, cũng cùng ngài U Vaṇṇa vào rừng, sau đó chuyển đến vùng Krakhat Waing. Bậc Trưởng lão và ngài U Vaṇṇa khi ấy đã cùng nhau khích lệ ngài Bhone Gyi Pone – vị giáo thọ trưởng của tu viện Htaung Kyaung, một bậc có uy tín lớn và đông đảo đệ tử – cùng dấn thân vào con đường tu rừng. Ngài Bhone Gyi Pone vốn là bậc có sẵn đức tin và lòng tinh tấn (Saddhā-Viriya), lại là bậc thầy cũ của các ngài. Thời bấy giờ, các vị tu sĩ trẻ tu rừng không khỏi đau lòng khi thấy một số vị Tăng sĩ mải mê chạy theo những việc phi pháp như nuôi bò, nuôi xe, xem bói, chữa bệnh, tích trữ tiền bạc – những lối sống không như pháp, tà mạng và làm hỏng đức tin của cư sĩ (**Anesana, Micchājīva, Kuladūsana**). Với ý định cải thiện tình trạng này từ "ngọn đầu đàn", các ngài đã từng bước thuyết phục và dẫn dắt vị thầy của mình. Ngài Bhone Gyi Pone dần nhận ra những thói quen xấu của hàng Tỳ-kheo cư ngụ tại thôn làng (Gāmavāsī), thấy rõ sự dẫn dắt nguy hại của lưới ái dục, và hiện trạng những người không có giới hạnh (Alajjī, Dussīla) ngày càng đông đảo do chỉ biết bắt chước những thói hư tật xấu của nhau. Ngài tự suy xét: "Ta cai quản đông đảo tăng chúng, làm vị đứng đầu giáo khu, nhưng nếu chỉ bấy nhiêu thôi thì chưa đủ. Đó chỉ mới là chút công đức tầm thường, chức vị giáo thọ trưởng chưa thể đảm bảo an toàn trước hiểm họa của các cõi khổ (Apāya)". Từ đó, tâm nguyện xuất thế của ngài ngày một lớn mạnh. ### Trả ơn thầy bằng cách thiêu hủy đồ vật phi pháp Trong thời gian đó, Trưởng lão U Sīla cũng dùng nhiều phương cách để dẫn dắt vị thầy cũ của mình mà không làm tổn thương lòng tôn kính. Một ngày nọ, ngài khoác y mang bát từ trong rừng tìm đến tu viện của ngài Bhone Gyi Pone. ## TRANG 267 Ngài nhớ lại thuở còn nhỏ, khi chưa am tường luật tạng (Vinaya) và còn ở với ngài Bhone Gyi Pone đến hạ thứ năm, mỗi khi thầy có Phật sự cần đi xa, chính ngài thường là người đánh xe bò. Nhờ bản tính cẩn thận, làm việc gì cũng chu đáo khiến người lớn an tâm, ngài thường được thầy khen ngợi: "Vị Tỳ-kheo trẻ này đánh xe bò vừa nhanh lại vừa giúp sức cho bò được thảnh thơi". Vì thế, hễ có việc đi xa là ngài **U Sīla** lại được giao nhiệm vụ đánh xe. Nhưng chính những thói quen đó đã thôi thúc ngài **U Sīla**, sau khi đã tinh thông luật tạng, quyết định rời khỏi tu viện Htaung Kyaung. Vừa đi vừa hồi tưởng những chuyện cũ, ngài đã đến tu viện của ngài Bhone Gyi Pone. Tuy nhiên, ngài không bước vào trong viện mà dừng chân tại một nhà nghỉ (Zayat) bên ngoài. Ngài trải tấm da ngồi, vừa tu tập các đề mục thiền định (Kammaṭṭhāna) như tâm từ (Mettā), vừa suy xét cách để thưa chuyện với thầy. Ngài ở đó suốt hai ngày với quyết tâm rằng: "Nếu một vị Tỳ-kheo không có giới hạnh có thể làm hư hỏng hàng ngàn người khác, thì một vị Tỳ-kheo có giới hạnh cũng phải có khả năng dẫn dắt hàng ngàn người trở nên tốt đẹp". Việc ngài không vào trong tu viện là vì hầu hết các ngôi chùa đó thường có những phần xây dựng liên quan đến việc Tăng sĩ trực tiếp điều hành hoặc chỉ đạo làm những việc không phù hợp với giới luật (Payoga). Những vị Tỳ-kheo tôn trọng luật tạng thường không lưu trú tại những ngôi chùa như vậy, thậm chí không đảnh lễ các ngôi tháp nếu chúng được xây dựng phi pháp. Những ngôi chùa, tự viện không đúng pháp thì dù là bậc tu hành cũng không nên thọ dụng, vì hễ chạm vào là phạm tội (Āpatti). Những người thí chủ thiếu trí tuệ khi cúng dường những nơi như vậy cũng bị tổn giảm phước báu. Những người không hiểu rõ lý lẽ này thường lầm tưởng rằng các ngài đang "làm cao" hoặc quá khắt khe. Biết ngài U Sīla đang ở nhà nghỉ, ngài Bhone Gyi Pone đích thân đi ra gặp. "Này đại đức, tại sao về đến đây mà không lên chùa lại ở chỗ này? Ông thấy tôi có lỗi lầm gì sao?" Ngài Bhone Gyi Pone hỏi. "Bạch thầy, thầy là bậc ân sư vĩ đại của con. Nhờ ơn thầy mà con mới thông suốt các kinh điển luật tạng. Vì thấy có những điều chưa phù hợp với luật tạng nên con muốn báo đáp ân đức của thầy, hiện con đang chờ đợi cơ hội thích hợp để trình thưa." Ngài U Sīla bạch lại. Nghe vậy, ngài Bhone Gyi Pone không những không giận mà còn tỏ lòng hoan hỷ. Ngài phán rằng: "Này đại đức, tôi có rất nhiều đệ tử nhưng tôi chỉ tin cậy mỗi ông. Nếu có điều gì không đúng, xin hãy sửa chữa giúp tôi, đừng bỏ mặc tôi. Tôi cho ông toàn quyền quyết định mọi việc." Được lời như cởi tấm lòng, ngài U Sīla bạch: "Nếu thầy đã cho phép, xin thầy cho con được dọn dẹp tất cả những thứ không phù hợp với đời sống tu hành, từ xe cộ đến thuyền bè". Vì người thầy đã hoàn toàn đồng ý, ngài đã thu gom toàn bộ những đồ vật không hợp đạo hạnh đó rồi đổ dầu hỏa và đốt trước Đức Phật. ## TRANG 268 Ngài Bhone Gyi Pone cũng thuyên chuyển mọi việc để vào rừng ẩn tu giống như các đệ tử của mình. Ngài không hề e ngại chuyện "trẻ dạy già", mà với tấm lòng luôn noi theo gương hạnh của vị Sa-di thưa thỉnh Ngài **Sāriputtra** rằng y của Ngài bị chùng xuống, Ngài đã hoan hỷ chấp nhận. Việc này đã trở thành một giai thoại lưu truyền trong Giáo pháp. (**Evaṃ saṃvarā hi tassa bhagavato parisā yadidaṃ aññamaññavacaneena, aññamaññavuṭṭhāpaneena** - Luật tạng: *Gia quyến của Đức Thế Tôn là như vậy, ấy là nhờ sự nhắc nhở lẫn nhau, sự thức tỉnh lẫn nhau.*) ### Vị Tỳ-kheo sống bằng cách giao du với thế tục Điều đặc biệt nhất trong việc xuất gia vào rừng của Ngài Bhone Gyi Pone chính là việc Ngài thực hiện nghi thức **Pabbājanīyakamma** (Tăng sự cư xuất) hay còn gọi là tự trục xuất mình. Tội lỗi này không phải do Tăng chúng cáo giác hay ép buộc, mà chính Ngài tự xem mình là người có lỗi và yêu cầu thực hiện nghiệp này. Cốt lõi của **Pabbājanīyakamma** là khi một vị Tỳ-kheo vì mục đích tìm cầu lợi dưỡng từ thí chủ mà thực hiện các hành vi như tặng trái cây, thuyết pháp nịnh hót, coi bói, chữa bệnh... bằng 21 cách tà mạng (**Anesana** - tà mạng, **Kuladūsana** - làm hư hỏng các gia đình). Nếu vị nào dùng các phương cách này để có được vật dụng, thì không chỉ vị đó mà không một vị Tỳ-kheo nào khác được phép thọ dụng, phải vứt bỏ những vật dụng đó. Các Tỳ-kheo khi thấy hoặc nghe biết phải có trách nhiệm răn bảo để vị ấy không tái phạm. Nếu răn bảo đến ba lần mà vẫn không sửa đổi thì phải thực hiện **Pabbājanīyakamma** (trục xuất). Sau đó, vị ấy không được phép thọ nhận cúng dường tại ngôi chùa đó, với những vật dụng đó và ngay cả tại ngôi làng của vị thí chủ đó nữa. Đây là một hình thức tìm cầu lợi dưỡng phi pháp rất nghiêm trọng. Bởi vì nếu những vị Tỳ-kheo xấu này trà trộn với thế tục, dùng đủ mọi cách để có được vật dụng, thì những vị Tỳ-kheo chân chính nếu chẳng may thọ dụng (nếu đó là tì-hỷ hay vật dụng) đều sẽ phạm tội. Các thí chủ khi đó cũng không còn lòng tin để cúng dường cho những vị Tỳ-kheo đức hạnh không dùng các thủ đoạn đó, dẫn đến một mối nguy hại lớn cho Giáo pháp. Phước báu của thí chủ cũng không được viên mãn. Do đó, một giới luật đã được ban hành để trục xuất những loại Tỳ-kheo giao du thế tục, tìm cầu lợi dưỡng và làm hư hoại đức tin của người cư sĩ. Ngài Bhone Gyi Pone thực tế không hề phạm phải những lỗi lầm này. Những gì Ngài cảm thấy không thanh tịnh, Ngài đã từ bỏ ngay từ khi còn ở chùa. Tuy nhiên, Ngài Bhone Gyi Pone đã tự nhận lỗi về mình và thỉnh cầu Tăng chúng thực hiện nghiệp này đối với Ngài. Ngài nói: "Nếu có ai hỏi tại sao một vị Giáo trưởng (Gaing Oke Gyi) lại bị phạt **Pabbājanīyakamma**, hãy cứ để họ nói rằng đó là do tội **Kuladūsana** (làm hư hại đức tin thí chủ)". Ngài đã chấp nhận hy sinh danh dự cá nhân vì tương lai của Giáo pháp, để hàng hậu học lấy đó làm gương mà tránh né. ## TRANG 269 Ngài muốn dạy cho con cháu đời sau bài học rằng: không nên luyến ái vật chất thế gian, niềm an lạc đích thực chỉ có ở chốn rừng sâu. Việc Ngài tự gánh chịu hình phạt nặng nề hơn cả lỗi lầm thực tế, tự đặt mình vào vị trí kẻ sai lầm để hoằng dương Giáo pháp là một điều vô cùng hy hữu. Một số người khi phạm lỗi thường có tâm không ngay thật, cố tìm cách cắt xén, bóp méo lời Phật dạy để che đậy lỗi lầm của mình. Giống như câu "lấy lá thốt nốt che sét đánh", khi những lời dạy trong Pāḷi không còn đủ sức che đậy lỗi lầm, họ thậm chí còn làm sai lệch cả kinh điển bằng sự gian trá của mình. Cuối cùng, từ một người "tuyên bố không lỗi" (**Anavajjavādī**), họ bước lên chiếc thang dây của sự gian trá (**Keerāṭiyapakkha**) để rồi rơi vào hầm bẫy của tà kiến, phủ nhận cả địa ngục và thiên đàng. ### Cảnh Ngài Bhone Gyi Pone rời chùa vào rừng Ngài Bhone Gyi Pone, dù không có lỗi cũng tự nhận có lỗi để làm cho Giáo pháp được thanh tịnh, quả thật là bậc thiện tri thức có đức tin và trí tuệ chân chính. Việc bộc lộ và thú nhận lỗi lầm là tướng trạng của bậc thiện trí, giúp cho Giáo pháp thanh tịnh và bản thân hành giả đạt được pháp thượng nhân. Trong khi Ngài Bhone Gyi Pone đang "tẩy rửa" hết những thói quen và hơi hướm của một vị Tỳ-kheo trú làng (**Gāmavāsī**), các đệ tử Tăng Ni và thí chủ đã đưa ra đủ mọi lý do để ngăn cản Ngài vào rừng. Họ tìm cách phá vỡ ý định của Ngài. Ngài điềm tĩnh an ủi họ: "Các đệ tử đừng ngăn cản ta nữa. Ta đã nuôi dưỡng đồ chúng và hoàn thành trách nhiệm hoằng pháp (Pariyatti) rồi. Nay ta đã gần 67 tuổi, cái chết đã cận kề. Không phải vì ta không thương các con, nhưng nếu đã gặp được Giáo pháp giải thoát (**Niyyānika**) mà không chứng đắc được đạo quả nào thì thật uổng phí một đời." Nói rồi, Ngài thong thả bước xuống khỏi ngôi đại tự. Giống như con cá thoát khỏi lưới, như ngọn lửa đang bùng cháy mãnh liệt không gì ngăn cản nổi, Ngài tiến bước giữa hàng ngũ đồ chúng. Ngay tại cổng chùa, Ngài đã nhặt được một chiếc bình bát, một cây gậy và bộ **Ticīvarika** (tam y) do ai đó đặt làm đồ phấn tảo (paṃsukūla). Giống như vị hoàng đế nhận được ngũ đại bảo vật trong lễ đăng quang, Ngài đã thay bộ y phấn tảo vừa nhặt được ngay tại cửa chùa. Trong khi các đệ tử và thí chủ nhìn Ngài với đôi mắt đẫm lệ, khóc lóc van xin, Ngài đã gọi hai vị đệ tử cũng là những người bạn đồng hành thiện lành (kalyāṇamitta) là U Wunna và U Sīla đi cùng và... ## TRANG 270 ... tiến vào rừng **Kalyāṇī**. (Ngài Bhone Gyi Pone sinh năm 1159, vào rừng năm 1226. Khi đó trưởng lão U Sīla đã được 13 hạ lạp. Ngài U Wunna lớn hơn Ngài U Sīla 4 tuổi.) Kể từ đó, "Tông phái Taw Ya" (Tông phái Ngụ rừng) trở nên nổi tiếng ở vùng Hạ Myanmar. Các bậc trưởng lão cũng tùy duyên mà thuyết pháp khuyến tấn mọi người. Ngài Bhone Gyi Pone trú tại ngôi chùa có sàn tứ trụ cây sơn ở phía nam tự viện **Kalyāṇī**, còn trưởng lão U Sīla trú tại một ngôi chùa nhỏ phía tây đó. Sau mùa an cư, Ngài Bhone Gyi Pone dời đến Shwe Hintha Kone, và vào năm 1228, trưởng lão U Sīla cũng theo Ngài đến đó an cư. Khi đó, nơi đây vẫn là vùng rừng rậm hoang vu, nơi trú ngụ của voi và hổ. Ngày qua ngày, Tông phái Taw Ya càng thêm lớn mạnh. Ngài Bhone Gyi Pone được tôn làm vị lãnh đạo (Nāyaka). Theo sự vận động của Ngài U Wunna, từ tháng Tazaungmon năm 1233, các kỳ thi Luật tạng đã được tổ chức tại Kyakhat Wine; và từ năm 1253, các lễ Pavāraṇa (Tự tứ) lớn bắt đầu được cử hành. Tại Thượng Myanmar, các vị Tỳ-kheo trẻ cũng noi theo gương hạnh này (**Diṭṭhānugati**), giữ gìn giới luật trang nghiêm và nề nếp cho đến tận ngày nay. ### Các thói quen của Trưởng lão Trưởng lão U Sīla sau khi theo thầy an cư được hai năm, những năm sau đó Ngài thường đi độc hành khắp nơi trong rừng sâu để thực hành hạnh **Araññakaṅga** (hạnh đầu đà ngụ rừng). Ngài đi khắp vùng xung quanh Bago, đến Kyaikhto, Thaton, Mawlamyine, Mudon, đảo Bilu... đến mức không thể cố định nơi an cư. Đi đến đâu, Ngài cũng chỉ dựng chòi lá tạm để trú ngụ, không có nơi ở cố định. Ngài không dùng chăn, nếu lạnh thì dùng tấm da thú trải ra để đắp. Thân hình trưởng lão cao khoảng 5 bộ rưỡi (1m67), hơi gầy. Da dẻ Ngài trắng vàng, tỏa ra vẻ sáng rực rỡ. Đối với các Phật sự, khi được thỉnh mời Ngài đều lân mẫn quang lâm. Tâm Ngài rất kiên định và ngay thẳng. Ngài luôn khiêm tốn che giấu công phu tu tập (**Paṭipatti**). Ngài luôn mong muốn các trường Phật học lớn được phát triển. Khi đi đường, đôi khi Ngài có thị giả (Kappiya) hoặc người hộ tùng đi cùng. Trên đường đất Ngài chỉ đi bộ, và hễ đến đâu người ta cũng trải vải xuống đường nên chân Ngài không chạm đất. Dù có trải vải, nhưng chỉ khi thí chủ thưa rằng: "Xin Ngài hãy vì sự chứng đắc của Đạo, Quả, Niết-bàn mà lân mẫn cho chúng con được cúng dường", thì Ngài mới bước lên. Tuy nhiên, Ngài tuyệt đối không dẫm lên tóc mà người dân trải xuống. Tại những nơi Ngài quang lâm vì Phật sự, người dân kéo đến đón tiếp đông như trẩy hội. Sau tuổi 70, Ngài di chuyển bằng cáng hoặc tàu hỏa. Vì mọi người đều biết Ngài luôn nghiêm trì hạnh đầu đà Panthukula (hạnh đầu đà mặc y phấn tảo – nhặt vải bỏ hoang, vải liệm để may y), nên một số người đã đem các tấm vải y đặt ở nghĩa trang hoặc bên vệ đường rồi cung thỉnh: “Bạch Đức thầy, xin thỉnh Ngài đến quán niệm xác chết (Asubha) ạ.” Lại có người đem đặt vải ở lối đi vào nhà vệ sinh rồi thỉnh: “Xin thỉnh Ngài đến để chúng con được chiêm bái, đảnh lễ ạ.” Thế là một ngày Ngài phải thay y mới đến năm, sáu bận. ## TRANG 271 Sau một thời gian, ngài phán rằng: "Ta chẳng đau bụng mà cứ phải đi vào nhà vệ sinh (vì người ta cúng dường y mới liên tục), chẳng có đám ma mà cứ phải đi xem tử thi suốt (ám chỉ việc phải tiếp khách hằng ngày)." Khi không có vật thực, ngài chỉ dùng nước để tri túc. Ngài cũng chỉ thọ thực tại một chỗ, dùng một bát (theo hạnh đầu đà *Ekāsanika*). Vì hay bị đau răng nên ngài luôn dùng đồ chay. Do có bệnh trĩ và hen suyễn mạn tính, nước cơm được cho là phù hợp nên các hộ giả (*kappiya*) thường tìm để dâng cúng. Họ cũng cho thêm một ít muối Tân-đà (*sindhava*) vào để ngài dùng. Ngài thường khuyến khích các vị Tỳ-kheo trẻ nên học Pháp (Pháp học - *Pariyatti*) và khuyên các vị Tỳ-kheo lớn tuổi nên vào rừng tu tập (Pháp hành - *Paṭipatti*). Bất cứ nơi nào ngài đến, các thiện nam tín nữ thường kéo đến từng đợt, nán lại để cung thỉnh ngài truyền ngũ giới. Ngài thường ban phước ngắn gọn rồi bảo: "Nào, hãy niệm Namo Tassa..." rồi hướng dẫn họ tụng. Xong xuôi, ngài thường xua tay bảo: "Thôi, đi đi, đi đi." Ngài không trò chuyện thân mật với ai. Nếu có người già hoặc người ngoại quốc đi cùng, ngài mới thuyết một đoạn Pháp ngắn. Những người hiểu rõ tập quán của ngài thường đưa người già và người ngoại quốc lên phía trước. Khi thuyết Pháp, ngài dạy rất ngắn gọn, súc tích để họ không bao giờ quên những giáo lý căn bản về lòng tôn kính Tam Bảo: "Đừng sát sinh, đừng hại cả đến trứng chấy, vì sẽ đọa địa ngục", v.v... Đôi khi ngài cũng truyền dạy về: **Rūpakkhandhā aniccā** (Sắc uẩn là vô thường), v.v. Một vị Hòa thượng từng theo hầu ngài trong ba năm kể lại rằng: "Pháp mà Ngài thường hành cũng không khác mấy so với những gì chúng tôi biết, chỉ khác ở chỗ Ngài có sự tinh tấn phi thường và lòng chân thực, thẳng thắn tuyệt đối." Nơi nào Ngài U Sīla đến, vật dụng cúng dường và lợi lộc phát sinh nhiều đến mức đáng kinh ngạc. Ngài có được bao nhiêu đều đem cúng dường hết cho chư Tăng. Còn phần mình, ngài chỉ giữ lại một bình bát và ba tấm y (*ticīvara*), cứ thế mà chu du hết khu rừng này đến khu rừng khác. ## TRANG 272 ### Đối mặt với các loại hiểm nguy Suốt cuộc hành trình tu tập, Ngài thường xuyên đi sâu vào những khu rừng rậm để thực hành hạnh đầu đà trú xứ rừng rậm (*Araññavāsī*). Hầu như không có khu rừng hay ngọn núi nào mà Ngài chưa từng đặt chân đến. Trong những khu rừng già âm u, thú dữ vô cùng nhiều và hiểm nguy luôn rình rập. Tuy nhiên, những điều mà người bình thường coi là đại họa thì đối với Ngài lại giống như những người bạn. Trong kinh **Bahu-dhātuka Sutta** (*Kinh Đa Giới, thuộc Trung Bộ*), có dạy rằng: "Tai ương không phát sinh từ bậc thiện trí, nó chỉ phát sinh từ kẻ ác. Do đó, bậc thiện trí không có tai ương." ## TRANG 273 ### Chuyện về hổ Vào năm 1288 (Miến lịch), khi Ngài trú tại tịnh thất nhỏ bốn cột tại rừng Pin-inn, phía Tây Nam bảo tháp Kyaik Day-ya, nơi đây vốn là địa bàn của loài hổ. Dưới sàn tịnh thất và dọc theo con đường đi đến nhà vệ sinh, tiếng hổ gầm vang mỗi đêm. Nhưng đối với Ngài, chúng chẳng khác nào loài mèo hay trâu bò hiền lành. Một lần nọ, Ngài nghỉ đêm tại một nhà nghỉ ở nghĩa trang làng Kamm-myint, thượng nguồn sông Bago. Ở làng đó có một con hổ dữ thường xuyên vồ chết trâu bò mỗi đêm. Dân làng vô cùng lo lắng cho Ngài nhưng ban đêm không ai dám ra ngoài để báo tin. Đến sáng sớm, họ đi xem với ý nghĩ chắc Ngài đã "làm mồi cho hổ", nhưng nửa đường thì gặp Ngài đang đi khất thực. Họ vô cùng mừng rỡ cung thỉnh Ngài về làng dâng vật thực. Khi đi theo Ngài trở về sau buổi khất thực, họ kinh hãi thấy Ngài đi ngang qua con hổ dữ chỉ cách chừng ba gang tay (khoảng 1.5 mét). Hồi Ngài ở rừng Day-sun-par, có hộ giả U Akā cùng theo hầu. Vào mùa đông, vị hộ giả này thường đi kiếm củi vào ban ngày để đốt lửa sưởi ấm và cũng để đuổi hổ vào ban đêm. Một con hổ lớn lững lững tiến thẳng về phía đống lửa. Ngài đang ở trên tịnh thất sàn cao, vị hộ giả tuy sợ hãi không dám kêu cứu nhưng cũng không dám bỏ chạy. Ông vừa run vừa tụng kinh bên đống lửa. Con hổ lớn cứ thế tiến đến và nằm phục ngay cạnh đống lửa. Một lúc sau, thấy con hổ nằm lim dim ngay sát đống lửa, vị hộ giả khởi lên ý nghĩ: "Hay là mình dùng xẻng xúc than hồng đổ vào miệng nó cho rồi?" Ngay khoảnh khắc đó, con hổ liền gầm lên dữ dội. ### Tâm niệm Ngài từ trên tịnh thất nói vọng xuống với giọng nghiêm nghị: "Này hộ giả, sao ông lại khởi ác niệm muốn hại nó? Hãy làm đúng phận sự của mình đi, hãy xin lỗi nó và rải tâm từ." Sau khi vị hộ giả xin lỗi và rải tâm từ, con hổ lớn mới nằm yên trở lại. (Ở các khu rừng vùng Kawkareik, người ta cũng thường thấy hổ đến nằm ngủ ngay dưới chân cầu thang tịnh thất của Ngài). ### Chuyện về voi Khoảng năm 1250 (Miến lịch), Ngài trú tại tịnh thất làng Thet-ngal-kyin, cách Kyaik-ko khoảng 3 dặm. Khi ba người dân làng đến rừng Maung-taung để thỉnh Ngài về, cách làng khoảng một dặm, họ chạm trán một con voi rừng hung dữ từng dẫm chết nhiều người. Thấy voi, ba người dân làng hoảng sợ bỏ chạy, một người trèo tót lên cây. Riêng Ngài vẫn đứng yên, không tiến cũng không lùi. Con voi đang lao điên cuồng về phía Ngài, nhưng khi đến gần, nó bỗng dưng quỳ rạp xuống. Ngài vẫn điềm nhiên không chút lay chuyển. Con voi rừng quỳ đó, nước mắt chảy dài, nó cúi đầu rồi lẳng lặng quay đi. Tương tự vào khoảng năm 1257 (Miến lịch), khi trú tại các tịnh thất ở rừng In-sine-maung (Kyaik-hto), Myae-ni-kone (Thaton), và núi Khayar, Ngài thường gặp voi rừng trên đường khất thực, nhưng lũ voi luôn tự động nhường đường cho Ngài. Thậm chí khi một đàn voi rừng đi vào khuôn viên tịnh thất, Ngài chỉ nói: "Các ngươi đừng quấy rầy nơi này", chúng liền rời đi như thể hiểu được tiếng người. Một lần khác, khi đang ở tịnh thất làng Kawk-ka-dut, Ngài đi bộ một mình trong đêm đến tịnh thất Phaya-thone-su (phía Đông thị xã Kyaik-hto) để làm lễ thọ giới cho một vị Tỳ-kheo. Giữa đường có một trạm nghỉ chân nơi các bác tài xe bò đang dừng nghỉ. Một người muốn theo Ngài đến Kyaik-hto nên xin được đeo bát đi theo. Trên con đường xuyên rừng dưới ánh trăng, từ xa đã thấy một đàn voi rừng đang tiến lại. Người đi cùng nài nỉ: "Bạch Ngài, xin hãy quay lại!", nhưng Ngài không đổi ý. Người đó đành trao trả bình bát cho Ngài rồi bỏ chạy thục mạng. Khi ngoảnh lại nhìn, anh ta thấy bóng dáng Ngài chìm nghỉm giữa đàn voi mà không hề nao núng. Về đến chỗ đoàn xe bò, anh ta hốt hoảng báo tin: "Tầm này chắc chẳng còn tìm thấy mảnh xác nào của vị sư kia nữa". Mọi người hỏi thăm rồi bảo: "Chắc đó là Ngài U Sīla rồi. Vị này voi không dẫm, hổ không ăn thịt đâu." Sáng hôm sau, người đó vội vã lên núi Phaya-thone-su thăm hỏi và xin sám hối vì những ác niệm và sự thất kính của mình. Trong số rất nhiều lần Ngài đối mặt với voi rừng, sự kiện xảy ra khi Ngài trú tại tịnh thất làng Moe-paw trên đường lên núi Kyaiktiyoo là kinh ngạc nhất. Khi đó, Ngài đang từ làng Moe-paw đi về phía núi Thet-ngal theo đường Kyaiktiyoo, và thầy Paung Hlaing ở Bago cũng đeo bát đi theo làm người hộ tăng trên đường. ## TRANG 274 Trên đường đi, những người đi lễ Phật trở về và dân làng lân cận đã vây quanh can ngăn rằng: “Bạch Ngài đại đức, xin đừng đi con đường này. Có một con voi rừng hung dữ tên là Kyawt Hmu đang lảng vãng. Hễ thấy người là nó đuổi theo giày xéo cho đến chết. Cách đây không lâu, nó đã giẫm chết bốn người Shan; hồn ma của họ hiện đang cưỡi trên lưng con Kyawt Hmu đó. Xin Ngài đừng đi vào!” Gặp ba người Punjabi và một sĩ quan quân đội Anh cầm súng trên tay, họ cũng nói những lời tương tự để ngăn cản. Nhưng Ngài đại đức vẫn thản nhiên bước tiếp. Chẳng bao lâu sau, Ngài chạm trán trực diện với con voi dữ Kyawt Hmu. Vì Pho Ka Lay là người có lòng tin và hiểu rõ về Ngài nên không mấy hoảng hốt, chỉ tập trung quan sát Ngài. Về phần Ngài đại đức, diện mạo không có gì thay đổi, vẫn ung dung bước về phía trước. Con voi đang lao đến điên cuồng, nhưng ngay khi đến gần Ngài, nó bỗng cúi gục đầu, buông vòi xuống đất và rống lên. Lúc đó, người ta thấy bốn hình bóng giống như người, đội mũ đỏ, từ trên lưng voi nhảy xuống và chạy mất. Sau đó, con voi tránh đường và đi vào rừng sâu. Mọi người không ngớt lời ca ngợi: “Đức hạnh và lòng từ bi của Ngài đại đức thật vô cùng linh hiển!” ### Bò, rắn, muỗi, kiến, ong Thời gian Ngài trú tại núi Seik Phu, một ngày nọ, Ngài vào chùa Mezaí trong thị trấn để lo Phật sự. Trên đường trở về, khi đến một cây cầu gạch hẹp, Ngài chạm trán với một con bò đực hung hăng đang lao tới. Vị trụ trì chùa Mezaí đi tiễn Ngài vô cùng lo ngại. Tuy nhiên, Ngài đại đức vẫn giữ phong thái điềm tĩnh, bước đi như thường. Khi đến gần, con bò đực dữ tợn bỗng tránh sang một bên rồi chạy mất. Khi ở tại dãy đồi Kyaik Pa Taing, bên trong hang động có một con rắn lớn dài khoảng 15 trượng, vòng thân chừng ba gang tay đang nằm. Ngài chỉ nói: “Cần phải sống không gây phiền hà cho nhau,” như hiểu được lời Ngài, con rắn lẳng lặng bò ra ngoài. Lúc ở rừng Kaw San tại làng Kyaik Ka Tha, vùng Kyaikhto, có một con rắn lớn dài khoảng 12 trượng, trên mình có chín đốm tròn bò lên lò sưởi của am lá. Trong khi các thí chủ đang hoảng sợ, Ngài đại đức quang lâm và bảo: “Nơi đây là nơi các bậc thiện trí làm việc phước lành. Không nên gây nhiễu loạn.” Ngay sau lời nói đó, con rắn bò xuống khiến mọi người vô cùng kinh ngạc. ## TRANG 275 ### Các bậc A-la-hán và những bậc đặc biệt Hơn nữa, tại thiền viện Shwe Kyin có rất nhiều muỗi, kiến, mạt và các loại côn trùng gây ngứa. Mặc dù Ngài đại đức ngồi lễ Phật hay thiền quán suốt một, hai giờ đồng hồ nhưng không hề lay chuyển một chút nào. Những người thọ giới bát quan trai ở lại đêm tại chùa thường nói với nhau rằng: “Muỗi không cắn Ngài,” hoặc “Chắc chắn là có cắn, nhưng nhờ định lực nên Ngài vẫn bất động.” Họ vừa xua muỗi bằng khăn vừa bàn luận như vậy. Tương tự, khi Ngài đến vùng Pyapon để thiết lập tự viện và kiết giới sima, có một mảnh đất mà chủ đất không thuận tình nên không thể khất thực hay mua lại được. Nhưng khi Ngài vừa đến, chủ đất tự nhiên lại đến cúng dường. Sau khi kiết giới xong, mảnh đất vốn đầy kiến và các loại côn trùng gây hại bỗng nhiên tất cả sinh vật ấy đều rời đi hết, điều này đã trở thành một câu chuyện truyền tụng đầy kinh ngạc. Tại thiền viện rừng núi Seik Phu, khi một đàn ong lớn đang làm tổ bay lượn rộn ràng khiến các thí chủ không dám lại gần. Ngài chỉ nói: “Các ngươi không nên làm phiền những người đến đảnh lễ.” Ngay lập tức, đàn ong trở về tổ và nằm yên tĩnh. ### Hang động bị sụp Khi Ngài đang trú tại một hang động lớn ở khu vực Sima Kone, một ngày nọ, một cậu bé chăn bò bỗng thấy hang động đổ sụp xuống. Cậu liền chạy vào làng báo tin. Cả làng rúng động. Dân làng vừa chạy đến vừa than khóc trong đau xót: “Ngài đại đức chắc chắn đã viên tịch rồi!” Nhưng khi đến nơi, họ thấy Ngài đang ngồi điềm tĩnh dưới một gốc cây gần hang động. Lúc đó lòng họ mới nhẹ nhõm. Khi họ bạch lại sự việc, Ngài bảo: “Ừ... hang đổ rồi, đúng như các con thấy. Lúc đó ta đang ở trong hang, bỗng nghe thấy tiếng kêu ‘Cứu con với Ngài ơi, cứu con với Ngài ơi’ vang lên liên tục từ bên ngoài. Ta liền bước ra vòng quanh hang để xem thử nhưng không thấy ai cả. Ngay lúc ta đang quan sát thì hang động đổ sụp xuống.” ### Các loài phi nhân và chư Thiên Kinh nghiệm tu hành trong rừng của Ngài đại đức U Sīla về những chuyện kỳ lạ có lẽ kể không bao giờ hết. Ngay cả những gì các vị có duyên gặp gỡ ghi chép lại được cũng đã rất nhiều và vô cùng đặc biệt. Với các bậc thánh nhân, những điều mà người phàm cho là kỳ bí thì đối với các Ngài chẳng có gì lạ lẫm. Các Ngài cũng không muốn phô diễn, vì điều đó là dư thừa, thậm chí các Ngài còn không muốn nhắc đến trong lời nói. ## TRANG 276 Dù không nhìn thấy sức mạnh của giới hạnh (Sīla), lòng từ (Mettā), lời chân thật (Sacca) và sự nhẫn nhục (Khanti), nhưng chúng ta cần nhận thức rằng những điều tưởng chừng không thể trong mắt con người lại có thể xảy ra một cách dễ dàng. Ý muốn của một người có pháp bảo trong tâm thì muốn gì được nấy, phát nguyện là thành tựu. Đó chính là thần thông vậy. Trong những cuộc tiếp xúc với loài vật, chúng ta thấy chúng lắng nghe lời nói như thể hiểu được ngôn ngữ loài người. Qua các câu chuyện tiền thân (Jātaka) như Vessantara, Suvaṇṇasāma, chúng ta đã được nghe và đọc về sự thuần hóa của loài vật với con người, sự giúp đỡ lẫn nhau bằng tâm từ, và cuối cùng là việc con người và loài vật trò chuyện với nhau. Ngày nay, phương pháp “truyền tâm thuật” (telepathy) đang được các nước duy vật luyện tập và sử dụng. Các loài vật cũng giao tiếp với nhau bằng phương pháp này. Giữa người với người, dù cách xa hàng vạn dặm vẫn có thể giao tiếp được. Những khả năng này vẫn luôn tồn tại trong thế gian. (Hãy xem cách truyền tâm thuật của bà-la-môn Bāvarī trong Sutta Nipāta). Những điều cần biết là vô cùng tận. Những gì chúng ta thấy và biết chỉ là một phần rất nhỏ. Do đó, đối với đạo hạnh của các bậc thiện trí, nếu trí tuệ chúng ta chưa thấu triệt thì khoan vội bác bỏ. Dù chưa thể chấp nhận, cũng cần cẩn trọng để lời nói không phạm vào những điều quá hạn hẹp, tránh ác nghiệp do lời nói gây ra. Trong kinh nghiệm của Ngài đại đức, những trở ngại kỳ lạ không chỉ là thú dữ mà còn bao gồm cả những loài phi nhân (nānābhāva) như ma quỷ, thần giữ của, thầnh cây..., những loài dạ-xoa (yakkha), ngạ quỷ (peta) và chư Thiên. Sau đây sẽ trình bày về những chuyện đó. Theo lời kể của dân làng Kan Myint, khi Ngài ở tại thiền viện rừng Kan Myint, vào ban đêm thường thấy các loài ngạ quỷ bồng bế con cái đến nghe Ngài thuyết pháp. Cần hiểu rằng các bậc tu hành chân chính không chỉ mang lại lợi lạc cho con người mà còn giáo hóa, răn dạy cả các loài phi nhân và chư Thiên có duyên hệ thuộc. ### Xưa và nay Tại đây, niềm tin (Saddhā) vào các bản kinh trong Yakkha Saṃyutta (Tương Ưng Dạ-xoa) và Petavatthu (Ngạ Quỷ Sự) càng trở nên mạnh mẽ hơn. Ngài đại đức như một minh chứng sống động rằng những sự kiện kỳ diệu thời Đức Phật, vốn bị người phàm ngày nay dùng lý trí bác bỏ, thực sự là những sự thật hiển nhiên. ## TRANG 277 ### Các Bậc Alahan và Những Nhân Vật Đặc Biệt Ngài đã dùng chính bản thân mình để minh chứng cho điều đó. Tôi chợt nhớ đến câu chuyện về hai mẹ con nữ Ngạ quỷ (Peta) vào thời Đức Phật. Một nữ Ngạ quỷ nọ, tay bế con gái nhỏ tên là **Uttara**, tay dắt con trai lớn tên là **Punabbasu**, đi lang thang quanh chùa Jetavana (Kỳ Viên) để tìm thức ăn thừa, đờm dãi hay chất nhầy để ăn qua bữa. Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn đang thuyết Pháp cho các vị Tỳ-kheo. Nữ Ngạ quỷ trông thấy đám đông các vị Tỳ-kheo, ngỡ rằng đang có buổi phân phát thức ăn nên đi đến gần. Vì giọng của các vị Phật thường không vang ra ngoài phạm vi hội chúng, nên bà không nghĩ đó là một buổi thuyết Pháp. Chỉ khi đến thật gần, bà mới nhận ra Ngài đang thuyết Pháp. Nhờ có thiện duyên Ba-la-mật từ trước, tiếng Pháp của Đức Phật đã cuốn hút bà mãnh liệt. Bà dỗ dành các con: "Này các con, hãy giữ im lặng nhé. Mẹ con mình nghe được những lời này là đã muộn màng lắm rồi đó con. Ở đời này, chồng và con là những người thương yêu nhất, nhưng Giáo Pháp còn đáng yêu hơn cả những người thân yêu nhất thế gian kia. Hãy giữ im lặng nào." "Vâng thưa mẹ, con cũng thấy nghe rất hay. Con không làm ồn đâu, em gái cũng không nghịch ngợm, em đang ngồi yên đây mẹ. Mẹ hãy cố gắng ghi nhớ lời dạy nhé," người con trai lớn **Punabbasu** cũng lên tiếng khích lệ. Cả mấy mẹ con đều đã bị "giăng bẫy" bởi lưới Pháp. Khi buổi thuyết Pháp kết thúc (vì đều là những bậc có trí tuệ bẩm sinh - Ti-het), hai mẹ con đã đắc quả Tu-đà-hoàn (Sotāpanna). Riêng cô con gái nhỏ **Uttara** vì còn quá bé nên chưa hiểu hết ý nghĩa, tuy chưa đắc Pháp nhưng nhờ đó mà có được một lâu đài (vimāna) ngay tại chùa Jetavana để thường xuyên được đảnh lễ Đức Phật. (**Saṃyutta Nikāya, Sagāthāvagga, Punabbasu Sutta**). Cũng như các nhà chú giải đã dùng những câu chuyện về các bậc Thánh thời Tích Lan để minh chứng cho giáo huấn của Đức Phật, những sự việc xảy ra với Ngài cũng góp phần củng cố niềm tin vào những lời dạy vốn khó tin của Đức Thế Tôn. ### Hãy Cùng Rút Ra Bài Học Vùng Myoung Taung ở Kyaikto vốn nổi tiếng là rừng thiêng nước độc. Vì thường xuyên nghe thấy tiếng gõ mõ vang lên nên người dân còn gọi là núi Mõ (Myoung Tee Taung). Không ai dám ở, cũng không ai dám bén mảng tới. Tuy nhiên, chính vì rừng rậm không người qua lại nên nơi đây lại vô cùng thanh tịnh, yên tĩnh. Đây trở thành nơi lý tưởng cho Ngài **U Sīla**. Tại ngọn núi này, Ngài không hề gặp phải bất kỳ hiểm nguy hay chướng ngại nào. Chuyện kể rằng, khi Trưởng lão **Visākha** từ thành Pāṭaliputra đến tu tập tại núi Cittalapata ở đảo Tích Lan, theo thông lệ cứ mỗi bốn tháng ## TRANG 278 lại di chuyển đến một nơi ở mới. Khi tròn bốn tháng tại núi Cittalapata, ngài có ý định rời đi thì trong lúc đang nằm nghỉ: "Bạch Ngài, nếu Ngài rời đi, giữa chúng con sẽ nảy sinh bất hòa, tranh chấp và oán ghét lẫn nhau. Xin Ngài đừng đi," một vị Thần cây (Rukkhaso) đã khóc lóc van xin, nhờ đó ngài đã ở lại cho đến khi nhập Diệt độ, như được chép trong "**Thanh Tịnh Đạo**" (Visuddhimagga). Nơi ở của những bậc thiện tri thức chắc chắn sẽ mang lại sự an lạc. Người được chư Thiên yêu mến sẽ luôn gặp những điều tốt lành. (**Devatānukampito poso, sadā bhadrāni passati. - Mahāvagga**). Tu tập Tâm Từ (Mettā) được gọi là pháp thiền định dễ đạt định lực. Đó cũng được gọi là liều thuốc yêu mến dành cho muôn loài, và cũng là mật ngôn bảo vệ (Paritta) khỏi những hiểm nguy. Trong chú giải "**Kinh Tập**" (Suttanipāta Aṭṭhakathā) có ghi lại rằng, những vị thần rừng vốn hay hăm dọa và hãm hại các bậc tu hành trong rừng khi chưa tu tập tâm từ, nhưng khi các vị Tỳ-kheo tỏa lòng từ bi, các vị thần ấy lại quay sang phục vụ như quét dọn, thu xếp chỗ ngồi, bóp chân, đun nước nóng... Cần lưu ý rằng không có pháp hành thiền nào khác được thuyết giảng có công năng và lợi ích vi diệu như Tâm Từ này. Mọi người nên dùng mắt tuệ để nhìn nhận và học tập theo oai lực của Ngài **U Sīla**. ### Mưu Chước Của Ma Vương, Kẻ Thiếu Hiểu Biết Gây Họa Trong thời gian ngài trú tại tịnh xá Tat Kalay, làng Kali, phía bắc Bago, có những vị hộ tăng (kappiya) đi theo để phục vụ các công việc lớn nhỏ. Trong đó, ông hộ tăng **U Kyar Phyu** là người có tính khí nóng nảy, hấp tấp. Một đêm nọ, khi Ngài đang ngồi thiền tĩnh lặng dưới gốc cây, **U Kyar Phyu** tưởng đó là một người bạn hộ tăng khác, anh ta gọi nhưng không thấy trả lời nên đã dùng nắm đấm đánh vào đầu. Thấy người đó không động đậy, anh ta sờ thử thì chạm phải nút thắt dây lưng (khāpān), nhận ra đó là Ngài nên định bỏ chạy. Những người bạn đi cùng bảo: "Dù có chạy thì tội cũng không hết đâu ông hộ tăng ơi, hãy vào đảnh lễ sám hối với Ngài đi." Anh ta bèn vào đảnh lễ. Sau đó, vì phát tâm đại tàm quý, **U Kyar Phyu** đã phát nguyện xuất gia. Vào khoảng năm 1262 (Miến lịch), trong một lần Ngài cùng ba vị Tỳ-kheo đệ tử đi bộ thực hiện công việc trên đường Kandawgyi ở Yangon. Vì đường vắng, một chiếc xe ngựa chạy rất ẩu lao tới, sợ bị va chạm nên chính Ngài đã phải lánh sang bên nhường đường. Khi chiếc xe ấy vừa đi qua khoảng hai độ dài cây sào thì bỗng nghe tiếng "rầm" ## TRANG 279 ### Các Bậc Alahan và Những Nhân Vật Đặc Biệt nghe thấy tiếng động, mọi người ngoảnh lại thì thấy chiếc xe đã bị lật nhào, người đánh xe người Ấn Độ nằm lăn lóc dưới đất. Hồi Ngài còn ở tịnh xá Taik Kular, núi Kelāsa, có vài vị sư trong làng vì lòng đố kỵ, tị hiềm đã thuê một kẻ say rượu hãm hại Ngài. Kẻ say rượu đó đã đứng đón đầu trên đường Ngài đi khất thực, rồi dùng đầu lao mạnh vào húc Ngài. Chính nhờ lòng từ và giới đức của Ngài mà mặt đất đã thay Ngài gánh chịu cú húc đó. Kẻ say rượu vì lao quá mạnh nên đã ngã lăn ra ngay tại chỗ. Ở một vùng phía Đông, có một vị sư nọ vì ra lệnh cấm dân làng: "Không được dâng sới cho Ngài," nên sau đó vị sư này đã mắc một căn bệnh kỳ lạ, hễ cứ nhìn thấy mâm cơm là lại hét lên sợ hãi, rồi qua đời vì căn bệnh đó. Đúng như những gì được thuyết trong "**Kinh Ma Hăm Dọa**" (Māratajjanīya Sutta) thuộc Trung Bộ Kinh, việc bị Ma vương nhập vào mà không hay biết, rồi đi đối đầu với những bậc hiền thiện là một điều vô cùng đau đớn và đáng sợ. Trong phần giải thích kinh này về **Māra** (Ma vương) có những điều rất đáng ghi nhớ. **Māra** không chỉ nhập vào người mà còn có thể tạo ra những ảo giác về hình ảnh và âm thanh sai lệch giữa hành giả và kẻ thù. Ví dụ, Ma vương có thể tạo ra hình ảnh mập mờ như có một người phụ nữ bên cạnh vị Tỳ-kheo đang ngồi thiền, hay làm như vị đó đang làm điều gì bất chính dù thực chất họ đang quán chiếu đề mục. Khi đó, những kẻ thiếu trí sẽ tin vào những mưu chước mà mình tận mắt chứng kiến, dẫn đến việc đối đầu với hành giả và phải chịu cảnh đọa địa ngục. Để tránh điều này, chính các bậc hành giả cũng cần phải thấu hiểu và thận trọng trước những hiện tượng đó. Vào khoảng năm 1255, khi Ngài đến Thaton, Ngài đã không có cơm ăn suốt ba ngày. Do sự kích động của một số vị sư địa phương rằng: "Kẻ từ rừng vào sẽ mang họa cho làng," các bậc kỳ lão trong làng đã ra lệnh: "Ai dâng sới cho Ngài sẽ bị phạt năm kyat." Suốt ba ngày, vì sợ các vị sư và các kỳ lão nên không ai dám dâng sới. Sáng hôm sau, chủ trại **Ko Waing** trên đường từ trại về nói với vợ: "Em ơi, anh thấy Đại đức ngồi dưới gốc cây trong trại mình. Trông ngài thanh tịnh làm sao. Nghe nói ngài đã ba ngày không thọ thực. Anh thấy ngài ra suối gần trại, lọc nước rồi rót vào bát mà uống. Ngày mai mình đi cúng dường đi, dẫu có phạt năm đồng cũng được." Nhiều người cũng lén lút cúng dường. Chẳng bao lâu, cả thành phố xôn xao đổ xô cúng dường đến nỗi phải dùng xe chở đến chùa. ## TRANG 280 Theo sự khuyến tấn của Ngài Trưởng lão, họ cũng đã thành lập một học viện tăng sinh (Sār saṅ' tuik') gọi là Dhammikārāma. Khi số lượng tăng chúng lên đến khoảng ba bốn mươi vị, do có những kẻ xúi giục việc không cúng dường vật thực nên chư Tăng đã có một thời kỳ gặp khó khăn về khất thực. Nhưng hiện nay nơi đây đã trở nên đông đúc và phát triển. Tại khu vườn của ông U Waing, vào khoảng năm 1260 (Miến lịch), ông U Baleik và bà Daw Phwa Sone đã mua lại khu vườn và xây dựng ngôi chùa cúng dường đến **Ngài U Zānuttara**. Đó chính là chùa Taung Waing Gyi Taw Ya. ### Đạn không nổ, máy ngừng chạy, sức mạnh ấy từ đâu? Có một lần, khi Ngài Trưởng lão đang ngồi thiền định yên lặng trong bụi rậm tại Kyaik De Yan, một thợ săn tên là U Kaw từ làng Shwe Hlay vì lầm tưởng Ngài là một con thú nên đã dùng súng bắn. Ông nổ súng ba lần nhưng lửa không bắt (đạn không nổ). Sau đó, ông chĩa súng lên trời bắn thử thì đạn lại nổ phát ra như thường. Ông tự hỏi: “Tại sao con thú trong bụi rậm nghe tiếng súng mà không chạy?” nên đã tiến lại gần xem xét. Khi thấy đó là một vị Trưởng lão, ông vô cùng kinh hãi, run rẩy và xin lỗi Ngài. Ngài phán rằng: “Người biết nhận lỗi và sám hối là tốt. Đó là nhân duyên cho sự tiến hóa về sau. Ta khước từ sự sân hận (ta kham - nhẫn nhục/tha thứ)”. Những lời này khiến ông U Kaw cảm thấy hân hoan như vừa được tưới nước tiên. Ông thưa: “Kể từ nay cho đến trọn đời, con xin tránh xa điều ác này”, rồi trở về nhà. Không lâu sau đó ông đi tu làm đạo sĩ (rathaid - hermit), về sau cũng xuất gia tì-khưu giống như Ngài Trưởng lão, hành trì các pháp đầu đà (dhutaṅ') và trú ngụ nơi rừng núi. Năm 1263, ông đã vào an cư tại khu rừng Kyauk Ta Lone dưới chân núi Taik Kula. Năm 1244 (thời kỳ sụp đổ vương triều), các vị sư như Myan Chaung Pongyi ở Sittoung, Kyauk Kalat Pongyi đã lãnh đạo quân đội khởi nghĩa chống lại chính quyền Anh. Trong cuộc tấn công chiếm Shwe Kyin, do sự thiện chiến của quân đội Punjabi, vị chỉ huy dũng cảm Ko Bar Gyi đã tử trận và quân đội phải tan rã rút chạy. Quân đội Punjabi đuổi theo truy quét. Một ngày nọ, trong khi Ngài Trưởng lão đang thiền định trong một khu rừng, lính Punjabi cho rằng Ngài là người bên phe đối phương nên đã bao vây và nổ súng từ bốn phía. Súng không phát hỏa, họ nhận ra đây là một vị tu sĩ nên đã tiến đến xin lỗi và đảnh lễ. Họ áp sát đầu vào chân Ngài và làm lễ chào (salaam). Năm 1262, vào tháng Tazaungmon, trong kỳ thi giáo lý (Sā pran' pvai) tại rừng Nyaung Lay Pin và việc kiết giới Sima tại làng của người Shan, Ngài đã đi chu du qua các làng Pyuntaza, Daiku, Okkan. Trên đường đi, khi gặp một đoàn tàu hỏa chạy tới, đoàn tàu đột ngột dừng lại khiến mọi người xôn xao. Viên quản lý máy tàu và hành khách cũng đua nhau đến cúng dường Ngài Trưởng lão. ## TRANG 281 Ngay cả khi tàu đã rời đi, họ vẫn thò người ra cửa sổ, cúi đầu, gọi to để cung kính đảnh lễ. Một sự việc tương tự cũng đã từng xảy ra khi Ngài đi từ Thingangyun sang phía Dala và Kun Chan Kone. Vào khoảng năm 1244, khi Ngài đang trú tại chùa rừng Seik Kalay ở Shwe Kyin, Ngài phải đi khất thực tại làng Wan Ahnhim. Một ngày nọ, trong khi đi khất thực, chân Ngài bị vướng vào bẫy chim thú, Ngài liền đứng yên tại chỗ không bước tới trước. Người đặt bẫy nhìn thấy thì lo sợ không dám lại gần, cứ lẩn quẩn theo dõi từ xa. Ngài Trưởng lão vẫn đứng yên như thế. Người thợ săn vô cùng lo lắng, không dám lại gần để gỡ bẫy. Sau một lúc lâu, anh ta phải nhờ một người khác gỡ giúp. Ngài Trưởng lão hỏi người mới đến: “Này thí chủ, đây có phải là bẫy của ông không?” Người đó trả lời: “Thưa không phải ạ”. Ngài phán: “Đừng tự tiện gỡ bẫy của người khác”. Bản thân Ngài theo giới luật (Vinaya) cũng không được phép tự gỡ, và Ngài cũng không cho phép người không liên quan gỡ. Thế rồi người kia quay sang bảo chủ nhân cái bẫy: “Anh thật là rắc rối, sắp quá ngọ rồi, nếu vị sư này không được thọ thực mà qua đời thì anh sẽ phải đọa địa ngục Avici (A-tì)”. Nghe vậy, người chủ bẫy buồn bã khóc lóc chạy đến gỡ bẫy. Anh ta thưa: “Từ nay về sau con sẽ không làm như vậy nữa, xin Ngài từ bi tha thứ”, rồi đem cái bẫy đó cúng dường cho Ngài và đảnh lễ xin lỗi. Ngày hôm đó, Ngài Trưởng lão đã bị quá giờ ngọ và lỡ mất một bữa thực. Chư Phật và các bậc thánh nhân, trong những trường hợp bị Mara (Ma Vương) quấy phá làm cho lỡ bữa thực, thường vẫn giữ tâm hân hoan như các vị Phạm thiên thọ hưởng **Pīti-bhakkha** (hỷ thực) – nuôi dưỡng thân tâm bằng hỷ lạc của giáo pháp. [ Theo giới luật (Vinaya), nếu gỡ bẫy khiến con thú bị sập bẫy thóat ra thì phải bồi thường giá trị con thú (bhaṇḍā-sāra). Nếu gỡ ra rồi lại đặt lại thì không thoát khỏi tội sát sinh (pāṇātipāta). ] ### Tố chất không thể tử vong (Amata-dhātu) Dù Ngài Trưởng lão đã nhiều lần đối mặt với những nguy hiểm cận kề cái chết như đoàn tàu hỏa, súng đạn, hay thú dữ, nhưng mạng sống vẫn không hề hấn gì. Giống như các bậc thánh giả trong quá khứ như **Udaya Sāmaṇera** (Sa-di Uttara) từng bị ném lên giàn hỏa thiêu, **Thoerubbha** (Ngài Dabba) ở trong bụng mẹ khi thi hài bị đốt, hay **Thoerabākula** (Ngài Bākula) ở trong bụng cá; những người chắc chắn sẽ đắc pháp cao thượng trong đời này thì không có lệ tử vong bất đắc kỳ tử. Điều này được gọi là **Ñāṇavipphāra-iddhi** (Tuệ biến mãn thần thông). Những người có phước nghiệp đặc biệt trong quá khứ, hay những chúng sinh mang trong mình tố chất không chết (Amataa) thì sẽ không chết trước khi hoàn thành đạo quả. ## TRANG 282 Cần lưu ý rằng lực thu hút của yếu tố bất tử vô vi (Asaṅkhata Amata-dhātā) – tức là Niết-bàn – vĩ đại đến nhường nào. ### Sự thất bại của kẻ đối đầu với bậc có đại quyền năng Về những kẻ vì lòng đố kỵ, ích kỷ mà chống đối Ngài Trưởng lão, có những điều rất đáng ghi nhớ. Đối đầu làm kẻ thù với bậc cao thượng hơn mình là điều vô cùng đáng sợ. Bậc ấy càng có đức hạnh cao dày, càng có lòng nhẫn nhục bao nhiêu thì kẻ chống đối càng bị nhấn chìm và tổn thương bấy nhiêu. Những hạt bụi tung vào gió ngược sẽ chỉ bay ngược lại trú vào mũi, miệng, mắt của chính người ném. Họ có thể gặp phải nhiều loại suy vong như chịu sự đau đớn (Thập hình phạt - Daṇḍa 10 pā). Ở đời gọi đó là “bị trừng phạt bởi nước ngâm” (ciim re saṅ' - quả báo nhãn tiền). Trong bài kinh **Upāli-sutta thuộc Majjhima Pannāsa** (Trung Bộ Kinh), khi nói về sức mạnh của ý nghiệp, có dẫn chứng về việc người dân xúc phạm **đạo sĩ Kisavaccha** khiến cho vương quốc Daṇḍakī bị mưa vũ khí, mưa tro nóng bao phủ và trở thành rừng rậm hoang vu. Trong câu chuyện về vị Thiên tử Dhamma ở chương **Ekādasanipāta**, Thiên tử Dhamma cùng tùy tùng bay nhiễu quanh Diêm-phù-đề theo chiều bên phải để khuyến tấn loài người làm việc thiện. Thiên tử Adhamma cũng làm tương tự nhưng bay theo chiều bên trái để khuyến khích điều ác. Khi hai cỗ xe gặp nhau trên không trung, cả hai đã tranh cãi xem ai phải nhường đường cho ai. Cuối cùng, Thiên tử Dhamma đã nhẫn nhục nhường đường trước, thế nhưng khi cỗ xe của Ngài vừa tránh ra thì Thiên tử Adhamma liền rơi khỏi xe và đọa ngay xuống địa Ngục Avici. Sức mạnh của lòng nhẫn nhục vô hình (**Adhivāsana-khanti**) thật là vĩ đại thay! Một lần nọ, có một người Bà-la-môn nổi giận với Đức Thế Tôn vì cho rằng Ngài đã độ cho anh trai mình xuất gia, ông ta đã đến chửi rủa và đe dọa Ngài. Tên ông là **Akkosaka Bhāradvāja**. Khi đó Đức Thế Tôn hỏi: “Này Bà-la-môn, ví như có khách đến nhà ông, ông bày biện đồ ăn thức uống tiếp đãi, nếu người khách không ăn, không nhận thì những thứ đó thuộc về ai?” Ông trả lời: “Thì vẫn thuộc về gia đình chúng tôi thôi”. “Này Bà-la-môn, cũng vậy, nay Ta không chấp nhận những lời chửi rủa đe dọa của ông. Những thứ đó hãy còn lại với chính ông thôi”. Nghe vậy, ông ta lầm tưởng Đức Thế Tôn đang nguyền rủa mình nên vô cùng hoảng sợ. Vì **Bhāradvāja** vốn biết những vị có thần lực thế gian thường dùng mật chú, thiền định hoặc lời nguyền (jhai t' chā) để khiến kẻ khác gặp họa, nên ông ta mới kinh sợ như vậy. Sau đó, ông nhận lỗi và xin xuất gia. (**Saṅ'gāthāvagga, Akkosaka-sutta**). ## TRANG 283 Một câu chuyện khác kể về một đạo hữu của chúng tôi, Ngài **Vāyāma** ở Magwe Pepinsan. Khi Ngài còn là một pháp sư trẻ (Sāmanera), có một vị tỳ-kheo bạn vì muốn trêu chọc nên đã bảo rằng: “Có người này người nọ muốn gặp sư, họ nhắn sư hãy đến ngay bây giờ.” Dưới cái nắng gay gắt, Ngài phải đi bộ quãng đường dài khoảng một dặm. Khi đến nơi mà không thấy ai, Ngài Vāyāma trở về trong lòng tức giận. Tuy nhiên, Ngài đã lập tức nhiếp phục tâm mình, khởi lòng nhẫn nhục và chịu đựng. Ngay ngày hôm sau, vị tỳ-kheo trêu chọc kia bỗng dưng bị đau mắt dữ dội, đau đến mức không thể nhắm mắt ngủ được. Vị ấy bèn đến cầu khẩn: “Ngài Vāyāma có biết pháp thuật gì không? Chuyện hôm qua con lỡ làm xin Ngài hãy từ bi hỷ xả cho.” Sau khi lời xin lỗi được nói ra, chứng đau mắt ấy bỗng nhiên tan biến một cách rõ rệt. Qua câu chuyện này, chúng ta có thể hình dung được phần nào về nghiệp **Ari-upavāda** (phỉ báng bậc Thánh). Khi giới, định, và tuệ của một vị càng cao dày bao nhiêu, thì những kẻ xúc phạm họ sẽ phải gánh chịu khổ đau tương ứng, giống như bị một lời nguyền vậy. Các bậc chân tu thường trừng phạt kẻ xấu bằng lòng từ bi và sự nhẫn nhục. Họ không đáp trả cái ác, và chính sự không tiếp nhận điều ác ấy là một hình phạt còn nặng nề hơn đối với kẻ xấu. Ngọn lửa xuất phát từ các bậc Thánh tỳ-kheo — những bậc xứng đáng được cúng dường (**Dakkhiṇeyyaggi**) — sẽ thiêu rụi kẻ gây hấn mà không gì có thể dập tắt được. Hỡi những người thiện tâm, hãy luôn ghi nhớ điều này. ### Sự ra đi của Mẫu thân Mẫu thân của Ngài Đại đức là bà Daw Cho, bà sống tại tu viện Kapkalay cùng với Ngài dưới hình thức một tu nữ (Sayalay), luôn tận tụy chăm sóc và giữ gìn giới hạnh. Dù Ngài Đại đức có di chuyển từ nơi này sang nơi khác, mẫu thân Ngài vẫn ở lại tu viện Kapkalay để hành trì pháp môn định tâm. Vào năm 1241 (Miến lịch), khi Ngài Đại đức đang an cư tại tu viện Shwekyin, một nhóm cướp hung tợn đã đột nhập vào tu viện Kapkalay nơi mẫu thân Ngài đang ở. Bọn chúng nghe tin đồn rằng bà Daw Thuza, người làng Okkan, có gởi mẹ Ngài ba ngàn Kyat và hai mươi lăm chỉ vàng nên đã đến để cướp. Đám cướp tra hỏi và đòi số tài sản đó. Vị tu nữ già nói: “Này các con, thực sự không có chuyện đó đâu.” Thực tế thông tin đó hoàn toàn là bịa đặt, nhưng lũ cướp không tin. Cho rằng vị tu nữ nói dối, chúng đã liên tục đánh đập bà một cách dã man. Trong giây phút ấy, vị tu nữ định thần nghĩ rằng: “Đây hẳn là nghiệp quả kiếp trước của ta nay đã đến lúc phải trả,” và bà quyết tâm: “Ta là mẹ của một bậc Đại sư, ta sẽ mạnh mẽ đối diện.” Bà kiên định nhất tâm niệm rằng: “Con xin quy y Phật — bậc Đạo sư của con trai con, Ngài U Sīla. Con trai con và Đức Phật... Con trai con và Đức Phật... Con trai...” Tiếng nói của mẫu thân Ngài nhỏ dần dưới những đòn roi hung bạo của lũ cướp, bà cứ thế niệm tên con và tên Phật cho đến khi trút hơi thở cuối cùng. Khi ấy, người ta phải tức tốc đến phía Nam núi Shwekyin, nơi tu viện Seikkalay, để thỉnh Ngài Đại đức trở về. ## TRANG 284 Đích thân Ngài Đại đức đã tiến hành hỏa táng mẫu thân và dùng đống tro tàn ấy để quán chiếu **Hạnh tu bất tịnh** (Asubha Bhāvanā). Khi ngọn lửa còn chưa kịp tắt hẳn, Ngài đã rời nơi hỏa táng để trở về Shwekyin. Định luật về nghiệp quả quả thật vô cùng huyền diệu. Xung quanh những bậc vĩ nhân, những sự kiện xảy ra thường không theo lẽ thường, dù là tốt hay xấu đều vượt xa mức bình thường. Đây là kiếp sống để thanh toán dứt điểm mọi nợ nần, nên bất kỳ ai có duyên sự liên hệ với các bậc phi thường này đều phải diễn tròn vai trong kịch bản nghiệp báo của mình. Chúng ta nên lưu tâm và cũng không nên lơ là trước những giá trị tâm linh vô hình. Chớ nên lầm tưởng rằng xung quanh các bậc thánh thiện thì chỉ toàn những chuyện tốt đẹp xảy ra. Ở điểm này, hành giả cần đặc biệt lưu ý: Phải sống sao cho xứng đáng với môi trường xung quanh và công việc mình đang làm. Không được lơ là, thiếu cảnh giác. Theo bổn phận của một hành giả, hãy hiến dâng thân mạng này cho Đức Phật, sám hối mọi lỗi lầm, tu tập lòng từ ái, nhẫn nhục và hồi hướng công đức. Những phận sự hàng ngày tuyệt đối không được bỏ sót. ### Khả năng thấu thị tâm người khác Người ta tin rằng Ngài Đại đức đã chứng đắc được thần thông biết được tâm ý người khác (**Paracittavijānana** - Tha tâm thông), dựa trên những trải nghiệm thực tế của những người trong cuộc sau đây. Một lần, Ngài U Guṇa ở chùa Mahā Ceti ở Bago cùng đệ tử là Ngài U Gandhamā đến đảnh lễ Ngài Đại đức. Ngài Đại đức có thói quen là không để vị tỳ-kheo nào ra về mà không tặng cho một món vật dụng gì đó. Ngài luôn hào phóng cúng dường đến mức có lời dị nghị rằng người ta đến thăm Ngài chỉ vì muốn nhận quà. Chính vì sợ bị hiểu lầm như vậy nên dù sư phụ bảo đi cùng, Ngài U Gandhamā vẫn không muốn đi. Ngài cảm thấy xấu hổ nếu phải mang về những bộ y hay vật dụng mà Ngài Đại đức ban cho. Suốt dọc đường đi, Ngài thầm nguyện trong lòng: “Xin Ngài Đại đức đừng tặng cho con bất cứ thứ gì cả.” Khi hai thầy trò đến nơi, Ngài Đại đức chỉ giảng giải sâu sắc về các đạo hạnh tu tập, tuyệt nhiên không tặng bất cứ vật gì rồi bảo: “Thôi, các vị về đi.” Ngài U Gandhamā vô cùng mãn nguyện vì ý nguyện của mình đã thành hiện thực. Tuy nhiên, trong lòng Ngài bắt đầu dấy lên một sự nghi ngờ: “Liệu có phải Ngài Đại đức đã biết được tâm tư của mình hay không?” Về sau, khi Ngài U Gandhamā đang ở Wanpataw, Ngài Đại đức cùng các đệ tử từ Kyaikhto cũng vừa đến đó. Thấy Ngài Đại đức vừa trải qua hành trình mệt mỏi, Ngài U Gandhamā nảy ra ý định muốn phục vụ, xoa bóp cho Ngài. Vì vẫn còn sự nghi ngại từ lần trước, Ngài muốn thử kiểm chứng thêm lần nữa. Ngài thầm nghĩ: ## TRANG 285 “Cầu mong Ngài cho phép con được phục vụ Ngài một cách dễ dàng. Xin Ngài đừng hỏi con là ai hay từ đâu đến.” Khi Ngài bước vào, Ngài Đại đức đang duỗi chân và cho phép Ngài phục vụ một cách rất tự nhiên. Ngài hoàn toàn không hỏi han bất cứ điều gì. Sau khoảng hai giờ, Ngài bảo: “Được rồi, Sư đi nghỉ đi.” Ngài U Gandhamā (sau này là trụ trì chùa Mahā Ceti) đã hoàn toàn rũ bỏ sự nghi ngờ và tin chắc rằng Ngài Đại đức thực sự có thần thông. Trong lòng Ngài tràn ngập niềm hân hoan. ### Sự hối hận của một vị Hòa thượng vốn không mấy ấn tượng Vào một thời điểm khác, có một vị Hòa thượng trụ trì một ngôi chùa lớn ở thành phố Bago thường nghe được những lời đồn thổi về sự linh ứng của Ngài Đại đức. Vị này cho rằng việc Ngài Đại đức đi đến đâu cũng nhận được vật phẩm cúng dường nhiều đến mức phải chở bằng xe bò chẳng qua là do những người thân cận khéo léo quảng bá và dàn dựng mà thôi. Một buổi sáng nọ, vào lúc ba giờ, nghe tiếng gõ cửa chùa, vị Hòa thượng mở cửa và vô cùng kinh ngạc khi thấy đó chính là Ngài Đại đức Shwekyin. Trong khi vị Hòa thượng đang sắp xếp chỗ ngồi và phục vụ, Ngài Đại đức đã giảng giải một cách vô cùng sâu sắc về việc phải nỗ lực tu tập đạo đức khiến vị Hòa thượng không thể rời mắt. Tuy nhiên, trong thâm tâm, vì biết Ngài Đại đức có thói quen đi khất thực, vị Hòa thượng băn khoăn rằng không có đủ thời gian để thông báo cho các thí chủ dậy sớm chuẩn bị vật phẩm cúng dường cho kịp lúc. Vì tâm trí quá lo lắng về việc chuẩn bị bữa cơm sáng (Lāu-hsam) cho chu đáo, vị Hòa thượng không thể ghi nhớ được những gì Ngài Đại đức đang thuyết giảng. Vị ấy nhủ thầm: “Cũng đành chịu thôi, chờ đến rạng đông khi Ngài đi khất thực, ta sẽ sai một đứa trẻ nhà chùa đi mua một thùng bánh ở đâu đó rồi dâng lên vậy.” Vị Hòa thượng chỉ mải mê tính toán việc chuẩn bị vật phẩm cúng dường trong đầu. Đúng lúc rạng đông, Ngài Đại đức đứng dậy quàng y mang bát và nói: “Thôi, bấy nhiêu đó là đủ rồi, giờ tôi phải đi khất thực đây.” Nói rồi Ngài bước đi. Vị Hòa thượng trụ trì đi theo sau để mở cổng chùa. Ngài bỗng sững sờ, kinh ngạc đến mức không thể nào quên được trong suốt cuộc đời mình: Không biết từ bao giờ, rất nhiều người đã xếp hàng dài chờ sẵn để đặt bát cúng dường. Ngay lập tức, vị Hòa thượng nhận ra sự sai lầm trong suy nghĩ trước đây của mình; từ sự hân hoan, lòng vị ấy bỗng trĩu nặng một nỗi hối hận. Đúng như những gì Đức Thế Tôn đã dạy trong kinh **Ākaṅkheyya Sutta**, chúng ta nên lưu tâm về “sức hút của giới đức” đối với các vật phẩm cúng dường. Trong số những người đang dâng cơm cúng dường ấy, người ta thấy có cả vị thí chủ lớn của chùa là ông U Hman cũng có mặt... ## TRANG 286 Khi được hỏi, **U Hman** thưa rằng: “Con cũng không biết Ngài là bậc cao tăng, nhưng đêm qua con nằm mộng thấy có tiếng bảo hãy đi đặt bát ở đó, sẽ có một vị Alahan ngự đến. Dù giấc mộng có đúng hay sai thì việc đặt bát cúng dường cũng tạo nên công đức, vì vậy mà con đã đến đây, thưa Ngài.” Ngài Thiền sư nghe vậy càng thêm kinh ngạc. Khi hỏi những người khác, Ngài được biết họ cũng như **U Hman**, hoặc là nằm mộng thấy, hoặc nghe hàng xóm kể lại mà cứ thế đi đến dù chẳng hề biết rõ sự tình. Đám đông tụ tập đông đúc như một lễ đặt bát lớn. Vị trụ trì chùa ấy chính là **Ngài Thiền sư Shwe Aung Yo**. Sau này, Ngài Thiền sư trụ trì ấy sinh lòng hối hận sâu sắc vì những hiểu lầm trước đây. Mỗi khi thuyết pháp hay giảng dạy cho chư Tăng, Ngài thường nhắc lại chuyện này như một bài học. Không lâu sau đó, Ngài cũng phát nguyện vào rừng tu tập. Đối với những bậc thánh nhân đức hạnh như Ngài Thiền sư, việc thấu suốt mọi chuyện trong thế gian như nhìn lòng bàn tay là điều không đáng nghi ngờ. Tuy nhiên, đừng lầm tưởng rằng hễ biết điều gì là các Ngài đều nói ra. Chỉ khi thấy rõ cơ duyên và lợi ích cho việc thúc liễm thân tâm của hàng đệ tử hậu học như trường hợp của **Ngài Thiền sư Shwe Aung Yo**, các Ngài mới thường hé lộ đôi chút để thức tỉnh. ### Thiền mục jaggery (Đường thốt nốt) Khi Ngài Thiền sư trú tại am thất **Kyait Kwe Taung** trên đảo Bilu, có nhiều người đến đảnh lễ. Ngài bảo với **Ko Pho**, một người Ấn Độ từ làng Mayam: “Thí chủ này đã 60 tuổi rồi mà còn lười giữ giới Bát quan, ngay cả nhà mình cũng chẳng buồn quét tước, đến khi nước dâng cao thì phải nhờ nước 'quét' giùm nhà cửa.” Mọi người đều kinh ngạc tự hỏi: “Làm sao Ngài biết được ông ấy xây nhà ở vùng trũng như thế?” Dân làng Ywalut cũng thỉnh mời Ngài rời từ **Kyait Kwe Taung** sang trú tại **Kyait Doe Taung**. Khi vừa lên đến đỉnh núi, mọi người đều mệt lả và khát nước, nhưng xung quanh không thấy nguồn nước nào, mà họ cũng quên mang theo nước dự phòng. Lúc ấy Ngài bảo: “Các thí chủ hãy xuống dưới gốc cây kia mà lấy nước.” Mọi người làm theo và quả nhiên tìm thấy mạch nước suối. Họ lại một lần nữa sửng sốt: “Ngài chưa từng đến đây, sao lại biết rõ có nước ở đó?” Việc này là do Ngài dùng thần lực tạo ra nước, hay là do Ngài có năng lực thấu thị nhìn xuyên suốt thấy được mạch nước có sẵn, điều đó thật khó định luận. Câu chuyện mắt thấy tai nghe của vị Sa-di lớn tuổi **U Pandita** ở Kanyutkwin còn đáng kinh ngạc hơn nữa. ## TRANG 287 Khi Ngài cư ngụ tại núi **Maung Tee** ở Kyaikhto, **U Sanda** và đạo sĩ **U Pandi** (khi đó ông ấy vẫn còn là đạo sĩ) cùng theo hầu cận Ngài. Đạo sĩ vốn là người có tính hay lo xa, chuẩn bị mọi thứ chu đáo theo kiểu người xưa “cần là có ngay”. Một ngày nọ, khi ông đến hầu Ngài Thiền sư, Ngài liền hỏi: “Này đạo sĩ, sao con lại đem đường thốt nốt cất giấu kỹ trên xà nhà như thế?” Nghĩ rằng Ngài đã thấu suốt rồi thì có giấu cũng bằng thừa, đạo sĩ tiến tới bạch rằng: “Bạch Ngài, con cất đó để khi cần là có dùng ngay ạ.” “Ừ... khi con ngồi thiền, tâm con cứ lo lắng không biết chuột hay sóc có ăn mất túi đường của mình không, thế là việc hành thiền của con trở thành 'thiền đường thốt nốt' mất rồi. Đừng giữ nó nữa.” Ngài vừa dứt lời, vị đạo sĩ chỉ biết cười trừ đầy kinh ngạc. Một lần khác, **U Pandi** bị bệnh, ông định đi tìm **Thầy Thúy (Saya Htun)** ở làng Htap Kay để chữa trị, nhưng vì nể ngại Ngài Thiền sư nên không dám đi. Bệnh tình không thuyên giảm, cuối cùng ông quyết định phải đi. Khi ông vừa định đến đảnh lễ xin phép, Ngài đã nói đón đầu: “Này đạo sĩ, con đừng có nể ngại ta làm gì. Ngày nào con muốn đi tìm Thầy Thúy ở làng Htap Kay thì cứ việc đi.” Đạo sĩ **U Pandi** nghe vậy chỉ còn biết ngỡ ngàng quay về chuẩn bị khởi hành. ### Chỉ trọng tu tập, không giỏi kinh văn – Một sự hiểu lầm Trong thời gian Ngài trú tại thiền lâm **Maha Thaung** phía trên đầm nước cạnh núi **Kyauk Lon Gyi** ở Shwegyin, một số thí chủ từ Pyinmana muốn đến đảnh lễ Ngài. Các ông **U Thar Htoo** và những người bạn ở Shwegyin đã dẫn đường. Họ tình cờ gặp Ngài trên đường đi khất thực về từ làng Kan Bay Ai. Các thí chủ cung kính nhận lấy bình bát và theo Ngài về am thất. Khi về đến nơi, Ngài đã ban lời giáo huấn cho họ như sau: “Này các thí chủ, khi muốn xây dựng những cung điện, đền đài nguy nga tráng lệ và phức tạp, nếu chỉ có tài nghệ mà không có dụng cụ như đục, bào thì liệu có làm được không? Ngược lại nếu có đầy đủ dụng cụ mà không có kiến thức, tay nghề không tinh xảo thì có xây được không?” “Bạch Ngài, không thể được ạ.” “Đúng vậy, phải có cả dụng cụ lẫn tài nghệ tinh thông thì mới có thể thành tựu được đúng không?” “Thưa vâng, đúng như vậy ạ.” “Cũng như vậy, trong công trình của Giáo pháp, cả Đức tin (Saddha) và Trí tuệ (Panna) đều phải song hành mới có thể thực hiện được. Thiếu một trong hai đều không xong. Do đó, trong mọi Phật sự công đức, hãy cố gắng tu tập cho trọn vẹn cả Đức tin và Trí tuệ.” ## TRANG 288 Sau khi nghe pháp xong, các thí chủ đảnh lễ ra về. Trên đường đi, một vị thí chủ từ Pyinmana vừa mừng vừa tủi nói rằng: “Không thể không tin Ngài Thiền sư là bậc Thánh đã đắc thần thông. Bài pháp Ngài vừa giảng chính là để răn dạy tôi đấy.” Mọi người đều chú ý và hỏi thăm sự tình. Ông giải thích: “Từ lúc đi theo sau Ngài, trong lòng tôi cứ mải suy nghĩ rằng: 'Chà... Ngài Thiền sư này tuy giới hạnh và sự tu tập (Patipatti) thật đầy đủ, nhưng về mặt kinh điển Pháp học (Pariyatti) thì có lẽ không mấy hiển đạt. Thật hiếm có bậc vẹn toàn cả đôi bề.' Tôi cứ suy nghĩ như thế suốt dọc đường, Ngài biết rõ tâm niệm ấy nên đã cố ý dùng ví dụ đó để răn dạy tôi.” Ở điểm này, tôi xin phép trình bày đôi chút về việc thấu thị tâm tư người khác để chúng ta cùng lưu ý. Việc biết được ý nghĩ của người khác gọi là “**Tha tâm thông**” (Paracittavijanana Abhinna). Tuy nhiên, không phải chỉ khi đắc thần thông này mới biết được. Nếu lực định (Samadhi) mạnh mẽ, người ta cũng có thể thấu cảm được ở mức độ nhất định, nhưng điều đó thường không hoàn toàn thanh tịnh, rõ ràng hay chuẩn xác. Ngoài ra, người ta cũng có thể biết được thông qua các phương pháp hỗ trợ khác không liên quan đến sự tu hành thanh tịnh (**Brahmacariya**). Do đó, cứ hễ biết được tâm niệm người khác thì chưa chắc đã phải là bậc Thánh. Không những thế, ngay cả việc có đầy đủ giới hạnh hay chưa cũng chưa thể khẳng định được. Vì Ngài vừa là bậc xuất gia, lại có những năng lực đặc biệt này, nên những người thiếu trí tuệ, vốn chỉ hay sùng bái những điều thần bí, thường không thể phân biệt được đâu là bậc Thánh thật sự và đâu là những vị đạo sĩ (phái xuất thế) có bản ngã lớn. ### Việc thiết lập các trường Phật học lớn Ngài Thiền sư cũng đã đứng ra thiết lập và hỗ trợ để hình thành nên các trường Phật học (**Pariyatti**) lớn tại khắp các thành phố ở vùng Hạ Miến. Đó là bởi Ngài thấu hiểu sâu sắc công đức và ơn ích to lớn của Pháp học. Về phần mình, Ngài vẫn thích thú với nếp sống lâm viên, nay rừng này mai rừng khác, di chuyển từ gốc cây này sang gốc cây kia, vui hưởng đời sống độc cư trọn đời. Ngài tự mình thân chứng (**Sanditthika**) niềm an lạc của Pháp hành (**Patipatti**) và hằng mong muốn niềm an lạc chân thực ấy được gìn giữ, lan tỏa và hưng thịnh cho thế hệ mai sau. Mà thứ có thể bảo tồn và duy trì được những quả vị giải thoát chân thực ấy thì không gì khác ngoài Pháp học (**Pariyatti**). Cũng giống như việc phải có bờ đê thì nước mới giữ lại được, và có nước thì hoa sen mới có thể sinh trưởng tốt tươi. Ba trụ cột của Giáo pháp là Pháp học (**Pariyat**), Pháp hành (**Patipat**) và Pháp thành (**Patividha**) cũng tương tự như ví dụ ấy vậy. Do đó ngài đã thiết lập những trường học giáo học (pariyatti) lớn. ## TRANG 289 Ngài cũng đã thực hiện nghi thức kiết giới Sīmā cho rất nhiều ngôi đại giới đàn. Thậm chí, ngay trong lúc đang tiến hành nghi thức kiết giới Sīmā, sắc nghiệp tái sinh (*cuti-kammaja-rūpa*) của Ngài đã chấm dứt (Ngài viên tịch). Suốt đời, Ngài luôn khuyến khích và thúc liễm các vị Tỳ-kheo trẻ chuyên tâm kinh điển, đồng thời không ngừng hỗ trợ và khích lệ các vị trưởng lão tinh tấn hành thiền. Lời dạy của một số vị thầy thiền và hành giả thời nay cho rằng "không cần học rộng, học rộng khó đắc pháp" thật sự cách xa với chân lý như trời với vực, như thiên giới với địa ngục *Avīci*. Chính vì vậy, các bậc Trưởng lão hoằng pháp thuở xưa như Ngài Sīlavuddhi, Ngài Caṇḍavajjī, Ngài Rohaṇa và nhiều vị khác đã luôn chăm sóc và nuôi dưỡng các vị Sa-di nhỏ tuổi – những vị như Ngài Moggaliputta, Ngài Nāgasena, Ngài Arahaṃ vốn là những bậc Thánh tương lai. Các Ngài đã che chở các vị ấy như nuôi dưỡng những vị hoàng thái tử kế vị ngai vàng, nuôi lớn các vị ấy bằng dòng sữa tri thức kinh điển (*pariyatti*). Thực tế, những bậc A-la-hán vĩ đại thường xuất thân từ những vị Sa-di nhỏ tuổi. Muốn có lõi gỗ quý thì phải biết giữ gìn từ lớp vỏ, muốn ăn trái ngọt thì nhất định phải bắt đầu từ việc gieo trồng cây xanh. ### Giáo pháp lan tỏa tại Mawlamyine Năm 1249 (Miến lịch), Trưởng lão U Sīla lần đầu tiên đặt chân đến vùng Mawlamyine. Ban đầu, Ngài trú tại một khu rừng lớn gần nghĩa trang phía bắc làng Tayoke Hla, vùng Hpa-an. Sau đó, dân làng đã phát tâm xây dựng và cúng dường một ngôi chùa tre. Danh tiếng đức hạnh của Ngài tỏa ngát khắp vùng, khiến Phật tử khắp nơi tìm đến thỉnh cầu Ngài giúp đỡ các Phật sự. Ít lâu sau, khi đang trú tại một ngôi chùa rừng ở vùng Taungwaingyi, Ngài đã đến chùa Mahāmyaing ở Mawlamyine để gặp vị trụ trì là Ngài U Sāgara, nhờ vị này làm thầy tế độ cho một đệ tử của Ngài chuẩn bị thọ giới Tỳ-kheo. Ngài U Sāgara vốn đã biết Trưởng lão U Sīla là đệ tử của ngài Makkhara Sayādaw – một vị giáo thọ nổi tiếng trong hệ phái rừng Tawya. Đêm trước đó, Ngài U Sāgara đã nằm mộng thấy "một thớt voi trắng đi vào từ hướng đông của chùa". Vào ngày làm lễ thọ giới, khi thầy trò Trưởng lão đi khất thực trên con đường rừng, dù nơi đó vốn thưa thớt bóng người, nhưng dân chúng đã vân tập đông đảo, dâng cúng đầy đủ các loại vật phẩm và vật thực ngon lành, đến mức người ta phải dùng những đòn gánh lớn nhỏ để chuyển đồ cúng dường về chùa Mahāmyaing. Ngay cả những món ăn đã chuẩn bị sẵn cho buổi lễ cũng trở nên dư thừa. Đây chính là những hạt giống đầu tiên của hệ phái rừng Tawya được gieo xuống vùng Mawlamyine. Một lần nọ, thí chủ U Thā Nyo cùng các cư sĩ khác ở Mawlamyine đã thỉnh Ngài đến và cúng dường ngôi đại tự viện Panbetan. Tuy nhiên, một nhóm Tăng chúng thuộc hệ phái Shwegyin đã --- kiện cáo sự việc này. Họ lên án rằng: "Vị sư này đang cưỡng chiếm chùa. Ngài đi đến đâu là nơi đó xảy ra tranh chấp", cùng nhiều lời cáo buộc khác nhằm gây khó dễ. (Đây là điểm cần lưu ý về nghiệp quả can thiệp). Ban đầu, chư Tăng tại địa phương do Trưởng lão Vajirārāma và Trưởng lão Minkhin dẫn đầu đã triệu tập Ngài để đối chất. Thí chủ U Thā Nyo thưa rằng: "Thay mặt Ngài, con xin đứng ra chịu sự thẩm vấn", nhưng các vị ấy bác bỏ: "Chúng tôi không kiện ông". Phía đối đầu có những thí chủ quyền thế như ông chủ chùa U Zina và vị triệu phú U Moe. Vào ngày xét xử, lo ngại sẽ xảy ra náo loạn, ông U Moe đã mời cả viên công sứ người Anh, "Mr. Pratt", cùng đội cảnh sát đến bảo vệ, đồng thời dựng một rạp lớn để tiếp đón. Trưởng lão U Sīla cũng từ chùa Taung Taungwaing đi đến nơi theo lệnh triệu tập. Vừa thấy Ngài bước vào, viên công sứ Anh – dường như đã biết danh Ngài từ trước – liền đứng dậy cung kính chào, khiến mọi người vô cùng kinh ngạc. Trưởng lão không nói lời nào, chỉ đi thẳng vào giữa hội chúng Tăng-già. Ngài đảnh lễ Tam Bảo, rồi cung kính chắp tay thưa với các bậc Trưởng lão về lý do mình có mặt theo lệnh triệu tập. Thấy dáng vẻ khiêm cung và tôn kính của Ngài, một số cư sĩ tại đó lại nảy sinh lòng thương hại, cho rằng: "Vị sư này chắc đang vô cùng sợ hãi nên mới lễ lạy như thế". (Các bậc giáo thọ am tường kinh điển và những thí chủ chỉ biết nương tựa vào lối tu ấy nên lưu tâm về điểm này). Một vị Trưởng lão trong hội đồng lên tiếng: "Việc Tỳ-kheo U Sīla nhận cúng dường ngôi đại tự viện Panbetan này từ các thí chủ là điều không phù hợp. Chúng tôi muốn Ngài từ bỏ ngôi chùa này". Trưởng lão U Sīla đáp: "Bạch hóa các Ngài, người nhận cúng dường ngôi chùa này không phải là tôi, mà là Tỳ-kheo U Mālā ở Mudon". Trưởng lão Vajirārāma nói: "Tỳ-kheo U Sīla và vị sư ở Mudon cùng một tư tưởng, Ngài không nên dùng cách này để thoái thác". (Lúc ấy có người dẫn điển tích rằng): "Trong truyện tiền thân *Siṅghapuppha*, dù người thợ săn có hái đi bao nhiêu gương sen và hoa sen đi nữa cũng không bị kết tội là kẻ trộm. Nhưng vị ẩn sĩ Bồ-tát, người chỉ đứng dưới gió để ngửi hương sen, lại bị vị thiên nữ giữ cây cáo buộc là kẻ trộm hương. Nếu là người khác nhận cúng dường ngôi chùa này thì có lẽ đã không bị chỉ trích. Nhưng với một vị như Trưởng lão U Sīla, người vốn đã từ bỏ và đem cúng dường lại tất cả mọi lợi lộc, nếu Ngài không thể từ bỏ ngôi chùa này thì e là không thỏa đáng". Trưởng lão U Sīla chất vấn lại: "Các Ngài là những vị luật sư (*vinayadhara*) có trách nhiệm phân xử vụ việc này, nhưng các Ngài lại đến ngôi chùa của bên nguyên đơn, thọ thực các món vật thực do bên nguyên chuẩn bị, và ngay cả trước khi bắt đầu thẩm vấn hay xem xét, các Ngài --- ## TRANG 290 ## TRANG 291 đã dùng cụm từ 'chùa của bên nguyên đơn' để gọi tên nơi này. Nếu các Ngài tiếp tục xét xử và đưa ra quyết định như thế, liệu có đúng với tinh thần của Giáo Pháp và Giới Luật hay không?". Trước lời lẽ ấy, các vị Trưởng lão trong hội đồng hoàn toàn im lặng, không thể nói thêm lời nào. Trưởng lão U Sīla liền đảnh lễ Phật rồi đứng dậy rời đi. Viên công sứ Mr. Pratt cũng cung kính tiễn Ngài và nói với hội chúng rằng: "Đây là một vị sư vô cùng đức hạnh". Sau đó, vị này kể lại những sự kiện đã diễn ra khi gặp Ngài tại trạm dừng chân ở Kyaikto rồi mới ra về. Bốn năm ngày sau, phu nhân của viên công sứ đã đến dâng cúng các bộ y song (*dvicīvara*) và vật thực cho Trưởng lão cùng chư Tăng đi cùng. Sau đó, vụ việc được đưa ra tòa án xét xử lại. Tòa phán quyết rằng đây là chùa thuộc về Tăng chúng (*saṅghika*), nên việc Ngài cư trú là không có lỗi. Từ ngôi chùa này, công cuộc hoằng pháp của hệ phái rừng Tawya tại Mawlamyine chính thức bắt đầu. Với sự hiện diện của khoảng ba mươi đến bốn mươi vị Tăng, nơi đây đã trở thành một học viện lớn, hằng năm đều tổ chức các kỳ thi sát hạch Giới luật (*Vinaya*). Các kỳ thi tương tự cũng được tổ chức tại Kyaikto và Thaton (việc thiết lập học viện tại Thaton đã được trình bày ở phần trước). Trong quá trình hoằng pháp, việc Trưởng lão chú trọng thiết lập các học viện chuyên sâu về Giới luật không phải chỉ vì lợi ích trước mắt, mà dường như Ngài đã nhìn thấu nhu cầu lâu dài của giáo pháp trong tương lai. Có lần, tại giới đàn Kyaikkaw Seik, khi thấy một người tên là U Po Yin ở Kyaikto thường hay có tâm chỉ trích các vị Tỳ-kheo mỗi khi thấy họ có chút thiếu sót, Trưởng lão đã gọi: "Này Po Yin, lại đây", rồi dẫn ông ta vào trong giới đàn. Tại đó, Ngài dạy rằng: "Này Po Yin, sau khi ta không còn nữa, giáo pháp mà ta đã dày công xây dựng này sẽ không giữ được như hiện trạng đâu". Lời giáo huấn này chẳng khác nào một lời tiên tri về vận mệnh tương lai của giáo pháp. Ngài còn dạy thêm: "Nếu tâm con được sửa đổi và có lòng tin kính thì đó là phước báu của con, bằng không thì thôi, đừng có nói năng này nọ". ### Hệ phái rừng Nyaunglebin Ngôi chùa rừng Nyaunglebin cũng được thành lập vào năm 1256 (Miến lịch) theo chỉ thị của Trưởng lão. Ban đầu, có 11 vị Tăng cùng Trưởng lão U Soma (người làng Khin-U Monhla, từ chùa rừng Khway) đến đây trú ngụ. Chính Trưởng lão U Sīla đã thực hiện nghi thức kiết giới Sīmā tại đây và cho tổ chức các kỳ thi sát hạch Giới luật. Về sau, nơi đây đã sản sinh ra nhiều bậc cao tăng lỗi lạc cho giáo pháp như Đại Trưởng lão Aggamahāpaṇḍita U Ariya (vị được chính Trưởng lão U Sīla làm thầy tế độ) và Đại Trưởng lão Aggamahāpaṇḍita Medinī U Āḷāra. ## TRANG 292 Tu viện Nyaung Lay Bin Tawya không chỉ đào tạo nên các bậc thày về **Duyên khởi (Paṭiccasamuppāda)**, mà còn trở thành một trung tâm truyền giáo lớn, gieo hạt giống giáo pháp cho đông đảo quần chúng nhân chúng. ### Tu viện Kyaikkasan Tu viện Kyaikkasan tại Yangon được thành lập vào năm 1262 (lịch Miến). Trưởng ban quản trị chùa Kyaikkasan là **U Tha Shi**, sau khi bàn bạc với chủ tu viện Pyi Gyi Mandine là **U Po Nyein** và **U Po Sin** ở Sitsan, đã mua đất và xây dựng tu viện. Sau khi hoàn thành, họ đã dâng cúng lên Ngài với tâm nguyện lập một trường Phật học (Sadaik). Ngài thọ nhận rồi bàn giao lại cho **Ngài Visuddhārāma Sayadaw** ở Mandalay. Sau một hạ, theo tâm nguyện của Ngài, tu viện được giao lại cho Ngài **U Uttama** ở Kyaik Padein Theinkon quản lý. Tăng chúng tại đây có khoảng 190 vị. **Ngài Sayadaw U Uttama** cùng với chư Tăng thường xuyên đi điều hành kỳ thi Luật tạng (Vinaya) tại Bago và phân xử các vụ việc trong giáo đoàn. ### Tu viện Shwe Hintha Tawya, Nyaungdon Vào năm 1262, khi các thí chủ ở Nyaungdon thỉnh mời Ngài, Ngài phán rằng: "Phải làm sao để mang lại lợi ích lâu dài cho giáo pháp mới tốt". Vì vậy, họ đã chuẩn bị đất để xây dựng trường Phật học và đất để kết giới Sīmā. Nơi đây về sau trở thành tu viện trường Phật học lớn mang tên **Shwe Hintha Tawya**. Ban đầu, tu viện được giao cho Sayadaw **U Sāsana** ở Kyaung Daw Yar. Thời kỳ đầu, chư Tăng trú ngụ trong những lán trại nhỏ bằng tre. Khi tổ chức lễ kết giới Sīmā, nhờ nhân duyên hội đủ, có sự tham dự của các bậc trưởng lão lãnh đạo giáo hội như **Ngài Mahā Visuddhārāma Sayadaw**. Ngôi Sīmā ấy – vốn được ví như nhịp cầu của các thắng sự Luật tạng và là mạch sống của giáo pháp – đã được thành tựu viên mãn. Các kỳ thi Luật tạng cũng được tổ chức tại đây. Với quân số từ một đến hai trăm Tăng chúng, nơi đây cho đến nay vẫn đứng hàng đầu trong các trường Phật học Pháp học (Pariyatti) tại Myanmar. Tại thị trấn Phyu, hai tu viện **Shwe kyin Taung (Nam)** và **Myauk (Bắc)** cũng được thành lập dưới sự chỉ dạy của Ngài. Nhờ uy đức của Ngài, số lượng các ngôi Sīmā và tu viện thiền lâm (Tawya) mọc lên rất nhiều. Qua những sự kiện này, chúng ta có thể hình dung được quy mô của nền Phật giáo Pháp học vốn đã bắt đầu đặt nền móng tại vùng Hạ Myanmar thời bấy giờ. ## TRANG 293 ### Lợi lộc dồi dào Bất cứ nơi nào **Ngài Thayaung Sayadaw (U Sīla)** đi qua, tứ vật dụng và vật thực dâng cúng nhiều đến mức phải dùng xe bò để chở. Tất cả những vật dụng dư thừa, Ngài đều đem cúng dường lại cho chư Tăng. Tại những nơi Ngài sắp đến, người dân chen chúc nhau vì ai cũng muốn là người đầu tiên được dâng đặt bát. Có lần, khi Ngài đến tu viện Thaungoo Myo Daunt, vì thấy mọi người tranh giành thứ tự trước sau, Ngài đã dạy rằng: "Nếu muốn được nhiều phước báu, hãy nghe lời ta: Hãy cúng dường đến chư Tăng." Sau đó Ngài bảo họ xếp hàng trên sân chùa để đặt bát cúng dường đến toàn thể chư Tăng cùng đi với Ngài. Một lần khác, Ngài cùng với chư vị Sayadaw như **Kon Yaik Sayadaw**, **Mahā Myaing Sayadaw**, **Thet Nge Taung Sayadaw** đi đến Kyon-doe bằng thuyền lớn. Đêm đó, vì còn cách Kyon-doe khá xa, Ngài bảo dừng thuyền nghỉ lại giữa đường. Các người chèo thuyền chỉ biết nghe lệnh mà nghỉ, nhưng trong lòng đầy lo lắng suốt đêm vì nơi đây là rừng rậm hoang vu, không có bóng người, sợ sáng ra không có vật thực dâng cúng. Tuy nhiên, khi bình minh vừa hé rạng, họ vô cùng kinh ngạc khi thấy dân làng từ những căn lều rải rác trong rẫy ồn ào kéo đến dâng vật thực. Trên đường đi Kyaiktiyo, sau khi gặp người quản tượng, Ngài tiếp tục cuộc hành trình và sáng hôm sau đến một khu rừng rậm. Nơi này vẫn còn cách xa **Thet Nge Taung**, không thấy bóng dáng lều rẫy nào. Cư sĩ hộ độ **U Po Lay** thấy giờ thọ trai đã cận kề mà không có hy vọng gì tìm được vật thực nên rất lo lắng. Bỗng nhiên, trên một gốc cây mục bên đường, ông phát hiện một gói vật thực còn bốc hơi nóng được đặt theo cách dâng cúng Pamsukūla (vô chủ). Bữa thọ trai chay tịnh gồm chuối, cơm dừa và bánh trái khiến họ vui mừng và kinh ngạc không thôi. Khi Ngài đang lưu trú tại **Shwe kyin Tawya**, ông **U Shwe Hnit** và những người khác từ Kyaikto đã dùng thuyền chèo lớn đến thỉnh Ngài. Sau hai ngày xuôi dòng, thuyền đến một vùng rừng núi hoang vu hẻo lánh ở thượng nguồn sông Sittaung. Lúc đó vào khoảng 3 giờ sáng, Ngài bảo dừng thuyền rồi lên một ngôi giảng đường (Zayat) cũ đi kinh hành. Trong đêm tối, có một người tiến đến hỏi: "Ai đó?", khi nghe đáp: "Là Ngài Sayadaw", người đó lập tức rời đi. Chỉ một lát sau, cả vùng Sittaung rực sáng ánh đèn, rất đông người kéo đến dâng vật thực. Lượng vật thực nhiều đến nỗi chất gần đầy một chiếc thuyền lớn mang về đến tận Kyaikto. Lợi lộc dồi dào đôi khi cũng là một sự cản trở đối với cả bậc A-la-hán, vì nó có thể làm giảm thời gian hành đạo (**Lābhasakkāra Saṃyutta**). Sự tấn công của danh lợi cũng nguy hại như sự tấn công của tai ương. ## TRANG 294 ### Những đức hạnh ẩn mật Những chuyện nêu trên chỉ là một phần nhỏ trong những sự kiện diễn ra tại những nơi hoang vắng, không người. Còn tại những địa điểm Ngài đến chính thức, vật thực được dâng cúng nhiều đến mức phải dùng nhiều xe bò để chở, tạo nên những đại lễ đặt bát vô cùng trang nghiêm. Ngài đều đem tất cả dâng cúng lại cho chư Tăng. Một số người không hiểu rõ tâm hạnh của Ngài, khi thấy Ngài nhận những lợi lộc dồi dào hay sử dụng những vật dụng sang trọng (thực chất là để tế độ đức tin của hàng cư sĩ), đã nảy sinh tâm **tật đố (issā)** và **bỏ rít (macchariya)** mà phạm lỗi lầm. Hỡi các bậc thiện trí, hãy hết sức cẩn trọng; lợi lộc chính là con dao hai lưỡi. Có lần, một thí chủ dâng cúng nước dừa từ vườn nhà, Ngài bảo: "Hãy đặt tạm ở kia một lát". Vị đó bạch: "Để lâu sẽ mất ngon" rồi khẩn thiết dâng ngay, buộc Ngài phải dùng. Vị thí chủ rất hoan hỷ vì dâng cúng được nước dừa của mình. Nhưng đến chiều, vị ấy lại cảm thấy hối hận. Lý do là vì mỗi ngày Ngài chỉ dùng vật thực một lần, một chỗ duy nhất, gọi là hạnh **Nhất tọa thực (Ekāsanikanga dhutaṅga)**. Có rất nhiều giới hạnh ẩn mật của Ngài mà người đời không hề hay biết. Xưa kia, tại thành Verañjā, do sự khuấy đảo của Ma vương (**āvaṭanī māyā**) khiến vị Bà-la-môn thỉnh mời đức Thế Tôn bị quên lãng suốt mùa an cư, Ngài và chư Tăng đã phải thọ dụng lúa mạch của ngựa. Ngài Sayadaw và những bậc thánh nhân như vậy cũng có khi không có vật thực suốt ba bốn ngày, chỉ dùng nước lọc để duy trì mạng sống, chuyện đó không phải là hiếm. Đức hạnh tu tập của bậc thiện trí là điều người phàm khó lòng thấu triệt. Dù nhận được lợi lộc dồi dào, vật thực tinh khiết mỹ vị, hay khi hoàn toàn không có gì, các Ngài vẫn không hề dao động. "**Iṭṭhāniṭṭhesu tādi-no** = Đối với cảnh lạc hay cảnh khổ, tâm các Ngài vẫn luôn bất biến (tādi)". Vì vậy, đôi khi thấy các Ngài thọ nhận sự cúng dường long trọng, xa hoa để khích lệ đức tin cho chúng sinh, chúng ta chớ nên khởi tâm ác ý kẻo mang đại tội. Những năng lực của **Giới - Định - Tuệ** là những thắng lực siêu việt, vượt ngoài logic và tầm trí hiểu của người thường. ## TRANG 295 ### Hành trình Parinibbāna và các Xá-lợi Hạ lạp năm 1268 (Ấn lịch), Ngài an cư tại Kwam-thae Taw-ya trên đảo Bilu. Có mười nơi từ vùng đồng bằng châu thổ đã thỉnh Ngài đến để làm lễ kết giới Sīmā. Trước khi lên tàu tại Yangon, trong lúc Ngài tạm nghỉ tại tu viện Bagan Taung ở Mawlamyine, Ngài Đại đức **U Ñāṇuttara** từ Kyundo Taw-ya cũng đến thỉnh Ngài kết giới Sīmā. Trong khi Ngài đang tịnh dưỡng một mình trong phòng, Đại đức **U Ñāṇuttara** đã vào xoa bóp tay chân để hầu cận Ngài. Thấy Ngài chỉ còn da bọc xương, vị đại đức không khỏi xót xa tâm can. Ngài truyền dạy rằng: "Máu thịt của lão đã khô héo cả rồi. Những người thỉnh lão có lẽ tưởng lão còn khỏe, nhưng không đâu **U Ñāṇuttara** à, lão chẳng còn khỏe nữa. Nếu phải tịch, lão cũng chẳng muốn tịch ở nơi phố thị xóm làng, mà chỉ muốn tịch giữa chốn rừng sâu mà thôi." Nghe những lời ấy, tâm vị đại đức lại càng thêm sầu muộn. Nhưng rồi Ngài nói lời an ủi: "**U Ñāṇuttara** hãy cứ chuẩn bị đầy đủ cho việc kết giới Sīmā đi, có lẽ lão sẽ về kịp mà." Lời ấy khiến vị đại đức vững tâm hơn đôi chút, nhưng câu nói "Chẳng muốn tịch nơi phố thị" cứ vang vọng mãi trong tai không dứt. Ngày hôm sau, Ngài cùng các đệ tử lên tàu đi Yangon. Do người giữ vé sơ suất không lấy vé, Ngài phải ở trên boong tàu. Khi định xuống, cầu tàu đã được rút lên nên Ngài đành phải tùy nghi theo tàu mà đi. Lúc này Ngài đã 75 tuổi, căn bệnh lỵ ra máu lại càng trầm trọng, Ma vương không ngừng quấy nhiễu gây khổ não. Đến Yangon, Ngài đổi sang tàu đi Pantanaw rồi lần lượt thực hiện lễ kết giới Sīmā tại các làng We-htaung, Daw-wa, In-ma và các Sīmā ở Seik-gyi, Kha-ywe-kha-pho. Tiết trời tháng Tagu (tháng 4) nóng bức khắc nghiệt, thân tứ đại của Ngài chỉ còn thoi thóp chút hơi tàn. Sau đó, Ngài ghé vào tu viện Shwe Hintha Taw-ya ở Nyaung-don rồi từ Danubyu khởi hành đi dự lễ kết giới Sīmā tại Zalun. Suốt dọc hành trình, Ngài không ngơi nghỉ mà luôn tế độ chúng sinh. Các phái đoàn đón rước từ Zalun đã tề tựu đông đủ. Do chiếc tàu thủy thường chạy quanh đảo bị hỏng nên Ngài phải đợi ở Danubyu. Căn bệnh lỵ ra máu liên tục hành hạ, Ngài không còn dùng được chút vật thực nào nữa. Một người xoa bóp thốt lên: "Máu thịt của Ngài đã cạn kiệt, chạm vào đâu cũng chỉ thấy toàn xương, các đại trong thân đã hoại cả rồi." Tuy vậy, gương mặt Ngài vẫn luôn rạng rỡ và an nhiên. Đến 2 giờ sáng ngày mùng 3 sau trăng tròn tháng Kason năm 1269, Ngài cập bến Zalun. Nghe tiếng còi tàu, cả thành phố đổ xô ra đón rước. Đoàn kịch của ông Pu Zin đang biểu diễn cũng phải dừng lại. Vì chiếc tàu thường lệ chưa sửa xong nên một chiếc tàu khác được điều đến thay thế, và kỳ lạ thay, tên của chiếc tàu đó lại là "Nibbāna" (Niết-bàn). Khi đến tu viện ở nghĩa trang thành phố Zalun, Ngài lập tức thực hiện việc kết giới Sīmā ngay trong ngày mà không chút chậm trễ. ## TRANG 296 Suốt ngày hôm ấy, Ngài cho phép đại chúng chiêm bái, nhưng đến đêm, chứng lỵ ra máu lại tái phát dữ dội vô số lần. Ngài từ chối mọi loại thuốc men. Thấy y phục bị vấy bẩn, các đệ tử định thay y mới nhưng Ngài nắm chặt không buông. Chỉ khi đệ tử bạch rằng: "Bạch Ngài, đây cũng là y Pāṃsukūla (y phấn tảo) và đã được đóng dấu Bindu (điểm dấu tịnh) rồi ạ" thì Ngài mới đồng ý cho thay. Đến 7 giờ sáng thứ Hai, ngày mùng 4, ở tuổi 75, với đầy đủ **Sati-Sampajañña** (Chánh niệm và Tỉnh giác), Ngài đã hoàn toàn buông bỏ gánh nặng ngũ uẩn. Các bậc thiện tri thức luôn dùng tấm thân này cho giáo pháp và chúng sinh cho đến tận phút cuối cùng. Thấu triệt sự an lạc vĩnh cửu vô song của **Asaṅkhata Nibbāna-dhātu** (Vô vi Niết-bàn giới), các bậc Thánh A-la-hán vô cùng hoan hỷ khi bước vào **Parinibbāna** (Bát-niết-bàn). Đúng như tâm nguyện "Chẳng muốn tịch nơi phố thị", Ngài đã nhập **Parinibbāna** tại khu rừng nghĩa trang. Những vị Tăng và cư sĩ không hiểu rõ sự khác biệt giữa việc nhập **Parinibbāna** và cái chết thông thường của con người, giữa việc đạt được giới an tịnh vĩnh cửu và sự tái sinh khổ não bất định, đã khóc thương nức nở với tất cả niềm tôn kính. Các bậc thiện nam, chư Thiên và Phạm thiên thấu hiểu sự thật đã biểu lộ những dấu hiệu hoan hỷ khác nhau. Khắp vùng đất Zalun rung chuyển bởi một trận động kinh, đất mẹ đại địa vang rền tiếng lành "Sādhu" (Lành thay). Các loài cây trái trái mùa đồng loạt đua nhau đâm chồi nảy lộc, rộ nở hoa trái để cúng dường. Những sự kiện tưởng chừng "không thể, chỉ là phóng đại" trong kinh điển Pipiṭaka, nay khiến các bậc trí giả thiện tri thức càng thêm tin tưởng, thấy rằng "những gì ghi chép lại vẫn còn là ít". Vì Ngài xả bỏ gánh nặng ngũ uẩn tại thị trấn nhỏ Zalun nên các thí chủ ở Yangon cho rằng nơi đây không xứng tầm với đức độ của Ngài. Họ đã thuê nguyên một chuyến tàu đến để đòi rước kim thân Ngài về. Cuối cùng, theo lệnh của các bậc Trưởng lão, họ còn định huy động cả quân đội và cảnh sát để gây áp lực. Giống như thuở Đức Thế Tôn nhập **Parinibbāna**, người dân Zalun và vùng Malla (ý chỉ người dân địa phương) cũng sục sôi đau thương và phẫn nộ, quyết "đổi mạng" để giữ lại kim thân. Các Tăng ni và cư sĩ từ vùng phía Đông nơi Ngài từng trụ ngụ cũng đưa ra những lý lẽ riêng để thỉnh Ngài về. Nhưng người dân Zalun nhất quyết không nhượng bộ. Họ tuyên bố: "Dù có tan thành tro bụi cũng không để một chút gì bay sang phía Đông!", cả chư Tăng lẫn cư sĩ đều để cho cái ngã xen vào tâm cảm hoài thương, khiến cả nước đành phải bỏ cuộc. Trong một đại lễ công đức mà ác nghiệp lại nảy sinh. ## TRANG 297 Vì sợ kim thân bị đánh tráo hoặc lấy trộm, người dân đã làm một chiếc quan tài bằng đồng và treo lên cao ngoài tầm với của mọi người, luôn có bốn người túc trực canh giữ. Em gái của Ngài và người dân từ nhiều nơi đến bên kim thân vừa khóc vừa buông lời trách móc, oán than người dân Zalun, nhưng họ vẫn thản nhiên: "Muốn khóc sao cũng được, miễn không mất kim thân là được rồi." Lễ trà-tỳ được tổ chức vào tháng Tabodwe (tháng 11 Ấn lịch) năm ấy. Việc xây dựng và cúng dường không thiếu một thứ gì, không khí đông đúc nhộn nhịp như ong vỡ tổ. Người dân Zalun đã có cơ hội bày tỏ lòng thành tín một cách trọn vẹn nhất. Tại khu vực trà-tỳ, những bức họa tái hiện cuộc đời của Ngài được trưng bày khiến ai nấy đều không cầm được nước mắt. Suốt ngày đêm, các đội văn nghệ địa phương không ngừng ca hát, khóc kể về cuộc đời Ngài, khiến ngay cả các bậc Trưởng lão cũng phải cúi đầu rơi lệ. Đến lúc này, mọi người mới thấu hiểu hết ân đức sâu dày của Ngài. Bốn phía quanh kim thân, những ngọn nến được thắp sáng; dù gió thổi từ bốn phương hội tụ nhưng ngọn lửa vẫn như nghiêng mình cúi đầu hướng về phía kim thân mà rực cháy. Trên quan tài đồng, nhiều người cùng nhìn thấy rõ rệt hình ảnh một vị sư bưng bát khất thực bước đi, phía sau có một vị Thiên nhân che lọng hộ tống. Không chỉ một người mà rất nhiều người đã chứng kiến cảnh tượng ấy. Trong suốt buổi lễ, không hề xảy ra xích mích hay mất mát đồ đạc gì; hoa đốn-na (Dona) và nước thơm bán không kịp cho người mua. Ban đầu lễ trà-tỳ định diễn ra vào ngày mùng 2 sau trăng tròn tháng Tabodwe, nhưng do đại chúng quá say sưa theo dõi các đội văn nghệ ca diễn nên thời gian trôi qua, đến 8 giờ sáng ngày hôm sau lễ trà-tỳ mới thực hiện được. Kim thân Ngài không hề có mùi tử khí. Sau khi hỏa thiêu, lượng gỗ trầm hương và gỗ than-kha (thanaka) dùng để cúng dường vẫn còn dư lại tới năm xe bò. Khi tro cốt được đặt vào thùng sắt và cho phép đại chúng thỉnh về, ngay lập tức mọi người tranh nhau lấy, đến nỗi than và các hàng rào tre cũng hết sạch, mặt đất nơi đó bị đào thành một cái hố lớn. Những người thỉnh được tro cốt đem về đặt vào lọ nước thơm để thờ phụng, thấy từ tro bụi hiện ra những viên nhỏ li ti (Xá-lợi) lung linh ẩn hiện. Ban tổ chức lễ tang đã cất giữ tro cốt vào các rương sắt, khóa nhiều lớp và canh giữ vô cùng nghiêm ngặt, thậm chí sẵn sàng đổi cả tính mạng để bảo vệ. Khi mở ra xem, mọi người kinh ngạc phát hiện tro trong bát bạc không còn là tro nữa mà đã biến thành những viên Xá-lợi tròn trịa. Lúc bấy giờ, ngay cả những người từng gần gũi Ngài nhưng vốn chưa từng nghĩ Ngài là bậc cao thượng như thế, đã cảm thấy hối hận khôn nguôi vì sự hời hợt của mình khi xưa. Dù lễ tang đã kết thúc, nhưng tại nơi trà-tỳ vẫn rộ lên tin đồn về "những quầng sáng lớn bay lên không trung", khiến suốt cả mùa hè nơi đây vẫn tấp nập như có hội lớn. Các buổi lễ đặt bát cúng dường quy tụ hơn một ngàn xe bò, còn đông đúc hơn cả lúc diễn ra lễ tang chính thức. ## TRANG 298 Lại phải tôn thờ Xá-lợi đúng thật và xây tháp cát để cúng dường. Từ tháp ấy, người ta lại thấy những vầng hào quang lớn bay vút rực rỡ. Khi lấy cát từ gần tháp treo vào nước, lại thấy những hạt nhỏ màu ngọc trai cỡ hạt thầu dầu nổi lên hụp xuống trong bình. Cứ như thế, việc cúng dường, đãi đằng và những người thỉnh Xá-lợi đông đúc đến mức làm tắc nghẽn cả đường xe bò vào tháng Kason, Nayon (tháng 5, 6 dương lịch); mãi đến khi vụ mùa bắt đầu thì người mới thưa dần. Tại nơi đó, các bậc hữu duyên đã xây dựng và tôn thờ một bảo tháp thờ di cốt (Xá-lợi xương) cao 30 khuỷu tay (thăn-daung). (Để biết thêm chi tiết, xin xem trong cuốn Tiểu sử Thiền sư U Thila xuất bản lần thứ hai tại nhà in Hanthawaddy năm 1959.) ### Chuyện về Ngài qua lời kể trong nước mắt Liên quan đến Thiền sư U Thila, dưới đây là những điều ghi chép lại theo lời kể của bà Daw Hla Thin, 68 tuổi, là cháu của Ngài (cháu ngoại của bà Daw Hla Thu, tức bà O, em gái của Ngài) vào ngày 17 tháng 1 năm 1977. Bà Daw Hla Thin hiện sống ở phía Tây chợ thị trấn Kyaukse. Phu quân của bà Phwa Thuzar (em gái Ngài) là ông U Shwe Lan; phu quân của bà Daw O (tức Phwa Hla Thu) là ông U Shwe Nu; còn người được gọi là 'Saya Pho Kaung' trong tiểu sử của Ngài chính là ông U Shwe Phu, cậu ruột của mẹ bà Daw Hla Thin. Ông U Shwe Phu làm thầy thuốc và thọ đến 90 tuổi. Các cháu thường gọi ông là "Saya Apho Kaung" (Ông tiên thầy thuốc). Bà Daw Hla Thin từ nhỏ đã sống với bà ngoại Daw Hla Thu (bà O), nên mỗi khi có dịp, bà Hla Thu lại kể chuyện về người anh làm sư của mình, và mỗi lần kể bà đều rơi lệ. Khi mẹ Daw Cho mang thai Ngài, bà chỉ ăn chuối và đường thốt nốt để dưỡng thai. Ngay từ thời thơ ấu, Ngài đã luôn biết nghĩ cho người khác và rất sợ điều bất thiện. Theo thói quen của trẻ em thôn quê, khi chăn bò hay nhặt rơm, chúng thường hay thọc tay vào hang bắt cá lóc; nhưng cậu bé Maung Shwe Tha (tức Thiền sư tương lai) vì không dám làm điều ác nên chỉ ở lại trông bò và gom rơm thay cho chúng bạn. Khi thấy các em gái là Ma Thu Zar, Ma Hla Thu và Ma Hla Aung đang mút mía, nếu cậu xin- Các em liền bảo: "Nếu anh chịu để tụi em lấy cây mía gõ vào đầu thì mới cho." Để các em vui lòng, cậu bé liền đưa đầu ra cho các em gõ rồi mới nhận mía. Maung Shwe Tha là con trai cả nên thường giúp mẹ Daw Cho từ việc nấu cơm, gánh nước đến giã gạo. Một ngày nọ, khi Maung Shwe Tha đang giã gạo, ## TRANG 299 Cô em gái Ma Hla Thu cứ vòi vĩnh đòi anh phải bế, thế là anh vừa phải địu em trên lưng vừa phải giã gạo. Lúc về già, bà Phwa Hla Thu kể lại những chuyện nũng nịu thái quá với anh mình thuở nhỏ mà không cầm được nước mắt. Nhưng bà cũng không thể không kể lại. Người em gái lớn Ma Thu Zar, khi Ngài mới đi vào rừng xuất gia, đã lặn lội khắp rừng tìm Ngài để cúng dường đường thốt nốt và nến. Ngài bảo: "Đừng có theo ta nữa," khiến Ma Thu Zar phải khóc lóc trở về. Khi Ngài đang ở trong khuôn viên chùa Kusinara tại làng Phaya Kalay Oat Kan, bà Ma Hla Thu đi dâng cơm, nghe thấy Ngài đang nói chuyện một mình. Bà lén nhìn thì thấy trước mặt Ngài có một con rắn lớn đang nằm phủ phục. Khi Ngài bảo: "Này thí chủ She (Rắn), hãy đi đến nơi nào an toàn đi," bà thấy con rắn liền quay đầu bò đi mất. Nơi Ngài đi ngang qua đầu tàu hỏa khiến tàu dừng lại được cho là đoạn giữa Phaya Kalay và Wanbe In. Liên quan đến vụ mẫu thân Daw Cho bị bọn cướp sát hại, người ta đã dựng chuyện bắt giữ Pho Par Tu và Pho Shwe Nu. Họ phải đi tàu thủy xuống Yangon để thẩm vấn. Pho Shwe Nu dù đang bị sốt rét vẫn thường xuyên phải đi hầu tòa. Quan tòa thường cho tiền, dỗ dành và hỏi cô bé Ma Hla Thu rằng: "Có phải cha mày và anh mày (vị sư) đã giết bà Daw Cho không?" Mỗi lần bị hỏi, Ma Hla Thu đều trả lời: "Không phải." Cuối cùng, vụ án phải bãi bỏ. Tuy nhiên, trong số những kẻ đánh chết mẫu thân có một người làng Wanbe In, và tất cả bọn chúng sau đó đều phải chết vì ác nghiệp (chết bất đắc kỳ tử). Khi mẫu thân qua đời, Ma Thu Zar và các chị em khác gào khóc thảm thiết, Ngài liền bảo các em: "Nữ thí chủ ấy là một người can trường (ý nói đã trả xong nghiệp), các cô đừng có hú lên như tiếng chó tru như vậy." Ngài muốn ám chỉ đó là nợ nghiệp trong vòng luân hồi. Khi Ngài viên tịch, lễ tang ban đầu không mấy đông đúc. Nhưng từ khi một người Hoa bị tàn tật đến đảnh lễ và khỏi bệnh một cách kỳ diệu, người đến dự mỗi ngày một đông thêm. Một phú thương người Hoa ở thị trấn Zalun theo như điềm báo trong giấc mơ đã cúng dường một khu đất để làm nơi hỏa táng kim thân, và tương truyền tại chính khu đất đó, người ta đã đào được những hũ vàng. Đây là tất cả những chuyện về Ngài mà tôi ghi nhớ được từ lời kể trong nước mắt của bà Daw O (tức cụ bà Hla Thu), người đã thọ 90 tuổi. (Bức ảnh Thiền sư U Thila in trong cuốn sách này là do bà ## TRANG 300 Daw Hla Thin ở Kyaukse cung cấp. Ảnh được lấy từ chùa Kyaikkasan, được cho là chụp khi Ngài ngoài 60 tuổi.) HẾT PHẦN THỨ HAI. **MỘT... KHOẢNG THỜI GIAN** **HAI... LOẠI CÔNG VIỆC** **LỢI ÍCH... VÔ NGẦN** ... Liệu chúng ta có thể né tránh hay trốn chạy khỏi việc đối diện với Danh và Sắc được chăng? Hai luồng hơi thở ra và vào vốn dĩ luôn hiện hữu từ khi mới sinh cho đến lúc chết. Theo lời dạy của đức Phật, việc giữ tâm trên Danh và Sắc (thân và tâm) liệu có mệt nhọc không, có tốn tiền không, có phải đi thuê đi mượn của ai không? Có tốn thời gian không, và người khác có biết được không? Việc duy trì đó chính là **Vīriya** (Cần), và sống đúng theo sự duy trì đó chính là **Vīriyiddhipāda** (Cần Thần Túc); giữ ngay bây giờ, sống ngay bây giờ, thì an lạc ngay trong hiện tại. Khi sự an lạc này thâm nhập, hành giả sẽ tự mình biết rõ về sự Tinh tấn (Vīriya) đó, không cần phải đi hỏi ai khác. Liệu nó có thể không tiến bộ ngày qua ngày chăng? Không có một người, một vị Thiên hay vị Phạm thiên nào có thể ngăn cản được. Liệu có ai có thể dùng quyền lực để cưỡng đoạt lấy sự an lạc từ bậc thiện trí này chăng? Thật là cao quý thay! Liệu có chuyện chỉ thành tựu trong oai nghi này mà không thành tựu trong oai nghi kia chăng? Liệu có cần phải chọn lựa nơi chốn chăng? Trong khi đang ở một mình, hay khi đang ở nơi sân tháp, nơi cội Bồ-đề, hay ngay cả khi đang sống cùng con cái, cháu chắt... đều có thể thực hành được cả. Này... vì gánh nặng uẩn thân vẫn còn đó, nên chúng ta vẫn phải làm những công việc mà mình đã dự định. Thế nhưng đức Phật không gọi đó là "Công việc" thực sự. Đây (việc hành thiền) mới chính là Công việc. Trong khi làm những việc đời như thế, liệu ta có thể vừa làm vừa hành (thiền) được chăng? Trong cùng một lúc, cả hai công việc đều được hoàn thành. Chẳng phải khi vừa hành vừa làm thì công việc lại càng dễ thành đạt và mang lại nhiều lợi ích hơn sao? Khi đã hiểu rõ sự an lạc này rồi, người ta sẽ luôn giữ gìn pháp hành liên tục, không để phí hoài ngay cả những lúc rảnh rỗi hay nghỉ ngơi. ### Cố Đại Trưởng Lão Thiền Sư Webu Sayadaw (Ghi chép từ lời giáo huấn Ngài thường ban dạy) ## TRANG 301 # PHẦN THỨ BA ## Chương — Từ thời Anh thuộc đến thời hiện đại ## TRANG 302 ### Lời tạ ơn nhân duyên hội đủ Trong việc biên soạn về cuộc đời của “Các bậc Alahan lỗi lạc” trong lịch sử thiền tập (Pàtipatti) của Miến Điện, nhờ vào tâm nguyện chân thành, lòng nhiệt thành ủng hộ của độc giả, cùng sự khích lệ mạnh mẽ của cả giới tu hành lẫn cư sĩ, dù sức khỏe không tốt nhưng tôi đã nỗ lực biên soạn và nay có thể trình bày Phần thứ ba này. Tôi rất vui mừng khi có thể đáp lại thâm ân này theo cách như vậy. Hy vọng quý vị sẽ nhận được sự hài lòng xứng đáng. Khi trình bày về tiểu sử của các bậc Thánh (Ariya) cao thượng, tôi đã trình bày đúng sự thật theo những gì đã được đọc và nghe, không che giấu cũng không thêu dệt. Tôi cũng mong muốn độc giả tự dùng trí tuệ của chính mình để nhận định. Trong việc trình bày này, không chỉ nhằm mục đích để quý vị tùy hỷ và khởi tâm trong sạch (pasāda), mà mục đích chính là để mỗi hành giả (yogi) có thể soi rọi vào cuộc đời mình, từ đó rút ra “bài học thực tiễn” để tu tập. Vì vậy, mong quý vị đừng bận tâm đến tông phái hay chấp trước vào cá nhân, mà hãy nhìn nhận và quán xét theo tinh thần của Pháp (Dhamma). Vẫn còn nhiều bậc đặc biệt mà chúng tôi chưa biết đến nên còn sót lại, và ngay cả trong những vị đã được nêu tên, chắc hẳn vẫn còn nhiều chi tiết quan trọng đáng ghi nhớ chưa được đề cập hết. Việc tìm kiếm và thu thập tư liệu về các bậc thiện tri thức cao thượng — điều đáng lẽ phải được hệ thống thành sách từ lâu — thực sự không hề dễ dàng. Dù đã có được nhiều tiểu sử, nhưng vì ở đây chúng tôi chỉ cần những “hạnh kiểm thanh tịnh, cao quý,” nên không thể đưa vào mọi câu chuyện ly kỳ truyền miệng nếu chúng không phục vụ mục đích này. Thông thường, mọi người có thể nghĩ rằng: “Chỉ cần thu thập tiểu sử rồi viết sao cho hay là xong,” nhưng trong thực tế không nên làm như vậy. Bởi vì trên đời này có rất nhiều điều kỳ lạ và đáng kinh ngạc. Dù thế nào đi nữa, với những gì thực sự có trong các tiểu sử liên quan, tôi không hề thêu dệt mà đã dốc hết sức mình để làm sáng tỏ những bản chất ẩn khuất nhằm tạo thành những nguyên tắc thực hành. Nếu các hành giả có thể soi rọi vào cuộc đời mình, phân biệt rõ ràng những gì nên tránh, những gì nên làm, và xem đây như một người bạn đồng hành, một điểm tựa trong lúc tu tập, thì nỗ lực trình bày này của tôi đã mãn nguyện. Phần thứ ba này được khởi soạn tại quê nhà, trong lúc tôi đang chăm sóc người mẹ già 83 tuổi đang lâm bệnh. Khi tập sách này chuẩn bị hoàn tất vào năm 1337 (Miến lịch), ## TRANG 303 vào ngày 12 tháng sau trăng tròn Thadingyut, mẹ tôi đã qua đời. Ngoài ra, bậc thầy về Pháp học (Pariyatti) của tác giả, vị đã nâng đỡ tôi trong vai trò thư ký từ khi tôi mới 26 tuổi cho đến nay — bậc ân sư **Abhidhaja Mahā Raṭṭhaguru**, Ngài Masoeyein Sayadaw vĩ đại, thọ 96 tuổi — cũng đã viên tịch cùng ngày với mẹ tôi. Khi các tập sách đã viết xong (cho đến hết Phần thứ hai) được đọc cho các bậc ân sư nghe, mẹ tôi đã khen ngợi: “Con trai mẹ thật giỏi chữ nghĩa,” còn Ngài Sayadaw thì khích lệ: “Con viết như vậy thì mọi người sẽ hiểu được.” Cách đây không lâu, Ngài Sayadaw còn giao phó: “Ta rất tôn kính kinh **Mogharāja Sutta**, con hãy dịch và viết cả ý nghĩa của kinh đó nữa nhé, ta sẽ thưởng cho con ba trăm (kyat), để người khác cũng có thể đọc được.” Những bậc ân sư từng lắng nghe và khích lệ nay đã đồng loạt ra đi trong cùng một ngày. Phần thứ ba đến đây là hoàn tất. Hai bậc ân sư vô vàn kính yêu mà tôi đã gặp gỡ trong một khoảnh khắc của cả đời người này, xin được dùng tập sách này để đền đáp thâm ân và dâng lên cúng dường các Ngài. ## TRANG 304 # Sayadaw U Kyi (U Kitti thuộc Tu viện Rừng Thဲpon Ceti, Pakokku) (1204 - 1288) Tại vùng Pakokku thuở nọ, có một vị Trưởng lão tu hạnh đầu đà (Aranyavasi) tên là Sayadaw U Kyi, người nổi danh khắp nơi là bậc ‘**A-la-hán**’. Pháp danh của Ngài là **U Kitti**, và Ngài cũng thường được gọi là **Ngài Trưởng lão Thဲpon Ceti**. Cho đến tận ngày nay, những câu chuyện về sự mầu nhiệm và ân đức của Ngài vẫn còn lan tỏa khắp vùng Pakokku. Tu viện Rừng Thဲpon Ceti nơi Ngài cư ngụ nằm ở phía bắc làng Myit-kaing, thuộc thị xã Pakokku. Trên những rặng đồi vùng ấy, các trú xứ tu hành thường được gọi kèm theo tên núi như **Mya-sein-taung**, **Hman-si-taung**, v.v... Cảnh trí nơi đây tương tự như các hang động trên dãy núi Sagaing. Ngọn núi Thဲpon Ceti của Ngài là một chốn cô tịch, thanh bình và mát mẻ, đặc biệt thích hợp cho những hành giả tu tập thiền định (Bhavana). Dù là nơi rừng núi biệt lập, nhưng vào những ngày lễ lớn, chốn này lại trở nên đông đúc bởi thiện nam tín nữ từ thị xã tìm đến để thọ giới, nghe pháp và hành thiền. Quê hương của Ngài là thị xã Nyaung-U. Phụ thân Ngài là chủ thuyền **U Pe Khwe**, và mẫu thân là **Daw Min Bu**. Ngài hạ sinh vào khoảng hơn 2 giờ sáng, đêm ngày mồng 5 sau trăng tròn tháng Thadingyut, năm 1204 (Thiết kỷ). Ngài là con cả trong gia đình 5 anh em, tên thuở nhỏ là **Maung Kyi**. Ngay cả khi đã trở thành một vị Đại Trưởng lão, mọi người vẫn thường gọi Ngài bằng cái tên ấy. Đúng như câu nói: “Tên gọi đi trước, thực chất theo sau”, Ngài quả thực là một ngôi sao sáng (Kyi/Star) rạng ngời trong lịch sử Phật giáo thực hành (Patipatti) của Myanmar. Năm 12 tuổi, Ngài đến tu học với vị Trưởng lão **U Sumana** (thường gọi là **Khin-gyi Toe**) tại Tu viện Patho, thị xã Pakokku. Tu viện Patho nằm ở phía tây nam của bảo tháp Shwe-gu-gyi nổi tiếng. Năm 15 tuổi, Ngài xuất gia Sa-di với pháp danh là **Shin Kitti**. Vào ngày mồng 10 tháng Nayon năm 1223, Ngài thọ cụ túc giới để trở thành một vị Tỳ-khưu cao quý tại giới đàn (Khandha Sima) của tu viện này, dưới sự dẫn dắt của thầy tế độ là Ngài **U Sumana**. Từ khi còn là tiểu tăng cho đến khi được 2 hạ lạp, Ngài chuyên tâm học tập Pháp học (Pariyatti) dưới chân vị bổn sư. Vào năm hạ thứ 3, Ngài lên đường đến Mandalay để tầm sư học đạo. Tại Mandalay, Ngài theo học tại **Tu viện Sankyaung** danh tiếng ở phía bắc kinh thành, nơi quy tụ khoảng một ngàn tăng sĩ thời bấy giờ. Ngôi đại tu viện này do Ngài Trưởng lão **U Sudassana**, vị được ban tặng danh hiệu Rajaguru (Quốc sư) hai lần, trụ trì. Tại đây, Ngài là bạn đồng môn thân thiết với Ngài **U Nyana**, người mà sau này được biết đến là vị Đại Trưởng lão Ledi Sayadaw lừng danh. ## TRANG 305 ### Không ngủ, không nằm mà vẫn trường thọ, khỏe mạnh Sau khi hoàn tất việc học tập Pháp học (Pariyatti) tại Mandalay, Ngài trở về trụ trì tại tu viện Patho và đảm nhiệm việc giảng dạy Tam tạng Kinh điển. Cho đến năm hạ thứ 9, trong khi vẫn duy trì việc giảng dạy Pháp học tại tu viện Patho, Ngài đồng thời nỗ lực thực hành thiền Minh sát (Vipassana). Khi được 10 hạ lạp, Ngài quyết định vào tu tập tại Tu viện Rừng Thဲpon Ceti. Trong suốt 78 năm trường, Ngài kiên trì trú ngụ nơi rừng thẳm và luôn duy trì việc trì bình khất thực hàng ngày. Điểm đặc biệt nhất ở Ngài chính là việc thọ trì **Hạnh Đầu đà Ngồi (Nisajjika-dhutanga)** suốt đời. Ngay cả những vị đệ tử thân cận nhất cũng khẳng định rằng: “Chưa bao giờ nhìn thấy Ngài nằm xuống dù chỉ một lần”. Ngài cũng thọ trì các hạnh đầu đà khác tùy theo thời điểm thích hợp. Trong mười ba hạnh đầu đà, **Hạnh Đầu đà Ngồi** đòi hỏi hành giả phải nỗ lực tinh tấn ở mức cao độ nhất. Mười hai hạnh còn lại chủ yếu liên quan đến các vấn đề về trú xứ, y phục và vật thực. Thọ trì hạnh ngồi là để dồn hết sự tinh tấn nhằm đoạn trừ tận gốc sự **si mê (Moha)** và **hôn trầm, thụy miên (Thina-middha)**. Nếu hành giả vô tình ngủ quên trong tư thế ngồi thì hạnh đầu đà vẫn không bị đứt. Hành giả cũng có thể ngồi tựa lưng vào vật gì đó không cao quá một khuỷu tay; đây được gọi là mức độ nhẹ của hạnh đầu đà ngồi. Trong sinh hoạt, hành giả chỉ được luân chuyển qua ba oai nghi: đi, đứng và ngồi. Dù không ngủ được, tuyệt đối không bao giờ được nằm xuống. Trong bốn oai nghi, tư thế ngồi là tư thế thuận lợi và phù hợp nhất cho việc hành thiền. Đây không phải là hành động hành hạ thân xác, mà chính là sự khổ hạnh để tiêu diệt phiền não (Kilesa). Một khi đã thuần thục thì không có gì là khó khăn. Nếu chịu học thì sẽ biết, nếu chịu tu tập thì sẽ đạt được sự cao quý. Thực chất, việc ngủ nghỉ cũng giống như hành động đang mời gọi **hôn trầm (Thina)**, **thụy miên (Middha)** và **si mê (Moha)** kéo đến. Hôn trầm - thụy miên là một trong các pháp ngăn che (Nivarana - Triền cái), như một bức tường thành cao lớn chắn đứng con đường dẫn đến Niết-bàn. Si mê cũng tương tự như vậy. Đúng như đức Phật đã dạy: “**Seyyasukkham, passasukkham, middhasukham**” (Hạnh phúc trong việc ngủ, hạnh phúc trong việc nằm, hạnh phúc trong sự lười biếng), việc chìm đắm trong giấc ngủ và sự ngủ gật đối với phàm phu chỉ là một loại ma thuật của Ma vương (Mara), khiến họ mê muội mà lầm tưởng đó là sự hưởng thụ. Thậm chí người đời còn cố chấp bào chữa rằng phải ngủ thì mới có sức lực, mới khỏe mạnh. Hơn nữa, việc nằm duỗi người trên giường chính là sự hưởng thụ **Xúc trần (Photthabba)** trong năm món dục lạc; đó là một cách thụ hưởng xúc chạm tinh vi (tận dụng lạc thú), như đã được giải thích trong (**Kinh Sakkapanha - Đế Thích Sở Vấn**). Do đó, dù việc ngủ nghỉ có vẻ như là một công việc rất bổ ích và mang lại nhiều sức lực, nhưng đối với các hành giả, nó không mang lại bất kỳ lợi ích nào mà chỉ toàn là tai hại trên mọi phương diện. Nếu nói rằng ‘phải ngủ mới khỏe mạnh’ thì quả thật không hợp lý. Chẳng phải đã có các bậc Thánh A-la-hán như **Ngài Mahakassapa (Đại Ca-diếp)** hay **Ngài Bakula** đã minh chứng đó sao? Dù trải qua hàng bao nhiêu năm không ngủ (hoặc dù không say giấc nhưng cũng chẳng hề nằm sấp hay nằm ngửa), các Ngài vẫn sống thọ đến 120 tuổi, 160 tuổi trong trạng thái hoàn toàn khỏe mạnh cho đến khi nhập Diệt độ. (**Chú giải Kinh Sakkapanha**). **Ngài Sariputta (Xá-lợi-phất)** và **Ngài Moggallana (Mục-kiền-liên)** cũng không hề nằm lưng xuống đất suốt 30 năm ròng rã vì các Ngài thọ trì **Hạnh Đầu đà Ngồi (Nisajjika-dhutanga)**. Tương tự như vậy, **Ngài Mahakassapa** kể từ khi xuất gia cho đến khi 120 tuổi, **Ngài Anuruddha (A-na-luật)** trong 50 năm, **Ngài Bhaddiya** trong 30 năm, **Ngài Sona** trong 18 năm, **Ngài Rathapala** trong 12 năm, **Ngài Ananda** trong 15 năm, **Ngài Rahula (La-hầu-la)** trong 12 năm, **Ngài Bakula** từ lúc 80 tuổi cho đến khi 160 tuổi, và **Ngài Nalaka** cho đến tận lúc nhập Diệt độ, tất cả đều không hề nằm lưng xuống đất. Các bậc Trưởng lão ấy đều sống rất trường thọ với một cơ thể khỏe mạnh. Pháp tu đầu đà ngồi chính là người bạn đồng hành tốt nhất của các hành giả. Đó là thứ vũ khí tối tân nhất trong cuộc chiến chống lại Ma vương. Nhờ sự kham nhẫn ấy, các Ngài đã chứng đắc Niết-bàn. ## TRANG 306 ### Rắn độc, voi dữ và những điều không lạ lẫm Cũng như việc Ngài Sayadaw luôn thọ trì **Hạnh Đầu đà Ngồi**, Ngài thường đặc biệt thuyết giảng về sự vững chãi của Giới luật và các pháp **Kham nhẫn (Khanti)**, **Từ ái (Metta)**. Lời thuyết giảng của Ngài rất dứt khoát, dễ hiểu, đầy lòng kiên nhẫn và luôn tôn trọng Chánh pháp. Có lần, một số người thân cận đã bạch hỏi Ngài về những sự kiện mầu nhiệm của Ngài mà dân chúng vẫn thường đồn đại. Chuyện là, Ngài Sayadaw thường xuyên đi từ ngọn núi Thဲpon Ceti đến tu viện Patho vào những lúc đêm hôm không thuận tiện. Vùng đất ấy vốn là nơi có rất nhiều các loài rắn cực độc như rắn lục, rắn hổ mang. Ngài thường xuyên chạm mặt với những loài rắn độc này, nhất là vào khoảng thời gian cuối hè đầu mưa. Có khi Ngài còn giẫm phải rắn độc khi chúng đang cuộn tròn. Vào mùa giao phối, rắn bò ra đông nghẹt như thể dàn trận khiến kẻ thù không lối thoát, Ngài gặp chúng vây quanh thành bầy không sao tránh khỏi. Lại có lần, Ngài gặp phải một con voi dữ đang trong cơn động đực của công ty Bombay Burmah. Con voi hung hăng lao thẳng về phía Ngài như muốn giẫm nát, nhưng khi đến gần, Ngài chẳng hề tỏ thái độ hay cử chỉ gì, vậy mà con voi lại tự động né sang một bên rồi bỏ chạy mất. Mọi người mới đem chuyện đó ra thưa hỏi Ngài. Đặc biệt, vì đây là vùng có rất nhiều rắn rết, nên họ cũng tranh thủ dò hỏi xem Ngài có thuật thôi miên rắn, phù ấn hay câu chú trị rắn nào không. Ngài cười bảo: “À, người ta hay nói cho câu chú thì lại thành ra bài hát ấy mà, câu chú đơn giản lắm.” ## TRANG 307 **“Sẽ có lúc các con thực sự đạt được, nhưng lúc đó các con lại không dám tin đâu”**, ngài phán như vậy. Các đệ tử khát khao thưa rằng: “Bạch Ngài, chúng con sẽ làm theo những gì Ngài dạy, bảo học lời nào chúng con sẽ học lời nạp.” Họ cùng nhau đoan hứa. Ngài thường dạy: “Những bài kệ, những pháp hành thực tế của ta vốn rất giản đơn. Các con không cần phải học thuộc lòng quá nhiều. Chính vì nó quá mộc mạc nên ít người ưa chuộng. Nhưng nếu thực sự thực hành, nó sẽ mang lại thần lực phi thường.” Ngài thường thuyết về tích truyện **Ma-gha (Magha)** không chết dù bị voi giẫm; truyện voi **Na-la-ghi-ri (Nālāgiri)**; chuyện nàng **Ut-ta-ra (Uttarā)** không bị bỏng dù bị xối dầu sôi; hay chuyện cô kỹ nữ hạng thấp **Ban-dhu-ma-ti (Bandhumatī)** nhờ thực hành hạnh chân thật (Sacca) mà khiến nước sông chảy ngược (**Di Lan Đà Vấn Đạo - Milindapañha**). Ngài cũng kể về vị đạo sĩ đã tu hành sáu mươi năm nhưng lòng không thuần tịnh, người mẹ dù ghét chồng nhưng vì danh dự dòng tộc mà chung sống, và người cha dù không muốn bố thí nhưng cũng vì truyền thống gia đình mà thực hiện; cả ba người khi đứng trước đứa con bị rắn độc cắn đã cùng thực hiện pháp chân thật (Sacca-kiriya) dựa trên sự thật của chính mình. Ngoài ra, Ngài còn nhắc đến hạnh nhẫn nhục của **đạo sĩ Khantivādī** và **Trưởng lão Puṇṇa** khi đi hoằng pháp; hay chuyện Thiên chủ **Sakka** và các **A-tu-la (Asura)** (trích từ **Tương Ưng Thiên Tử - Sakkasaṃyutta**), để nhấn mạnh rằng: Một người có trí tuệ, quyền lực, tài sản và sức mạnh vượt trội mà có thể nhẫn nhịn trước kẻ yếu thế hơn mình, đó mới thực sự là sức mạnh của hạnh Nhẫn (Khantī). “Chư Phật thuở xưa không chế định nhiều điều luật và học giới như Đức Phật của chúng ta, cũng không để lại **Tam Tạng (Tipiṭaka)** đồ sộ. Vào mỗi ngày rằm và ba mươi, suốt cả cuộc đời, các Ngài chỉ thuyết ba bài kệ bắt đầu bằng: **“Khantī paramaṃ tapo titikkhā”** (Nhẫn nhục là khổ hạnh tối cao). Các Ngài dạy rằng: Dù gặp chuyện gì cũng phải nhẫn nhịn như đất vậy. Tuyệt đối không được làm gì gây tổn hại hay thương đau cho người khác. Với những việc ác nghiệp, dù rất muốn làm cũng phải nghiến răng cam chịu mà tránh xa. Với những việc thiện lành, dù không muốn làm cũng phải nhẫn nại mà thực hiện. Hãy ăn uống tiết độ, thiết lập định tính ở nơi thanh tịnh để giữ tâm hồn trong sạch. **Etaṃ buddhānasāsanaṃ** – Đây chính là lời giáo huấn của chư Phật mười phương. Tóm gọn lại Tam Tạng cũng chỉ có bấy nhiêu thôi. Khi hành trì những pháp cốt lõi mộc mạc này, hành giả sẽ đạt được lợi lạc và thần lực to lớn tương ứng với mức độ tu tập. Ngoài ra không còn gì khác nữa.” Ngài đã dạy như thế. ### Phá vỡ quy luật tự nhiên Vì giáo pháp quá đỗi giản đơn, những người chỉ muốn tìm đường tắt, muốn “trèo cao hái quả chín ngay” thường thở dài ngao ngán. Tuy nhiên, cũng có rất nhiều người nhận ra rằng nếu không dựa trên những nền tảng cơ bản như Giới (Sīla), Tâm từ (Mettā), Chân thật (Sacca) và Nhẫn nhục (Khantī) thì việc ngồi thiền định (Kammaṭṭhāna) sẽ chẳng thể đi đến đâu, từ đó họ bắt đầu nỗ lực thực hành theo. Câu nói: “Có nhẫn nhục mới mong đắc thành Niết-bàn” chính là để dùng trong ngữ cảnh này. ## TRANG 308 ### Ăn, ở và ngủ nghỉ Trong mọi việc, đặc biệt là chuyện ăn uống, đều phải biết nhẫn nhục. Ngay từ sáng sớm, hành giả nên lập tâm niệm: “Hôm nay, ta sẽ thực hành hạnh nhẫn nhục,” và cứ thế rèn luyện qua từng ngày một. Giới (Sīla), Chân thật (Sacca) và Tâm từ (Mettā) cũng cần được rèn luyện quyết liệt bằng cách phát nguyện (Adhiṭṭhāna) một cách kiên định. Giống như cán rìu sau bao ngày cầm nắm sẽ hằn lên dấu vết của những ngón tay, công hạnh cũng sẽ âm thầm bồi đắp vào tâm khảm mà ta không hề hay biết. Chính Đức Thế Tôn cũng đã từng phải nghiến răng, hạ quyết tâm cao độ để tìm ra con đường giải thoát. **“Sabbaguṇānaṃ adhivāsanabhūmi”** – Nhẫn nhục và sự chịu thua trong mọi tình huống chính là nơi hội tụ của mọi công đức lành (**Trích Chuyện Hạnh Tạng - Cariyāpiṭaka**). Chỉ có những đạo luật tự nhiên vĩ đại như Nhẫn nhục (Khantī) mới có thể xoay chuyển hay phá vỡ các quy luật vật lý thông thường. Nó có thể khiến lửa không thể thiêu đốt, nước không thể nhấn chìm, đao kiếm không thể cắt đứt, vật nhọn không thể đâm xuyên, thuốc độc không thể gây chết người, và súng đạn không thể phát hỏa. Nó làm thay đổi những quy luật vốn được xem là hiển nhiên của thế gian này. Tuy thần lực và lợi lạc to lớn là vậy, nhưng việc thực hành lại không hề tốn kém tiền bạc, không làm gián đoạn công việc và cũng chẳng hề khó khăn. Điều khó khăn duy nhất thường chỉ là ở khâu đặt trọn niềm tin ban đầu. Thậm chí ngay cả các vị pháp sư, nhà tâm lý, các đạo sĩ Sadhu hay Fakir – những người không hề có mục đích thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi (**Saṃsāravaṭṭa dukkhatao**) và không giữ giới hạnh hay tâm từ – nhưng nhờ vào năng lực của trí hữu hạn, định thuật hay những loại định lực đặc biệt nào đó, họ vẫn có thể biểu diễn những khả năng phá vỡ một vài quy luật tự nhiên của thế giới. Những hành giả đang nỗ lực tu tập với niềm tin và sự tinh tấn (Viriya) sắt đá, dựa trên một nền tảng đúng đắn, đều tin rẳng không có gì là không thể đạt được. Số lượng hành giả như vậy ngày càng tăng lên chính là một nét đặc sắc của việc hành trì giáo pháp (Paṭipatti Sāsana) trong thời đại ngày nay. Đối với Thiền sư U Kyi, Ngài không chỉ đối mặt với thú dữ mà còn chạm trán với cả những kẻ ác tâm. Có một lần khi đang đi bát, chân Ngài mặc vào một cái bẫy sóc đặt trong một rẫy bắp bên sườn đồi. Thiền sư không cố bước tiếp mà đứng yên tại chỗ. Một người dân đi ngang qua thấy vậy định tháo giúp, nhưng vì đó không phải bẫy của mình nên Ngài không cho phép tháo. Sau đó, họ phải đi tìm đúng chủ nhân của chiếc bẫy đến để mở ra. ### Chuyện Thiền sư bị bắt cóc Trong cuộc chiến thoát khỏi “lưới ma” (**Mārapāsa**), Ngài luôn tuân thủ nghiêm ngặt các quy tắc căn bản của Luật tạng (Vinaya), lấy Giới hạnh làm nền tảng. Vào một buổi nọ, có năm sáu tên cướp rụt rè tiến vào trong khuôn viên thiền viện rừng. Chúng mang theo một chiếc kiệu (võng khiêng). Đây là những kẻ có mưu đồ rất lớn. Lúc đó vào buổi chiều tối, khi quanh cảnh đã vắng lặng, Thiền sư đang tĩnh tọa hành thiền một mình dưới một gốc cây. ## TRANG 309 Khi đó, một tên trong nhóm đã tiến đến, đưa ra một lý do nghe có vẻ thuyết phục để đánh lừa lòng tin của Ngài và thỉnh Ngài lên kiệu. Ngài phán: “Được rồi, các con muốn thỉnh ta đi đâu thì đi,” rồi bước lên kiệu. Những tên cướp mừng rỡ vì nghĩ rằng mưu kế đã thành công, chúng cùng nhau khiêng kiệu đi. Nguyên do là vì Thiền sư được giới nhà giàu và các đại gia khắp vùng Pakokku tôn kính và hộ độ hết lòng như mạng sống. Đám cướp tính toán chắc chắn rằng: “Nếu bắt cóc được vị sư này, muốn bao nhiêu vàng bạc mà chẳng được.” Bốn tên cướp hăng hái khiêng đi, mồ hôi nhễ nhại nhưng không thấy mệt. Sau hơn một giờ đồng hồ, cảm thấy đã đến được địa điểm bí mật và an toàn đã chuẩn bị từ trước, chúng đặt kiệu xuống đất. Sau khi đặt kiệu xuống, chúng nhìn quanh bốn phía đông tây nam bắc xem tình hình có thực sự ổn thỏa như tính toán hay không. Tuy nhiên, chúng bàng hoàng nhận ra rằng dù đã ra sức khiêng hì hục suốt hơn một tiếng đồng hồ đến vã cả mồ hôi, nhưng rốt cuộc chúng vẫn chưa ra khỏi khuôn viên thiền viện rừng của Ngài. Chúng chỉ loanh quanh luẩn quẩn ngay tại chỗ mà không hề hay biết. Quá khiếp sợ, bọn cướp thở dài, lau mồ hôi rồi quỳ xuống tạ lỗi với Ngài và tháo chạy tán loạn. **“Evaṃ acintiyā buddhā, buddhadhammā acintiyā”** (**Trích kinh Apadāna**) – Đúng như lời dạy: Bản chất tự nhiên mà Đức Thế Tôn đã thấu suốt là điều không thể chạm tới bằng trí tưởng tượng, không thể đo lường bằng suy luận tâm thường. Chính vì thế, những sự kiện xảy ra xung quanh các bậc đại nhân đã tin tưởng và thực hành giáo pháp chân thực thường trở thành những “huyền thoại” đối với những người bình thường – vốn chỉ tin vào những gì mắt thấy tai nghe hoặc những hiểu biết hạn hẹp của mình. **“Acintiye pasannānaṃ, vipāko hoti acintiyo”** (**Trích kinh Itivuttaka, Aggappasāda Sutta**) – Với những ai tin tưởng và thực hành trong những điều bất khả tư nghị (Acintiyya), thì quả báo và lợi lạc mà họ nhận được cũng là điều bất khả tư nghị, vượt ngoài mọi sự hình dung. Không chỉ đối với những bậc Thiền sư có đạo hạnh thâm sâu như vậy, mà ngay cả với những người cư sĩ tại gia (Upāsaka) còn thụ hưởng dục lạc, nếu rơi vào hoàn cảnh ngặt nghèo, giáo pháp vẫn luôn hiển bày thần lực khó tin nếu họ có đủ niềm tin và sự hành trì tương ứng. Người ta kể rằng ở vùng Chatthin, vùng thượng Miến Điện, có lệ trước khi đi ngủ, mọi người thường đọc 24 Duyên của Kinh Vị Biến (**Patthāna**) – bắt đầu từ **“Hetupaccayo”** – để lập “vòng hộ trì” bao quanh nhà. (Họ chia 24 duyên cho 8 hướng, mỗi hướng đọc 3 duyên theo chiều kim đồng hồ, bắt đầu từ hướng Đông; 3 x 8 = 24). Có một đêm nọ, một tên trộm đột nhập vào nhà, gom góp đồ đạc thành các gói lớn nhỏ. Nhưng khi định thoát ra, hắn không tài nào tìm được cửa ra mà cứ đi vòng quanh luẩn quẩn trong sân nhà suốt cả đêm. Đến sáng ra thì bị gia chủ bắt gọn. Chuyện này cũng tương tự như tích truyện về cậu bé **Akāsa**, con trai của một người tiều phu vào thời Đức Phật, đêm nọ không vào được trong thành nên ngủ ngoài thành, bị quỷ bắt định ăn thịt, cậu bé buột miệng niệm "**Namō Buddhassa** = Con đảnh lễ Đức Phật" — chỉ vậy thôi mà quỷ đã sợ hãi bỏ chạy (theo Chuyện Pháp Cú). Há rằng việc ấy vẫn đáng không tin sao? Giữa tu tập xưa và nay khác biệt đến thế nào? ## TRANG 310 ### Từ khổ cực mới có được an lạc Những sự việc vừa nêu trên chỉ là những chuyện phổ biến nhiều người biết đến. Trong hơn bốn mươi năm vào rừng tu tập, chắc hẳn còn rất nhiều hiểm nguy và những điều mầu nhiệm khó tin khác nữa. Những nỗi khổ, hiểm nguy và điều mầu nhiệm ấy đối với các hành giả hành trì hạnh đầu đà ở rừng (araññavāsī) không còn là chuyện lạ. Đời sống vốn dĩ tràn đầy khổ đau. Con đường đi ngược dòng đời thường gặp phải những nỗi khổ dồn dập hơn. Tuy nhiên, cái khổ của con đường xuôi dòng chỉ khiến cái khổ tiếp tục nảy sinh, vòng xoáy khổ đau không bao giờ chấm dứt cho đến tận nẻo ác đạo. Còn cái khổ của con đường ngược dòng lại chỉ làm nảy sinh và tăng trưởng hạnh phúc. “Thấy cái khổ lớn thì hãy nhẫn nại chịu đựng cái khổ nhỏ; nhìn thấy hạnh phúc lớn thì phải dứt khoát từ bỏ những hạnh phúc nhỏ nhoi.” (Ngài Cố đại trưởng lão Mahāgandhayon Sayadaw, Sagaing.) Có chịu đau mới được hưởng an nhàn. Trong việc bắc cầu từ khổ đau đến hạnh phúc, cần phải có một cây cầu vững chãi làm nơi nương tựa. Cây cầu đó chính là đức tính "Nhẫn nhục trì giữ" (**adhivāsanakhantī**) của mỗi người: “Dù sai hay đúng, dù xấu hay tốt, đó là nghiệp báo của ta, không ai làm mà là do chính ta tạo nên. Kẻ gây nghiệp là người mới, kẻ chịu nghiệp là người cũ; bất cứ điều gì ập đến, ta xin dấn thân cam chịu.” Vì lẽ đó, ngay cả các đạo sư thế gian của Mật tông Tây Tạng cũng cho rằng: “Từ sự đau đớn của thân xác mới phát triển được trí tuệ và tâm thức”. Ngày nay, vị Lạt-ma Tây Tạng nổi tiếng là Tiến sĩ Rampa, người được cho là có thể xem được hồ sơ Akashic (một dạng Túc mạng minh), có Thiên nhãn thông và có thể du hành bằng tâm thức như bay trên không trung. Cuộc đời ông đã được tôi luyện và nhiều lần chạm cửa tử thần. Ông ví mình như viên linh đan được nung nhiều lửa, như vàng được hỏa thiêu kỹ, như tảng đá được mài giũa nhiều. Lại nữa, vào năm 1943 tại thành phố Hague, Hà Lan, có một người tên là Peter Hurkos bị chấn thương đầu nghiêm trọng dẫn đến hôn mê. Khi tỉnh lại, chỉ cần ông tập trung chú ý vào một điều gì đó là có thể nhìn thấy quá khứ và tương lai. Ông đã hợp tác với tổ chức thám tử thế giới để phá nhiều vụ án. Chỉ cần nhìn vào một vật dụng liên quan, ông có thể nói chính xác về hành tung, quá khứ và tương lai của chủ nhân vật đó. ## TRANG 311 Ngay cả những bậc có thần thông thế gian còn nhận ra giá trị của khổ đau và có thể hiển thị thần lực ở mức độ nhất định. “**Nayidaṃ sithilamārabbha**.” (Theo kinh Nava, thiên Tương ưng Nhân duyên) – Sự giải thoát khỏi mọi khổ đau để đạt đến đại an lạc vĩnh cửu không thể đạt được bằng sự nỗ lực lỏng lẻo, hời hợt. Hiện nay, cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đang giáng những đòn mạnh mẽ, chính là để thúc giục chúng ta mở toang cánh cửa Niết-bàn, con đường duy nhất của sự thực hành đưa đến an lạc tuyệt đối. Nếu là những người có nền tảng ba-la-mật để đắc đạo quả trong kiếp này nhưng còn mải mê vui chơi quên mình, nếu không có người khuyên dạy dỗ dành như hoàng hậu Khemā, thì thế gian sẽ giáng những đòn đau đớn như trường hợp của bà Kisāgotamī hay Paṭācārā để đưa họ về đúng lộ trình. Giống như những học sinh có trí thông minh nhưng lười học bị thầy giáo đánh phạt vậy. Được thế gian "đánh" để tỉnh ngộ như thế vẫn còn là điều may mắn. Nếu không, họ sẽ mãi luân hồi từ nỗi khổ này sang nỗi khổ khác trong vòng sinh tử không dứt. ### Bình thường hay bất thường? Vì vậy, tại trú xứ của hành giả, hễ gặp thêm một nấc khổ đau thì nên hiểu rằng mình sắp tiến thêm một nấc hạnh phúc. Cái khổ thông thường là khi biết rõ thực phẩm không thích hợp nên phải tiết chế dẫn đến quá đói; hoặc cái khổ do nghiệp bất thiện xưa cũ tạo ra như việc không biết mà ăn nhầm, hay việc có ai đó cứ liên tục mang đến những thứ không hợp một cách dễ dàng khiến mình ăn phải mà không kịp đề phòng. Nếu chú ý thì sẽ nhận ra đó là nghịch cảnh; và thực tế việc hành trì sẽ giúp ta phân biệt được mức độ của sự cản trở đó. Dù là khổ đau hay hiểm họa nào cũng không lớn bằng nỗi khổ chốn ác đạo. Tất cả đều có thể vượt qua bằng sự nhẫn nại. Có thể nói trong đội quân của Ma vương có hai loại: bình thường và bất thường. Ví dụ, việc nhìn thấy lợi lộc hay đối tượng khác giới (phụ nữ) mà nảy sinh lòng ham muốn đơn thuần là tâm tính vốn có của chúng sinh từ luân hồi vô thủy đến nay. Con người phải nỗ lực để vượt qua dục lạc đó. Đôi khi, những đối tượng ấy không xuất hiện một cách bình thường, mà được sắp đặt tinh vi theo từng bước để cưỡng ép mình phải tiếp nhận. Điều này có xảy ra, nhưng khó nhận biết và khó tránh khỏi. Cả hai loại này đều thuộc về đội quân đầu tiên của Ma vương là ‘Dục lạc’ (Kāma). Các đội quân Ma khác như lười biếng, buồn ngủ, tự cao, ham danh tiếng... và những trở ngại khiến không thể vào thiền như bận rộn công việc, bệnh tật, v.v., cũng đều có hai loại: ## TRANG 312 bình thường hay bất thường. Việc phân biệt rõ ràng hai loại này là cần thiết. Dù tinh vi đến mức nào, điều quan trọng nhất vẫn là nỗ lực hành trì để vượt qua. Tuy nhiên, chỉ khi có hiểu biết đúng đắn thì mới có thể vượt qua một cách dễ dàng. Ngài Sayadaw U Kyi cũng đã kinh nghiệm và vượt qua mọi nỗi khổ đau đa dạng như vậy một cách thiết thực (sandhiṭṭhika) như các đại đệ tử thời Đức Phật: “**So’maṃ lokaṃ pabhāseti, abbhā muttoiva candimā**.” (Giống như vầng trăng khi thoát khởi khỏi những tầng mây đen tối của hiểm nguy và chướng ngại, có thể soi sáng khắp thế gian), Ngài đã dùng ánh sáng giáo pháp thanh tịnh để xua tan màn đêm u tối, đem lại ánh sáng cho cuộc đời. ### Chiến thắng lợi dưỡng Khi Ngài Sayadaw U Kyi trở nên nổi tiếng là một vị A-ra-hán, những người muốn đến cúng dường đông như trảy hội. Vì Ngài thọ hạnh đầu đà đắp y phấn tảo (paṃsukūla) nên rất nhiều người mang y đến đặt dọc đường cho Ngài nhặt. Số lượng y nhiều đến mức Ngài không thể dùng hết để thay đổi, nên Ngài chỉ cho phép các vị tỳ-kheo và sa-di đi theo đảnh lễ được nhặt lấy. Đối với các công trình xây dựng, Ngài cũng chỉ cho phép xây dựng những gì cần thiết. Tuyệt đối không nhận những thứ dư thừa. Các bậc thiện trí thức vốn có rất ít ham muốn. Chính vì ít ham muốn mà họ trở thành bậc thiện trí thức. Vì vậy, tại ngọn đồi Thè-pon-se-di chỉ có một ngôi bảo tháp, một ngôi nhà gạch nhỏ làm tăng xá, một hồ nước và một hang động nơi Ngài nhập thiền. Từ đồi Thè-pon-se-di nhìn ra, phía Đông là đồi Mhan-si và dòng sông Ayeyarwady; phía Đông Nam là thành phố Pakokku, Bagan Nyaung-U, núi Popa, núi Tant-kyi... tạo nên một khung cảnh vô cùng thanh bình. Vùng xung quanh đồi Thè-pon-se-di vốn là vùng đất thấp của biển và sông xưa kia nên địa hình nhấp nhô không bằng phẳng, trông như những con sóng. Trên đường vào thị trấn có một nghĩa trang lớn, vốn là một nơi tu tập lý tưởng của Ngài. Từ hồi còn ở Pho-tho-taik, Ngài thường xuyên đến nghĩa trang này vào ban đêm cùng với một người bạn đạo tên là U Kevala. Ông U Kevala này thường sợ quá mà bỏ chạy trước khi trời sáng. Khi Ngài đi bát, vì số người muốn cúng dường quá đông nên phải chia theo khu vực luân phiên. Dù vậy, lượng vật phẩm vẫn nhiều đến mức không thể tự mang hết, phải có người mang thúng lớn thúng nhỏ đi theo. Ngài chỉ giữ lại phần đủ dùng cho một người, còn lại đem bố thí hết. Về phương diện bốn món vật dụng, Ngài thực sự là một tấm gương đáng để noi theo. Những vật dụng như chùa chiền, y áo, vật thực, thuốc men nếu dư thừa quá mức cần thiết đối với các bậc thiện trí chỉ là gánh nặng nề, làm chậm bước đường. Mỗi khi ngài đi khất thực, người muốn cúng dường đông đến mức ngài phải nhận theo khu phố luân phiên. Nhưng cũng không đủ người mang — phải dùng gàu to gàu nhỏ đi theo. Ngài chỉ chừa lại một phần, còn lại cúng dường hết. Thật đáng noi gương: bốn vật dụng (y phục, thất, ẩm thực, dược phẩm) dư thừa đối với các bậc tu hành chỉ là gánh nặng nề, làm chậm bước đường. ## TRANG 313 Khi Ngài thiền sư đi khất thực, những người vui mừng nhất là các vị Sa-di nhỏ. Các chú thường dò hỏi xem Ngài sẽ đi khất thực ở khu vực nào. Vừa thấy bóng dáng Ngài, các chú liền chạy đến. Để Ngài nhìn thấy, các chú thường đi vượt lên trước một chút rồi cứ ngoái đầu nhìn lại; khi đó, Ngài sẽ vẫy tay gọi lại và sớt đầy một bát cơm cùng với ba, bốn món thức ăn đủ cho một vị dùng. Việc nhận những phần vật phẩm cúng dường dư dật rồi lần lượt chia sẻ lại cho các Sa-di và Tỳ-khưu trẻ trong khắp thành phố cũng là một nỗi vất vả không hề nhỏ. Có một lần đi khất thực, Ngài không chỉ nhận được vật thực mà còn được cúng dường cả một chiếc xe hiệu "Ford". Nguyên do là có một người Hoa thuộc công ty may mặc áo lót, trong lúc con gái nhỏ đang lâm trọng bệnh, ông đã nằm mơ thấy mình sớt bát cúng dường cho một vị sư và sau đó người con được khỏe lại, việc kinh doanh phát đạt. Sáng sớm hôm sau, khi Ngài đi khất thực ngang qua trước cửa nhà, ông nhận ra đây chính là vị sư trong giấc mơ của mình. Với lòng hân hoan tột độ, gia đình đã sớt bát cúng dường. Sau đó con gái ông bình phục, việc làm ăn cũng tiến triển tốt, nên ngay khi những chiếc xe hơi đầu tiên xuất hiện, ông đã cúng dường một chiếc xe hiệu Ford. Vì lòng thành đức tin của thí chủ, Ngài đã nhận sự cúng dường ấy nhưng không hề sử dụng. (Người ta kể rằng chỉ sau khi Ngài viên tịch, chiếc xe đó mới được dùng làm xe tang để di chuyển kim quan của Ngài). ### Sự kính trọng từ Ngài Ye-za-gyo Sayadaw Ngài Ye-za-gyo Sayadaw (U Gandhasāra), vị sơ tổ khai sáng tu viện Mahāvisutārāma, là người có ý chí rất lớn trong việc học tập và giảng dạy Pháp học (Pariyatti). Ngài tận tụy truyền dạy giáo lý cho đến tận những giờ phút cuối đời trước khi viên tịch. Ngay cả khi đi chiêm bái Shwe Settaw, Ngài vẫn trải bản kinh trên thuyền để giảng dạy. Ngài quả là một bậc anh hùng trong Pháp học. Ban đầu, Ngài Ye-za-gyo thường gọi Ngài U Kyi sau lưng là "Quạ rừng" (Taw Kyee Kan) vì không mấy ấn tượng. Tuy nhiên, về sau Ngài lại nói rằng: "Này thầy Kyi, đừng bỏ mặc chúng tôi nhé", với thái độ thân thiết và vô cùng kính trọng. Hai vị thường xuyên thảo luận về Pháp học và Pháp hành, cùng nhau gieo rắc hạt giống giáo pháp dọc theo bờ Tây sông Ayeyarwady vốn rất hẻo lánh lúc bấy giờ. Ngài luôn thực hành đầu đà Pāṃsukūla (mặc y phấn tảo) và Te-cīvarika (hạnh ba y), chỉ sống với đúng ba tấm y. Dù có chấy trên y và rệp trên giường, Ngài cũng không cho phép quét dọn hay xua đuổi chúng. Ngài sống một cuộc đời cực kỳ thanh bạch, giản dị và thiểu dục trong việc ăn, ở, mặc. Những dấu hiệu cho thấy Ngài có sự kết nối trực tiếp với thực tại Vô vi Niết-bàn (Asaṅkhata Nibbāna) ## TRANG 314 hiện rõ mồn một. Việc Ngài có thể vượt qua các chướng ngại về Lợi dưỡng (Lābha), Sự cúng dường (Sakkāra) và Danh tiếng (Siloka) bằng một tâm hồn hoàn toàn thanh tịnh là điều rất hiển nhiên. Nếu không phải là đức hạnh chân thật thì không ai có thể giả vờ trong thời gian dài như vậy được. Phần lớn mọi người, chưa nói đến sự cúng dường hay danh tiếng, ngay cả việc vượt qua "sa mạc" của lợi dưỡng cũng không làm được, mà thường bị lún sâu và chìm đắm trong đó. ### Sự kinh cảm từ Ấn Độ và Ceylon (Sri Lanka) Năm 1255 (Miến lịch), Ngài U Kyi đã lên đường đi chiêm bái thánh tích tại Ấn Độ. Ngài đã đến bái phướm những nơi như vườn Lộc Uyển—nơi Đức Phật chuyển pháp luân lần đầu tiên. Đến năm 1258, Ngài cũng sang đảo quốc Ceylon để chiêm bái Đại Bảo Tháp (Mahā Cetiya) và Xá-lợi Răng Phật (Dāṭhādhātu). Khi từ Ấn Độ trở về, Ngài đã mang theo một cây Bồ-đề con và trồng tại tu viện Puthu ở Pakokku để tôn thờ. Đặc biệt, chuyến đi Ấn Độ đã để lại trong Ngài một sự kinh cảm (Saṃvega) sâu sắc về giáo pháp. Ngài thường xuyên nhắc nhở các đệ tử và thí chủ đi cùng rằng: "Hãy cố gắng giữ gìn giới luật. Hãy thực hành rải tâm từ và chia sẻ phước báu." Tại những thánh tích quan trọng của Phật giáo ở Ấn Độ, từ cội Bồ-đề, Tòa Kim Cang cho đến các địa danh chính, Ngài chỉ thấy toàn là những pho tượng không đúng pháp và các tu sĩ Ấn giáo. Sự thay đổi quá lớn này khiến người bình thường cũng phải than thở rằng: "Thà chiêm bái bằng sự hình dung trong kinh sách còn tốt hơn." Việc chỉ còn thấy những tàn tích le lói của giáo pháp ngay tại quê hương nơi Phật giáo khởi nguồn đã khiến các đoàn chiêm bái vô cùng cảm thán. Một số người lật lại quá khứ, nói năng đầy vẻ sân hận và buồn rầu rằng: "Tôn giáo này đã dùng sự bất công để chèn ép, tôn giáo kia đã dùng gươm giáo để hủy diệt." Khi nghe một số đệ tử trong đoàn kể lại những câu chuyện đau lòng về việc các tu viện Phật giáo bị đốt phá và nhiều vị tăng sĩ bị sát hại trong quá khứ, Ngài đã dạy rằng: "Này các con... chúng ta nỗ lực đi đến đây là để tích lũy phước báu, đừng để ác nghiệp đi theo. Giáo pháp biến mất tại đất nước Ấn Độ vĩ đại này không phải do tôn giáo khác hay kẻ thù nào cả, mà chính vì những người thừa tự của Đức Thế Tôn đã thiếu đi sức mạnh của 'giáo pháp tự thân'. Đó là do sự thiếu hụt về Giới (Sīla) và Tâm từ (Mettā). Việc tìm lỗi ở người khác là không đúng đắn. Trong các bản kinh Tương Ưng (Saṃyutta) và Tăng Chi (Aṅguttara), Đức Phật đã dạy rất chi tiết về việc giáo pháp sẽ suy đồi như thế nào trong tương lai. Tóm lại, không phải do ai khác, 'ai làm nấy chịu'. ## TRANG 315 Như người ta thường nói, vì chính mình làm hỏng giáo pháp nên Ma vương mới có cơ hội. Hãy nỗ lực giữ giới, rải tâm từ và chia sẻ phước báu, đừng để giáo pháp trong chính bản thân mình bị hủy hoại." Chính Ngài cũng thực hành thiền Minh Sát (Vipassanā) tại mọi địa danh lịch sử gắn liền với sự đản sinh, thành đạo và chuyển pháp luân của Đức Phật (Avijahita Saṃvejanīya). Lời giáo huấn của Ngài vô cùng giá trị. Từ đó, những người trong đoàn chiêm bái bắt đầu thực hành rải tâm từ, nhờ vậy họ có thể đi chiêm bái một cách an lạc. Họ đã có thể quán xét được đặc tính Vô thường (Anicca) và nhận ra rằng: Giới, Định, Tuệ—tức là 'giáo pháp nội tâm' của mỗi người mới là điều cốt yếu. Thật đúng đắn làm sao! ### Những nguyên nhân khiến giáo pháp bị mai một theo lời Phật dạy (1) Khi Đức Thế Tôn còn tại thế, Ngài Kimila đã từng thỉnh vấn Đức Phật về tương lai của giáo pháp: "Bạch Thế Tôn, vì những nguyên nhân nào mà sau khi Ngài nhập Niết-bàn, giáo pháp không thể tồn tại lâu dài?" Khi đó, Đức Phật đã dạy: "Do sự không tôn trọng, không cung kính đối với Phật, Pháp, Tăng; không tôn trọng giới hạnh và các pháp Thiền định, Minh sát; không tôn trọng lẫn nhau; và không tôn kính trong việc thực hành Pháp đón tiếp (Paṭisanthāra — sự đối đãi phù hợp bằng pháp và vật chất)." Đó là những lý do khiến giáo pháp bị mai một (Được thuyết rõ trong các kinh Kimila thuộc Tăng Chi Bộ, chương Năm pháp, Sáu pháp, Bảy pháp). (2) Trong ba bài kinh Saddhammasammosa thuộc chương Năm pháp, Đức Phật cũng dạy rằng giáo pháp bị lu mờ là do: "Không học hỏi, nghe và thọ trì giáo pháp một cách sâu rộng và cung kính; không suy xét và thực hành; việc giảng dạy và học tập bị sai lệch; tranh cãi lẫn nhau và sự chia rẽ trong Tăng đoàn." (3) Cũng trong chương Năm pháp đó, có bốn bài kinh về Những hiểm họa trong tương lai (Anāgatabhaya Sutta), nội dung chính yếu là: "Chư Tỳ-kheo không muốn sống trong rừng sâu hiểm nghèo, những người truyền giới liên tục không thực hành thiền, rời xa thiền định, không còn hiểu biết về **giáo pháp (Dhamma)** và **luật (Vinaya)**, chỉ thích nghe và giảng những bài pháp mới lạ thời thượng, lo làm sư nổi tiếng, hạ thấp tiêu chuẩn giới luật rồi làm qua loa, tham cầu vật dụng hảo hạng, tự mình đi khất thực và thọ thực, buông bỏ các hạnh đầu-đà (dhutaṅga) tốt đẹp — rồi ăn mặc sinh hoạt như người tại gia, giao tiếp lẫn lộn với nữ giới, v.v." ## TRANG 316 (4) Ngoài ra, trong bộ **Nidāna-vagga Saṃyutta** thuộc Tạng Luật, có lời huyền ký dự ngôn rất rõ ràng về tình trạng giáo pháp trong tương lai. Qua **Kinh Āṇi**, Đức Thế Tôn đã thuyết về tình trạng của Pháp bảo, và qua **Kinh Kaliṅgara**, Ngài đã chỉ ra tình trạng của hàng tăng lữ trong thời vị lai. Ý nghĩa của **Kinh Āṇi** là: (5) Thuở xưa, các vị hoàng tử xứ Dasāra có một chiếc trống báu gọi là **Āṇaka**. Tiếng trống ấy có thể vang xa đến mười hai do mục (yojana). Theo thời gian, chiếc trống bị nứt và người ta cứ liên tục vá đi đắp lại nhiều lần. Cuối cùng, phần thân trống nguyên bản không còn nữa mà chỉ toàn là những mảnh vá víu. Kết quả là tiếng trống không còn vang xa mười hai do mục như trước, mà ngay cả ở trong cùng một nhà nghỉ (sala), người ta cũng chỉ nghe thấy tiếng kêu trầm đục, yếu ớt. Tương tự như ví dụ đó, vào thời vị lai, người ta sẽ không còn tâm mến mộ lắng nghe, ghi nhớ hay học hỏi giáo pháp nguyên bản của Đức Phật và các bậc thánh đệ tử. Thay vào đó, họ chỉ chú trọng lắng nghe và tìm học những lời lẽ thế gian bóng bẩy, những văn bản bị thêm thắt, cắt xén, bóp méo ý nghĩa theo ý riêng, hay những bài kinh tân thời, những tư tưởng giáo lý mới lạ và kỳ xảo. Khi ấy, cũng như chiếc trống **Āṇaka**, những phần giáo pháp giả tạo, vay mượn và rỗng tuếch sẽ lan rộng, còn giáo pháp chân thực sẽ bị tiêu trầm. (Xem **Kinh Āṇi**, **Nidāna-457**; và **Tika Nipāta**, **Tiền thân Kakkaṭa-310**.) Về tình trạng hàng tăng lữ thời vị lai, trong **Kinh Kaliṅgara** có dạy rằng: “Này các vị hoàng tử xứ Licchavī, khi các vị còn nỗ lực rèn luyện, lấy khúc gỗ làm gối kê đầu, thì vua Ajātasattu (A-xà-thế) không có cơ hội hại được. Nhưng thời gian sau, các vị ấy sẽ trở nên mềm yếu tay chân, ngủ trên giường nệm êm ái, kê đầu trên gối bông cho đến khi mặt trời mọc.” Khi ấy, vua Ajātasattu sẽ có cơ hội thực hiện tâm đồ. “Cũng vậy, hiện nay các vị Tỳ-kheo đang tinh tấn, không phóng dật, có chánh niệm, lấy khúc gỗ làm gối nên Ma vương không tìm được sơ hở. Nhưng trong tương lai, các vị Tỳ-kheo sẽ có tay chân mềm yếu, ## TRANG 317 ngủ nghỉ nơi giường nệm êm ấm, kê gối bông mịn màng cho đến khi nắng lên. Lúc đó, Ma vương sẽ có cơ hội xâm nhập.” Qua đây, Đức Phật muốn dạy rằng khi các vị Tỳ-kheo yếu kém về định, niệm và tinh tấn, thì chẳng khác nào đang đưa tay mời gọi quân đoàn Ma vương đến, và đó chính là nguyên nhân dẫn đến sự diệt vong của giáo pháp. (6) Cũng trong bộ **Nidāna-vagga Saṃyutta (422)**, Đức Thế Tôn đã thuyết về sự suy tàn của giáo pháp do sự nguy hại của pháp giả mạo (tương tự pháp), điều này càng đáng để ghi nhớ hơn. Bản kinh này có tên là **Kinh Saddhammapatirūpaka** (Kinh Diệu pháp tương tự). Ngài Mahākassapa (Đại Ca-diếp) đã bạch hỏi Đức Thế Tôn và Ngài đã thuyết dạy như sau: Ngài Mahākassapa bạch rằng: “Bạch Thế Tôn, thuở trước giới bổn (Vinaya) tuy ít nhưng các bậc chứng đắc thánh quả lại rất nhiều. Ngày nay giới bổn đã trở nên nhiều hơn, nhưng tại sao số người đắc đạo quả lại ít đi như vậy?” Đức Thế Tôn đáp: “Này Kassapa, khi tuổi thọ con người ngắn lại và giáo pháp sắp tàn thì chuyện đó là điều tất yếu. Giống như vàng thật chưa biến mất chừng nào vàng giả chưa xuất hiện (giá trị không giảm), giáo pháp chân thực cũng không bị mất đi cho đến khi pháp giả mạo xuất hiện. Thật vậy, ngay cả những đại tố như đất, nước, gió, lửa – những nguồn năng lượng lớn lao nhất có thể hủy diệt cả thế gian cho đến tầng trời **Vehapphala** (Quảng Quả) – cũng không thể làm cho giáo pháp này suy tàn hay biến mất. (Hàng ngoại đạo dị giáo lại càng không thể làm được. Chú giải 1). Kẻ rỗng tuếch sẽ hủy hoại giáo pháp này (như gỉ sắt ăn mòn sắt. Chú giải) chính là những người đang ở ngay trong giáo đoàn này. Sự suy tàn của giáo pháp không phải do giới luật quá nhiều (giống như con thuyền chở đầy hàng hóa bị chìm vì quá tải), mà chính vì sự thiếu tôn kính và phục tùng đối với Tam Bảo, đối với Giới, và đối với Định pháp, nên tuổi thọ của giáo pháp bị rút ngắn và dẫn đến tiêu vong.” Đó là ý nghĩa tóm lược của bản kinh trên. Bậc thầy Chú giải đã giải thích thêm rằng các tác phẩm giả mạo như **Zimmē Paṇṇāsa** (Chiêm Mai Bản Sinh), **Lalitavistara** (Phổ Diệu Kinh) v.v... là nguyên nhân làm tiêu vong phần Pháp học (Pariyatti). Đồng thời, mười thứ phiền não của Minh sát (Vipassanupakkilesa) như hỷ (pīti), khinh an (passaddhi) v.v... nếu bị lầm tưởng là Đạo, Quả, Niết-bàn trong quá trình hành thiền, thì sẽ là nguyên nhân làm tiêu vong phần Pháp hành (Paṭipatti) chân thực. Đây là những dẫn chứng được trích lục từ Tam Tạng. ## TRANG 318 Trong phần **Phussa Theragāthā** (Trưởng lão tăng kệ) thuộc Tạng Kinh, Ngài Trưởng lão **Phussa** cũng đã thuyết tóm lược về những nguyên nhân khiến giáo pháp suy tàn. Ngài Mân-lည် (Mānlal) Sayadaw cũng đã từng dùng bản dịch diễn nghĩa này để đánh thức tâm thức của hàng hành giả Việt Nam (đối với phần Pháp hành). Đức Thế Tôn đã nhiều lần thuyết dạy rằng sự thiếu tôn kính đối với Tam Bảo là nguyên nhân lớn lao dẫn đến sự suy tàn giáo pháp. Chúng ta cần chú ý trong việc tôn thờ, sử dụng hình tượng Phật tại các bảo tháp, điện thờ; trong cách nghe pháp (kể cả nghe qua máy ghi âm), thảo luận pháp; trong việc gìn giữ và nâng niu kinh sách; cũng như trong các cử chỉ, lời nói khi gặp gỡ tiếp xúc với chư Tăng. Cần đặc biệt cẩn trọng để việc thờ phụng không trở thành hành động phá hoại ngầm. Hãy luôn quán xét rằng nếu đang đứng trước bậc Đạo Sư lúc Ngài còn tại thế thì mình nên hành xử như thế nào, rồi theo đó mà thực hành. Ở đây không dẫn lại lời giải thích của các bậc thầy Chú giải nữa. ### LỜI CẢNH TỈNH CHO NHỮNG NGƯỜI MUỐN HOẰNG PHÁP THEO LỐI TÂN THỜ Nếu tóm lược những lời dạy về nguyên nhân suy tàn giáo pháp ở nhiều nơi, ta thấy rằng kẻ phá hoại giáo pháp không nằm ở thế giới bên ngoài hay ở các tôn giáo khác. Đừng vội chỉ tay về phía họ. “Dòi sinh ra từ trong thịt, gỉ sắt ăn mòn sắt”, chúng ta phải thấy rằng người phá hoại giáo pháp chính là những đứa con của Đức Phật – hàng Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di và chính bản thân chúng ta. Hãy đứng trước tấm gương giáo pháp chân thực này để nhận diện ra “tội đồ”. Trải qua nhiều thời đại, người ta đã lầm lạc khi đổ lỗi cho ngoại đạo, cho các trường học thế gian, hay cho khoa học v.v... Từ việc tìm sai nguyên nhân đó, họ lại tiếp tục gánh lấy nỗi ưu phiền (domanassa). Để cứu vãn giáo pháp đang suy giảm, họ lại nỗ lực dốc sức học tập các ngôn ngữ thế gian (bā-santara) để chạy theo thời đại. Họ không dùng con thuyền giáo pháp của chính mình để theo kịp dòng chảy, mà lại để bản thân mình lún sâu đến ngang hông giữa dòng đời đầy rẫy những quan điểm tà vầy. Lấy cớ là “không có học tăng tham dự”, họ mượn danh nghĩa giáo dục tân thời để cố gắng cứu vớt người khác. Nhưng do dựa dẫm sai lầm vào các “đội cứu trợ”, họ lại vô tình dấn thân vào những gánh nặng xã hội. Từ chỗ tìm sai nguyên nhân, trong khi định cứu vớt người khác thì chính mình lại lún sâu đến tận cổ. Dù vậy, họ vẫn không nhận ra để lùi bước, lòng bi mẫn muốn hoằng pháp cứ tiếp tục thúc đẩy họ tiến tới, và rồi họ lại lôi kéo thêm những người khác cùng đi theo con đường đó. ## TRANG 319 **Đức Thế Tôn** muốn dạy rằng: “Việc các hàng môn đồ của Phật không thể sống đúng hạnh nguyện của bậc xuất gia… chính là sự rỉ sét của Giáo pháp, dẫn đến sự suy tàn và biến mất của Đạo.” Ngài muốn mọi người hiểu rõ điều này. Tuy nhiên, đây chưa phải là cốt lõi. Chừng nào Chánh pháp đích thực còn tồn tại (hay nói cách khác, chừng nào Tượng pháp chưa xuất hiện), thì Giáo pháp vẫn sẽ vững bền. Điều đáng sợ nhất chính là những giáo pháp giả tạo, vay mượn. Bởi vì việc học tập Giáo pháp (Pariyatti) không được chu toàn, không có nền tảng vững chắc, hoặc không được đem ra đối chiếu kiểm chứng, người ta đã lầm tưởng những món trang sức giả là đồ thật, rồi đem ra phô trương, mặc khoác một cách tự đắc. Trong các buổi lễ hội, họ đua nhau diện các món đồ ấy, so tài cao thấp qua giá trị vật chất của chúng. Dù thiếu thước đo chuẩn mực, những người thợ vàng giỏi tay nghề đến kinh ngạc đã không ngừng chế tác những món trang sức giả ở hậu trường để cung cấp cho người đời. Khi đồ giả tràn lan, người ta thậm chí không còn muốn chấp nhận phán quyết của thước đo chuẩn (việc học tập giáo lý), không còn tin vào sự thật nữa. Ngay cả những “bậc thầy” ấy cũng tuyên bố dõng dạc: “Chính tay tôi đã dày công tôi luyện, đây đích thực là vàng ròng.” Trong số những pháp giả mạo ấy, nếu chỉ là những hiện tượng hỷ lạc (**Pīti**) hay khinh an (**Passaddhi**) – tức là những chướng ngại của tuệ quán (**Vipassanūpakkilesa**) thì vẫn còn có thể chấp nhận được. Nhưng có những dòng phái mang danh **Phật giáo** như Đại thừa hay Kim Cang thừa lại là những sự giả mạo quá sai biệt, ví như đồng thau chỉ được mạ vàng mà thôi. ### Tấm thân nơi giòi bọ vui vầy Một ngày nọ, sau khi đi trì bình khất thực và đang trở về, Thiền sư **U Kyi** được đại diện từ một buổi lễ tại chùa Công ty chặn đường thỉnh mời ngài đến dự để làm lễ hồi hướng nước truyền. Theo kế hoạch đã định của hội chúng, ngài đã hoan hỷ nhận lời. Sau khi thực hiện lễ hồi hướng nước và chia sẻ phước báu, lúc Thiền sư đứng dậy chuẩn bị rời đi, mọi người nhìn thấy tại nơi ngài vừa ngồi có những con giòi đang lúc nhúc bò ra. Lúc ấy, họ mới nhận ra rằng: “Dường như ngài đang có một vết thương nặng.” Khi thưa hỏi kỹ càng, họ phát hiện ở phần mông của ngài, không biết từ lúc nào, đã có những con giòi tụ lại thành đám. Dù các đệ tử khẩn thiết thỉnh cầu được chữa trị bằng thuốc men, ngài đều từ chối. Ngài chỉ phán rằng: “Tấm thân này vốn dĩ là ngôi nhà lớn cho các loài sâu giòi trú ngụ mà thôi.” Nhờ sự kham nhẫn ấy, vết thương dường như sau đó đã tự lành. ## TRANG 320 ### An nhiên tịch diệt trong tư thế ngồi Thiền sư **U Kyi** cho đến năm 78 tuổi vẫn kiên trì hạnh độc cư, không bao giờ từ bỏ nếp sống khất thực của các bậc thánh nhân thuở trước. Ngài lấy làm hãnh diện về thói quen trì bình dù trời mưa hay nắng gắt. Khi ngài 84 tuổi, tuổi già và bệnh tật bủa vây, nhận thấy không còn phù hợp để ngài đơn độc tu tập giữa rừng sâu, đệ tử của ngài là **U Nandiya** (hiện là Thiền sư viện Patho) đã thỉnh ngài về tịnh dưỡng tại chùa Patho. Ngài luôn giữ gìn hạnh **Tam y** (**Ticīvarika**) và hạnh **Đầu đà ngồi** (**Nisajja dhutaṅga**). Theo thời gian, sự tàn phá của **vàng bạc (già) và bệnh tật** càng nặng nề, ở tuổi 84, thân hình ngài chỉ còn da bọc xương, gân cốt hiện rõ mồn một. Dù đã dùng đủ loại thuốc men nhưng bệnh tình không hề thuyên giảm. Dù cơn đau có dữ dội đến đâu, ngài cũng không hề nằm nghỉ. Trên chiếc giường thấp, ngài luôn luôn ngồi tĩnh tại. Một số đệ tử xót thương, nghĩ rằng nếu ngài nằm nghỉ thì sẽ bớt đau đớn nên đã khẩn khoản thỉnh ngài nằm. Nhưng ngài chỉ lắc đầu chối từ. Theo pháp **Quán Thọ** (**Vedanānupassanā**), ngài thường lặp đi lặp lại việc thuyết giảng về gương của các bậc thiện tri thức thuở trước, những người đã kham nhẫn tuyệt vời trước các **Lạc thọ** (**Sukha-vedanā**) và **Khổ thọ** (**Dukkha-vedanā**). Ngài dạy rằng việc ngồi theo hạnh **Nisajja dhutaṅga** chẳng những không khổ mà còn mang lại sự an lạc sâu sắc và khả năng chịu đựng khổ đau. Khi đã năm ngày không thể dùng vật thực, ngài bèn yêu cầu chuyển chiếc giường của mình ra khỏi bóng mát của ngôi chùa. Theo **Luật tạng** (**Vinaya**), ngài không muốn gây ra những sự nghi ngại về quyền sở hữu hay phạm vi của ngôi chùa. Điều này cũng có thể là sự thực hành hạnh **Lộ địa** (**Abbhokāsika dhutaṅga**) – sống ở ngoài trời. Trong những ngày đó, ngài hoàn toàn giữ sự im lặng. Ngài chỉ ngồi tĩnh tại trên giường, an trú trong đối tượng của thiền định. Khi xưa, **Đức Thế Tôn** đã dùng định lực để kham nhẫn cơn đau nơi ngón chân do tảng đá của **Devadatta** gây ra, khiến tất cả chư Thiên và Phạm Thiên đều hết lời tán thán Ngài là bậc Đại Anh Hùng. Cũng vậy, tất cả những ai tận mắt chứng kiến hay nghe kể về sự kham nhẫn trước đau đớn của Thiền sư đều không khỏi kinh ngạc. Người phàm phu khi gặp phải đau đớn kịch liệt thường nghĩ rằng: “Phải có người ở bên cạnh mới có sức, phải rên rỉ mới thấy nhẹ người, phải nằm nghỉ ngơi hay phải có thức ăn vào bụng mới chịu nổi.” Những quan niệm và cách hành xử ấy hoàn toàn trái ngược với giáo pháp của Đức Phật. Ý nguyện của Phật là: Thân càng không khỏe, càng phải nỗ lực hành thiền. Do đó, khi **Đức Thế Tôn** ở tại ngôi làng nhỏ Beluva vùng ngoại ô Vesali, mặc dù bị bệnh nặng đến mức gần kề cái chết, Ngài đã suốt mười tháng trời thực hành **Tuệ quán** (**Vipassanā**) và dùng định lực (Thâm nhập Thiền Định) để nhiếp phục cơn đau. ## TRANG 321 Việc hành thiền có thể ngăn chặn ngay cả cái chết, có thể giúp kéo dài tuổi thọ đến hàng trăm ngàn năm (như đã dạy trong bài kinh **Cetiya Sutta**, bộ **Maha-vagga**). Nếu không thể dùng Giáo pháp để kham nhẫn và đoạn trừ các cảm thọ đau đớn, thì **Sân tùy miên** (**Paṭighānusaya**) sẽ phát sinh. Để thoát khỏi nỗi khổ ấy, người ta thường dùng các đối tượng như hình sắc, âm thanh để thay thế và xoa dịu, nhưng điều đó lại khiến cho **Tham dục tùy miên** (**Kāmarāgānusaya**) càng thêm tăng trưởng. Điều này ví như một cái gai đã đâm vào da thịt, người ta lại dùng một cái gai khác để khều nó ra, nhưng rốt cuộc lại khiến cái gai thứ hai đâm sâu thêm vào nữa (như đã dạy trong bài kinh **Salla Sutta**, bộ **Tương Ưng Thọ**). Dù bệnh tình ngày càng trầm trọng, Thiền sư **U Kyi** vẫn duy trì tư thế ngồi để quán sát các cảm thọ. Suốt năm ngày không có hạt cơm vào bụng, ngài chỉ tập trung cao độ vào việc hành thiền. Vào lúc 2 giờ sáng, ngày mùng 6 tháng Wazo thứ nhất, năm 1288 (Miến lịch), cũng giống như các bậc đại trưởng lão **Mahākassapa** và **Bākula**, ngài đã an nhiên tịch diệt (đoạn lìa Nghiệp báo thân) trong tư thế ngồi ngay trên giường. Tang lễ của ngài đã được tổ chức vô cùng trang nghiêm với sự tham gia của một trăm cỗ xe linh xa. ### Định kiến và Chánh kiến Những gì người phàm phu cho là Khổ, thì các bậc Thánh nhân lại thấy là Lạc; và những gì người thế gian coi là Lạc, thì các bậc Thánh lại thấu thị đó chính là Khổ. Quan niệm về Khổ - Lạc của cả thế gian này hoàn toàn trái ngược với cái nhìn sắc sảo của các bậc thánh nhân (Kinh **Rūpārāma**, bộ **Tương Ưng Sáu Xứ**). ## TRANG 322 ### Hai bậc đạo hạnh đắc Thiền và Thần thông trên núi Dezunpa (Trình bày theo lời giảng của cư sĩ Anāgāmi Sayagyi Thet.) Vào một đêm Rằm tháng Tạng-hỗng (Tazaungmon) độ lúc canh đầu. Từ trên không trung, có hai vị Tỳ-khưu sử dụng thần thông chuyển di thánh thể đáp xuống sân đại bảo tháp Mahācetiya tại Pegu. Sau khi lễ bái bảo tháp, hai Ngài cùng nhau rảo bước về phía giới đàn Kalyāṇī. Xét về độ tuổi, cả hai vị đều đã ngoài năm mươi, xấp xỉ bằng nhau. Lúc bấy giờ mặt trời vừa khuất dạng, ánh trăng đang độ sáng ngời, hai vị cùng tiến bước vào trong giới đàn Kalyāṇī. Một lát sau, các Ngài trở ra. Theo truyền thống giới luật của bậc xuất gia, hai Ngài đến đây để thực hiện nghi thức Uposatha (Bố-tát). Khi đến đồi Shwethalyaung, hai Ngài lại theo đường hư không, bay thẳng về hướng chính Bắc. Dưới ánh trăng thanh của đêm Rằm tháng Tazaungmon, bất cứ ai hữu duyên chiêm bái được cảnh tượng ấy đều xem đó là một đại phúc lành **Dassanānuttariya** (Kiến vô thượng) – một hình ảnh không thể nào quên trong suốt cuộc đời. Khi về đến núi Dezunpa, hai vị Tỳ-khưu đáp xuống hai ngọn núi riêng biệt. Dù đã hẹn nhau cùng đi nhưng hai Ngài ít khi trò chuyện, mỗi người đều giữ tâm chánh niệm vào đề mục hành trì của mình. Dẫu đã đắc Thần thông (Abhiññā) nhưng vì chưa chứng đạt các tầng thánh quả, hai Ngài tận dụng mọi thời gian, không ngủ không nghỉ để hành thiền quán tưởng. Vì công phu tu tập cốt yếu chưa hoàn tất, các Ngài luôn ẩn giấu thần lực của mình một cách đặc biệt. Hai vị luôn khắc ghi trong tâm rằng: Thần thông đạt được trong thân phận phàm phu (Puthujjana) vốn còn đầy rẫy tham, sân, mạn, có thể quay lại làm hại chính chủ nhân của nó. Thật vậy! Việc Tỳ-khưu Devadatta đọa vào địa ngục Avīci (A-tỳ), thần thông chính là một trong những nguyên nhân tác động. (Vinaya, Cūḷavagga-366; Itivuttaka-253). Thế nên, hai Ngài càng nỗ lực tinh tấn, xả thân cầu đạo hơn cả những hành giả thông thường. Những người thiếu tốn căn lành ba-la-mật và kiến thức Pháp học (Pariyatti), nếu có được dù chỉ một phần trăm thần lực của các Ngài, hẳn đã tự xưng là bậc thầy đại đạo; nhưng với hai vị đại đức này, việc có được thần thông chỉ khiến các Ngài thêm kinh sợ và nỗ lực tìm kiếm con đường thoát ly thế gian thật sự, không quản ngày đêm. Dưới sự nỗ lực không ngừng nghỉ khi cùng nhau tu tập— “Này Hiền giả... Sau khi đắc Thần thông, để chứng đạt Đạo và Quả, ## TRANG 323 chúng ta đã cùng thảo luận và nỗ lực tinh tấn không lùi bước suốt hơn một năm ròng. Kể từ hôm nay, chúng ta hãy tạm chia tay, Hiền giả hãy ở lại ngọn núi này, còn tôi sẽ chuyển sang ngọn núi phía bên kia. Chỉ khi có việc thật sự quan trọng, nếu là ban ngày thì đánh mõ, nếu là ban đêm thì thắp lửa để ra hiệu.” Khi vị Trưởng lão dạy như vậy— “Lành thay bạch Ngài, đã được gặp giáo pháp này, lại có kiến thức Pháp học mà vẫn còn mang thân phận phàm phu để rồi phải trở thành những vị Phạm thiên sống thọ khôn cùng thì thật là điều đáng sợ.” Vị Tỳ-khưu nhỏ tuổi hơn cung kính đáp lời. Sau khi giao ước như vậy, hai Ngài ở tại hai ngọn núi khác nhau trong dãy Dezunpa để tu hành. Suốt hai ba tháng ròng, ngoại trừ những khi cùng hành lễ Bố-tát, hai Ngài không hề ra hiệu hay thảo luận gì thêm. ### Vị Thiên nữ hộ pháp thiện lành Vào khoảng quá nửa đêm nọ, trên ngọn núi nơi vị Trưởng lão cư ngụ, một mùi hương thơm ngát tỏa khắp cả vùng. Lúc ấy, vị Trưởng lão đang thực hành pháp đầu đà **Abbhokāsika** (ở ngoài trời), Ngài đang đi kinh hành và nỗ lực hành trì trên một bãi đất trống nơi đỉnh núi. Bỗng nhiên, có một vị Đại Thiên, thân tướng hào quang rực rỡ, đứng cung kính chắp tay đảnh lễ vị Trưởng lão và thưa rằng: “Bạch Ngài, vì ngưỡng mộ đức tin (Saddhā) và sự tinh tấn (Viriya) rộng lớn của Ngài nên con tìm đến đây. Hiện nay, dẫu Ngài thông tuệ kinh điển, đầy đủ đức tin và sự tinh tấn, nhưng công phu thực hành (Paṭipatti) vẫn chưa trọn vẹn. Nếu nương nhờ được bậc thiện tri thức, Ngài đã có đủ nền tảng để sớm chứng đạt Pháp đặc biệt. Nếu cứ tiếp tục nỗ lực như thế này, việc chứng đắc như mục tiêu các Ngài mong đợi là điều không dễ dàng. Ngài cần phải đi đến một nơi khác.” Vị Trưởng lão vẫn giữ phong thái uy nghiêm lắng nghe, nhưng khi thấy những lời lẽ thưa thỉnh ngày càng mang tính quyết đoán, Ngài liền hỏi với giọng khá cứng rắn: “Ngươi là ai?”. “Con chính là vị đại thiên hộ trì núi Dezunpa này,” vị ấy thưa. “Sao vậy, ngươi không muốn ta ở trên ngọn núi của ngươi nữa hay sao?” vị Trưởng lão hỏi tiếp. “Bạch Ngài, không phải vậy, chẳng phải con vẫn luôn hộ trì các Ngài đó sao? Dẫu các Ngài đã buông xả được sự kiêu mạn về thần thông và học vấn, nhưng các Ngài có nhận ra rằng những mầm mống ngã mạn vi tế (Mānānusaya) vẫn đang âm thầm ngăn trở hay không?” Khi vị thiên nghe vậy, vị Trưởng lão thở dài một tiếng rồi im lặng, vị thiên thủ hộ núi liền tiếp tục thưa: “Việc tìm được bậc minh sư là điều quan trọng nhất trong công phu này. Xin Ngài hãy vững tin mà khởi hành đến địa điểm con chỉ dẫn.” “Được rồi, vậy ta phải đi đâu?” ## TRANG 324 “Vì lợi ích của Ngài, hôm nay xin Ngài hãy đi về hướng chính Nam. Có một ngôi làng tên là Pyawbwe-gyi thuộc vùng Dala, huyện Twante. Ở đó có một vị cư sĩ hướng dẫn thiền tập. Xin Ngài đừng xem thường. Các Ngài cũng hãy dùng thần thông của mình mà quán xét vị ấy.” Nói đoạn, vị thiên liền biến mất. Vị thiền sư ấy không ai khác chính là Sayagyi Thet, người thường được tôn xưng là bậc Anāgāmi (A-na-hàm). Ông là đệ tử của các bậc danh đức như Ngài Đại trưởng lão Ledi Sayadaw, Ngài Sayadaw núi Thayjet và Ngài Sayadaw Inma-gyi núi Theim. Chính Ngài Ledi Sayadaw đã trực tiếp trao truyền pháp hành, kiểm chứng tâm đắc và vì rất hài lòng nên đã đặc biệt khuyến khích và tán dương ông đảm nhiệm vai trò thiền sư chỉ dạy giáo pháp. Ông là một bậc phi thường đã trực tiếp hướng dẫn thiền cho hơn sáu ngàn đệ tử gồm cả tăng mẫu lẫn cư sĩ. (Xin mời quý vị đọc chi tiết hơn trong cuốn sách về “Sayagyi Thet-gyi” để tăng trưởng lòng tín tâm). Sau khi vị thiên thủ hộ núi biến mất, vị Trưởng lão suy ngẫm một lát rồi nảy ra một ý định, Ngài liền đốt lửa. Theo lời hẹn “nếu có việc đặc biệt thì báo cho nhau biết”, Ngài định ra hiệu cho vị Tỳ-khưu ở ngọn núi bên kia. Tuy nhiên, vị Tỳ-khưu ấy lại không để ý đến ánh lửa từ phía núi đối diện. Cùng lúc đó, khi Ngài đang thực hành pháp đầu đà Rukkhamūla (ở dưới gốc cây) trên đỉnh núi và đang trú tâm hành thiền, Ngài cũng gặp phải chuyện có người đến trò chuyện với mình dù không nhìn thấy hình dáng. Không có điều gì khác lạ, vị ấy chỉ khuyên Ngài nên tiếp tục nỗ lực hành trì theo phương pháp cũ. “Bạch Ngài, xin đừng thay đổi ý định. Hãy đi, nhất định phải đi. Con là vị thiên thủ hộ vẫn luôn giúp đỡ và bảo vệ các Ngài.” Nói đoạn, tiếng nói liền biến mất. (Trong kinh Tương Ưng Thiên Tử - Devatā Saṃyutta và các kinh khác, có rất nhiều tích truyện về việc chư Thiên hỗ trợ hành giả). Lời lẽ của vị Thiên khi thì mềm mỏng, lúc lại cương quyết khiến vị Tỳ-khưu trẻ trăn trở khôn nguôi. Những lời cảnh tỉnh về các phiền não vi tế như Ngã mạn tùy miên (Mānānusaya) đang ngăn trở công phu khiến Ngài không khỏi giật mình kinh hãi. Vị Tỳ-khưu trẻ gật đầu đồng ý một mình, rồi đứng dậy đốt lửa để ra hiệu cho vị Trưởng lão. Nhưng vị Trưởng lão cũng không nhìn thấy ánh lửa hiệu ấy. Lý do là vì vị Trưởng lão không đợi vị Tỳ-khưu trẻ đến nữa, do thấy việc quá khẩn cấp nên Ngài đã khoác y mang bát, đeo tấm da thú lên vai và tự mình xuống núi để sang báo tin. Vị Tỳ-khưu trẻ sau khi đốt lửa ra hiệu, cũng theo trách nhiệm của mình mà xuống núi để thưa chuyện với vị Trưởng lão. Lúc này bình minh đã ló rạng. Đang giữa mùa đông nên khắp dãy Yoma chìm trong sương mù dày đặc. Mang theo những ý định riêng tư, hai Ngài cùng bước đi và tình cờ gặp nhau tại một bãi đất bằng phẳng dưới chân núi giữa làn sương mịt mù. Khi vừa gặp nhau, cả hai đều vô cùng kinh ngạc. Hai Ngài trải tấm da thú xuống một bãi đất trống, cùng ngồi xuống và bắt đầu thảo luận về những sự việc đã xảy ra. ## TRANG 325 “Vào thời Đức Phật còn tại thế, Trưởng lão **Poṭṭhila** sở hữu kiến thức Pháp học (Pariyatti) uyên bác nhưng lại vướng vào tâm kiêu mạn. Ngài đã phải cầu pháp và thọ nhận sự chỉ dạy từ một sa-di trẻ tuổi, sau đó mới chứng đắc quả vị A-la-hán. Thưa hiền giả, chính Trưởng lão **Mahānāga** sau khi đắc các Thắng trí (Abhiññā), vì lầm tưởng việc tu tập của mình đã hoàn tất, nên người đệ tử phải dùng phương cách khéo léo để thuyết Pháp nhắc nhở ngài. Chúng ta hiện nay cũng đang rơi vào tình trạng tương tự. Trước đây, ngay cả ý nghĩ đi thọ giáo với một cư sĩ chúng ta cũng chưa từng mảy may nghĩ tới. Tuy nhiên, vị thầy mà chúng ta sắp đến đây thật sự là người xứng đáng để chúng ta nương tựa. Ưn đức của vị Thần núi hộ trì thật to lớn thay! Nào, thưa hiền giả, chúng ta cùng khởi hành thôi.” Nói đoạn, vị Trưởng lão dùng thần lực phi hành theo dãy núi Alal từ hướng Bắc để tiến về phương Nam. Sau khi tạm ghé vào lễ bái tại Bảo tháp Shwedagon, các ngài tiến đến làng Dalapyawbhwaygyi, quàng y bát rồi đi dọc theo con đường làng. Khi đứng dừng chân trước một ngôi nhà, các ngài hỏi thăm: “Này thí chủ, nhà của thầy Saya Thet là nhà nào vậy?” Thật trùng hợp, ngôi nhà đó chính là tư gia của cụ Cư sĩ. Vừa lúc ấy, cụ Saya Thet từ phòng thờ Phật bước xuống, tình cờ gặp mặt các ngài. Cụ liền cung đón bằng những lời thăm hỏi ân cần: “Bạch các Ngài, các Ngài từ đâu đến đây ạ?” Sau những lời chào hỏi xã giao, cụ thỉnh mời các Ngài lưu lại tu học tùy ý và xin được phép hộ độ tứ vật dụng. Cụ cũng thỉnh các Ngài đến nghỉ ngơi tại ngôi đình thuyết Pháp ở giữa làng để hồi phục sức khỏe sau chuyến đi hành trình dài. Cụ nhờ ông Ba Thein dẫn hai vị Trưởng lão đến ngôi đình đó. Lúc ấy mới khoảng 8 giờ sáng. Theo thường lệ, đến 10 giờ, cụ Saya Thet mới đến ngôi đình nơi các hành giả đang tập trung để kiểm tra việc hành thiền và thuyết Pháp. ### Giá trị của Thiền Định và Khổ Đế Vào lúc 10 giờ 30 phút sáng hôm ấy, cụ Saya Thet bước đến ngôi đình. Khoảng ba mươi hành giả nam nữ đang ngồi thành hàng trước phòng thờ Phật và bệ cao dành cho chư Tăng. Có khoảng mười vị Tăng đang ngồi trên bệ cao. Cụ Saya Thet ngồi bên dưới bệ cao, ngay phía trước các hành giả, rồi lần lượt thẩm vấn việc hành thiền của từng người. Cụ ban lời giáo giới ngắn gọn. Sau đó, cụ hướng về phía bệ cao nơi hai vị Trưởng lão vùng Deisunpa đang tọa thiền, chắp tay thưa rằng: “Bạch hai Ngài vừa từ Deisunpa đến đây, các Ngài có được an lạc và thích nghi với nơi này không ạ? Kính xin các Ngài tiếp tục duy trì việc tu tập thiền quán niệm hơi thở (Ānāpana) thêm ba ngày nữa. Đồng thời, cũng kính xin các Ngài từ bi chỉ dạy thêm cho các hành giả ở đây nếu thấy cần thiết.” Sau khi thưa lời như vậy, cụ Saya Thet trở về nhà. Đến ngày thứ tư, cụ bắt đầu hướng dẫn các Ngài chuyển sang thực hành Thiền Minh Sát (Vipassanā). Đúng 10 giờ 30 phút sáng, cụ Saya Thet có mặt tại trú xứ hành thiền. Cụ ngồi vào vị trí cũ, đảnh lễ Phật và chư Tăng theo truyền thống rồi bắt đầu kiểm tra việc thực hành của các hành giả. ## TRANG 326 “Ngày hôm nay có hai Ngài và năm hành giả cư sĩ sẽ bắt đầu chuyển sang Thiền Minh Sát. Phần lớn các hành giả ở đây, sau khi thực hành Thiền Định (Samatha) khoảng ba ngày để thiết lập định lực, thường đạt được **Học tướng (Uggaha-nimitta)** và **Quang tướng (Paṭibhāga-nimitta)**, do đó cần phải chuyển sang Minh Sát. Nếu không chuyển sang Minh Sát, một số hành giả không chỉ thấy ánh sáng mà còn có thể nói chuyện hoặc nhìn thấy rõ ràng các chư thiên, thần giữ của, ngạ quỷ, quỷ dạ-xoa, hay các bậc phù thủy, đạo sĩ (Weizza/Zawgyi). Họ có thể nhận được sự trợ giúp, hoặc có được những khả năng nghe hoặc thấy không thanh tịnh. Lâu dần, họ nảy sinh tâm mong cầu đạt được điều này điều nọ, dẫn đến mất đi đề mục thiền định hơi thở (**Ānāpana**) ban đầu và rơi vào trạng thái tâm trí hoảng loạn. Chính vì vậy, tôi phải hướng dẫn các vị chuyển sang Minh Sát. Tuy nhiên, đối với những bậc đi theo con đường Thắng trí (Abhiññā), khi gặp những hạng chúng sinh thuộc về thế gian (tục đế) như vậy, họ không hề khởi tâm đắm nhiễm hay ưa thích, mà chỉ tập trung tiếp tục quán chiếu Pháp của mình. Này thầy Tha Oo và các vị, mọi người đã hiểu ý tôi chưa?” Cụ Saya Thet gọi đích danh và nhắc nhở các hành giả cư sĩ. Trên thực tế, cụ Saya Thet đã thấu thị rằng ông Tha Oo đang có mối liên hệ mật thiết với một vị phù thủy (Weizza) đã đạt được thuật xuất thế. Ông Tha Oo nghe vậy liền giật mình kinh hãi. Cụ Saya Thet tiếp tục giảng giải: “Đặc biệt là các Ngài thông thạo Pháp học hẳn đã thấu hiểu điều này. Những lời tôi đang thuyết đây là dành cho các thí chủ hành giả, kính mong các Ngài từ bi lắng nghe. Nếu tôi có điều gì sai sót, kính xin các Ngài chỉ giáo và sửa đổi cho ạ. Đừng nói chi đến những khả năng thấy nghe không thanh tịnh có được từ năng lực **Thiền Định**. Ngay cả những thần lực Thắng trí thuộc về Sắc giới và Vô sắc giới, các bậc Thánh thiện tri thức cũng không bao giờ đặt nặng hay xem trọng. Thần lực (thần thông) thực chất cũng chỉ là Khổ đế (Dukkha Sacca) mà thôi. Xưa kia, Đức Phật từng quở trách và ví Ngài **Piṇḍola** – vị đã thị diễn thần thông – với một hạng người không thanh sạch. Ngài cũng ban hành giới luật rằng nếu vị tỷ-kheo nào thị diễn thần thông hóa hiện sẽ phạm tội Tác ác (Dukkaṭa). Thần lực thuộc về Thắng trí cực kỳ khó đắc nhưng lại rất dễ bị mất đi và rất khó để gìn giữ. Thời nay, đối với những người không nằm trong giáo pháp (ngoại đạo), những kẻ không có cơ hội đạt được 'Pháp Thắng Trí' (tức là sự chứng ngộ Tứ Diệu Đế hay chứng đắc quả vị Thánh), thì thần lực chỉ càng khiến họ chịu nhiều đau khổ và kéo dài vòng sinh tử luân hồi. Vì vẫn còn là hạng phàm phu, họ thường dùng thần lực để tranh tài cao thấp, cậy thế thần thông mà buông lời nguyền rủa hay gây khổ đau cho chúng sinh khác một cách vô cùng vô tận. Ngay cả Bồ-tát khi còn là đạo sĩ **Nārada**, cũng từng vì lỡ chân dẫm lên tóc búi của đạo sĩ **Devīla** mà nảy sinh tâm sân hận, kiêu mạn, dẫn đến việc buông lời nguyền rủa lẫn nhau. Vậy nên, những kẻ sở hữu thần lực thế gian hay thuật phù thủy vốn chẳng giữ nổi năm giới thì sự tình sẽ còn tồi tệ đến mức nào. Điều này đã được nêu rõ trong các câu chuyện Bổn sanh. Và thực tế ngày nay vẫn đang diễn ra như vậy.” “Cũng giống như kẻ có học khinh miệt người không chữ nghĩa, kẻ giàu có ức hiếp người nghèo khổ, kẻ có quyền thế đàn áp người yếu thế; mỗi người đều dùng thứ 'quyền năng' nhỏ nhoi của mình để hành hạ kẻ khác. ## TRANG 327 Vì lẽ đó, các bậc thiện tri thức luôn có tâm ghê tởm đối với những điều này. Các Ngài dạy rằng thần lực chính là một trong những chướng ngại lớn lao đối với việc thực hành Thiền Minh Sát.” “Ngay cả khi đạt đến đỉnh cao của các loại thần thông thế gian là **Thắng trí (Abhiññā)**, nếu không được kiểm soát và điều phục bởi 'Pháp Thắng Trí' (tức là quả vị Thánh), thì chúng cũng không bền vững mà chỉ khiến hành giả bị cuốn vào vòng xoáy của Khổ đế. Tuy nhiên, hạng người thường tình thì vẫn luôn xem trọng và ngưỡng mộ những điều ấy.” ### Ý định thâu phục bằng thần lực “Vào thời Đức Phật, tại thành **Nāḷā**, có vị đại trưởng giả **Kevaṭṭa** sở hữu tài sản lên đến bốn mươi mươi triệu (koṭi). Vì lòng quá mực kính tin giáo pháp, ông muốn dân chúng phát khởi niềm tin mạnh mẽ hơn nữa nên đã bạch thỉnh Đức Phật cho phép một vị tỷ-kheo nào đó thực hiện thần thông để thị uy. Đức Thế Tôn khi ấy đã giữ im lặng, tỏ ý không chấp thuận. Sau ba lần ông trưởng giả khẩn cầu, Ngài không thể làm ngơ được nữa nên đã thuyết về ba loại Thần thông (Pāṭihāriya) cùng với lợi ích và tác hại của chúng.” Mặc dù cụ Saya Thet đang hướng mặt về phía các hành giả cư sĩ, nhưng cụ vẫn thỉnh thoảng quay sang nhìn hai vị Trưởng lão vùng Deisunpa. “Chư Tăng các Ngài hẳn là những người am tường hơn ai hết. Con vốn chẳng có kiến thức Pháp học gì cả. Con chỉ xin được chia sẻ lại những lời giáo giới mà bậc thầy ân sư là Ngài Đại trưởng lão Ledi Sayadaw đã truyền dạy lại mà thôi.” Cụ Saya Thet vừa nói khéo vừa tiếp tục bài giảng. Cách thuyết Pháp của cụ hôm nay vô cùng đặc biệt khiến các hành giả cũ đều chăm chú lắng nghe với sự quan tâm sâu sắc. “Ba loại Thần thông đó là: 1. **Biến hóa thần thông (Iddhi-pāṭihāriya)**: Nghĩa là hóa hiện ra nhiều hình tướng khác nhau. Đức Phật dạy rằng: 'Này ông trưởng giả, nếu thị diễn thần lực như vậy, những người có lòng tin sẽ càng thêm kính tín, nhưng những kẻ không có lòng tin sẽ phỉ báng rằng: Đây chẳng qua là thuật phù thủy Gandhārī mà thôi'. Những bậc thầy phù thủy cũng có thể thị diễn thần thông tương tự, khiến dân chúng nảy sinh tâm hoài nghi, lẫn lộn giữa chánh và tà, từ đó làm tổn hại đến những giáo pháp cao thượng thanh tịnh dẫn đến sự thoát khổ. 2. Loại tiếp theo là **Tha tâm thần thông (Ādesanā-pāṭihāriya)**: Là năng lực thấu thị và nói đúng tâm tư, ý định của người khác. Nếu thị diễn năng lực này, vì trong thế gian cũng tồn tại những thuật thôi miên hay bói toán (gọi là Maṇikā) có khả năng tương tự, nên Đức Phật không cho phép vì sợ rằng uy đức của giáo pháp sẽ bị giảm sút và bị đánh đồng với những thứ tầm thường đó. 3. Loại cuối cùng là **Giáo hóa thần thông (Anusāsanī-pāṭihāriya)**: Nghĩa là khuyến tấn mọi người hãy chỉ nên nương tựa vào sức mạnh đích thực của Giáo pháp là Giới, Định, Tuệ. "Chỉ có năng lực của Giới, Định và Tuệ này vừa đạt được tất cả những gì cần thiết cho thế gian, vừa đúng là con đường thoát khổ — nên ngài gọi đó là tốt nhất." ## TRANG 328 ### Chuyển sang Vipassanā tại làng Tan Phò Pè (Tန်ဖိုးပယ်) “Nếu là người cư sĩ có ngũ giới, bát giới (ājīvaṭṭhamaka sīla), nếu là bậc xuất gia có tứ thanh tịnh giới (catupārisuddhi sīla) thì sẽ đem lại lợi ích và năng lực to lớn đến mức nào, đức Thế Tôn đã nhìn thấy rõ bằng Nhất Thiết Chủng Trí. Vì vậy, ngày hôm nay khi chuyển sang thực hành Vipassanā, chúng ta cần quán xét rằng: trong thế gian này, những thứ mà phàm phu bản tính vốn hay đắm say chấp chước như thần lực của học thuật, thần lực của tiền bạc, thần lực của quyền uy hay thần lực của thần thông (abhiññā), tất cả chúng đều chỉ là Khổ Đế (Dukkha Sacca) mà thôi, đúng như câu nói: ‘Ở cõi Phạm thiên thì sáng rực rỡ, nhưng ở máng lợn thì nhớp nhúa’. “Cần phải có niềm tin sâu sắc rằng: ‘Ta sẽ thấy được bốn Thánh Đế đúng như thật và chắc chắn sẽ đạt được hạnh phúc Niết-bàn chân thực’. Với tâm niệm sắp thoát khỏi mọi nỗi khổ, hãy hạ bản ngã (māna) xuống. Hãy giữ cho tâm thật mềm mại. Mọi cử chỉ của thân và lời nói đều phải trở nên nhẹ nhàng, tinh tế. “Hãy thực hiện các bước chuẩn bị (parikamma) như thường lệ, rồi tại đầu mũi, hãy quan sát luồng hơi thở ra vào đang sanh diệt liên tục, thấy rõ bản chất vô thường (anicca) của nó. Nếu có thể quán chiếu thấy rõ sự sanh rồi diệt, diệt rồi lại sanh như vậy, thì pháp hành Ānāpāna (Niệm hơi thở) sẽ chuyển từ định (Samatha) sang tuệ (Vipassanā). “Có một số người vội vàng chỉ trích rằng: ‘Ôi, Ānāpāna chỉ là định thôi mà’. Không phải vậy đâu. Đó là một đề mục thiền (kammaṭṭhāna) toàn diện. Đó là con đường xưa mà chư Phật đều đi qua. Trong kinh Ānāpānassati, đức Phật dạy trực tiếp rằng Ānāpāna chính là Vipassanā qua các cụm từ: ‘**Aniccānupassī** = phải quán thấy rõ bản chất không bền vững (vô thường). **Virāgānupassī** = phải quán để ly tham đắm’. Bậc ân sư Ledi Sayadaw vĩ đại cũng đã viết rõ rằng: trước tiên hãy thiết lập Ānāpāna như một pháp định, rồi từ sơ thiền, nhị thiền hay tam thiền, có thể vượt bước để chuyển sang hành Vipassanā ngay trên chính đề mục Ānāpāna này. “Tuy nhiên, theo lời chỉ dạy của các bậc ân sư, sau khi quán chiếu để thấy rõ bản chất vô thường, khổ, vô ngã của hơi thở ra vào trong khoảng mười đến mười lăm phút, hãy đặt tâm tại đỉnh đầu, tập trung quán sát. Tại vùng diện tích khoảng bằng đồng xu, hãy bắt giữ cho được đặc tính của các sắc pháp (rūpa-dhātu) như: Tejo-dhātu (Hỏa đại) với tính nóng hoặc lạnh, Paṭhavī-dhātu (Địa đại) với tính cứng hoặc mềm. Quý vị sẽ thấy bằng mắt tuệ sự chuyển động rung động (lhup-lhup), lăn tăn (ru-ywa-ywa), tan rã (hpwa-hpwa) hay nổ lách tách (hpyit-hpyit), rồi dần dần lan rộng ra khắp toàn thân, thấy rõ sự sanh - diệt - diệt tận - tan biến. Sắc pháp không đi đâu cả, và danh pháp (nāma) cũng không được chạy trước đón đầu. ## TRANG 329 Cần phải theo sát và ghi nhận sự lan tỏa dần dần đó. Khi xúc trần (phoṭṭhabba-dhātu) và thân căn (kāya-pasāda) tiếp xúc với nhau, danh pháp (tâm ghi nhận) sẽ luôn biết rõ sự sanh diệt đó. Cả sắc pháp bị chạm và danh pháp hay biết đều sanh rồi diệt ngay tại đó, không hề xê dịch dù chỉ bằng một đầu kim. Ngay trong hơi thở ra vào, nếu muốn ghi nhận các đại hiển (Paṭhavī...) cũng có thể ghi nhận được.” (Quay sang phía chư Tăng, cụ hỏi:) “Bạch chư Đại đức, thực hành ghi nhận như vậy có thấy rõ không ạ?” Hai vị trưởng lão vùng Day-sun-par trả lời cụ rằng các ngài đã thấy rõ ngay lúc này. “Lành thay! Tôi rất hoan hỷ khi nghe được điều này. Bạch chư Tăng, theo như trong các bộ luận Abhidhamma (A-tỳ-đàm), không nhất thiết phải biết hết tất cả các loại sắc pháp. Giáo lý Abhidhamma thuộc về phạm vi của Nhất Thiết Chủng Trí và bậc **Paṭisambhidāpatta** (đạt được Tuệ Phân Tích). Chỉ cần mắt tuệ nhìn thấy rõ ràng bản chất vô thường, khổ, vô ngã của một đơn vị sắc, một đơn vị danh, là có thể đạt đến trạng thái an tịnh của Niết-bàn vô vi (Asankhata). Bậc ân sư Ledi Sayadaw vĩ đại cũng đã dạy và viết đúng như thế. “Đặc biệt, điều quan trọng cần lưu ý là hãy tạm gác lại những kiến thức pháp học (pariyatti), những hiểu biết do suy tư (cintāmaya) hay do nghe (sutamaya) đã học được từ nơi khác hay lúc khác. Thực hành theo cách này, những người dù không biết chữ, chỉ sau một đến hai tuần đều thấy kết quả rất hài lòng. “Vì vậy, tôi không ngớt lòng thành kính trước Nhất Thiết Chủng Trí, bởi trong kinh Đại Niệm Xứ (Mahāsatipaṭṭhāna Sutta), Ngài đã mạnh dạn cam kết về thời gian đạt quả vị. Khi tất cả hành giả làm việc, giống như người bắn súng hay bắn cung phải nhe một mắt để nhắm, thì tâm phải đặt vào duy nhất một cảnh này thôi. Hãy cắt đứt mọi sự quyến luyến, không màng đến thân mạng, nỗ lực hết mình để hành trì.” Bài pháp buổi sáng kết thúc. Mọi người đồng thanh “Sādhu”. ### Ba loại phước báu, Ba giai đoạn giáo pháp, Năm loại đoạn trừ Sau ba bốn ngày chuyển sang hành Vipassanā, cụ cư sĩ kiểm tra việc hành thiền và thuyết giảng với vẻ hân hoan, phấn chấn. Có lúc cụ vừa giảng vừa vỗ tay cổ vũ. Cụ cũng chắp tay hướng về phía nơi bậc ân sư Ledi Sayadaw đang hiện diện (trong tâm tưởng). “Hôm nay tôi sẽ giảng cho các hành giả về Giới, Định, Tuệ. Bạch chư Đại đức, nếu tôi có nói gì sai, xin các ngài sửa dạy cho. Giới, Định, Tuệ ở đây chính là nói về ba loại phước báu: Dục giới thiện (Kāmāvacara kusala), Đáo đại thiện (Mahaggata kusala) và Siêu thế thiện (Lokuttara kusala). Cần phải biết sự khác biệt giữa cái thô và cái tinh tế để thấy rõ giá trị của chính mình. ## TRANG 330 “Khởi đầu của Giáo hóa Thần thông (Anusāsanī Pāṭihāriya) 1. Khi thiết lập được Giới giáo pháp (Sīla Sāsanā), thì các phiền não (kilesa) trong tương lai đã bị đẩy lùi một phần đáng kể. Thân và khẩu đã được thu thúc. Hố sâu của các hành vi vi phạm (vītikkama) đã được lấp bằng ‘**Tadanga-pahāna**’ (Đoạn trừ từng phần). Đây chính là Dục giới thiện. 2. Với thiền định (jhāna-samādhi), còn được gọi là Sắc giới và Vô sắc giới thiện, thì không chỉ các hành vi vi phạm bên ngoài mà ngay cả những phiền não sắp khởi lên trong tâm (pariyuṭṭhāna - triền cái) cũng không được phép xâm nhập. Đó là việc dùng nắp đậy khổng lồ của ‘**Vikkhambhana-pahāna**’ (Đoạn trừ bằng cách đè nén) để lấp hố sâu của phiền não khởi phát. Khi thiết lập được Định giáo pháp (Samādhi Sāsanā), chứng đắc các thiền định và thần thông, nếu mệnh chung khi đó sẽ sanh về cõi Sắc và Vô sắc làm các vị Phạm thiên phàm phu. Tuy nhiên, năng lực của Đáo đại thiện này không tận gốc, chỉ là đẩy lùi tạm thời nên không bền vững. Khi gặp cảnh nghịch lòng, thì không chỉ hố sâu của ý nghiệp (pariyuṭṭhāna) mà cả hố sâu của thân nghiệp, khẩu nghiệp (vītikkama) cũng sẽ bị phiền não tràn ngập trở lại như cũ. Hãy nhìn gương các vị tu sĩ tu tập thiền định nhưng rồi lại hoàn tục kết hôn. 3. Như vậy, ngay cả thần lực của định (samādhi) xây dựng trên nền tảng giới trong giáo pháp này còn dễ bị thoái thất như thế, thì những loại năng lực định thế gian (lokāyata) có được bằng một kỹ thuật nào đó (sippa) mà thiếu đi giới hạnh và lòng từ thực thụ, sẽ gây ra biết bao đau khổ cho chúng sanh. Giống như trái tre làm chết cây tre, thứ thần lực đó có thể sát hại chính người sở hữu nó. Vì vậy, không nên hài lòng chỉ với Đáo đại thiện của Định giáo pháp này; mối nguy hiểm vẫn còn rất lớn. 4. Trong lúc gặp gỡ được Giáo pháp như hiện nay, phải hướng tới tu tập Siêu thế thiện mới có thể yên tâm cho vòng luân hồi (samsāra). Đây chính là Tuệ giáo pháp (Paññā Sāsanā). Chỉ có Đạo tuệ (Magga-paññā) này mới có thể lấp hố sâu của phiền não ngủ ngầm (anusaya-kilesa) đã tích lũy từ vô lượng kiếp bằng ‘**Samuccheda-pahāna**’ (Sát trừ tuyệt căn), không còn đường quay trở lại. 5. Quả tuệ (Phala-paññā) lại tiếp tục làm an tịnh, dập tắt các phiền não bằng ‘**Paṭippassaddhi-pahāna**’ (Đoạn trừ bằng cách an tịnh hóa), khiến cho ngay cả hơi hướm của phiền não ngủ ngầm cũng không thể thoát ra. “Khi đó, vì đã đạt đến Thánh vị, chứng đắc các Đạo Quả, nên hạnh phúc Niết-bàn tối thượng cũng bao phủ lấy hành giả bằng ‘**Nissaraṇa-pahāna**’ (Đoạn trừ bằng cách giải thoát hoàn toàn), khiến cho phiền não chẳng bao giờ có thể đến gần vị đó được nữa. Đó là một hạnh phúc vô song, vô cùng an lạc. Vì thế nên Đức Thế Tôn trong kinh **Pháp Cú (Dhammapada)** đã dạy rằng: đừng vội tự mãn với giới hạnh, cũng đừng vội dừng chân nghỉ ngơi chỉ với định lực (samādhi). ## TRANG 331 ### Không cần chi tiết hóa theo danh tự kinh điển Quay sang phía chư Tăng, ngài cung kính chắp tay thưa: "Bạch các bậc Hiền giả, có đúng như vậy không?" Ngài khuyến tấn hành giả phải quán chiếu để đạt đến bản chất Vô thường (Anicca), Khổ (Dukkha), Vô ngã (Anatta) của từng trạng thái Sắc pháp và Danh pháp, rồi tạm dừng lời một lát. "Khi tu tập thiền Chỉ (Samatha), sự thành tựu năm thiền chi được gọi là Sơ thiền. Thầy có dạy rằng phải chú ý để hiện khởi **Tầm (Vitakka)**, **Tứ (Vicāra)**, **Hỷ (Pīti)**, **Lạc (Sukha)**, **Nhất tâm (Ekaggatā)** không? (Các hành giả đáp: Dạ không). Đúng vậy – đó là tên gọi do các bậc thầy thông thạo kinh điển đặt cho thôi. Ngay cả năm Triền cái cũng không cần phải học thuộc lòng, vì trong khi quán chiếu, chúng sẽ tự động lìa xa. Phận sự của hành giả chỉ là theo sát hơi thở ra vào không để rời lạt, đúng không nào? Từ Sơ thiền chuyển sang Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền là quá trình tự tiến triển. Đó không phải là thứ có thể đạt được bằng cách học thuộc lòng trước. “Trong phần thiền Quán (Vipassanā) hiện nay cũng tương tự như vậy. Đừng lầm tưởng rằng phải thông suốt, phải thuộc lòng tất cả những chi tiết thuộc về Pháp học (Pariyatti) hay Phân tích đạo (Paṭisambhidā) như năm uẩn (khandha), mười hai xứ (āyatana), mười tám giới (dhātu), năm mươi ba danh pháp (nāma-tepaññāsa), hai mươi tám sắc pháp (rūpa-aṭṭhavīsa) thì mới đạt được tuệ Quán. Chỉ cần làm chủ được một Sắc pháp, một Danh pháp thì mười bậc Tuệ giác (ñāṇa) sẽ tự hiển lộ. Không phải là ta phải 'làm' cho tuệ này xong rồi mới đến tuệ kia. Giống như mặt trời mọc rồi tất yếu phải lặn ở phương Tây, hay như đi tàu hỏa từ Yangon đến Mandalay, dù biết hay không biết các nhà ga trung gian, bạn vẫn sẽ tự nhiên gặp và vượt qua chúng. Nếu chưa đến mà lại cố dùng tâm suy diễn để đạt đến, thì đó không phải là tuệ do Tu hành (Bhāvanā-maya); trái lại, nếu không buông bỏ những kiến thức Pháp học đã nghe, đã biết, chúng sẽ giống như một sợi dây kéo ghì trí tuệ hành trì của ta lại. Những tên gọi như Tuệ này Tuệ nọ là do các bậc Hiền giả thông thạo Pháp học đặt danh tự; còn hành giả chỉ việc đi đúng lộ trình, lên đúng chuyến tàu và đừng để lỡ chuyến. Khi định lực đã thành hình, trí tuệ Thấy biết như thật (Yathābhūta-ñāṇa) sẽ tự đến mà không cần mong cầu, mong đợi hay chờ chắt; chân lý Tứ Thánh Đế sẽ tự hiện bày, các bậc Tuệ giác sẽ tự tiến triển. Một khi nền tảng Giới hạnh (Sīla) đã vững chắc thì **Bất hối (Avippaṭisāra)**, **Hân hoan (Pāmojja)**, **Hỷ (Pīti)**, **Khinh an (Passaddhi)**, **Lạc (Sukha)**, **Định (Samādhi)**, **Như thực tri kiến tuệ (Yathābhūta-ñāṇa)**, **Yểm ly tuệ (Nibbidā-ñāṇa)**, **Giải thoát tuệ (Vimutti-ñāṇa)** sẽ tự động tuôn chảy liên tục như được khơi mở dòng kênh vậy. “Trong các kinh thuộc **Tăng Chi Bộ (Aṅguttara Nikāya)** như **Kinh Ce-ta-na-ka-ra-ni-ya (Cetanākaraṇīya Sutta)**, **Kinh Ba-va-na (Bhāvanā Sutta)**, ## TRANG 332 Đức Phật đã dạy đúng như vậy. Do đó, sau khi đã thiết lập vững chắc nền tảng Giới giáo (Sīla-sāsanā) và các thiện nghiệp cõi Dục (kāmāvacara-kusala), tôi tha thiết khuyến tấn các quý vị hãy nỗ lực quán chiếu không ngừng nghỉ để đạt đến thiện nghiệp Đạo tuệ (Magga-kusala) – cứu cánh an toàn nhất.” (Tất cả đồng thanh sa-thủ). ### Cúng dường pháp bảo bằng ngọc Ý Thuận Sau khi hai vị trưởng lão từ vùng Desunpa lưu lại chỗ Thiền sư được khoảng mười ngày, vào một buổi chiều nọ, họ đặc biệt mời ngài đến tại chánh điện (Dhamma-yone) để tỏ lòng tri ân. Theo lời dặn của hai vị, Thiền sư mang theo một khay nhỏ phủ nhung đen, lót một nắm bông gòn lớn, cùng một người đệ tử đến chánh điện. Sau khi đảnh lễ Phật và chư Tăng, ngài ngồi xuống, vị trưởng lão trẻ lên tiếng: “Thưa Thiền sư, xin ngài đừng ngại. Ơn đức của ngài thật to lớn. Ngày mai chúng tôi xin phép được trở về, nên hôm nay mời ngài đến đây để đáp đền thâm ân trước khi từ biệt. Nào... mời Thiền sư hãy xem hai viên hồng ngọc này.” Nói rồi vị ấy lấy từ trong bát hai viên đá đặt vào tay Thiền sư. Kích cỡ chúng khoảng chừng trứng chim sẻ hay viên bi. Thiền sư vừa cầm xem vừa hỏi: “Những viên đá này các ngài lấy từ đâu vậy?” “Chúng tôi mượn tạm từ núi Hồng Ngọc (Pattamyar Taung) theo lời nguyện để đem cho ngài xem,” vị ấy đáp và đặt viên lớn hơn lên khay bông. Khối bông gòn dày cả gang tay bỗng rực lên một sắc đỏ rạng rỡ. Khi đặt viên thứ hai lên, ánh quang tỏa ra chỉ bằng phân nửa viên đầu. Thiền sư không hề thay đổi sắc mặt, vẫn điềm tĩnh mỉm cười quan sát. Sau đó, khi bỏ viên ngọc vào ly nước, cả ly nước bừng lên ánh đỏ rực rỡ; viên thứ hai cũng chỉ tỏa sáng phân nửa mức đó. “Thưa Thiền sư, viên thứ nhất này là ngọc Ma-no-ma-ya (Ý Thuận); viên ngọc này có thần lực hễ mong cầu điều gì sẽ được như nguyện, dùng để hộ trì Phật pháp mãi không cạn. Nếu giữ viên này, cần phải dâng một bộ lễ vật cúng dường gồm ba mâm; còn viên thứ hai có đặc tính giữ cho tài sản không bị giảm sút hay hư hỏng và bảo vệ khỏi mọi hiểm họa, khi giữ viên này cần ít nhất một mâm cúng dường. Để cúng dường cho ba-la-m mật trí tuệ của ngài, chúng tôi xin được đáp đền thâm ân này, xin Thiền sư hãy nhận lấy một viên tùy ý thích.” Thiền sư suy nghĩ trong chốc lát rồi với gương mặt rạng rỡ, hoan hỷ: “Được các ngài ưu ái đền ơn thế này, lại được thấy vật báu chưa từng thấy, tôi đã lấy làm mãn nguyện lắm rồi ## TRANG 333 bạch các ngài. Xin cho phép tôi không nhận, mong các ngài lượng thứ. Tôi không muốn những nỗi khổ thế gian vốn đã rộng lớn lại càng thêm lan rộng. Sau khi các bậc Hiền giả trở về, tôi chỉ mong được hoan hỷ thấy các ngài nỗ lực hết mình với đề mục Thiền định cho đến khi hoàn tất phận sự của một vị Sa-môn (Rahan-kicca), đó chính là cách đền ơn tốt nhất đối với tôi rồi.” Nói đoạn ngài trở về nhà. ### Cuộc chia tay cuối cùng của những người ở những cảnh giới khác nhau Sáng sớm hôm sau, sau khi thọ bát, hai vị trưởng lão khoác y bát, dáng vẻ uy nghiêm điềm tĩnh rời khỏi chánh điện. Vị trẻ hơn hướng về phía Bắc, còn vị lớn tuổi hơn rẽ về hướng Đông Bắc của vùng Pyawbwe. Có ba bốn hành giả là đệ tử của Thiền sư đi theo tiễn chân. Sau khi đi được khoảng năm mảnh ruộng, hai vị bảo họ quay về. Khi các hành giả đi tiễn quay đầu nhìn lại những bóng dáng đang băng qua những cánh đồng gốc rạ khô cằn, họ không còn thấy các ngài đâu nữa. Vị trưởng lão lớn tuổi đi đến làng Nwasu ở phía Đông Bắc Pyawbwe. Dân làng Nwasu từ ba ngày trước đã xôn xao về những giấc mơ thấy "có vị A-la-hán sắp đến". Họ đã chuẩn bị sẵn sàng để dâng cúng vật phẩm. Khi thấy vị trưởng lão xuất hiện, dân làng vui mừng khôn xiết. Một thí chủ thưa: "Bạch ngài, ngài từ đâu đến ạ?" Ngài đáp: "Ta từ trung tâm thiền Pyawbwe đến." Thí chủ lại hỏi: "Vậy ngài trụ xứ ở chùa nào, vùng nào ạ?" Ngài ôn tồn: "Ta không có chùa chiền hay trụ xứ nhất định nào cả. Nơi nào thích hợp thì ta tạm dừng chân thôi." Nghe vậy, dân làng bèn cùng nhau cung thỉnh ngài ở lại làng Nwasu để giáo hóa. Vì trong làng lúc đó chưa có ngôi chùa nào, nên làng này và vị thầy này quả thật có duyên lành sâu nặng. Họ liền phát quang một khoảnh đất bên bờ hồ của làng và dựng ngay một ngôi chùa nhỏ để ngài có nơi cư ngụ. Trong suốt ba năm, dân làng đã nhận được sự giáo giới của ngài. Sau đó, tại chính ngôi chùa nhỏ này, ngài đã xả bỏ báo thân. Khi hỏa thiêu kim thân, xá lợi của ngài lưu lại rất nhiều. Điều này đúng như những gì mọi người đã dự đoán và kính tin, nên họ vừa thành tâm thương tiếc vừa hoan hỷ xây một ngôi bảo tháp ngay tại bờ hồ đó để thờ phụng. Trong lịch sử Phật giáo hành trì (Patipatti Sasana) của Myanmar, những bậc Thánh tăng A-la-hán dứt sạch lậu hoặc (Khinasava), đắc chứng Thiền định và Thần thông (Jhana Abhinna), sống ẩn mình ít ai biết đến như bậc Thánh giả này vốn chưa từng đứt đoạn qua các thế hệ. Các Ngài đã thị hiện và trở thành minh chứng sống động, làm hiển lộ các công đức _Sanditthiko_ (Thiết thực hiện tiền) và _Akaliko_ (Không có thời gian) của Giáo pháp. Vì lẽ đó, chúng ta chớ nên đổ lỗi cho nghịch cảnh thời đại hay việc thiếu ba-la-mật mà buông xuôi, sống trong tâm lý "Appakka" (thờ ơ, thiếu tinh tấn, không lo nghĩ); tuyệt đối không nên bỏ lỡ cơ hội lớn lao (được gặp Chánh pháp) này! ## TRANG 334 *Ghi chú: Trong câu chuyện về hai vị trưởng lão, cần lưu ý rằng vị trưởng lão trẻ hơn đang trong tiến trình thực hành Minh sát (Vipassanā) thì do một sự vướng mắc hoặc lôi kéo nào đó mà đã thối lui về đời sống thế tục. Công việc đoạn tận luân hồi, dù được thực hiện ở nơi hẻo lánh đến đâu, cũng dễ bị những nghiệp cũ tác động. Ngay cả khi hai người cùng tu tập, một người cũng có thể bị lôi kéo ra ngoài và trở thành kẻ thù cận kề cho người còn lại. Hãy hết sức cẩn trọng và tỉnh giác.* ## TRANG 335 ## CHƯƠNG — NGÀI THIỀN SƯ LEDI SAYADAW ### (1208 - 1285 PHẬT LỊCH / 1846 - 1923 DL) Khi viết về lịch sử thực hành Pháp (*Paṭipatti*) tại Myanmar, nếu không đề cập đến Ngài Ledi Sayadaw thì đó không thể là một bản sử liệu hoàn chỉnh. Nếu cách đây hơn một trăm năm, không có sự xuất hiện của "Ledi Sayadaw", thì lịch sử Phật giáo Myanmar ngày nay có lẽ đã không được hưng thịnh như thế này. Sự nghiệp thực hành Pháp của Ngài vô cùng phi thường và đáng kinh ngạc. Khi đọc xong tiểu sử này, ngay cả những người vốn chỉ am tường về giáo lý mặt chữ (*Pariyatti*) cũng sẽ khởi tâm hối tiếc vì đã không thực hành sớm hơn. ### Hạt giống của bậc Thánh Ledi Bậc tiền thân của Ngài Ledi Sayadaw đản sinh tại làng Saing-pyin-gyi, phía nam thị trấn Di-pe-yin, vào sáng sớm thứ Ba, ngày 13 tháng Chạp (tháng Nat-taw) năm 1208 Phật lịch. Ngài là người con trai đầu lòng quý giá của ông U Tun Tha và bà Daw Kyone. Về sau, gia đình có thêm 5 người con nữa là U Tet Sar, U Tet Pwar (U Kumāra), U Tet Htwar (U Kittī) và cô Daw Ma Lay. Tên thuở nhỏ của Ngài là Maung Tet Khaung. Cái tên này được đặt dựa trên những điềm báo xuất hiện lúc Ngài chào đời. Vào khoảnh khắc Ngài đản sinh, từ chân cột chính ở đầu giường, một luồng ánh sáng rực rỡ đa sắc như dòng sữa chảy tuôn trào, xuyên thấu qua mái nhà và vút thẳng lên không trung. Cả ngôi nhà chìm ngập trong những vệt sáng lung linh giao thoa. Vì vậy, cậu bé được đặt tên là "Maung Tet Khaung" (nghĩa là "Vươn tới đỉnh cao"). Lúc đó, dù không phải mùa, trời bỗng vang sấm ầm vang và đổ mưa lớn. Tại đống tre buộc sẵn dưới gốc cây me sau nhà, một tiếng nổ lớn vang lên và một cây tre trong bó đó bay thẳng lên trời. Điều kỳ lạ hơn nữa là khi chuyển dạ, chỉ có một mình người mẹ ở nhà. Trong lúc bà đang lịm đi vì nỗi đau khổ đặc thù của người phụ nữ khi sinh nở (*āveṇika dukkha*), có một vị thiện sĩ mặc y phục trắng tinh khiết đã hiện ra bên cạnh để chăm sóc cho cả mẹ lẫn con. Chỉ đến khi nghe tiếng trẻ con khóc, người thân mới chạy đến thì vị thiện sĩ kia mới biến mất. Đối với những bậc có đại phước đức, những sự kiện khó tin như vậy vốn là chuyện thường tình. Từ nhỏ, cậu bé đã mang những tướng mạo thanh tú, điềm đạm và bộc lộ sự thông tuệ vượt xa ## TRANG 336 lứa tuổi của mình. ### Sự lôi kéo vị Sa-di hoàn tục Năm 8 tuổi, cậu được gửi đến theo học với Ngài Trưởng lão U Nandadhaja tại chùa Phayauk-pin và xuất gia Sa-di vào năm 15 tuổi. Nhờ trí tuệ nhạy bén bẩm sinh, cậu được ban pháp danh là Shin Ñāṇadhaja. Trong đời sống tu sĩ, vị Sa-di trẻ đã học thông suốt toàn bộ hệ thống kinh điển (*Piṭaka*), nên rất được thầy mình yêu mến và tin cậy. Tuy nhiên, Sa-di Ñāṇa cảm thấy nhàm chán với việc học vì cho rằng mình đã học hết rồi, "không còn gì mới lạ để khám phá nữa". Vì vậy, năm 18 tuổi, cậu quyết định hoàn tục. Thầy tổ và cha mẹ vô cùng luyến tiếc, người cha vì quá đau lòng đã bắt cậu ra đồng làm lúa để cậu tự mình nếm trải nỗi khổ cực của đời trần thế. Nhưng khi thấy cậu Maung Tet Khaung làm việc rất nhanh nhẹn, thạo việc từ đắp bờ đến cày ruộng, người cha không những không giận được mà còn thầm khen ngợi. Người đã giỏi thì làm việc gì cũng giỏi, kẻ đã kém thì dù việc gì cũng khó thành. Trưởng lão chùa Phayauk-pin vì không đành lòng mất đi một người đệ tử tài năng, nên đã cùng với Trưởng lão U Dhammasāra ở chùa Myin-tin trong làng bàn bạc. Mỗi khi nghĩ đến diện mạo, trí thông minh và việc Maung Tet Khaung đi làm ruộng, các Ngài lại không khỏi đau xót. Hai vị Trưởng lão bèn gọi cậu thanh niên hoàn tục đến chùa để khuyên nhủ. Maung Tet Khaung nhiều lần từ chối và xin lỗi vì không muốn đắp y trở lại, khiến cả hai vị đều vô cùng trăn trở. Trưởng lão chùa Myin-tin suy nghĩ một hồi rồi nói: "Nếu con đã quá chán nản như vậy thì chúng ta cũng không muốn cưỡng ép. Tuy nhiên, với tướng mạo và trí tuệ của con, làm công việc đồng áng này thì thật không xứng. Con vốn là người có thiên hướng học thuật, nếu con học Chiêm tinh học (Vệ-đà) thì chắc chắn sẽ không mất nhiều thời gian để thông thạo đâu. Dùng trí tuệ để mưu sinh thì vẫn tốt hơn. Ở làng Ye-twet có vị bạn của ta là Ngài U Gandhamā, người tinh thông cả Tam Tạng lẫn Chiêm tinh học không ai bằng." Nghe vậy, Maung Tet Khaung — vốn đã nếm trải sự cực nhọc của nghề nông trong suốt một mùa mưa — liền đồng ý học một môn chuyên môn để mưu sinh dễ dàng hơn. Cậu cũng cảm thấy rất hứng thú vì sắp được học điều mới lạ. Nhận thấy tâm ý của cậu, Trưởng lão chùa Myin-tin đã dùng phương tiện thiện xảo để dẫn dắt cậu trở lại với giáo pháp, giống như cách mà Ngài Trưởng lão Chandavajjī đã dùng để tiếp độ thanh niên **Moggaliputtatissa**: "Được rồi, có một điều này. Sư U Gandhamā sẽ không truyền dạy kiến thức cho người phàm tục đâu. Nếu con muốn học chiêm tinh, con buộc phải đắp y tu hành. Còn sau này thế nào thì tùy con quyết định." Bằng những lời phủ dụ, thuyết phục như vậy, ngài đã hoàn toàn thu nhận Maung Tet Khaung vào hàng ngũ tăng già. ## TRANG 337 Chỉ trong vòng tám tháng, Ngài Ñāṇa đã tinh thông giáo khoa Chiêm tinh một cách xuất sắc. Khi trở về chùa Phayapinn, qua những lời khuyên dạy dần dà của Thầy, Ngài đã từ bỏ ý định hoàn tục sau khi học xong Chiêm tinh. Tuy nhiên, lúc bấy giờ Ngài vẫn chưa thực sự thâm nhập hỷ lạc trong giáo pháp, thường tiêu khiển thời gian qua các bài thơ Chiêm tinh và các thể thơ Ratu. Bài thơ nổi tiếng “Mahos kyay say khann sho laik ratu” mang phong cách cung đình chính là thi phẩm đã giúp Ngài Ñāṇa “níu giữ” thời gian trong nếp sống xuất gia. Cuối cùng, vào ngày mồng 7 tháng Kasone năm 1228 (Miến lịch), Ngài Ñāṇa đã chính thức thọ cụ túc giới. ### Danh tiếng trong việc học và dạy Pháp Khi vừa trở thành Tỳ-kheo, Ngài **U Ñāṇadhaja** đã quyết tâm lên Mandalay để tầm học giáo pháp, nhưng năm đó xảy ra cuộc biến động Myingun nên Ngài phải nhập hạ tại địa phương. Trong thời gian này, Ngài có cơ duyên nghiên cứu các bộ sớ giải Nissaya bằng tiếng Miến từ năm chiếc tủ lớn tại chùa và các bản thủ bản (lá buông) từ các chùa lân cận. Đến ngày mồng 5 tháng Nayon năm 1229, sau khi xin phép cha mẹ và bổn sư, Ngài lên đường đến kinh đô Mandalay để học đạo. Với hai xấp lá buông buộc vào gậy, một bộ y dư và đôi bát trên vai, Ngài đi bộ vượt qua những chặng đường dài. Từ Alon Monywa đến Chaung-U, rồi vượt qua dãy núi Nwaykhway, Ngài đi bộ đến núi Sagaing. Ngài hoàn toàn không giữ tiền bạc (Nawakamma). Từ Sagaing đến Mandalay, Ngài phải đi nhờ thuyền. So với các học tăng ngày nay, điều kiện thật khác biệt biết bao. Chính vì sự học khó khăn như thế nên thành quả đạt được vô cùng xứng đáng và sâu sắc. Suốt thời gian sau đó, Ngài đã hoằng dương giáo pháp một cách rộng rãi. Tại kinh đô Mandalay với hơn bốn trăm tu viện, Ngài đã đến tu viện Mingala San (thường gọi là **Mahā Jodikārāma**) ở phía Bắc thành đúng vào dịp an cư năm đó. Phải trải qua kỳ khảo hạch tụng thuộc lòng **Dve Mātika** mới được phép lưu trú. Ngài được sắp xếp ở tại chùa Khayepin. Tại đây, vì vị trí ở gần đài nước – nơi tăng chúng thường xuyên qua lại – nên chỗ ở luôn ẩm ướt, Ngài phải luôn giữ tâm nhẫn nại. Nhận thấy pháp danh của Ngài quá “cao sang”, Ngài Hòa thượng trụ trì đã đổi lại thành “**Ñāṇābhivaṃsa**”. Ngài Hòa thượng tu viện trưởng San Kyaung bảo Ngài hãy học các lớp giảng giải (Laik-wa) với mình, và gửi Ngài đến học các lớp phân tích (So-wa) với đệ tử đắc lực của mình là Ngài U Paṇḍicca thành Salin. ## TRANG 338 Sự nghiệp của Ngài **U Ñāṇa** thăng hoa đúng vào thời điểm diễn ra kỳ Kết tập Tam tạng lần thứ năm. Tại triều đình, trước sự chứng kiến của vua chúa, hoàng hậu và tứ chúng, Ngài đã một mình trùng tuyên thuộc lòng bộ **Kathāvatthu** thuộc Tạng Diệu Pháp (Abhidhamma). Kể từ đó, danh tiếng của Ngài bắt đầu lan xa. Năm 1239 (tương đương hạ lạp thứ 10), Ngài không còn là học tăng nữa mà trở thành một vị giảng sư trẻ (Cā-khya Sayadaw). Các vị giảng sư bấy giờ được nhà vua cúng dường gạo theo ba cấp bậc: hạng nhất 5 thúng, hạng nhì 4 thúng và hạng ba 3 thúng. Ngài **U Ñāṇa** không dừng lại ở bậc giảng sư hạng nhì hay hạng ba mà đã thăng tiến vượt bậc lên hàng Giảng sư bậc nhất (Pathama Cā-taw-khya). ### Quan điểm của Ngài U Ñāṇa về Phạn ngữ (Sanskrit) Khi mới bắt đầu sự nghiệp giảng sư, Ngài **U Ñāṇa** từng khởi tâm: “Nếu mình thông thạo Phạn ngữ như các vị đại thần Yaw Min Gyi thì thật tốt,” nên đã tìm tòi thu thập các sách Phạn văn. Đặt những cuốn sách đó ở đầu giường và suy ngẫm, Ngài chợt nhận ra: “Hừm... Phạn ngữ vốn là ngôn ngữ của Bà-la-môn. Đọc những sách này chỉ thấy nói về thế gian và học thuyết Ngã (Attavāda). Trong vô số kiếp luân hồi, mình đã từng làm đệ tử Bà-la-môn và học Phạn ngữ quá nhiều rồi. Chính vì chấp nhận thuyết Ngã mà phải trôi lăn mãi trong vòng sinh tử. Kiếp này nhờ phước duyên may mắn được học kinh điển Vô ngã (Anattavāda), trở thành đệ tử Phật, thì việc ở trong giáo pháp và tuân thủ, rèn luyện theo đúng lời dạy của Ngài mới là điều chân chánh nhất.” Với quyết tâm sắt đá, Ngài đã hạ quyết định dứt khoát và đem vứt bỏ tất cả số sách Phạn ngữ ấy. (Dựa trên việc Ngài từng bảo Ledi Paṇḍita học Phạn ngữ sau này, có người có thể cho rằng lời nói này chỉ là cái cớ để che giấu việc Ngài không biết Phạn ngữ. Nhưng không phải vậy. Nếu Ngài muốn học, chỉ trong vài tháng là Ngài có thể tinh thông. Ngài vốn hiểu rõ căn tánh và sở thích của Ledi Paṇḍita). Những dự định và hành động của bậc đại đức đầy phước báu – người sẽ đội vương miện của thành tựu tâm linh – thì kẻ phàm phu khó lòng thấu hiểu được. Giữa văn học Phạn ngữ và văn học Pāḷi/Phật giáo tuy có vẻ có một chút tương đồng bề mặt về mặt học thuật, nhưng thực chất là hai con đường hoàn toàn trái ngược nhau. Nếu không chỉ nhìn vào kiến thức bề ngoài mà quán chiếu sâu vào cốt tủy bên trong, ta sẽ thấy sự khác biệt này liên quan đến cả hành trình luân hồi. Do đó, quyết định của Ngài **U Ñāṇa** đối với Phạn ngữ chỉ có thể giải thích rằng: “Vì đó là tiền thân của Ngài Ledi – bậc sẽ hoằng pháp cho toàn thế giới.” ## TRANG 339 Trong thời gian giảng dạy, với ý định viết một bản sớ giải mới cho Thắng Pháp Tập Yếu (Abhidhammatthasaṅgaha) để thay thế cho bộ “**Ṭīkā-kyaw**” (Sớ giải cũ) và soạn một bộ sách ngữ pháp, Ngài đã bắt đầu ghi chép các tài liệu trong khi dạy học. Ngài thường xuyên nghiên cứu các bản thủ bản lá buông từ tạng thư đình. Trong một lần ghé thăm tu viện Thit-seint, khi đang tìm tòi trong mớ sách vở cũ, Ngài đã tìm thấy bản thảo bộ **Padarūpasiddhi** về ngữ pháp. Cảm thấy vô cùng tâm đắc, Ngài đã thử nghiệm đưa bộ này vào giảng dạy thay cho bộ ngữ pháp Kaccāyana truyền thống. Nhờ phương pháp giúp học viên dễ nắm bắt ngữ pháp này mà cho đến ngày nay, hậu thế vẫn còn thọ nhận ân đức của Ngài. Thuở ban đầu, Ngài còn phải dùng cả dù, giày và y phục để khuyến khích học tăng đến học. Những lúc rảnh rỗi, Ngài thường thảo luận về cách viết văn và tìm tòi phương pháp mới với các học giả như Yaw Atwin Wun U Po Hlaing và nhà trí thức hoàn tục U Phar. Với kiến thức uyên thâm và niềm đam mê viết lách, vào hạ lạp thứ 14, khi trí tuệ bắt đầu tỏa sáng, một cơ duyên viết sách đã đến với Ngài. Chuyện là Ngài Hòa thượng trụ trì tu viện San Kyaung đã soạn hai mươi câu hỏi hóc búa về Mười pháp Ba-la-mật bằng tiếng Pāḷi và thông báo: “Chỉ những bậc trí giả mới giải được.” Ngài **U Ñāṇa** nghĩ rằng: “Những câu hỏi này chính là dành cho mình,” nên với đầy đủ các trích dẫn và bằng chứng từ kinh điển, Ngài đã hân hoan viết nên tác phẩm đầu tay mang tên “Lời giải Ba-la-mật”. Sau khi hoàn thành, Ngài mang đến trình cho thầy dạy trực tiếp của mình là Hòa thượng U Paṇḍicca thành Salin. Vị Thầy đã phải búng tay tán thưởng: “Con học từ khi nào mà có thể viết được những ý nghĩa sâu sắc và xuất sắc đến thế này?” Sau đó, tác phẩm “**Pāramī Dīpanī**” (Ba-la-mật Minh giải) đã được chép lên lá buông, kẻ lề vàng trang trọng để Ngài mang đến kính dâng lên vị ra đề là Hòa thượng tu viện trưởng San Kyaung. Nhưng khi đến nơi, mọi chuyện lại không như Ngài mong đợi. “Văn chương của ông thì có ích gì? Ta hỏi không phải dành cho hạng người như ông, mà là dành cho các bậc Hòa thượng danh tiếng lẫy lừng khắp bốn phương cơ. Cái đề bài này mà tầm cỡ của ông dám chạm tới sao?” Hòa thượng trụ trì đã mắng nhiếc phủ đầu khiến Ngài **U Ñāṇa** vô cùng bàng hoàng và mất mặt. Mặc dù xấp lá buông **Pāramī Dīpanī** bị quăng ném tung tóe, Ngài **U Ñāṇa** vẫn không thốt ra một lời nào, chỉ im lặng đảnh lễ rồi ra về. Kể từ đó, Ngài không bao giờ nhìn lại tác phẩm ấy nữa và để nó dần vào quên lãng. May mắn thay, một vị đệ tử của Ngài U Nāga – một người bạn cùng tu biết rõ giá trị của nó – đã trân trọng cất giữ. (Chỉ sau khi tu viện Ledi được thành lập, tác phẩm ấy mới được trả về). Đó chính là thử thách đầu đời dành cho bậc xuất chúng – người sau này sẽ đánh thức và thúc đẩy phong trào thực hành thiền định (Paṭipatti) tại Myanmar. Không rõ ý định thực sự của vị Hòa thượng trụ trì là gì, nhưng đối với Ngài **U Ñāṇa**, lúc bấy giờ Ngài đã phải chịu một cú sốc tinh thần không nhỏ. Việc Ngài **U Ñāṇa** bị chỉ trích như vậy thông thường dễ khiến người ta nghĩ là chuyện bình thường ở đời, hoặc cũng có thể coi đó là một cách "vừa đập vừa xoa" để khích tướng, kích thích lòng tự trọng. ## TRANG 340 Tuy nhiên, dường như không hẳn chỉ có vậy. Các nhân duyên vốn dĩ kỳ diệu. Một công trình được thực hiện với tất cả sự trân trọng, vừa mới bước chân vào thế giới của các bậc trí tuệ, ánh sáng tuệ giác vừa mới lóe rạng, thì lại gặp phải sự chỉ trích gay gắt nhất từ bậc tối cao nhất trong giáo hội. Vì vậy, thật khó để thấu hiểu. Ngài **U Ñāṇa** (U Nya Na) chính là bậc anh kiệt sẽ đắc chứng đặc biệt pháp ngay trong kiếp này và hoằng pháp khắp thế giới. Những bậc có nhãn quan đều nhìn thấy rõ điều đó. Phải chăng vì sợ rằng ngài sẽ chìm đắm cả đời trong công việc viết lách? Hay sợ rằng khi viết những tác phẩm như “**Pāramī Dīpanī**” (Minh giải Ba-la-mật), “**Uttamapurisa Dīpanī**” (Minh giải bậc Thượng nhân), và bản thân thường xuyên thực hành như các vị Bồ-tát, ngài sẽ khởi tâm Bồ-tát rồi phát nguyện thành Phật mà làm chậm trễ thời gian (đắc quả)? Hay đây là đòn phủ đầu làm thối chí một bậc vô ngã anh kiệt để xem ngài xuất chúng đến mức nào? Thật khó nói. Pháp tánh vốn thâm sâu. Sự việc ấy, dù xấu hay tốt, đối với bậc có thiện nghiệp Ba-la-mật thì đều trở thành tốt, và chắc chắn sẽ càng tốt hơn nữa. Vào năm 1244 (Phật lịch/Miến lịch), đã xảy ra những nhân duyên khiến ngài **U Ñāṇa** phải rời khỏi kinh đô Mandalay. Lý do là vua Thibaw lên ngôi được bốn năm, nội tình cung đình và quốc sự đang bất ổn. Trong thời gian đó, một trận hỏa hoạn bắt đầu từ khu vực Āṇācuittan đã thiêu rụi cả tòa án, nhà cửa của các quan thượng thư, đại thần. Tu viện San-kyaung (Sàn-kyောင်း) vĩ đại với 46 dãy nhà cũng hoàn toàn trở thành tro bụi. Chư Tăng và các vị trưởng lão cũng lần lượt dời về quê quán của mình. Vị thầy dạy pháp của ngài **U Ñāṇa** là ngài **U Paṇḍicca** (U Pan-đít-xa) cũng đưa các đệ tử xuống thuyền xuôi dòng về thành phố Salin. (Sau này khi Ngài **Ledi Sayadaw** khoảng 30 hạ lạp, chính Ngài đã tự tay khiêng linh cữu và làm lễ hỏa táng khi ngài **U Paṇḍicca** viên tịch). Điều mà ngài **U Ñāṇa** tiếc nuối nhất là toàn bộ các bản ghi chép kinh điển (Parabaik) từ năm bộ Nikaya mà ngài đã tích lũy trong suốt mười sáu hạ lạp đều đã bị hỏa hoạn thiêu rụi. Dự định lớn lao về việc viết các bộ đại chú giải về Ngữ pháp và Vi diệu pháp cũng theo đó mà tan biến. Tuy nhiên, Ba-la-mật của ngài **U Ñāṇa** thì lửa không thể nào thiêu rụi được. ### Trở về Monywa và vào rừng ẩn tu Trong thời gian đó, vị trụ trì tu viện Pyathat (Pyat-thát) ở phía đông chùa Shwezigon, thành phố Monywa là ngài **U Ñāṇavaṃsa** (**U San Chein**) đã đến Mandalay để thỉnh bậc thầy của mình là ngài **U Ñāṇadhaja** (U Nya-na-đa-za). Ngài **U Ñāṇa** cũng đảnh lễ vị trưởng lão tu viện San-kyaung, rồi cùng với hơn mười vị Tăng đệ tử, vào ngày 14 tháng Giêng (Tabodwe) năm đó, đã nghẹn ngào từ biệt tu viện San-kyaung giờ chỉ còn là đống tro tàn. ## TRANG 341 Trong suốt 16 năm học đạo và giảng dạy, ngài chưa từng một lần trở về quê hương. Suốt 16 năm ấy, những công hạnh Ba-la-mật như gánh nước nhà vệ sinh, rửa sạch các dụng cụ, chuẩn bị nước rửa mặt, nước rửa chân, nước uống, nước dùng cho chư Tăng tại tu viện San-kyaung chính là món quà lớn lao mà ngài không bao giờ quên trong suốt cuộc đời. Ngài tạm trú tại tu viện Pyathat do ngài **U Ñāṇavaṃsa** dâng cúng, sau đó trở về làng Saing-pyin để gặp gỡ thầy tổ và cha mẹ, họ hàng. Sau vài ngày, ngài quay lại thành phố Monywa. Vì đã quá chán ngán việc sống tại các ngôi chùa trong làng, ngài chọn một bìa rừng cách thành phố Monywa năm trăm tầm (ta) về phía Bắc, dựng một túp lều tre nhỏ để nhập hạ vào năm 1245. Sau khi mãn hạ, ông **U Waing**, một thương nhân giỏi về Vi diệu pháp (Abhidhamma) từ khu Nyaung-ta-pin, đã xây dựng một ngôi chùa ở phía nam khu Hle-ku và thỉnh ngài về trú ngụ. Bốn mươi vị tăng sinh cũng theo sát bước chân ngài không rời. Ngài dành toàn bộ thời gian cho việc giảng dạy giáo pháp Pariyatti và viết sách. Phụ thân của ngài là cụ ông **U Tun Tha** cũng đến ở cùng với tư cách là một cư sĩ giữ giới (thì-tín). Năm 1247 là năm mà cả đất nước Myanmar lâm vào cảnh loạn lạc, mất chủ quyền, khắp nơi bất ổn. Giữa lúc ấy, phụ thân ngài đột ngột qua đời. Ước nguyện xuất thế (vào rừng tu) càng trở nên mãnh liệt trong ngài. Dù đi đến đâu, để chư Tăng có thể an tâm hành trì Phật sự, ngài vẫn duy trì các công việc như dọn dẹp vệ sinh, quét dọn, gánh nước. Tại sân chùa Shwezigon và chùa Sutaung-pyei, ngài hàng ngày vẫn thực hiện việc lấp các hố sâu, quét dọn sân chùa, không để công hạnh hộ trì tự viện (cetiyangaṇa-vatta) bị khiếm khuyết. Khi thực dân Anh cai trị, theo phong tục phương Tây, họ mở các lò mổ tại các thành phố lớn và công khai giết mổ. Ngài **U Ñāṇa**, giữa lúc bận rộn với việc thuyết pháp, giảng kinh và các thời khóa miên mật, đã bắt đầu vận động "Phong trào tránh ăn thịt bò", bắt đầu từ các vị Tăng trẻ trong tu viện. Ngài đã viết các bức thư "**Nwa Metta Sa**" (Thư tâm từ về loài bò) để kêu gọi khắp toàn quốc. Ngày 8 tháng Giêng nhuận (Tabodwe) năm 1248. Tâm nguyện mà ngài **U Ñāṇa** đã ấp ủ và nỗ lực trong nhiều năm cuối cùng đã trở thành hiện thực vào ngày hôm nay. Chiều tối hôm đó, ngài nói với ba bốn vị cư sĩ giữ giới rằng mình đi dạo, rồi đi bộ về phía bìa rừng đông bắc thành phố Monywa. Khu rừng đó vốn là vùng đất hoang sơ không canh tác được (phún-số-to). Chỉ có các loại cây gai như táo rừng, thol-tì, zi, khan, tha-naung, ta-zaung mọc trên mảnh đất khô cằn. ## TRANG 342 Nơi đây đầy rẫy các loại cây gai như lưỡi cọp và rắn độc. Người ta gọi đó là **rừng Ledi** (Ledi-taw). Ở phía đông nam rừng Ledi là **rừng Oh-ta-long**, nơi bậc xuất thế đạo sư **U Vāyaminda** (U Wa-ya-minda) từng sinh sống. Ngài **U Ñāṇa** đi dạo quanh vòng rừng Ledi, nhận thấy đây là nơi thích hợp để độc cư nên đã đưa ra quyết định ẩn tu tại đây. Dưới gốc một cây xương rồng (ta-zaung) lớn cành lá sum suê, ngài bảo các cư sĩ đi cùng dọn dẹp sạch sẽ phần gốc rồi ngồi nghỉ mệt... “Này các con... các con hãy về đi, hôm nay ta đến đây không chỉ để đi dạo. Đây là lúc ta xuất thế vào rừng. Hãy về báo lại cho thí chủ ngôi chùa và các vị sư trẻ biết,” ngài phán lời như vậy khiến các vị cư sĩ đều sửng sốt. “Bạch ngài, khu rừng này là nơi thường xảy ra án mạng, nơi giết mổ bò, lại đầy rẫy ma quỷ và thú dữ, rừng rậm đến mức không ai dám canh tác. Việc ngài ở lại đây một mình là không nên, bạch ngài,” các cư sĩ thưa thỉnh. “Được rồi, không sao đâu, ta đã có vũ khí của mình. Trời sắp tối rồi, các con hãy về đi,” mặc dù ngài xua tay bảo về nhưng các vị cư sĩ vẫn không nỡ rời xa. Sau khi ngài giảng giải rằng ngài phải nỗ lực bao nhiêu năm mới có thể vào rừng tu được và không nên ngăn cản, ngài phán thêm: “Này các con... trong thời buổi loạn lạc này, đừng có tham đắm vào tự thân quá nhiều, đây là lúc cần phải nỗ lực thực hành pháp. Chỉ cần ăn để không chết là đủ rồi. Hãy cố gắng giữ gìn giới hạnh như ngày hôm nay. Thật ra, nếu giới hạnh được thanh tịnh thì mọi mong cầu đều sẽ thành tựu. Đức Phật trực tiếp dạy rằng: nếu chư Tăng muốn có đủ bốn món vật dụng, nếu người đời muốn có tài lộc sung túc thì hãy vun bồi chính giới hạnh này. Không chỉ vậy, từ việc ngăn ngừa hiểm nguy cho đến việc đưa tới Niết-bàn, tất cả đều nhờ vào giới. Trong bộ **Cariyāpiṭaka** (Hạnh tạng) có giải thích rằng: giới hạnh còn có khả năng mang lại điều mong cầu hơn cả ngọc Cửu minh và cây Như ý (padesā). Vì vậy, nếu biết được lợi ích thì chút khổ cực này có đáng là bao đâu so với những thành quả nhận được. Đây là cây Như ý của cuộc đời đấy, các con hãy cố gắng lên. Thôi... đi đi, về đi.” Các cư sĩ giữ giới chỉ biết thở dài rồi ra về. ### Tấm gương cho các bậc tu rừng Ngài **U Ñāṇa** trải tấm da thú dưới gốc cây xương rồng, một mình tĩnh tại với niềm hỷ lạc tràn đầy. Mặt trời cũng đã khuất bóng. Vì đang là tháng Tabodwe (khoảng tháng Giêng, tháng Hai Dương lịch), gió chướng phương Bắc thổi về mang theo những làn sương mù và hạt tuyết lẩn khuất, nên hễ mặt trời vừa lặn là cái lạnh bắt đầu bủa vây. Sayadaw U Nyana ngoài ba tấm y cà sa ra thì không có gì khác để chống chọi với giá rét. Ngài cũng chẳng có một am thất che mưa nắng. Thế nhưng, chính niềm hỷ lạc trong Chánh pháp (pháp pīti) đã giúp ngài chế ngự được sự khắc nghiệt của thời tiết. ## TRANG 343 Ngay khi mặt trời lặn, Ngài cử hành khóa lễ bái Tam Bảo, tụng kinh Paritta, hồi hướng công đức và trải tâm từ. Đêm càng về khuya, thỉnh thoảng Ngài nghe thấy những âm thanh mơ hồ đến dựng tóc gáy và ngửi thấy những mùi hôi thối nồng nặc. Khi đó, Ngài hướng tâm đến chư Thiên giữ rừng, chư Thiên giữ núi và kết thân (mettā) với các hàng phi nhân (amanussa) như dạ-xoa, ngạ quỷ. Đầu tiên, Ngài hướng mặt về phương Đông và tuyên cáo: “Này các hàng dạ-xoa, ngạ quỷ ở phương Đông, ta đến khu rừng này để phụng sự giáo pháp và lợi lạc cho chúng sinh với tâm thế như cha mẹ, như thân quyến của các ngươi. Các ngươi cũng hãy xem ta như cha mẹ, như thân quyến mà đừng gây bất kỳ sự nhiễu loạn nào, hãy chung sống trong thanh bình.” Ngài lần lượt thực hiện việc kết thân và ban lời tuyên cáo tương tự cho ba phương còn lại. Sau khi kết thân, Ngài miên mật tu tập tâm từ và thiền quán. Kể từ đó, mọi nỗi sợ hãi và kinh hoàng hoàn toàn biến mất. Sáng hôm sau khi trời vừa rạng diện, ông hộ pháp **U Waing** cùng vài nam cư sĩ tìm đến. Ngài **Nāṇa** vẫn đang ngồi an nhiên tự tại dưới gốc cây đại thụ Tazaung. Ông **U Waing** tha thiết thỉnh cầu Ngài trở về chùa cũ: “Khu rừng này quá hung dữ và nguy hiểm, bạch Ngài, Ngài nên đi cùng với các vị Sư khác thì tốt hơn.” Ngài đáp: “Này Maung Waing, nơi này không dữ bằng khu rừng Hlay-ku (ở Monywa) của các con đâu. Dù nơi đây có dữ đến đâu, nếu ta biết lắng nghe lời dạy của Đức Phật thì sẽ không có kẻ thù nào cả, cũng chẳng cần bạn đồng hành. Vũ khí tốt nhất của một vị tỳ-khèo ở rừng là giữ gìn giới hạnh trang nghiêm và tu tập tâm từ; khi đó, việc ăn ở hay hiểm nguy đều không còn đáng ngại. Trong kinh **Saṃyutta Nikāya** (Tương Ưng Bộ), Đức Thế Tôn đã ví người tu tập tâm từ giống như một ngọn giáo hai lưỡi cực kỳ sắc bén. Kẻ nào muốn bẻ gãy, uốn cong hay cuộn lấy ngọn giáo ấy thì chỉ làm cho chính mình bị thương. Vì vậy, không một hàng phi nhân nào dám đụng đến người đang an trú trong tâm từ. Chúng biết rõ rằng nếu xúc phạm, chính chúng sẽ chuốc lấy khổ đau. Việc làm cho tâm trí người ấy rối loạn là điều không thể. Theo kinh **“Satti Sutta”** (Kinh Ngọn Giáo), tâm từ không chỉ là lá chắn mà còn là một loại vũ khí phản công dũng mãnh. 11 lợi ích của tâm từ không chỉ để thuyết giảng cho hay, nếu thực sự tin tưởng và thực hành thì không một loài ma quỷ, vũ khí hay chất độc nào có thể làm hại được.” ## TRANG 344 “Này Maung Waing, thay vì chỉ phân tích các pháp (Abhidhamma) trên bàn luận, trong thời buổi loạn lạc này, con nên tự phân tích ngay trong chính thân tâm mình. Thôi, đã đến giờ đi bát, các con hãy về đi. Năm ngoái đã thỉnh, đã cúng dường một lần rồi. Nếu giờ lại theo về thì vị sư này sẽ trở thành gánh nặng mất.” Nói đoạn, Ngài khéo léo từ chối và bảo họ về. Ông **U Waing** cùng các cư sĩ đành rút lui, nhưng họ đã lên kế hoạch xây dựng ngay trong ngày một am thất nhỏ để Ngài cư ngụ. ### Hai mươi năm không gián đoạn phận sự với tăng đoàn Rừng Ledi thời bấy giờ nổi tiếng là nơi có nhiều hiện tượng kỳ bí và đáng sợ, nên chính Ngài **Nāṇadhaja** (Trưởng lão **Ledi Sayadaw**) thỉnh thoảng vẫn thực hiện nghi thức “cúng thí trong rừng”. Sau này, người ta vẫn truyền tai nhau rằng khi chó hú vào ban đêm là lúc các hàng phi nhân đang đòi ăn, nên người ta thường đem thức ăn và các món mặn đựng trong lá chuối sạch ra cúng lúc hoàng hôn. Họ tin rằng phi nhân sẽ nhập vào một con chó nào đó để thọ hưởng vật thực. Các vị tăng trẻ ở Hlay-ku vì nặng lòng kính trọng thầy và muốn cầu học giáo pháp, nên mặc cho rừng thiêng nước độc, họ vẫn tìm đến nương tựa Ngài từ ba đến bốn vị. Các thí chủ cũng dần dần xây dựng những ngôi chùa lớn, tịnh xá lớn cúng dường. Từ đó, chùa Ledi trở thành một đại tu viện tự bao giờ không hay, và Ngài lại một lần nữa bị ràng buộc vào gông cùm của **Ganthadhura** (Pháp học). Số lượng tăng chúng bấy giờ đã lên đến gần một trăm vị. **Ledi Sayadaw** là bậc xuất trần trong việc thực hành các phận sự (**Vatta-paṭipatta**) đối với Tam Bảo. Khi sống cùng tăng đoàn, Ngài không chỉ dạy học, viết sách và thuyết pháp. Ngài còn tự mình đi khất thực khắp thành phố để nuôi dưỡng tăng chúng, quét dọn, gánh nước, thậm chí rửa cả bát đĩa sau khi chư tăng thọ thực xong – đó là những hành động thực sự phi thường. Cứ 4 giờ sáng, Ngài đã gánh nước từ giếng đổ đầy các lu hũ và dọn dẹp khu vệ sinh. Khi các vị tăng trẻ biết chuyện, họ không dám dùng nước đó để tắm rửa hay súc miệng, Ngài lại phải từ tốn an ủi: “Cứ dùng đi, không sao cả.” Không chỉ thực hiện phận sự trong nội viện, Ngài còn đến các ngôi chùa lớn trong thành phố Monywa, nơi có các vị đại Trưởng lão và đông đảo tăng chúng cư ngụ để đổ đầy nước vệ sinh, rửa tăm xỉa răng, gánh nước và quét dọn trước khi đi khất thực. Nhiều vị trụ trì vì cảm thấy ái ngại nên đã can ngăn: ## TRANG 345 “Bạch Ngài Ledi, xin Ngài đừng làm thế nữa, như vậy là quá đủ rồi.” Ngài khiêm cung thưa lại: “Nếu các Ngài có lòng thương tưởng con, xin hãy cho phép con thực hiện. Suốt vòng luân hồi, đôi tay và đôi chân này đã từng làm nô lệ cho vợ con, nô lệ cho dục vọng. Nay xin hãy để con được làm nô lệ cho Tăng đoàn, nô lệ cho Giáo pháp.” Và Ngài vẫn bền bỉ thực hiện những phận sự ấy. Ngài đã trì giữ **Cetiyangana-vatta** (phận sự tại bảo tháp) và **Sangha-vatta** (phận sự với Tăng đoàn) một cách tinh tấn suốt ròng rã hai mươi năm. Đó quả là nghị lực phi thường của một bậc Đại Bồ-tát (Alaug-daw-gyi). Để thực hiện những việc này, mỗi ngày Ngài đều mang theo chổi, hũ nước cùng với bình bát khi đi khất thực. Ngài thường tự răn mình: “Phải bắt cái xác thân đi mượn này làm việc cho xứng đáng mới được!” Ngài luôn nhắc nhở rằng: Chỉ khi hoàn tất các phận sự (**Cariya**) thì mới có được **Sīla** (Giới), **Samādhi** (Định), **Paññā** (Tuệ); có hành trì (**Caraṇa**) thì mới đạt đến **Vijjā** (Minh). Phận sự (**Caraṇa**) chính là chân tay và đôi cánh trên con đường đi đến Niết-bàn. Nếu chỉ có mắt nhìn (**Vijjā**) mà không có tay chân (**Caraṇa**) thì không thể đi đến đích hay đạt được kết quả gì. Có một lần, trong chùa Ledi có một vị tỳ-khèo mắc bệnh truyền nhiễm (dịch tả), một số vị tăng khác đã lánh đi nơi khác, số còn lại không ai dám đến gần. Khi Ngài biết chuyện, Ngài bảo: “Những vị Sa-di, Tỳ-khèo nào sợ hãi thì cứ việc đi. Vị tỳ-khèo lâm bệnh này để ta chăm sóc.” Nói rồi, Ngài tự tay đem những tấm y bám đầy uế khí ra giếng để giặt giũ. Mùi hôi thối của bệnh dịch rất nồng nặc, và mặc dù Ngài đã từng chăm sóc người bệnh từ thời còn là tăng sinh, nhưng lúc ấy tâm nhàm chán và ghê tởm vẫn khởi lên. Ngay lúc đó, Ngài tự quở trách tâm mình: “Hỡi cái tâm hèn mọn, nhà ngươi định lừa dối ta sao!” Ngài liền lấy những uế khí bám trên chăn y bôi khắp cơ thể mình như một cách để thử thách và trui rèn ý chí. Sau hành động quyết liệt đó, tâm ghê tởm hoàn toàn tan biến. Ngay chính Đức Thế Tôn khi xưa cũng từng tự tay chăm sóc và tắm rửa cho các vị tỳ-khèo lâm bệnh. Trong kinh **Vinaya Mahāvagga** (Luật Tạng, Đại Phẩm - Vi 3, 417), Đức Phật đã tán thán: “Người nào chăm sóc cho tỳ-khèo bệnh, người ấy cũng như đang chăm sóc cho chính Ta vậy.” Đây quả là một hạnh nguyện mà người bình thường khó lòng thực hiện được. ### Quyết định về vấn đề thịt bò Ngài cực kỳ ghê tởm việc uống rượu, cờ bạc và chơi xổ số. Đúng như lời Đức Thế Tôn dạy trong kinh **Parābhava Sutta** (Kinh Bại Vong): “Đắm chìm trong phụ nữ, rượu chè và cờ bạc là con đường dẫn đến sự bại vong”, Ngài đã viết nhiều bức thư tâm từ để giáo huấn dân chúng. Ngài cũng đặt ưu tiên hàng đầu cho việc kêu gọi không ăn thịt bò. ## TRANG 346 Dựa trên kinh điển Sutta Nipāta [Kinh Tập], ngài cũng chỉ ra lịch sử từ thời sơ khai của địa cầu về việc con người bắt đầu giết mổ và ăn thịt trâu bò — vốn được xem như cha mẹ — dẫn đến sự xuất hiện của nhiều loại bệnh tật. Ngài cũng đã nhiều lần in ấn và phổ biến các tác phẩm như “Nwa Metta Sa” (Thư tâm từ gửi loài bò) và “Gonamaṃsa Dīpanī” (Minh sát về thịt bò). Khắp cả nước, hàng ngàn người đã phát nguyện từ bỏ việc ăn thịt trâu bò. Tuy nhiên, cũng không thiếu những kẻ viết lách, thuyết giảng chống đối, cho rằng "phải ăn thịt bò". **U Paduma ở Pathein**, người từng tìm cách đối địch với ngài Mānlai Sayādaw, chính là thủ lĩnh của phe đối lập này. Khi ngài Sayādaw đến thành phố Pathein để thuyết giảng, các đệ tử của **U Paduma** đã tìm đến và thưa rằng: “Nếu ngài nhận sự cúng dường thịt bò, điều đó cũng đồng nghĩa với việc ngài cho phép ăn thịt các chúng sinh khác. Như vậy, tâm từ của ngài Sayādaw có công bằng hay không?” Ngài liền đáp: “À... đúng vậy các con ạ. Như các con đã biết, ta vừa phải viết sách, vừa dạy học, lại phải đi khắp nơi để giúp ngăn chặn các đại dịch và thuyết pháp; giữa bao nhiêu việc như thế, ta chỉ đủ sức cứu lấy một con bò nhỏ mà thôi. Còn về phần dê, heo, gà... thì vẫn còn các bậc thầy của các con lo liệu đó thôi, các con cứ thưa với họ, như thế cũng tốt mà.” Ngài biết rõ đây chính là luận điệu của **U Paduma**. Có một lần, ngài Sayādaw thuyết pháp ban đêm tại chợ Thurè ở phía bắc Mandalay, dân chúng đi xe bò đến nghe rất đông. Một người đánh xe bò đứng ở phía ngoài rìa hội chúng nói giọng thiếu hiểu biết: “Ăn thịt bò thì có sao đâu. Chính Đức Phật còn không cấm, sao ngài Ledi Sayādaw lại bày ra pháp lạ lùng này để giảng chứ?” Ngay lập tức, con bò của chính anh ta đang nằm nghỉ bên cạnh bỗng dưng lồng lên húc, làm anh ta gãy xương sườn phải đưa đi bệnh viện. Đây không phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên. Chư thiên luôn hộ trì giáo pháp. Bản thân con bò đã tự mình phán quyết về "pháp của loài bò". ### Thực hành Thiền định và Soạn thảo Kinh điển Giữa những công việc vô cùng băn khoăn mà người bình thường không dám nghĩ tới như giữ gìn giới luật tinh nghiêm (caraṇa vatta), trách nhiệm về pháp học (pariyatti) và thuyết giảng, ngài Sayādaw vẫn miệt mài nỗ lực soạn thảo kinh điển. Cho đến nay, số lượng tác phẩm bao gồm các bộ Dīpanī đã lên tới 101 tập. Phần lớn các bản thảo đều được viết vào ban đêm dưới ánh nến và đèn dầu. Tinh thần tinh tấn và đức tin của ngài thật đáng để chúng ta noi theo. Vị Tỳ-kheo U Revata là người trợ giúp ngài trong việc viết lách. Sư phải gọt sẵn một hai trăm cây bút chì và cắt giấy xếp thành từng xấp. Những gì ngài viết vào ban đêm, Sư Revata sẽ sao chép lại thành bản sạch vào sáng hôm sau. ## TRANG 347 Một đêm nọ, khi đang viết dở đến khoảng hai giờ sáng thì hết dầu hỏa nên phải dừng lại. Sáng ra, ngài gọi người hộ thọ (kappiya) đến và bảo: “Cách làm của các con cứ như cái đèn leo lét trong nhà góa phụ, làm việc mà cứ như trẻ con chơi đồ hàng vậy. Hãy đi tìm thợ thiếc, làm cho ta một cái đèn dầu bằng thùng thiếc lớn, kích thước bốn cạnh, bấc đèn phải dùng được một hai tháng. Đổ đầy dầu hỏa rồi đặt ở đầu giường của ta, như vậy thì sẽ không còn trở ngại gì nữa.” Ngài đã chỉ bảo như thế và họ đã làm theo. Đến khi ngài tuổi cao sức yếu, đôi mắt bị bệnh cũng là điều dễ hiểu. Khi viết sách, ngài không cần tra cứu kinh điển, cũng không để sách bên cạnh; bởi kiến thức đã được ngài nghiên cứu nằm lòng đến mức không cần xem lại. Chỉ riêng với trí tuệ về Pháp học (Pariyatti) thôi đã viết không xuể, đằng này ngài lại còn chuyên tâm vào Pháp hành (Paṭipatti), khiến cho tuệ giác của ngài càng thêm tỏa sáng rực rỡ. Ngài thường dạy rằng: “Nếu ta ngồi viết bên cạnh tủ sách, thì những lời trích dẫn Pāḷi sẽ mang âm hưởng của thư viện, của tủ sách, khiến những người bình dân khó lòng hiểu được. Vì chúng ta viết ở trong rừng, trong núi, nên những trang sách này mang hơi thở của núi rừng, dân dã, giúp cho hạng người bình dân nơi thôn dã cũng có thể hiểu được. Khi viết trong lúc đang nỗ lực hành thiền (**Kammaṭṭhāna**), người đọc sách của ta cũng sẽ cảm nhận được hương vị như thể chính mình đang thực hành thiền định vậy.” Thật đúng như thế. Trong các tác phẩm của ngài Sayādaw, có những chỗ dù Đức Phật không trực tiếp thuyết, cũng không có trong các bản chú giải, thậm chí ngài còn dũng cảm đưa ra những nhận định đi ngược lại với các bộ Aṭṭhakathā (Chú giải) và Ṭīkā (Phụ chú giải) hiện có. Ngài có thể thâm nhập và thấu suốt cho đến tận những hạt vi trần (kalāpa) nhỏ nhất trong vũ trụ vô biên. (Xem thêm bộ **Niyāma Dīpanī**, v.v.) Trí tuệ ấy không gì khác ngoài năng lực của định lực tu tập (Paṭipatti samādhi) không vướng chút bụi bặm phiền não (Kilesarībhāva, Apparajikkha-jāti). Với nền tảng Pháp học (Pariyatti) lưu loát cộng với sự tôi luyện sắc bén của Pháp hành (Paṭipatti), trí tuệ của ngài Sayādaw đã viết nên những tác phẩm bất tận, mà mỗi dòng chữ đều vô cùng uyên thâm. Tuy nhiên, nếu nói một cách khách quan, thì chính việc này lại biểu hiện một dấu hiệu khiếm khuyết (**Hānabhāgiya**) đối với Tuệ chứng ngộ (**Paṭivedha ñāṇa**) của ngài. Đó chính là sự chướng ngại lớn từ công việc biên soạn (Gantha palibodha). Viết sách là tốt, nhưng không phải là điều tốt nhất. Ngài đã dành tới một phần tư cuộc đời mình cho việc soạn thảo kinh điển. ### Từ Mahābodhi đến rừng Sāpagaṃ Vào ngày mùng 3 sau trăng tròn tháng Tabodwe năm 1257 (ME), ngài Sayādaw cùng các đệ tử khởi hành đi chiêm bái cội Bồ-đề (Mahābodhi) tại Ấn Độ. Trên chuyến xe lửa từ Mandalay đi Yangon, ngài đã viết xong bài thơ **Paṭiccasamuppāda Laṅkā** (Kệ Duyên Khởi) gồm 13 khổ. Trong hành trình năm ngày bốn đêm trên tàu thủy, ## TRANG 348 vừa đi chiêm bái các thánh tích lịch sử bất biến (avijahita) của Đức Thế Tôn, ngài vừa viết xong bộ luận lớn “**Paṭiccasamuppāda Dīpanī**” (Minh Sát Duyên Khởi). Việc soạn thảo bộ luận về **Duyên Khởi** trên đường đến vùng đất Bồ-đề thật vô cùng tương hợp. Chẳng phải tại nơi thành đạo này, Đức Thế Tôn đã suy xét và quán chiếu về mười hai nhân duyên đó sao? Tại thánh địa Mahābodhi, ngài cũng đã phóng sinh các loài động vật trên cạn để cúng dường và tri ân trí tuệ Đại bi của Đức Phật. Trên đường từ Mahābodhi trở về, ngài không quay lại Monywa mà dừng chân an cư kiết hạ tại rừng Sāpagaṃ thuộc dãy rừng lớn Twante Dala. Dường như ngài suy niệm rằng tại vùng Trung Ấn (Majjhima Desa), nơi Đức Phật đản sinh, giáo pháp đã bị tận diệt, nên chỉ khi đắc được các tầng Thiền định và Thần thông (Jhāna Abhiññā) thì công cuộc hoằng pháp mới thực sự có thành tựu. Tại rừng Sāpagaṃ, bắt đầu từ tháng Tagu, ngài bắt đầu nỗ lực tu tập Thiền chỉ (Samatha). Đầu tiên ngài chọn **O dāta Kasiṇa** (Kasiṇa màu trắng), ngài đặt một vòng tròn màu trắng phía trước và định tâm quán chiếu "Trắng - Trắng", rồi dần dần mở rộng đối tượng Kasiṇa trong tâm. Ban đầu bằng quả me rừng, sau đó bằng một quả **Gon-nyin** (hạt của loại cây leo lớn), rồi hai quả... cứ thế ngài quảng bá và phát triển cho đến khi hiện ra **Paṭibhāga-nimitta** (Tương tự tướng) trong ngần và thanh khiết như mặt biển bao la. Tuy nhiên, do vòng Kasiṇa quá rộng lớn nên tâm chưa đạt được sự tĩnh lặng và làm chủ hoàn toàn. Khi đó: “Kinh điển dạy rằng **Paṭibhāga-nimitta** phải tĩnh lặng và kiên cố. Nhưng hiện tại nó không tĩnh mà lại dao động. Có lẽ đây không phải là **Paṭibhāga** thật, mà chỉ là một sự ảo giác của đối tượng (ārammaṇa)” — ngài đã hiểu lầm như vậy. Và chính từ sự hiểu lầm đó, ngài đã nỗ lực đè nén và tiêu hủy cái ấn tướng ấy. Nhưng không dễ gì tiêu hủy được. Ngài phải thắp rất nhiều đèn suốt cả đêm, quán chiếu thay thế bằng ánh sáng thì ấn tướng đó mới tan biến. Ngài từng dạy rằng: “Nếu dạo ấy không tiêu hủy ấn tướng đó mà cứ tiếp tục tiến lên thì đã có thể chứng đắc **Appanā** (Định an chỉ) rồi.” Sau đó, ngài tiếp tục thiết lập pháp hành Thiền Anapanasati (Niệm hơi thở). Trong suốt một mùa hạ, ngài nỗ lực quán chiếu hơi thở, không ai có thể lường trước được ngài đã tiến xa đến mức nào. Trong thời gian ở rừng Sāpagaṃ, ngài đã viết và trao cho người đệ tử lớn là **Ledi Waṇṇita** (nay là cư sĩ U Hla Tin ở thành phố Thaton) bài thơ Tè-hạt sau đây: “Giữa thời mạt pháp, chúng sinh náo nhiệt sinh ra, hãy thử tìm khắp cõi Diêm-phù xem có bậc trượng phu nào như ta chăng? Ta dựng ngọn cờ tinh tấn, đánh vang tiếng vang vô tiền khoáng hậu. Công hạnh hành giả đa đoan, nhưng tuệ giác mới lạ vẫn nảy nở. Với năng lực của tuệ sư tử (Kesari), ta sẽ đi trọn con đường Thiền định, làm chủ trọn vẹn Ngũ tự tại (Vasī). Ở cõi trời dưới Phạm thiên, ta sẽ cắm ngọn cờ thần thông rực rỡ và an hưởng sự thanh cao nổi tiếng. Ta không hề chán nản mà luôn hân hoan, trong ngày chiến thắng của đức Maitreya (Di-lặc), ta sẽ nguyện làm vị tướng tiên phong quả cảm.” Những lời trong bài thơ này chính là tiếng rống của sư tử (Sīhanāda). ## TRANG 349 ...có vẻ như ngài đã đắc Thiền và Thần thông (Abhiññā)." Tuy nhiên, việc kết thúc bằng ý nghĩ "phải đợi đến thời Đức Phật Metteyya (Di-lặc)" khiến người đọc không khỏi hụt hẫng. Thực chất, quan điểm về vị Phật tương lai không phải là bản tâm của ngài Ledi Sayadaw. Nó cũng không nhất quán với các tác phẩm khác của ngài. Ý nghĩ kết thúc đó chắc hẳn chỉ là một ảo giác đánh lừa tâm trí. Tháng Tabaung năm đó, theo lời thỉnh cầu của thiền sư Abhidhamma Thae Gyi từ Monywa, ngài đã quay trở lại Monywa một lần nữa. Trong suốt hai năm 1259-1260 (Miến lịch), ngài nhập hạ tại một đường kinh hành dài sáu mươi rưỡi (khoảng 27m) bên trong tu viện Ledi. Tại đây, ngài đã biên soạn các bộ kinh *Lakkhaṇa Dīpanī* và *Puṇṇovāda Dīpanī*. ### Chư tăng Monywa phản đối ngài Ledi Năm 1259 (Miến lịch), chư tăng tại Monywa đã phản đối kịch liệt ngài Ledi Sayadaw liên quan đến văn bia tại tháp Su Taung Pyi, gây nên một sự chấn động (ukkotheyya) khắp thành phố. Nguyên nhân là do tháp Su Taung Pyi ở Monywa bị đổ nát từ năm 1254 nhưng không có ai tu sửa. Ngài Ledi Sayadaw đã cùng các vị hộ pháp (ban quản trị) dẫn dắt việc trùng tu thành công. Khi khắc bia kỷ niệm, ngài đã dùng danh hiệu "Piṭaka Pāragū" (Bậc thông suốt Tam Tạng) để chỉ mình, khiến chư tăng trong thành phố phản đối. Họ cho rằng ngài không thể là bậc "Piṭaka Pāragū". Thậm chí có tiếng vang đòi đập bỏ bia đá ném xuống sông Chindwin. Thầy chia rẽ, trò cũng chia rẽ theo. Hai bên không ai nhường ai. Phía ủng hộ ngài Ledi cũng rất kiên quyết, cho rằng ngài thực sự am tường nên việc ghi "Piṭaka Pāragū" là đúng đắn. Ngay cả lời khuyên can của chính Sayadaw họ cũng không nghe theo. "Để xem có đúng là Piṭaka Pāragū thật không, sẽ cho bêu rếu trước mặt tứ chúng tì-kheo và cư sĩ," họ đe dọa và tuyên bố sẽ chất vấn ngài về những vấn đề nan giải trong Tam Tạng kinh điển. Ngài Ledi tự mình đứng ra dàn xếp và chấp nhận đương đầu: "Được thôi... nếu họ muốn hỏi thì ta sẽ trả lời." Ngày 5 tháng sau rằm Kason năm 1259, một buổi lễ cúng dường được tổ chức tại một rạp lớn ở Monywa, cung thỉnh chư tăng cả hai phía. Có hơn tám mươi vị tì-kheo và rất đông cư sĩ tham dự. Phía đối lập còn bí mật sắp xếp kế hoạch nếu không thắng được bằng lý lẽ thì sẽ dùng áp lực đám đông để lấn lướt. Ngài Ledi Sayadaw (đúng như câu: *Nābhāsamānaṃ jānanti, missaṃ bālehi paṇḍitaṃ* - Người trí khi không nói thì lẫn giữa kẻ ngu, chỉ khi nói mới nhận biết được) đã ngồi giữa tăng chúng với phong thái uy nghiêm, đĩnh đạc, không chút sợ hãi, sẵn sàng đối mặt với mọi tình huống. Hai vị tì-kheo lãnh đạo phe đối lập là U Pale Gyi và U Ottama cùng các đệ tử của mình... ## TRANG 350 ...ngồi vây quanh với vẻ ra oai nhưng lại không dám tiến tới, dáng vẻ đầy bồn chồn. Ngài Ledi Sayadaw cất giọng điềm tĩnh, dõng dạc và chân thành: "Thưa chư vị Trưởng lão cùng quý nam nữ cư sĩ, nghe nói có người muốn chất vấn về những điểm khó trong Tam Tạng, vậy ai có điều gì muốn hỏi, xin cứ tự nhiên." Lời thách thức này khiến hội chúng nín thở, người nọ nhìn người kia. Những vị tu sĩ đối lập ban đầu thì giận dữ hăng hái, nay chuyển sang lo sợ, muốn lui không được mà tiến cũng chẳng xong, chỉ ngồi im bất động. Đúng lúc đó, một vị đại trưởng lão cao niên, đức độ bất ngờ xuyên qua đám đông đi vào rạp lễ và tiến lên pháp tòa. Hội chúng ai nấy đều dõi theo vị trưởng lão này với những suy nghĩ riêng. Vị trưởng lão (không rõ danh tính nhưng phong thái vô cùng đặc biệt) không ngồi xuống mà đứng thẳng, chỉ tay và hỏi lớn: "Này, vị nào đang ngồi kia giữa tăng chúng với vẻ hiên ngang và định tĩnh như thế?" Hội chúng sững sờ. Ngài Ledi Sayadaw thấy vị trưởng lão cao niên xuất hiện liền rời chỗ ngồi ban đầu và chắp tay cung kính. Vị trưởng lão ấy nói tiếp: "Thôi nào chư vị, ngọn cờ chiến thắng giữa tăng chúng đã được cắm xuống rồi. Những vị định chất vấn hãy mau quay về tự viện của mình mà nỗ lực tu tập hai bổn phận (Pháp học và Pháp hành). Còn vị 'Piṭaka Pāragū' này, vì ngài đã đạt đến bờ bên kia của giáo pháp nên hãy tiếp tục giảng dạy cho đệ tử mình cũng đạt được như vậy." Sau lời tuyên bố dứt khoát đó, chư tăng chắp tay và giải tán. Giống như hang sư tử bị lũ gấu dùng bùn bôi bẩn, nhưng sau đó ánh hào quang lại càng tỏa sáng hơn. (Hãy lưu ý đến pháp nhẫn nhục). Sự thật là vào năm 1273, ngài đã được dâng tặng danh hiệu "Agga Mahā Paṇḍita" (Bậc Đại Trí giả) và năm 1283 là danh hiệu "D.Litt. Piṭakattaya Pāragū" (Bậc Thông suốt Tam Tạng). Tuy nhiên, ngài đã không tự mình đi nhận những danh hiệu cao quý này. Giống như những viên sỏi nhỏ lăn từ đỉnh núi dọc theo khe suối, dòng sông, trải qua bao va chạm mới trở nên trơn nhẵn, tròn trịa; đời người cũng vậy, khi gặp phải những trở ngại, đối nghịch, dù có thể gây đau đớn khó lòng cam chịu, nhưng chính từ trong gian khó đó, những phẩm chất vô song sẽ được trui rèn và thăng tiến không ngừng. ### Cuộc chiến Luận giải (Tīkā) Sự việc bị chỉ trích liên quan đến văn bia chỉ là một chuyện nhỏ đối với ngài Ledi Sayadaw. Điều đó giống như việc lấy gậy chọc vào con hổ mang, chỉ làm khơi dậy... ## TRANG 351 ...nguồn năng lượng tiềm tàng của ngài. Vào tháng Tazaungmon năm 1259, ngài đã hoàn thành việc biên soạn bộ đại luận giải *Paramattha Dīpanī* (Minh giải Nghĩa Thắng Nghĩa) – một bản sớ giải cho bộ *Abhidhammattha Saṅgaha* (Thắng Pháp Tập Yếu). Ước nguyện âm ỉ từ sau vụ cháy tu viện San Kyaung cuối cùng đã thành hiện thực. Ngay từ lời mở đầu, ngài đã phê phán các bộ luận giải nổi tiếng như *Tīkā-kyaw* và *Maṇi Mañjū* một cách hết sức sắc bén, ví chúng như "những túi trấu". Ngài sử dụng nhiều cụm từ như "Taṃ na sundaraṃ" (Điều này không đúng, sai lầm) để chỉ ra các lỗi sai. Điều này đã gây nên một làn sóng chấn động mạnh mẽ trong giới học giả khắp đất nước Miến Điện. Xuyên suốt lịch sử truyền thừa, bộ *Tīkā-kyaw* luôn được tôn xưng và nâng niu như một viên ngọc quý (Tīkā-hla Tīkā-kyaw). Vì vậy, khi nó bị phê phán, nhiều người đã vô cùng phẫn nộ. Hàng loạt các bộ luận bằng tiếng Pali nhằm bảo vệ *Tīkā-kyaw* và phản bác ngài Ledi đã ra đời. Một số người viết vì tự ái, tham gia vào cuộc chiến học thuật nhưng rồi bỏ dở giữa chừng. Một số khác đến thỉnh ý các vị đại sư lỗi lạc bấy giờ là các ngài Sayadaw chùa Visuddhārāma để nhờ họ phản bác ngài Ledi, nhưng lại nhận được sự ủng hộ dành cho ngài Ledi nên đành thất vọng trở về. Chư tăng tại Yangon thậm chí còn tổ chức một đại hội phản đối bộ luận của Ledi. Họ dự định bắt ngài Ledi phải giải trình từng cáo buộc đối với *Tīkā-kyaw* trước hội chúng. Chỉ đến khi vị đại sư thông suốt Thắng Pháp là Sayadaw Myo Pyin Gyi đứng ra phân xử một cách công tâm, mọi chuyện mới lắng xuống. Ngài phán rằng: "Chúng ta chỉ tìm thấy khoảng 60-70 lỗi sai trong *Tīkā-kyaw*, nhưng vị tu sĩ ở rừng Ledi này đã tìm thấy hơn 230 lỗi." Các lỗi sai vốn được kế thừa từ đời này sang đời khác mà không ai kiểm chứng, nay khi bộ luận của ngài Ledi ra đời, ngay cả các học giả cũng phải bàng hoàng. Cuối cùng, cuộc chiến luận giải chấm dứt, và bộ luận của ngài Ledi được xưng tụng là "Tīkā-maw" (Bộ luận đỉnh cao). Thật là một sự thấu triệt sâu sắc. Thật là một sự dũng cảm khi dám nói thẳng cái sai. Về phương diện Ngữ pháp, ngài cũng biên soạn bộ *Nirutti Dīpanī* bằng tiếng Pali. Kể từ đó, dù là Thắng Pháp hay Ngữ pháp, dù là văn viết hay thuyết pháp, ngài không còn đối thủ, trở thành bậc đại trí giả (kavi) dẫn đầu trong giáo giới. ### Hỷ lạc Thiền định (Jyān Pīti) không chạm đất Khi Ngài đến thị xã Pathein để thuyết pháp, một nữ đệ tử của ông U Paduma danh tiếng đã bê một tráp trà (lá trà muối) đến gặp Ngài và thưa rằng: "Bạch Ngài, con xin phép được hỏi về những điểm chưa rõ ràng trong bộ đại luận giải (Tika) do Ngài biên soạn ạ." Nghe vậy, Ngài liền đuổi đi: "Này... cô kia, bộ đại luận của ta mà cô cũng đòi chất vấn sao, thật không biết lượng sức mình, đi ngay đi, đồ ngu muội." Trên mỗi chặng đường Ngài đi qua, những kẻ tìm cách tiếp cận để soi mói, xỉa xói, cư xử thô lỗ và không biết kính trên nhường dưới như vậy quả thực rất nhiều. ## TRANG 352 Vào năm 1260 (Phật lịch), theo lời cung thỉnh của đại đệ tử là Ngài U Tiloka ở núi Thekkyetaung, Thiền sư Ledi đã khởi hành đến Kyaikhto. (Về lý do cung thỉnh, tôi sẽ viết chi tiết trong chương về Thiền sư Thekkyetaung). Tại núi Thekkyetaung, Ngài lưu lại khoảng hai tháng vào tiết tháng Tazaungmon và Nattaw. Ngài cũng ban những lời pháp nhắc nhở liên quan đến lộ trình thực hành cho vị đại đệ tử U Tiloka. Trong thời gian lưu tại đây, Ngài không ở trong các giảng đường lớn mà chỉ trú trong một am lá nhỏ, dành toàn bộ thời gian để hành thiền quán tưởng. Một buổi chiều nọ, người hộ tăng Maung Son mang nước quả đến cúng dường tại am lá nơi Thiền sư Ledi đang trú ngụ. Trước khi vào am, anh ta liếc nhìn vào bên trong thì đôi chân bỗng khựng lại. Sau một hồi đứng ngẩn ngơ vì kinh ngạc, khi sực tỉnh, anh không vào cúng dường nữa mà quay trở ra, tìm gặp Thiền sư U Tiloka để trình báo sự việc. Ngài U Nandamala (người dịch bộ **Thanh Tịnh Đạo**), Ngài U Visuddha, Ngài U Javana cùng các vị đại đệ tử khác cũng lặng lẽ cùng nhau tiến về phía am lá nhỏ ấy. Một lát sau, khi Ngài U Tiloka ra hiệu bằng ánh mắt, tất cả đều nhẹ nhàng lui ra, không để phát ra tiếng bước chân. Nguyên nhân là bên trong am lá, trong khi đang thiền định, Thiền sư Ledi không hiện ra như hình dáng thông thường mà Ngài đang ngồi kiết già, mắt khép hờ và lơ lửng trên không trung cao khoảng hai thước (hơn 1 mét); dù đứng từ xa họ cũng nhìn thấy rõ ràng. Đúng như lời người hộ tăng kể lại, tận mắt chứng kiến sự việc, Thiền sư U Tiloka đã gọi tất cả các đệ tử có mặt lại và căn dặn: “Khi Ngài còn tại thế, tuyệt đối không ai được kể lại chuyện này. Chính Ngài đã nghiêm cấm điều đó.” Có lẽ Ngài đã cố ý nhập định thị hiện thần thông như vậy để giáo hóa vị đệ tử có tâm tính mãnh liệt như thiền sư núi Thekkyetaung chăng? ([Có lẽ hiện nay cũng có nhiều hành giả bay bổng trên không trung nhờ vào Cần-sách-hỷ - Ubbeṇgā-pīti]). Vào ngày mùng 4 tháng Chạp (Nattaw), Ngài lên đường đến thị trấn Bilin để chiêm bái bảo tháp Kusinayon. Khi Ngài nghỉ đêm tại đó, có ba bốn vị đạo sĩ (rishi) đang tu tập tại bảo tháp đã đến đảnh lễ và thưa chuyện, đàm đạo cùng Ngài. Khi đó, vị đạo sĩ trưởng đoàn bạch rằng: ## TRANG 353 “Bạch Ngài, được diện kiến Ngài là niềm hoan hỷ cực kỳ lớn lao đối với con. Con đã xuất gia làm đạo sĩ được mười năm. Nhìn thấy chúng sinh vì đạo đức suy đồi mà phải gánh chịu các tai ương khổ nạn, vì lòng xót thương nên hiện con đã hoàn thành 108 ngày ăn chay (kiêng thịt) và đang thực hiện 45 ngày ăn thực phẩm không nấu nướng (mi-lut-sar). Hàng ngày, con giữ vững tâm nguyện tu tập Giới (Sīla), Chân đế (Saccā), Từ ái (Mettā) và thực hành thiền Anapanasati (Niệm hơi thở). Khi Ngài đến đây, xin Ngài hãy ban lời giáo huấn cho các đệ tử chúng con.” ### Tu hành đúng nhưng sai mục tiêu Này—Tốt lắm. Cứu giúp chúng sinh không phải là làm điều gì quá đặc biệt. Trước hết phải tự mình leo lên bờ, tự cứu mình thoát khỏi dòng nước rồi mới có thể cứu được kẻ đang chìm. Tự mình nỗ lực tu tập chính là đang cứu giúp chúng sinh vậy. Tuy nhiên, điều quan trọng là phương pháp và nền tảng phải đúng đắn. Những pháp như Giới (Sīla), Chân đế (Saccā)... mà đạo sĩ nói tới chính là những pháp Ba-la-mật (Pāramī) nền tảng rất tốt. Tuy tên gọi giống nhau, nhưng để đạt được thực chất chân chính thì không hề dễ dàng. “Cho dù có đạt được thực chất đi chăng nữa, nếu **Tâm nguyện (Paṇidhāna)** không đúng thì cũng không mang lại nhiều lợi ích. Paṇidhāna tức là đích đến mà mình nhắm tới. Chỉ khi hướng về Niết-bàn thì mới được gọi là **Chánh tâm nguyện (Sammā-paṇidhāna)**, khi đó những khổ cực đã chịu, nhân duyên gặp gỡ Giáo pháp mới thực sự xứng đáng. Dù nói là vì chúng sinh và mang dáng dấp của những điều cao thượng, nhưng nếu đó chỉ là các pháp Giới, Chân đế, Từ ái, tâm nguyện hay các câu chú khiến mình dính mắc vào những thiền định đặc biệt trong cõi thế gian (với tâm ưa thích luân hồi - Vaṭṭābhirata), làm dài thêm sự trói buộc, thì điều đó khác xa với định nghĩa về Ba-la-mật - con đường thoát khỏi luân hồi. Này đạo sĩ, chúng chỉ giống nhau ở cái tên mà thôi. Nó cũng giống như việc người ta hô vang tên vũ khí Kim Cang (Vajra) nhưng chỉ để sử dụng như một loại bùa chú. Việc tu hạnh kiêng thịt hay không ăn thức ăn nấu nướng không phải là giáo pháp trong đạo Phật. Tất cả các pháp từ Giới đến Định đều là “**Sở hành (Caraṇa)**”. Nếu Caraṇa này không đúng thì không thể đắc được Minh sát tuệ (Vijjā). Thậm chí đối với những người nỗ lực thực hành thiền định với Caraṇa Ba-la-mật đúng đắn, nếu chỉ dừng lại ở mức độ mong muốn Niết-bàn thôi thì vẫn không thể đạt được. Đức Phật dạy rằng phải là “**Pahitatto**” = phải luôn có cái tâm hướng thẳng (phóng mình) về phía Niết-bàn. Phải xác quyết rằng: ‘Trong đời này, chỉ có công việc này mà thôi’, như đóng một chiếc cọc cố định, đó mới gọi là Pahitatto. “Cũng giống như một người đam mê luyện kim chuyển hóa (đát-lông), khi đi, khi ăn, khi ngủ, tâm trí họ luôn đặt vào việc đó. Nếu nền tảng Caraṇa không vững chắc, đích đến nhắm tới không phải Sammā-paṇidhāna, và tâm Pahitatto không kiên định, thì dù có tu hành khổ hạnh khắc khổ qua hàng trăm, hàng ngàn năm cũng không thể chạm tới Đạo quả (Paṭivedha). Việc khắc khổ trong ăn mặc, ở theo truyền thống Giáo pháp mà không màng thân mạng cũng chỉ là đoạn trừ phiền não tạm thời (tadaṇga-pahāna), chứ không phải là hành động có thể vượt ra khỏi sự chấp thủ (upādāna). Giống như việc phát quang bụi rậm trong rừng để nó lại mọc lên tươi tốt hơn, việc đó cũng chỉ làm cho bụi rậm chấp thủ của kiếp sau thêm phần rậm rạp mà thôi,” Ngài dạy. ## TRANG 354 ### Vì sao phải biên soạn Vijjāmagga Dīpanī (Cẩm nang đường về Minh Tuệ) Vị đạo sĩ, người đang lắng nghe những lời dạy của Ngài với sự quan tâm đặc biệt, thưa rằng: “Bạch Ngài, con hoàn toàn thấu hiểu và tâm đắc với ý chỉ của Ngài. Thú thật với Ngài, con hằng ngưỡng mộ những vị Minh sư (Vijjā) đạt được quả vị Thánh và có thể kéo dài tuổi thọ đến hàng ngàn năm để cứu độ chúng sinh.” Ngài Ledi dạy: “Ừ, phương pháp kéo dài tuổi thọ đến hàng ngàn năm thì bên ngoài Giáo pháp cũng có thể có. Trong Giáo pháp cũng có pháp Thần túc (Iddhipāda), nhưng những bậc Thánh (Ariya) đã thấu triệt Tứ Thánh Đế luôn thấy rằng sống thêm một ngày là phải chịu thêm một ngày khổ đau, nên các Ngài thường rất hoan hỷ khi nhập Niết-bàn. Các Ngài không lấy sự thọ mạng làm đích đến. Một sợi tóc nằm trên lòng bàn tay thì khó nhận ra, nhưng khi lọt vào mắt thì thấy rất rõ; cái nhìn của kẻ phàm phu và bậc Thánh về **Khổ trong các hành (Saṇkhāra dukkha)** cũng khác biệt xa nhau như thế. Hệ tư tưởng muốn sống thọ, hay tư tưởng kéo dài thời gian đến tận thời Đức Phật Metteyya (Di-lặc) đều là không đúng. “Thánh Minh sư” (Ariya Vijjā) tuy thuật ngữ có vẻ giống, nhưng không phải là con đường của các đạo sĩ luyện đan (Vijjā Zawgyi). Đừng lầm tưởng đó là Ngài Pilindavaccha; đừng để bị đánh lừa. Những người được gọi là “Bậc Minh sư” thoát ly nhờ vào bùa chú, linh dược, hay đát-lông mà dám nói là để trở thành bậc Thánh thì đó là những lời hết sức phi lý. Vậy mà họ lại tự coi mình là bậc Thánh. Có lẽ chính họ cũng tin mình là bậc Thánh, họ cũng biết giảng dạy về **Thiền quán (Kammaṭṭhāna)**. Nhưng họ chỉ ham thích ở mức độ Thiền định (Samatha) mà thôi. Bản thân họ sợ thoát khỏi luân hồi, mà họ cũng chẳng muốn người khác thoát ly. Thực chất, này đạo sĩ, họ đang mượn danh nghĩa để làm mờ nhạt đi giáo pháp Vô ngã (Anatta) của Đức Thế Tôn, hòng lôi kéo chúng sinh theo sở thích của họ. Con đường “Minh sư” đó thực chất là Đại Ngã luận (Atta-vāda). Ariya Vijjā (Thánh Minh Tuệ) chỉ dùng để chỉ Đạo Tuệ và Quả Tuệ. Nó phải dựa trên nền tảng của Giới hạnh chân chính mới đạt được. Dù ở góc độ thị hiện thần thông có vẻ tương tự, nhưng ngay từ nền tảng đã hoàn toàn khác biệt. Nếu cứ ôm giữ sự chấp thủ vào cái Tôi (Attavādupādāna) mà hành theo con đường sai lạc Loke-yata (mở rộng luân hồi) để kéo dài tuổi thọ và thị hiện thần thông, thì sự hiểu biết về Giáo pháp (Pariyatti) càng ít bao nhiêu thì... ## TRANG 355 # Chương XI (Tiếp theo): Bậc A-la-hán và những vĩ nhân Ngài [Thiền sư Ledi Sayadaw] đã thuyết giảng rằng: "Họ đang tìm kiếm sự nương tựa sai lầm." Ngài giải thích một cách cởi mở về việc một số bậc có thần thông thế gian (*lokāyata*) thường tạo ra bệnh tật hay hiểm họa trước, sau đó mới đóng vai người cứu chuộc để lôi kéo người khác. Ngài cũng làm rõ sự khác biệt giữa minh hạnh thế gian (*lokī vījjā*) và minh hạnh xuất thế (*ariyā vījjā*). Ngài khuyên bảo rằng khi đã đến được núi ngọc báu (đạo quả), đừng nhặt nhầm những hòn đá kê lò (tà thuật), đồng thời Ngài thuyết về sáu loại thanh tịnh đạo (*ajjava-dhātu*). (Sau đó không lâu, Ngài cũng viết và ban tặng tác phẩm "Vījjā-magga-dīpanī" - Minh Hạnh Đạo Diễn Giải). Kể từ đó, các đạo sĩ ẩn sĩ cũng thoát khỏi những ảo ảnh đánh lừa, những điềm báo giấc mơ sai lệch và sự điên đảo (*vipallāsa*), để quay trở lại bước đi trên con đường Đại Đạo (Bát Chánh Đạo). ### Những bậc có thần thông cao cường cũng phải hối tiếc Ngay cả hiện nay, những người thiếu hiểu biết, dù được gặp gỡ Giáo Pháp cao quý vốn cực kỳ khó gặp, lại giống như Devadatta (Đề-bà-đạt-đa), vì chút thần thông tầm thường mà phải bỏ dở hành trình giữa chừng, chuốc lấy khổ đau. (**Oramattakena visesādhigamena antarā vosānaṃ āpādi.** -- Tiểu Phẩm, Chuyện Devadatta-466.) Một số bậc thành tựu thuật xuất hồn (*ထွက်ရပ်ပေါက်*) thường nói bóng gió để người khác ngưỡng mộ thần thông của mình rằng: "Đừng nương tựa vào thần thông, nó không giúp được gì đâu", nhưng cuối cùng lại lôi kéo người ta về phía giáo thuyết của họ. Tuy nhiên, có nhiều bậc thành tựu chân chính, cương trực và có kiến thức sâu rộng đã chia sẻ với lòng từ bi và hối tiếc rằng: "Đừng ngưỡng mộ chúng tôi. Chúng tôi đã sai lầm khi đi theo con đường Gandhari (thần chú) với ý nghĩ rằng cứu độ người khác sẽ đắc thánh quả Niết-bàn. Giờ đây chúng tôi phải ở nơi họ bảo ở, đi nơi họ bảo đi, làm việc họ sai bảo (phục vụ những bậc có thần thông lớn hơn). Các con đừng đi vào vết xe đổ đó." Những lời này thường xuyên được nghe thấy, thật đáng trân trọng thay. Thuyết ngã chấp thâm căn cố đế của thế gian và sự nguy hiểm của các vị trì chú theo tư tưởng Đại thừa thật đáng sợ thay. Hỡi những bậc thiện trí, hãy cẩn trọng! Chính vì thế, Thiền sư Seikkyi Sayadaw, tác giả cuốn "Ariyā-vījjā-magga-alaung-pya-kyan" (Sách Chiếu Sáng Con Đường Minh Hạnh Thánh Đạo), đã cảnh báo bằng trí tuệ thực chứng và lòng từ bi lớn lao: "Những bậc có thần thông thế gian xảo quyệt thường phô diễn đủ loại biến hóa để thâu tóm người khác như chim đại bàng vồ lấy rồng. Vì họ chưa đắc Minh hạnh Thánh đạo thực thụ, vẫn bị sự điên đảo của tâm (*citta-vipallāsa*) che lấp nên mới phải gánh chịu như vậy. Do đó, hỡi các bậc thiện nam tín nữ, hãy nỗ lực để đạt đến Minh hạnh Thánh đạo chân chính của bậc Dự lưu (*Sotāpanna*) và các quả vị cao hơn để có thể phân biệt được thật giả." (Sách đã dẫn, trang 368.) ## TRANG 356 ### Voi rừng, hổ dữ và rắn độc Sau đó, Thiền sư cùng với Ledi Paṇḍita và U Tiloka khởi hành đi núi Kyaiktiyo (Chùa Đá Vàng). Giữa đường, một con voi rừng hung dữ chạy xông thẳng từ phía trước tới. Hai người đệ tử sợ hãi leo lên cây trốn, còn Thiền sư vẫn bất động, chỉ chuyên tâm rải tâm từ (*mettā*). (Xem chi tiết ở chương về U Tiloka). Sau khi trở về từ Kyaikto, vào năm 1261 (Miến lịch), Ngài nhập hạ tại chùa làng Lezin, phía Đông Nam thị trấn Monywa. Tại đây, Ngài đã viết tác phẩm "Nibbāna-dīpanī" (Niết-bàn Diễn Giải). Năm 1262 (Miến lịch), Ngài nhập hạ tại rừng Wet-ye, còn gọi là đại ngàn Mahāmyaing, phía Bắc làng Maung Daung Gyi. Đó là do Ngài Kyaung Pan Sayadaw, một đệ tử lâu năm, thỉnh mời. Ngài Kyaung Pan đã ở trong khu rừng này khoảng chín năm. Vì sức khỏe yếu, Ngài Kyaung Pan chỉ có thể đi khất thực mỗi tuần một lần; Ledi Sayadaw là người đi khất thực để nuôi dưỡng cả hai. Ngài cũng thuyết giảng những lời giáo huấn liên quan đến việc hành trì. Khu rừng này là một nhánh của dãy Himalaya, đầy rẫy thú dữ. Những cây In, cây Teak cao bằng hai, ba thân cây thốt nốt phủ bóng âm u khắp rừng. Những bụi cây Kyaung Pan nhỏ đan xen dày đặc như những lùm bụi. Thiền sư và vị đệ tử (người sau này trở thành Ngài U Indaka) khi thì ở trong hốc những cây Teak lớn, khi thì ở trong bụi cây Kyaung Pan. Đôi khi tiếng phì phò của những con rắn độc to bằng thân cây thốt nốt, hay tiếng hú của chó rừng, tiếng gầm của báo hoa mai phát ra khiến người nghe phải rùng mình. Thiền sư vẫn kiên trì thực hành thiền Anapanasati (Niệm hơi thở). **Na tveva supituṃ hoti,** **Ratti nakkhatta mālinī.** **Paṭijaggitu mevesā,** **Ratti hoti vijānataṃ.** (Trưởng Lão Tăng Kệ, Chú giải, 1-205.) *Nakkhattamālinī*: Trong đêm tối tĩnh lặng, an bình và tuyệt đẹp với ngàn tinh tú rạng ngời như những đóa hoa. *Ratti*: Đêm trường ấy. *Supituṃ*: Để chìm sâu vào giấc ngủ do sự chi phối của hôn thụy (*thīna-middha*) và si mê (*moha*). *Na tveva hoti*: Tuyệt đối không phải dùng cho việc đó. *Esā ratti*: Đêm trường tĩnh lặng và đẹp đẽ ấy. *Vijānataṃ*: Đối với những bậc hành giả trí tuệ, đã nhận được lời dạy của Đức Phật, hiểu rõ giá trị của cuộc sống và quy luật nhân quả. *Paṭijaggituṃ*: Chỉ để tỉnh thức, tinh tấn nỗ lực không ngừng (*sammappadhāna*) nhằm tu tập và phát triển định (*samatha*) và tuệ (*vipassanā*). *Hoti*: Thật vậy, đêm trường chính là để dành cho sự nghiệp ấy. ## TRANG 357 (Kinh Mahāniddesa 294 và Chú giải 358 có dạy rằng: Chia một ngày đêm thành 6 phần, chỉ trừ một phần canh giữa để nghỉ ngơi, còn lại 5 phần phải nỗ lực không ngủ. Khi buồn ngủ, nên đọc những bài kệ mang tính quyết tâm như của các bậc tiền bối này). Đặc biệt trong thời gian ở rừng, Ngài thấy rõ rất nhiều tác hại của việc ngủ nghỉ quá mức. Ngài nhận thấy: "Đêm thanh tĩnh với ngàn tinh tú là cơ hội vàng để bậc trí tuệ quán chiếu giáo pháp." Ngài đã thực hành hạnh đầu đà không nằm (*nesajjika-dhutaṅga*), nỗ lực thức trắng để tu tập. Thiền sư đã nỗ lực cực kỳ tinh tấn suốt cả mùa an cư không ngủ, nên đến gần kỳ mãn hạ, Ngài bị cơn sốt hành hạ, cơ thể trở nên gầy rộc và yếu ớt. Thực phẩm cũng rất khan hiếm. Khi nghe tin, các đệ tử lớn tại tu viện Ledi đã phải lặn lội vào rừng để thỉnh Ngài trở về. ### Trở thành giảng sư Pháp nhờ những lời đồn thổi Khi trở về tu viện Ledi, trong lúc tĩnh dưỡng phục hồi sức khỏe, Ngài vẫn tiếp tục tự mình thiền định nơi thanh vắng. Tuy nhiên, ban ngày lượng người đến đảnh lễ đông hơn thường lệ, khiến Ngài dù đã tạm dừng việc giảng dạy kinh điển vẫn không có thời gian rảnh rỗi, vì phải tiếp chuyện và thuyết Pháp cho họ. Thiền sư không nhận ra lý do tại sao lượng người đến mỗi ngày một đông như vậy. Đó là do những lời đồn thổi bắt đầu lan truyền rộng rãi: "Ngôi chùa nơi Thiền sư ở tỏa sáng rực rỡ suốt đêm." "Khi Ngài đi kinh hành, chân không hề chạm đất." "Thiền sư đã đắc Thiền định (*Jhāna*)." Nhiều người còn khẳng định chắc chắn danh tính những ai đã tận mắt chứng kiến những điều đó. Chính vì những tin đồn này mà không chỉ các thí chủ thân cận, mà cả người dân từ bốn phương cũng lũ lượt kéo đến chiêm bái. ## TRANG 358 Tin đồn đó từ đâu mà ra? Vào lúc đó, tùy theo tình cảnh, Ngài chỉ thuyết giảng về giáo pháp Thiền Minh Sát (Vipassanā). Ngài cũng thường xuyên thuyết giảng về đại bổn sanh **Bhisajātaka**. **Bhisajātaka** (Bản sanh Ngó Sen) là câu chuyện về công tử của vị trưởng giả thành Bārāṇasī tên là **Mahākañcana**, người đã cùng sáu người em trai và một người em gái vào rừng xuất gia làm đạo sĩ. Một người bạn và những người giúp việc - cả các cặp vợ chồng cũng đi cùng. Họ thay phiên nhau đi tìm những gốc sen (ngó sen) và các loại hoa quả, rồi chia phần ra để sinh sống. Thiên chủ Sakka (Đế Thích) vì muốn thử lòng tu hành và giới hạnh của họ, nên đã giấu kín phần ngó sen của vị đạo sĩ anh cả suốt ba ngày liền. Mọi người nghi ngờ có ai đó đã lấy trộm để ăn, nên mỗi người lần lượt thề độc rằng: "Nếu tôi trộm lấy gốc sen này, xin cho tôi có vợ con, hầu cận, tài sản cực kỳ giàu sang phú quý." Một người khác thề: "Xin cho tôi trở thành vị quốc vương thống trị đất đai non sông." Có người lại thề: "Xin cho tôi trở thành vị Chánh cung Hoàng hậu." Lại có người thề: "Xin cho tôi nhận được chức vị quốc sư (Purohita) cai quản việc nước." Người khác lại thề: "Xin cho tôi trở thành một vị đạo sĩ có danh tiếng, được dân chúng ngưỡng mộ và có nhiều lợi lộc tại một ngôi làng gần thành phố." Bởi lẽ họ coi sự hưởng thụ thế gian, quyền lực, chức quyền và lợi lộc là những thứ gây ra khổ đau, đáng sợ hơn cả một "cái chết xấu xí", nên họ đã lập những lời thề như vậy. Vị đại thọ thần (Rukkhaso) sống gần hồ sen và am thất thì thề rằng: "Nếu tôi trộm lấy gốc sen, xin cho tôi được cai quản một ngôi chùa lớn ở một vùng trù phú và bận rộn với các việc xây dựng (navakamma)." Dựa trên việc Ngài thiền sư thường xuyên thuyết giảng bản sanh kinh này, người ta hiểu rằng Ngài đang bày tỏ sự nhàm chán đối với việc phải sống giữa đám đông và bận rộn với việc học thuật (Pariyatti). Ngài nhận thấy cái lỗi của việc trở thành một bậc thầy giảng dạy giỏi hay một nhà biên soạn giỏi. Nhiều lần Ngài đã tìm cách lánh vào rừng sâu nhưng không thành. Không những không được, mà kể từ thời gian này, Ngài lại trở thành một bậc thầy thuyết pháp lỗi lạc từ khi nào không hay. Không chỉ vì những tin đồn, mà cả những người thực lòng muốn nghe pháp cũng bắt đầu tụ về đông đúc. Ngài đã không thể tránh khỏi việc gặp phải những ngã rẽ gây ra sự suy giảm (**hānabhāgiya**) trong công việc thực hành (Paṭipatti). Đối với các hành giả, những sự việc và trạng thái đó thường diễn ra theo một chuỗi mắt xích được sắp đặt tinh vi nên rất khó nhận biết; và dù có biết đi chăng nữa thì cũng cực kỳ khó vượt qua. ## TRANG 359 Sở dĩ như vậy là vì những sự việc đó thường được đặt trên nền tảng hướng tới lợi ích của Giáo pháp và đại đa số chúng sinh, hơn nữa nó lại phù hợp với năng lực, bản tính tự nhiên của bản thân và là loại công việc mà mình ưa thích. Do đó, dù biết rõ đó là điều gây chướng ngại (palibodha), là sự suy giảm (**hānabhāgiya**), nhưng người ta vẫn cứ dấn thân vào. ### Sự hỗ trợ (hoặc sự quấy nhiễu) của những bậc có thần thông Vào hạ năm 1263-64 (Miến lịch), Ngài nhập hạ tại núi Shwe Taung Oo, nằm ở bờ sông Chindwin (Thallāvatī), phía tây thị trấn Alon. Vị đồ đệ **Ledi Paṇḍita**, người đã theo Ngài được ba năm hạ, cũng đi theo nhập hạ. Ngài Thiền sư dành cho **Ledi Paṇḍita** một tình cảm thương mến sâu nặng như con ruột. **Ledi Paṇḍita** và vị hộ tăng (kappiya) trú ngụ ở chân núi, còn Ngài Thiền sư thì trú trong một hang đá lớn trên đỉnh núi. Vùng đó đồ ăn thức uống vô cùng khan hiếm. Không hề có cơm gạo. Họ chỉ được dùng cơm kê hoặc cơm cỏ lúa (lu-san). Sau khi đi bát về, Ngài Thiền sư dùng bữa ngay tại chân núi, đoạn đem phần còn lại rải cho các loài vật ăn một cách hoan hỷ. **Ledi Paṇḍita** vì không ăn nổi loại cơm đó nên phải gom góp các nhu yếu phẩm từ các thí chủ trong thành phố, từ gạo, dầu cho đến các thứ khác. Ngài Thiền sư vốn thường tán dương và thuyết giảng về hạnh tri túc, giản dị cho "người con trai" của mình, nên vị đồ đệ phải giấu kín những thứ đó không để Ngài biết. Một ngày nọ, Ngài Thiền sư phát hiện ra, liền quở trách: "Này hiền giả nhỏ, con không giống một vị tăng ở rừng chút nào, con quá chiều chuộng cái lưỡi của mình rồi." Nói đoạn, Ngài dùng gậy chọc vào lều chứa lương thực dùng cho bếp núc và hất tung mọi thứ ra. Chính vì Ledi Paṇḍita có thiên hướng mạnh về học thuật (Pariyatti) mà còn xa rời nền tảng thực hành (Paṭipatti), nên Ngài Thiền sư vì lòng bi mẫn mà đã khởi lên sự phẫn nộ đầy lòng thương. Ngài còn viết bài thơ "Tê dắt đi đâu" để giáo huấn. Trong thời gian ở đó, Ngài cũng răn dạy hai cư sĩ là U Tun Oo và U Tun Hla từ thị trấn Alon - những người giỏi luận bàn về thực tại (Paramattha) nhưng mỗi khi được bảo thực hành thiền (Kammaṭṭhāna) thì lại tìm cách thoái thác. Trong hang đá trên núi đó, Ngài đã nỗ lực thực hành thiền mãnh liệt suốt bốn, năm tháng. Ngài ở lại đó tổng cộng hai năm và biên soạn các tác phẩm **Dhamma Dīpanī**, **Āhāra Dīpanī**, và **Anatta Dīpanī**. Trong thời gian này, Ngài vẫn thực hành thiền Anāpāna (Sổ tức), và mức độ thành tựu của Ngài đã được thể hiện rõ nét qua chính những tác phẩm Dīpanī này. ## TRANG 360 Trong lúc đang nỗ lực thực hành mãnh liệt tại đây, một cơn sốt nặng đã ập đến khiến Ngài nằm một mình trong hang đá lớn, lúc tỉnh lúc mê. Ngài không thể xuống chân núi để báo tin. Mấy ngày trước Ngài vẫn cố gắng gượng dậy đi bát, nhưng hôm đó thì không thể đi nổi nữa. Ngài nằm chịu trận, xoay xở suốt một ngày một đêm. Trong lúc nửa tỉnh nửa mê, Ngài cảm giác như có ai đó cho mình uống thuốc, khi vừa tỉnh dậy, Ngài cố gắng mở mắt nhìn quanh hang đá thì thấy ở một góc cua có một vị mặc đồ trắng đang đứng yên lặng nhìn mình như một pho tượng đá trắng. Do đang trong tình trạng lờ đờ nên Ngài không kịp hỏi han gì, rồi mắt lại nhắm nghiền lại. Sáng hôm sau, các thí chủ từ làng đi bát tìm đến chùa rừng, thỉnh Ngài về làng để chữa bệnh. Ngài truyền rằng: "Hãy đưa ta đến thị trấn Monywa là được." Họ bèn dùng ghế dựa làm cáng khiêng Ngài đến chùa của U San Chain (**U Ñāṇavaṃsa**) ở thị trấn Alon. Ngay khi vừa được đặt lên ghế, Ngài bỗng trở lại bình thường như người khỏe mạnh, khiến mọi người vô cùng kinh ngạc. Tuy nhiên, sau đó Ngài lại lịm đi, suốt quãng đường leo núi xuống đèo dài một dặm, Ngài không hề hay biết gì, cứ như đang ngủ mê khiến ai cũng lấy làm lạ không hiểu nổi. Khi về đến Alon và đặt cáng xuống, Ngài lại tỉnh dậy như một người bình thường. Khi được bạch lại sự tình, Ngài phán: "Hèn chi... đêm qua dường như có một người mặc đồ trắng đi theo." Đối với những bậc hành giả (yogāvacara) lớn như vậy, không một nguyên cớ nào có thể làm giảm sút tinh thần của các Ngài. Tuy nhiên, đôi khi thể xác lại trở nên suy nhược, và vào những lúc như vậy, các chướng ngại như ảo tượng hay giấc mơ thường có cơ hội len lỏi vào. Cần phải đặc biệt cẩn trọng trong việc ăn uống và sinh hoạt. Thông qua những sự sắp đặt tinh vi, các yếu tố vật chất có thể thâm nhập và khiến cho cái thân không đau trở nên đau đớn. Ngay trong đêm Ngài Thiền sư trở về tự viện Ledi ở Monywa, Ngài đã thấy một giấc mơ lạ thường. Trong mơ, Ngài ngồi trên đỉnh núi Yugandhara, lưng tựa vào núi Meru (Sumeru), nhìn thấy toàn bộ tam thiên đại thiên thế giới xanh tươi rạng rỡ. Ở một ngọn núi phía đông, bên trong một hang bảo tháp rực rỡ ánh sáng, có đủ loài chim đang vui đùa bay nhảy. Ngài hỏi những con chim đó rằng: "Tại sao các ngươi lại vào trong cái hang rực lửa như thế này? Các ngươi không thấy nóng sao?" Chúng trả lời: "Chúng tôi vào trong hang của Ngài là để được mát mẻ và an lạc." Một lát sau, Ngài mơ thấy chính thân thể mình biến thành núi Meru hùng vĩ. Ngài giải mã giấc mơ rằng: "Mình sẽ phải đi khắp đất nước để hoằng dương Giáo pháp." Trong kinh **Mahāsupina Sutta** thuộc **Pañcaṅguttara Pāḷi** (Tăng Chi Bộ), có ghi chép rằng trước khi thành đạo, Bồ-tát đã mơ thấy mình lấy mặt đất làm giường, lấy núi Meru làm gối nằm ngủ, v.v. ## TRANG 361 Giấc mộng này rất giống với đại mộng tiền triệu của một vị sắp đắc quả Phật. Đây là điều thường xảy ra đối với những bậc vĩ nhân. Vào đêm thứ ba, một người hộ tăng (kappiya) cũng đến bạch rằng: “Con nằm mộng thấy trong vũng nước trong lòng bàn tay Ngài, những chú cá đang tung tăng bơi lội, rồi vũng nước ấy bỗng trở nên rộng lớn mênh mông.” Khi sức khỏe đã bình phục, Ngài liền trở về ngọn núi đó. ### Một sợi dây luyến ái (hay là Ledi Pandita) **Năm 1265 (ÂL)**, Ngài an cư kiết hạ tại tịnh xá rừng Letpadaung, nằm bên bờ sông Thallawadi, phía tây thị trấn Monywa. Ngài trú ngụ trong một thiền đường kinh hành dài sáu mươi cubit (khoảng 30m). Ledi Pandita cùng một vài đệ tử cũng đi theo Ngài. Ngài Sayadaw dành lòng thương mến rất lớn cho Ledi Pandita. Tuy nhiên, vị này lại là người chú trọng vào lý thuyết (anu-thamama), hay chìu chuộng và nuông chiều thân xác. Cá tính của vị này hoàn toàn không tương đồng với Ngài Sayadaw. Ngài thường xuyên thuyết giảng rằng: “Thân xác này giống như một cục độc lớn, đầy rẫy lỗi lầm, là nơi trú ngụ của bệnh tật; cần phải tận dụng nó trước khi già và đau. Nếu cứ thương hại con bò thuê thì khi đến giờ chủ lấy lại, ta sẽ chỉ còn biết hối hận và đau khổ vô bờ.” Một ngày nọ, khi đang đi khất thực, Ngài vừa đi phía trước vừa thuyết pháp dạy dỗ đệ tử Pandita. Do mải mê giảng dạy, Ngài đã đi nhầm đường. Ledi Pandita ở phía sau bạch rằng: "Bạch Ngài, Ngài đi nhầm đường rồi ạ... đi đường này cơ." Ngài liền quở trách: "Hừ... ngươi không chịu lắng nghe lời ta giảng. Đi nhầm con đường này thì chẳng có tai hại gì cả. Nhưng nếu ngươi không nghe lời ta mà đi sai đường (lối sống), thì suốt cả vòng luân hồi này, ngươi sẽ không cách nào thoát ra khỏi hố thẳm đâu, biết chưa!" Xưa kia, mặc dù Hoàng tử Nanda đã xuất gia, nhưng ông vẫn mặc y rực rỡ, cạo đầu bóng loáng và còn tô vẽ mí mắt rồi đến gặp Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn đã từng than rằng: "Ôi... đến bao giờ ta mới thấy được một Nanda tu hạnh đầu đà (dhutanga) mặc y phấn tảo (pamsukula) đây?" Với người mà thời cơ chưa đến, ngoài lòng bi mẫn ra thì không còn gì khác để trao. Không thể cho một đứa trẻ còn đang bú mớm ăn cơm trộn thịt. Ngài Sayadaw Ledi cũng vì quá thương Pandita mà lòng nặng trĩu khi thuyết pháp. Ngài chỉ làm lỡ dở công việc của chính mình, còn vị đệ tử kia thì chẳng hề thấy an lạc trong rừng như ý nguyện của Ngài. Cuối cùng, vị ấy phải bỏ mình trong "khu rừng dục vọng". Thật ra, những người đó tuy giỏi về kinh điển và ## TRANG 362 nổi tiếng khắp cả nước, nhưng lại không nhận được di sản pháp bảo cốt lõi của Ngài Sayadaw. Họ dành cả đời mình để đền đáp ân đức bằng những lời tán tụng hồng danh. Trong năm đó, Ngài Sayadaw đã viết liên tục các bộ luận: **Paramattha Sankhip** (Tóm lược Thắng pháp), **Catusacca Dipani** (Minh giải Tứ đế), **Nirutti Dipani** (Minh giải Ngữ pháp), **Kammatthana Dipani** (Minh giải Các đề mục thiền định), và **Sammaditthi Dipani** (Minh giải Chánh kiến). Chúng tôi, những đệ tử giỏi chữ nghĩa của Ngài, do rời xa các trung tâm hành trì nên không được chiêm bái những đức hạnh nội tâm của Ngài. Chúng tôi chỉ có thể suy lường qua các bộ Dipani này mà thôi. ### Bài pháp khiến tể tướng Kinwun Mingyi rơi lệ Vào cuối **năm 1265**, ông U Khin Maung Gyi — thị trưởng Patheingyi, con nuôi của tể tướng Kinwun Mingyi — cùng với bốn năm người khác từ Mandalay đến đảnh lễ và nghe pháp từ Ngài Sayadaw. Sau bốn năm ngày, khi họ chuẩn bị trở về Mandalay, Ngài Sayadaw đã viết một bài thơ Samvega (Cảm hứng tâm linh) theo thể "Lay-cho" để gửi tặng tể tướng với lời nhắn: "Hãy dâng món quà này lên thân phụ của con." Bài thơ ấy bắt đầu bằng câu: "Chẳng thể bừng tỉnh khỏi cơn mê muội, chốn tịnh lạc ở ngay hướng hữu bên kia, vì không thể quên được lúc hợp thời, nên lại phải trôi lăn hết trong khúc quanh này, vòng quay luân hồi chẳng có điểm dừng." Vào ngày 11 sau trăng rằm tháng Tabaung năm đó, theo lời thỉnh mời trang trọng của tể tướng Kinwun Mingyi, Ngài Sayadaw đã rời núi Letpadaung để đến Mandalay. Một rạp thuyết pháp lớn đã được dựng lên trong khuôn viên dinh thự của vị tể tướng bên trong hoàng cung, và một đại lễ thuyết pháp kéo dài ba ngày ba đêm đã được tổ chức. Ngài trú ngụ ngay tại gian phòng chính của ngôi nhà, ban ngày thì giải đáp các câu hỏi, ban đêm thì thuyết giảng. Các quan đại thần, quý tộc và những bậc trí giả đều tề tựu đông đủ. Ngài đã thuyết giảng về pháp hành dựa trên hơi thở (Anapana) để thấu triệt bản chất các đại (dhatu) và phá trừ ngã chấp (atta-ditthi). Vào một đêm nọ, tể tướng Kinwun Mingyi đã đến bên Ngài và bật khóc nức nở, nước mắt tuôn rơi. Tể tướng bạch rằng: “Bạch Ngài, những pháp hành thiền định Thắng pháp sâu sắc như thế này, cố quốc vương kính yêu của chúng con đã không có cơ duyên được lắng nghe trước khi băng hà. Con ước chi ngài ấy có thể nghe được. Vì thương nhớ ngài mà lòng con không sao ngăn được xúc động. Dù đã xây dựng bao nhiêu nhà nghỉ chân, điện thờ, hang động, chùa chiền, lâu đài, ấn hành Tam Tạng và thực hiện đủ loại công đức với danh nghĩa bậc hộ pháp, nhưng ngài ấy vẫn chưa từng được lắng nghe những giáo lý như thế này, thật đáng tiếc thay.” Do sự thỉnh cầu của mọi người về việc biên soạn một tài liệu hướng dẫn về cách thực hành thiền hơi thở theo đúng lời dạy, Ngài đã viết bộ **Anapana Dipani**. ## TRANG 363 **(Bài kệ tóm tắt Pháp Anapana):** **Giai đoạn đầu: chánh niệm vững vàng, hiểu rõ hơi thở dài và ngắn.** **Giai đoạn tiếp theo: thấu tỏ toàn thân hơi thở, và cuối cùng đạt đến sự an tịnh.** Ngài cũng đưa vào bài kệ này để tóm gọn phương pháp thực hành trong kinh **Anapanasati Sutta**. Tuy nhiên, về mặt quan điểm liên quan đến bốn nhóm (catukka), trong khi cả nước đều đi theo Ngài Sayadaw, thì cũng nên tham khảo thêm các bộ luận như **Satipatthana Sutta Nissaya** của thiền sư Mahasi. Trong thời gian lưu lại Mandalay, Ngài cũng nhận lời thỉnh mời của thiền sư U Pandava (bạn đồng môn) để thuyết pháp tại tu viện Chan-tha-gyi cho hơn mười ngàn vị tăng ni và cư sĩ trong suốt năm đêm liên tiếp. ### Viết lách bền bỉ và chu du thuyết pháp Sự kiện một bậc nhân sĩ có tầm ảnh hưởng lớn như tể tướng Kinwun Mingyi ở Mandalay thỉnh Ngài thuyết pháp chính là cách để mở đường cho những lời giảng dạy của Ngài được cả nước chấp nhận. Đó chính là sự khai mở luồng sinh khí cho giáo pháp. Dù các mối nhân duyên vô hình vô cùng rộng lớn và giáo lý thì thâm sâu, nhưng kể từ thời điểm đó, Ngài bắt đầu đi du phương thuyết pháp khắp nơi. Vào **năm 1266**, bắt đầu từ tháng Kason (tháng 2 theo lịch Miến), Ngài Sayadaw trú ngụ tại khu rừng Engyinmyaing, phía bắc thị trấn Pyinmana. Người dân đã xây dựng dâng cúng một thiền đường kinh hành lớn dài sáu mươi cubit. Có thể nói rằng trong năm đó, tại tịnh xá này, Ngài đã viết được nhiều bộ luận nhất. Đó là các bộ: **Bhavana Dipani** (Minh giải về Tu tiến), **Bodhipakkhiya Dipani** (Minh giải về Bồ-đề phần), **Anapana Dipani**, **Somanassupekkha Dipani** (Minh giải về Hỷ và Xả), cùng với **Nirutti Dipani Nissaya** và **Sadda Sankhip**. Sự kiên trì và tập trung vào việc viết lách của Ngài đến mức khó có thể tin được. Một ngày nọ, khi đang tắm trong nhà tắm gần lối kinh hành, Ngài vừa tắm vừa suy ngẫm về nội dung đang viết dở. Bỗng nhiên một ý tưởng lóe lên, Ngài liền bước ra, thân mình còn ướt sũng, không kịp thay y mà cứ thế tiếp tục viết. Mãi cho đến khi cảm thấy quá lạnh, Ngài mới sực tỉnh. Lúc ấy, không một đệ tử nào dám vào nhắc nhở. Các đệ tử mới nhờ ông U Myo — một thầy thuốc từ khu Tawng-lone-pyan, Yangon, đang tạm trú tại đó với tư cách là một hành giả — vào bạch giúp. Thấy Ngài Sayadaw đang mải mê viết lách với mảnh y ướt sũng trên người, ông U Myo vào trình bạch, Ngài mới phán rằng: “Này con, nếu ta cứ chìu chuộng cái thân xác này thì những ý nghĩa giáo pháp vừa nảy ra sẽ tan biến mất. Thân xác này vốn chẳng có phước báu bằng một chữ trong dòng chữ ta đang viết đâu.” Phán xong, Ngài viết cho xong đoạn văn rồi mới đi tắm lại. Chính nhờ ý chí nghị lực, định lực và tuệ giác phi thường như thế mà mỗi khi có dịp đối chiếu, giới học giả khắp thế giới đều đặt các tác phẩm của Ngài ngang hàng với các bộ Chú giải (Atthakatha) để làm tài liệu tham chiếu và trích dẫn. Còn về phương diện thực hành giáo pháp, phần lớn hành giả từ khắp mọi nơi cũng đều tìm đến để xin lời chỉ dạy và phán quyết của Ngài. ## TRANG 364 ### Vị Ứng Cúng Cao Thượng Không Nhận Cúng Dường Chuyện xảy ra khi Ngài Thiền sư đang nhập hạ tại khu rừng thiền In-gyin-myaing, Pyinmana. Vào một ngày nọ, dân chúng vùng Pyinmana cùng nhau tổ chức một buổi lễ đặt bát cúng dường Sa di và Tăng đoàn (Saṅghadāna). Để chư Tăng có thể đi thăng hàng trang nghiêm và dân chúng có thể đứng hai bên dâng cúng một cách trật tự, ban tổ chức đã dựng sẵn một lối đi dài gọi là "Rè-laung" (lối đi phục vụ lễ đặt bát) với cổng vào và cổng ra riêng biệt. Hai bên lối đi được rào bằng phên tre mắt cáo, dọc lối đi được trải chiếu phên mây và vải vóc sạch sẽ. Trong đoàn Tăng hơn hai trăm vị, Ngài Thiền sư là người đi đầu tiên dẫn đoàn vào thọ nhận sự cúng dường. Theo lệ thường, đoàn sẽ đi vào từ một cổng và đi ra ở cổng phía đối diện. Tuy nhiên, khi chỉ còn cách cổng ra khoảng mười lăm bộ (hơn 4 mét), Ngài không bước tiếp ra lối cổng đó mà bất ngờ quay người đi ngược lại đúng con đường vừa mới đi vào. Chư Tăng đi sau dù không hiểu chuyện gì nhưng cũng không ai dám hỏi, chỉ lẳng lặng quay bước theo Ngài. Người dân đang đợi sẵn ở hai bên cổng ra cảm thấy vô cùng kinh ngạc và buồn bã khi thấy Ngài không đi đến chỗ mình để thọ nhận vật phẩm. Lúc ấy, Ngài chỉ ôn tồn bảo: “Còn số vật phẩm cúng dường của các cận sự nam nữ còn lại, hãy chia ra rồi nhờ các hộ tông (kappiya) chuyển về chùa sau.” Cả chư Tăng và dân chúng lúc đó đều không khỏi hoang mang, khó hiểu. Chỉ đến khi buổi lễ kết thúc, mọi người bắt đầu thu dọn chiếu phên và vải trải đường, lúc đó họ mới vỡ lẽ và không ngớt lời tán dương đức hạnh của Ngài trong niềm hoan hỷ cực độ. Nguyên do là tại vị trí gần cổng ra, ngay bên dưới lớp chiếu được trải từ chiều tối hôm trước, người ta phát hiện một con rắn lục hổ mang (snake) cực lớn cỡ bắp tay người. Nếu Ngài Thiền sư không dùng tuệ giác soi xét mà cứ bước đi theo lệ thường, con rắn có thể đã bị chư Tăng dẫm phải dẫn đến cái chết, hoặc nếu nó chưa chết thì sẽ quay lại tấn công khiến ai đó gặp tai nạn nguy hiểm. Khi ấy, buổi lễ cúng dường cũng sẽ trở nên mất mát và đau thương. ## TRANG 365 ### Đức Hạnh Giới Hạnh, Định Lực và Lợi Lộc Cúng Dường Trong thời gian Ngài ở tại rừng thiền In-gyin-myaing, có một người tên là U Tun Hlaing thường nằm mơ thấy một vị Trưởng lão mà ông hằng tôn kính vừa mới viên tịch. Vị Trưởng lão ấy hiện thân trong hình hài một ngạ quỷ (peta) và than rằng: “Ta không có cái ăn, không có cái mặc, hãy làm phước rồi hồi hướng cho ta với.” Vì việc này xảy ra nhiều lần nên U Tun Hlaing đã đến dâng y cho Ngài Thiền sư và xin Ngài hồi hướng công đức. Ngài Thiền sư bảo: “Này con Tun Hlaing, với giới hạnh của Ta bấy nhiêu đây, Ta có thể cứu giúp được vị ấy.” Quả đúng như vậy, không lâu sau, vị Trưởng lão ngạ quỷ kia đã hiện đến trong giấc mơ của U Tun Hlaing với trang phục của thiên nhân (devatā) và nói những lời hoan hỷ tri ân. U Tun Hlaing chính là ông nội của bà Daw Yin My, người ở tu viện Kaba Aye Masoeyein. Từ năm 1266 (Miến lịch), Ngài Thiền sư bắt đầu đi du hành thuyết pháp khắp vùng Thượng và Hạ Miến Điện. Vì bộ luận *Paramattha Saṅkhitta* đã được Ngài soạn xong từ năm 1265 nên tại mỗi nơi đi qua, Ngài đều thành lập các hội đoàn "Saṅkhitta" cho các hội viên. Đây chính là việc Ngài đã gieo mầm hạt giống Vi Diệu Pháp (Abhidhamma) trên khắp cả nước. Tính đến năm 1288, số lượng hội viên đã vượt quá ba trăm nghìn người. Giống như việc Ngài soạn bộ *Ṭīkā-kyaw* (Chú giải mới), bộ *Nirutti-dīpanī* (Luận giải về ngôn ngữ học) hay việc vận động người dân không ăn thịt bò thường bị một số người phản đối, thì hội đoàn Saṅkhitta cũng từng bị gièm pha, nhạo báng. Thật đáng thương cho những người ấy vì họ đã tự chuốc lấy tổn thất lớn. Bất cứ nơi nào Ngài Thiền sư đặt chân đến, dân chúng đều đón tiếp và cúng dường Ngài hết lòng như đón tiếp một vị Thánh Tăng (Arahant). Có rất nhiều lời đồn đại vang xa khi Ngài đi khất thực như: “Chân Ngài không chạm đất, Ngài đi bằng thần thông (jhāna)”, hay khi Ngài đi bằng hai toa tàu thì người ta lại thấy như “có ba toa tàu cùng chuyển động”... Những lời đồn như vậy rất nhiều. Một điều kỳ diệu khiến người bình thường khó có thể hình dung được, đó là tất cả vật phẩm nhận được sau các buổi thuyết pháp, Ngài đều đem cúng dường lại cho chư Tăng tại địa phương đó. Có một lần, khi từ vùng Hạ Miến trở về tu viện Ledi, Ngài cho đánh khánh tập trung chư Tăng lại. Khi chư Tăng tề tựu đông đủ, Ngài dạy: “Này, đừng nghĩ rằng sau khi Ta đi thuyết pháp về, Ta gọi các ông đến để chia vật phẩm. Nhớ lại hồi Ta còn trẻ ở Mandalay, các vị giảng sư khi từ Hạ Miến trở về thường liệt kê danh sách nào là gạo được bao nhiêu, mắm muối cá khô được bao nhiêu, rồi y áo, dù, dép, thảm vải có bao nhiêu... rồi cứ thế ăn uống, hưởng thụ suốt cả tháng trời. Thật là lãng phí thời gian biết bao! Này các sư trẻ, Ta gọi các ông đến là để chuẩn bị cho buổi học Pháp vào ngày mai đấy.” ## TRANG 366 Có một lần khác, khi Ngài tạm lưu trú và thuyết pháp tại tu viện Masoeyein ở Mandalay, các vật phẩm cúng dường từ các khu phố đổ về được xếp thành đống lớn trên một tòa nhà lớn. Riêng số y áo đã chất đầy hai gian phòng lớn, cao bằng đầu người. Vị Hòa thượng trẻ quản lý tu viện lúc đó là U Suriya (nay là Ngài Masoeyein Sayadaw vĩ đại, bậc Abhidhaja Mahā Raṭṭha Guru, thọ 96 tuổi) đã phải lập danh sách để trông coi. Ông cứ chờ đợi mãi lời dặn dò của Ngài Thiền sư về việc phân chia số vật phẩm này trước khi Ngài quay về Monywa. Vì số lượng và giá trị vật phẩm quá lớn nên ông cảm thấy rất áp lực khi phải giữ gìn. Cho đến tận ngày rời đi, Ngài Thiền sư vẫn không nói một lời nào, và vị Hòa thượng cũng không dám hỏi. Cuối cùng, vì muốn nghe lời chỉ dạy, U Suriya đã theo Ngài ra tới tận ga tàu khi Ngài chuẩn bị về Monywa. Lúc này ông mới dám thưa hỏi. Ngài Thiền sư nghe xong liền đáp một cách nhẹ nhàng như thể đó là việc không có gì quan trọng: “Ồ, vị Masoeyein trẻ tuổi này thật là... Đừng vì những chuyện ấy mà làm phiền Ta. Cứ tùy nghi sắp xếp rồi phân phát hết cho các vị đang tu học (pariyatti) là được.” Ngài Hòa thượng Masoeyein sau này thường kể lại với lòng tôn kính sâu sắc rằng, khi ấy số vật phẩm đã được chia đều cho hàng ngàn vị sư trong tu viện và hầu hết các vị giảng sư trong khắp thành phố đều được thọ nhận. **Upaṭṭhāpenti parisaṃ,** **Dhammato no ca kammato.** **Dhammaṃ paresaṃ desenti,** **Atthato no ca lābhato.** (**Trích Pārā-pariya Thera-gāthā**) **Parisaṃ**: Đối với hàng đệ tử và đồ chúng gồm cả xuất gia lẫn tại gia. **Dhammato**: Chỉ vì mục đích giúp họ tăng trưởng trí tuệ và tích lũy công đức qua việc nghe Pháp. **Upaṭṭhāpenti**: Nên Ngài mới cho phép họ đến gần gũi và phụng sự. **No ca kammato**: Chứ không phải để họ đến hầu hạ hay làm các công việc riêng cho bản thân Ngài. **Atthato**: Chỉ vì mục đích mang lại lợi ích cao thượng (lợi ích xuất thế gian). **Paresaṃ**: Đối với người khác (chúng sinh). **Dhammaṃ**: Giáo Pháp. **Desenti**: Ngài giảng dạy, viết lách và thuyết giảng. **No ca lābhato**: Chứ không phải vì mục đích cầu danh tiếng, sự cung kính hay lợi lộc cúng dường. (Bài kệ này trích từ kinh văn nhưng được diễn giải theo cách đảo ngược ý nghĩa để nhấn mạnh). ## TRANG 367 # Các Bậc Alahan và Những Nhân Vật Đặc Biệt ### Phía Trước Hoằng Pháp, Phía Sau Tan Rã Khi Ngài Ledi Sayadaw đi du hành thuyết pháp, các đại đệ tử có ngoại hình trang nghiêm, hùng biện giỏi và uyên bác như Ledi Pandita, Ledi Vāyāma (Sayagyi Myo), Ledi Kitti (Sayagyi Sein), Ledi Waṇṇita (U Hla Tin), v.v., thường xuyên đi theo hộ tống. Tuy nhiên, không lâu sau, các đại đệ tử này lần lượt hoàn tục. Liên quan đến việc này, Ngài Mahā Visuddhārāma Sayadaw đã gửi một bài kệ đến Ngài Ledi Sayadaw. Ý nghĩa của bài kệ đó như sau: “Giống như con tê giác có sức mạnh to lớn, dùng chiếc sừng duy nhất và vững chãi của mình để hất tung mọi vật cản phía trước rồi quăng ra sau, khiến cho bầy con đi theo sau bị trúng phải mà tử nạn; Ngài Ledi với trí tuệ lực (ñāṇabala) vĩ đại cũng vậy, Ngài đã vô tình làm hại các đệ tử của mình.” Khi đọc bức thư này, Ngài Sayadaw phán với các đệ tử rằng: “Nếu khi còn đang dạy học mà nhận được lời giáo huấn của Ngài Mahā Visuddhārāma Sayadaw, có lẽ Ta đã không đi du hành thuyết pháp. Nhưng giờ đây sự đã rồi. Dù chỉ còn lại một mình, Ta vẫn phải tiếp tục tiến bước. Trong chiến trận, việc các vị tướng lãnh hy sinh là điều khó tránh khỏi.” Ngài Manle Sayadaw khi nghe tin Ngài Ledi đi thuyết pháp cũng thường nói: “À, lại một con tê giác lớn xuất trận rồi. Không biết bao nhiêu đứa con sẽ phải bỏ mạng đây.” Ngài Ledi đáp lại rằng: “Việc một vài đứa con tử nạn không quan trọng, điều quan trọng là phải khai hoang rừng rậm. Việc một vài đệ tử hoàn tục không đáng bận tâm, điều quan trọng là giúp cho hàng ngàn, hàng vạn người đạt được ánh sáng trí tuệ.” Đây là bài học cho thấy rằng bên cạnh những bậc thiện tri thức luôn chiến đấu với Ma vương, nếu chỉ có sức đề kháng tầm thường thì khó lòng trụ vững. Để làm rõ điểm này, cũng nên thuật lại đôi chút về đoạn kết bí ẩn của vị tu sĩ trẻ Ledi Pandita. Có thời gian, Ledi Pandita đến ở tại Bahan, Yangon để giám sát việc in ấn các tác phẩm của Ngài Sayadaw. Khi đó, một thanh niên da đỏ (lu-ni) không rõ lai lịch xuất hiện và đến ở cùng. Anh ta rất thân thiết và tận tình giúp đỡ. Ledi Pandita cũng không hỏi han kỹ về lai lịch của anh ta. Thỉnh thoảng, người thanh niên này lại mất tích bí ẩn nhiều ngày, khi trở về thường mang theo những món đồ cổ quý giá. Cuối cùng, người thanh niên biến mất và mang về những bức thư tình từ một người phụ nữ lớn tuổi (Ma Ma Gyi) ở Pyinmana. Ledi Pandita đã gửi thư trả lời cho người phụ nữ đó qua anh ta. Cứ như vậy, vị đệ tử mà Ngài Sayadaw tin cậy nhất đã bị sa bẫy. Khi Ledi Pandita hẹn gặp người phụ nữ và hoàn tục tại Mandalay, ## TRANG 368 người thanh niên da đỏ đó lại đột ngột xuất hiện một lần nữa, sau đó thì không bao giờ thấy đâu nữa. Về việc này, tác giả cuốn "Ledi Gandhavan" ca ngợi rằng đó là sự hộ trì của chư Thiên (Nát). Tuy nhiên, người ta lại không nhìn thấy những hiểm họa huyền bí ẩn sau công hạnh tu tập. ### Dùng Sự Thật Cầu Mưa Vào hạ năm 1268 (Miến lịch), Ngài cư ngụ tại rừng Vipassanā Kone, thành phố Pyay. Lúc bấy giờ ở vùng Henzada, cơn mưa cuối mùa không đến, gây nên thảm họa khiến nhiều mẫu ruộng sắp bị hư hại. Một quan chức người Anh tại Irrawaddy tên là "Maxwell" đã thỉnh mời Ngài đến để lập đàn thuyết pháp. Ngay từ khi nhận lời thỉnh mời, hằng ngày Ngài đã quán xét công hạnh cúng dường nước (Nibaddhavatta) bền bỉ hơn 20 năm của mình để thực hiện lời nguyện chân ngôn (Sacca), đồng thời rải tâm từ đến các vị chư Thiên cai quản mưa (Mưa thần). Khi Ngài ngự thuyền đến, dân chúng đứng kín dọc bờ sông để cung đón. Khi thuyền sắp cập bến, mây đen bỗng kéo đến và mưa đổ xuống tầm tã suốt khoảng một giờ đồng hồ. Thuyền phải neo lại giữa dòng để chờ đợi. Mọi người đều vô cùng kinh ngạc và vui mừng khôn xiết. Ngài phán rằng: “Đó là nhờ năng lực của công hạnh cúng dường nước suốt hơn 20 năm qua đấy.” Kể từ đó, đối với những vùng hạn hán, Ngài đã viết các bài "Mưa Hộ Kinh (Mိုးပရိတ် - Moe Paritta), Mưa Yết Ma (Mိုးကမ္မဝါ - Moe Kammavā), Chiếu chỉ cầu mưa" và dùng năng lực Giới hạnh, Tâm từ, Sự thật và Định lực của mình để làm mưa rơi xuống cứu độ chúng sinh. Năng lực của các bậc thiện tri thức có thể phá vỡ cả những quy luật tự nhiên của thế giới đến mức người bình thường khó lòng tin nổi. Giống như không có tài sản nào mà Giới hạnh không thể mang lại, cũng không có hiểm họa nào mà đức Nhẫn nhục và Tâm từ không thể chiến thắng. Hơn thế nữa, không có việc gì mà năng lực của Sự Thật (Sacca) không thể thực hiện hay thành tựu được. Ngay cả bằng chân ngôn của loài vật cũng có thể làm mưa rơi xuống, có thể dập tắt lửa đang cháy hay làm dừng dòng nước đang chảy. Sự thật chính là quy luật của thế giới, là bản chất thực tại tuyệt đối. Nếu nhìn bằng con mắt trí tuệ, yếu tố con người không phải là chính yếu, mà sự chân thật mới là chính yếu. Chúng sinh khi chưa gặp cảnh khốn cùng thường hay cùn nhụt ý chí, sống buông thả và chỉ biết hưởng thụ. Họ lầm tưởng rằng mắt, tai, mũi, lưỡi và thân xác này là nơi nương tựa duy nhất. Nói cách khác, họ chỉ nương tựa vào vật chất (Rūpa). Họ không tin rằng có những nguồn năng lực to lớn và dễ dàng đạt được hơn cả sức mạnh của hàng vạn người cộng lại. Thậm chí đôi khi ngay cả những bậc hành giả dũng mãnh cũng ## TRANG 369 quên mất những món vũ khí tuyệt vời này. ### Sự Hối Hận của Vị Sayadaw Từng Có Ý Coi Thường Trong hành trình du hành thuyết pháp khắp nơi, tại buổi pháp thoại ở thành phố Taungdwingyi năm 1277 (Miến lịch) đã có một sự kiện đặc biệt xảy ra. Người dân Taungdwingyi đã dùng kiệu khiêng Ngài từ Migyaunggyi đi suốt quãng đường 35 dặm. Đó không phải là đức tin và sự tinh tấn tầm thường. Chính vì vậy, Ngài đã đặc biệt thuyết giảng suốt bảy đêm tại đó. Sau 4-5 ngày thuyết pháp, vị phương trượng chùa Bo Kone đã đến nơi Ngài ngụ và bày tỏ lời tri ân, sám hối: “Bạch Ngài, con là trụ trì chùa Bo Kone ở Mandalay. Mặc dù Ngài đã thuyết pháp khắp bốn phương ở Mandalay nhưng con chưa bao giờ đi nghe pháp. Vì nghĩ Ngài cũng giống như bao người khác, con từng coi thường và nghĩ rằng: 'Kiểu như Ledi thì chúng ta cũng giảng được vậy, cứ xem sách theo lời Phật dạy mà giảng thôi, Ledi chắc cũng chẳng giảng gì khác ngoài kinh sách đâu'. Đến hôm nay, vì nghe thiên hạ bàn tán quá nhiều nên con mới đi nghe thử, và con đã hoàn toàn sai lầm. Xin Ngài từ bi hỷ xả cho những lỗi lầm xúc phạm của con.” Khi đó, Ngài Ledi Sayadaw phán rằng: “Này sư Bo Kone, tôi và chúng sinh thường rất hay tự mãn với chút hiểu biết của mình. Ngày mà mình nhận ra lỗi lầm của bản thân chính là ngày bắt đầu của sự tiến bộ và thành đạt. Những bài pháp tôi giảng ở Taungdwingyi này là giảng chung cho đại đa số quần chúng. Còn bây giờ, đối với riêng sư Bo Kone, tôi sẽ giảng một bài pháp đặc biệt.” Nói đoạn, Ngài thuyết giảng liên tiếp trong ba đêm về chiều sâu khác biệt giữa trí tuệ học thuật (Pariyatti) và trí tuệ thực hành (Paṭipatti) để sư Bo Kone được thấu suốt. “Bản thân tôi thời trẻ cũng từng rất tự mãn về mình. Tuy chúng ta luôn lấy những gì được nhận biết qua mắt, tai, mũi, lưỡi, thân làm tiêu chuẩn phán đoán đúng sai, nhưng những nhận thức đó thực ra rất nông cạn. Chúng ta thậm chí không biết nổi một phần trăm của sự thật. Thời còn là giảng sư (Sā-cha-bhone-gyi), câu 'Namotassa' mà tôi hiểu theo ý nghĩa con chữ thực ra rất nực cười khi đem ra áp dụng dưới gốc cây rừng. Khi đó, sự hiểu biết về ý nghĩa không phải để thực hành, mà chỉ đủ để giảng dạy và truyền thụ thôi. Nó giống như việc chỉ biết nói rằng muối là một thứ có vị mặn, nhưng hoàn toàn không biết gì về cái mặn nóng, mặn lạnh, mặn ngọt, mặn đắng, mặn nhạt hay mặn đậm đà cả.” “Này sư Bo Kone, nói một cách dân dã thì một người tâm trí không minh mẫn không những không thể tìm kiếm kiến thức hay tài sản, mà ngay cả những kiến thức và tài sản đã có sẵn cũng trở nên vô dụng đối với bản thân họ cũng như người khác.” ## TRANG 370 “Trong thế gian này, những người không làm chủ được chân tay hay lời nói thì không thể hoàn thành công việc cần đến chân tay hay lời nói một cách có hiệu quả. Những người không làm chủ được tâm mình cũng y như thế. Họ không thể thành tựu lợi ích trong những công việc thuộc về tâm. Ngay cả việc chú tâm vào đức hạnh của Phật cho đến khi kết thúc một bài kinh **Itipi so** (Ân đức Phật), họ cũng không làm được. Nếu không thể định tâm, thì dù có thông suốt Tam Tạng đi nữa, lợi ích cũng chẳng trọn vẹn. Chẳng phải người không làm chủ được tâm mình thì gọi là người điên sao? Phải... người điên vì không làm chủ được tâm nên ngay cả một bát cơm cũng không thể ăn cho xong. Họ vừa muốn ăn lại vừa muốn phá nát bát cơm rồi đứng dậy bỏ đi. Chỉ khi bước vào công việc hành thiền — vốn là công việc của tâm — thì những người như Ngài Bo Kone và chúng tôi đây mới nhận ra mình cũng giống như người điên không tự ăn nổi bát cơm của mình vậy. Nói cách khác, người không làm chủ được tâm giống như một người lái thuyền không điều khiển được bánh lái. Một người lái thuyền chở đầy hàng hóa nặng nề đến mức có thể chìm bất cứ lúc nào, khi xuôi dòng mà không giữ được bánh lái thì đành phải để mặc cho dòng nước dữ cuốn trôi. Ban đêm, dọc theo bờ bến chẳng nhìn thấy gì, cũng giống như trong vòng luân hồi phải đối mặt với những đại kiếp ‘Không’ (Suñña Kappa) vắng bóng chư Phật. Khi là ban ngày, dù nhìn thấy bến bờ xinh đẹp dọc lối đi nhưng vì không làm chủ được bánh lái nên chẳng thể ghé vào, đành vừa nhìn vừa ngưỡng mộ, vừa tán dương mà vẫn phải trôi dạt ra đại dương. Cũng vậy, dù gặp được giáo pháp (Sāsana) với bến đỗ an lành, nhưng nếu không tu tập Định (Samatha) và Tuệ (Vipassanā) thì không thể cập bến Đạo Quả Niết-bàn. Họ chỉ dừng lại ở mức độ là những thí chủ xây chùa, những vị Tăng bình thường, vị Tăng học rộng hay vị Tăng có danh hiệu cao quý, rồi cứ thế phiêu dạt, trôi nổi mãi trong cõi luân hồi của các đại kiếp ‘Không’.” Qua đó, Ngài chỉ rõ những **Ādīnava** (hiểm họa, lỗi lầm) của kiếp sống. Những đêm sau, Ngài thuyết về pháp **Nissaraṇa** (sự xuất ly), hướng dẫn về định và tuệ. Dù giữa lý thuyết và thực hành dường như có sự khác biệt về cảm nhận, nhưng thực chất chúng là một. Khi xem xét các bản kinh Pāli, Ngài giảng giải sâu sắc và thấm thía như nước thấm vào cát, khiến người nghe vô cùng hoan hỷ và tôn kính. Trong lúc hai vị cùng nhau đàm luận trong am thất, Ngài trưởng lão Bo Kone nghe mà lòng rúng động, da gà nổi lên từng cơn. “Trưởng lão Ledi thực sự là một bậc Thánh (Ariya)!” Trí tuệ bừng sáng như ánh chớp, Ngài vừa sợ hãi đến mức muốn bỏ chạy, vừa hối tiếc rằng: “Sao mình lại gặp Ngài muộn màng đến thế!” Liên quan đến lộ trình thực hành, Ngài Ledi trước tiên hướng dẫn phải ghi nhớ hơi thở ra vào không được buông lơi, rồi giảng dạy phương pháp tu tập thiền quán từ các bước chuẩn bị cơ bản (Parikamma). Ngài cũng chỉ dẫn chi tiết cách quán chiếu bốn đại (Dhatu) và sáu loại thức (Viññāṇa). Ngài cũng chỉ rõ rằng các tác phẩm như **Ānāpāna Dīpanī**, **Bhāvanā Dīpanī** là những người bạn đồng hành, những bậc thầy tốt luôn cận kề chỉ dẫn trong quá trình hành thiền. ## TRANG 371 Trưởng lão Bo Kone sau khi nghe pháp riêng trong ba đêm, đã cung kính đảnh lễ dưới chân Ngài Ledi, bày tỏ lòng sám hối, sự nương tựa và lòng biết ơn sâu sắc rồi trở về chùa. Vừa về đến nơi, Ngài lập tức chuẩn bị một bình bát, ba tấm y cà-sa, từ bỏ ngôi chùa cùng các đệ tử và thí chủ của mình, ngay trong đêm đó lặng lẽ xuất gia vào rừng tu tập. ### Công cuộc cứu giúp trong đại nạn dịch bệnh Vào năm 1270 (Miến lịch), Ngài Ledi an cư tại núi Aung Lan, thuộc vùng núi Kyaik Than Lan, thành phố Mawlamyine. Khi đó, tại vùng Thượng Miến Điện, bệnh dịch tả và dịch hạch bắt đầu bùng phát lẻ tẻ, vì vậy Ngài đã soạn cuốn “**Rogantara Dīpanī**” (Minh sát về dịch bệnh). Không nỡ nhìn thấy chúng sinh đau khổ vì thiếu thốn giới hạnh và định lực, Ngài tha thiết muốn cứu độ trong khả năng của mình. Vốn là người luôn giúp đỡ bệnh nhân từ thuở nhỏ, nay Ngài viết ra các bài kinh Phật như “Kammavā (Nghi thức tụng đọc) cầu an, Sắc lệnh Phật gia, Cakra Paritta...” với niềm tin hộ trì chúng sinh vượt qua các đại nạn. Tuy nhiên, thay vì chỉ dựa hoàn toàn vào những “vũ khí” tối thượng như sự thật (Sacca) và các bài kinh hộ trì (Paritta), Ngài đã chấp nhận cả những hình thức như phù ấn (Inn-aing) hay bùa chú. Thực tế, những điều này vốn trái ngược với đức tin ban đầu của Ngài và không phù hợp với tâm ý thanh tịnh thường nhật. Thời điểm đó, một số thiền sư Vipassanā đã bắt đầu giảm bớt lòng tin nơi Ngài. Nhưng vì Ngài là bậc đa tài xuất chúng nên không ai dám phản bác. (Xem phần về Trưởng lão **Nibbinda**). Bản chất của các thế lực chướng ngại (Ma vương) rất tinh vi và khó nhận biết. Chúng thường dàn xếp các thế trận đan xen, ràng buộc khiến người ta không thể tránh khỏi. Những trạng thái này ngay cả nhiều hành giả cũng không dễ phân biệt. Đối với những người không thực hành, thật khó để tin hay diễn tả điều này. Do đó, dù có giỏi giáo lý (Pariyatti) hay nỗ lực quên mình đến đâu, nếu không vượt qua được cửa ải này thì cũng không thể về đích. Đế chế của Ma vương vô cùng rộng lớn. Nhưng chính nhờ những chướng ngại và khó khăn ấy mà giới, định, tuệ của Ngài càng thêm tăng trưởng, và số lượng chúng sinh được Ngài độ hóa cũng ngày càng đông đảo hơn. Ngài hẳn đã nhìn thấy rõ điều này: Đối với một bậc chân tu, chướng ngại chỉ giống như những viên đá kê chân để bước cao hơn mà thôi. ## TRANG 372 Trong khi Ngài đang soạn cuốn **Rogantara Dīpanī**, có một vị đạo sĩ từ biên giới Thái Lan tìm đến. Nghe danh Ngài đang viết về cách chữa trị dịch bệnh, vị đạo sĩ muốn hiến tặng một phù ấn (Inn) rất linh nghiệm. Phù ấn này do bảy người mặc đồ trắng (chư thiên hoặc bậc đạo hạnh) hiện về báo mộng cho vị đạo sĩ khi làng của ông đang xảy ra dịch hạch. Vị đạo sĩ thưa rằng nếu mang phù ấn này theo người hoặc ngâm nước uống thì bệnh sẽ khỏi ngay lập tức. Trong phù ấn đó, chữ Ph-ra-tha-ma (Sanskrit) hay Pa-hta-ma (Pāli) với ký tự 'Pa' (ပ) được đặt trang trọng ở chính giữa. Khi Ngài ở tại tu viện ở Prome (Pyay), Ngài cũng thấy một giấc mơ: “Một đêm nọ, tất cả cây đại thụ ở thành phố Pyay đều bốc cháy và đích thân Ngài phải đi dập lửa”. Chẳng bao lâu sau, đại dịch hạch tràn xuống thành phố Pyay. Giữa lúc cả thành phố đang hoang mang, một người thợ rèn tìm đến hiến tặng kiến thức. Người này kể rằng trong mơ, thần đất (Bhilu) và một vị mặc đồ trắng đã truyền cho bài chú 13 vòng phép (Cakra) để chữa bệnh và đang rất nổi danh. Kể từ thời điểm đó, Ngài tạm dừng các buổi thuyết pháp lớn để không quản mỏi mệt đi khắp các vùng miền, trực tiếp phòng chống dịch hạch và dịch tả. (Ngài đã hoạt động tích cực từ năm 1272 đến 1274 Miến lịch). Năm 1275, khi dịch hạch bùng phát ở Sagaing, Ngài yêu cầu đọc các bản Sắc lệnh, Kammavā, Paritta, đồng thời cho người đánh súng, gõ thanh sắt, thùng sắt, mõ kêu rộn rã. Ngài cũng ban phát chỉ ngũ sắc, cát đã được chú nguyện và cho dùng ná bắn đi. Ngài còn phân phát cả bùa đeo tay. Nhờ vậy, dịch bệnh thuyên giảm. Tuy nhiên, sau đó người ta lại nằm mơ thấy “Một đoàn quân lớn đang tiến về phía Bắc dọc theo đường ray xe lửa”. Nghe ngóng tin tức thì quả nhiên các thị trấn, làng mạc dọc đường ray xe lửa lần lượt bùng phát dịch bệnh y như trong giấc mơ. Ngài phải du hành đến tận Shwebo. Trước khi đến, Ngài cho đánh chuông thông báo khắp thành phố: “Trưởng lão Ledi sẽ đến để đuổi dịch bệnh đi. Dân chúng hãy giữ tâm bình thản, tĩnh lặng”. Khi ấy, các loài phi nhân (Amanussa) báo mộng rằng: “Trưởng lão Ledi đến rồi, chúng ta không thể ở lại đây được nữa” rồi bỏ đi. Chỉ nhờ việc thông tin như vậy mà dịch bệnh chấm dứt, dân chúng vô cùng kính ngưỡng và tán dương Ngài. Trách nhiệm của Ngài vì thế càng trở nên nặng nề hơn. Đại dịch cứ như trò đuổi bắt, lúc ẩn lúc hiện. Ngài phải theo sát dấu vết như lần theo luồng khói để trấn áp. Sau đó vào năm 1274, dịch bệnh lan rộng ở Mandalay, Meiktila, Myingyan... đến mức chư Tăng cũng phải bỏ chạy, khiến các thành phố lớn lâm vào cảnh giáo pháp tiêu điều, lòng người hoảng loạn. Khi ấy, Ngài lại càng thương xót cho chúng sinh. ## TRANG 373 Dù không được thỉnh mời từ thành phố này sang thành phố khác, Ngài vẫn vân du không ngừng nghỉ. Riêng tại thành phố Mandalay, vào những tháng thường xảy ra dịch bệnh, Ngài cố ý ở lại canh chừng để bảo vệ dân chúng. Từ trên pháp tòa, Ngài cất giọng vang rền: “Các con có nghe tiếng chó sủa không? Hãy lắng nghe đi. Mưa giông, mưa đá sẽ đổ xuống. Nếu ai nằm mộng thấy điều gì lạ, hãy đến thưa với Ta. Bất kể thành phố hay làng mạc nào có người ngã bệnh, hãy lập tức đến thỉnh Ta ngay!” Ngài dõng dạc tuyên bố và mời gọi như thế. Tại mỗi thành phố Ngài đặt chân đến, bệnh tật đều được tiêu trừ một cách kỳ diệu. Sự chữa lành đó không chỉ đến từ giới đức và định lực của Ngài, mà còn nhờ vào phước báu Ba-la-mật hộ trì bệnh nhân (*Nibaddha-gilāna-vatta*) — một thiện nghiệp mà Ngài đã thực hiện không mệt mỏi, không ghê tởm, chăm sóc người bệnh như con đẻ ngay từ khi Ngài còn trẻ. Về việc tụng đọc kinh an lành (*Paritta*) và kinh Yết-ma (*Kammavācā*) để ngăn chặn tai ương, Ngài thường dạy rằng: “Khi tụng để cầu phúc lành, cần tụng giọng dịu dàng, dễ nghe. Nhưng khi tụng để ngăn chặn và xua đuổi nguy hiểm, tuyệt đối không được tụng với giọng rên rỉ, yếu ớt. Phải tụng một cách quyết liệt, mạnh mẽ, với giọng uy lực như đang khiển trách. Thậm chí đối với kinh Yết-ma, không được dùng bản chép trên giấy thường. Phải cầm bản kinh sơn son thếp vàng, chữ viết bằng hạt me mà tụng. Có thế thì bọn ma quỷ, ác sâm mới kinh hãi chạy trốn.” Trong những buổi lễ như vậy, điều Ngài không hài lòng nhất là việc các vị sư có ăn thịt bò tham gia tụng đọc. Ngài nói: “Này, cái miệng vừa ăn thịt bò xong mà lại tụng *‘Suṇātu me bhante saṅgho’* (Bạch Đại đức Tăng, xin hãy nghe tôi). Mùi thịt bò nồng nặc xông xa cả dặm, lũ quỷ dữ cứ theo làn khói mùi thịt bò đó mà tìm đến thôi.” Thật là một lời dạy đáng ghi nhớ. Ngài đã thành công vang dội trong việc ngăn chặn và xua đuổi các đại dịch, khiến người dân hết lòng nương tựa. Ngài luôn giữ vững tâm nguyện, giới hạnh, lòng bi mẫn, định lực và sự tinh tấn giống như Ngài Trưởng lão Ānanda, vị đã cứu độ kinh thành Vesālī khỏi ba tai ương bằng cách tụng kinh Ratanasutta suốt đêm. Ngài Ledi Sayadaw hễ làm là thành tựu, và vì sự hiệu nghiệm đó mà Ngài luôn xả thân cứu giúp. Có thể nói Ngài như đang chơi trò đuổi bắt với các cơn đại dịch. Công việc cứu độ chúng sinh là vô cùng cao quý, nhưng cũng rất khó thực hiện. Loại công việc này tuy đối với các hành giả chưa hoàn tất phận sự sa-môn là cao thượng, nhưng cũng tiềm ẩn nguy cơ. Nó có thể trở thành công việc thuộc về phần thoái đọa (*Hānabhāgiya*). Điều này cũng giống như một người có được phương thuốc trị bệnh hủi (phong cùi) thần hiệu, tự mình điều chế và uống thì mới khỏi được một nửa, nhưng vì lòng bi mẫn thôi thúc quá mạnh, lại thấy có nhiều bệnh nhân và bản thân cũng có sẵn tiền bạc, nên đứng ra làm thầy thuốc chữa bệnh hủi. Nếu nói như vậy thì có lẽ không sai biệt so với ý chỉ của Đức Phật. Trong lộ trình tu tập thực hành (*Paṭipatti*), thật khó để nhìn ra và tránh khỏi những mắt xích trách nhiệm phụ trội ## TRANG 374 thường phát sinh như vậy. Những hành giả muốn làm một vị thầy lớn thường lấy làm hài lòng với những việc đó. Đế quốc của Ma vương vốn rộng lớn và đầy mưu chước. Hắn có thể giăng bẫy bằng cách tung ra những mồi nhử tinh vi. Một con ngựa dù chạy nhanh nhưng nếu bị buộc thêm chì vào chân thì cũng phải chậm lại. Công việc cứu độ, nếu có khả năng mà không làm thì không tròn lòng bi mẫn; nhưng nếu làm thì công việc chính yếu (Pháp hành thiền) sẽ bị ảnh hưởng, đó quả là một thế kẹt khó toàn diện. Các vị Phật không màng đến những vấn đề mang tính chất cạm bẫy như vậy, các Ngài luôn an nhiên đứng vững trên con đường chân lý Trung đạo (*Majjhima-paṭipadā*) bằng sự im lặng thánh thiện. Này các bậc thiện tri thức, hãy suy xét và thực hành với sự dẫn dắt của trí tuệ. Tại đây, những dấu hiệu, điềm chiêm bao, cho đến những lá bùa, chú thuật, linh phù... chẳng phải là những manh mối cho thấy sự ràng buộc của các nghiệp duyên hay sao? Việc bị quật ngã sau khi đã được tôn vinh lên cao thường đau đớn hơn nhiều so với việc bị dẫm đạp khi đang ngồi dưới đất. Có lẽ chúng ta chỉ có thể tự an ủi rằng: Vì nhìn thấy việc thực hiện những Phật sự đó sẽ giúp danh tiếng vang xa hơn, từ đó dẫn dắt được nhiều chúng sinh hữu duyên đạt đến giải thoát, nên dù biết đó là sự chướng ngại, Ngài vẫn dũng mãnh dấn thân thực hiện. ### Đền ơn Đức Phật Từ năm 1279 (Miến lịch), Ngài bắt đầu tạm ngừng việc vân du thuyết pháp khắp các vùng. Ngài nhận thấy đó cũng là một loại chướng ngại (*Palibodha*). Tuy nhiên trên thực tế, thật khó để tránh khỏi hoàn toàn. Với tính cách của Ngài, bất kể công việc gì Ngài cũng thực hiện với sự kiên trì, tận tụy và quyết tâm cao độ. Tôi còn nhớ một lời Ngài từng dạy vị Thủ khoa (*Paṭhamakyaw*) U Paññāsīha (U Gyi Pe) liên quan đến một công việc nọ: “Này con, Maung Paññāsīha. Khi định làm một việc gì, bản thân con phải suy xét thật kỹ trước, rồi tham vấn với những bậc có tầm nhìn xa trông rộng, vì mình dễ lầm lẫn lắm. Này, suy xét và tham vấn xong chưa? Nếu xong rồi thì hãy làm đi. Đã làm thì đừng có suy tính kiểu ‘chết rồi, sai rồi’ nữa. Đừng bận tâm đến ai nói gì, cứ dấn tới mà làm. Có sai thì cứ làm, càng làm càng sai, sai mặc kệ sai, cứ làm đi. Tiếp tục làm đi con. Chính trong khi làm, con sẽ tìm thấy cái đúng.” Lấy phương châm “Muốn làm thì cứ làm, không được thối lui; chuyện gì đến cứ đến, đừng có nản lòng”, ## TRANG 375 lời giáo huấn của Ngài thật đanh thép và sắc bén. Bản thân Ngài cũng luôn hành động theo đúng tôn chỉ này trong mọi việc. Một khi đã quyết định làm, Ngài không bao giờ lùi bước. Quả là một bậc đại trượng phu. Ngay cả trong cách nói năng: “Này Maung Waṇṇita, khi nói hay viết, không được dùng những lời lẽ yếu ớt, rên rỉ, rỗng tuếch không có thực chất. Phải nói, phải viết một cách chắc chắn, tròn đầy và súc tích.” Ngài đã dạy như vậy. Với tinh thần quyết liệt đó, những gì Ngài thực hiện đã có tầm ảnh hưởng lan rộng khắp thế giới. Danh tiếng của Ngài vang xa khắp năm châu. Tuy nhiên, nếu xét từ góc độ thực hành (*Paṭipatti*), Ngài cũng thấu thị rằng một số công việc có thể trở thành chướng ngại (*Palibodha*) và gây ra những tì vết cho tuệ quán (*Vipassanupatti-lesa* - những uế nhiễm của Vipassanā). Vào năm 1279, Ngài an cư tại chùa Ledi. Sau khi mãn hạ, Ngài nói với các đệ tử và thí chủ thân cận: “Này các đệ tử, suốt hai mươi năm ròng, ta đã vân du khắp vùng Thượng và Hạ Miến Điện để thuyết pháp, vì lòng thương tưởng muốn chúng sinh thấu hiểu được ánh sáng của Danh và Sắc. Ta đã hy sinh lợi ích cá nhân để thực hiện công việc thuyết pháp đầy chướng ngại này. Nay ta vẫn còn tâm nguyện muốn đền đáp ân đức của Đức Thế Tôn, nên ta sẽ vào rừng Kyee-pin-gyi tĩnh mịch để tu tập. Chỉ có Maung Waṇṇita và một người hộ tông đi theo ta mà thôi.” Nói đoạn, vào ngày cuối tháng Thadingyut (tháng 7 Miến lịch), Ngài rời chùa Ledi và đi vào khu rừng phía đông thị trấn Alon. Bắt đầu từ ngày mùng 1 tháng Tazaungmon cho đến ngày cuối tháng Tabaung, tổng cộng là năm tháng tròn. Công việc đền ơn này bao gồm việc tụng niệm cúng dường đại kinh Quy y (*Mahā-saraṇagam*) gồm 483 câu, trải dài trên 34 trang giấy khổ lớn, thực hiện liên tục không ngừng nghỉ, không ngủ nghê (đã có sách hướng dẫn phương pháp đền ơn này). Đó là bản văn xoay quanh Tam Bảo kết hợp với các đức tính của Tứ Thánh Đế và Niết-bàn. Ví dụ: *“Catusacca paṭivedha pariyantaṃ Buddhaṃ saraṇaṃ gacchāmi”* (mở đầu)... *“Sabbavipākavaṭṭa dukkhakkhaya nibbānadhatu sacchīkaraṇa pariyantaṃ Saṅghaṃ saraṇaṃ gacchāmi”* (kết thúc). Trong suốt năm tháng tụng niệm cúng dường không ngủ đó, mỗi ngày Ngài tụng được 14.400 biến. Tổng cộng sau năm tháng, số lần tụng niệm đạt đến 2.116.800 biến. Thật là một bậc có sự tinh tấn vô song. Dẫu nói rằng thời gian tụng niệm không ngủ là năm tháng, nhưng kể từ khi khởi ý nguyện đền ơn này, không biết Ngài đã mất bao nhiêu thời gian để suy tư, trăn trở và chấp bút viết nên bản đại kinh Quy y đó. Khi đặt một quá trình trì tụng cúng dường kiên trì, bền bỉ và hết lòng trong một thời gian dài đến thế vào trong bối cảnh của việc thực hành giáo pháp (patipatti), chúng ta hẳn sẽ đồng ý rằng không thể dùng lối tư duy thông thường để lý giải. Còn khi đi tìm câu trả lời cho việc này, góc nhìn của mỗi người chắc chắn sẽ không giống nhau. ## TRANG 376 Những người có đức tin mạnh mẽ (saddhā), khi càng thực hành thiền định (kammaṭṭhāna), họ càng thấy rõ ân đức của Đức Phật. Ngay cả các bậc Đại Trưởng lão trong tạng Apadāna Pāḷi cũng thường xuyên ca ngợi ân đức Phật. Khi tu tập hơi thở (ānāpāna), họ sẽ tuần tự thấu thị một loạt các pháp Bồ-đề phần (bodhipakkhiya) như bốn Niệm xứ (satipaṭṭhāna/tứ niệm xứ). Khi đó, họ không khỏi tán dương trí Tuệ Giác Ngộ (sabbaññuta ñāṇa/nhất thiết chủng trí) vô thượng. Trong các bộ *Visuddhimagga* (Thanh Tịnh Đạo) và *Sammohavinodanī Aṭṭhakathā* (Chú giải Phân Biệt Lập Đạo), có chỉ dạy rằng từ việc tụng niệm có thể dẫn đến sự tư duy (tiệm quán), và từ sự tư duy có thể dẫn đến việc chứng đắc Tam Pháp Ấn (lakkhaṇāye). Việc tụng niệm không hề vô ích. Do đó, trong *Saggāthāvagga Saṃyutta* (Tương Ưng Bộ - Chương Có Kệ), có vị Trưởng lão tụng kinh (Sajjhāyaka) đã đắc quả A-la-hán trong khi quán xét sự diệt đi của âm thanh mình vừa tụng. Có thể nhìn nhận theo hướng tích cực như vậy; tuy nhiên, việc tụng niệm vẫn không mang lại lợi ích to lớn bằng việc thực hành thiền quán (bhāvanā). Theo quan điểm của những hành giả đang trực tiếp thực hành, họ cho rằng việc dành toàn bộ thời gian để điều phục thân và tâm này vào việc tụng niệm là một sự trì hoãn hoặc chuyển hướng đối tượng, làm chậm bước tiến đến sự chứng ngộ (paṭivedha) của Thiền sư hoặc các lợi ích to lớn khác của Giáo pháp. Điều này được ví như một người khi đang hành thiền, bỗng khởi tâm đức tin nên đứng dậy nấu một thúng gạo để dâng cúng thực phẩm lên Đức Phật. ### Phật giáo là điều thế giới biết đến về Miến Điện Trong tiểu sử của Thiền sư (Ledi Sayadaw), chương về hoằng pháp nước ngoài là một chương vô cùng đặc biệt và xuất sắc. Không chỉ người dân Miến Điện mà ngay cả người ngoại quốc cũng được nương nhờ ân đức của Ngài. "Hiệp hội Hoằng pháp Phật giáo nước ngoài" được thành lập từ ngày 15 tháng Nayon năm 1275 (Lịch Miến Điện). Với trung tâm tại Mandalay, hiệp hội đã thành lập được hơn 20 chi nhánh tại các thành phố khác nhau. Số vốn ban đầu khoảng 100.000 Kyat. Các tờ báo cũng như cả nước đều hết lòng ủng hộ. Vào thời điểm đó, tại Nga và các nước châu Âu đã có rất nhiều người nghiên cứu và tinh thông văn học Pāḷi. Họ đã bắt đầu nghiên cứu từ hơn một trăm năm trước. Ngay từ năm 1850, tại thành phố Saint Petersburg của Nga (nay là Leningrad), các giáo sư đã chủ trì việc biên soạn từ điển Pāḷi - Nga. Tại châu Âu, năm 1875, từ điển Pāḷi - Anh của Childers cũng đã được xuất bản. ## TRANG 377 **Bản dịch Pháp cú (Dhammapada)** sang tiếng Latinh (1855), **Chú giải Bổn sanh (Jātaka Aṭṭhakathā Pāḷi)** (6 tập bằng chữ La-mã, 1877), **Luật tạng (Vinaya Pāḷi)** gồm 5 bộ (1879), v.v. đã được nghiên cứu và xuất bản tại châu Âu ngay cả trước khi Miến Điện có các bản in sách Pāḷi tương ứng. Vào năm 1881, các học giả Pāḷi đã cùng nhau thành lập Hiệp hội Văn bản Pāḷi (Pali Text Society - PTS) tại London. Hiệp hội Hoằng pháp Phật giáo Anh quốc và Ireland cũng được thành lập vào năm 1907, bắt đầu thảo luận về Phật giáo thông qua các tập san và tạp chí. Người châu Âu không chỉ tiếp cận Phật giáo từ góc độ tôn giáo, mà còn nghiên cứu Pāḷi như một ngôn ngữ văn học thượng cổ của thế giới. Từ bộ *Mahāvaṃsa* (Đại Thống Sử) hay các sắc dụ trên đá của vua Asoka, họ đã dày công nghiên cứu văn học Pāḷi như cách đọc minh văn hay chạm khắc đá, tỉ mẩn dò dẫm cho đến khi đạt được thành tựu là biên soạn nên những bộ từ điển Pāḷi danh tiếng thế giới. Từ việc nghiên cứu như một nền văn học cổ, họ đã nếm trải được những tinh hoa vô giá của Phật giáo, từ đó càng thôi thúc mong muốn tìm hiểu sâu hơn. Họ tin tưởng và chấp nhận rằng đây là tôn giáo và văn học mang lại hạnh phúc thực sự cho đời sống con người; tuy nhiên, họ vẫn chưa đạt đến mức độ có thể vận dụng và dịch thuật các bản văn, kinh điển Pāḷi của Đức Phật một cách hoàn toàn chuẩn xác và tinh tế. Thời điểm đó trùng hợp với lúc ánh sáng của các bộ *Dīpanī* (Cẩm nang/Minh giải) khác nhau của Ngài Ledi Sayadaw đang tỏa sáng rực rỡ tại Miến Điện. Họ đã tin tưởng và trông cậy nơi Ngài như một bậc vĩ nhân có khả năng giải mã những thuật ngữ khó và sâu sắc trong văn học Pāḷi của Phật giáo. Họ đã gửi thư từ tới tấp để yêu cầu Ngài giải thích các thuật ngữ Pāḷi, những điểm hóc búa trong Phật giáo và đặc biệt là những điểm chưa thông suốt trong Vi Diệu Pháp (Abhidhamma). Những lời giải đáp nhận được đều được họ đăng tải trên các tập san, tạp chí. Danh tiếng của Ngài đã lan rộng khắp thế giới. Ngài cũng đã viết các tác phẩm bằng tiếng Pāḷi như: **Yamaka Paccaya** (Y-mạch giải), **Niyāma Dīpanī** (Quy luật minh giải) cùng bản sớ giải tì-ca (ṭīkā), bản sớ giải cho **Mūlapariyāya Sutta**, **London Pāḷi Devī Pucchā** (Giải đáp các câu hỏi từ PTS London), **Sāsana Sampatti Dīpanī**, **Sāsana Vipatti Dīpanī**, **Paṭṭhāna Desa Dīpanī**, v.v. (Nên tìm kiếm và công bố 2 bản sớ giải tì-ca). Ngài U Ñāṇa của chùa Masoeyein đã đứng ra dịch sang tiếng Anh các bộ Dīpanī phù hợp với người châu Âu. Những bộ Dīpanī của Thiền sư (Ledi Sayadaw) thực chất chính là những bộ Đại Chú Giải của Miến Điện. ## TRANG 378 Quan điểm của Ngài Ledi Sayadaw về khoa học thật đáng kinh ngạc, dù thời đó khoa học chỉ mới bắt đầu phát triển. Ngài cho rằng những giáo lý cực kỳ sâu sắc và vi tế của Abhidhamma rất phù hợp với các nhà khoa học có tầm nhìn rộng mở. (Hãy xem các lời giáo huấn về hoằng pháp nước ngoài của Ngài). Khi đó, Hiệp hội Pāḷi Anh quốc chuẩn bị biên soạn một bộ từ điển Pāḷi. Bộ từ điển Pāḷi - Nga bắt đầu từ năm 1850 cũng vì nhiều lý do mà đến năm 1918 vẫn chưa hoàn thành. Bản thân Hiệp hội Văn bản Pāḷi cũng lập kế hoạch thu thập các thuật ngữ để viết một bộ từ điển. Họ đã yêu cầu Hiệp hội Hoằng pháp nước ngoài do Ngài Ledi Sayadaw đứng đầu giúp đỡ soạn thảo một bộ từ điển Pāḷi lớn. Vì vậy, để có thể thực hiện trọng trách lớn lao này, Ngài đã cầu trợ đức tới chùa Masoeyein ở Mandalay, nơi có nhiều vị Giáo thọ sư (Nāyaka) giảng dạy nhất. Ngôi chùa đó là nơi tốt nhất về phương diện giảng dạy và kỷ luật. Các vị Trưởng lão lãnh đạo ở đó còn tinh thông cả tiếng Sanskrit (Phạn) và tiếng Anh để phục vụ công việc. Có một lần, khi đang lưu trú tại chùa Masoeyein để bàn thảo về việc biên soạn từ điển, ở tầng dưới của ngôi chùa, vị giáo thọ sư trẻ tuổi U Suriya (nay là bậc Abhidhaja Mahā Raṭṭha Guru duy nhất, 96 tuổi) và một vị tỳ-khưu pháp sư (Dhammakathika) là đệ tử của Ngài Ledi Sayadaw đang trò chuyện cùng nhau. Ngài U Suriya nói: "Bạch Đại đức, nghe nói quý Ngài thuyết pháp hay lắm. Xin hãy thuyết cho con một thời pháp để con sinh lòng chán ghét sinh tử (saṃvega)." Vị tỳ-khưu pháp sư nói: "Ngài thông thạo các kinh điển Abhidhamma đến mức này mà lại không biết sợ hãi hiểm họa luân hồi sao?" Ngài U Suriya đáp: "Vì không sợ nên con mới ở như thế này đây, thưa Ngài." Vị kia bảo: "Vậy thì phải thuyết cho biết sợ mới được," rồi thuyết giảng về những điều đáng kinh sợ trong khoảng 15 phút. "Thế nào... thưa Ngài, Ngài đã thấy sợ chưa?" Vị kia hỏi. Ngài U Suriya đáp: "Dạ chưa, con vẫn chưa thấy sợ ạ." Thế là vị pháp sư lại thuyết tiếp thêm nửa giờ nữa. "Con chẳng thấy làm sao cả ạ," Ngài U Suriya vẫn đáp như vậy khiến vị pháp sư đành phải kết thúc buổi thuyết pháp trong sự hụt hẫng. Sau đó, vị pháp sư đi trình lại với Ngài Ledi Sayadaw. Ngài Ledi Sayadaw liền gọi Ngài U Suriya đến và nói: "Vị Giáo thọ sư trẻ của chùa Masoeyein à... Vị pháp sư này quả thật không biết đến tâm tính của người nghe (veneyyajjhāsaya) rồi. Này U Suriya, với lứa tuổi và kiến thức này thì xin đừng để lòng kinh sợ (saṃvega) khởi lên vội, ta xin con đấy... ## TRANG 379 “Tại hạ và các vị vẫn còn rất nhiều Phật sự cần chung tay gánh vác để xiển dương giáo pháp Pariyatti. Nếu đã ngoài năm mươi mà tâm chưa khởi sinh sự kinh cảm (saṁvega) thì ta sẽ thuyết giảng cho. Bây giờ, hãy nỗ lực hoàn thành bộ đại từ điển Pāḷi này đi đã,” Ngài dạy như thế. Bộ đại từ điển Pāḷi này được khởi soạn từ năm 1278 (Miến lịch) với sự hỗ trợ của hơn ba trăm đệ tử thông tường cổ ngữ, chia làm bốn phần. Trong quá trình thực hiện, dự án đã đối mặt với muôn vàn khó khăn. Sau hành trình ròng rã hai mươi năm, đến năm 1298, bộ từ điển đã thành hình với 1134 trang, gồm bốn tập đại thư. Về sau, do nhiều duyên sự khác nhau, công trình vĩ đại này đã phải tạm dừng. (Hiện nay, phần việc còn dang dở đang được Hội Phật giáo tiếp tục triển khai, và chắc chắn trong tương lai gần, một bộ đại từ điển Pāḷi hoàn chỉnh sẽ sớm ra đời tại Myanmar.) Nhờ ân đức của Ngài mà Hội Pāḷi Text Society tại Anh quốc cũng đã hoàn thành bộ Từ điển Pāḷi-Anh (1921-25). Các công trình như Concordance to the Pāḷi Tipiṭaka hay Critical Pāḷi Dictionary (1952) cũng đã và đang tiếp tục được xuất bản. Thực tế mà nói, các công trình từ điển Pāḷi đang được thực hiện trên khắp thế giới ngày nay không sai khi gọi là di sản mà Ngài đã gieo mầm. Thậm chí cho đến tận bây giờ, Hội Pāḷi Text Society ở Anh vẫn đang thỉnh cầu sự trợ giúp từ các bậc trưởng lão uyên thâm tại Myanmar để chuyển ngữ các bản Chú giải (Aṭṭhakathā) sang tiếng Anh. Những ai tại Myanmar cho rằng “chỉ khi đọc Phật pháp bằng tiếng Anh mới hiểu thấu” thật sự cần phải suy ngẫm lại nguồn cội của vấn đề này. .. Ngay cả cặp vợ chồng học giả Pāḷi lừng danh Âu châu là Rhys Davids (được mệnh danh là các vị thiên nữ Pāḷi của London) thì niềm tin và cách tiếp cận Phật giáo của họ cũng chưa thực sự kiên định, các tác phẩm của họ đôi khi vẫn còn sự chông chênh. Họ đã dành cả cuộc đời để cố gắng uốn nắn, khiên cưỡng đưa giáo lý Vô ngã (Anatta) vào cái khuôn đúc của cái Ngã trường tồn (Atta) vốn hoàn toàn đối nghịch. ### Bậc Đại Nhân với Thần Lực Tùy Tâm Liên quan đến việc thực hành (Paṭipatti), các bậc xuất gia thường giữ vô cùng kín đáo. Đó chính là đức hạnh thiểu dục (appicchatā). Hơn nữa, giới luật cũng rất nghiêm khắc trong vấn đề này. Đôi khi, mọi người chỉ biết được đôi chút thông qua các thị giả thân cận. (Về khả năng thấu thị tâm người khác, xin xem ở chương về Ngài Nibbinda Sayadaw. Về khả năng viết lách trong đêm tối không cần đèn, xin xem ở chương về Ngài Thegyut Taung Sayadaw.) Những người đệ tử có đủ khả năng nhận diện được thực lực của bậc Thầy cũng rất hiếm; và những người ## TRANG 380 thành thật, ngay thẳng, không thêu dệt theo đức tin cá nhân lại càng hiếm hơn nữa. Ở đây, chúng ta có thể được biết và khởi tâm tịnh tín về một phần năng lực tu chứng của Ngài thông qua lời kể của cư sĩ Sayagyi U Thet (thường gọi là Pyawbwe Sayagyi). Ông là người đã từng theo Ngài lặn lội khắp các cánh rừng để hành thiền suốt mười năm ròng. Chắc chắn rằng lời kể của ông không hề có sự thêu dệt hay phóng đại, bởi ông vốn nổi danh là một bậc thánh quả A-na-hàm (Anāgāmī). Chính Ngài Sayadaw đã từng bảo các vị Tăng trong chùa đến học đạo với cư sĩ U Thet. Ông là vị đại đệ tử được Ngài đặc biệt tin cậy và quý trọng. Có một lần, khi ông đến đảnh lễ Ngài... “Bạch Thầy, trong số các đệ tử của Thầy, con là người kém cỏi nhất về học thuật kinh điển (Pariyatti). Theo lời dạy dạy của Thầy, công cuộc hoằng pháp hướng dẫn thiền định (Kammaṭṭhāna) là một Phật sự vô cùng tinh tế và đại sự. Do đó, khi nào con có điều chi cần thưa hỏi, xin Thầy hãy hoan hỷ lân mẫn quang lâm chứng dự, làm nơi nương tựa và ban lời giáo huấn cho con,” ông thưa như vậy. Ngài liền ban lời khích lệ: “Ngay cả đến lúc ta nhập Niết-bàn, ta cũng sẽ không bỏ mặc con đâu.” (Ý nghĩa của những lời đối thoại này vô cùng sâu sắc, chỉ có Ngài và cư sĩ U Thet là thấu hiểu trọn vẹn.) Ngày nay, có rất nhiều trung tâm thiền đang giảng dạy theo phương pháp của cư sĩ Sayagyi U Thet, như: Thiền viện Hanthawaddy (Yangon), Naung-na-sar-gi Reiktha, Thiền viện Ledi Mu, Thiền viện của Sayagyi U Ba Khin (Inya Myaing), và Thiền viện Mahabodhi (Mandalay), v.v. Trong số rất nhiều câu chuyện về Ngài được lưu truyền qua cư sĩ U Thet, tôi xin được trích dẫn hai điểm tiêu biểu. Một ngày nọ, Sayagyi U Thet đã kể cho các thiền sinh của mình là Daw Phwar Yin (chị của U Ba Soe) và người cháu là U San Aye (hiện vẫn còn sống) về việc Ma vương thường đánh lừa hành giả như thế nào thông qua trải nghiệm thực tế của chính ông. Khi đó, vị tên là U Ba Soe mỗi khi vào thiền đều gặp các chướng ngại như tiêu chảy, phát sốt, chóng mặt; cuối cùng chỉ khi vừa đi vệ sinh vừa niệm mới có thể hành trì được. Câu chuyện được kể để ám chỉ trường hợp đó, và trong đó có một tình tiết liên quan đến Ngài Ledi Sayadaw vô cùng hy hữu, gần như khó tin. Một lần nọ, theo lời thỉnh mời của ông chủ đồn điền cao su U Boe Thin ở thị trấn Shwegyin, cư sĩ U Thet đã đến hướng dẫn thiền nhiều ngày tại một giảng đường ở đó. Lúc bấy giờ, Ngài Ledi Sayadaw đang cư ngụ tại Monywa. Trong thời gian này, Sayagyi U Thet gặp rất nhiều sự quấy nhiễu từ các hạng thiên ma, thổ thần (nat). Tuy nhiên, Ma vương không bao giờ có thể thắng được bậc Giác Ngộ. Một buổi chiều nọ, Sayagyi đi bộ ra ngoại thành, càng đi ông càng bị lạc đường. ## TRANG 381 Càng đi cảnh vật càng hoang vu, rừng rậm bủa vây, khiến ông không thể đi tiếp mà phải ngồi xuống dưới một gốc cây đa. Mặt trời đã sắp lặn, không bóng người qua lại, đường về cũng chẳng rõ. “À, đây chắc chắn là tác quái của bọn thuộc hạ Ma vương rồi. Chẳng lẽ ta không phải là người cầu giải thoát, mà lại là kẻ tham cầu thần lực để luân hồi sao? Thôi thì cứ lấy chuỗi ra mà niệm Phật thôi,” nghĩ vậy, ông rút xâu chuỗi trong túi ra và định tâm niệm danh hiệu Phật (Guṇadhore). Chẳng bao lâu sau, ông chợt thấy một người phụ nữ đi kiếm củi ở gần đó nên rất đỗi vui mừng. “Nếu mình cứ chỉ chú tâm vào sự sinh diệt của danh sắc thì e rằng chẳng thể tìm đường về lại am được,” ông thầm nghĩ và mỉm cười cho cái ý định nhất thời của mình. Ông hỏi đường người phụ nữ và đi cùng bà ta. Một lát sau khi bà rẽ lối khác, ông còn phải thuê xe ngựa đi thêm một quãng dài nữa mới về tới nơi. “Chà, Ma vương này thật khéo bày trò, thay vì cho một người nam dẫn đường thì lại cho một người nữ đi cùng vào lúc hoàng hôn thế này,” ông vừa nghĩ vừa mỉm cười. Tại giảng đường của U Boe Thin, dù trước đó đã gặp không ít sự quấy nhiễu và khó khăn nhưng ông đều vượt qua được. Tuy nhiên, việc bị lạc đường hôm nay khiến ông cảm thấy vô cùng áy náy. Đêm đó, sau khi dâng đèn cúng Phật và làm lễ bái, ông hướng về phương trời nơi Ngài Ledi Sayadaw đang ngự và đảnh lễ thưa rằng: “Bạch Thầy kính mến, chuyện xảy ra với con hôm nay thật sự khiến con cảm thấy khó lòng kham nhẫn. Con đã lầm lỡ nương tựa vào sự nhận biết của nhãn thức và tưởng tri. Dù nhờ chút định tâm mà tìm được lối thoát, nhưng trong lòng vẫn chưa thấy thông suốt. Cúi xin Ngài ban lời giáo huấn để sau này con không còn gặp phải tình cảnh tương tự nữa.” Ngay lập tức, Ngài Sayadaw bước vào phòng thờ Phật và ngồi xuống chỗ đã trải sẵn. “Này cư sĩ U Thet, mỗi khi gặp bất kỳ khó khăn hay tâm khởi sinh sự nghi ngại, điều đầu tiên cần làm là hãy tập trung rải tâm từ (Mettā) thật mạnh mẽ. Sau đó, cứ tiếp tục quán chiếu sự sinh diệt của danh sắc (Rūpa-Nāma) như lộ trình vốn có,” dạy xong, Ngài liền rời đi. ### Trí Tuệ Như Sư Tử, Thành Tựu Lộ Trình Thiền Định Sự việc được kể lại sau đây cũng là một câu chuyện vô cùng hy hữu. Lúc bấy giờ, Sayadaw đã bước vào tuổi già sức yếu, lại thêm chịu ảnh hưởng nặng nề từ việc lao tâm khổ tứ biên soạn kinh sách nên đôi mắt bị đổ bệnh nghiêm trọng. Sayadaw đã đến vùng Bahan ở Yangon để lưu trú và điều trị mắt. Khi đó, Sayagyi U Thet từ làng Pyawbwe-gyi ở Dala cũng lặn lội đến để đảnh lễ và thăm viếng Sayadaw. "À, nhóm Sayagyi U Thet đấy hử? Quý hóa quá. Đừng về vội nhé. Tiện dịp các đệ tử giỏi đều tụ hội đông đủ ở đây, mà cũng lâu rồi ta chưa cúng dường hoa sai, vật phẩm lên đại tháp Shwedagon. Sayagyi U Thet vẫn nán lại được chứ?" — Sayadaw phán như vậy, rồi bảo người viết thư báo tin về nhà để cụ yên tâm ở lại chờ đợi. Khoảng thời gian chờ đợi kéo dài tới hai mươi ngày. Nguyên do là để dâng cúng vật phẩm, các đệ tử lớn phải đặt thợ đúc đồng làm một chiếc mâm đồng khổng lồ có đường kính rộng tới chín cubit (khoảng hơn 4 mét). Họ cũng phải may một chiếc lọng lớn chín tầng, rộng chín cubit, làm bằng lụa trắng và có đính các dải tua rua xung quanh. ## TRANG 382 Khi mọi thứ đã hoàn tất, trên chiếc mâm đồng lớn, họ chuẩn bị vật thực cùng với chín loại món ăn chay, chín loại trái cây, chín loại bánh và chín loại mứt; trên chiếc lọng chín tầng, mỗi tầng cũng được kết một loại hoa. Sau khi tất cả đã được sắp xếp xong xuôi, họ đến đảnh lễ trình báo lên Ngài Thiền sư. Vào một buổi sáng lúc bốn giờ rưỡi, Ngài Thiền sư cùng với khoảng mười lăm đệ tử mang theo các món đồ lễ đi lên đỉnh đồi Shwedagon. Khi đến sân bảo tháp, tại một không gian trống trải không có mái che hay vật cản ở chân bảo tháp, các đệ tử vây quanh chiếc mâm đồng lớn, ngồi xuống và cùng nhau nâng giữ nó. Chiếc lọng chín tầng cũng được đặt lên trên mâm. "Này các con, đây là một đại thí vô cùng nan đắc. Các con phải có tâm hân hoan với những công đức mà mình đã dày công chuẩn bị. Hãy hướng tâm một cách thanh tịnh, sâu sắc và nhiệt thành lên ân đức của Đức Thế Tôn. Các đệ tử đang giữ mâm cũng hãy giữ thật nhẹ nhàng, khi mâm nhấc bổng lên thì hãy thả lỏng tay và nương theo đó mà nâng lên. Giống như khi người ta thả đèn trời vậy," Ngài dặn dò như thế rồi tự mình dùng hai tay chạm vào chiếc mâm, nhất tâm hướng về Đức Phật. Tất cả đều im lặng. Khoảng nửa giờ sau, khi ánh bình minh vừa ló dạng, các tua rua lụa trên lọng bắt đầu lấp lánh và tung bay một cách oai hùng. Chiếc mâm đồng đặt trên lòng bàn tay cũng từ từ nhấc bổng lên, khiến mọi người phải nương tay theo để đỡ. Những người khiêng mâm đang ngồi cũng phải đứng dậy để giữ. Họ giơ tay cao hết mức có thể, và rồi chiếc mâm đồng chín tạng cùng chiếc lọng chín tầng từ từ bay vút lên bầu trời bao la. Chiếc lọng lụa lấp lánh dưới ánh rạng đông trông đẹp đẽ và thanh khiết như một bảo tháp bạc. Tất cả mọi người đều ngỡ ngàng, dõi mắt nhìn theo cho đến khi mất hút. Chỉ đến khi không còn nhìn thấy gì nữa, họ mới rời khỏi sân tháp Shwedagon để đi xuống. Về phần Ngài Thiền sư, Ngài đã đọc bài thơ *Tey-htat* (thể thơ bốn đoạn) cho cư sĩ Saya Thet Gyi và các đệ tử đi cùng nghe: "Vào thời cuối của giáo pháp, chúng sinh ra đời nối tiếp nhau... Nhờ năng lực của trí tuệ mãnh sư, con đường thiền định đã hoàn tất, làm chủ trọn vẹn năm pháp tự tại (*vasībhava*)." Những tình tiết này được ghi lại đúng theo lời kể của cư sĩ Saya Thet Gyi. ## TRANG 383 Các bậc Thánh nhân thực hành theo đúng giáo pháp bất khả tư nghì của Đức Phật bất khả tư nghì, nên năng lực Giới, Định, Tuệ của các Ngài cũng là bất khả tư nghì. Kẻ ăn xin không thể nào hình dung nổi sự uy nghiêm và phước báu của một vị Chuyển Luân Thánh Vương. Người thấy rõ thì thấy cả người thấy và người không thấy. Người không thấy thì chẳng thể thấy được dù là người thấy hay người không thấy. (**Trích kệ ngôn của Trưởng lão Vappa.**) ### Chư thiên thỉnh mời – Đất rung chuyển – Chuyến hành trình cuối cùng Ngài Thiền sư chỉ ở lại hạ tại trú xứ Ledi (Monyway) khoảng 13 hạ theo kiểu đi rồi lại về. Những hạ còn lại, Ngài lưu trú tại các địa điểm rừng núi đã nêu và các nơi như: thị trấn Myingyan, Minhla (Phan-tan Taw-ya), Thapaung, chùa Nyaung-kon ở Yangon, Kyaik-waing, Ledi San-kyaung ở Mandalay, San-kyaung và tự viện Jetavan ở đồi Sagaing, thị trấn Myittha, mỏ khoáng sản Katun, v.v. Từ năm 1283 (Dl. 1921), Ngài ở lại thị trấn Pyinmana nhiều nhất. Lúc này Ngài đã già yếu, sức khỏe không còn tráng kiện như xưa. Dù sắc diện vẫn luôn rạng rỡ, vàng sáng nhưng da dẻ đã bắt đầu nhão đi. (Tổng số hạ Ngài cư ngụ tại các trú xứ rừng núi — *Aranyavāsi* — là 21 hạ). Hạ năm 1285 (Dl. 1923), Ngài lưu trú tại tu viện của ông bá hộ U Lann và bà Daw Ma Ma Lay ở Pyinmana. Lúc này Ngài đã 77 tuổi, và đây là năm sức khỏe của Ngài suy giảm nghiêm trọng nhất. Bắt đầu từ khoảng tháng Nayon (tháng 5-6) năm đó, thân xác Ngài dần suy sụp và rệu rã; dù đã dùng nhiều loại thuốc khác nhau nhưng cũng chỉ thuyên giảm được đôi chút. Dù đang trong tình trạng lâm trọng bệnh như vậy, Ngài vẫn dõng dạc tuyên bố: "Này con, Dhammacārī! Bây giờ ta sẽ viết những đúc kết về Níp-bàn. Nếu viết được ngay bây giờ, nó sẽ làm sáng tỏ hơn nhiều so với những pháp về Níp-bàn trước đây. Mong sao việc ăn uống được điều độ để ta có thêm sức lực." Thân hình Ngài lúc này chỉ còn thoi thóp. Dù đã dành một phần tư quãng đời mình cho việc viết lách, Ngài vẫn chưa thấy thỏa mãn. Ngài Thiền sư đã phá vỡ mọi kỷ lục của các bậc giáo thọ sư soạn phẩm. Ngài đã viết từ những bài học vỡ lòng (*Thin-bong-gyi*) cho đến pháp tối thượng Níp-bàn rồi còn gì. Đến tháng Waso (tháng 6-7), tình trạng càng trở nên tồi tệ hơn. Dù Ngài chưa từng nói "ta đang không khỏe", nhưng các đại đệ tử từ khắp nơi đã bắt đầu lục tục kéo về. Có Ngài U Tiloka ở đồi Thay-kyut, Ngài U Paduma, Ngài U Vaṇṇita, và cư sĩ Ledi Pandita U Maung Gyi... v.v. "Nếu ta có lâm bệnh, hãy tụng bài kinh *Paṭṭhāna Pañcāvāra* lớn trong Tạng Vi Diệu Pháp cho ta nghe. ## TRANG 384 Ta muốn được lắng nghe âm thanh của kinh *Paṭṭhāna*," nghe lời phán trước đây của Ngài, các đại đệ tử cùng nhau bàn bạc nhỏ nhẹ. Một ngày trước khi kết thúc tháng Waso đầu tiên (năm đó có hai tháng nhuận Waso), trong lúc Ngài Thiền sư đang dùng trà, một trận động đất xảy ra làm rung chuyển cả tu viện. Ngài hỏi các đại đệ tử: "Việc này có ý nghĩa gì, các con có biết không?". Trong lúc tất cả đều im lặng, Ngài phán rằng: "Đó là lời thưa rằng: Việc thuyết giảng pháp Vi Diệu ở nhân gian đã đủ mãn nguyện rồi, giờ đã đến lúc phải đến thuyết giảng cho chư Thiên và Phạm Thiên." Thiền sư Mohnyin nhận được điện tín cũng đã đến Pyinmana. Ngài dùng trán chạm vào chân của Thiền sư Ledi và đọc to tác phẩm "Anatta-dīpanī" (Minh sát về Vô ngã) do Ngài soạn. "Phải, tốt lắm con ạ. Khi nghe pháp về Vô ngã này, ta như nhìn thấy hình bóng Đức Cha lành (Đức Phật) đang thuyết kinh Vô Ngã Tướng (*Anattalakkhaṇa Sutta*) và lòng tràn đầy niềm tịnh tín. Cảm giác như chính Đức Thế Tôn đang ngự đến đây vậy. Ta nghe như vang bên tai tiếng Đức Thế Tôn đến ngự ở đầu giường và phán rằng: 'Này người con yêu quý, con đã thuyết giảng xong ở nhân gian rồi, giờ đã đến lúc đi thuyết cho chư Thiên và Phạm Thiên'. Phải rồi, nếu ta không còn nữa thì cũng đừng nản lòng, đã có những lời dạy trong sách của ta đây. Hãy cố gắng duy trì giáo pháp Minh sát (*Vipassanā Sāsana*) này cho thật tốt." Ngài dặn dò như vậy. Vào đúng 12 giờ trưa ngày rằm, đất lại rung chuyển một lần nữa. Lúc đó, đích thân Ngài Thiền sư truyền lệnh cho các đệ tử như Ngài U Tiloka bắt đầu tụng kinh *Paṭṭhāna*. Bốn vị đại đệ tử thay phiên nhau tụng. Đến 2 giờ 30 phút chiều, khi bài kinh *Pañcāvāra Pāḷi* vừa kết thúc, cũng là lúc âm thanh kinh *Paṭṭhāna* vừa dứt, thần thức của Ngài Thiền sư cũng đồng thời diệt tận (viên tịch). Một sự trùng hợp đến kỳ lạ. Năm đó, Ngài nói Ngài sẽ đi đâu đây? Bảy ngày sau, kim thân của Ngài được di dời từ tu viện của ông U Lann sang Ledi San-kyaung (nay là chùa U Ñeyya). Trận động đất thứ ba lại xảy ra. Một cây xoài già khô héo cạnh cầu thang tu viện, vốn đã rụng hết vỏ sần sùi, đột nhiên trong ngày hôm đó lại đâm chồi nảy lộc xanh tốt và nở hoa rực rỡ khắp cả cây như đang trong lễ hỏa táng tháng Tabaung (tháng 3) vậy, quả là một điều hiếm thấy. Theo tục lệ thường xảy ra khi các vị cao tăng viên tịch là sẽ có sự tranh giành kim thân, các đệ tử và thí chủ từ Monywa đã kiên quyết đến xin rước kim thân Ngài về. Người dân Pyinmana không đồng ý, họ phải bố trí cảnh sát canh giữ. Các đệ tử từ Monywa đã mời cả người em ruột của Ngài là Ngài U Kitti cùng đi để xin rước kim thân. Khi đó, một vị luật sư ở Pyinmana tiến đến gần kim thân và thưa với Ngài U Kitti rằng: "Bạch Ngài, chúng con tổ chức cúng dường trang nghiêm thế này, Ngài có thấy hài lòng không ạ?". Ngài U Kitti trả lời: "Tốt lắm thí chủ, tôi rất hài lòng." Chớp lấy lời nói đó, vị luật sư liền nói: "Ngay cả em trai của Ngài Thiền sư cũng đã hài lòng với việc cúng dường ở Pyinmana như thế này..." Phía Pyinmana lập tức bắt bẻ câu nói đó: "Ngay cả em trai ruột của Sayadaw còn bảo vừa lòng với việc tổ chức tang lễ ở Pyinmana như thế này, thì chúng ta việc gì phải theo ý nguyện của ai khác nữa". Trước lý lẽ đó, người dân Monywa đành phải chấp nhận thua cuộc. ## TRANG 385 Sau sự việc, mọi người quay sang trách móc, cằn nhằn U Kitti. Bản thân U Kitti vì một lời nói hớ của mình mà bị người ta gài bẫy, lừa gạt, nên ngài chỉ biết trùm chăn kín đầu nằm buồn bã, tủi thân. Khi trở về đến chùa Depeyin, vì quá u uất, ngài đã tự kết liễu đời mình bằng một sợi dây rồi viên tịch. ### Các bậc Thánh giả cúng dường nhục thân Rằm tháng Táp-tuâng năm đó, lễ tang được tổ chức trọng thể suốt bảy ngày đêm. Các Toàn quyền, Đặc phái viên Anh quốc cùng các bậc Trưởng lão từ khắp nơi đã vân tập đông đủ. Tỳ-khưu **U Nu**, người đang ẩn tu tại vùng Ye-sa-gyo, cũng có mặt tại lễ tang. Vì có duyên lành được nghe Ngài Đại đức thuyết pháp tại Sagaing, vị ấy đã khởi tâm tịnh tín và xuất gia, sau đó tận tụy hầu hạ và cung phụng Ngài, trở thành bậc trưởng tử kế thừa trọn vẹn cả pháp hành (Paṭipatti) lẫn các hạnh đầu đà (Dhuṭanga). Vị này vốn nổi danh là một bậc A-la-hán, pháp danh là Ngài **Paññāsīha** (Panya-thi-ha). Ngay từ khi Ngài Ledi Sayadaw mới lâm trọng bệnh, vị ấy đã đến chăm sóc chu đáo. Dù Ngài Ledi có ý muốn dùng thuốc, nhưng mọi người cho rằng không hợp với bệnh tình nên ngăn cản; khi đó, Tỳ-khưu **U Nu** thường lén lút dâng thuốc cho Ngài mà không để ai biết. Khi bị hỏi, vị ấy chỉ đáp: “Do Ngài Đại đức sai bảo”. Vị ấy trì bình khất thực, không sống trà trộn với đám đông, mà trì hạnh đầu đà lộ địa (Rukkhamūla), chỉ trú ngụ dưới gốc cây. Trong vòng vây của những nhân vật nổi tiếng, vị ấy thường không được mấy ai để tâm đến. Trong ngôi tháp gạch tại tu viện đó, người ta đã chuẩn bị sẵn các loại củi thơm để làm lễ trà tỳ vào ngày trằm. Tuy nhiên, nhục thân của Ngài không hề thối rữa, trông như đang nằm ngủ một cách tự nhiên, làn da vàng óng và mềm mại, khiến mọi người không nỡ thiêu. Theo tâm nguyện của chư Tăng và Phật tử, nhục thân được đặt trong cỗ quan tài khảm gương dát vàng, tôn trí trên bệ thờ trong tháp gạch, sau đó khóa chặt hai lớp cửa sắt và dùng xi măng trám kín cửa hầm mộ lại. Khoảng ba ngày sau, từ không trung vang lên những tiếng nhạc trời. Đêm đó, mặt đất rung chuyển bởi ba trận động đất liên tiếp. Hơn ba mươi vị Trưởng lão hàng đêm vẫn đang tụ họp gần tháp gạch để thuyết giảng và thảo luận về ân đức của Ngài Ledi Sayadaw. Nghe tin có ánh sáng rực rỡ phát ra từ tháp gạch, mọi người chạy đến xem thì thấy cửa hầm mộ đã bị sụp đổ do động đất, nhưng quan tài và hai ổ khóa vẫn còn nguyên vẹn và lạnh lẽo. Về sau, vì nghi ngờ nên họ đã mở khóa kiểm tra và bàng hoàng thấy nhục thân đã hóa thành tro bụi. Mọi người đều vô cùng đau xót. Báo chí khi đó đưa tin: “Nhục thân của Ngài đã tự phát hỏa bằng hỏa giới (Tejo-dhātu) mà thiêu cháy”. Các Đặc phái viên và quan chức địa phương đã cử cảnh sát điều tra và thám tử đến Monywa, Sagaing, Mandalay để ráo riết tìm kiếm kẻ bị tình nghi. Danh sách hành khách từ Pyinmana trở về Monywa cũng được kiểm tra nghiêm ngặt tại các nhà ga. ## TRANG 386 Dù có người nghi ngờ rằng: “Đây là việc làm của người dân Monywa”, nhưng vẫn không tìm thấy hung thủ. Vì không cam lòng, những vị Tăng và Phật tử thân cận vẫn chưa chịu rời đi. Khoảng ba tháng sau, trong một cuộc họp, vị Đặc phái viên Anh quốc đã đe dọa rằng: “Nếu vụ này không tìm ra thủ phạm, ta sẽ phải trừng phạt U Lan và U Tun Hlaing”. Nghe vậy, Tỳ-khưu **U Nu** đứng dậy phản đối: “Không nên trừng phạt những người vô tội”. Vị quan nói: “Vậy hãy chỉ ra thủ phạm thực sự đi. Nếu không, U Lan và U Tun Hlaing sẽ phải chịu tội”. Khi đó, Ngài **U Nu** mới thư thái đáp: “Thủ phạm chính là tôi”. Mọi người xung quanh đều sửng sốt và nổi giận hỏi: “Sư đã làm điều đó như thế nào?”. Tỳ-khưu **U Nu** vẫn điềm tĩnh và dõng dạc nói: “Ngài Trưởng lão đã dặn dò tôi rằng: ‘Sau khi ta viên tịch được bảy ngày, con hãy thiêu xác ta, đừng bàn bạc với bất kỳ ai cả’. Vì khi tròn bảy ngày điều kiện chưa thuận lợi nên đến giờ tôi mới thực hiện”. Khi bị hỏi: “Còn ai đồng lõa nữa không?”, Ngài đáp: “Tôi đã cầu xin chư thiên đạo đức trợ giúp để hoàn thành tâm nguyện của Ngài Trưởng lão”. Sau đó, Ngài giải thích tường tận cách làm. Vào lúc một giờ sáng đêm đó, sau khi khấn nguyện chư thiên giúp đỡ, Ngài dùng một chiếc xà-beng thúc mạnh một nhát vào cửa hầm mộ; ngay lập tức mặt đất rung chuyển ba lần, gạch đá tự động đổ xuống, và Ngài đã dùng số củi thơm để sẵn gần đó để hoàn tất việc trà tỳ. Nghe xong, toàn thể đại chúng đều kinh ngạc sững sờ, không ai thốt nên lời. Ngài lại nói thêm rằng nếu muốn trừng phạt thì cứ việc, sở dĩ Ngài chưa đi đâu là để chờ nói rõ sự việc này. Các quan viên đáp: “Chúng tôi không muốn trừng phạt Sư”. Tỳ-khưu **U Nu** sau đó chỉ với một chiếc bát và ba tấm y cà-da, lặng lẽ rời khỏi cuộc họp. [Vị thiền sư vốn nổi danh là bậc Thánh giả này cũng đã viên tịch tại Ye-sa-gyo vào thời kỳ Nhật chiếm đóng]. Về sự chứng đắc của bậc ân nhân Ngài Đại đức Ledi Sayadaw, một số bậc trí giả cho rằng Ngài là một “bậc A-na-hàm đắc Thiền định và Thần thông”. Có ý kiến phê bình rằng: Nếu Ngài không dành ba phần tư thời gian và tâm sức vào việc giảng dạy, thuyết pháp và viết lách, mà dành trọn vẹn cả “một đồng bạc” (toàn bộ thời gian và tinh lực) vào công phu Minh sát (Vipassanā), thì hẳn Ngài đã hoàn tất xong phận sự của một vị Sa-môn (đắc quả A-la-hán). Mặt khác, những người có thiên nhãn lại cho rằng: “Ngài Trưởng lão hiện vẫn còn trong vòng luân hồi ba mươi mốt cõi. Người ta thường thấy Ngài với thân tướng hào quang sáng chói, đang thuyết pháp cho vô số thính chúng”. Tuy nhiên, tác giả cuốn Lịch sử các bậc tác giả Ledi lại nhận xét rằng: “Nếu nói rằng bậc ân nhân Đại đức Ledi Sayadaw hiện đang ở cõi Phạm thiên **Vehapphala** (Quảng Quả), thì e rằng ## TRANG 387 số người tin tưởng sẽ không nhiều”. Nhận xét này thật vô cùng chuẩn xác. Tuy không rõ dựa trên căn cứ hay nguồn tin nào mà vị ấy khẳng định như vậy. Thật ra, tất cả những nhận định trên đều có phần tương đồng. Nếu nhìn tổng thể từ văn phong, lối sống, tướng mạo cho đến những lời giáo huấn của Ngài, thì việc gọi Ngài là “Bậc A-na-hàm đắc Thiền và Thông” mới chỉ là cách nói khiêm tốn nhất. Tuy nhiên, việc xác chứng điều này vốn không thuộc thẩm quyền của chúng ta. Ví như người đang bị lửa cháy trên đầu phải lo dập lửa ngay, nếu Ngài có thể hành trì như mũi tên đã bắn đi — không quanh co, không do dự cho đến khi đắc quả **A-la-hán** (Arahattaphala) — thì lịch sử truyền thừa giáo pháp hành trì (Paṭipatti Sāsana) tại Myanmar, nhờ vào tuệ năng và quả lực **A-la-hán** của một bậc trí tuệ cao tột như Ngài, chắc chắn sẽ còn rực rỡ hơn gấp bội phần. [Lược soạn dựa trên các tài liệu: Lịch sử Ngài Trưởng lão Ledi, Lịch sử các bậc danh tăng Ledi, Tiểu sử cư sĩ Sayagyi Thet Gyi, các tập Ledi Dīpanī và những lời giáo giới truyền miệng từ các bậc trí giả tiền bối]. ### Niết-bàn hay bốn đường khổ, hãy chọn nơi mình muốn đến “Khi đã thấy được sự an lạc lớn lao của Niết-bàn, hãy sẵn sàng từ bỏ những lạc thú nhỏ nhen. Khi đã thấy được nỗi khổ cực đại của bốn đường ác đạo, hãy nhẫn nại cam chịu những nỗi khổ cực nhỏ nhoi.” — Ngài Đại đức Mahā Gandhayon Sayadaw, Sagaing. ## TRANG 388 **Cố Hòa thượng Hlay-thin Min-kyaung** (1215 - 1288) Dhammācariya U Htay Hlaing “Khi Cố Hòa thượng Hlay-thin Min-kyaung viên tịch, cả ngôi đại tự Hlay-thin Min-kyaung lẫn ngôi chùa nơi rừng vắng mà Ngài từng trú ngụ đều đồng loạt bốc cháy.” Lời kể này con được nghe từ bậc ân sư là Ngài Hòa thượng Ma-so-yein đáng kính (năm nay đã 96 tuổi), vốn là đệ tử của Ngài. Từ đó, con đã dày công tìm hiểu về tiểu sử của Ngài và may mắn nhận được tập tài liệu từ Ngài U Sobhita ở làng Maung-htaung. Tập tiểu sử này có tên là “Theravaṃsācārakkama-dīpikā”, được ấn hành vào tháng Kason năm 1289 (Phật lịch). Tác giả của tập tiểu sử này là Ngài U Somābhisiiri, Thiền chủ chùa Ma-so-yein, sau này là Thiền chủ rừng Thit-win-chaung ở Sagaing. Ngài là bậc tinh thông **Pāḷi và Sanskrit**. Theo tâm nguyện của Ngài Hòa thượng Ledi Sayadaw, Ngài U Soma chính là người chủ trì việc biên soạn bộ Từ điển Pāḷi vĩ đại. Từ thuở thiếu thời, Ngài đã theo học và làm đệ tử của Hòa thượng Hlay-thin Min-kyaung, trở thành bậc đại đệ tử được Thầy tin cẩn giao phó trọng trách. Trong lịch sử giáo pháp, thật hiếm khi được đọc những ghi chép từ những bậc cận sự am tường cả Pháp học (Pariyatti) lẫn Pháp hành (Paṭipatti) như thế này. Thật là một phước báu lớn lao. Về cái tên Hlay-thin Min-kyaung: Đây là ngôi đại tự Vimāna-bhūmsā nằm ở bờ sông Ayeyarwady, phía bắc làng Wat-chet, thuộc dãy đồi Sagaing, ngay chân lối lên bảo tháp Padamyā. Ngôi chùa này do vị đại thần Nội vụ Hlay-thin (người gốc làng này) tạo hóa dâng cúng vào năm 1236. Vị thanh niên sau này trở thành bậc cao tăng trụ trì tại đây và được tôn danh là Hòa thượng Hlay-thin Min-kyaung sinh vào giờ Tý đêm mùng 2 tháng Nadaw năm 1215 (Thứ Sáu), tại làng Bhuzinpin, phía bắc thành phố Sagaing. Thân phụ là ông U Karli, thân mẫu là bà Daw Mel Nhyin. (Ngài có hai chị gái là Ma Nyein Aung và Ma Nyein Toke). Ngài có tướng mạo uy nghi, vóc dáng vạm vỡ (đôi dép Ngài đi dài hơn một gang tay). Thuở nhỏ tên là Maung Thar Saing, Ngài theo học với Hòa thượng trụ trì chùa Bhoga Tawya ở làng Bhuzinpin. Vị Hòa thượng trường làng ấy vốn luôn thực hành hạnh đầu đà (dhutaṅga), thường xuyên trú ngụ nơi đồng trống nên được gọi tên là Hòa thượng **Abbhokāsika** (nghĩa là bậc tu hạnh lộ thiên), hay dân gian gọi là Hòa thượng Bhoga. Chú tiểu Soma (pháp danh của Ngài) là bậc có trí tuệ mẫn tiệp. Trong chốc lát, chú có thể học thuộc lòng một hoặc hai angā lá bối (mỗi angā gồm 12 lá). Chú học rất nhanh và một khi đã thuộc thì không bao giờ quên; những bài kinh thuộc từ thuở nhỏ, Ngài vẫn có thể đọc thông suốt cho đến tận lúc viên tịch. Năm 17 tuổi, sau một hạ lạp, thân phụ qua đời, chú phải hoàn tục để phụng dưỡng người mẹ già yếu. ## TRANG 389 **Cách học và cách dạy khác biệt với số đông** Năm 1235, do ba-la-mật (pāramī) thúc giục, Ngài không còn mặn mà với đời sống cư sĩ. Khi Ngài xin phép mẹ già để xuất gia, lời dạy của bà thật đáng ghi tâm: “Mẹ chỉ có duy nhất một đứa con trai nên không muốn rời xa, nhưng thay vì phụng dưỡng mẹ, con hãy đi phụng sự Đức Thế Tôn. Như vậy là bà già này đã toại nguyện ơn nghĩa sinh thành rồi.” Sau khi thụ giới Tỳ-kheo, đúng khí chất đệ tử chùa Bhoga Tawya, trong ba canh giờ ban đêm, Ngài chỉ ngủ một canh, thời gian còn lại dành cho việc hành lễ và ôn lại kinh điển. Ngài không giao du với thiện nam tín nữ, và chỉ trò chuyện với các bạn đồng tu khi thật sự cần thiết. Điều này hoàn toàn phù hợp với lời giáo huấn của Đức Phật: “Nếu nói, hãy nói lời pháp bảo có ích; nếu không, hãy giữ sự im lặng thánh thiện.” Trong việc trau dồi Pháp học Pariyatti, Ngài không để lãng phí dù là một giây phút. Ngay cả khi đi khất thực, Ngài cũng chuẩn bị sẵn các mảnh lá thốt nốt nhỏ có chép kinh văn để vừa đi vừa học thuộc. Tùy theo thời điểm, Ngài cũng thực hành các hạnh **Đầu đà (Dhutaṅga)**. Sau một hạ lạp, Ngài lên Mandalay để tiếp tục con đường kinh điển. Ngài theo học với Hòa thượng Shwe-yin-mar và Hòa thượng U Nāga ở chùa Paung-le (nay là Maha Aungmye). Sau hai hạ lạp, Ngài trở về thăm mẹ một mùa hạ để thuyết pháp độ mẫu và cũng trong thời gian này, Ngài đã biên soạn tác phẩm **Vinayābhoga**. Đến hạ thứ tư, thứ năm, Ngài đi cầu Pháp tại các bậc danh sư khắp bốn phương của Mandalay, ít nhất mỗi nơi là bảy ngày để tham học. Do đó, sau này khi tự mình giảng dạy, Ngài thường dẫn giải sâu rộng rằng: “Vị Hòa thượng này dạy như thế này, vị Hòa thượng kia giảng như thế kia.” Từ hạ thứ năm trở đi, với tâm niệm: “Mạng mạch của Giáo pháp là Luật tạng (Vinaya). Giáo pháp chính là Luật. Ta phải làm cho toàn bộ thân tâm mình trở thành nơi an trú của Giáo pháp,” Ngài đã học thuộc lòng toàn bộ năm bộ Luật tạng Pāḷi và hằng đêm đọc tụng cúng dường Phật. Khi giảng dạy cho đệ tử, Ngài không bao giờ cần cầm đến kinh sách mà có thể truyền đạt hoàn toàn từ trí nhớ. Ngài cũng nghiên cứu sơ qua về Sanskrit và Veda (Vệ-đà) nhưng đã đạt đến trình độ thông thạo. Trí tuệ của Ngài sắc bén đến mức khó tin. Ngài tiếp tục học thuộc lòng bộ đại kinh **Netti** Pāḷi (sau này dân gian có câu truyền tụng: “Hlay-thin Min-kyaung giỏi nhất Netti”). Sau khi đã thông thuộc lòng năm bộ Luật và bộ **Netti** vào hạ thứ năm, Ngài đến nương tựa làm giảng sư tại chùa Myin-won ở Mandalay. Năm 1244, quan đại thần Nội vụ Hlay-thin đã dâng cúng ngôi đại tự Vimāna-bhūmsā ở làng Wat-chet cho Hòa thượng Myin-won. Vị Hòa thượng cùng hơn 100 vị tăng từ Mandalay đã đến tiếp nhận. Khi đó, Tỳ-kheo U Soma với vai trò là cánh tay phải của Hòa thượng Myin-won cũng đi cùng. Tại đây, ban đầu Ngài trú ngụ trong ngôi chùa do vị quan võ Hlay-thin ## TRANG 390 U San Hla xây cúng, nên Ngài còn được gọi là “Hòa thượng Bo-kyaung”. Sau khi Hòa thượng Myin-won viên tịch, vào năm 1249, Ngài U Soma chính thức kế thừa ngôi vị trụ trì và trở thành Hòa thượng Min-kyaung (Hòa thượng ngôi đại tự của quan). Thời trẻ Ngài học khác người, đến khi dạy Ngài cũng có phong cách riêng biệt. Bất kỳ ai muốn học bộ kinh nào đều có thể ấn định thời gian, địa điểm và được Ngài dạy riêng từng người (man-to-man). Vì tâm nguyện bồi đắp Ba-la-mật tuệ (Paññā-pāramī), Ngài chưa bao giờ nề hà thời gian. Nếu có vị Tỳ-kheo nào vì lý do gì đó mà vắng mặt buổi học, Ngài sẽ đích thân đến tận nơi nhắn nhủ: “Sư này, chúng ta bắt đầu bài học thôi.” Chỉ khi vị đó thực sự không thể học được, Ngài mới dành thời gian đó để dạy cho những người muốn học thêm. Đôi khi có hai người cùng muốn học một lúc dẫn đến tranh giành, Ngài sẽ cho bắt thăm để phân định thứ tự. Do Ngài tận tâm bồi đắp Ba-la-mật như vậy, các sư nữ (sīla-rhaṅ) cũng tranh thủ thỉnh Ngài về am của họ để dâng cúng vật thực và học đạo. Ngài cứ đi hết am này đến am khác, mỗi nơi thụ thực một ít và giảng giải kinh điển, mãi đến quá trưa mới về lại chùa. Khi đó mới đến lượt các vị Tỳ-kheo, Sa-di vào học. Ngài đặc biệt ưu tiên giảng dạy Luật tạng và bộ **Netti**. Ngài Hòa thượng Ma-so-yein từng kể rằng, có lần một vị sư trẻ ở chùa Kyar-ni-kan gần làng Ywa-htaung, phía tây Sagaing muốn học Luật, Hòa thượng đã không quản ngại băng qua dãy đồi Sagaing đi bộ đến tận nơi để dạy học mỗi ngày. ### Việc nghiên cứu và trước tác kinh điển Thỉnh thoảng Ngài lại bảo: “Ta đi xem sách một chút,” rồi Ngài đến các chùa khác lưu trú lại hai ba ngày để nghiên cứu. Ngài thường lui tới thư viện kinh điển của chùa Ye-wun Taung-bilu và chùa Sin-nin vì nơi đó lưu trữ đầy đủ các loại sách thế gian và xuất thế gian. Các vị trụ trì ở đó thấu hiểu tâm ý của Ngài nên thường sắp xếp chỗ nghỉ ngay cạnh tủ kinh sách, chu toàn mọi việc ăn uống, sinh hoạt để Ngài yên tâm nghiên cứu. Có khi Ngài ở lại đến nửa tháng trời. Các vị trụ trì yêu thích kinh điển rất hoan hỷ mỗi khi Ngài ghé thăm, bởi họ có thể hỏi Ngài đủ mọi điều từ những mật thư thế pháp đến kinh điển thâm sâu. Nhận thấy trình độ uyên bác của Ngài, Hòa thượng Taung-bilu đã gửi các tập lá bối và thỉnh cầu Ngài viết bản giải nôm (nissaya) cho phần Vipassanā (Minh sát) trong bộ “**Visuddhimagga Mahā-ṭīkā**” (Đại Chú giải Thanh Tịnh Đạo), phần mà các bậc tiền bối vẫn chưa hoàn thiện. Phần cuối của bộ **Visuddhimagga-ṭīkā** về Minh sát rất khó, không thể chỉ dựa vào kiến thức chữ nghĩa mà viết được. Nó đòi hỏi sự thấu triệt về các học thuyết liên quan đến Tự ngã (Atta-vāda) như Pakati-vāda, Dabba, Jīva, Dvi-aṇuka... ## TRANG 391 Vì chứa đựng nhiều thuật ngữ ngoại giáo (**Darshana** - còn gọi là **Dassana**, tức **Triết học Ấn Độ**), nên chỉ có đức hạnh và am hiểu Pháp học (*Pariyatti*) thôi thì chưa đủ. Phải tinh thông cả Phạn ngữ (*Sanskrit*) thì mới có thể dịch thuật chuyên sâu (*Nissaya*) sang tiếng Myanmar được. Vào năm 1257 (DL 1895), lúc 44 tuổi, Ngài đã đặt lá buông lên đầu gối và dùng bút thép viết một mạch hoàn thành bản thảo cuối cùng. Tác phẩm này gồm ba mươi lá. Ngày xưa, khi soạn thảo kinh sách, người ta thường viết bản nháp trên giấy xếp (*Parabaik*) rồi mới chép bản chính lên lá buông. Tuy nhiên, Ngài không làm vậy mà viết trực tiếp lên lá buông đặt trên đầu gối cho đến khi hoàn tất, nên bản dịch này còn được gọi là “Lập Phan Nissaya” (Bản dịch viết trên gối) – hàm ý sự nhẫn nại và tỉ mỉ tối đa. (Hiện nay, bản gốc lá buông này vẫn chưa tìm lại được.) Một ngày nọ, trong khi Ngài đang đặt bản **Tīkā Nissaya** lên gối để viết, Ngài **U Yan Kon** (**pháp danh U Sujāta**) – một bạn học từ thời ở tu viện Phayagyi (Mandalay), quê ở Tìe-gyaung-ga-lay – đã đến thăm. Thấy Ngài đang viết, Ngài U Yan Kon hỏi: "Sư đang soạn kinh sách gì thế?". Vì lúc đó không nhận ra ngay là Ngài U Yan Kon nên Ngài hỏi lại: "Sư ở chùa nào đến vậy?". Ngài U Yan Kon vốn tính hóm hỉnh nên đáp: "Tôi là sư ở chùa của tôi chứ đâu", rồi cả hai cùng đàm đạo thân mật. Lúc ấy, Ngài đang viết đến phần **Kiến tịnh** (*Diṭṭhi-visuddhi*) và **Phân biệt Danh Sắc** (*Nāmarūpa-pariggaha*). Ngài U Yan Kon cầm một lá lên xem; khi đọc đến những đoạn thảo luận về **Ngoại đạo** (*Samayantara* - các học thuyết tôn giáo khác), Ngài đã thốt lên lời tán thán và đặt lá buông xuống: "Những ý nghĩa sâu xa này thực sự nằm ngoài tầm hiểu biết của chúng tôi". Sau này khi về lại Mandalay giảng dạy, Ngài U Yan Kon thường khen ngợi rằng: "Tôi cứ ngỡ ở vùng Sagaing này họ tu tập bình thường thôi, hóa ra vị trụ trì tu viện Min Kyaung thực sự là một bậc thánh triết". (Ngày nay, một bản **Tīkā Nissaya** mới đã được đức **Đại trưởng lão Mahasi** biên soạn và ấn hành, trong đó Ngài đã đối chiếu và giải quyết thỏa đáng các quan niệm cổ xưa của Ấn Độ.) Vào tháng Tabboung năm 1257, Ngài **Maik-khaing Sayadaw** đến thăm và xin ý kiến về vấn đề "Nên hay không nên mang giày trên sân bảo tháp". Ngài **Hlè-thin Sayadaw** đã đưa ra nhận định ngay lập tức: "Theo Luật tạng (*Vinaya*), nếu có tường bao thì không được mang giày bên trong tường; nếu không có tường bao thì không mang giày tại vị trí đáng lẽ phải xây tường. Theo Kinh tạng (*Sutta*), không nên mang giày từ nơi bắt đầu nhìn thấy bảo tháp. Theo Thắng Pháp tạng (*Abhidhamma*), khi quán tưởng đến ân đức Phật, cần giữ tâm cung kính và không nên mang giày." Ngoài ra, Ngài cũng kể lại chuyện lúc ở vùng hạ du, Ngài có gặp đức **Trưởng lão Ok-pho** danh tiếng. Khi thấy đức Trưởng lão đang tự tay làm một việc công quả (*Navakamma*), Ngài đã không đảnh lễ theo đúng tinh thần Luật tạng. Dù đức Trưởng lão và những người xung quanh có nhắc nhở, Ngài vẫn giữ nguyên nguyên tắc và ra về. Ngài Maik-khaing Sayadaw nghe xong liền tán thán: "Quả đúng là như vậy!" rồi ra về. ## TRANG 392 Khi giảng dạy, Ngài không chỉ nêu rõ "quan điểm của vị Trưởng lão này là thế này, vị kia là thế kia", mà khi thuyết giảng giáo giới, Ngài thường sáng tác các bài kệ, bài thơ (*Thambauk*) ghi lại cách thực hành và lời dạy của các bậc tiền bối để răn dạy đồ chúng. Bản thân Ngài cũng luôn y giáo phụng hành theo những lời dạy đó. 1. **Tam Bảo** quy y, đóa sen hồng kính dâng, chí thành đảnh lễ. 2. **Hương vị Chánh Pháp**, hãy ghi nhớ và gìn giữ như truyền thống tốt đẹp. 3. **Đức Phật** trước khi Niết-bàn, trên giường thủ tọa đã để lại lời giáo huấn. 4. **Muốn đạt Niết-bàn**, hãy quán chiếu sự vô thường của các hành ngày đêm chẳng nghỉ. 5. **Ngài Xá-lợi-phất** (Sāriputta), bậc con trưởng của Đấng Pháp Vương, cũng đã để lại lời nhắn nhủ sau cùng. 6. **Người khao khát Niết-bàn**, lòng tin phải tăng trưởng, tâm không được xao lãng. 7. **Bậc thầy dạy rằng**, việc giữ nước trong miệng để luyện tâm là nếp sống thanh cao đáng học hỏi. 8. **Muốn đạt Niết-bàn**, mọi ước muốn phải đi đôi với sự thực hành chân chính. 9. **Bậc tiền bối Ariyavaṃsa**, bậc tử đệ của đức Lục hoàng, đã để lại lời dạy về nếp sống thánh hiền. 10. **Muốn đạt Niết-bàn**, hãy chọn nơi thanh vắng để độc cư tu tập. 11. **Trưởng lão U Budh** vùng Nyaung-kan cũng từng huấn thị rõ ràng. 12. **Dù nhân, thiên hay Phạm thiên** có chê cười, cũng đừng vì chút thức ăn mà sợ hãi. 13. **Chỉ nên sợ sự chê trách của Phật**, người biết sợ như vậy mới sớm đạt đến **Tịch tịnh** (*Nibbutā*). 14. **Bậc hiền triết Nga-khon**, bậc đại trí đã truyền lại lời giáo giới sâu sắc. 15. **Sự giận dữ hay sầu muộn** khởi lên do chính mình, đừng đổ lỗi cho kẻ khác mà hãy tự mình đoạn trừ. 16. **Đoạn trừ sầu muộn**, diệt tận sân hận, đó là con đường chân chính dẫn đến **Tịch tịnh**. 17. **Trưởng lão vùng Manyee-daw** cũng đã để lại những lời dạy đáng ghi tâm. 18. **Hướng về Niết-bàn**, dù bị mắng nhiếc hay khổ nạn cũng chẳng hề sợ hãi. 19. **Bậc tối thượng trong việc tu tập**, người gìn giữ giáo pháp, đã ban lời chỉ dạy rõ ràng. 20. **Muốn đạt Niết-bàn**, hãy đoạn trừ thói nói xấu và soi mói lỗi người. 21. **Bậc Thầy vùng Shwe-yin-mar** cũng truyền lại những lời nhắn nhủ cần phải hiểu rõ. 22. **Nghe điều gì, nói điều gì**, cũng phải biết phân tích so sánh; không nên tin mù quáng vào mọi điều được viết ra. 23. **Muốn đạt Niết-bàn**, chỉ nên tin vào những gì dẫn đến **Ly tham** (*Virāga*). 24. **Trưởng lão Myin-wun** cũng đã phơi bày những sự thật đáng để quán sát và ghi nhớ. 25. **Khi tâm hướng về Niết-bàn**, phải từ bỏ mọi sự yêu ghét và chấp thủ. 26. **Bặc luật sư lừng danh** vùng Bhamo đã chỉ dạy tường tận. 27. **Khao khát Niết-bàn**, thì ngay cả mạng sống này cũng không nên luyến tiếc. ## TRANG 393 28. **Tu viện Hlè-thin Min-kyaung**, nơi lưu truyền những phương pháp đúng đắn để hiểu rõ giáo pháp. 29. **Muốn đạt Niết-bàn**, hãy thực hành sự nhẫn nhục trong mọi việc, dù là nội tâm hay ngoại cảnh. 30. **Tinh hoa Tam Tạng**, diệu pháp cam lộ, đây chính là con đường dành cho các bậc tử đệ. 31. **Lời tóm lược sau cùng**, những giáo lý cốt lõi, hãy luôn giữ gìn một cách kiên cố. 32. **Ý nghĩa thâm sâu**, trí tuệ khó thấu triệt, hãy dùng trực giác và minh triết để quán soi. 33. **Người thực hành theo đây**, sẽ dễ dàng bước vào cõi Niết-bàn an lạc. Ngoài ra, những lời giáo huấn mà Ngài thường dùng để răn dạy đồ chúng cũng vô cùng quý báu. Qua những lời này, ta có thể thấy rõ cốt cách và phẩm hạnh của Ngài. 1. Trong bốn **oai nghi** (*Iriyāpatha*): đi, đứng, nằm, ngồi, không để bất thiện tâm khởi lên. Phải luôn hướng tâm để chỉ có thiện pháp phát sanh. 2. Không để thời gian trôi qua trong bất thiện, phải dùng thiện pháp để lấp đầy mọi khoảnh khắc. 3. Không trông chờ vào nghiệp cũ (dù tốt hay xấu). Chỉ nên nỗ lực để tạo ra những thiện nghiệp mới. 4. Không nên chỉ mong cầu kết quả mà không chịu thực hành. Phải nỗ lực tu tập đúng đắn từ nơi nguyên nhân. 5. Không thực hành theo lối giả tạm, hình thức. Phải tu tập một cách chân thật, rốt ráo. 6. Không cần cho người khác biết việc tu tập của mình. Phải tự mình quán xét xem sự thực hành của mình đã đúng đắn hay chưa. 7. Không dựa dẫm vào người khác. Phải tự dựa vào chính mình mà tu tập. 8. Nếu bản thân chưa làm được thì không nên đi dạy người khác. Trước hết phải tự rèn luyện chính mình cho thật nhu nhuyễn. 9. Không nên nhìn lỗi người khác. Phải luôn nhìn vào lỗi mình để sửa đổi và thoát khỏi lỗi lầm. 10. Không tham muốn tài vật của người. Chỉ nên khởi lên thiện chí (*Sammā-chanda*) mong cầu đạt được báu vật thực sự là sự thực hành giáo pháp. 11. Không tu tập vì mục đích kiếm tìm vật chất. Phải tu tập để đạt được Chánh Pháp thực thụ. (**Thừa tự Pháp** - *Dhammadāyāda*). 12. Không nên chung đụng, vui thú theo thói tục để vừa lòng thiên hạ. Phải sống một cách thích nghi, quán chiếu và hoan hỷ trong sự thực hành Danh - Sắc. 13. Không sống trong sự sợ hãi. Phải sống sao cho không còn nỗi sợ hãi nào có thể xâm chiếm. 14. Sự hiểu biết kinh điển không được sai lệch. Phải thực hành sao cho sự hiểu biết đó trở nên đúng đắn và xác thực. ## TRANG 394 Cần phải có Chánh niệm và Tỉnh giác. 15. Không được tự mãn chỉ với việc thông thạo kinh điển, mà phải nỗ lực thực hành để thấu triệt Pháp. 16. Trong vòng luân hồi, không cần thiết phải mong cầu sống lâu. Chỉ cần mong cho vòng luân hồi ngắn lại. 17. Phải cắt đứt ái dục (taṇhā) dài dằng dặc và tiếp nối những ba-la-mật (pāramī) còn ngắn ngủi. 18. Nếu sống trong thất niệm, sẽ phải chết đi chết lại nhiều lần. Nếu không thất niệm, sẽ không còn phải chết nữa. 19. Hãy tiêu diệt vô minh và ái dục – những thứ vốn đang sống không ngừng nghỉ. Phải nỗ lực đạt đến Niết-bàn Vô vi (Asaṅkhata Nibbāna) – nơi vốn dĩ luôn tịch tịnh (không còn sinh diệt). 20. Phải cắt đứt sự chấp thủ (upādāna) vào tất cả hành (saṅkhāra). Chỉ khi có thể từ bỏ mọi hành mới có thể đạt đến Niết-bàn Hữu dư y (Anupādisesa Nibbāna). Những người đang hành thiền không phải hễ mỗi khi hành trì là đều tiến bộ ngay. Để có thể tiến hóa, cần phải thường xuyên bồi dưỡng và quán chiếu thông qua những lời giáo huấn của Đức Phật và các bậc thiện trí thức về các nhân sinh khởi của Tín, Tấn, Niệm, Định, Tuệ; cũng như qua các sự tích, cách tác ý và các câu kệ pháp. Cần phải tự soi xét mình qua ba phương diện: **Tiến, Trình, Thoái (Visesa, Ṭhiti, Hāna-bhāgiya)**. ### Thẳng thắn phê phán những cách tu tập sai lệch Khi Ngài Hòa thượng thuyết pháp tại các buổi lễ cúng dường, Ngài không thường kể các câu chuyện Bổn sanh (Jātaka), mà từ việc chúc phúc cho đến lúc hồi hướng, Ngài chỉ tập trung giảng về Tam tướng và Pháp hành Minh sát (Vipassanā). Đối với những vị thân thiết hoặc có tư duy phân tích, Ngài thường giảng giải thẳng thắn, không nể nang đối với những việc làm tổn hại đến lợi ích tu hành. Vào năm 1271 (Miến lịch), khi tổ chức lễ hồi hướng tại tu viện Masoeyein ở Mandalay, Ngài đã hỏi thí chủ U Thet Shei rằng: "Việc giết bò rồi mới hồi hướng thì có phạm vào ác nghiệp sát sanh (pāṇātipāta) hay không?". Ngài đã giảng giải rộng rằng theo Luật tạng (Vinaya), nếu hội đủ các chi chiết thì thành nghiệp; theo Kinh tạng (Suttanta), nếu hội đủ các yếu tố cấu thành thì thành nghiệp; theo Diệu Pháp tạng (Abhidhamma), nếu có sự xuất hiện của tác ý (cetana) v.v... thì thành nghiệp. Không nên chỉ chú trọng vào những danh xưng bên ngoài một cách hời hợt. ### Pháp hạnh ăn chay Có một lần, Ngài đã giảng giải và phân tích chi tiết cho đệ tử là Đại đức U Acara (người tu hạnh ăn chay) cùng một vị thí chủ đến dâng vật thực chay cho Ngài: ## TRANG 395 "Làm ẩn sĩ thì tu theo lối ẩn sĩ, làm ngoại đạo thì tu theo lối ngoại đạo, làm phù thủy (zawgyi) thì tu theo lối phù thủy; đã làm Tỳ-khưu thì phải tu theo hạnh Tỳ-khưu. Không nên biến việc ăn chay thành một pháp hạnh cốt lõi để tu tập. Nếu việc đó thực sự có lợi ích, Đức Phật với Nhất thiết chủng trí (Sabbaññuta Ñāṇa) đã thấy và cho phép rồi. Ngay cả khi Đề-bà-đạt-đa (Devadatta) thỉnh cầu, Ngài cũng đã từ chối. "Theo Luật tạng, ngoại trừ 10 loại thịt cấm như thịt voi, thịt rắn v.v... và các loại thịt do người ta giết dành riêng cho mình (mamsa uddissa) thì đều hợp lệ. Có thể thọ dụng được. Điều này đã được Đức Phật cho phép. "Theo Kinh tạng, có ba loại 'thịt thanh tịnh' được cho phép liên quan đến việc thọ dụng. "Theo Diệu Pháp tạng, không có chỗ nào nói rằng ăn hay kiêng loại thực phẩm nào thì sẽ có phước báu. Chỉ khi có **Khéo tác ý (Yoniso manasikara)**, điều phục tâm ý đúng đắn thì mới có phước báu. (Ăn chay cực đoan) chỉ là con đường tà hạnh, tự hành xác (**Attakilamathānuyoga**). "Nếu chấp nhận một lối thực hành có vẻ tốt nhưng không thực sự chuẩn xác theo **Lý đạo (Yukti)**, dần dần ta sẽ đi lệch hướng mà không hay biết, rồi xa rời khỏi **Trung đạo (Majjhimāpaṭipadā)**." (Trong bản tiểu sử gốc, Ngài đã giáo huấn phần này vô cùng chi tiết). Trong hành trì, những sự dẫn dắt vi tế, sự sai khiến của tâm, sự lôi kéo của cảnh giới, và việc tự lầm tưởng về tâm mình là những điều rất đáng sợ. Về phương diện này, có lẽ Ngài Hòa thượng đã thấu thị một cách vô cùng sâu sắc. Vì vậy, không nên vượt qua trí tuệ của bậc Chánh Biến Tri, cũng không nên xem thường lời dạy của các bậc thiện trí thức có bề dày kinh nghiệm và trí tuệ. Pháp vốn sâu mầu. "**Atakkāvacara**" – nghĩa là Pháp vượt ngoài tầm suy luận, không phải là thứ có thể thấu hiểu hay tiếp cận chỉ bằng suy tính hay tưởng tượng suông. ### Vị Hòa thượng tự mình chẻ củi, gánh nước Ở các bậc thiện trí thức đặc biệt thường có những phận sự (vatta) và hạnh kiểm (caraṇa) được thực hiện bền bỉ (nibadda). Theo lời dạy: "**Vattaṃ aparipūrento sīlaṃ naparipūrati** – Người không làm tròn phận sự thì giới hạnh không được trọn vẹn", nên tùy theo sức khỏe mà các Ngài duy trì các phận sự đó hằng ngày. Hòa thượng Min Kyaung không chỉ quét dọn trong khuôn viên chùa mà còn quét dọc theo con đường các vị Tăng đi khất thực, kéo dài khoảng một dặm cho đến tận cổng làng, mỗi ngày hai lần sáng và tối. Cho dù người khác đã quét rồi hay rác tự nhiên rơi rụng, Ngài vẫn kiên trì quét dọn sạch sẽ. Ngài nói: "Đây là phước báu từ việc **Phục vụ thân thể (Kāyaveyyāvacca)** và **Phận sự đối với nơi sàng tọa (Senāsanavatta)**". Nước uống cũng vậy, Ngài thường xuống sông Ayeyarwady ## TRANG 396 để gánh nước về đổ đầy các lu chứa trước khi chúng Tăng thức dậy. Nếu các đệ tử đã gánh nước đổ đầy trước, Ngài sẽ dùng nước đó cúng dường Phật rồi lại đi gánh nước khác đổ thêm vào. Ngài cũng thường xuyên đổ nước vào nhà vệ sinh, nước rửa, nước thuốc. Ngài tự mình cọ rửa những thanh gỗ vệ sinh (kanut) sau khi chư Tăng sử dụng, và khi hết, Ngài tự mình chẻ tre, vót nan để làm thanh mới. Mỗi khi xuống sông Ayeyarwady tắm, Ngài thường tự mình vớt những khúc củi trôi sông rồi xếp lên bờ. Ai cần thì lấy, số còn lại Ngài tự mình vác về chùa. Vào mùa đông, Ngài dùng số củi đó đốt lửa cúng dường Phật, đốt dọc đường cho chư Tăng đi khất thực, và thậm chí đốt lửa cho chó sưởi ấm. Ngài cũng tự mình gánh cát từ sông Ayeyarwady về trải khắp khuôn viên chùa, ước tính khoảng một ngàn xe cát. Tại các ngôi bảo tháp gần chùa, Ngài cũng thực hiện các **Phận sự tại tháp (Cetiyangaṇavatta)**. Không chỉ quét dọn, dâng nước, mà tùy theo mùa, vào mùa đông Ngài đốt củi cúng dường, mùa hè Ngài dùng quạt đứng quạt mát trước tôn tượng Phật – đó là những hành động rất đặc thù. Ngài còn gánh lu nước đầy lên ngọn núi bảo tháp Pattamya rất cao và dốc để cúng dường. Ngài cũng quét dọn dọc theo dãy hành lang dài dằng dặc dẫn lên núi. Những ai từng đến đó sẽ biết, đó là ngọn núi mà ngay cả những thanh niên khỏe mạnh cũng phải nghỉ nhiều lần mới lên tới đỉnh. Với những vị đã thấu triệt giá trị của cuộc đời, họ luôn tìm thấy rất nhiều việc để làm, để cúng dường. Họ không thấy khó khăn hay mệt nhọc. Có khi Ngài tự tay vót đến hàng triệu que đánh răng, que vệ sinh. Không chỉ cho tự viện của mình, vào năm 1259 (Miến lịch), Ngài từng cúng dường cho tu viện Bhaya-gyi ở Mandalay (nơi có đông Tăng nhất với 1.600 vị), mỗi vị một bó gồm một trăm que đánh răng. Nếu cho rằng phải làm được những phận sự phục vụ (gọi là **Caraṇa**) như thế này mới đạt được Minh (Vijjā - tuệ giác đặc biệt), còn "tôi không làm được" mà nản lòng thì không nên. Mỗi người đến với Đạo theo hạnh nguyện riêng: đức tin ưu trội (Saddhādhika), tinh tấn ưu trội (Vīriyadhika), hay trí tuệ ưu trội (Paññādhika). Các pháp hành như hơi thở (Ānāpāna) không phải là việc làm biệt lập. Ta có thể thực hành các pháp đó ngay trong khi làm những việc này. Trong cùng một lúc, hai công việc, hai loại lợi ích đều hoàn tất. Thật là dễ dàng. Dù Sayadaw đã thực hành các bổn phận đạo hạnh và hạnh đầu đà từ thuở thiếu thời, nhưng trong giai đoạn chuyên tâm học tập và giảng dạy Pháp học (Pariyatti), Ngài chỉ thực hiện ở mức không để khuyết lỡ. Đến năm năm mươi tuổi, Ngài giảm bớt việc giảng dạy Pháp học, chỉ duy trì ở mức vừa phải, và bắt đầu dốc toàn tâm toàn ý vào việc hành trì các bổn phận cũng như các hạnh đầu đà (Dhutanga). Vòng xoay tu hành tích lũy phước đức từ tiền kiếp (Pubbe ca kata-puññatā) của Ngài đã kết duyên và tiếp tục vận hành cùng vòng xoay nương nhờ bậc thiện tri thức của Bhoga Sayadaw, giúp Ngài thực hành trọn vẹn 13 hạnh đầu đà tùy theo cơ duyên thích hợp. Ngài luôn luôn giấu kín công hạnh của mình. Vì không muốn người khác biết mình đang thọ trì hạnh đầu đà, Ngài thậm chí còn tự xả hạnh để nhận đồ cúng dường, rồi sau đó mới phát nguyện thọ trì trở lại. ## TRANG 397 Ban ngày, dù ngài ở tại ngôi chùa gần làng nhưng ngay cả các đệ tử thân cận cũng không biết ngài là một bậc tu hành khổ hạnh nơi rừng sâu thực thụ. Sau nửa đêm, ngài lặng lẽ rời chùa để đến nghĩa trang hoặc một nơi hoang vắng xa xôi ở phương Bắc, mãi đến khi bình minh ló rạng mới trở về. Khi ngài thọ trì **hạnh Nhất tọa thực** (Ekāsanika - chỉ ăn một lần ngồi trong ngày) và **hạnh Bình lộc thực** (Pattapin - trộn lẫn các vị ngọt, chua, mặn vào bình bát rồi mới thọ dụng), có không ít thí chủ vì lòng thành kính mà cho rằng: "Cách Sayadaw thọ thực thật đáng ngưỡng mộ làm sao," khiến ngài phải tạm xả hạnh để không làm mất lòng tin của họ. Ngay cả các đệ tử thân cận cũng chưa từng thấy ngài nằm ngủ bao giờ vì ngài thọ giữ **hạnh Thường tọa** (Nisajja). Ngài giữ kẽ và ẩn giấu công hạnh một cách vô cùng kín đáo. ### Sự thanh bần, giản dị và những đặc điểm phi thường Nếu bộ Luận **Thanh Tịnh Đạo** (Visuddhimagga) được biên soạn tại Myanmar, thì chắc chắn không thể thiếu phần nói về những bậc vĩ nhân đặc biệt như thế này. Mọi hàng cư sĩ dù đến cúng dường hay đảnh lễ, ngài đều tiếp đón với oai nghi không đổi, thái độ không hề xoay chuyển. Ngài không có nơi tiếp khách riêng, cũng không thuyết pháp theo cách đón tiếp đặc biệt. Nếu thí chủ đến vào lúc ngài đang quét dọn, họ phải đến tận chỗ ngài đang quét để đảnh lễ. Giống như ngài **Maha Kassapa** (Đại Ca-diếp) đối với thí chủ luôn giữ thái độ như "người mới quen", Sayadaw đối với quan thượng thư Lhe Thin - người hộ trì chùa - cũng không hề vồn vã hay chiều chuộng, mà luôn cư xử như với người lạ. Trong khuôn viên chùa Min Kyaung rộng lớn, ngài không ở cố định tại bất kỳ ngôi liêu nào, có khi ngài ở lại lán chứa củi đến hai ba ngày. Về phương diện lợi lộc, ngài cũng khiến mọi người kinh ngạc. Khi đi nhận vật phẩm cúng dường, ngài không bao giờ có đệ tử đi cùng để mang hộ đồ. Những vật phẩm thí chủ mang đến chùa hoặc cúng dường tận nơi, sau khi thọ nhận, ngài cứ để y tại chỗ, không bảo ai cất giữ. Các vị Sadi hay Tỳ-kheo nào cần đến đều có thể tự lấy mà dùng. Ngài thường dạy rằng: "Sự bố thí ly tham (Pariccāga), không hướng tâm phân biệt, không định sẵn đối tượng, còn cao quý hơn cả sự bố thí có giới hạn và dự tính từ trước." Riêng phần ngài, ngài luôn chỉ giữ đúng ba y (**hạnh Tam y** - Ticivarik'andhura), ngay cả một chiếc khăn lau mặt cũng không có. Ngài không có chỗ ngồi riêng biệt hay giường nằm cố định. Về vấn đề sức khỏe, ngài không hề tích trữ bất kỳ loại thuốc men nào. Đôi khi ## TRANG 398 ngài bị bệnh nhưng cũng không hề cho ai biết. Khi các đệ tử nhận thấy và dâng thuốc, ngài hỏi kỹ các thành phần; dù là thuốc có tác dụng tốt cho căn bệnh đến đâu, nhưng nếu chứa thành phần không hợp đạo hạnh, ngài đều từ chối. Có lần, ngự y Sayar Thẻ dâng một loại thuốc có chứa mật động vật, vì không đúng phép nên ngài nhất quyết không dùng. Ngài tôn trọng Giới luật đến mức độ như vậy. Trên đời thường có những người trông giống như những bậc đặc biệt, nhưng phải dùng "tảng đá thử vàng" là Giới hạnh để nhận diện và khởi lòng thành kính (**Kinh Satta Jatila**). Mọi sự giả tạo đều không thể bền lâu; vì thế, một số người mặc áo tu hành có thể thi triển các loại thần thông nhưng họ không phải là những Tỳ-kheo giữ Giới (Vinaya). Người ta chỉ gọi họ là những tu sĩ theo kinh điển thế tục (Suttanta). Dù có nương tựa vào họ vì lợi ích thế gian, nhưng nếu không có nghiệp cũ và nỗ lực hiện tại của bản thân, thì không có vị thần thông nào có thể nâng đỡ được cả. Kẻ xấu thường núp dưới hình bóng và quyến thuộc của bậc thiện trí như vàng giả, luân lạc giữa thế gian này. (**Tương Ưng Bộ - Kinh Satta Jatila**). ### Tự lo hậu sự cho mình, gánh cả hậu sự người khác Ngài luôn có gương mặt tươi vui, giọng nói hiền hòa. Khi trò chuyện, ngài chỉ nói về những điều liên quan đến giáo pháp. Ngài không bao giờ bàn chuyện xóm làng, chuyện vua quan hay những chuyện phiếm vô ích (tiệm thuyết/súc sinh thuyết). Ngài luôn lo sợ mình sẽ trở thành gánh nặng cho người khác. Có một dạo, ngài bị chứng tiêu chảy rất nặng, sức khỏe suy kiệt đến mức gần kề cái chết. Ngài không cho bất kỳ đệ tử nào biết, mà âm thầm đi về phía nghĩa trang vào lúc quá nửa đêm. Sáng hôm sau, khi mặt trời đã lên cao mà không thấy ngài trở về, mọi người tá hỏa đi tìm. Họ thấy ngài đang nằm kiệt sức bên một gò đất tại nghĩa trang làng Watchet. Khi được hỏi lý do, ngài nói: "Ta sợ các đệ tử phải vất vả chăm sóc bệnh nhân, rồi khi ta mất lại phải khiêng xác ra nghĩa trang, làm khổ mọi người thêm." Trong việc chăm sóc người bệnh, ngài thật xứng danh là bậc trưởng tử của Đức Phật. Có lần, một đệ tử tên là **U Tiloka** bị bệnh dịch tả, chính tự tay ngài đã chăm sóc, lau chùi và giặt giũ các chất bài tiết. Ngài mời thầy thuốc U Lu Kalay đến cứu chữa nhưng không kịp. Vị đệ tử viên tịch vào lúc nửa đêm, để không làm phiền đến tăng chúng, đích thân ngài đã gánh thi thể, bảo ông U Lu Kalay đỡ đôi chân đang lủng lẳng ở phía sau, rồi đưa ra nghĩa trang ngay trong đêm. Vào năm 1259 (Miến lịch), một đệ tử khác tên là **U Dipa** mắc bệnh ## TRANG 399 dịch tả, ngài cũng tự tay chăm sóc và khi vị ấy qua đời, ngài đã một mình gánh thi thể đi hỏa táng ngay trong đêm. Trong bốn tâm **Phạm trú** (Brahmavihara), **Xả** (Upekkha) là tâm cao thượng nhất. Sự tu tập tâm Xả của ngài thâm sâu đến mức khó tin. Ngài không hề khởi tâm bám luyến đối với bất kỳ chúng sinh hay hành pháp (sự vật, hiện tượng) nào. Ngài đã vượt lên trên cả sự yêu và ghét. Chịu đựng cái xấu đã khó, nhưng buông bỏ cái tốt còn khó hơn nhiều. Khi các vị Tỳ-kheo, Sadi đến xin ở lại chùa, ngài chỉ phán: "Nghiệp dẫn dắt đến đây thì cứ chọn chỗ nào hợp lẽ mà ở cho an lạc." Khi có ai đến xin chuyển đi nơi khác, ngài cũng tiễn biệt bằng câu: "Được rồi, cứ đi theo sự an bài của nghiệp đi." Dù các vị Sadi hay học tăng nô đùa ầm ĩ, ngài cũng không hề xao lãng việc xem kinh sách. Khi đang đọc sách, ngài giữ nguyên trạng thái tĩnh lặng. Ngay cả khi bên cạnh có người xích mích đến mức đổ máu, ngài cũng không nói lời nào. Nếu thấy cần rời đi, ngài chỉ lặng lẽ đứng dậy đi chỗ khác. Khi có người tranh cãi đúng sai và đến trình thưa, ngài chỉ phán: "Thôi, hãy sống sao cho an lạc." Quan thượng thư Lhe Thin vì quá sốt ruột nên đã thưa rằng: "Bạch Ngài, xin ngài đừng quá nuông chiều hay làm ngơ đối với các đệ tử như vậy. Những lúc cần răn dạy, xin ngài hãy răn dạy." Khi đó, ngài đáp lại rằng: "Họ xích mích là do nghiệp của họ xoay vần, chính cái nghiệp đó sẽ dạy dỗ họ. Ngay cả bản thân mình còn chẳng tự dạy mình được, chúng ta chỉ đang nhận lấy kết quả theo sự răn dạy của thiện nghiệp và bất thiện nghiệp mà thôi." Vì mọi người đều biết ngài có định lực tu tập tâm Xả và lòng nhẫn nhục vô biên, nên đôi khi các vị Sadi nhỏ khi đến xoa bóp cho ngài, vì tính trẻ con đã tinh nghịch nhổ từng sợi lông chân của ngài để làm trò cười. Sayadaw hoàn toàn không hề cử động. Sau này, khi ngài viên tịch, một người dân làng Watchet tên là Maung U - vốn là người từng làm việc đó - đã kể lại câu chuyện khi mọi người đang ôn lại ân đức của ngài. Được những người hiểu biết nhắc nhở và giáo huấn, anh ta đã dâng đèn cúng dường trước kim thân của ngài để tạ tội và sám hối. Nếu ngài hoàn thành được ba-la-mật về tâm Xả đối với chúng sinh hữu tình đến mức ấy, thì sự không dính mắc của ngài đối với những vật vô tri như chùa chiền, y phục... cũng không có gì là lạ. Giống như lưới giăng dưới nước không giữ được dòng chảy, gậy vung giữa không trung chẳng chạm vào đâu, và bàn tay nắm lại cũng không giữ nổi làn gió; nếu một người có thể bước đi trên con đường trung đạo ngay thẳng, không dính, không chạm, không mắc vào hai bên cực đoan tốt - xấu của vạn vật hữu tình lẫn vô tình, thì người đó chắc chắn sẽ bước tới cánh cửa Vô vi (Asankhata) giải thoát. ## TRANG 400 ### Những thắng tri về hiệp thế và siêu thế Đại trưởng lão chùa Hlay-thin-min, bậc đầy đủ ân đức cao thượng như đã lược thuật, đã xả bỏ tâm-sát-na (cuti-kammaja-rūpa) vào lúc 10 giờ 30 phút đêm thứ Tư, ngày mùng 9 sau trăng tròn tháng Pyatho năm 1288 (Miến lịch). Trước khi viên tịch bảy ngày, ngài đã di huấn cho các đệ tử rằng: “Này các đệ tử, vào đêm thứ Tư cách đây bảy ngày, ta sẽ đi đến điểm tận cùng của kiếp sống này. Sau khi ta không còn nữa, nếu các con muốn ghi nhớ và tu tập về Pháp học (Pariyatti) và Pháp hành (Paṭipatti) mà ta đã giảng dạy, hãy nương tựa vào đệ tử lớn của ta là vị Garu (bậc thầy) tại chùa Ma-soe-yein-taw-ya ở Maha-thit-win-chaung, hãy tôn vị ấy làm người đại diện cho ta.” (Vị trụ trì chùa Ma-soe-yein-taw-ya chính là U Somanābhivaṃsa, người đã viết tiểu sử dài 140 trang trong vòng hai tháng sau khi ngài Min-kyaung Sayadaw viên tịch). Trong cuốn tiểu sử, mặc dù không trình bày chi tiết về Thắng trí (Paṭivedha) của ngài, nhưng dựa trên các bằng chứng từ văn học kinh điển, tác giả đã khẳng định một cách trí tuệ rằng: “Ngài đã đạt đến cả hai phương diện Thắng trí là hiệp thế và siêu thế.” Cụ thể: 1. Đối với bất kỳ ý nghĩa sâu kín hay khó khăn nào trong **Pali** (Kinh), **Aṭṭhakathā** (Chú giải) và **Ṭīkā** (Phụ chú giải), ngài đều có thể giải thích một cách đúng đắn như thực (**Yathābhūta**) ngay khi vừa nhìn thấy mà không cần xem qua các bản diễn giải (**Saṃvaṇṇanā**) hay bản dịch (**Nissaya**). 2. Ngài có thể thấu hiểu ngay lập tức những phương pháp bí truyền mà các bậc hiền triết xưa đã biên soạn một cách kín kẽ. Các môn học huyền thuật Gandhari (như bùa chú, linh phù, chân ngôn, v.v.), ngài chỉ cần nhìn qua là có thể chỉ ra cách hình thành, cách sử dụng và cả công năng của chúng. 3. Đối với các điềm báo, tướng lạ, giấc mơ, hay các con số, văn tự, kệ ngôn, sấm truyền (**Tabaung**), hoặc các dấu hiệu về phương hướng, núi non, sông ngòi trong thiên nhiên, hễ ai muốn biết mà thỉnh vấn, ngài đều có thể giải đáp ngay lập tức. ## TRANG 401 (Đừng vì thấy những điều này mà lầm tưởng đó là con đường của Gandhari hay thế tục Lokāyata. Định lực trong thiền Minh sát (Vipassanā samādhi) làm cho năm căn (pasāda) và sáu nội xứ (āyatana) trở nên sắc bén, nhờ đó có thể thấu suốt Tam Tạng một cách dễ dàng – như đã trình bày trong chương về Ngài Thaton Jetawun Sayadaw). 4. Không chỉ dừng lại ở đó, ngài còn thông suốt Tha tâm thông (Cetopariya-abhiññā), biết được những ý định, suy nghĩ của người khác, cũng như những việc họ đã sắp đặt hay những sự kiện đang diễn ra. 5. Ngoài ra, ngài còn thấu thị về những điều sắp hư hoại, cũng như cảnh giới tái sinh (gati) của một người sau khi qua đời. Người ta vô cùng tôn kính khi đọc thấy những ghi chép minh định về việc ngài đạt được Hiệp thế Thắng trí như vậy. Về việc ngài đạt được Siêu thế Thắng trí, dựa trên cách ngài viên mãn Tam học (Sikkhā) một cách không mệt mỏi và sự giải thoát khỏi mọi vướng mắc, điều này là không thể nghi ngờ. Bởi vì các bậc thánh nhân thường giữ kín và mật hạnh còn hơn cả những gì Luật tạng (Vinaya) quy định, nên chúng ta chỉ có thể nương theo những dấu hiệu ít ỏi này để làm gương (**Diṭṭhānugati**) tu tập và sinh lòng hoan hỷ. Nếu các ngài hiển lộ ra nhiều hơn, thì lịch sử Pháp hành (Paṭipatti) của Myanmar chắc chắn sẽ còn rạng rỡ và đáng ngưỡng mộ hơn nữa. Bởi lẽ, nếu chúng ta có đức tin (Saddhā) và sự tinh tấn (Vīriya) làm nền tảng để thực hành, thì những lời dạy trong Kinh điển vẫn còn tươi nguyên, và hành trình trên con đường **Trung đạo (Majjhima-paṭipadā)** cổ xưa vẫn còn in dấu chân bao người, sẵn chờ chúng ta bước tiếp. ## TRANG 402 ### Ngài Maha Gandhayon Sayadaw vùng đồi Sagaing (1220 - 1281) Ngài Maha Gandhayon Sayadaw vùng đồi Sagaing sinh vào lúc hơn 1 giờ đêm (giờ Miến Điện) Chủ Nhật, ngày mùng 4 sau trăng tròn tháng Tawthalin năm 1220 (Miến lịch) tại thành phố Magway. Ngài đã trải qua 5 hạ sa-di và 5 hạ tỳ-kheo dưới sự hướng dẫn của Ngài Gon-taw Sayadaw U Kesara tại Magway. Pháp danh của ngài là **Ashin Uttara**. Sau đó, ngài lưu lại một hạ với Ashin Puñña ở thành phố Einme, ba hạ với Ashin Vimala ở làng Chaung-phya thuộc thành phố Dedaye, hai hạ với Ngài Mahawun Sayadaw Ashin Jina ở thành phố Kun-chan-kon, và tiếp sau đó là bốn hạ với Ngài Maha Visuddharon Sayadaw ở phía đông Mandalay. Năm 1257, vào hạ thứ 18, vào ngày mùng 4 đầu tháng Waso, ngài đã từ bỏ phố thị để vào rừng tu tập tại đồi Sagaing. Ngài cũng đã biên soạn các tác phẩm về thiền quán Niệm Phật (Buddhānussati) như: **Nibbānamagga Dīpanī**, **Nibbānamagga Bhedanī** và **Nibbānagata Bojjhaṅga Dīpanī**. Đồi Sagaing thời bấy giờ không giống như bây giờ; nó vô cùng tĩnh lặng và thanh bình. Khi ngài vào rừng, chỉ có khoảng bốn hoặc năm bạn đạo đồng hành. Mỗi người ở trong một am thất nhỏ riêng biệt. Vào những ngày giới (Uposatha), ngài thường đóng cửa thiền tịnh vì ngại phải truyền giới (hàn huyên với cư sĩ). Dù ngài luôn tránh né đám đông, nhưng danh tiếng của ngài ngày một vang xa khiến số lượng người tìm đến ngày càng đông. Sau 11 năm, ngài phải dời đến khu vực phía đông Gandhayon. Nhưng tại đó người ta cũng lại tụ tập đông đảo, nên sau hai hạ, ngài lại phải quay về am thất cũ vào ngày mùng 1 tháng Waso năm 1270. Khi không thể từ khước được, ngài mới truyền giới và thuyết pháp đôi chút. Sau đó, vào ngày nhập hạ năm 1272, ngài đi đến hang động ở Maha Sukha Chaung thuộc núi Wankaba để nhập hạ. Ngài lưu lại trong hang động, ngày đêm không ngừng nghỉ, dành trọn phần đời còn lại sống trong trạng thái hằng hữu với giáo pháp. Vị tăng trẻ mang vật thực đến phải đặt bát tại một điểm quy định trước cửa hang rồi ra hiệu; ngài không tiếp xúc ngay cả với người đưa cơm. Mỗi khi ra khỏi hang để đi khất thực tại các trú xứ của các nữ tu (thila-shin), đó mới là lúc các thí chủ từ phương xa có cơ hội dâng cúng vật thực. Những vật thực hay y phục dư thừa, ngài thường ghé vào các chùa trên đường để tặng lại. Ngài không nhận bất kỳ vật dụng, chùa chiền hay y phục nào dư thừa cho riêng mình. Ngài thường chỉ dạy rằng nên dùng chúng để xây dựng hoặc dâng cúng vào những nơi cần thiết khác. Đối với những y phục dư thừa có được trong năm, ngài cho tổ chức một kỳ thi Luật tạng hàng năm để làm phần thưởng dâng tặng cho các vị tăng. Kỳ thi này vẫn còn được duy trì và phát triển rực rỡ cho đến ngày nay. Thí chủ cúng dường ngôi chùa ban đầu là cụ U Sar, thân phụ của vị đại phú hộ U Kyaw ở khu Wa-dan, thành phố Mandalay. Khi gia đình chuẩn bị đến để tổ chức đại lễ sớt nước cúng dường (Yezetcha) một cách long trọng, Ngài đã bảo họ thực hiện nghi thức sớt nước cúng dường ấy một cách lặng lẽ, âm thầm trước ngày mời quan khách một hai hôm. Điều này là nhằm giúp cho tâm trí của họ không bị phân tán, lăng xăng, nhờ đó viên mãn trọn vẹn phước báu của một đại thí ba-la-mật hướng đến giải thoát (Vivatta Parami Dana). ## TRANG 403 Đối với những hành giả đến tầm học pháp hành, ngài chỉ hướng dẫn ở mức độ đầy đủ vừa phải, rồi sau đó ngài thường ẩn cư trú xứ một mình. ### Hào quang thân (Thân quang) Một ngày nọ, Ngài Cố vấn (tức Mahāgandhārum Sayadaw) bảo vị đệ tử thân cận là **U Saddhamma** (sau này là Chan-myay Sayadaw) vào trong hang để lấy một số cuốn sách mà ngài muốn sử dụng. Khi vị đệ tử bạch rằng trong hang tối quá không nhìn thấy gì, ngài vừa bước chân vào hang thì cả hang động bỗng trở nên sáng rực. Ngài cấm vị đệ tử không được kể chuyện này với bất kỳ ai. Mãi cho đến sau khi ngài viên tịch, ngài **U Saddhamma** mới tiết lộ điều này với ngài **U Aggadhamma** (Sayadaw chùa Aung-myay-thar-zi). Một lần khác, trong khi đang cử hành nghi thức Uposatha tại giới đàn chùa Mahāgandhārum, ngài ngồi cùng hàng với các bậc trưởng lão khác. Ngài **U Aggadhamma** khi ấy ngồi ở hàng phía sau đã nhìn thấy những luồng hào quang phát ra từ phần vai và cánh tay để trần của ngài. Lại có lần, khi ngài đang lưu trú tại thị trấn Paleik, gần chùa có một nhà vệ sinh. Ngài bảo **U Saddhamma** hãy dời nhà vệ sinh đó sang chỗ khác. Dù không được giải thích lý do, **U Saddhamma** vẫn miễn cưỡng thực hiện theo lời dạy. Chẳng bao lâu sau, vị đệ tử đã hiểu ra ý định của ngài: một cành xoài lớn ngay phía trên vị trí nhà vệ sinh cũ bất ngờ gãy xuống. Các hành giả đều tin tưởng rằng việc đến tầm học và thực hành thiền định dưới sự hướng dẫn của ngài rất dễ nắm bắt và chứng đắc. Một bà lão hành giả (vốn là thí chủ của ngài So-yein Sayadaw ở dặm số 8) kể lại rằng: Tại trú xứ của ngài có một vị nữ đệ tử (Thāvikāma) thuộc dòng dõi hoàng gia, vừa hộ trì các việc vặt cho ngài vừa hỗ trợ hướng dẫn pháp hành. Vị này luôn dùng lời lẽ dịu dàng gọi các hành giả mới đến là "con ơi" và tận tình giúp đỡ. Bà lão kể rằng khi bà đến, vị nữ đệ tử ấy đã khích lệ và trìu mến xoa nhẹ vào lưng bà; ngay lúc đó, bà cảm thấy một luồng điện râm ran chạy khắp cơ thể như bị thôi miên, tâm ích phấn chấn và nhuần nhuyễn hẳn lên. ## TRANG 404 Dù một mặt gánh vác các trọng trách Phật sự như quản lý tăng đoàn, ngài Mahāgandhārum Sayadaw vẫn luôn tận tụy dành toàn bộ thời gian cho việc thực hành pháp hành (Paṭipatti). Vào ngày 8 tháng suối (Wagaung) năm 1281 (Âm lịch Myanmar), ở tuổi 61 và 42 hạ lạp, ngài đã viên tịch ngay tại trú xứ Mahāsu. Đêm ngài viên tịch, ngài **Ghositawana** (Hòa thượng tông chủ tông phái Sudhamma), vị đang lưu trú ở phía tây rặng núi, đã kể với ngài Chan-myay Sayadaw rằng ông đã nhìn thấy những luồng ánh sáng rực rỡ bay qua lại giữa các đỉnh núi trên toàn bộ vùng đồi Sagaing suốt cả đêm. ### Cuộc đàm đạo với đại trưởng lão Ledi Sayadaw Trong thời gian đại trưởng lão Ledi Sayadaw (bậc ân sư tôn kính) lưu trú tại rặng núi Sagaing, ngài Mahāgandhārum đã đến đảnh lễ và đàm đạo. Cuộc đối thoại này đã được ngài Sayadaw chùa Thein-taung-se-gyi (hơn 70 tuổi) ghi chép lại trong tác phẩm "Ariyā-vijjā-magga Alin-pya-kyan" (1955), trang 369, với những nội dung vô cùng đáng chú ý: **Gandhārum**: Bạch bậc Thầy, khi con hướng dẫn đề mục **Phật tùy niệm** (Buddhanussati), các đệ tử hành giả thường đắc được tướng (Nímitta) về đức Phật rất rõ ràng chỉ sau 4, 5 hoặc 7 ngày. Sau đó, khi con hướng dẫn quán chiếu sự sinh diệt của danh sắc, có những hành giả đã thấu đạt **10 tuệ quán** (Vipassanā-ñāṇa) chỉ trong vòng 7 đến 10 ngày. Trong khi đó, theo Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga), việc này được mô tả là cực kỳ khó khăn. Nhưng với những người đang thực hành hiện nay, con thấy sao mà dễ dàng quá, bạch Thầy. **Ledi**: Này Hiền giả, ông hướng dẫn **Phật tùy niệm** như thế nào? **Gandhārum**: Bạch Thầy, con hướng dẫn họ quán tưởng đức Phật đang ngự trên bảo tòa vàng dưới cội đại Bồ-đề, sau khi chiến thắng ngũ ma và thấu đạt Tứ Thánh Đế. Con bảo họ trải một tấm da thú trước mặt, dâng cúng hoa, nước và đèn dầu. Họ phải dâng hiến thân tâm này cho đức Phật, đảnh lễ tôn kính trong khoảng cách hai tỳ (khoảng 1 mét) và liên tục tác ý "**Arahaṃ, Arahaṃ**". Các hành giả đều thấy hiện ra tướng như một pho tượng sống động với hào quang sáu màu rực rỡ, được chiêm ngưỡng đức Thế Tôn một cách rõ ràng, bạch Thầy. ## TRANG 405 **Ledi**: "Trong **Thanh Tịnh Đạo** có dạy rằng đề mục **Phật tùy niệm** không thể hiện ra tướng (Nímitta), mà chỉ sinh khởi hỷ (Pīti). **Phật tùy niệm** nghĩa là sự tỉnh giác, ghi nhớ lặp đi lặp lại về các ân đức của đức Phật. Người thực hành **Phật tùy niệm** có tâm thiết lập vững chãi trên đối tượng duy nhất là ân đức Phật. Khi thường xuyên tưởng nhớ và tu tập về ân đức Phật như vậy, các tâm tham, sân, si không có cơ hội khởi lên. Tâm trở nên ngay thẳng, định tĩnh trên đối tượng Phật bảo. Các triền cái (Nīvaraṇa) bị đẩy lùi. Khi ấy, **Tầm** (Vitakka) và **Tứ** (Vicāra) hướng về ân đức Phật sinh khởi, dẫn đến niềm vui **Hỷ** (Pīti), sự tĩnh lặng **Khinh an** (Passaddhi), và cảm giác an lạc của thân tâm là **Lạc** (Sukha). Với người có lạc, tâm lấy ân đức Phật làm đối tượng nên sẽ trở nên định tĩnh. Cứ như vậy, trong một sát-na, các thiền chi đồng loạt sinh khởi. Tuy nhiên, vì ân đức Phật vô cùng sâu sắc và đa dạng, tâm ghi nhớ với sự tôn kính sâu sắc nên không thể đạt đến **An chỉ định** (Appanā), mà chỉ dừng ở mức **Cận định** (Upacāra-jhāna). Vì loại định này sinh khởi nhờ năng lực của việc ghi nhớ lặp đi lặp lại ân đức Phật, nên nó chỉ được gọi là **Phật tùy niệm**. Do đó, việc nói rằng Phật tùy niệm chỉ sinh hỷ mà không hiện tướng là điều hiển nhiên trong kinh điển. Tuy nhiên, vì Hiền giả đã đưa ra một nghi thức chuẩn bị (Parikamma) cụ thể, nên tướng hiện ra tương ứng với cách chuẩn bị đó. Việc hiện ra tướng đức Phật - một đối tượng cực kỳ tốt lành (Ati-iṭṭhā-rammaṇa) - là điều tốt. Không nên phá bỏ tướng đã đắc được. Nhưng nếu gọi đó là Phật tùy niệm thì sẽ không phù hợp với giáo lý. Phải xếp nó vào một trong bốn loại Kasina màu sắc và gọi là **Phật-Kasina** thì mới tương hợp với tướng đã đắc được," ngài Ledi Sayadaw chỉ dạy như vậy. Về **10 tuệ quán**, ngài tiếp tục hỏi: **Ledi**: Còn việc Hiền giả hướng dẫn 10 tuệ quán thì sao? **Gandhārum**: Con hướng dẫn cách quán chiếu **Tuệ Thẩm thấu** (Sammasana-ñāṇa). Các hành giả đều thấy rõ như lời con giảng. Sau đó, con giảng về **Tuệ Sanh diệt** (Udayabbaya-ñāṇa) - sự sinh và diệt của danh sắc. Tiếp đến, con dạy họ hãy buông bỏ sự sinh mà chỉ tập trung quán chiếu sự diệt. Họ đều thực chứng được theo đúng lời hướng dẫn, bạch Thầy. ## TRANG 406 **Ledi:** Trong ba loại trí: Tuệ văn (sutamayañāṇa), Tuệ tư (cintāmayañāṇa) và Tuệ tu (bhāvanāmayañāṇa), để thấu triệt được bản chất thực thụ của các pháp (Sabhāvadhamma), hành giả phải kiên trì quan sát khía cạnh của Khổ (Dukkha). Nếu chưa nắm vững được khía cạnh Khổ, cần biết rằng đó chưa phải là Tuệ tu thực thụ của bản chất pháp. Khi ấy, cần khuyến khích hành giả dấn thân về phía trước, giữ cho Ngũ quyền (Vị lực) được quân bình để nỗ lực hành trì. Tại thành phố Mandalay, khi cho ngựa kéo xe ăn, người ta thường thái nhỏ cỏ khô. Họ đeo cho ngựa một cặp kính màu xanh lá cây. Qua nhãn thức của con ngựa, cỏ khô trông như cỏ xanh và nó cứ thế ăn. Đây thực chất chỉ là việc đánh lừa nhãn thức của con ngựa bằng cặp kính xanh để nó tưởng cỏ trắng khô là cỏ xanh tươi. Để thấy rõ trạng thái tự nhiên (Jāti) nguyên bản, hãy tháo cặp kính xanh đó ra; khi ấy cỏ xanh sẽ biến mất và hành giả sẽ thấy cỏ trắng nguyên bản đúng như màu trắng của nó. Tương tự như vậy, đối với hành giả đang hành thiền, để biết được tuệ giác đang khởi lên có phải là Sabhāvadhamma thực thụ hay không, sau khi Dục tầm (Kāma-vitakka) khởi lên mạnh mẽ, hãy bảo họ thực hành lại 10 loại Tuệ Minh Sát (Vipassanā-ñāṇa) mà họ đang thấy. Nếu đó chỉ là tuệ giác kết hợp giữa định Sa-ma-tha (Samatha) với Tuệ văn, Tuệ tư, thì hành giả sẽ không thể tìm thấy bất kỳ sự sinh diệt nào của Danh-Sắc, thậm chí sẽ rơi vào bóng tối mịt mù đến mức không thấy cả hình dáng cơ thể mình. Vì vậy, đối với các đệ tử, cần phải kiểm chứng theo cách này. (Ý nói nếu là Sabhāvadhamma thực thụ thì sự sinh diệt của Danh-Sắc sẽ không mất đi. Hãy xem thêm trong **Anatta-dīpanī**). (Có vẻ như **Ngài Đại trưởng lão Ledi** cho rằng trong các hành giả của Ngài Gāndhāyon đã xuất hiện những hiện tượng Ma đạo/Đạo giả (Magga-yaung Phala-yaung), những ảo giác hay sự thâm nhập của ma lực. Ngài Đại trưởng lão là bậc dày dạn kinh nghiệm và có trí tuệ sâu rộng. Những gì Ngài Se-gyi ghi chép lại mang hàm ý rất sâu sắc. Trong quá trình tìm hiểu về Ngài Đại trưởng lão Mahā Gāndhāyon trong khả năng có thể, tôi nhận thấy dù Ngài rất nổi tiếng nhưng tài liệu ghi chép lại không nhiều. Chỉ có những ghi chép từ những bậc thông thạo cả Pháp học (Pariyatti) lẫn Pháp hành (Paṭipatti) mới đáng tin cậy. Đây cũng là điều mà các bậc trí giả đa năng có cơ hội gần gũi các bậc cao đức cần lưu tâm. Không nên để lỡ những cơ hội tốt giúp ích cho giáo pháp.) ## TRANG 407 ### Linh ảnh đúng đắn (Pháp tướng chân thực) Đọc những ghi chép của cư sĩ U Thein Aung, giảng sư Vi Diệu Pháp tại Mandalay, về một vị nữ tu (Thi-la-shin) là đệ tử của Ngài Đại trưởng lão, lòng kính ngưỡng và ý chí tu học trong tôi lại dâng cao. Thuở ấy, có một vị nữ tu lớn tuổi từ Henzada đến tu tập, bà ở tại am Maggin, còn con trai của bà là một vị Tỳ-kheo thì ở tại am Dhūvaṃ. Một ngày nọ, vị nữ tu đến gặp con trai và thưa rằng: "Thưa sư, sáng nay Maung Ba Kyan, em trai của sư, đã bị người ta chém bằng dao. Nó bị thương ở mặt bên phải, thái dương bên trái và bả vai, hiện đang nằm tại bệnh viện Henzada." Vị Tỳ-kheo hỏi lại: "Thưa mẫu thân, ai đã nói cho bà biết vậy?" Bà thưa: "Chẳng có ai đến nói cho tôi cả, tôi thấy rõ trong tâm khi đang hành thiền." Vị con trai nói: "Ồ, chắc là do mẫu thân quá bận tâm nên mới tưởng tượng ra linh ảnh đó thôi." "Trước khi đến đây, tôi đã chia đều toàn bộ tài sản cho hai anh em sư rồi, không còn gì để luyến ái hay bận tâm nữa. Tôi cũng không hề nhớ tới Ba Kyan, nhưng linh ảnh của tôi thường rất chính xác. Sư hiện đang đắp y (xuất gia gieo duyên) nên tôi đến báo để sư làm tròn bổn phận của mình." Nói xong bà ra về. Việc tự tin vào linh ảnh của mình như vậy thật khó để tin bằng nhận thức thông thường, nhưng vị nữ tu lớn tuổi ấy rõ ràng rất mực tin tưởng vào sự thấy biết của mình. Sau khi mẫu thân về, vị Tỳ-kheo rất băn khoăn. Ngay trong ngày hôm đó, có bức điện tín gửi tới nên vị ấy lập tức đi Henzada. Khi đến bệnh viện, vị ấy thấy các vết thương y hệt như những gì mẫu thân đã mô tả. Không lâu sau, khi Maung Ba Kyan bình phục, anh ta đã đến dãy núi Sagaing để xuất gia gieo duyên. Các vị Tỳ-kheo trong chùa đã bàn luận về sự thấy biết của vị mẫu thân. Khi đó, Maung Ba Kyan kể lại rằng vào giây phút bị chém, trong cơn đau đớn cận kề cái chết, anh đã vô cùng hối hận vì không nghe lời dạy của mẫu thân và tâm anh lúc đó chỉ hướng về bà. Cư sĩ U Thein Aung muốn đưa ra nhận định về sự giao thoa giữa các tâm thức, nên trong tác phẩm "Phật giáo, Tam giới và Nguồn gốc chúng sinh", ông đã dẫn chứng một sự việc mà chính ông từng chứng kiến năm 15 tuổi. ## TRANG 408 ### Chớ nên quá coi trọng thần thông (Thấy nghe huyền bí) **Dhammācariya U Htay Hlaing** Xem xét trường hợp của vị nữ tu trên, ta càng thêm kính trọng đức hạnh của vị thầy hướng dẫn thiền. Điểm chúng tôi muốn nhấn mạnh là: "Nếu thực làm thì sẽ có thực chứng." Những người có sự thấy biết như vị nữ tu đó có lẽ hiện nay không thiếu. Tuy nhiên, nếu chỉ vì có được sự thấy biết đó mà đã vội tôn xưng là bậc A-la-hán thì quả là một mối nguy lớn trong lịch sử Pháp hành (Paṭipatti Sāsana). Loại thấy biết đó có thể chỉ là sơ khởi của Thắng trí (Abhiññā), là nhận thức thế gian thông thường, chưa nói đến A-la-hán, mà ngay cả quả vị Tu-đà-hoàn cũng chưa chắc đã đạt tới. Bậc Thánh (Ariya) không nhất thiết phải biết mọi chuyện, và người biết mọi chuyện chưa hẳn đã là bậc Thánh. Nếu không có nền tảng Pháp học và Pháp hành để phân biệt giữa Thế gian và Xuất thế gian thì không nên sa đà vào các định kiến. Những bậc chân tu đức độ thông thạo cả Pháp học lẫn Pháp hành, giữ gìn giới luật tinh nghiêm, thường chẳng bao giờ xem những sự thấy nghe huyền bí đó là chuyện to tát để phô trương. Ngược lại, các Ngài còn e ngại người khác biết được điều đó. Chúng ta cần hiểu rõ thực tế này. ### Nhật ký hành trì tự viết Người ta từng tôn xưng Ngài Đại trưởng lão là bậc Bất Lai (Anāgāmī). Tuy vậy, cũng có những bậc trí giả cho rằng Ngài vẫn chưa vượt ra khỏi Dục giới. Dù thế nào đi nữa, Ngài là bậc có ý chí và nỗ lực phi thường. Những ngày cuối đời khi lâm trọng bệnh, Ngài càng nỗ lực hơn nữa. Ngài còn phát nguyện với tinh tấn Chánh cần rằng: "Chừng nào chưa đắc quả A-la-hán, tôi quyết không rời khỏi hang này." Bệnh tình ngày một trầm trọng, các đệ tử lớn vì không nỡ nhìn Ngài chịu khổ nên nhiều lần thỉnh Ngài rời hang để điều trị, nhưng Ngài không chấp thuận. Cuối cùng, các vị đệ tử phải đem sự tình thưa với **Ngài Đại trưởng lão Ledi** để nhờ giúp đỡ. Đích thân Ngài Ledi đã vào tận hang để khuyên bảo. Ngài (U Uttara) thưa: "Con đang giữ lời phát nguyện." Ngài Ledi xem xét tình trạng sức khỏe rồi suy nghĩ hồi lâu, sau đó quay sang các vị Tỳ-kheo đi cùng và bảo: "Nào các vị Tỳ-kheo, hãy khiêng Ngài ra ngoài. Việc phát nguyện là của U Uttara, còn việc đưa ra khỏi hang là việc của **Đại trưởng lão Ledi** này." Nói đoạn, Ngài hộ tống về chùa. ## TRANG 409 Sau khi Ngài viên tịch, lúc dọn dẹp chỗ ngài ở, người ta ngạc nhiên tìm thấy bản nhật ký ghi chép 12 năm tu hành do chính Ngài viết; trong đó bao gồm 16 loại giấc mơ, các điềm báo và những suy tư quán chiếu. Điều đặc biệt là ngay trong lời tựa, Ngài đã dặn dò rằng: "Này các hàng tỳ-khưu, cư sĩ và tu nữ, để giúp cho thiền quán (Samatha Vipassanā) được tăng trưởng, các đệ tử nên đưa nhật ký này vào in trong sách thiền." Tuy nhiên, trong bất kỳ cuốn sách nào do Ngài viết, người ta đều không tìm thấy bản ghi chép này. Nhờ ân đức của Ngài Mahosadha Paṇḍita ở tu viện Wejayantā, dãy núi Sagaing, bản nhật ký này đã được tìm thấy và đăng trên tạp chí Dhamma Byūha số (9-10 và 10-5) xuất bản vào tháng Tabodwe năm 1332 (tức ngày 10/2/1971). Mặc dù những ghi chép này có vẻ không quá kỳ bí trong thời đại ngày nay, nhưng chúng ta sẽ rút ra được một bài học quý giá rằng: "Ngay cả những bậc thánh nhân cao quý, am tường kinh điển và viên mãn về giới hạnh như vậy mà đôi khi vẫn gặp phải những ảo giác, linh tính và suy nghĩ sai lệch, rối rắm. Thậm chí khi phận sự sa-môn chưa hoàn tất, Ngài vẫn có lúc lầm tưởng rằng mình đã chứng đắc." Bài học đặc biệt cần rút ra chính là về việc phát nguyện thành Phật (Buddhaphala). Những người tự nhận mình là "Bậc đại nguyện" ngày nay cần phải suy xét và quyết định dứt khoát; vì khi hành vi của mình còn xa rời với đạo hạnh của các bậc Bồ-tát mà không tự biết, thì đó chính là đang tự lừa dối chính mình. Thật đáng tri ân việc Ngài đã lưu lại bản ghi chép này. Nội dung nhật ký của Ngài như sau: 1. Năm 1257, khi đang thực hành thiền định, đến năm 59 thì đạt được **Sự an tịnh thân tâm (Kāya-passaddhi Citta-passaddhi)**. Trong khoảng một tháng, cả thân và tâm đều lìa xa phiền não, sự nóng nảy hoàn toàn dập tắt và trở nên vô cùng thanh tịnh. 2. Sau đó, đến năm 61, bắt đầu từ ngày mùng 7 tháng Kasone (ngày đầu năm mới), Ngài luôn nghe thấy các đối tượng âm thanh (Thaddārom) thông qua nhĩ môn (Sotadvāra). 3. Sau khi nghe được các âm thanh đó, Ngài rơi vào trạng thái hỷ lạc (Pīti) vô cùng mãn nguyện trong suốt nhiều ngày. 4. Tiếp theo, dù chưa chứng đắc các tầng Thiền, Đạo hay Quả, nhưng trong tâm Ngài luôn có cảm giác như thể mình đã đạt được điều đó trong nhiều ngày liên tục. 5. Sau đó, hình ảnh Đức Phật cùng các bậc đại A-la-hán như Ngài Sāriputta, Ngài Moggallāna hiện lên trong tâm Ngài rõ rệt như những thực thể ngũ uẩn trong Niết-bàn suốt nhiều ngày. 6. Tiếp đó, khi quán chiếu về Danh - Sắc (Rūpa-Nāma) nhiều lần, vào đêm mùng 7 tháng Đệ nhất ## TRANG 410 Waso năm 61, trong khi đang quán chiếu Danh - Sắc thì các khái niệm chế định (Paññatti) biến mất. Ngài thoát khỏi **Hôn trầm và Phóng dật (Thina-middha Uddhacca)**, thức trắng cho đến sáng và thấy rõ rằng mọi loài hữu tình lẫn vô tình đều chỉ là sự tập hợp của Danh và Sắc. Ngài luôn thấy rõ các pháp Danh - Sắc này chỉ là **Vô thường, Khổ, Vô ngã (Anicca, Dukkha, Anatta)**. Từ trong những làn khói bụi hay mây mù mờ ảo hiện ra một luồng ánh sáng trong trẻo, phản chiếu rõ rệt khuôn mặt của Ngài. 7. Tiếp theo, khi quán chiếu Danh - Sắc nhiều lần, vào đêm trăng tròn 14 tháng Đệ nhất Waso, Ngài thức suốt đêm, mọi phiền não nóng nảy đều dập tắt. Các pháp như **An tịnh thân tâm (Kāya-passaddhi, Citta-passaddhi)** phát sinh, thoát khỏi Hôn trầm và Phóng dật. Có rất nhiều luồng ánh sáng hiện ra như khói mây, như những hạt ngọc đỏ, hay như ngọn lửa đang cháy; và Ngài luôn thấy rõ các luồng sáng đó đều có bản chất là **Vô thường, Khổ, Vô ngã**. 8. Sau đó, khi quán chiếu liên tục **10 Tuệ quán (Vipassanā-ñāṇa)**, Ngài thấy rõ từ **Tuệ thẩm sát (Sammasana-ñāṇa)** cho đến **Tuệ hành xả (Sankhārupekkhā-ñāṇa)**. 9. Tiếp theo... khi quán chiếu, Ngài thấy **Tuệ thẩm sát (Sammasana-ñāṇa)** và **Tuệ sinh diệt (Udayabbaya-ñāṇa)** hiện rõ vô cùng từ năm 61 cho đến ngày thứ 6 sau trăng tròn tháng Pyatho năm 62 (Thứ Tư). 10. Tiếp đó... vào ngày thứ 8 sau trăng tròn tháng Nattaw năm 62, bắt đầu từ 4 giờ chiều và thức suốt đêm đến sáng, Ngài chỉ chú tâm vào Niết-bàn và lầm tưởng rằng mình đã đắc cả **Bốn tầng Thánh Đạo**. Cho đến khi trời sáng, Ngài mới nhận ra mình chưa đắc cả bốn tầng. **P-a, Th-a, M-am, M-a, G-a - R-a.** (Nghĩa là Ngài cho rằng đã đắc tầng Đạo thứ nhất). 11. Tiếp theo... vào ngày thứ 6 sau trăng tròn tháng Pyatho năm 62 (Thứ Tư), Ngài thấy **Tuệ diệt (Bhanga-ñāṇa)** trở nên vô cùng già dặn và hiện rõ liên tục. 12. Sau đó... vào đêm ngày thứ 11 sau trăng tròn tháng Pyatho, các tuệ: **Tuệ kinh sợ (Bhaya-ñāṇa), Tuệ thấy tội lỗi (Ādīnava-ñāṇa), Tuệ nhàm chán (Nibbidā-ñāṇa), Tuệ muốn giải thoát (Muñcitukamyatā-ñāṇa), Tuệ quán sát lại (Paṭisankhā-ñāṇa), Tuệ hành xả (Sankhārupekkhā-ñāṇa)** hiện rõ vô cùng. 13. Tiếp theo... khi kết thúc **Tuệ hành xả (Sankhārupekkhā-ñāṇa)**, bước đầu Ngài thấy các tuệ **U-A-Ni** là **Khổ đế (Dukkha Sacca)**; thấy **Tuệ thẩm sát (Sammasana-ñāṇa)** là **Tập đế (Samudaya Sacca)**; thấy **Tuệ muốn giải thoát (Muñcitukamyatā-ñāṇa)** là **Diệt đế (Nirodha Sacca)**; thấy **Tuệ quán sát lại và Tuệ hành xả** là **Đạo đế (Magga Sacca)**. 14. Tiếp đó, khi quán chiếu **10 Tuệ quán** nhiều lần, Ngài thấy rõ ## TRANG 411 **Tứ Diệu Đế** luôn hiện rõ thông qua năng lực của thiền tập (Bhāvanā). 15. Tiếp theo, khi quán chiếu về các pháp **Duyên khởi (Paṭiccasamuppāda)** và **Duyên sinh (Paṭiccasamuppanna)**, các pháp này hiện rõ trong suốt nhiều ngày. 16. Sau đó... khi quán chiếu về bốn phương cách: Nhất thể (Ekatta), Dị biệt (Nānatta), Vô ý tác (Abyāpāra) và Pháp tính tự nhiên (Evaṃ dhammatā), bốn phương cách này hiện rõ trong nhiều ngày. 17. Tiếp theo, khi quán chiếu **7 bước Thanh tịnh (Visuddhi)**, Ngài thấy rõ từ **Giới thanh tịnh (Sīla-visuddhi)** cho đến **Đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh (Paṭipadā-ñāṇadassana-visuddhi)**. 18. Sau đó, Ngài dùng tâm hình dung ra một người phụ nữ quen biết đang trang sức rực rỡ với chuỗi hạt, hoa tai và y phục đẹp đẽ đứng bên cạnh. Dù người phụ nữ đó trông rất kiều diễm nhờ trang sức, nhưng Ngài quán chiếu rằng cô ấy không thể tránh khỏi quy luật của sự già yếu; rồi lập tức hình ảnh hiện ra với tóc bạc, răng rụng, xương hố mắt, xương hàm, xương sườn lộ ra gầy guộc, mang dáng vẻ gớm ghiếc, bất tịnh (Ngài cũng quán tương tự về sự đau đớn, cái chết và sự thối rữa). Ngài quán rằng bộ xương vẫn còn đó và thấy rõ bộ xương hiện ra. Ngài thấy rõ bộ xương đó mang bản chất **Vô thường, Khổ, Vô ngã**. 19. Ban đêm, trước khi ngủ, Ngài nhìn lên các vì sao trên trời và tu tập thiền quán, khi ngủ thì trong ý môn (Manodvāra) hiện ra rất nhiều vì sao. 20. Ban ngày, Ngài nhìn lên mái chùa và tu tập thiền quán, khi ngủ ban đêm thì mái chùa lại hiện ra trong ý môn. 21. Sáng ngày thứ 5 sau trăng tròn tháng Đệ nhất Waso năm 1263, Ngài cảm thấy tâm không an lạc vì lỗi của người khác. Trưa hôm đó, sau khi ngủ dậy, dù Ngài nỗ lực quán chiếu các pháp thường nhật nhưng sự bất an - một chướng ngại lớn đối với Pháp (Dhamma-antarāy) - vẫn phát sinh. Ngài liền quán chiếu bài kệ **"Piyato jāyati soko"** (Do ái quyến sinh sầu ưu) nhiều lần để thấy những người đó như là kẻ thù. Khi đó, từ người đó cho đến tất cả những người thân yêu đều hiện rõ là "kẻ thù bên trong" (nội oán), còn năm loại kẻ thù bên ngoài là "kẻ thù bên ngoài" (ngoại oán). Ngài thấy rõ rằng do những kẻ thù bên ngoài đó mà các thiện nghiệp thế gian phát sinh trong tâm lại trở thành kẻ thù nội tại; còn các bất thiện nghiệp phát sinh trong tâm chính là kẻ thù bên ngoài. Đồng thời, các nghiệp thiện và nghiệp ác tích lũy từ nhiều đời kiếp bỗng vây quanh như những kẻ thù khổng lồ. Ngài thấy rõ mồn một các ác nghiệp như muốn xô mình vào ngục tù luân hồi nơi bốn đường ác đạo; cũng thấy rõ các thiện nghiệp như muốn giam hãm mình trong vòng luân hồi nơi cõi người, cõi trời và cõi phạm thiên. ## TRANG 412 Khi linh cảm ấy xuất hiện, vì thấy trong ba cõi không có nơi nào để nương tựa, ẩn náu hay dựa dẫm, nên nỗi sợ hãi và kinh hoàng tột độ phát sinh mãnh liệt đến mức không thể kiềm chế được. Nước mắt tuôn trào, trong suốt hai ba giờ đồng hồ, nỗi sợ hãi bao trùm cực độ. Khi quán sát sâu kỹ các "kẻ thù", ngài thấy rõ: 7 tâm sở Biến hành (như **Phassa** - Xúc...), 5 tâm sở Biệt cảnh (như **Vitakka** - Tầm...), 14 tâm sở Bất thiện (như **Moha** - Si...) và 12 tâm bất thiện — tổng cộng 39 pháp này chính là những "kẻ thù bất thiện" dẫn dắt vào ngục tù luân hồi trong bốn đường ác (khổ cảnh). Đồng thời, ngài cũng thấy rõ: 7 tâm sở Biến hành tịnh hảo, 6 tâm sở Biệt cảnh tịnh hảo, 24 tâm sở Tịnh hảo (như **Saddhā** - Tín...), 8 tâm thiện Dục giới, 5 tâm thiện Sắc giới và 4 tâm thiện Vô sắc giới — tổng cộng 54 pháp này là những "kẻ thù thiện" khiến chúng sinh còn tiếp tục trôi lăn trong khổ cảnh luân hồi. Sau khi thấy rõ như vậy, khi ngài hướng tâm suy xét đến tâm sở Tuệ (Paññā), ngài thấy rằng chính tâm sở Tuệ này mới là người bạn tốt, là nơi nương tựa, ẩn náu và dựa dẫm để thoát khỏi nỗi khổ luân hồi. Khi nhận chân được tâm sở Tuệ là người bạn lành cao thượng, cả thân và tâm ngài đều trở nên an lạc và nhẹ nhõm. Vào khoảng hơn 6 giờ tối Chủ Nhật, mùng 8 tháng Giêng năm 1266 (văn kỷ Myanmar), ngài đã liễu tri Tứ Diệu Đế. Lúc đó có hai đợt địa chấn (động đất) xảy ra. **"Da-U, Ta-I, Ya-A, Ma-A, Ga-A, Ra-A"** (Đây là từ viết tắt của cụm từ "Dutiya Magga Ra" - Nghĩa là: Đắc quả vị Thánh thứ hai. Vào năm đó, ngài đã chứng đắc quả vị Sakadāgāmi - Tư-đà-hàm. — Ghi chú của người biên soạn). ### Mười sáu giấc mơ kỳ lạ 1. Thấy mối bò lên chân, vì sợ dẫm phải chúng nên ngài phải đứng từ trên không trung để phủi sạch đám mối đi. 2. Thấy mình đuổi theo một con tàu đang đi ngược dòng sông, nhưng chỉ vừa chạm tới tàu chứ không thể bước lên tàu được. (Theo ý nghĩa giấc mơ này: Từ thuở thiếu thời cho đến khi được 22 tuổi hạ, ngài luôn nuôi dưỡng tâm nguyện "Cầu nguyện thành Phật" (Buddha-su-pan). Tuy nhiên, khi đến năm 1261, từ tháng Kasone (tháng 2) đến ngày rằm tháng Waso (tháng 4), vì quá kinh hãi trước hiểm họa luân hồi, ngài đã từ bỏ đại nguyện thành Phật. Giấc mơ này được xem là điềm báo cho việc không thể tiếp tục theo đuổi đại nguyện đó). ## TRANG 413 3. Thấy mình đang ở giữa dòng sông, định bơi sang bờ bên kia hoặc kết bè để qua sông, thì bỗng có một chiếc thuyền nhỏ đi tới; ngài bước lên thuyền và sang được bờ bên kia. (Theo ý nghĩa giấc mơ: Phải đến sau ngày rằm tháng Waso thứ hai, ngài mới phát nguyện đắc quả Thanh Văn (Sāvaka-su-pan) và đây là điềm báo cho việc thành tựu nguyện ước này). 4. Thấy đích thân diện kiến Đức Phật và thực hành Pháp hành Minh sát (Vipassanā) ngay trước mặt Ngài để chứng đắc Niết-bàn. 5. Thấy mình đang đi vệ sinh và cả nhà vệ sinh di chuyển sang nơi khác; khi nhìn lại xem phân có dính vào người không thì thấy "hoàn toàn sạch sẽ, không dính chút uế tạp nào". 6. Thấy mình đang ở trong vũng bùn thì có hai người cầm hai cánh tay kéo ngài lên khỏi bùn. 7. Thấy điềm báo: "Khi trời lạnh, hãy ở trong thiền đường nóng và thực hành đề mục nóng. Khi trời nóng, hãy ở trong thiền đường mát và thực hành đề mục mát". 8. Khi hỏi: "Ánh sáng này là ánh sáng gì?", có tiếng trả lời: "Đó là ánh sáng giới đức của Ngài đại đức Maha Gandhayon". Hỏi tiếp: "Ánh sáng đó chiếu đến đâu?", thì được đáp: "Chiếu rạng đến tận cõi sắc cứu cánh Akanitṭha (Hữu Đỉnh Thiên)". 9. Thấy rằng: "Chỉ còn thiếu một lộ tâm (Vīthi) nữa là đến Niết-bàn. Để thấu triệt Niết-bàn, cần phải đạt đến lộ tâm Hành xả (Upekkhā-vīthi)". 10. Hình — Danh Sắc; Mát — Niết-bàn; Phê — Đấng Chánh Biến Tri; Mê — Pháp; Thas — Tăng. Để đạt đến Niết-bàn mát lạnh nhanh chóng, khi còn Danh Sắc hãy nỗ lực thực hành Diệu Pháp. Khi mạng căn không còn nữa, đó chính là Pháp mà Đức Thế Tôn đã thuyết dạy. (Giấc mơ này xuất hiện một lần vào ngày thứ Ba, mùng 3 tháng Tawthalin năm 1271, và lặp lại vào ngày thứ Ba, mùng 10 cùng tháng). 11. "**Phalataṃ adhivacanaṃ**, **Etaṃ** = Chiếc bè Bát Chánh Đạo gồm Chánh kiến, Chánh tư duy... này; **Phalassa** = Đối với địa hạt bất thiện trên mặt đất, nó không hề vướng bận mà bay bổng giữa hư không, chính là tên gọi của quả vị A-la-hán (**Adhivacaṃ**)". (Giấc mơ này xuất hiện vào đêm thứ Ba, mùng 9 hạ tuần cùng tháng, quá 1 giờ sáng). 12. "Nóng quá, thiêu đốt quá! Nóng quá, thiêu đốt quá! Nếu dứt đoạn được kiết sử (Saṃyojana) thì sẽ mát mẻ, nếu dứt đoạn được kiết sử thì sẽ mát mẻ". (Giấc mơ này xuất hiện vào ngày thứ Ba, mùng 2 hạ tuần cùng tháng). 13. Vào khoảng 2 giờ sáng ngày mùng 6 tháng Wagaung năm 1272, ngài nằm mơ thấy: Bên sườn một ngọn núi lớn, Ngài đại đức Maha Gandhayon dẫn đầu đoàn người đang mở đường. Khi đường đã thông, có một kẻ thù truy đuổi định hãm hại ngài từ phía sau. Khi kẻ đó đuổi kịp và định ra tay thì Ngài Maha Gandhayon đã gạt ngã kẻ đó xuống vực sâu không đáy, khiến hắn không bao giờ có thể leo lên được nữa. Lúc đó, các đệ tử của Ngài Maha Gandhayon reo hò: "Thắng rồi! Thắng rồi!". Cuối con đường đó, họ gặp một dòng suối và được tắm táp, uống nước thỏa thích. ## TRANG 414 14. Vào ngày cuối tháng Thadingyut cùng năm, Ngài Maha Gandhayon mơ thấy mình cưỡi một con voi trắng tinh khôi, đi từ phía Đông lên đỉnh một ngôi tháp cổ; từ trên đỉnh tháp nhìn xuống, ngài thấy mênh mông nước. 15. Vào thượng tuần tháng Tazaungmon cùng năm, ngài mơ thấy nhận được bốn tòa lâu đài vàng với một bảo tọa ở chính giữa. Cũng trong thời gian đó, ngài mơ thấy nhận được bốn chiếc lọng trắng. 16. Đây chính là những giấc mơ và cách giải mã mà chính cố Hòa thượng Maha Gandhayon đã tự mình ghi chép lại. --- ### Bậc đại nhân từ bỏ đại nguyện thành Phật để chứng đắc Thánh quả Cần chú ý rằng, ngay cả Đức Thế Tôn trước khi thành đạo cũng từng thấy năm điềm chiêm bao đại cát (Kinh Mahāsupina, Tăng Chi Bộ). Đối với bậc thiện tri thức, những điềm báo báo trước thường xảy ra như một lẽ tự nhiên. Tuy nhiên, cũng cần thận trọng vì đôi khi những ảo giác lừa dối, những giấc mơ huyễn hoặc có thể trộn lẫn với những linh ảnh chân thực. Hòa thượng Maha Gandhayon đã đặc biệt ghi chép 16 loại linh ảnh và giấc mơ này, giữ bí mật dưới gối trong nhiều năm mà không tiết lộ cho ai. Việc ngài dặn dò đưa chúng vào các sách về Pháp hành sau này cho thấy ngài đã xác chứng rằng đây chính là những linh ảnh và giấc mơ chân thực. Dù về sau không còn tìm thấy những dòng ghi chép trực tiếp như "Đắc tầng Đạo thứ nhất" (năm 1262) hay "Đắc tầng Đạo thứ hai" (năm 1269), chúng ta cũng không nên mặc định Ngài mới chỉ chứng đắc đến tầng quả Tư-đà-hàm. Trong các ghi chép về những điềm báo và giấc mơ, một số chỗ được chính Ngài giải nghĩa, nhưng riêng chi tiết "nhận được bốn tòa lầu các, bốn chiếc lọng trắng" thì Ngài hoàn toàn giữ im lặng. Sau khi lưu lại những dòng nhật ký này, Ngài vẫn còn trụ thế khoảng chín năm nữa. Do đó, không ai dám khẳng định chắc chắn về tầng thánh quả cuối cùng của Ngài. Điều hậu thế có thể làm là lấy công hạnh đó làm tấm gương sáng để nỗ lực tinh tấn tu hành. ## TRANG 415 Ngay cả đối với những bậc đại trí nhân (ājāniya) như vậy, khi phận sự tu hành của bậc Sa-môn chưa hoàn tất mà đã xuất hiện những vọng tưởng (ārammana-lim) cho rằng đã hoàn tất, cùng với việc từ thuở thiếu thời đã bị đè nặng bởi tâm nguyện thành Phật không chân thật trong nhiều năm, thì đó chính là những bài học cốt tủy mà Ngài Thiền sư đã dùng cả cuộc đời mình để đúc kết lại. ## TRANG 416 # NGÀI THIỀN SƯ IN GYIN MYAUNG VÀ NGÀI THIỀN SƯ NIBBINDĀ (1222 - 1278) . (1248 - 1338) Về câu chuyện của hai vị Thiền sư lỗi lạc tại thành phố Pyay (Prome), vốn được tôn xưng là những bậc "Alahan đắc Tam Minh (Tevijja)", đó là Ngài Thiền sư In Gyin Myaung và Ngài Thiền sư Nibbindā, chúng ta có thể tìm đọc trong tác phẩm *Sikkhā-thum-pā-paya-kyan* (Kinh văn về Ba môn Học) do chính Ngài Thiền sư Nibbindā biên soạn. Phần tiểu sử mở đầu này do chính Ngài Thiền sư Nibbindā tự thuật nên vô cùng xác thực và lôi cuốn. Trong phần dẫn nhập đó, Ngài còn mô tả lại những cuộc gặp gỡ và thỉnh vấn với Ngài Thiền sư Ledi, Ngài Thiền sư Thay-kyet-taung, và các vị Thiền sư tại tu viện Gañdhāyon (Sagaing), khiến cho nội dung càng thêm phần giá trị. Dưới đây là phần tóm lược các ghi chép đó: Ngài Thiền sư Nibbindā, người thực hiện ghi chép này, sinh vào ngày mùng 10 tháng Tazaungmon (tháng 8 Miến lịch) năm 1248 (khoảng năm 1886 DL), vào lúc 8 giờ sáng thứ Sáu, tại làng Myay-zar-gyun thuộc huyện Monyo, tỉnh Tharrawaddy, bên bờ sông Ayeyarwady. Thân phụ Ngài là U Kyar Nyo và thân mẫu là Daw Lon Ma. Năm lên 10 tuổi, Ngài mắc bệnh ghẻ lở khắp người, dùng đủ mọi loại thuốc đều không khỏi. Giữa lúc bận rộn công việc, thân mẫu Ngài vì không thể ép Ngài bôi thuốc nên đã mắng rằng: “Cứ thế này thì lâu dần con sẽ bị hủi thôi, khi đó con sẽ phải ra ở một mình trong túp lều rách ngoài rìa làng, hãy nhớ lấy!” Lời nói ấy tuy nghe qua có vẻ bình thường, nhưng đối với một đứa con có chủng tánh trí tuệ và ba-la-mật, nó đã khơi dậy một sự kinh cảm (saṃvega) sâu sắc, thôi thúc tâm nguyện muốn xuất gia trở thành tu sĩ. ### Những điềm báo trước Thuở còn là một cậu bé giúp việc (kyaung-thar) tại chùa làng Myay-zar, trong lúc nỗ lực học tập tập sách *Saṅgaha* (Thắng Pháp Tập Yếu), mỗi khi đi ngủ, cậu thường thấy ánh sáng lung linh rạng ngời xuất hiện ở phía cuối chân giường như có ai thắp đèn. Mỗi khi ngồi dậy tìm kiếm thì ánh sáng ấy lại biến mất. Có lần, một nốt mụn cóc mọc lên ở ngón tay cái bên phải, khi đưa cho mẹ xem, mẹ bảo rằng mụn này có thể dẫn đến bệnh hủi. Vì trong làng cũng có người bị bệnh hủi nên cậu bé hết sức hoảng sợ. Đến đêm đi ngủ, cậu cứ nắm chặt lấy ngón tay cái ấy. Một đêm nọ, tưởng rằng ngón tay đã biến mất, cậu òa khóc nức nở khiến người mẹ phải cầm lấy ngón tay cậu và an ủi: "Nó vẫn còn đây mà con". (Bất luận là ai, từ lúc sinh ra cho đến khi nhắm mắt, mọi lời nói, hành động và suy nghĩ đều không nằm ngoài quy luật nhân --- ## TRANG 417 361 quả. Công việc ngày hôm nay luôn liên hệ với công việc ngày hôm qua. Kiếp trước liên hệ mật thiết với kiếp này. Chúng ta cần chú ý rằng đây chính là những tiến trình của Pháp tánh vốn đã nằm sẵn trong chủng tánh - bīja). Năm 15 tuổi, cậu bé xuất gia làm Sa-di và học tập kinh điển (Pariyatti). Pháp danh là **Shin Sīri**. Tâm nguyện muốn trở thành vị Tỳ-kheo và vào rừng ẩn tu thường xuyên trỗi dậy. Sau khi thọ giới Tỳ-kheo được hai hạ, Ngài đến học đạo với Ngài Thiền sư **U Gandhasāra** ở Pakokku và Ngài Thiền sư **U Ñāṇa** tại tu viện Phaya-gyi ở Mandalay. Lúc bấy giờ, do quá say mê học tập kinh điển, tâm nguyện vào rừng ẩn tu vốn có trong chủng tánh bỗng tạm thời lắng xuống. Đến hạ thứ tư, khi tự quán chiếu lại bản thân, Ngài quyết định rằng dù chưa thể vào rừng ngay, Ngài vẫn sẽ thực hành hạnh đầu đà (dhutaṅga). Năm hạ thứ sáu, khi đang học Pháp với Ngài Thiền sư Puthoe-gyi tại thành phố Pyay, Ngài đã xin phép vào rừng ẩn tu nhưng không được chấp thuận. Ban ngày Ngài phải lên lớp giảng dạy, chỉ đến ban đêm mới có thể ngồi thiền. Tuy vậy, ý định đó không hề lung lay. Trong tâm trí, Ngài hình dung việc vào rừng, nhưng vì chưa có cả túi đựng bát và các vật dụng cần thiết, nên việc làm sao để có được một chiếc bát đúng theo Luật tạng (Vinaya) cũng khiến Ngài trăn trở, lo âu. May thay, nhờ sự hộ độ của thí chủ U Tha Pyaw, mọi vật dụng đã được đầy đủ. Sau khi đảnh lễ tạ từ Ngài Thiền sư và cúng dường toàn bộ sách vở, vật dụng dư thừa cho một vị sư huynh, thời khắc lên đường đã đến. Đó là vào lúc 5 giờ 30 phút chiều ngày mùng 8 tháng Tazaungmon năm 1274 (khoảng năm 1912 DL). ### Những ngày đầu vào rừng Ngài quẩy bình bát trên vai, hướng về dãy núi Puthoe-gyi. Vị sư huynh cùng đi tiễn Ngài. Hai anh em vừa đi vừa trò chuyện, khi đến gần núi Kyet-tin thì trời bắt đầu sập tối. Ánh trăng mùng tám chỉ lờ mờ. Vị sư huynh nói lời dặn dò, khuyên nhủ cuối cùng rồi tiễn Ngài đến tận núi Kyet-tin trước khi quay trở về. Một nỗi buồn đau, ly biệt chưa từng trải qua trong đời bỗng ập đến như thể vừa nhặt được, khiến Ngài không sao ngăn được dòng cảm xúc, tâm tư như muốn tan nát. (Hãy lưu ý đến năng lượng của chủng tánh). Sau một hồi trấn tĩnh, Ngài lấy gương hạnh của các bậc tiền nhân làm kim chỉ nam, băng qua các dãy núi cách thành phố Pyay khoảng hai dặm. Toàn bộ sườn núi và rừng cây bao trùm trong bóng tối mịt mù. Tình cờ, Ngài tìm thấy một túp lều cũ hoang phế không người ở, Ngài quyết định dừng chân nghỉ lại đêm đó tại lều và thực hành thiền Anapanasati (Niệm hơi thở). (Lời của người mẹ năm xưa: "Con sẽ phải ra ở một mình trong túp lều ngoài rìa làng" quả thật đã ứng nghiệm. - Ghi chú của tác giả). Sáng sớm hôm sau, vì không có nước rửa mặt nên Ngài phải đi tìm nước. Ở cuối chân núi, Ngài tìm thấy một vũng nước nhỏ, liền dùng vải lọc nước để sử dụng. Đến giờ đi khất thực... ## TRANG 418 Ngài ngự đến ngôi đình nơi các tu nữ cư ngụ và làng Pwint Hla Theim Kone. Sau khi nhận được một ít cơm đỏ, Ngài trở về chùa; vì lúc đó vẫn chưa có nước uống nên Ngài lại phải đi đến ao để múc nước. Ngài phải thọ thực cơm đỏ thô, không có đồ ăn, cũng không có muối. Trong khoảng năm ngày Ngài phải thọ thực chỉ với cơm như vậy, về sau mới có được thức ăn kèm theo cơm. ### Những chuyện kỳ diệu về Ngài Sayadaw In Gyin Myaung Khoảng 15 ngày sau, tại đầu mũi xuất hiện các ấn tướng (nimitta), vì không thể phân định rõ ràng nên Ngài đã đi đến đảnh lễ và thưa hỏi Ngài Sayadaw In Gyin Myaung. Trước kia Ngài cũng đã từng nghe danh tiếng của Ngài Sayadaw In Gyin Myaung. Tuy nhiên, do cái mạn (kiêu mạn) rằng: "Ta cũng là người thông thạo kinh điển, Ngài ấy với ta thì có gì khác nhau đâu", nên Ngài đã không biết đến nương tựa. Đến khi thực hành thiền định mà gặp những điều chưa thông suốt, Ngài mới đi đến thỉnh vấn và từ đó mới nhận ra được bậc cao thấp. Sau khi nhận sự hướng dẫn từ Ngài Sayadaw lớn, trong sáu tháng chuyên tâm nỗ lực, do gặp khó khăn về nguồn nước nên Ngài đã chuyển sang cư ngụ tại khu đất Ka Ma Yut. Các thí chủ cũng đã xây dựng cúng dường một ngôi chùa nhỏ. Sau ba bốn ngày, ngôi chùa đó bị hỏa hoạn, nên họ lại tiếp tục xây dựng cúng dường lần nữa. Một người thợ xây tên là **U Rar Kyaw**, theo ý tưởng riêng của mình, đã dùng phấn trắng viết lên các hàng cột chùa dòng chữ "Nibbinda, Nibbinda" (Yểm ly); do đó, kể từ năm 1275 (Miến lịch), ngôi chùa bắt đầu được gọi theo tên ấy. "Ngài cảm thấy hối hận vì trước đây đã ôm giữ cái mạn của bậc thông hiểu học thuật (Pariyatti) mà không sớm đến với Ngài Sayadaw In Gyin Myaung. Chỉ đến khi được ở gần, Ngài mới nhận thấy những ân đức sâu dày không sao đền đáp hết được. Vị Sayadaw lớn ấy đã vào rừng ẩn tu tại khu rừng In Gyin Myaung thuộc thị trấn Pyay vào năm 23 hạ lạp. Pháp danh của Ngài là **Ashin Āsaba**. Ngài thực hành pháp môn thiền **Ānāpāna** (Niệm hơi thở). Ngài đã ghi chép lại năm đức tính đặc biệt của vị Sayadaw ấy như sau: 1. Có thể khiến vầng trăng từ trên bầu trời hạ xuống ngự phía trên ngôi chùa nơi mình ở. 2. Có thể mở hoặc đóng hòm rương mà không cần chìa khóa, chỉ bằng cách trì tụng các ân đức Phật. 3. Có thể nhìn thấu suốt qua cây cối, rừng núi. 4. Biết được tâm ý và suy nghĩ của người khác. 5. Khi hướng dẫn thiền cho các đệ tử, Ngài biết rõ đệ tử nào đã đạt được tuệ giác nào. Sau bốn năm thụ giáo với Ngài Sayadaw In Gyin Myaung, vào ngày cuối tháng Tazaungmon năm 1278 (Miến lịch), vị Sayadaw đã viên tịch. Ngài đã trú ngụ tại khu rừng đó suốt 14 năm. Ngài viên tịch vào năm 56 tuổi, 37 hạ lạp, khiến cho (Ngài Nibbinda) cảm thấy như mất đi nơi nương tựa. ## TRANG 419 (Thuở nhỏ vì bị mất ngón tay cái mà phải khóc lóc, nay điều tương tự lại xảy ra. Như người mẹ tìm lại ngón tay cái cho con, Ngài Sayadaw In Gyin Myaung khi Ngài Ledi Sayadaw đến Pyay đã từng dẫn đệ tử là U Siri đi cùng để gặp gỡ. Dường như Ngài đã thấy trước được tương lai. Nay đã tìm thấy ngón tay cái rồi. —— Lời người soạn). ### Đi tìm thầy hoặc để trình pháp Cùng với ba vị đệ tử đồng hành như U Suriya và một người thí chủ, Ngài bắt đầu hành trình tìm kiếm bậc thầy. Sau khi chiêm bái các bảo tháp Shwedagon và Shwemawdaw, Ngài tiếp tục đi xe lửa đến Thaton, ngụ lại một đêm tại tu viện Sāsanapajjotika của Ngài Sayadaw lớn Mingun để trình thưa và ghi nhớ tất cả những gì liên quan đến việc thực hành thiền. Sau đó đi qua Mawlamyine, Kyaiktiyo, Kyaikto; khi từ đó trở về Bago, Ngài chia tay các đệ tử, chỉ dắt theo một người thí chủ và ở lại hai đêm tại nhà vị cự phú **U Thet Ein** ở thị trấn Phyu. Ngài đi đến núi Thek Kya để tìm gặp Ngài **U Tiloka**, nhưng vì không gặp ngay được nên Ngài đã ngồi đợi ở nơi luyện kim (lò đúc). Khi Ngài U Tiloka từ đó đi ra, Ngài không thỉnh vấn hay thảo luận về giáo pháp mà chỉ nói lời hỏi thăm xã giao rồi ra về. Ông phú hộ U Thet hỏi: "Bạch Ngài, Ngài đã tìm hiểu và thấu hiểu được điều gì?" Ngài đáp rằng vì vị ấy vừa bước ra khỏi lò luyện kim nên Ngài đã không hỏi gì cả. "Cần phải hỏi khi đã gặp được chứ, bạch Ngài" — vị thí chủ tiếp tục thưa, nên Ngài đã nói thật theo đúng suy nghĩ của mình: "Ôi... một vị tỳ-kheo làm thiền sư mà lại còn vướng bận việc luyện kim thế này thì tôi nghĩ không cần phải tìm hiểu làm gì nữa." Theo lời gợi ý và thúc giục của ông phú hộ U Thet, Ngài đi đến gặp Ngài Ledi Sayadaw, người đang cư ngụ tại khu rừng In Gyin Myaing ở Pyinmana. Khi đó tình cờ Ngài Ledi đang đi thuyết pháp tại Shwe Myo nên Ngài phải chờ một đêm. Trong đêm đó, Ngài nằm mơ thấy các tấm y mình đang mặc trắng muốt như tuyết. Ngài kể cho người thị giả (kāppiya), vị này cũng thưa rằng anh ta vừa mơ thấy từ trong miệng bay ra những con quạ không có đầu. Cả hai đều không phân định được điềm báo, (**Ariyasadda** ám chỉ sự thanh tịnh, trắng trong). ### Lời giáo huấn của Ngài Ledi Sayadaw Ngài đã trình lên vị Sayadaw những điều chưa thông suốt về **Diṭṭhi** (Tà kiến) và **Vicikicchā** (Hoài nghi), và đã được Ngài giải thích rõ ràng đến mức mãn nguyện. (Lời nói này mang ý nghĩa rất sâu sắc). Sau khi ở gần Ngài Ledi Sayadaw khoảng bốn năm ngày, Ngài đã cùng hành trình với Ngài Ledi Sayadaw đến Mandalay. Lúc sắp chia tay, Ngài Ledi Sayadaw nói: "Sư Nibbinda sống trong rừng thì gặp nhiều nguy hiểm. Nào, ta ban cho một chút vật phòng thân." Nói rồi Ngài trao một món đồ hộ thân (bùa hộ mệnh). Vì được bậc giáo thọ lớn ban tặng nên Ngài mới nhận lấy chứ trong lòng không thực sự tin tưởng. Khi về đến chùa, Ngài cứ để đại trên bàn thờ Phật mà không để ý tới. Một lần khác khi gặp lại Ngài Ledi Sayadaw lớn, Ngài Ledi nói: "Sư Nibbinda thậm chí còn không tin tưởng cả lão ta nữa cơ đấy." Ngài Nibbinda nghe vậy vô cùng kinh ngạc và thầm hoan hỷ rằng: "Hóa ra Ngài Ledi Sayadaw biết rõ tất cả." Từ Mandalay, Ngài băng qua phía Sagaing để thỉnh vấn Ngài Sayadaw lớn **Ghositarama** trong bốn năm ngày. Ngài từng được nghe vị thầy thời trẻ nói rằng Ngài Sayadaw Ghositarama dường như đã hoàn tất phận sự của bậc Sa-môn. Tuy nhiên trong thực tế, Ngài nhận thấy những lời dạy bảo của vị ấy có phần cứng rắn nên lòng hoài nghi chưa dứt, Ngài đã thưa hỏi để tìm hiểu: "Bạch Ngài Sayadaw, khi nhìn vào bản thân hay người khác mà không còn tìm thấy cái gọi là 'thân' nữa, chỉ thấy sự tan rã không ngừng (tarywa rywa), thì như vậy là thế nào ạ?" "Nhìn thấy như vậy là tốt nhất đấy, người thường không dễ gì thấy được ngay như vậy đâu", Ngài đã ghi nhớ lời dạy đó. ## TRANG 420 ### Lời giáo huấn của Ngài Gandhayon Sayadaw Tiếp theo, Ngài đi đến trình thưa với Ngài Sayadaw **Mahā Gandhayon**, vị này dạy rằng: "Có chuyện như thế này. Có một số người sử dụng định (Samatha) để đè nén rồi thực hành." Ngài lại thưa hỏi tiếp: "Vì trong kinh điển có nói các chuỗi sắc pháp (rūpa-kalāpa) giống như dòng nước sông hay ngọn lửa, nếu nhìn thấy như vậy thì kết quả ra sao, bạch Ngài?" "Nếu nhìn thấy như vậy thì phải nói là hạng người đã đạt được (đạo quả)", vị ấy dạy. Ngài muốn tiếp tục tìm hiểu thêm nhưng vì khi đó Ngài Gandhayon Sayadaw sức khỏe yếu đến mức không thể nói được nữa nên Ngài đã trở về chùa **Nibbinda** ở Pyay. Vào lúc 2 giờ 15 phút sáng thứ Sáu, ngày 9 tháng Kỷ sau rằm tháng Tabodwe năm 1338 (Miến lịch), vào năm 91 tuổi, hạ lạp 71, các **Cuti-kammaja-rūpa** (Sắc nghiệp khi tử) của vị Đại Trưởng lão Nibbinda đã hoàn toàn chấm dứt (Ngài viên tịch). (Mong cho quý vị tiếp tục tìm hiểu thêm những điều đáng kính tin, đáng noi gương và những chuyện kỳ diệu khác). ## TRANG 421 # **NGÀI TRƯỞNG LÃO KYAUNGPAN TAWYA SAYADAW** **( 1222 - 1288 P.E)** **Trưởng lão Kyaungpan Tawya Sayadaw** là một trong những đại đệ tử thân cận được Đức Ngài **Ledi Sayadaw** khả kính đích thân nuôi dạy từ thuở nhỏ. Ngài đã được Đức Ledi Sayadaw chăm sóc và bảo bọc ngay từ thời kỳ Đức Ledi còn là một vị Tỳ-kheo trẻ chuyên giảng dạy pháp học (Sā-khya). Ngài sinh tại làng Kyee Pin Chaung, nằm gần tuyến đường xe hơi từ Monywa đi Thalin (cách Monywa khoảng 19 dặm). Ngài chào đời vào lúc 10 giờ sáng Chủ Nhật, ngày mùng 3 tháng Thadingyut (tháng 10) năm 1222 theo lịch Miến Điện (P.E). Tên thuở nhỏ là Maung Than Tu; thân phụ là U Mya, thân mẫu là Daw Hlaing. Năm lên 6 tuổi, Ngài bắt đầu học tập tại ngôi chùa đầu làng dưới sự chỉ dạy của **Ngài U Muninda**. Năm 14 tuổi, Ngài xuất gia làm Sa-di với pháp danh là **Shin Indaka**. Ngài nỗ lực học tập các giáo pháp sơ cấp (Piṭaka) tại ngôi chùa làng cho đến năm 17 tuổi thì vị thầy Bổn sư viên tịch. Rơi vào cảnh không người nương tựa, Ngài đã phải hoàn tục. Một năm sau (1241 P.E), thân phụ là U Mya cũng qua đời. Ở lứa tuổi thanh niên vừa mới trưởng thành, Maung Than Tu cảm thấy vô cùng lạc lõng và yếu lòng. Tuy nhiên, sự ra đi của vị thầy và người cha ngay trên tay mình đã giúp Ngài trực tiếp nhận diện được sự đáng sợ của cái chết. Bài học đầu đời ấy đối với Maung Than Tu thật quá đỗi khắc nghiệt. Trong nỗi đau thương cùng cực, sự kinh sợ cái chết đã đánh động tâm thức Ngài, khiến thiện căn Ba-la-mật trỗi dậy với quyết tâm: "Ta phải nỗ lực để thoát khỏi bàn tay của thần chết". Do đó, Ngài quyết định tái xuất gia Sa-di. Tuy nhiên, vì thương xót người mẹ già đơn chiếc, Ngài không nỡ mở lời xin phép. Đến khi Ngài cố gắng thưa thỉnh, mẫu thân vì quá thương con nên không đành lòng xa cách, khiến Ngài cảm thấy nản lòng. Ngài vẫn phân vân cho đến hết năm cũ sang năm mới. Trong thời gian đó, Ngài cùng em trai là Maung Tha Paike làm việc đồng áng để phụng dưỡng mẹ. Những công việc lao nhọc này càng làm tăng thêm tâm ly dục trong lòng Maung Than Tu. Dù nỗi khổ của thế gian (Lokadhamma) thật khó cam chịu, nhưng đối với những bậc có hạt giống Ba-la-mật và trí tuệ, đó lại chính là một cơ hội lớn. Để có được viễn cảnh tốt đẹp phía trước, đôi khi phải nếm trải những cay đắng mở đầu. ### Từ Đời (Lokadhamma) hướng về Đạo (Lokuttara) Người thanh niên Maung Than Tu sau khi hoàn tục không biết đã có liên kết như thế nào với **Ngài U Ñāṇa** (tức tiền thân của Đức Ledi Sayadaw). Trong lúc đang nản lòng vì không được mẫu thân cho phép xuất gia, thì vào một ngày nọ... ## TRANG 422 # **GIẢNG SƯ U HTAY HLAING** Ngài đã tìm đến Nyaung Pin Thar Kyaung tại rặng núi Sagaing, nơi **Ngài U Ñāṇa** đang lưu trú. Khi **Ngài U Ñāṇa** cư ngụ tại tu viện San Kyaung (Mandalay), Ngài thường có thói quen đến núi Sagaing để nhập hạ. Ngay trong ngày Maung Than Tu tìm đến, **Ngài U Ñāṇa** đã làm lễ cho Ngài xuất gia Sa-di. Khi nghe tin, mẫu thân cùng người con út Maung Tha Paike đã tìm đến núi Sagaing. Vừa gặp lại người con cả đang trong hình tướng Sa-di, bà đã ôm lấy con mà khóc nức nở. Bà khóc lóc và nài ép Ngài trở về Monywa: "Đừng bỏ mặc người mẹ góa bụa này con ơi!". Tuy nhiên, nhờ những lời thuyết pháp an ủi của **Ngài U Ñāṇa**, mẫu thân Ngài đã từ bỏ ý định. Hai mẹ con từ giã trở về Monywa, còn **Ngài U Ñāṇa** đưa **Sa-di Indaka** trở lại tu viện San Kyaung và đích thân dạy dỗ kinh điển. Năm 1242 P.E, tại Nyaung Pin Thar Kyaung trên núi Sagaing, dưới sự chủ trì của **Ngài U Ñāṇa** và sự truyền giới của Ngài Thit-seint Sayadaw làm thầy Hòa thượng (Upajjhāya), **Sa-di Indaka** đã được thọ cụ túc giới Tỳ-kheo (Ngài cũng từng thọ giới lại một lần nữa tại làng Wet-ye). Khi **Ngài U Ñāṇa** trở về Monywa, **Tỳ-kheo Indaka** xin phép ở lại để tiếp tục học giáo pháp với Ngài See-pan-ni Sayadaw tại Mandalay. Khi vua Thibaw bị bắt (năm 1885), Ngài mới được 5 hạ lạp. Sau khi Đức Ledi Sayadaw xây dựng xong đại tu viện Ledi, Ngài đã gọi **Tỳ-kheo Indaka** trở về. Khi về đến Monywa, Đức Ledi yêu cầu Ngài làm trợ tá cho mình để giảng dạy kinh sách cho các vị Tỳ-kheo và Sa-di trẻ. Ngài đã bạch rằng: "Bạch Đức Ngài khả kính, con xin cung kính thưa trình. Từ khi thầy Bổn sư và thân phụ qua đời ngay trên tay con thuở nhỏ, con luôn tâm niệm tìm kiếm giáo pháp để giải thoát khỏi bàn tay tử thần. Kính xin Đức Ngài cho phép con được chuyên tâm hành thiền (Kammaṭṭhāna)." Dù điều này không đúng như dự định ban đầu của mình, nhưng Đức Ledi Sayadaw vô cùng hoan hỷ và đã thốt lên lời "Sādhu" (Lành thay). ### Trải nghiệm tâm Từ, không sợ kẻ thù Vào ngày rằm tháng Nayon (tháng 6) năm 1253 P.E, khi **Tỳ-kheo Indaka** đến đảnh lễ Đức Ledi Sayadaw để xin lỗi về những sai sót lớn nhỏ trước khi vào rừng tu tập, Đức Ledi đã dạy rằng: "**Này Indaka**, điều quan trọng nhất trong công việc này chính là lòng Nhẫn nại (Khanti). Dù sai hay đúng, dù xấu hay tốt, con đều phải nhẫn nhịn. Cả thế gian có thể nghĩ rằng nhẫn nại là chịu thua, là chịu thiệt thòi, nhưng trong Giáo pháp, đó là một pháp cao thượng nhất. Đó là lời giáo huấn cốt lõi (Ovadā) của chư Phật đã quá khứ. Dù đang làm công việc trọng đại này, nhưng vì gánh nặng uẩn (Khandha) vẫn còn nên con vẫn phải tiếp xúc với mọi người. Ít nhất cũng cần có một vị hộ tăng (Kappiya) khi cần thiết. ## TRANG 423 # **CÁC BẬC A-LA-HÁN VÀ NHỮNG BẬC ĐẶC BIỆT** "Những người thế gian thường suy nghĩ, nói năng và hành động theo quan kiến thế tục. Vì vậy, tất cả những gì họ nói hay làm, ngay cả khi họ có ý giúp đỡ, đôi khi cũng khiến mình cảm thấy như bị quấy rầy hoặc gây ra đau khổ. Đôi khi họ thực sự gây khó khăn cho mình, dù có thể họ không biết. Trong những lúc ấy, nếu không có lòng Nhẫn nại thì không thể tu tập được." "Này **Indaka**, con là người thông hiểu kinh điển, hãy nhớ ví dụ về gò mối: chỉ mở một cửa duy nhất trong sáu cửa để quán xét tâm thức sao cho đạt được sự thấy biết trực tiếp (Sandhiṭṭhika). Hãy thiết lập niệm hơi thở (Ānāpāna), rồi quán xét 8 loại sắc (Aṭṭha-kalāpa) và 6 loại thức (Viññāṇa) như ta đã chỉ dạy trước đây. Thôi... hãy đi đi. Sādhu... Sādhu..." Đức Ledi đã dạy như thế. Ngài còn khích lệ thêm: "Nếu có việc gì cần, hãy báo cho ta biết, ta sẽ đến hoặc con hãy đến gặp ta." Sau đó, **Tỳ-kheo Indaka** rời khỏi đại tu viện Ledi. Ngài ghé về làng Kyee Pin Chaung để từ biệt mẫu thân, rồi đi bộ hơn 30 dặm đến rừng Wet-ye. Khu rừng này có rất nhiều cây tếch (Teak) và thú dữ. Ban đầu, Ngài cư ngụ trong một hốc cây tếch lớn bằng vòng tay của ba người ôm. Tại đây, Ngài đã trải qua sự kinh sợ hãi hùng (Cittutrāsa Bhaya Bherava) với những âm thanh và mùi hương kỳ quái do các thế lực bất thiện gây ra. Ngài đã phải nỗ lực rải tâm Từ (Mettā) một cách mạnh mẽ thì mọi thứ mới trở nên an tịnh. Nhờ đó, Ngài đã tự mình chứng nghiệm được sự sắc bén của vũ khí tâm Từ. Liên quan đến tâm Từ, tôi xin thuật lại một câu chuyện thực tế ở đây, xảy ra vào năm ngoái (1335 P.E - 1973). Tại thiền viện của Đức Ngài **Mahasi Sayadaw** ở Yangon, có một nữ hành giả đến tu tập. Vì không thể thực hành Tứ Niệm Xứ, bà đã được hướng dẫn hành thiền tâm Từ. Bà được dạy rải tâm "Cầu mong cho tất cả chúng sanh được hạnh phúc", bắt đầu từ những bậc ân nhân, cha mẹ hiện tiền cho đến khắp mười phương. Khi trình pháp, bà thú nhận một cách thành thật rằng dù có thể rải tâm Từ đến số đông chúng sanh, nhưng đối với một người hàng xóm vốn là đối thủ cạnh tranh kinh doanh thì bà tuyệt nhiên không thể rải tâm Từ được. Dù được hướng dẫn "hãy rải tâm Từ cho người thương và kẻ thù sau cùng", bà vẫn không làm được. Sau đó, Ngài Sayadaw đã thuyết giảng rằng: "Trong vòng luân hồi, không ai là chưa từng là người thân, cha mẹ của nhau; chỉ vì hiện tại ở gần nhau, có sự va chạm về lợi ích nên mới tạm thời trở thành kẻ thù; hãy chỉ nhìn vào những điểm tốt của họ mà nhẫn nhục", vân vân... và yêu cầu bà tiếp tục thực hành. Khoảng ba ngày sau, vị hành giả ấy đã đến thưa với Ngài Sayadaw trong niềm hoan hỷ: "Bạch Ngài Sayadaw, giờ đây con đã có thể rải tâm Từ được rồi. Không chỉ được mà còn rất kỳ diệu, con xin phép được tường trình. Vào đêm trước ngày rằm, khi thực hành rải tâm Từ, con đã tập trung nhìn rõ gương mặt và toàn thân của người hàng xóm mà trước đây con không thể rải tâm được. Càng rải tâm, con càng thấy gương mặt người đó trở nên tươi cười và bà ấy nhìn con..." ## TRANG 424 Bà ấy xin lỗi tôi rằng: "Thưa cô, xin cô hãy hỷ xả cho những lời nói lỡ lầm, không phải của chúng tôi ngày trước nhé! Nghe tin cô vào thiền viện tu tập, chúng tôi vô cùng hoan hỷ. Bản thân chúng tôi cũng đang quyết tâm thu xếp để vào thiền viện đây" - vừa nói, bà ấy vừa nắm chặt tay con (thí chủ đang kể chuyện) bạch Ngài. "Chỉ bấy nhiêu thôi thì con vẫn chưa thấy kinh ngạc lắm. Từ thuở còn trẻ, vào các ngày rằm và ba mươi hàng tháng, chúng con đều có thói quen lên chùa Shwedagon để dâng hoa và nước cúng dường. Sáng hôm ấy cũng chính là ngày rằm, nên con đã lên chùa. Vừa lên tới nơi, người phụ nữ kia đã hớt hải chạy đến nắm lấy tay con và nói đúng y hệt những lời mà con đã nghe thấy trong lúc ngồi thiền. Lúc đó con vô cùng hoan hỷ vì biết rằng tâm từ (mettā) của mình đã thành tựu. Nhưng điều đáng kinh ngạc hơn cả là từ chiếc áo, chiếc longyi cho đến cái khăn choàng mà bà ấy đang mặc đều giống hệt, không sai một li so với những gì con đã thấy trong linh ảnh lúc hành thiền, bạch Ngài" - các hành giả có mặt ở đó đều được nghe lời trình pháp này. Đối với những nghi vấn về việc "rải tâm từ có đến được nơi hay không", thì sự kiện này là một minh chứng vô cùng quan trọng. Đối với những chướng ngại vô hình, khi tâm từ lan tỏa đến thì mọi hiểm nguy đều tan biến, đó là điều không còn gì phải nghi ngờ nữa. ### Làm chủ được tâm là xong tất cả Sau khi Ngài U Indaka ở tại rừng Wet-ye được khoảng bốn năm, bà con từ làng Kyee Pin Chaung đến thăm viếng. Thấy không có mẫu thân đi cùng, Ngài liền hỏi thăm thì được biết bà đã qua đời từ tháng Nayon năm **1256** (1894 DL). Tin tức này như một lời cảnh tỉnh nhắc nhở thêm đối với Ngài U Indaka rằng: "Cái chết đã cận kề rồi. Hãy nỗ lực để đạt được Đạo Quả trước khi nhắm mắt". Ngài thuyết pháp giáo giới cho người thân rằng: "Này Maung Thar Baik, các con cũng không còn trẻ nữa. Cái chết vốn không có gì lạ lẫm. Gặp được giáo pháp (Sāsana) như thế này mà không tìm cầu được pháp không chết (Bất tử) thì thật là uổng phí. Giờ đây, hạnh phúc Niết-bàn (Nibbāna) đã cận kề như mật ong bám trên râu, chỉ còn chờ nuốt vào mà thôi. Cái thân xác này chỉ là con bò mướn mà thôi. Đừng có tưởng lầm nó là con bò của mình rồi lo chăm bẵm cho ăn cho uống, không nỡ sai bảo làm lụng, để rồi đến khi chủ nhân là Thần Chết đến bắt đi mới hối tiếc thì đã muộn rồi". Sau đó Ngài bảo họ từ nay về sau đừng đến tìm Ngài nữa. Kể từ đó, theo lời dạy của thầy (Đại đức Ledi Sayadaw), Ngài đặc biệt quán chiếu để nhìn thấu suốt tâm thức (viññāṇa). Cứ bảy ngày Ngài mới đi khất thực một lần, nỗ lực tu tập với ý chí quyết tâm cao độ. Ngài nỗ lực hết mình cho đến đầu năm **1262** (1900 DL), nhưng thân bệnh ngày một trầm trọng, mà pháp bảo vẫn chưa đạt được như ý nguyện. Khi đó, Ngài đã nhờ một vị thí chủ gửi thư trình lên Đại đức Ledi Sayadaw. ## TRANG 425 Trong bức thư đó, Ngài viết rằng: "Pháp danh (nāma-dhamma) mà Thầy bảo con quán xét thật quá đỗi vi diệu, con vẫn chưa thể làm chủ hoàn toàn được". Và với tư cách là người đệ tử trung thành của Ledi Sayadaw (như phong cách của vùng Zee Pan Nee), Ngài đã viết thêm bài kệ sau: *Hình dáng xưa vẫn thế, phong thái chẳng đổi thay,* *Nhưng bản chất thật sự, khó diễn bày bằng lời, bậc trí mới thấu tận.* *Dòng tâm thức chuyển luân, như bóng hiện trong gương,* *Đến khi nào tuệ giác, cùng với sự tỉnh giác (sampajañña),* *Thấy rõ chân lý ấy (dassanā ekanta), chẳng còn chút nghi nan?* (Dassanā ekanta - tức là thấy được **Sotāpatti-magga** - Tu-đà-hoàn Đạo - một cách thực thụ.) Đại đức Ledi Sayadaw khi đọc thư xong liền nói: "Người đệ tử lớn ở rừng Wet-ye đang gọi, ta phải đi thôi". Nói rồi Ngài quẩy bát, cùng với người đưa thư đi bộ lên đường. Lúc đó là tháng Kason (tháng 5), thời tiết vô cùng nóng nực. Năm đó, hai thầy trò đã cùng an cư tại khu rừng ấy. Vì Ngài U Indaka sức khỏe yếu nên chính Đại đức Ledi Sayadaw đã đi khất thực để nuôi dưỡng đệ tử. "Này Indaka, tâm này vô cùng vi diệu, biến hóa như ảo thuật vậy. Con thấy đấy, những vật dụng, những công trình kiến trúc trên thế gian này chẳng phải rất đa dạng sao? Nhưng so với chúng, thế giới động vật còn đa dạng và kỳ lạ hơn nhiều, với đủ loại hình dáng và sắc màu khác nhau. Tất cả những sự đa dạng, vi diệu đó đều do tâm mà ra, chính tâm đã tạo tác nên chúng. Vì vậy, tâm còn vi diệu hơn tất cả những gì được gọi là vi diệu. Trên đời này, tâm là thứ kỳ diệu nhất. Cả thế gian này đều phải chịu sự chi phối của tâm. Tâm làm chủ, vạn vật đều phải vận hành theo ý muốn của nó. Nếu con chinh phục được cái 'tâm' duy nhất này, con có thể làm được mọi điều mình muốn trên thế gian. Nó có quyền năng lớn lao như vậy đó, hãy cố gắng làm chủ nó cho bằng được nhé." (**Khandha-vagga, Saṁyutta Nikāya, bài kinh Dutiya Gada-baddha Sutta**). "Các vị Phạm thiên Vô tưởng (Asaññasatta Brahmā) dù không có danh (tâm) nhưng chỉ dựa vào sắc (thân) mà có thể tồn tại suốt nhiều đại kiếp; các vị Phạm thiên Vô sắc (Arūpa Brahmā) dù không có sắc nhưng chỉ với danh mà có thể sống qua nhiều đại kiếp. Vì sao lại như vậy? Đó là do tâm mong muốn như thế của họ mà thành. Tâm có thể làm cho mọi ước nguyện đều trở thành hiện thực. Ngài Xá-lợi-phất (Sāriputtra) tôn kính trong **Kinh Mahāgosiṅga Sutta** đã dạy rằng: 'Vị Tỳ-kheo không thuận theo ý muốn của tâm, mà phải khiến tâm thuần phục theo ý muốn của mình; khi có thể an trú trong các bậc Thiền định siêu thế (Lokuttara Samāpatti), vị ấy sẽ làm cho giáo pháp trở nên rực rỡ như rừng cây In-gyin vậy'. Tâm cũng giống như dòng nước, chảy theo con mương đã đào sẵn. Tuy nhiên, có một điều: đừng như anh chàng chăn bò được Vua Trời Đế Thích ban cho điều ước lớn lao mà lại chỉ xin một bãi cỏ chăn bò; con đừng để tâm ở mức thấp hèn là chỉ muốn tích lũy ba-la-mật hay chỉ đạt được một Đạo quả sơ cấp. Tâm chắc chắn sẽ mang lại cho con những điều cao thượng nhất. Đừng bao giờ nghi ngờ điều đó." "Nếu muốn đắc Túc mạng thông (Pubbenivāsa Abhiññā) để biết về các kiếp sống trong quá khứ suốt vòng luân hồi, con phải làm gì? Chỉ cần hướng tâm về những điều muốn biết mà thôi. Chẳng phải kinh dạy là **Pubbenivāsāya cittaṃ abhininnāmesi** (hướng tâm về túc mạng thông) đó sao? Nếu đã làm chủ được tâm thì mọi việc đều trở nên rất dễ dàng. Trên thế gian này không có gì là không thể cả. Ôi, ơn đức của Đức Phật thật bao la, kể sao cho xiết!" - Ngài Ledi Sayadaw thường xuyên thuyết giảng khích lệ như vậy. ## TRANG 426 Được gặp gỡ và trở thành bạn đạo thân thiết với một bậc vĩ nhân như thế này, đối với Ngài U Indaka quả là một phước báu lớn lao, một cơ duyên hiếm có. Hiểu rõ mình đang có được những thuận duyên và cơ hội ngàn vàng, Ngài U Indaka dù thân bệnh cũng không hề bận tâm. Suốt mùa an cư ấy, Ngài dùng chiếc hạ y (thin-pying) quấn quanh mặt, nỗ lực hành thiền không rời khỏi chỗ ngồi. Đại đức Ledi Sayadaw cũng thực hành hạnh **Nisajji-dhutaṅga** (hạnh Đầu đà không nằm) suốt cả mùa an cư trong khu rừng đó. Ngay trong mùa hạ này, Ngài U Indaka đã thấu triệt được sự huyễn hoặc của tâm thức một cách rõ ràng. Ngài nhìn xuyên thấu qua những đặc tính vi diệu của danh pháp (nāma-dhamma) vốn đang che lấp và tác động lên cả đất đai, sông ngòi, rừng núi, cho đến những khúc gỗ hay cột nhà. Ngài đem những điều mình chứng ngộ trình lên Thầy, và Đại đức Ledi Sayadaw đã thốt lên lời tán thán "Sādhu". Sau mùa an cư, hai thầy trò rời rừng Wet-ye để đến thị trấn Budalin. Trong lúc dừng chân nghỉ ngơi tại đó, Đại đức Ledi Sayadaw đã thuyết giảng tán thán những điều mà Ngài U Indaka đã chứng ngộ trước hàng đệ tử. Có lẽ đây là cách Ngài mở đường cho sứ mệnh tương lai của đệ tử. Khi Đại đức Ledi Sayadaw đi về Monywa, Ngài U Indaka lại quay trở về khu rừng cũ. ### Khúc gỗ có tâm, cột nhà có tâm? Không có, mà lại có Vào năm **1265** (1903 DL), Ngài lại chuyển đến trú ngụ tại khu rừng Kyaung-pan rộng lớn, nằm ở phía đông các làng Wet-ye, Ku-taw và Ywa-mon, gần rừng Wet-ye. Các thí chủ đã cùng nhau xây dựng tịnh thất cúng dường Ngài. Ngài bắt đầu thuyết giảng giáo pháp dần dần, và từ đó mọi người gọi Ngài là "Kyaung-pan Tawya Sayadaw" (Thiền sư rừng Kyaung-pan). Sau khi ở quanh khu rừng Wet-ye hơn **13** năm, Ngài đi vân du và lưu trú tại nhiều thiền viện rừng khác nhau. Với việc thuyết giảng pháp Minh sát (Vipassanā), một trung tâm thiền học Kyaung-pan lớn đã hình thành ở phía tây nam thị trấn Budalin. Trong thời gian rời rừng Kyaung-pan để đến ở tại thiền viện Yar-gyi-kone, gần thị trấn Alon, các bậc thầy Vi diệu pháp (Abhidhamma) như U Tun Oo, U Tun Hla, U Yan Nyein đã tranh luận với nhau về thuyết "khúc gỗ có tâm, cột nhà có tâm" (tôn-năng, tà-năng) mà Thiền sư Kyaung-pan đã giảng. Khi đó, họ đã đem chuyện này trình lên Đại đức Ledi Sayadaw đang trú ngụ tại thiền viện In-gyin-myaing, Ngài từ chối và nói rằng: "Ta không muốn đưa ra phán quyết về việc này". Có lần, Ngài nói với vị thị trưởng thị trấn Alon là U Chaw rằng: "Này Maung Chaw, tuệ giác của Kyaung-pan... ## TRANG 427 Có lần Ngài dạy bảo ông Huyện trưởng thành Alon là **U Chaw** rằng: "Này Maung Chaw, trí tuệ của Kyaungpan thật khó để người thường có thể theo kịp." Có lẽ Ngài quở trách như vậy vì sợ những người giỏi chữ nghĩa sẽ sinh lòng khinh suất. (Về quan điểm của Ngài Kyaungpan Sayadaw, xin hãy xem chi tiết trong tác phẩm *Ratana Dīpanī*). Khi các hàng cư sĩ thân cận thưa hỏi, Ngài Kyaungpan Sayadaw đã ứng khẩu bài kệ như sau: *Ví như loài chim Pāṇḍi cánh đỏ,* *Lời Maung Chân Sī (Kyan Si) chỉ là phù phiếm,* *Nói năng nghe như thật mà chẳng phải thật.* *Kinh tạng đã nêu rõ **Viññāṇaṃ** (Thức) như huyễn thuật (**Māyūpamānaṃ**),* *Như khối bọt nước (**Piṇḍopamaṃ**),* *Nếu các ông còn chấp vào hình tướng của **Buddhaṃ** (Đức Phật) mà tranh luận,* *Thì đó là ý của các ông...* Ngài nhất quyết không lay chuyển nhãn quan của mình. Cái thấy về Định (Samatha) và Tuệ (Vipassanā) đôi khi thật khó để viết ra hay diễn đạt bằng lời, hay nói cách khác là không thể đặt để vào phạm trù ngôn ngữ chế định (Paññatti). Một số hành giả thiếu căn bản về học thuật (Pariyatti) khi đàm luận về lộ trình thực hành thường không tìm được tiếng nói chung và dẫn đến tranh cãi, chính vì sự thiếu sót này. Do đó, các đức Phật Độc Giác (Paccekabuddha) dù thấu triệt Tứ Thánh Đế nhưng không thể thuyết giảng giáo pháp, chính là vì các Ngài không thể đặt để vào ngôn ngữ chế định. Cái thấy của Ngài Kyaungpan Sayadaw chắc hẳn là một cái thấy thấu suốt sâu sắc, điều này không nên hoài nghi. Khi xem xét bộ tác phẩm *Vipassanā 6 cuốn* của Ngài, ta sẽ thấy rõ điều đó. Dựa trên các trước tác của Ngài, cũng như sự tán thán và gần gũi của một bậc đại trí như Ngài Ledi Sayadaw, ta có thể tin tưởng rằng Ngài là một bậc Thánh (Ariya). Tuy nhiên, về mặt sử dụng ngôn từ (chế định), có lẽ vẫn còn điều gì đó chưa thật hoàn mỹ. Chính Ngài cũng từng dùng lối lý luận kiểu người Kala (Ấn Độ) "không có mà lại có" để đối đáp trong vấn đề này. Đức Ledi Sayadaw tôn kính, khi chứng kiến những cuộc tranh luận gay gắt về thuyết "Tạng Danh" (Tôn-Nám, Tai-Nám), đã từng nhận xét về Ngài Kyaungpan Sayadaw rằng: "Pháp của nhà vua (Vua Pháp Kyaungpan) là pháp của bò cái. Các chú bò đực khi gặp gỡ thường gầm rống, hăm dọa, dậm chân ra oai rồi mới giao đấu. Còn bò cái thì chẳng phát ra tiếng động nào, chỉ việc lao thẳng vào nhau một cách quyết liệt. Nhà vua cũng vậy, Ngài đi thẳng vào điểm cốt lõi một cách cực đoan khiến người đời khó lòng chấp nhận. Nhưng khi quá rộng mở thì lại giống như đổ nước vào một cái mâm lớn để uống vậy (khó tiếp nhận)." Lời giáo giới đó cho thấy dù nội dung là đúng đắn, nhưng phương cách trình bày và diễn đạt dường như vẫn cần một sự khéo léo hơn. Pháp của Ngài về sau này... ## TRANG 428 **GIẢNG SƯ DHAMMĀCARIYA U HTAY HLAING** ... khi rơi vào miệng những người không có học thức, họ lại suy diễn đến mức cho rằng việc hái lá bụp giấm hay rau muống để nấu ăn cũng phạm tội sát sinh vì chúng có "sinh mạng của danh pháp" (Nāma-jīvita). Thật là một điều đáng buồn thay. Để làm sáng tỏ cái thấy đó, không chỉ đơn thuần là giỏi thuyết giảng, khéo viết lách hay am tường kinh điển là đủ. Phải là người dùng chính thân mạng mình để thực chứng như Ngài thì khi diễn giải mới có thể hóa giải được mọi sự tranh luận từ thế hệ này sang thế hệ khác. Ngài Kyaungpan đã thuyết giảng một cách trung thực và ngắn gọn theo đúng sự chứng ngộ của mình, nhưng từ đó cũng nảy sinh những vấn đề lớn kéo dài mãi về sau. Mặt khác, sau khi Ngài viên tịch, trong giai đoạn chuyển tiếp của dòng thiền Kyaungpan Vipassanā, không biết có phải vì lời dạy của Ngài rằng: "Dù là xem kinh sách hay nghe người khác thuyết pháp, nếu tâm bỗng nhiên thấu suốt (thấy rõ) thì hãy ghi nhận đó là bậc Dự Lưu (Sotāpanna)" hay không, mà không chỉ các bậc xuất gia mà cả các nữ tu và thiện nam tín nữ đều thay phiên nhau thuyết giảng và nghe pháp làm phương châm thực hành Vipassanā. Trong các kinh điển như Pháp Cú (Dhammapada) cũng có dẫn chứng về những bậc có trí tuệ sắc bén (Khippābhiññā), đắc quả Dự Lưu ngay sau khi nghe pháp. Tuy nhiên, ví như việc dùng đá đè chết một con kiến, dù cái chết diễn ra nhanh đến đâu thì cũng không thể chết mà không trải qua các tâm chặng cuối (Maraṇāsanna-javana). Cũng vậy, dù đắc chứng nhanh chóng đến đâu, nếu không có sự quán chiếu và tu tập về Danh-Sắc (Rūpa-Nāma) thì không bao giờ có chuyện đắc quả Dự Lưu hay các quả vị khác. Ngày nay, những bậc như vậy hẳn là rất hiếm. Ngay cả chính Ngài Kyaungpan Sayadaw cũng đã phải nỗ lực tinh tấn suốt mười bốn, mười lăm năm dùng thân mạng để hành trì. Đây quả thật là cảnh giới của các bậc trí giả và thánh nhân. Giờ đây, đến thời của Ngài Sayadaw **U Nandiya**, mọi chuyện đã không còn như trước. Ngài đã chú trọng hướng dẫn phần thực hành quán chiếu thực tiễn thay vì chỉ thiên về lý thuyết và diễn giảng, đúng theo tôn chỉ của các bậc tổ sư ban đầu. Khi đức Ledi Sayadaw tôn kính viên tịch, Ngài Kyaungpan đã thốt lên rằng: "Lần này thật là nguy khốn, trụ cột thẩm định giáo pháp (Viniccaya-maṇḍa-taing) đã đổ rồi." Ngài cũng đã dẫn đầu nỗ lực khắc các tác phẩm *Dīpanī* lên đá. Chính Ngài cũng đã biên soạn: 1. **Vivaṭa Dīpanī** (1268-1271) 2. **Vipassanā Dīpanī** (1272) 3. **Sabhāva Dīpanī** (1273) 4. & 5. **Thoong Loka Dīpanī** (Tam Thế) (1278) 5. **Ratana Dīpanī** (1279) và các bài giảng, lời giáo giới Kyaungpan. ## TRANG 429 Ngài viên tịch vào ngày mùng 3 tháng Chạp (Pyatho) năm 1288 (Miến lịch). Một ngôi bảo tháp thờ xá-lợi đã được xây dựng để tôn thờ. Các tác phẩm *Dīpanī* cũng được khắc lên đá để cúng dường. Các Ngài Pantha Sayadaw, Sayadaw **U Tiṇṇa**, **U Nandiya** là những pháp sư, soạn giả đã nỗ lực hoằng dương và kế thừa di sản của Ngài Kyaungpan Sayadaw. Trong đó, Ngài Zeetaw Sayadaw **U Nandiya** chính là bậc thầy ân nhân đã nâng đỡ và che chở cho tác giả từ thuở còn là một chú tiểu. ## TRANG 430 # THIỀN SƯ NYAUNG LUNT ### (1229 – 1295) Hôm ấy là ngày Uposatha (ngày thọ bát quan trai), tại chùa của Tỳ-kheo **U Kesara** ở làng Ohn, phía trên hồ Meiktila, thiện nam tín nữ đến thọ giới rất đông đảo. Trong giảng đường, bà Daw Gon vừa lần tràng hạt vừa thỉnh thoảng liếc nhìn bốn phương tám hướng, tâm trạng không chút bình yên. Đó là vì từ sáng đến giờ bà vẫn chưa thấy bóng dáng vị Sa-di nhỏ – con trai mình – đâu cả. Thông thường, vào những ngày lễ tự tứ, các chú tiểu rất vui vẻ vì được dùng vật thực ngon lành và không phải vất vất vả học kinh kệ như ngày thường. Đôi khi các chú vẫn ghé qua khu giảng đường để thăm hỏi mẹ mình. Thế nhưng, riêng Sa-di **Medhāvī** vẫn chưa thấy xuất hiện, khiến bà Daw Gon không sao nhiếp tâm lần tràng hạt cho được. ### Vị Sa-di nhỏ đi vào rừng “Thưa sư trẻ, Ngài có thấy con trai tôi đâu không?” Bà Daw Gon hỏi người con trai lớn của mình là Tỳ-kheo **U Vicitta** khi ngài vừa đi ngang qua khu giảng đường. “Hôm nay không phải học kinh nên chắc nó đi chơi đâu đó rồi,” Ngài **U Vicitta** trả lời. Tuy nhiên, sau khi dò hỏi thêm, bà được biết **Samanera Medhāvī** đã biến mất kể từ lúc đi bát về, khiến bà càng thêm lo lắng. Bà bèn nài nỉ chồng là ông **U Hnot** đi tìm khắp các liêu phòng trong chùa. Chẳng bao lâu sau, ông **U Hnot** hớt hải quay lại giảng đường, đứng từ xa gọi lớn: “Này... bà Gon ơi... bà Gon! Con trai bà không có lên nhà ăn độ thực đâu. Nó ôm bát vào rừng tu rồi!” Nghe vậy, tim bà Daw Gon thắt lại. Bà đứng phắt dậy, hốt hoảng hỏi: “Ông Hnot... ông nói thật đấy à? Trời đất ơi... sao các thầy, các sư trong chùa không ngăn nó lại?” Bà vừa nói vừa trách cứ cả người cháu là trụ trì **U Kesara** lẫn người con cả **U Vicitta**. Ông **U Hnot** chỉ mỉm cười điềm nhiên, khiến bà càng thêm sốt ruột: “Ông Hnot... có thật vậy không?” “Này bà Gon, tôi đang thọ giới bát quan trai mà, lẽ nào lại đi lừa bà chuyện tào lao như thế.” ## TRANG 431 “Nếu vậy thì phải làm sao bây giờ? Ông mau đi thưa với sư trụ trì và sư trẻ đi, nếu đuổi theo ngay bây giờ chắc vẫn còn kịp. Trời đất ơi, con tôi nó mới có 12 tuổi thôi mà!” Bà Daw Gon đứng ngồi không yên. Các thiện nam tín nữ trên giảng đường cũng thở dài ái ngại. Một bà lão thọ giới ngồi gần đó lên tiếng: “Cũng phải thôi, đứa trẻ này vốn đã khác thường ngay từ khi còn trong bụng mẹ mà.” Quả đúng như vậy. Kể từ khi mang thai, bà Daw Gon đã có những cảm thọ rất đặc biệt. Hằng ngày bà luôn giữ gìn giới luật tinh nghiêm và luôn khao khát được hành thiền mà không sao kìm nén được. Bà đã thưa chuyện với người cháu là sư trụ trì **U Kesara** để được hướng dẫn cách hành thiền. Vào thời bấy giờ, khái niệm hành thiền Vipassanā (thiền quán) vẫn chưa được phổ biến rộng rãi. Ngài **U Kesara** khi ấy chỉ dựa vào Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) để hướng dẫn bà những pháp căn bản như **Buddhānussati** (Niệm Phật) và **Mettā-kammaṭṭhāna** (Thiền tâm từ). Bà Daw Gon đã dùng tâm hành thiền để bảo bọc thai nhi đặc biệt này cho đến đêm khuya, quá canh một ngày Thứ Năm, sau ngày trăng tròn tháng Tabaung năm 1229 (theo lịch Miến Điện), bà đã hạ sinh một bé trai khỏe mạnh. Cậu bé không chỉ khác thường từ lúc trong thai mà khi chào đời cũng mang những dấu hiệu đặc biệt. Ngay giữa lòng bàn chân phải có một dấu luân xa (hình bánh xe) rất rõ nét. Nhìn những đường vân xoắn ốc bên phải và các đường gạch chéo cắt ngang vòng tròn ở giữa, ai nấy đều khẳng định: “Đây chắc chắn là một bậc vĩ nhân tương lai.” Diện mạo của cậu bé cũng vô cùng thanh tú và rõ nét. Năm 7 tuổi, cậu được gửi vào chùa đi học. Chỉ trong vòng một năm, cậu đã thuộc lòng bảng chữ cái (Thin-bong-gyi) và mười bộ kinh hộ trì (Paritta). Ngay khi còn là một học trò nhỏ, cậu đã thuộc lòng tám bộ ngữ pháp (Saddā) và chín chương của Thắng Pháp Tập Yếu Luận (Abhidhammattha-saṅgaha), khiến hai người anh là tỳ-kheo trong chùa hết sức nể trọng. Đúng như câu nói “Gừng càng già càng cay” (nguyên văn: gai nhọn từ lúc mới mọc), không chỉ xuất sắc về học thuật hơn hẳn lứa tuổi, cậu còn vô cùng tinh tấn trong việc phụng sự Tam Bảo và thầy tổ mà không cần ai sai bảo. Từ việc quét dọn, dâng hoa cúng Phật cho đến việc chuẩn bị nước uống, nước dùng... tất cả đều chu toàn khiến ai nấy đều thầm khen ngợi. Năm 12 tuổi, cậu xuất gia Sa-di. Nhờ đã thuộc lòng các kinh sách căn bản từ trước nên ngay khi vừa khoác áo cà-sa, vị Sa-di nhỏ đã có thể theo học các bộ đại kinh mà thông thường chỉ dành cho các bậc tỳ-kheo. “Con bà vốn đã lạ thường từ trong bụng mẹ rồi, chuyện nó vào rừng tu là có thật đấy,” bà lão thọ giới lập lại nhận định của mình. Lúc đó, một vị Sa-di lớn tuổi cũng bước đến giảng đường và nói: “Thưa bà, từ trước khi xuất gia, cậu bé đã thuộc lòng Thắng Pháp (Abhidhamma), đã am tường về **40 đề mục thiền định (Kammaṭṭhāna)**, phân biệt được **Danh sắc - Chế định (Paññatti) và Thực tính (Paramattha)**, thậm chí hiểu rõ về **Niết-bàn (Nibbāna)** nữa. Cậu ấy cứ hay nói với chúng tôi là muốn vào rừng ## TRANG 432 để hành thiền, và từ sáng nay thì không thấy cậu ấy đâu nữa.” Nghe những lời này, bà Daw Gon càng thêm lo lắng, khẩn khoản thúc giục ông **U Hnot** đi tìm con ngay lập tức. “Bà Gon à, bà đừng có lo quá như thế, con mình đi tu hành trong rừng thì phải mừng cho nó chứ!” Thấy ông chồng nói vậy, bà Daw Gon không kìm được cơn giận, định chạy đi tìm hai người con tỳ-kheo của mình, nhưng ông **U Hnot** đã nắm tay bà lại: “Thôi được rồi, để tôi dẫn bà cùng đi tìm nó.” Bà Daw Gon ngơ ngác đi theo ông **U Hnot**. Ông dẫn bà đến gần một bụi cây rậm rạp nằm sát hàng rào khuôn viên chùa, nơi vắng vẻ không bóng người qua lại. Ông **U Hnot** ra hiệu cho bà giữ im lặng rồi chỉ tay vào sâu trong bụi rậm. Ở đó, giữa bụi cây um tùm che khuất cả ánh nắng mặt trời, Sa-di Medhāvī đang ngồi trang nghiêm hành thiền trên chiếc y nội trải tạm, bên cạnh là chiếc bình bát. Đến lúc này, bà Daw Gon mới trút được gánh nặng, khẽ thở phào và nở một nụ cười mãn nguyện. Ông **U Hnot** khẽ chạm tay bà, cả hai rón rén bước ra ngoài. Khi đã đi đến một khoảng cách đủ xa để không làm phiền vị Sa-di, ông mới giải thích: “Bà Gon, đứa con này của bà không biết sau này sẽ còn phi thường đến mức nào nữa. Tôi có hỏi một chú tiểu thì được biết từ sáng sớm sau khi đi bát về, nó đã thọ hạnh **Pattapiṇḍik’aṅga** (hạnh trì bình) và **Ekāsanik’aṅga** (hạnh nhất tọa thực - chỉ ăn một lần mỗi ngày). Nó cũng đã tự tay dọn dẹp sạch sẽ chỗ trong bụi cây đó từ trước. Các thầy trẻ hôm nay được nghỉ học vì là ngày lễ nên cũng không ai hay biết nó đi đâu cả.” Cả hai cùng mỉm cười trở lại giảng đường. Sa-di **Medhāvī** ấy chính là tiền thân của đức **Thiền sư Nyaung Lunt** sau này. ### Tận tụy với trọng trách giáo giới và phụng sự thầy tổ Ngay từ thời Sa-di, ngài **Medhāvī** đã thuộc lòng các bộ kinh căn bản của Tạng Luật mà các tỳ-kheo thường học. Về giới đức, ngài luôn giữ gìn thân khẩu ý đúng theo luật nghi, được ca ngợi là một “vị Sa-di mẫu mực bước ra từ kinh sách”. Khi tròn 20 tuổi và thọ cụ túc giới, ngài lại càng tôn trọng giới luật tinh nghiêm, đúng nghĩa là một bậc “Tỳ-kheo của giáo pháp”. Sau khi hạ lạp được 3 năm, ngài lên Mandalay, vào chùa Phaya Gyi để nghiên cứu kinh điển. Sau hai năm tu học tại đó, theo lời dạy của thầy mình là ngài **U Kesara**, ngài trở về trông nom ngôi chùa cũ tại làng Yay-o-zin (nằm về phía Nam), gần thị trấn Nyaung-yan. Trong thời gian này... ## TRANG 433 Ngài **Mō-nan-kone Sayadaw**, một bậc tinh thông Luật tạng (Vinaya), có việc ghé thăm Nyaungyan. Nhân đó, **U Medhāvī** đã đến xin phép để thỉnh vấn Ngài về những điểm chưa rõ liên quan đến **dây thắt lưng** (khā-pān kyō) trong giới luật. Nhận được những lời giải đáp xác đáng và thỏa đáng, sư quyết định sẽ đi theo bái vị Sayadaw này làm thầy để thọ học. Với một bậc thiết tha trân trọng giới đức như **U Medhāvī**, việc gặp được Ngài **Mō-nan-kone Sayadaw** – vị vốn lừng danh về cả kiến thức Luật tạng lẫn đức hạnh tu trì – quả là một duyên lành hy hữu. Người ta thường nói: "Kẻ muốn tinh thông trí tuệ hãy nương tựa **Ngài Sāriputta** (Xá-lợi-phất), kẻ muốn giỏi về thần thông hãy tìm đến **Ngài Moggallāna** (Mục-kiền-liên), và kẻ muốn vẹn toàn nếp sống khổ hạnh (dhutanga) hãy nương nhờ **Ngài Mahā Kassapa** (Ma-ha Ca-diếp)." Trong một thời đại hưng thịnh, việc được thân cận và nương tựa những bậc vĩ nhân bậc nhất là một lợi ích vô cùng to lớn đối với những người hữu phước. Tuy nhiên, với kẻ thiếu phước, điều này đôi khi lại mang đến sự suy giảm lợi ích, tựa như việc sử dụng lửa hay điện vậy. (Ác nghiệp **Ariyo-pavāda** – hủy báng bậc Thánh – cũng nên được hiểu và quán xét theo ví dụ này). Vào năm năm hạ lạp, sau khi được sự cho phép của vị sư huynh, **U Medhāvī** đã chuyển đến trú ngụ tại ngôi chùa ở làng **Mō-nan-kone**, nằm cách thị trấn Pyawbwe khoảng 2 dặm về phía Đông Nam. ### Ngài Mō-nan-kone Sayadaw – Bậc tinh thông Luật tạng Tại đây, thiết nghĩ cũng cần sơ lược đôi chút về tiểu sử của Ngài **Mō-nan-kone Sayadaw**. Ngài sinh tại làng Ywa-pō-ka-lē, còn gọi là Nyaung-pin-thar (thuộc huyện Yamethin, phía Đông làng lớn Pe-kone, gần ga Shwe-dah; nay ngôi làng này không còn nữa). Ngài sinh năm 1047 (tức năm 1209 Miến lịch - 1847 DL), là con của ông **U Inn** và bà **Daw Bone Gyi** (tên khác là **Daw Aye**). Ngài thọ học tại chùa **Wun Kyaung** ở Pe-kone dưới sự dẫn dắt của Ngài **U Ñāṇa**. Pháp danh Sa-di của Ngài là **Shin Jayanta**. Khi còn là Sa-di, Ngài đã lên kinh thành Ratanaphon (Mandalay) để học Luật tại chùa **Dakkhinārāma Payagyi** dưới sự hướng dẫn của Ngài Sayadaw **U Suta** (Pagan Nyaung-U Sayadaw). Sau mười hạ lạp, Ngài chuyển đến chùa **Salin** ở khu vực phía Đông kinh thành để nhận nhiệm vụ cao quý là vị Giảng sư đầu tiên (Pahtama Sā-taw-cho). Ngài được Hoàng hậu **Cakkar Devī** hết lòng tôn kính, hàng ngày dâng cúng vật phẩm và hộ trì tứ vật dụng. Dưới thời Vua Thibaw, Ngài trở về an cư một hạ cùng vị thầy cũ là Ngài **U Ñāṇa**. Sau đó, Ngài về làng Pyaw và làng Pitauk-kone, nơi mẹ và thân quyến sinh sống. Các thí chủ tại đây đã chung tay xây dựng một ngôi chùa cúng dường Ngài. Tuy nhiên, Ngài chỉ lưu lại đó một thời gian ngắn, sau đó giao quyền quản lý lại cho người đệ tử là **U Jota**, rồi chuyển hẳn đến làng **Mō-nan-kone** để ## TRANG 434 thiết lập một học viện (Sā-thin-taik). (Sư **U Jota** sau đó cũng đi vào rừng tu khổ hạnh ở phía Đông làng Pyaw vào năm 1255 Miến lịch). Ngài **Mō-nan-kone Sayadaw** nổi danh là một vị Giáo thọ sư (Gaing-oke) của tông phái Mō-nan-kone và là bậc đại trí về Luật tạng. ### Thầy trò cùng trân quý Giới luật Ngay từ đầu, nhìn vào diện mạo (upadhi) của **U Medhāvī**, Ngài **Mō-nan-kone Sayadaw** đã nhận định đây là "người sẽ đạt được những thành tựu lớn lao" và dành sự quan tâm đặc biệt. Chẳng bao lâu sau, Ngài nhận thấy vị tân Tỳ-kheo này còn xuất sắc vượt xa cả những gì Ngài hằng mong đợi. **U Medhāvī** hết lòng cung kính và thận trọng trong việc giữ gìn giới luật Tỳ-kheo, khiến ngay cả một bậc tinh thông giới luật như Ngài **Mō-nan-kone Sayadaw** cũng phải lên tiếng ngợi khen. **U Medhāvī** có niềm tin sắt đá rằng: "Bất kể học giới nào do đức Phật ban hành, không có lỗi lầm (āpatti) nào được xem là nhỏ nhặt. Nếu không chú trọng đến những điều nhỏ bé, khi gặp chuyện lớn lao cũng khó lòng giữ vững. Nếu đã thu thúc được những điều lớn, thì những điều nhỏ nhặt khác cũng sẽ được giữ gìn một cách tự nhiên." Đối với loài chim tước nhỏ bé (Laṭukika), ngay cả việc bị một sợi dây leo mỏng manh ràng buộc cũng chẳng khác nào bị mang một gông cùm xiềng xích nặng nề, có thể dẫn đến cái chết ngay tại chỗ. Thế nhưng, đối với một thăng tượng (voi lớn) hùng dũng, sợi dây leo ấy chẳng có nghĩa lý gì. (Theo **Kinh Laṭukikopama**, thuộc **Trung Bộ Kinh - Majjhima Pannāsa**). Cũng vậy, những học giới về **Ādibrahmacariyakā** (Giới căn bản của Phạm hạnh) – vốn là nền tảng tối thượng của Luật tạng – có thể trở thành những gánh nặng xiềng xích cùm chân đối với những người có đức tin và nghị lực non yếu (loại người luôn nghi hoặc vào lòng đại bi, trí tuệ toàn giác của đức Phật cũng như năng lực của giáo pháp). Nhưng đối với **U Medhāvī**, những giới luật ấy thật nhẹ nhàng. Sư không cảm thấy gò bó hay phải gồng mình gìn giữ; trái lại, sư cảm thấy sảng khoái và tràn đầy nghị lực, tựa như một chàng thanh niên quý tộc khoác lên mình bộ trang phục rực rỡ để bước vào cung điện hội triều một cách tự tin. ### U Medhāvī tinh thông chương trình Pháp học Ngài **Mō-nan-kone Sayadaw** nhận thấy **U Medhāvī** không chỉ giữ gìn oai nghi tề chỉnh mà còn vô cùng tinh tấn, nên đã cho sư ở một liêu phòng riêng và ban cho danh hiệu "Sā-so-taw" (vị thủ khoa dẫn đầu lớp học). (Vị Sā-so-taw là người thay mặt cả lớp tụng đọc lại những gì thầy đã dạy; người giữ vai trò này phải chuẩn bị bài kỹ lưỡng hơn, do đó kiến thức cũng ## TRANG 435 ngày càng uyên thâm hơn). Ban ngày, sư thọ học các bộ ngữ pháp nhỏ như **Sambandhacintā**, tiếp theo là các bộ Luật tạng (Vinaya) gồm năm bộ Pāli và các bản Chú giải (Atthakathā), cùng các bản Chú giải của Vi Diệu Pháp (Abhidhamma). Ban đêm, sư lại tham gia các lớp "Abhidhamma Nya-war" (Lớp học đêm về Vi Diệu Pháp). Lớp học đêm về Vi Diệu Pháp là một hình thức giáo dục đặc biệt trong phương pháp giảng dạy của quý sư. Ngay từ xa xưa, đã có các bản tóm yếu (So-yo) bằng ngôn ngữ Miến Điện, giúp người học bao quát toàn bộ ý nghĩa của bảy bộ Vi Diệu Pháp. Trải qua nhiều thời đại, các bản tóm yếu này được tu chỉnh và truyền thừa, trở thành những tác phẩm dễ hiểu nhưng vô cùng sâu sắc, có thể gọi là "Chú giải Vi Diệu Pháp bằng tiếng Miến". Khi phân tích một thuật ngữ hay một khái niệm pháp lý của Vi Diệu Pháp, phương pháp này sẽ liệt kê đầy đủ các khía cạnh thông qua các cách tiếp cận như: "A-sit kauk" (Chiết xuất cốt lõi), "A-tu kauk" (Phân loại bổ trợ), và "Ya-thin kauk" (Tổng hợp cần thiết). Cách trình bày này chi tiết đến mức đôi khi còn vượt xa cả các bậc đại sư Chú giải (Atthakathā) và Sớ giải (Tīkā). Người Miến Điện đã sáng tạo ra một hệ thống học tập mới vô cùng tuyệt vời, giúp tóm gọn tinh túy của Vi Diệu Pháp một cách đầy đủ và logic nhất, làm sáng tỏ cả những chi tiết nhỏ nhặt mà các bậc thầy đời trước chưa đề cập đến. Lớp học đêm này diễn ra dưới sự hướng dẫn của thầy giáo thọ. Đúng như cái tên "Nya-war" (Học đêm), cả thầy lẫn trò đều tắt hết đèn nến, học tập trong bóng tối tĩnh mịch của đêm đen. Vừa quán xét ý nghĩa vừa trì tụng, chính sự tĩnh lặng và bóng tối ấy đã mang lại sự định tâm (samādhi) sâu sắc, đánh thức trí tuệ Vi Diệu Pháp thâm sâu. Khi trở về từ lớp của thầy, các vị sư đi theo nhóm ba bốn người, vừa đi chậm rãi vừa trì tụng lại một cách nhịp nhàng với sự suy xét thấu đáo. Nhờ phương pháp này, các vị Tỳ-kheo và Sa-di trẻ tuổi có thể thấu triệt được cốt tủy của bảy bộ Vi Diệu Pháp (gồm 12 quyển lớn) trong một thời gian rất ngắn. Chính nhờ những phương pháp giảng dạy độc đáo và kiên cố này mà người Miến Điện đã giữ vững được giá trị của giáo lý Phật giáo một cách vững chãi, không thể lay chuyển. Bằng phương pháp này, **U Medhāvī** đã thông suốt các nội dung về Kinh (Sutta), Luật (Vinaya) và Vi Diệu Pháp (Abhidhamma) mà không còn một kẽ hở nào; sư đã hoàn toàn làm chủ được các kinh điển cốt tủy. Mặc dù đã kết thúc giờ học đêm và rời khỏi liêu của thầy, sư vẫn chưa vội về liêu phòng của mình. Sư tận dụng thời gian tản bộ để ôn lại bốn bộ Luật nhỏ và các bộ Từ điển (Abhidhān) mà sư đã thuộc lòng từ trước, mỗi đêm xoay vòng trì tụng hai hoặc ba loại. Nhờ sự kiên trì ôn luyện (An-phan) ấy, dù những kiến thức Ngữ pháp hay Thắng Pháp Tập Yếu (Saṅgaha) đã học từ lúc nhỏ có để lại vài năm không tụng đến, sư vẫn không mảy may quên lãng. ### Đạo hạnh vẹn toàn, Giới luật tinh nghiêm Hàng đêm, sau khi trì tụng đến khoảng mười giờ khuya, sư tạm dừng để đến thực hiện việc chăm sóc (nắn bóp chân tay) cho vị Sayadaw già. Sau khoảng một giờ phục vụ chu đáo, sư tiếp tục phần nhiệm vụ còn lại của mình... ## TRANG 436 Vị tỳ-kheo trẻ tiếp tục tụng đọc kinh sách. Vào những đêm trăng sáng, cảnh tượng các vị Sa-di và tỳ-kheo trẻ cùng nhau ôn luyện kinh văn thật là một hình ảnh tịnh tín và đẹp đẽ. Quá nửa đêm, tiếng tụng đọc mới dần lắng xuống. Có vị ngồi trên sập gỗ dưới gốc cây, có vị lại kinh hành dọc theo lối đi. Thật là những bậc hữu công đối với giáo pháp học thuật (Pariyatti). Hơn mười một giờ đêm, Ngài U Medhāvī tạm dừng việc ôn kinh, bước lên ngôi chùa nhỏ và thắp sáng chiếc đèn bão. Ngài tỉ mỉ ghi chép lại vào những quyển vở những ý nghĩa thâm sâu của kinh điển mà bậc Thầy đã chỉ dạy, không bỏ sót một điểm nào. Sau đó, dù đã cùng đại chúng thực hiện thời khóa bái Tam Bảo, Ngài vẫn dành chút thời gian lễ Phật riêng và tu tập tâm từ (Mettā-bhāvanā). Tiếp theo, Ngài thực hành đề mục thiền định về ba mươi hai thể phần (Koṭṭhāsa-kammaṭṭhāna - như tóc, lông, móng, răng, da...) vốn là pháp môn Ngài hằng tu tập mỗi ngày, rồi sau đó mới nghỉ ngơi khoảng một giờ đồng hồ. Hiếm khi nào Ngài ngủ quá hai tiếng. Khi chưa đầy ba giờ sáng, Ngài đã thức giấc. Để chuẩn bị cho bậc Đại Trưởng lão rửa mặt, Ngài đặt chiếc khăn lau lên vai, mang theo bình nước sạch, trên nắp bình đặt sẵn thanh chà răng và đĩa muối, rồi đứng đợi trước cửa liêu của thầy mình. Trong khi chờ cửa mở, Ngài an trú tâm trong định tâm từ. Đúng ba giờ, vị Thầy mở cửa, Ngài cung kính dâng nước rửa mặt. Sau khi vị Thầy xong việc, Ngài cung kính thu dọn mọi thứ ngăn nắp, đảnh lễ rồi mới trở về liêu nhỏ của mình. Về đến nơi, Ngài xem lại những ghi chép về ý nghĩa kinh văn ban đêm, nếu còn chỗ nào thiếu sót, Ngài lại suy tư và viết bổ sung. Sau đó, Ngài dành toàn bộ thời gian đến khi trời sáng để chánh niệm về các thể phần trong thân (Koṭṭhāsa-kammaṭṭhāna). Đó chính là nếp sống thường nhật của vị tăng sinh trẻ U Medhāvī. Như lời dạy: “Hạnh không tròn thì giới chẳng đủ, giới chẳng đủ thì định chẳng thành. Định chẳng thành thì tuệ chẳng sinh, tuệ chẳng sinh thì không thể chứng đạt Niết-bàn”, đời sống tăng sinh của Ngài U Medhāvī không chỉ đơn thuần là việc học chữ nghĩa. Không có một phương diện nào bị khiếm khuyết. Ngài là một minh chứng sống động cho việc học (Pariyatti) mà thiếu đi sự hành trì (Paṭipatti) thì sẽ không vững chắc. Một chiếc bình nước Pháp học mà không có nắp đậy của Pháp hành thì bụi bặm và côn trùng rất dễ rơi vào. Ngay cả những việc như quét dọn trước nhà, dọn dẹp gai góc trên đường đi, lo toan sinh kế cho cha mẹ, vợ con, hay thậm chí là dỗ dành đứa trẻ đang khóc — tất cả đều cần được hiểu là ‘giới (Sīla) hay thiện sự thực hành (Caraṇa-kusala)’. Dù là những việc không thể tránh khỏi, nhưng nếu có trí tuệ đồng hành, chúng sẽ trở nên cao quý và giá trị vô cùng. Sự hiểu biết chân chánh là điều tối quan trọng. Vì không biết mà chúng sinh phải chịu khổ, nếu biết được thì an lạc khôn cùng. Vào ban ngày, các thời khóa học của Ngài U Medhāvī lại tiếp diễn... ## TRANG 437 ... xoay vòng theo tuần tự. Theo thời gian, do áp lực của việc học tập quá độ, Ngài bắt đầu mắc chứng tê bại (Pāda-rakta), khiến đôi chân lạnh buốt lên tận đầu gối. Do máu huyết kém lưu thông, việc đi đứng trở nên khó khăn và mỏi mệt. Khi đó, Ngài phải dùng dầu hỏa hâm nóng hoặc phơi nắng, thoa khắp từ đầu gối trở xuống, rồi mở cửa sổ phía sau liêu nhỏ để sưởi nắng đôi bàn chân. Đôi khi Ngài phải trở về làng quê của mình để trị bệnh. Những đôi chân không còn đủ sức bước đi như một lời nhắc nhở Ngài về ý nguyện xuất ly vào rừng sâu. Suốt 15 năm ròng rã, Ngài vẫn duy trì việc ôn kinh, tụng đọc và hoàn thành mọi bổn phận đối với bậc Thầy cùng các công việc trong chùa không hề gián đoạn. Khi đó, hạ lạp của Ngài đã lên đến 20 năm. Dù đã là một vị tỳ-kheo 20 hạ, Ngài vẫn giữ vững nếp cũ, cung kính dâng nước rửa mặt và phục vụ bậc Thầy mình. Với sự vẹn toàn trong Pháp học lẫn Pháp hành cùng sự nỗ lực tinh tấn phi thường, Ngài trở thành chỗ dựa tin cậy của bậc Thầy. Chính vì thế, từ khi trở thành bậc **Maha-thera** (Đại Trưởng lão 20 hạ), Ngài đã được giao phó toàn bộ việc quản lý tu viện Mo-nan-gone. Lúc này, các bổn phận hằng ngày lại càng thêm chồng chất: từ giảng dạy kinh điển, thuyết Pháp, cho đến việc giải đáp các thắc mắc và vấn nạn giáo lý từ khắp nơi gửi về. Không chỉ gánh vác trách nhiệm đối với tăng chúng trong chùa hay các thiện nam tín nữ trong vùng, mà cả gánh nặng Phật sự của toàn bộ hệ phái Mo-nan-gone cũng đè nặng lên vai Ngài. ### Việc Chính và Việc Phụ Ngài U Medhāvī không hề cảm thấy mệt mỏi khi thực hiện các Phật sự. Tuy nhiên, khi nhận ra rằng những công việc này đang làm giảm sút thời gian dành cho việc quan trọng nhất của đời mình — đó là **Pháp hành Thiền định (Kammaṭṭhāna)** — Ngài bắt đầu cảm thấy lo âu. Tuổi đời cũng đã xế chiều, mỗi khi nghĩ về việc cứ mãi vướng bận vào những Phật sự mang tính truyền thống, Ngài lại cảm thấy rùng mình lo sợ. Ý định xuất gia vào rừng tu tập vốn hằng ấp ủ không những không phai nhạt mà ngày càng lớn mạnh hơn. “Này Ngài U Medhāvī, Ngài nên học tập thông suốt Pháp học (Pariyatti), rồi sau đó truyền dạy lại cho người khác để duy trì giáo pháp. Thế nhưng, việc suốt đời chỉ mang thân bộ xương này chôn vùi trong chữ nghĩa Pháp học thì thật chẳng nên chút nào. Điều đó cũng giống như người nông dân vất vả khai hoang, không quản nắng mưa cày cấy gieo trồng, nhưng đến khi thu hoạch lúa vào kho thì lại qua đời mà chưa kịp ăn lấy một hạt cơm từ chính thành quả của mình vậy. Ngài U Medhāvī à, Ngài là người thông tuệ kinh điển, có đầy đủ ba-la-mật, lại thấu hiểu giáo lý và luôn nỗ lực thực hành mà.” — Lời chỉ dạy này của Ngài Đại Trưởng lão Lin-zin-gone năm xưa cứ vang vọng mãi trong tâm trí Ngài. Vì vậy, Ngài đã đánh liều xin phép Ngài Đại Trưởng lão Mo-nan-gone cho mình được đi tu tập ở rừng. Tuy nhiên, Ngài vẫn chưa được sự chấp thuận. ## TRANG 438 “Nếu Ngài U Medhāvī muốn vào rừng tu tập thì tôi luôn sẵn lòng ủng hộ bất cứ lúc nào. Ngài cứ đến vào giữa đêm, tôi sẽ cùng Ngài khởi hành ngay đêm đó.” — Nhờ lời khích lệ và lời hứa này của Ngài trưởng lão Lin-zin-gone, Ngài U Medhāvī đã tha thiết khấn cầu nhiều lần với Ngài trưởng lão Mo-nan-gone. Cuối cùng, khi được sự đồng ý hài lòng từ vị Thầy, Ngài khoác bát lên vai và lên đường hướng về làng Lin-zin-gone (phía đông ga ga Shan-yva, phía bắc thị trấn Pyawbwe). Ngài trưởng lão Lin-zin-gone, vốn là một bậc hành giả luôn nỗ lực cắt đứt mọi sự quyến luyến dù là nhỏ nhất để tập trung vào việc chính yếu, khi thấy Ngài U Medhāvī đến thì vô cùng hoan hỷ đón chào từ xa. Ngài trưởng lão Lin-zin-gone liền đưa ra quyết định chấp khoát. Giống như phú ông Sumedha mở cửa kho báu để bố thí, Ngài mang tất cả tư trang vật dụng cá nhân — ước tính chất đầy hơn ba mươi chiếc xe bò — từng thứ một đổ ra chất đống ngoài sân trước chùa để ai muốn lấy thì lấy. Về phần mình, Ngài chỉ mang theo một chiếc bát và bộ tam y: “Nào, Ngài U Medhāvī, hãy để những vật dụng này cho những ai cần đến. Tôi cũng đã đạt được **‘Jitaṃ me’** (Sự chiến thắng thuộc về tôi) rồi. Có được một vị **Kalyāṇa-mitta** (Bậc thiện tri thức) như Ngài mà tôi không tranh thủ hoàn thiện đại hạnh **Nikkhamapāramī** (Ba-la-mật Xuất ly) này thì thật không đúng chỗ. Nào, chúng ta đi thôi!” Nói rồi, cả hai vị cùng khoác bát lên vai, hướng về ngọn núi “Min-lo-taung” ở phía tây làng Shan-su mà đi. Các Ngài không hề thông báo cho bất kỳ vị hộ pháp hay dân làng nào biết cả. Đúng như câu nói: “Lọng cần có vua, vua cần có lọng”, hai vị cùng nhau lên đường, tìm đến một gốc cây thích hợp, dọn dẹp chỗ nghỉ và an trú trong sự tịnh lạc của giáo Pháp. ### Tiếng nói Thanh Tịnh Đạo từ đỉnh núi Min-lo-taung Dù cho một người có khả năng xả ly, có sức chịu đựng gian khổ, có ý chí dũng mãnh trong Pháp hành và có trí tuệ quán chiếu thấu suốt đến đâu, thì bản chất của các triền cái và phiền não vẫn rất khó nhận diện. Chúng thường ẩn mình dưới hình thức của một người bạn hữu ích. Nếu sự chướng ngại đến từ bên ngoài thì dễ thấy, dễ tránh. Nếu đến từ bên cạnh thì khó thấy, khó tránh. Nhưng nếu chúng phát khởi ngay từ bên trong nội tâm mình thì lại càng cực kỳ khó nhận diện và đoạn trừ. Những chướng ngại đó được gọi bằng nhiều tên gọi khác nhau như: **“Nīvaraṇa”** (Triền cái), **“Upakkilesa”** (Tùy phiền não), **“Māra 10 tà-quân”** (Mười đội quân của Ma vương), **“Ceto-khila, Ceto-vinibandha”** (Tâm hoang vu, Tâm ràng buộc), hay **“Brahmacārūpaddava”** (Sự hiểm nạn của đời sống phạm hạnh)... ## TRANG 439 383 Nói tóm lại, 14 bất thiện tâm sở do sự không biết và ham muốn (**Vô minh - Avijjā**, **Tham ái - Taṇhā**) dẫn đầu, đang đeo đủ loại mặt nạ để đánh lừa và hành hạ chúng sinh. Nếu không quán chiếu bản chất đó, ý nghĩ sai lầm về hình tướng chế định rằng “Anh Phyu đang cản trở công việc của tôi” sẽ nảy sinh, và 14 tâm sở ấy lại mang một chiếc mặt nạ khác để xâm nhập vào tâm. Những điều này có nghĩa là gì? Ngài Trưởng lão Lintsinkon và Ngài Sayadaw trẻ U Medhāvi đã phải vượt qua muôn vàn khó khăn, mạo hiểm tiến về núi Minlo. Tuy nhiên, một số thí chủ thân cận của Ngài Lintsinkon vì lo lắng đi tìm vị sư bị mất tích, cuối cùng chẳng đặng đừng, đã phát tâm hộ độ xây cất các tinh xá, từ đó người ra kẻ vào bắt đầu đông đúc. Ngài U Medhāvi bắt đầu cảm thấy nản lòng. Sau đó, với những lời lẽ (khó lòng từ chối) như “Xin cho con được hầu cận, xin được hướng dẫn tu tập thiền định”, các vị Tỳ-kheo dần dần tìm đến nương tựa, khiến số tăng chúng lên đến 25 vị. Thời gian trôi qua, một số vị Tỳ-kheo đã cùng nhau cung thỉnh Ngài U Medhāvi rằng: “Bạch Ngài, xin Ngài từ bi giảng dạy cho chúng con một khóa hạ về bộ **Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga)**.” Ngài Trưởng lão cũng lên tiếng khuyến khích thêm, khiến Ngài U Medhāvi không thể từ chối được nữa. Đây chính là một sự chướng ngại tấn công một cách tinh vi khiến Ngài không thể nào thoái thác. Thế là, dù đã từ bỏ Phật học viện lớn ở làng, Ngài U Medhāvi lại phải mở một Phật học viện mới trên núi, tiếng tụng đọc bộ **Thanh Tịnh Đạo** vang dội khắp cả vùng núi. Điều đó tuy tốt, nhưng cũng thật chẳng lành. ### Lần xuất gia vào rừng thứ ba Ngài U Medhāvi là người có quyết tâm sắt đá, dù tạm thời phải chấp nhận thất bại, ngay sau khi kết thúc một hạ giảng dạy, Ngài liền rời khỏi núi Minlo để trở về lại chùa Monankon. Lần này, Ngài mang theo một ý nguyện dấn thân còn khó khăn hơn thế nhiều. Đó không gì khác hơn là việc thỉnh vị thầy ân đức vô lượng của mình — Ngài Trưởng lão Monankon — cùng đi vào rừng sâu. Tuy nhiên, đây không phải là một kế hoạch dễ dàng. Ngài vẫn lưu lại đó một thời gian, ngày đêm suy tính cách thức thực hiện. Một ngày nọ, sau khi các vị Tỳ-kheo trẻ vừa học xong (**Cūḷavagga Pāḷi**) từ Ngài Trưởng lão trở về, Ngài nghe thấy tiếng họ cùng nhau ôn bài trên chiếc chõng dưới gốc cây me. ## TRANG 440 Điều đó càng làm cho tâm ly tham (saṁvega) trong Ngài mãnh liệt hơn. Dhammācariya U Htay Hlaing Lý do là vì các vị đang đọc tụng ôn lại bản dịch sáp nhập Pāḷi - Miến đoạn lời khuyên của Hoàng tử Mahānāma Thích-ca dành cho người em là Anuruddha để khuyến khích đi xuất gia: “Các việc thế gian này chẳng bao giờ kết thúc. Năm tới cũng việc này, năm tới nữa cũng việc này, những việc ấy không bao giờ chấm dứt, cha mẹ ông bà ta cũng đã chết trong khi vẫn đang dang dở công việc ấy.” Khi ấy, Ngài U Medhāvi lấy hết can đảm, trong lúc đang hầu cận Ngài Trưởng lão, đã bạch rằng: “Bạch Ngài, giữa lúc tuổi thọ ngắn ngủi này, mỗi ngày trôi qua chúng ta lại càng già yếu thêm. Như những việc thế gian không có hồi kết, việc hoằng pháp với đồ chúng đông đảo này cũng vậy, ngày nào cũng là bài học này, ngày nào cũng là đồ chúng này, dường như chẳng bao giờ chấm dứt. Bước đi trên con đường có điểm kết thúc thì sự mệt nhọc mới đáng công lao. Nếu cứ tiếp tục như thế này, chúng ta sẽ chẳng thể nỗ lực thực hành pháp hành của bậc Sa-môn được nữa. Các bậc thầy thời xưa cũng thường để uổng phí cả đời theo cách này. Còn về đồ chúng, khi họ nhận được điều họ cần và xong việc của họ thì cũng giống như những vị khách trọ tại nhà nghỉ (zayat), họ sẽ rời đi theo ý mình mà chẳng hề màng đến tình nghĩa thầy trò.” Ngài đã mạo hiểm thưa thỉnh như vậy. Ngài Trưởng lão không hề đáp lời. Ngài U Medhāvi đảnh lễ rồi lui ra. Ngày hôm sau, Ngài bàn bạc với các vị đệ tử nòng cốt của Ngài Trưởng lão như Ngài U Revata và lại tiếp tục thưa thỉnh. “Bạch Ngài, nếu Ngài xuất gia vào rừng, con cũng đã quyết định sẽ theo hầu cận phụng sự Ngài như thế này. Ở vùng Lewe rừng núi rất hoang vu. Ngài U Ācara ở chùa Pattapoine, Lewe cũng đã chuẩn bị sẵn sàng mọi thứ để Ngài có thể an trú tĩnh lặng. Còn về đại tự viện Monankon này, Ngài U Revata sẽ chịu trách nhiệm quản lý và vun bồi ba-la-mật như lúc Ngài còn ở đây.” Sau khi Ngài thưa thỉnh như vậy đúng ba lần trong ba ngày: “Tốt lắm. Ta cũng đã suy xét xong rồi. Mọi việc cứ để Sư (U-pyin-zin) sắp xếp. Chúng ta đi thôi. Nhưng trước hết hãy ghé qua chỗ của Khun-zaw ở làng Pyaw một lát.” “Khun-zaw” là cách gọi Ngài U Saw Ta (Thời xưa, người ta gọi các vị Sư là “Khun-gyi”). Ngài U Saw Ta là một đệ tử được giao phó trông nom ngôi chùa ở làng Pyaw và làng Pitaukkon. Khi đó, vị đệ tử này đã rời bỏ ngôi chùa làng để ẩn tu khổ hạnh trong một thảo am bốn cột tại khu rừng chăn bò (nay là Nyaung-lunt Tawya), cách làng Pyaw khoảng một dặm về phía Đông. Ngài Trưởng lão muốn ghé thăm trước khi đi đến rừng Lewe. Ngài Sayadaw trẻ U Medhāvi vô cùng hoan hỷ. Chẳng để cho bất kỳ ## TRANG 441 385 đệ tử hay thí chủ nào biết, sau khi thọ trai ngày hôm sau, Ngài chỉ nói ngắn gọn là “có việc cần” rồi như thường lệ, mỗi vị mang theo bát, vắt túi da lên vai, tay cầm thiền trượng đi bộ đến ga Shweda. Từ đó, các Ngài tiếp tục đi đến ga Nyaung-lun (với vé cúng dường từ thí chủ U San Nyein ở làng Sipin). Sau khi xuống tàu, các Ngài đi bộ từ ga Nyaung-lun khoảng một dặm năm furlong về hướng Tây Bắc, qua làng cũ của ẩn sĩ U Khanti Jati (nay không còn nữa) và làng Pyaw, rồi đến thảo am nhỏ tại khu rừng chăn bò của Ngài U Saw về phía Đông một dặm. Đó là vào tháng Tabaung (tháng Ba) năm 1269 (Miến lịch), thời tiết rất nắng nóng. Khi đến thảo am nhỏ, các Ngài không thấy Ngài U Saw bên trong mái lá của ngôi chùa bốn cột. Nghe thấy tiếng ôn bài từ trong bụi rậm không xa, các Ngài nhìn vào thì thấy chính là Ngài U Saw. Ngài U Saw khi thấy hai vị thầy đến thì vô cùng mừng rỡ, vừa niệm tụng bài học vang rền nhưng lại không dám bước ra chỗ các Ngài. Tiếng hót của những chú chim bìm bịp hòa cùng tiếng tụng kinh của Ngài U Saw tạo nên một khung cảnh thật thanh bình. Cho đến khi Ngài U Medhāvi đi tới thưa chuyện, Ngài U Saw mới lật đật đứng dậy đảnh lễ và ngồi xuống một cách cung kính, rụt rè như một chú tiểu. Tại trú xứ này thậm chí không có nước uống, nên các Ngài phải nhờ một chú bé chăn bò báo tin cho thân quyến của Ngài Trưởng lão ở làng Pyaw. Chẳng bao lâu sau, các thí chủ như Pho Swat, Pho Khaung từ làng Pyaw và Pitaukkon đã mang nước uống và nước trái cây đến cúng dường. Với lòng thành kính, họ đã lập tức phát quang rừng rậm và dựng lên hai thảo am nhỏ để cúng dường. Dù mọi thứ đã được chuẩn bị sẵn ở Lewe, nhưng vì đang có dịch bệnh đường ruột bùng phát nên Ngài Sayadaw xứ Lewe đã đến thỉnh các Ngài tạm trú tại thảo am này. Dù vị ấy đã đến thỉnh thêm một lần nữa, các Ngài vẫn không chấp nhận. “Rừng ở Lewe cũng là rừng, mà rừng ở đây cũng là rừng thôi,” với lời an ủi đó, các Ngài đã quyết định dứt khoát sẽ an trú tại trú xứ rừng của Ngài U Saw. Ngài U Saw cùng các thí chủ trong vùng cũng thỉnh cầu: “Để các Ngài có thể an tâm tu tập thiền định, chúng con xin được hộ độ tứ vật dụng và các việc công quả. Xin các Ngài hãy thường trú tại đây.” Sau đó, họ đã xác định ranh giới đất chùa một cách chính xác, xây dựng các tinh xá phù hợp và cúng dường thành di sản của Chư Tăng bốn phương (Cātuddisa Saṅghika). ### Con đường ngược dòng — Mài sắt thành kim Ngài U Medhāvi và Ngài U Saw không nhận cơm cúng dường mang đến mà hàng ngày đều tự mình đi khất thực để nuôi dưỡng Ngài Trưởng lão. Khu rừng chăn bò dần dần trở nên thanh tịnh và an lạc. ## TRANG 442 Ngài U Medhāvī vẫn giữ phận sự tối túc (vị-kỷ, vị-tha) phục vụ Thầy như thuở còn là một Sa-di nhỏ. Ngài thỉnh thoảng quán chiếu **Kammaṭṭhāna thân hành** (Kōṭṭhāsa), **Kasiṇa đất** (Paṭhavī-kasiṇa), nhưng chủ đạo (cốt yếu, căn bản) vẫn là tu tập pháp môn **Niệm hơi thở** (Ānāpāna). Khi thực hiện các phận sự lễ bái Phật, phục vụ Thầy hay trì bình khất thực, Ngài luôn an trú vào **Tứ Niệm Xứ** (Satipaṭṭhāna) (phần **Oai nghi** (Iriyāpatha) và **Tỉnh giác** (Sampajañña)). Đôi khi Ngài hành thiền trong một thảo am nhỏ bốn cột lợp lá cây, lúc lại lui vào giữa những bụi rậm để quán chiếu. Địa thế nơi đây vô cùng hiểm trở, thực phẩm lại rất khan hiếm. Tin tức "Hai bậc Trưởng lão đã vào rừng ẩn tu" lan truyền nhanh chóng chỉ trong vài ngày. Các vị đệ tử lớn từ khắp nơi đã rời bỏ các tự viện riêng của mình để tìm đến cầu pháp và tu học, chỉ trong ít ngày đã có khoảng mười vị. Tâm ngài U Medhāvī trở nên nặng trĩu. Những vị này đều là bậc Trưởng lão có hơn 20 hạ lạp, am tường kinh điển, là những người bạn đồng môn cùng chung một Thầy nên Ngài không thể khước từ. Hơn nữa, vì chính Ngài đã cung thỉnh vị Đại Trưởng lão đến đây nên không thể bỏ đi như lần trước được. Ách nạn do những người cùng phạm hạnh (**Brahmacārūpaddava**) gây ra dường như đang dồn Ngài vào thế bí. Khi ấy, nhận thấy không thể né tránh các phận sự với Thầy và tăng đoàn, Ngài càng tăng trưởng **Nỗ lực hành thiền** (Kammaṭṭhāna Vīriya), coi đó như hành động đối mặt trực diện thay vì né tránh. "Kính bạch Ngài, xin hãy ban cho chúng con đề mục thiền định," một vài vị sư mới đến đã tìm cơ hội thỉnh cầu ngài U Medhāvī khi Ngài vừa hoàn thành phận sự với vị Đại Trưởng lão. Lúc hoàng hôn buông xuống, ngồi dưới gốc cây, Ngài hướng dẫn những việc **Chuẩn bị** (Parikamma) mà hành giả cần làm trước tiên, như phát nguyện và rải tâm từ chia phúc. Sau đó, Ngài thuyết giảng về phương pháp niệm **Ānāpāna**. Vì không còn bận tâm việc học hay dạy kinh điển, các vị ấy đều dành toàn thời gian để tu tập. "Chư Hiền giả đã am tường kinh điển nên tôi không cần nói gì thêm. Chỉ cần nỗ lực với đức tin vững chắc là đủ. Điều quan trọng là phải thực hành tinh tấn (**Sātaccakārī**) — tức là làm một cách liên tục không gián đoạn, và cũng cần thực hành cẩn trọng (**Sakkaccakārī**) — tức là làm với lòng tôn kính. Phải quán chiếu lặp đi lặp lại như người thợ rèn mài sắt thành kim. Tự nhiên của chúng sinh vốn như dòng nước chảy xuôi, luôn theo đuổi dục vọng của tâm; việc lội ngược dòng là rất khó, cũng như việc ngăn chặn những tập khí tâm linh từ trong bụng mẹ là điều không hề dễ dàng. Vì vậy, nếu luôn đặt tâm tại chóp mũi và tỉnh giác biết rõ hơi thở ra vào, thì không cần phải xua đuổi các tâm khác một cách đặc biệt, tâm sẽ tự nhiên lội ngược dòng nước (trở nên thanh tịnh). "Về vấn đề liên quan đến **Ānāpāna**, những điều đáng ngưỡng mộ và cần biết thêm, chư Hiền giả có thể tự mình tìm hiểu trong các văn bản Pāḷi (như **Kinh Đại Niệm Xứ** - Mūlapaṇṇāsa, **Kinh Niệm Hơi Thở** - Uparipaṇṇāsa, **Tương Ưng Bộ - Chương Ānāpāna**, **Phân Tích Đạo**). ## TRANG 443 Đây là con đường cổ xưa mà mọi vị Phật đều đi qua, là phương pháp **Hành thiền** (Kammaṭṭhāna) vô cùng đáng tin cậy." ### Niệm hơi thở đến mức chảy nước mũi và ngã lăn ra "Đôi khi hơi thở ra vào dần trở nên vi tế và biến mất đến mức không thể tìm thấy. Khi ấy, không cần phải cố sức quá mức. Chỉ cần kiên trì chờ đợi: 'Nó sẽ đến', thì nó sẽ hiện khởi. Nếu cố gắng quá sức sẽ khiến thân tâm mệt mỏi và không đạt được định. **Sukhā samādhatthāya** — Thân tâm an lạc thì định mới phát sinh (**Sukhino cittaṃ samādhiyati**). Khi có định mới có **Như thật tri kiến** (Yathābhūtañāṇa). **Passambhayaṃ kāyasaṅkhāraṃ... sikkhati** — Chỉ cần rèn luyện để hơi thở thô trở nên vi tế. Việc cố gắng quá mức để hít thở nặng nề là không đúng với lời Phật dạy. Điều này cần phải lưu tâm. Cũng phải tránh những hành vi thô tháo đi ngược lại với việc **Hành thiền**." [Trích từ chương "**Tóm lược phương pháp Định và Tuệ**" trong bộ **Pakiṇṇaka Dīpanī** tức **Moinankone Vinicchaya** quyển 2, trang 393 in năm 1295 (Miến lịch) và từ sách "**Hành trình tu tập của hội chúng**".] Lời dạy của một vị Thầy vẹn toàn cả Pháp học (Pariyatti) và Pháp hành (Paṭipatti) thật đáng ghi nhớ. Có những người quan niệm rằng: "Vì là người phàm phu thô lậu nên phải thở thật mạnh thì mới dễ đắc định." Dù tạm thời có vẻ đúng, nhưng đối với những thiện nam tín nữ ít hiểu biết, việc chấp chặt vào đó đã dẫn đến những cảnh tượng khó coi. Có những cảnh tượng như khi một người sắp ngồi thiền thì phải có gối và hai người trực sẵn (để đỡ nếu ngã nhào); hay trong các đại lễ, khi vừa nghe pháp vừa thực hành, họ thậm chí không còn nghe pháp nữa (**Bất kính Pháp** - Dhamma Agārava), mà nước mũi chảy ròng ròng, hơi thở khò khè, phát ra âm thanh lớn gây phiền hà cho người khác. Hơn nữa, khi mất đi sự tỉnh giác và ngã lăn ra, trông họ chẳng khác nào bị ma nhập, quỷ ám, đến mức đám đông phải khiêng đi, thật là quá giới hạn. Giáo pháp của Đức Thế Tôn vốn đem lại sự tĩnh lặng và an lạc, khiến người ta phát tâm kính tín, lẽ nào lại dẫn đến sự khó coi như thế? — Như tục ngữ có câu: "Dùng sức lực quá mức thì không giữ được bát quan trai," chúng ta cần cẩn trọng vì điều này có thể làm lung lay đức tin và sự hiểu biết của người khác. Chỉ khi Đức tin và Trí tuệ, Định và Tinh tấn cân bằng như hai con bò kéo xe, thì cỗ xe **Minh sát** (Vipassanā) mới có thể đến được Niết-bàn [Như đã dạy trong **Tăng Chi Bộ - Chương Ba Pháp - Kinh Nimitta** (258), ## TRANG 444 **Chương Sáu Pháp - Kinh Sītībhāva** (379), **Tương Ưng Bộ - Chương Giác Chi - Kinh Aggisutta** (99) và **Thanh Tịnh Đạo** - Quyển 1 (379)] qua ví dụ về người thợ vàng, hay người đốt lửa: — "Nếu tâm thụ động thì hãy nâng đỡ, nếu tâm phóng dật thì hãy nhiếp phục, nếu tâm hời hợt không cảm nhận được vị ngọt của pháp thì hãy quán chiếu những điều gây xúc động mạnh; khi hai con bò kéo đều vai thì cứ để chúng tự nhiên đi, cũng vậy khi các pháp đã cân bằng thì chỉ cần quan sát một cách khách quan (**Xả Giác Chi** - Bojjhaṅgupekkhā)". Đó chính là những phương pháp điều chỉnh tâm một cách điềm tĩnh và an lạc đã được dạy rõ ràng. Ngay từ thời Đức Phật, chịu ảnh hưởng từ phái Nigaṇṭha Nāṭaputta, những người như **Thái tử Bodhi** từng nghĩ rằng: "Phải đổi khổ lấy lạc", nhưng Ngài đã dạy rằng đây là "con đường an lạc và dễ dàng theo từng cấp độ". Mong rằng mọi người có thể thấu hiểu và thực hành theo đúng **Trung Đạo** (Mazzhimapaṭipadā). ### Cách theo dõi Thọ và quán Nội Ngoại Trong số các vị sư xin đề mục **Khai thị**, cũng có những vị đã từng nghe qua hoặc có nghiên cứu, nên một vị đã thỉnh vấn: "Kính bạch Ngài, xin Ngài chỉ dạy thêm về ý nghĩa của việc theo dõi **Cảm thọ** (Vedanā)." Ngài đáp như sau: "Phải hướng tâm đến nơi có **Cảm thọ**, rồi quán chiếu về bản chất **Vô thường** (Anicca) không cố định của nó; vì vô thường nên là **Khổ** (Dukkha); vì khổ nên là **Vô ngã** (Anatta), không thể làm chủ hay điều khiển theo ý muốn. Hãy lặp đi lặp lại việc quan sát: 'Biết - biết - biết'. Khi lấy **Cảm thọ** làm đối tượng để tu tập **Minh sát**, thì các yếu tố **Sắc**, **Tưởng**, **Hành**, **Thức** cũng tự nhiên hội đủ trong đó. "Bằng cách không chạy theo những cảnh giới **Minh sát** rộng lớn không phù hợp với năng lực, mà chỉ tập trung vào phạm vi **Minh sát** hẹp, thì trí tuệ và đối tượng sẽ tương xứng như 'nồi nào vung nấy', giúp trí tuệ khai mở nhanh nhất. Quán chiếu cả **Bốn hay Năm uẩn** là phạm vi rộng, quán **Hai hay Ba uẩn** là phạm vi trung bình, chỉ khi quán **Một pháp** duy nhất mới là phạm vi hẹp. "Về cách quán **Nội** (Ajjhatta - bên trong) và **Ngoại** (Bahiddha - bên ngoài): Khi quán chiếu Nội pháp, phải thấy rõ Nội pháp rồi mới chuyển sang Ngoại pháp; nếu chưa rõ thì không được chuyển. Khi quán chiếu Ngoại pháp cũng vậy, phải thấy rõ Ngoại pháp mới chuyển về Nội pháp. Nếu hành giả nỗ lực loại bỏ sự tham ái dính mắc (**Taṇhānikanti**) vào các hành pháp Nội - Ngoại, thì chẳng bao lâu sẽ chứng đắc **Đạo trí** và **Quả trí**. (Trong **Thanh Tịnh Đạo** có dạy rằng, chỉ khi thấy rõ sự sinh diệt của cả Ngoại pháp thì phận sự mới hoàn tất)." ## TRANG 445 **389** “Khi thực hiện bất cứ công việc gì, như khi đi khất thực chẳng hạn, ta có thể tạm rời đề mục **Ānāpāna** (hơi thở - vốn là đề mục căn bản) để tu tập **Satipaṭṭhāna** (Tứ Niệm Xứ). Hãy quán sát theo như những gì được dạy trong các phần **Iriyāpathapabba** (Mục Oai nghi) và **Sampajannapabba** (Mục Tỉnh giác), bằng cách ghi nhận ‘biết - biết - biết’, hoặc suy xét rằng ‘**Anicca** (Vô thường), **Dukkha** (Khổ), **Anattā** (Vô ngã)’. Việc giữ cho niệm không gián đoạn, nối kết liên tục trong mọi oai nghi như vậy sẽ hỗ trợ đắc lực cho tuệ giác và đem lại lợi ích vô cùng to lớn khi ta quay lại nỗ lực với đề mục thiền định chính (căn bản).” [Trích lục nguyên văn từ tập *Saṅkhepa Vinicchaya* và *Gaṇacārika Paṭipatti*. Đây là những lời do chính Ngài Đại đức tự thân viết ra, chỉ có một vài thay đổi nhỏ giữa ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết cho phù hợp.] ### Từ bãi chăn bò đến Phật học viện rừng Nyaung Lunt Các vị Thiền sư mới đến cũng thực hành 13 hạnh **Dhutaṅga** (Đầu đà) bất cứ khi nào thuận tiện, giống như Ngài Đại đức **U Medhāvī**. Những gốc cây và những trảng đất trống chính là những ngôi chùa mà Đức Thế Tôn đã ban tặng cho họ. Cũng giống như những bậc thượng tọa ấy, các đệ tử lớn là trụ trì ở khắp các nơi cũng lần lượt kéo nhau về đông đúc (một điều vô cùng hiếm thấy). Đến mùa an cư năm 1271 (thời Miến Tây), sau hơn 20 hạ lạp, đã có khoảng 50 vị đại trưởng lão cùng quy tụ về đây sinh sống. Nhờ hồng ân của Tăng bảo, các trú xứ và tự viện cứ thế hình thành một cách hợp lẽ, đúng theo Luật tạng, mà chẳng cần phải kêu gọi hay thuyết phục điều gì. Do tình hình thực tế không thể tránh khỏi, Ngài Đại đức trẻ tuổi **U Medhāvī** đã cùng bàn bạc với các bậc trưởng lão để cùng soạn thảo các quy tắc (bởi nơi đây đã trở thành một đại tự viện). Các quy định bao gồm: “Nữ nhân không được ở lại qua đêm trong khuôn viên chùa; khi có khách cư sĩ đến, không được chào đón một cách thái quá hay bày biện bàn tiệc hậu hĩnh; không được tổ chức các buổi biểu diễn văn nghệ hay tấu nhạc trong chùa.” Những quy tắc này cùng với việc thực hành hạnh **Dhutaṅga** giúp các vị tu sĩ giữ gìn nếp sống đúng theo giới luật. Trong số 12 điều luật được thông qua theo tinh thần kết tập, để mang lại lợi ích lâu dài, các vị Tăng đã cùng nhất trí ghi nhận những quyết định luật tạng của Ngài Đại trưởng lão Monankone là chuẩn mực cuối cùng. Đồng thời, toàn thể chư Tăng cũng đề nghị và phê chuẩn một quy định: yêu cầu Ngài Đại trưởng lão đăng đàn giảng dạy trọn vẹn năm bộ **Vinaya** (Luật tạng) Pāḷi, và thỉnh cầu Ngài trực tiếp hướng dẫn học thuật. Dưới nhãn quan của bậc học giả Pháp học (**Pariyatti**), đây rõ ràng là một điều tốt đẹp không gì bằng. Tuy nhiên, xét dưới nhãn quan Pháp hành (**Paṭipatti**), điều này cũng đáng để suy ngẫm. Một vị Đại trưởng lão tuổi cao đức trọng, người đã ba lần từ bỏ tất cả để vào rừng sâu, vượt qua bao gian nan và đã hoàn thành sứ mệnh **Pariyatti** một cách vẻ vang, vậy mà sau khi đã dấn thân vào nơi rừng thẳm với lòng quyết tâm như thế, Ngài lại phải quay về với công việc giảng dạy, còn Ngài **U Medhāvī** thì... ## TRANG 446 ...lại bận rộn với việc ghi chép và soạn thảo. Có thể nói rằng, dù không thể ngăn cản được đạo quả **Arahattaphala** (Alahan quả) của Ngài **U Medhāvī**, nhưng trách nhiệm về lớp học Luật tạng và các công việc của hội chúng đã giữ chân và tiêu tốn không ít thời gian của Ngài. Chính Ngài Đại trưởng lão Monankone cũng cảm thấy mệt mỏi khi mỗi ngày đều phải đối diện với lớp học Luật tạng Pāḷi và sự thăm viếng khánh tuế đông đảo của đệ tử, cư sĩ. Ngài thường than thở: “Ta vào rừng sâu là vì muốn lánh xa những việc này. Vậy mà về đến đây, ta lại phải tiếp tục làm chúng lần nữa.” Khi ấy, Ngài **U Medhāvī** cảm thấy trăn trở và đã đứng ra sắp xếp để Đại trưởng lão có thể an trú một cách thoải mái nhất. Ngài chỉ thông báo cho Đại trưởng lão những việc thật sự cần thiết, giới hạn việc tiếp khách và tự mình gánh vác mọi trọng trách lớn nhỏ. Trong kinh **Mahāsuññata Sutta** (Kinh Đại Không - thuộc *Uparipaṇṇāsa*), Đức Phật đã từng thuyết về: “Những tác hại của việc sống hội chúng và lợi ích của việc sống độc cư. Ngay cả khi sống trong hội chúng, nếu không phải vì mục đích dạy và học mà chỉ để đàm luận về Pháp thì còn có thể chấp nhận được; nhưng nếu sống độc cư mà vẫn để cư sĩ, quyến thuộc đi theo thì đó chính là chướng ngại cho đời sống **Brahmacariya** (Phạm hạnh).” Ngoài ra, Ngài còn dạy rằng: “Người đệ tử không nên đi theo thầy chỉ để học chữ nghĩa sách vở nếu đã học trong nhiều tháng, nhiều năm. Chỉ khi vì mục đích nghe giảng về Pháp thì dù có bị xua đuổi, người đệ tử vẫn nên kiên trì đi theo.” ### Tiếng tụng kinh Paṭṭhāna của vị Thần Cây Nhờ sự hộ trì và hỗ trợ tận tâm của Ngài **U Medhāvī**, Đại trưởng lão Monankone đã có thể an nhiên giảng Pháp và hành thiền. Vào mùng 8 tháng Tabaung năm thắp sáng 1274 (Miến Tây), ở tuổi 65, sau 5 mùa an cư tại đây, Ngài đã viên tịch vì bệnh kiết lỵ. Sau khi xây dựng tháp bảo để lưu giữ di cốt, Ngài **U Medhāvī** vẫn giữ trọn đạo hiếu với thầy mình. Cứ vào 3 giờ sáng mỗi ngày, Ngài lại dâng nước rửa mặt và tăm xỉa răng giống như lúc thầy còn sinh tiền. Lòng tri ân đối với bậc thầy của Ngài sâu sắc và đáng kính đến mức khó tin. Ngay cả đối với ngôi đại tháp trong chùa, Ngài cũng cung kính dâng nước sạch, tăm xỉa răng, khăn lau mặt và đèn dầu như thể Đức Phật vẫn còn đang hiện tiền; đồng thời mỗi đêm, Ngài đều thực hiện nghi thức đảnh lễ ngũ thể đầu địa (chân, tay, trán, khuỷu tay và đầu gối chạm đất) hướng về tám phương cho đến trọn đời. ## TRANG 447 **391** Công đức từ việc phụng sự Tam Bảo không tốn kém tiền bạc thì rất nhiều, nhưng người ta chỉ có thể làm được tương thích với mức độ **Saddhā** (Tín tâm) mà họ có. Và chính nhờ có sự hiểu biết (**Paññā**) mà lòng **Saddhā** ấy mới có thể trở nên trọn vẹn. Các hành giả nên tự đánh giá chính mình qua ba tiêu chí sau: 1. Tâm bất thiện và những phiền não nóng nảy đã giảm bớt và trở nên mát mẻ đến nhường nào? 2. Thân, khẩu, ý của mình đã trở nên thuần thục và lịch sự đến mức nào? 3. Niềm tin và lòng tri ân đối với Tam Bảo đã trở nên vững chắc đến đâu? Đó chính là những dấu mốc cho thấy sự tiến bộ trong việc chứng đắc Pháp cao thượng. Trong việc thực hành các giới hạnh như **Sīla** (Giới) đối với Tam Bảo, nếu vì bản thân không thực hành được hoặc vì đã lỡ phạm phải mà muốn che giấu, thì tuyệt đối không được có suy nghĩ rằng: “Điều này không quan trọng lắm đâu”. Không được nói lời sai trái, không được tự lừa dối hay quanh co với chính mình. Tại thiền viện Nyaung Lunt, nơi được chia làm đôi thành hai khu vực đông và tây để tách biệt Pháp hành (**Paṭipat**) và Pháp học (**Pariyat**), Ngài **U Medhāvī** vẫn miên mật tu tập không ngủ ngay cả sau khi thầy mình đã qua đời. Sau 10 giờ đêm, Ngài luôn ẩn mình vào nơi tĩnh mịch để chuyên tâm thiền định. Cho đến khoảng 6 năm trước khi nhập Niết-bàn, Ngài vẫn tự mình thực hiện các hạnh **Dhutaṅga** như đi khất thực; đồng thời thực hành hạnh ‘**Sāraṇīyabhatta**’ (vật thực hòa hợp) - tức là đem toàn bộ vật thực khất thực được dâng cúng hết cho Tăng chúng, rồi sau đó mới thọ dụng những gì Tăng chúng nhường lại. [Cách thực hành hạnh **Sāraṇīyabhatta** – một công hạnh giúp mang lại phước báu đầy đủ đến mức người ta thường nói ‘hễ có cây là có cơm’ – đã được viết chi tiết kèm theo các câu chuyện minh họa trong cuốn sách ‘*Những bậc Thánh mẫu mực thời Tey-ho (Sri Lanka)*’.] Đôi khi vào ban đêm, trong nơi tĩnh tu, người ta nghe thấy tiếng tụng đọc kinh **Paṭṭhāna** (Vị Ngạch) phần **Pañhāvāra** vang lên lảnh lót. Tiếng tụng ấy nghe rõ hơn vào những đêm trăng rằm. Khi lần theo hướng phát ra âm thanh, tiếng tụng cứ thế xa dần, xa dần. Đôi khi, người ta thoáng thấy bóng dáng một vị đắp y cà-sa. Đó chính là Ngài Đại trưởng lão Monankone nay đã trở thành vị Thần Cây (Rukkhaso). Ngài được cho là luôn trông nom và bảo vệ những người hành thiền, nếu có hiểm họa gì sắp xảy đến, Ngài sẽ báo trước để họ kịp thời hay biết. Ngài thường ngụ tại một gốc cây gần tháp mộ và thường xuyên đi tuần quanh khu vực bìa rừng nơi các hành giả tĩnh tu. Ngày xưa, có nhiều vị Đại trưởng lão học rộng tài cao thường có tâm nguyện muốn trở thành Thần Cây để “chờ ngày dự lễ **Dhātuparinibbāna** (Xá-lợi nhập Niết-bàn)”. Đó chẳng qua là vì họ chưa nhận chân được sự thăng hoa của kiếp người hiện tại và thiếu đi tuệ giác để thấu thị con đường **Niyyānika** (Đạo giải thoát) của giáo pháp, nên mới cam chịu từ bỏ cơ hội đạt đến mục đích tối thượng để đổi lấy một sự an nhàn tạm bợ. Khi mà một người vẫn chưa đạt được bất cứ pháp cao thượng nào, thì việc phải sống một đời dài đằng đẵng trong thân phận Thần Cây quả thực là một điều đáng chán nản và tẻ nhạt vô cùng. ## TRANG 448 #### Đắc chứng Thiền định và Nhãn thông Từ năm 1274 (Miến lịch - khoảng 1912 DL), Ngài Hòa thượng đã nỗ lực tinh tấn tu tập pháp hành **Vipassanā** (Minh sát) bằng cả mạng sống. Có một đêm, tại ngôi giảng đường lớn phía bắc gần bảo tháp Xá-lợi, Ngài thức trắng đêm hành thiền. Tiếng ồn ào như có vật gì leo lên hạ xuống phía ngoài vách gỗ liên tục vang lên rầm rập, khiến Ngài khó lòng duy trì định tâm. Ngài tự nhủ: "Hẳn là đồ chúng của Ma vương. Nếu có thể sát hại thân mạng ta thì cứ để chúng làm, việc của ta thì ta vẫn phải làm." Với tâm xả ly thân mạng, Ngài tiếp tục nỗ lực tu tập, hoàn toàn buông xả đối với những âm thanh náo loạn xung quanh. Đến ba giờ sáng, khi vị Sa-di nhỏ mang nước rửa mặt đến, Ngài bảo vị ấy kiểm tra thì phát hiện một con rắn lục lớn dài khoảng bảy tạng (hơn 3 mét), nhưng chỉ một lát sau nó liền biến mất một cách kỳ lạ. Nhờ tinh thông pháp Anāpāna (Niệm hơi thở), Ngài đã đắc chứng định sắc giới, định vô sắc giới và đạt được Tám bậc Thiền định (Thiền bát định). Một khi đã tinh thông một đề mục, các pháp nghiệp xứ khác cũng tự nhiên trở nên dễ dàng. Một ngày nọ, khi đang giảng về chương Thiền của tạng Abhidhamma (Vi diệu pháp), Ngài dạy rằng: "Khi định lực của chúng ta đã mạnh mẽ, bất kể là pháp thiền định hay Kasina (đề mục biến mãn) nào, chỉ cần hướng tâm đến là sẽ hiện rõ ngay lập tức. Thậm chí khi nhìn vào những chiếc lá trên cây, đề mục Blue Kasina (biến mãn màu xanh) liền được tu tập thuần thục ngay tại đó." Do thường xuyên nhập Thiền bát định, dù chưa đạt đến Thắng trí (Abhiññā), nhưng với định lực bậc Đại hành (Mahaggata), Ngài có thể nhìn thấy các chúng sinh vô hình rõ ràng như nhìn bằng mắt thường. Khi Ngài quang lâm dự lễ kiết giới Sīmā tại làng Khin Tan ở thị trấn Nyaunglebin, vào khoảng ba giờ sáng, Ngài đi bộ một mình đến khu nghĩa trang gần làng để hành thiện định ban mai. Tại đó, Ngài thấy vô số ma quỷ hiện ra quấy nhiễu; Ngài đã rải tâm từ và tụng kinh Āṭānāṭiya, khi ấy chúng mới chịu tản đi. Một ngày nọ, khi Ngài đang hành thiền trên giảng đường Wat Yon, tại bậc thềm nơi cởi giày có một con ngạ quỷ đang ngồi phủ phục. Ngài hỏi: "Ngươi là ai?" Nó đáp: "Bạch Ngài, con là Nandiya, xin Ngài cứu độ cho con." Đó vốn là một vị tỳ-khưu hộ tự trước đây, dù giới hạnh trong sạch nhưng vì tâm còn luyến ái thân xác nên sau khi viên tịch đã rơi vào cảnh giới ngạ quỷ, thân hình tiều tụy gầy mòn, không có gì ăn, không có gì mặc. Ngài đã hướng dẫn các thí chủ làm phước hồi hướng; ngay đêm đó, với thân hình hào quang sáng chói, vị ấy hiện ra đỉnh lễ và thưa: "Bạch Ngài, giờ đây con đã được tái sinh lên thiên giới." ## TRANG 449 Trong việc cứu độ chúng sinh, giáo pháp của đức Thế Tôn thật dễ hiểu, sắc bén, đem lại niềm hỷ lạc và là nơi nương tựa vững chắc thay! #### Dùng Chánh pháp ngăn ngừa bệnh tật Ở thế gian, những người có trí hiểu biết thường phải làm việc nhiều hơn. Vào thời các Ngài Hòa thượng Nyaunglun, các dịch bệnh như dịch hạch, dịch tả, đậu mùa hoành hành dữ dội. Giống như việc sử dụng các thấu kính có độ phóng đại khác nhau sẽ thấy hình ảnh khác nhau, trong việc phòng chống bệnh tật, cái nhìn của mỗi người cũng không đồng nhất. Người thì cho là do thời tiết, người bảo do vi khuẩn, kẻ nói do chuột chết, người lại cho là do thần linh quở trách... mỗi người nói theo cách mình thấy và phòng ngừa theo cách mình hiểu. Chỉ trong giáo lý Phật Đà mới có cái nhìn toàn diện nhất. Cũng giống như Hòa thượng Ledi, Hòa thượng Nyaunglun cũng phải đối mặt với các bệnh dịch. Do phước đức và giới hạnh của con người suy giảm, lương thực khan hiếm, nên các nạn bệnh do phi nhân gây ra càng nhiều. Xưa kia, khi thành Vesālī gặp nạn đại dịch, Ngài Ānandā đã trì tụng kinh Ratana Sutta suốt cả đêm để cứu độ. Tương tự, vì số lượng các bậc thiện tri thức có đủ sức mạnh Giới - Định - Tuệ còn quá ít ỏi so với vô số kẻ bất thiện, nên các Ngài phải lao tâm khổ tứ rất nhiều. Giống như vừa phải tiến lên đánh giặc ở phía trước, vừa phải lùi lại chăm sóc bệnh nhân ở phía sau, công việc vì thế mà gặp nhiều gian nan. Khi đại dịch lan rộng khắp các vùng phương hướng, Ngài nhìn thấy vô số Dạ-xoa, Ngạ quỷ đang tiến về phía tự viện và các làng mà Ngài thường đi khất thực nhiều như những đàn trâu lớn. Ngài đã khuyến tấn tất cả tăng ni, phật tử giữ gìn giới hạnh, tu tập tâm từ, đồng thời cho trì tụng các bài kinh Paritta và Kammavāca liên tục. Nhờ đó, vùng xung quanh nơi Ngài ngụ không xảy ra dịch bệnh. Những làng mới bắt đầu nhen nhóm bệnh dịch cũng được dập tắt hoàn toàn. Ngài cũng nhìn thấy các nhóm phi nhân lánh xa vùng của Ngài để đi sang các vùng xaôi khác, khiến dân chúng nơi đó phải chịu khổ sở vì bệnh tật. #### Tại sao không đắc được Thắng trí? Từng ngày trôi qua, thân hình Ngài Hòa thượng càng trở nên gầy gò, chỉ còn da bọc xương, chỉ giữ được mạng sống mong manh. Có khi suốt cả mùa hạ, Ngài tạm dừng việc giảng dạy để dốc hết tâm lực vào tu tập. Tuy nhiên, Ngài chỉ đạt được định thế gian, tâm thường hướng về các cảnh giới ngoại cảnh bên ngoài. Ngài lại xoay sang tu tập để tìm cách đạt được các năng lực Thắng trí (Abhiññā - Thần thông). ## TRANG 450 Tăng thống (Sayadaw U Nāyaka) hiện tại từng bạch hỏi Ngài: "Nếu việc đắc các bậc Thiền bát định, Thập Kasina và Pháp bất tịnh (Asubha), Tứ vô lượng tâm (Brahmavihara) đã trở nên dễ dàng như vậy, thì tại sao thời nay lại không thể đắc chứng Thắng trí?" Hòa thượng đã chia sẻ quan điểm của mình dựa trên kinh nghiệm thực chứng như sau: "Để đắc chứng Thắng trí vào thời nay là cực kỳ khó khăn. Tại sao vậy? Bởi vì chúng sinh không còn giữ gìn Chánh pháp, khiến thời tiết bị biến đổi nghịch thường. Thời tiết biến đổi dẫn đến các sắc pháp do thời tiết tạo (utuja-rūpa) và các nguồn lương thực, vật thực phụ thuộc vào thời tiết bị biến chất, suy thoái. Con người khi tiêu thụ những thực phẩm đó thì các sắc pháp do vật thực tạo (āhāraja-rūpa) cũng trở nên kém cỏi. Khi các loại sắc pháp này suy yếu thì các sắc pháp do nghiệp tạo (kammaja-rūpa) liên đới cũng không còn vững chắc. Tâm thức và định lực nương tựa trên các sắc pháp suy yếu đó cũng không thể đạt đến sức mạnh tối ưu. Do sắc pháp và tâm pháp đều suy yếu, nên cấu trúc thân xác (attabhāva-khandha) không bền vững. Theo như Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) đã dạy, con người không thể điều phục tâm theo 14 cách thức, nên dù có đắc được Thiền bát định cũng không thể làm nảy sinh Thắng trí được." Đó là quan quan điểm của Ngài Hòa thượng. Vùng đất nơi Ngài ngụ cư khi ấy đang lâm vào cảnh cực kỳ khó khăn: hạn hán kéo dài, lương thực khan hiếm, bệnh tật bủa vây, và khoa học kỹ thuật chưa phát triển. Nhìn vào bối cảnh thời gian và không gian đó, những lời dạy của Ngài là hoàn toàn xác đáng. Tuy nhiên, thời đại ngày nay tuy cách không xa về thời gian nhưng bối cảnh đã hoàn toàn khác biệt. Nguồn thực phẩm đã phong phú và tốt hơn; y tế, thuốc men và dinh dưỡng đã phát triển vượt bậc. Nếu suy xét kỹ, sự tiến bộ về điều kiện sống và y tế là rõ rệt. Gác lại chuyện vật thực, thực tế vẫn có những trường hợp không ăn uống mà vẫn có thể duy trì mạng sống trong nhiều tháng ngày. Trong bốn nhân tố Nghiệp, Tâm, Thời tiết, Vật thực (Kamma, Citta, Utu, Āhāra), thì Tâm là chủ đạo. Các bản chú giải và phụ chú giải (Aṭṭhakathā, Tīkā) cũng khẳng định rằng: "Tâm - sắc do tâm tạo mới là nhân tố dẫn dắt và kiểm soát các sắc do các nhân tố còn lại tạo ra." Do đó, quan điểm của Ngài Hòa thượng là đúng đắn khi xét trong bối cảnh thời đại và địa phương nơi Ngài sinh sống. Dù vật thực có thô sơ đến đâu, thì có lẽ cũng chưa đến mức tồi tệ như thời đức Phật và các vị đệ tử phải dùng lúa mạch của ngựa. Nguyên nhân chính yếu có lẽ là do chưa hội đủ sức mạnh của thời đại để đạt đến những tầm cao đó. Sự hiểu biết rõ ràng như vậy (về giáo pháp) cũng có thể đạt được. ## TRANG 451 395 Dù thế nào đi nữa, chính việc Ngài thiền sư đã tự mình nỗ lực thực hành để đắc đắc Thắng trí (Abhiññā - Thần thông) và những trải nghiệm thực chứng mà Ngài thuật lại quả thực vô cùng thú vị, đáng sùng kính và đầy cảm hứng. #### Lời dự ngôn đầy khích lệ cho tương lai của Giáo hội "Ta đã quyết tâm rằng nếu không đắc được Thắng trí thì không thôi, và đã nỗ lực uốn nắn tâm bằng cách thực hành 'chơi định' (jhāna kīḷā) qua 14 phương thức như được dạy trong Thanh Tịnh Đạo. Ta có thể nhập thuận dòng từ sơ thiền cho đến định cao nhất là **Phi tưởng Phi phi tưởng xứ**. Nhưng vừa khi kết thúc thuận dòng, tay chân ta không còn nhấc nổi nữa. Ta có cảm giác rằng nếu nỗ lực nhập nghịch dòng (từ cuối trở lại đầu) thêm một lần nữa, có lẽ các mạch máu và hệ thần kinh sẽ đứt tung ra ngay lập tức. Vì vậy, ta đã phải buông tay. "Điều này xảy ra là do thân xác không đủ bền vững. Tuy nhiên, nếu quý vị và toàn thể quốc dân đều hộ trì chánh pháp, khiến thời tiết khí hậu trở nên thuận lợi, thì ngay cả ngoài thời kỳ Giáo pháp (Sāsana) còn có thể đắc được, huống hồ là trong thời Giáo pháp này, lẽ nào lại không thể? Chắc chắn là có thể đắc được. "Về sau, khi những bậc kỳ tài có túc duyên (katādhikāra - người đã từng phát nguyện và tích lũy công đức) và đầy đủ ba-la-mật xuất hiện, họ có thể đắc được các tầng Thiền định (Samāpatti), Thắng trí (Abhiññā) và Minh (Vijjā) như Túc mạng minh, Thiên nhãn minh, Lậu tận minh... cùng một lúc với Đạo quả mà không cần phải tu tập quá lâu. Khi ấy, những bậc kỳ tài đắc thắng trí và minh hạnh sẽ lại hiện khởi." Ngài thiền sư thường xuyên nhắc lại lời này trong khi giảng dạy hoặc bất cứ khi nào có cơ hội đàm đạo thuận tiện. Chính lời huấn thị này là một lời dự ngôn (cho tương lai của Giáo pháp) rằng sau khi các vị tôn túc không còn nữa, "những bậc A-la-hán kỳ tài đắc Thiền định và Thắng trí sẽ xuất hiện". Nói như vậy có nghĩa là thời đại này sẽ không trở nên tồi tệ như nhiều người lầm tưởng, trái lại, Giáo pháp sẽ còn tỏa sáng rạng ngời hơn, điều đó là chắc chắn. "Thời nay là thời mạt pháp (giảm kiếp), tuổi thọ con người ngắn ngủi, ác hạnh tràn lan, hiểm họa đối với Giáo pháp và những tà thuyết hỗn tạp quá nhiều, con đường đạt đến pháp thượng nhân đã trở nên xa vời. Việc xuất hiện những bậc A-la-hán kỳ tài đắc Thiền định và Thắng trí quả thực là... ## TRANG 452 396 ...còn khó khăn hơn nữa" – đó là những điều mà người ta thường hay bàn tán theo ý riêng của mình. Những người có tư duy, có học thuật khi nói thường đưa ra những lý lẽ, dẫn chứng khiến người nghe dễ bị lung lay. Tuy nhiên, quan điểm cá nhân không phải là cái nhìn thực chứng. Chúng ta cũng không nên máy móc áp dụng sự phân chia năm thời kỳ (năm ngàn năm Giáo pháp) mà các bậc sớ giải đã đưa ra một cách khái quát. Không một thời đại hay một cá nhân nào có thể ngăn cản được một bậc "đã có túc duyên" (Katādhikāra). Các thời đại mà những bậc Thánh Ariya kỳ tài đắc Thiền định và Thắng trí như **Ngài Moggaliputta Tissa**, **Ngài Nāgasena** (Na-tiên), **Ngài A-ra-hán** (Shin Arahan), **Ngài Dibbacak** xuất hiện, vốn không phải là những thời đại hoàng kim. Đó là những giai đoạn mà các quan điểm học thuyết trong Giáo pháp hỗn loạn nhất. Người ta thậm chí đã nghĩ rằng "liệu có thể chấn hưng được nữa không?". Về phương diện thế gian, cũng không có thời đại nào loạn lạc hơn thế. Chính những thời kỳ hỗn loạn, bế tắc và tồi tệ đó lại là lúc thỉnh mời được những bậc vĩ nhân có năng lực phi thường đến để xoay chuyển cục diện. Càng gần bình minh, trời càng tối. "Người tốt thì chỉ có một vài, kẻ ác thì quá đông" – đây không phải là chuyện có thể suy xét dựa trên phương diện vật chất. Sức mạnh của Chánh pháp (Dhamma-bala) là thứ không thể nhìn thấy bằng mắt thường. Cả thế gian có thể chìm trong bóng tối, nhưng mặt trăng và mặt trời chỉ có một. Theo ví dụ đó, Đức Thế Tôn cũng đã từng ban lời tán thán (Sīha-nāda) cho các vị A-la-hán rằng: "**Somaṃ lokaṃ pabhāseti, abbhāmutto ca candimā** = Người ấy soi sáng thế gian này, như mặt trăng thoát khỏi đám mây mù" (Ở đây, **Lokaṃ** - thế gian - theo nghĩa gốc chính là ngũ uẩn của tự thân). "Nơi nào các bậc thánh nhân (ājāniya) xuất hiện, nơi các bậc A-la-hán cư ngụ, nơi đó sẽ được an lạc và thái bình" – Ngài cũng đã dạy như vậy. Lời dự ngôn của Ngài thiền sư cho đến ngày hôm nay đã bắt đầu ứng nghiệm. Các vị đại hòa thượng đang còn tại thế, những bậc có tri kiến thực chứng cũng đang hiển lộ cho những người có đức tin thấy về "Giáo pháp ngày nay đang bước vào một thời kỳ phục hưng mới sau cột mốc 2500 năm". "**Mā vo khaṇo upaccagā** = Đừng để cơ hội tốt lành này trôi qua mất." #### Những nguy hại của Thiên nhãn và Thiên nhĩ Từ năm 1274 đến sau năm 1280 (Miến lịch), trong khoảng bảy, tám năm trời, Ngài thiền sư dường như chỉ đắm mình trong việc 'chơi' các tầng định và hướng tâm ra các cảnh giới bên ngoài (bahiddha). Khi chuyển sang thực hành Minh sát (Vipassanā), Ngài lại không đạt được kết quả. Do nhiều năm khổ hạnh, ít ăn thiếu ngủ và nỗ lực quá độ, thể lực của Ngài suy kiệt, dẫn đến bệnh tật bủa vây. ## TRANG 453 Các Vị A-la-hán và Những Bậc Kỳ Tài 397 Trong khi quán chiếu thọ uẩn, vào những lúc không thể chịu đựng nổi, tâm Ngài dường như lại rơi vào các cảnh giới bên ngoài (như quan sát cõi người, cõi trời...) để tìm sự nhẹ nhõm. Đối với hạng phàm phu, việc 'chơi' thiền định hay có được khả năng nghe thấy, nhìn thấy những cõi xa xăm là điều rất nguy hiểm. Vì vậy, "hành giả không được chạy theo các ảo ảnh (nimitta), mà phải quán chiếu để thấy rõ hơn nữa sự sinh diệt của các pháp." Trong chương nói về Tử sinh trí (Cutūpapāta) của Thanh Tịnh Đạo và Đại Sớ Giải (Mahāṭīka) có dạy rằng: "Đối với phàm phu, Thiên nhãn trí (**Dibbacakkhu**) chứa đựng nhiều hiểm họa. Nó có thể khiến hành giả 'điên vì thiền', do đó cần phải dồn hết tâm lực vào Minh sát." Thực vậy, nếu các khả năng nghe thấy, nhìn thấy này không được kiểm soát bởi Thánh Đạo thì sẽ rất nguy hiểm. Không chỉ nói đến hạng phàm phu còn đầy rẫy điên đảo (vipallāsa), mà ngay cả các bậc Thánh tầng thấp cũng có thể bị trì trệ. Do đó, Đức Thế Tôn cũng đã từng thuyết giảng chi tiết cho **Ngài Anuruddha** – vị đệ nhất Thiên nhãn – về những hiểm họa liên quan đến trí này (trong **Kinh Ưu-ba-kỷ-lê-xá - Upakkilesa Sutta**, Trung Bộ). Khi Ngài Anuruddha đang gặp tình trạng Thiên nhãn lúc được lúc mất, định tâm không ổn định, Đức Thế Tôn đã thuyết về các tiền thân của Ngài khi còn là Bồ-tát và dạy rằng: "**Atinijjhāyitattaṃ rūpānaṃ cittassa upakkileso** = Việc mải mê quan sát quá mức các sắc cảnh bên ngoài chính là một tùy phiền não của tâm." Ngài đã chỉ ra cách thức mà việc có được thiên nhãn dẫn đến các tầng phiền não như thế nào. #### Những chấp thủ tinh vi (Trong **Kinh Thí Dụ Con Rắn - Alagaddūpama Sutta**), Đức Thế Tôn dạy rằng cũng giống như chiếc bè phải bỏ lại sau khi đã sang sông, "đến cả **Pháp** còn phải từ bỏ, huống hồ là **Phi pháp**". Ngài dạy phải từ bỏ sự dính mắc trong thiền định (Samatha) và cả sự dính mắc trong trí tuệ Minh sát (Vipassanā-ñāṇa). (Trong **Kinh Thí Dụ Con Chim Chim Cút - Laṭukikopama Sutta**), Ngài dạy từ bỏ sự dính mắc trong các tầng thiền cho đến định Phi tưởng. (Trong **Kinh Đại Tận Khổ - Mahātaṇhāsaṅkhaya Sutta**), Ngài dạy từ bỏ sự bám víu vào ngay cả những tầng bậc tinh vi của tuệ Minh sát. Tất cả những sự vướng mắc đó đều là "Pháp tầm" (Dhamma-vitakka) còn gọi là "Tùy phiền não của Minh sát" (Vipassanūpakkilesa), vốn được thúc đẩy bởi sự ái luyến (nikanti) ngấm ngầm (Theo chú giải **Kinh Pṃsudhovaka**). Do đó, Ngài lại dạy rằng "không tác ý đến tất cả các tướng (nimitta), phải an trú để đạt được **Vô tướng Tâm định** (Animitta cetosamādhi)" (Trong **Kinh Vô Tướng - Animitta Sutta**, Tương Ưng Bộ). Người thợ đốn củi dùng chiếc rìu cực bén để chặt cây, khi những mảnh gỗ văng ra tung tóe, nếu anh ta cứ mải mê nhìn và tự đắc rằng "Chiếc rìu của ta bén quá nhỉ!" mà quên mất việc chặt, thì công việc sẽ chẳng tiến triển được bao nhiêu. Đó là ví dụ mà bậc Sớ giải (Sāratthappakāsinī) đã đưa ra. ## TRANG 454 **“Trách nhiệm của hành giả chỉ là nỗ lực chặt đứt gốc rễ của cội cây thân xác này cho đến cùng tận, không được dừng nghỉ.”** Có một thời, tại thiền viện của Ngài Đại sư Mahāsi, một vị Trưởng lão nổi danh bậc nhất (Agga Mahā) đang hành thiền thì trình bày sở đắc của mình với vị tín nữ thí chủ đã thỉnh Ngài đến. Vị tín nữ thấy Ngài cứ lẩn quẩn “ngày nào cũng bấy nhiêu đó” mà không tiến bộ thêm, nên mất kiên nhẫn nói rằng: “Con thỉnh Ngài đến để hành thiền, mà sao Ngài cứ như đang ngồi xích đu hay xem phim vậy, chẳng thấy tiến thêm bước nào cả”. Ý bà muốn nói rằng Ngài đang bị sa đà, dính mắc vào hỷ (pīti) và linh ảnh (nimitta). Tại điểm này, chúng ta nên suy ngẫm về tấm gương của Ngài Ānanda, vị đệ nhất về Thiên nhãn thông. Khi Ngài chưa thể đắc quả A-la-hán, nhờ gặp được bậc thiện tri thức như Ngài Sāriputta chỉ ra những chướng ngại vi tế mà Ngài đã đoạn tận lậu hoặc và chứng đắc A-la-hán. Ngài Ānanda đã bạch với Ngài Sāriputta rằng: “Bạch Ngài, với thiên nhãn, con có thể nhìn thấu cả ngàn thế giới. Tinh tấn của con không thối chuyển, niệm căn luôn thiết lập, thân luôn an tịnh và định tâm luôn kiên cố. Dù vậy, tại sao con vẫn chưa thể chứng quả A-la-hán?” Lúc bấy giờ, Ngài Sāriputta nhận thấy câu trả lời nằm ngay trong chính lời bạch của Ngài Ānanda, nên đã chỉ dạy: “Này Hiền giả, ý nghĩ ‘tôi có thể thấy ngàn thế giới’ chính là mạn (māna). Ý nghĩ ‘tinh tấn không thối chuyển, định tâm kiên cố’ chính là sự phóng dật của tâm (uddhacca). Còn lời thắc mắc ‘tại sao dù đã như vậy mà vẫn chưa đắc quả’ chính là sự hối tiếc, nghi nan (kukkucca). Hãy từ bỏ ba chướng ngại Mạn - Phóng dật - Hối này. **‘Amatāya dhātuyā cittaṃ upasaṃharatu’ – hãy hướng tâm thẳng đến cam lộ diệt độ (Niết-bàn)**.” Khi những chướng ngại này được chỉ ra, Ngài Ānanda liền đắc quả A-la-hán (Kinh Anuruddha, Tăng Chi Bộ). Do đó, trên lộ trình thánh đạo ngày càng vi tế, điều tối quan trọng là phải có bậc thiện tri thức chỉ dẫn và bản thân phải là người dễ dạy, biết vâng lời để đoạn trừ các chướng ngại, sớm hoàn tất phận sự. ### Kiến chứng toàn thể thế giới Đức ngài (Ngài Thiền sư Nyaung Lunt) gác lại các đối tượng ngoại cảnh, chỉ tập trung quán xét Tam tướng (Lakkhaṇā). Khi ấy, toàn bộ hình tướng thế gian dường như biến mất, chỉ còn lại sự sanh diệt hiện rõ. Có lúc Ngài đi đứng không vững, thân hình lảo đảo, phải nỗ lực chánh niệm lắm mới có thể bước đi. Có khi do tinh tấn quá mãnh liệt, các cơn đau bệnh khởi lên dường như không thể chịu đựng nổi. Đến năm 1282 (Âm lịch Miến Điện), nhận thấy tính chất cấp bách, Ngài đình chỉ mọi lớp học trong suốt một mùa hạ, quyết chí tu tập không ngủ nghỉ với lời nguyện: “Dẫu có thác cũng là sự thanh cao”. ## TRANG 455 1. Ngày 11 tháng Nayon năm đó, vào lúc 3 giờ sáng, khi đang tọa thiền trên chiếc ghế mây quen thuộc tại chùa Wat Yone, Ngài đã chứng đắc Đạo Quả tầng thứ nhất (Tu-đà-hoàn). 2. Ngày 18 (3 ngày sau trăng tròn) tháng Nayon năm đó, vào lúc 11 giờ đêm, tại phòng học phía Bắc chùa Wat Yone, Ngài hoàn tất tầng thứ hai (Tư-đà-hàm). 3. Ngày 20 (5 ngày sau trăng tròn) tháng Nayon năm đó, vào lúc rạng đông, tại ngôi chùa dưới bóng cây Phan-kha (Phyllanthus emblica) thuộc khu vực Kammatthan Chaung, Ngài hoàn tất tầng thứ ba (A-na-hàm). 4. Ngày 22 (7 ngày sau trăng tròn) tháng Nayon năm đó, vào lúc 3 giờ sáng, sau khi dâng nước rửa mặt và cúng dường đèn dầu lên tòa Bảo tháp, Ngài tựa lưng vào tường gạch của giảng đường, hướng mặt về phía Bắc để hành thiền. Đến 4 giờ sáng, lúc rạng đông, Ngài đã chứng đắc Lậu tận thông (Āsavakkhaya-ñāṇa), bước vào quả vị A-la-hán cùng với Lục thông (bao gồm **Túc mạng thông** – Pubbenivāsa-ñāṇa: nhớ lại các tiền kiếp; và **Thiên nhãn thông** – Dibbacakkhu-ñāṇa: thấy thấu suốt những gì muốn thấy như mắt chư Thiên). Kể từ thời điểm đó, Ngài có thể nhìn thấy các kiếp sống trong vòng luân hồi của chính mình và của chúng sanh khác. Ngài có thể thấy rõ ràng bằng tuệ nhãn thực trạng của cõi người, cõi trời, cõi Phạm thiên và tám đại địa ngục... Ngài thấu suốt sự chết, sự sống, nơi đi, chốn về của chúng sanh theo nghiệp lực, cũng như những sự việc sẽ xảy ra trong tương lai. Ngài (để khích lệ các đệ tử đang xả thân tu tập) đã chia sẻ rằng, cái thấy này vượt xa hàng vạn lần so với cái thấy bằng định hiệp thế (Lokī Samādhi) trước đây, nó thấu suốt và sáng tỏ vô cùng. [Để quý vị tiện ghi nhớ, tôi xin trình bày các mốc thời gian năm, tháng, ngày một cách liên tục như trên.] Sau khi chứng đắc A-la-hán quả, vào buổi chiều ngày hôm sau tại Kammatthan Chaung, khi các bậc Trưởng lão đồng tu và các vị tỳ-khưu trẻ cùng hội tụ đông đủ để đảnh lễ, với sắc diện sáng ngời và uy nghi tĩnh lặng, Ngài giáo giới: “Này chư Hiền giả, giáo pháp của bậc Đạo sư nếu nỗ lực tinh tấn không ngừng nghỉ, thậm chí hy sinh cả mạng sống để thực hành đúng đắn, thì nhất định sẽ đạt được kết quả. Hãy tin tưởng và nỗ lực không thối chuyển. Đúng như lời dạy **‘Sayaṃ abhiññā sacchikatvā’** (tự mình thắng tri, chứng đắc), quý vị sẽ trực tiếp kiến chứng một cách rõ ràng để có thể tự mình quyết định lấy vận mệnh tâm linh. ## TRANG 456 **‘Vesārajjappatto’** – Hãy làm việc của mình cho đến khi thành thục, thiện nghệ và tự tin. **‘Aparappaccayo’** – Khi ấy quý vị sẽ có tuệ giác tự tin nơi chính mình mà không cần phải nương tựa hay tôn ai làm thầy nữa (về phương diện sở chứng). Một khi đã **‘Diṭṭhadhamma’** (thấy Pháp), **‘Pattadhamma’** (đạt Pháp), **‘Viditadhamma’** (biết Pháp), thì đúng như lời dạy **‘Vigata kathaṃ katho, tiṇṇavicikicchā’**, những hoài nghi, phân vân trước đây kiểu như ‘liệu có thực hay không’, những suy nghĩ lưỡng lự về Giáo pháp cũng như về ba-la-mật của bản thân sẽ lập tức tan biến, mọi thứ sẽ trở nên sáng tỏ như ban ngày. Nếu thực lòng tin tưởng và thực làm thì sẽ được thật, nay tôi mới có thể mạnh dạn khẳng định và khuyến tấn quý vị đúng như lời xác chứng của đức Thế Tôn. Hãy cố gắng lên!” ### Ngài Webu Sayadaw tự thân chứng kiến hóa thân của Ngài Nyaung Lunt Những lời dạy như “Lẽ nào không đắc được Thắng trí (Abhiññā)” đã được trình bày theo tiểu sử của Ngài Nyaung Lunt. Theo tiểu sử, chúng ta đã được chiêm bái đức tính của Ngài Nyaung Lunt rằng dù đã nỗ lực chứng đắc Thắng trí nhưng (ban đầu) không được, sau đó Ngài đã hoàn tất phận sự tỳ-khưu bằng Tam minh (Te-vijjā) và trở thành vị Thánh A-la-hán Tam minh Trưởng lão. Tuy nhiên, sau khi bổn sư là Ngài Webu Sayadaw viên tịch, thông qua việc nghiên cứu về cuộc đời Ngài Webu, chúng ta được dịp chiêm bái thêm những ân đức bổ khuyết của vị cao tăng Nyaung Lunt. Vào khoảng năm 1285, khi được khoảng 8 tuổi hạ, tiền thân của Ngài Webu Sayadaw rời khỏi khu rừng Shwebo Patheingyi, đi khắp các vùng núi rừng để thực hành pháp niệm hơi thở (Anāpāna). Chỉ trong vòng vài tháng, Ngài dường như đã đạt được các thần thông hiệp thế và chứng đắc đến tầng thứ ba (A-na-hàm). Không biết có phải vì muốn tìm cầu sự xác chứng thêm cho những gì mình đã chứng ngộ hay không, mà ngay trong năm đó, Ngài đã tìm đến thiền viện Nyaung Lunt. Tại đây, Ngài bắt gặp một vị tỳ-khưu đang quét dọn cung kính bên một ngôi bảo tháp, Ngài liền tiến đến đảnh lễ. Vị tỳ-khưu hỏi han sự tình rồi nói: “Ngài Nyaung Lunt hiện đang dạy học trên giảng đường lớn. Sẽ xong sớm thôi. Ngài hãy tạm đợi ở đây một chút.” Vị tiền thân của Ngài Webu trong lúc chờ đợi tại ngôi tháp cũng tranh thủ làm các phận sự quét dọn khuôn điện tháp (Cetiyaṅgana). Một lúc sau, vị tỳ-khưu ấy chỉ tay về phía đoàn tăng chúng đang rời khỏi giảng đường... ## TRANG 457 Đang chỉ dạy... "Thôi thôi, này Hiền giả (U-pa-zin), lớp học kinh điển xong rồi. Mời ngài lên đường thôi." Trong khi vừa nói vừa cầm chổi đứng đó, vị tương lai của Ngài Webu sau khi đảnh lễ xong đã đi lên ngôi trường kinh điển (Cà-cha-kyun); bấy giờ ngài mới có cơ duyên được tự mình diện kiến và khởi tâm tịnh tín về việc **Ngài trưởng lão Nyaung-lunt** là một bậc vĩ nhân như thế nào. "Vị Thiền sư đang dạy kinh điển ấy chính là vị sư đang quét rác. Đó là chuyện thế gian vậy," Ngài trưởng lão **Webu Sayadaw** đã từng tự mình chỉ dạy như thế (vào thời điểm ngài mới lập trường thiền In-gyin-pin, lúc ngài đang dạy về chương Thân hành niệm trong bộ **Khuddasikkha Atthakatha**, ngài đã dạy cho vị Ngài trưởng lão Webu thứ hai tại Kyaukse hiện nay là **Dhammacariya U Acara** và các vị khác). Ngài U Acara đã từng kể lại điều này cho người viết. Xét theo điểm này, lời nói trong tiểu sử rằng "Nếu không đắc Thắng trí (Abhiññā) thì cứ ở yên như vậy" dường như là lời ngài dạy vào thời kỳ đầu lúc mới bắt đầu xây dựng Thắng trí. Tâm ý của các bậc thiện tri thức thật khó mà thấu hiểu. Tại vùng Webu có ba ngôi giới đàn (Sima), trong đó giới đàn nguyên thủy được gọi là "Giới đàn Ariya" (Bậc Thánh), là nơi mà các vị trưởng lão như **Ngài trưởng lão Nyaung-lunt**, **Sunlun Gu Sayadaw**, v.v... đã cùng nhau thiết lập. Trong số các bậc trưởng lão mà **Ngài trưởng lão Webu Sayadaw** hằng tôn kính, Ngài trưởng lão Nyaung-lunt chính là một vị trong số đó. #### Các vị Sayadaw không tin và tiếng sấm sét Vì đây là thời đại mà người ta cho rằng "việc đắc quả A-la-hán cũng khó khăn như việc một đức Phật xuất thế" nên sinh lòng nản chí. Dù họ được diện kiến dung mạo, uy nghi và phong thái sống của ngài đều khiến người ta vô cùng mãn nguyện và tịnh tín, nhưng vì ngài không trực tiếp tuyên bố mình đã đắc quả A-la-hán nên cũng có những người không tin tưởng. Phía không tin này đa phần là các bạn hữu và đệ tử giỏi về giáo pháp kinh điển. Những lời đồn thổi ngày một lan rộng, đến một ngày nọ, các vị trưởng lão sống chung ở khắp nơi dường như đã hẹn trước với nhau và cùng hội ngộ tại **Thiền viện rừng Nyaung-lunt**. Các vị trưởng lão đó gồm có: 1. Ngài đại trưởng lão **Nyaung-lay-pin Kauk-kway Way-zayan-ta Sayadaw**, 2. Ngài trưởng lão **Aggamahapandita U Dipa** ở thị trấn Chaung-u, huyện Monywa, 3. Ngài trưởng lão **Pat-ta-boin U Acara** ở thị trấn Lewe, 4. Ngài đại trưởng lão **Zi-taw Min-hla Thazi Gaing-chon U Narinda** ở thị trấn Pyawbwe, 5. Ngài trưởng lão **Htan-ta-pin Taw-ra U Sandana** ở thị trấn Pyawbwe. ## TRANG 458 Đó là các bậc trưởng lão danh tiếng. Trong lúc hội tụ và trú ngụ tại chùa Phun-kha-pin, nơi Ngài đại trưởng lão **U Kavinda** (vị quản lý trường thiền Ngwe-taung nguyên thủy) đang cư ngụ, hai bên đã tranh luận với nhau: "Đắc rồi!" - "Chắc là chưa đắc đâu!". "Thôi thôi, nói dài dòng quá. Ngài trưởng lão Htan-ta-pin có đủ can đảm để thưa hỏi vị trị sự (Taik-ok Sayadaw) mà. Hiện nay tất cả các vị Sayadaw đang có mặt ở đây, bao gồm cả ngài U Kavinda, vì chưa thể tin tưởng được việc Ngài đã đắc Pháp đặc thù (Pháp thượng nhân), nên ngài hãy đi thưa hỏi để mọi người có thể tin tưởng chắc chắn, rồi Ngài dạy bảo điều gì thì về thuật lại cho chúng tôi nghe," mọi người cùng thúc giục **Ngài U Sandana**. Ngài U Sandana lập tức đi ngay và cung kính thưa hỏi với tâm thế vừa e ngại vừa quyết tâm. "Này U Sandana, việc ta nói những lời gợi ý và khuyến khích đó không phải là để cho Ngài Kauk-kway, Ngài Chaung-u, Ngài Lewe hay ngài U Kavinda tin tưởng đâu, ông Sandana ạ. Ta nói là dành cho những hành giả đang thực tu ở đây. Những vị đó (các vị Sayadaw đang tranh luận) không phải là những người đang hành trì giáo pháp; họ chỉ nỗ lực để được sống an nhàn thoải mái thôi. Chẳng lẽ ta lại đi nói những lời khoác lác, phô trương để biến mình thành một kẻ giả mạo hay sao? Ta đã dày công nghiên cứu và giảng dạy kinh điển thì lẽ nào lại không biết đó là **Tăng thượng mạn** (Adhimāna - tưởng mình đã đắc) hay là sự thật? Đối với người đã đạt được Pháp ngay trong hiện tại (Thiết thực hiện tiền), sự thật ấy còn rõ ràng hơn cả tiếng sấm sét đánh nữa," Ngài đáp lại một cách dũng mãnh và quyết đoán. Thời đó, dường như cần phải dạy bảo như vậy. **Ngài trưởng lão Htan-ta-pin** sau khi thưa hỏi xong liền trở về thuật lại không sót một lời cho các bậc trưởng lão khác: "Nào, các ngài thấy sao? Những lời Ngài trị sự dạy thật là đúng đắn. Chúng ta quả thật đã quá nuông chiều và ưu ái cho tấm thân này. Ngay cả bậc Thánh (Ariya) bậc thấp cũng không thể biết được bậc Thánh bậc cao, huống hồ chúng ta còn chưa dự vào hàng bậc thấp nữa. Việc Ngài trị sự đã xả thân tu tập một cách phi thường như thế nào thì tất cả đều đã rõ. Nếu xét theo kinh điển thì cũng không có gì phải nghi ngờ cả. Giờ đây thì lại càng thêm chắc chắn hơn rồi," tất cả đều hân hoan nói như vậy. Vào một ngày nọ, chính vị **Ngài trưởng lão U Sandana** ấy đã bí mật tìm gặp Ngài trưởng lão, dành thời gian tiếp cận để thưa hỏi chi tiết về năm, tháng, ngày mà Ngài đã đắc Pháp đặc thù, với mục đích để các thế hệ mai sau có thể khởi tâm xác tín sâu sắc mà noi gương tu học (**Diṭṭhānugati**). Sau khi Ngài trưởng lão viên tịch (Parinibbana), lúc chuẩn bị viết tiểu sử, bản ghi chép đó đã được gửi đến Hội những hành giả Nyaung-lunt (điều này đã được trình bày ở phần trước). Khi Ngài trưởng lão đến làm lễ kiết giới (Sima) tại chùa làng Min-tan, gần thị trấn Pyawbwe, một vị nữ hành giả tên là **Daw Saw** ở thị trấn Pyawbwe, người rất giỏi về Luận tạng (Abhidhamma), đã thưa rằng: ## TRANG 459 "Bạch Ngài, con muốn biết tâm **Đạo Quả (Magga-Phala)** hướng tâm đến **Niết-bàn** như thế nào và nhận biết ra sao ạ?" Ngài đáp rằng: "Nó cũng giống như **tâm Hữu phần (Bhavanga)** của người đang ngủ say hướng về **Nghiệp (Kamma)**, **Nghiệp tướng (Kamma-nimitta)** và **Thú tướng (Gati-nimitta)** vậy." Ngài dạy tiếp: "Nếu có ai hỏi rằng khi ông đang ngủ say, ông biết cái gì (đang hướng tâm đến cái gì), thì ông phải trả lời là không biết gì cả. Cũng vậy, khi các bậc Thánh đang trong tâm **Đạo Quả**, nếu hỏi trạng thái đó như thế nào thì có lẽ họ sẽ trả lời là không biết gì cả. Tuy nhiên, sau khi qua khỏi trạng thái 'không biết gì' đó, khi quán xét suy nghiệm lại thì tự mình sẽ biết rõ là mình đã biết được cái gì." Đây cũng là một điểm đáng ghi nhớ. Về việc đắc Pháp (**Dhammābhisamaya - Chứng ngộ giáo pháp**) của Ngài trưởng lão, chúng ta có thể đánh giá thông qua các tác phẩm mà Ngài đã soạn thảo như: "**Samatha Vipassanā Naya Saṅkhepa Kyam**" (Yếu lược phương pháp Chỉ Quán), "**Gaṇacārika Paṭipatti Kyam**" (Sách về sự thực hành của vị lãnh đạo nhóm), "**Nibbānattha Pakāsanī Kyam**" (Sách giải thích về ý nghĩa Niết-bàn). Ngoài ra còn có các tập sách do vị quan **U Kyaw Dun** chú giải như: "**Nibbānattha Vibhāvanī**" và "**Nibbānattha Vissajjanā Kyam**". Về sự thông thạo của Ngài đối với **Tam Tạng (Tipitaka)**, đặc biệt là Luật tạng, chúng ta có thể thấy rõ qua tập 1 của bộ "**Tipiṭaka Pakiṇṇaka Dīpanī**" (**Moe-nan-kon Vinicchaya**). Trong đó, tập 1 là do chính Ngài trưởng lão tự mình trau chuốt và viết về các quyết định, còn hai tập sau là những lời giải đáp của chính Ngài cho các câu hỏi từ khắp nơi gửi đến. #### Hơn 20 vị đệ tử đắc Pháp đặc thù trong cùng một đợt Từ sau năm 1282 (Miến lịch), Ngài trưởng lão chỉ giảng dạy giáo lý (Pariyatti) rất ít, mà chủ yếu khuyến khích việc thực hành (Patipatti). Vào năm 1287, Ngài không mở các lớp học kinh điển nữa mà yêu cầu toàn thể thiền viện phải nỗ lực hành thiền. Ngài thậm chí còn chỉ thị rằng: "Những vị nào không muốn hành thiền mà chỉ muốn học kinh điển thì hãy chuyển sang các thiền viện chuyên dạy kinh điển khác." Ngài chỉ thỉnh thoảng thuyết giảng và dạy bảo về thiền Minh Sát (Vipassana) cho chư Tăng trong thiền viện. Ngài trưởng lão, từ khi biết nhận thức, đã thực hiện trọn vẹn các phận sự đối với Đức Phật (Buddha-veyyāvacca), phận sự đối với bậc Thầy (Acariya-veyyāvacca) và các phận sự rất nặng nề đối với chư Tăng đồng phạm hạnh (**Sābrahmacārī**). "Giống như con bò mẹ vừa ăn cỏ vừa để mắt trông chừng con bê nhỏ, một bậc **Tu-đà-hoàn (Sotāpanna)** dù đang nỗ lực thực hành giáo pháp của mình nhưng vẫn luôn chu toàn các phận sự đối với các bạn đồng phạm hạnh." Điều này hoàn toàn phù hợp với bảy đặc tính của một bậc **Tu-đà-hoàn** (theo kinh **Kosambiya Sutta** thuộc bộ **Mūlapaṇṇāsa**). Đối với các vị hậu học, Ngài đã chỉ dạy những điều khiến họ phát khởi tâm kinh cảm và lòng tinh tấn... ## TRANG 460 Các bậc Trưởng lão cũng đã hành đạo Giáo pháp Hành trì (Paṭipatti Sāsana) bằng cách khuyến tấn: "Hãy nỗ lực hành trì với niềm tin bất động, sự bền bỉ và liên tục nối kết khắng khít với nhau." Ngày nay, bậc Ân sư là Ngài **Đại trưởng lão Webu Sayadaw** cũng thường đặc biệt khuyến nhắc rằng: "Giống như mái nhà phải được lợp kín kẽ (không kẽ hở) thì mới có lợi ích, việc hành thiền cũng phải được chú niệm liên tục cho trọn vẹn suốt 24 giờ." Ngài dạy rằng: "**Sātaccakārī** = phải thực hành liên tục; **Sakkaccakārī** = phải thực hành với sự tôn kính, cẩn trọng. Ngài cũng dạy: **Yānīkatā** = phải chuẩn bị sẵn sàng (như nổ máy xe) để có thể vận hành phương tiện bất cứ lúc nào; **Vatthukatā** = phải luôn an trú ngay tại nơi làm việc đó (như lấy bắp chân làm trụ nhà)..." Đại ý của Ngài là như vậy. Điều này không có nghĩa là làm việc một cách quá sức, căng thẳng hay khổ sở để đạt được cho bằng được. Giống như người đi gánh nước, khi đi gánh thì cầm đòn gánh và thùng nước, gánh về đổ đầy là xong việc. Nhưng công việc Minh sát (Vipassanā) thì không phải như vậy. Trong số 40 đề mục thiền định (Kammaṭṭhāna), lúc nào cũng phải có một đề mục được nắm giữ tùy theo thời điểm. Ví dụ: "Đừng nghĩ rằng chỉ cần ngồi niệm hơi thở (Ānāpāna) hai giờ mỗi ngày là đủ." Trong thời gian còn lại (khi đi, khi làm việc, khi cầm nắm đồ vật), phải luôn nắm giữ một đề mục nào đó, hoặc là rải tâm Từ (Mettā), niệm Phật (Buddhānussati), hoặc thực hành Tứ Niệm Xứ (Oai nghi, Tỉnh giác), và nếu có thể, hãy chú niệm ngay chính đề mục gốc là hơi thở. Ý muốn nói là lúc nào cũng phải có một đề mục hiện diện. Tuy nghe có vẻ mệt nhọc và khó khăn, nhưng trong thực tế, việc này rất dễ dàng, an lạc, và người ta có thể thấy rõ ràng định lực (Samādhi) cùng tuệ giác (Ñāṇa) tăng trưởng đáng kể. Do đó, lời dạy "Hãy để sự thực hành được liên tục" mà các bậc Trưởng lão luôn nhắc đi nhắc lại chính là sự phù hợp tuyệt đối giữa lý thuyết và thực hành. Ghi chép cho biết, kể từ đầu mùa An cư năm 1283 (Miến lịch), toàn bộ tu viện đã nỗ lực hành trì, và có hơn 20 vị Tỳ-kheo đã chứng đắc Pháp thượng nhân (Pháp đặc biệt). Đến năm 1284, việc giảng dạy Pháp học (Pariyatti) mới được tiếp tục như thường lệ. ### Thước đo Tầm nhìn Đúng đắn (Nge Naing) **"Yadā have pātubhavanti dhammā, Ātāpino jhāyato brāhmaṇassa"** Giống như lời cảm hứng (Udāna) của Đức Thế Tôn, đối với bất kỳ hành giả nào đang quán sát danh sắc một cách đúng đắn và tinh tấn (Ātāpī) để đoạn trừ phiền não, thì các pháp vốn tự nhiên sinh diệt theo định luật nhân quả sẽ không thể che giấu hay tránh né được, mà phải hiện rõ lên trong tuệ nhãn. ## TRANG 461 Khi thấy rõ nhân và quả, hành giả cũng sẽ thấy được nhân gốc (Hetu), nhân phụ, nhân của nhân, và các chuỗi nhân liên tục (Paccaya). Đồng thời, về quả, hành giả cũng thấy rõ quả gốc, quả phụ, quả của quả, và các chuỗi kết quả liên tiếp (Phala, Nissa). Đây chính là tinh túy của phương pháp "Tăng tiến và Suy giảm" (Āruyhāruyha Ororuha) trong tạng Nettippāḷi và bản chất của Tuệ Thẩm sát (Sammasana Ñāṇa). Khi quán sát và nhận biết các sự kiện trong thế gian, đôi khi người ta cũng thường thấy các chuỗi nhân quả gắn liền với các khái niệm về cá nhân, chúng sinh. Đôi khi, những chuỗi nhân quả giả tạo đi vào làm lu mờ trí tuệ, khiến hành giả rơi vào trạng thái suy luận thay vì tuệ giác thực chứng, dẫn đến cái hiểu sai lạc gọi là **Kāraṇānumāna** (suy luận về nhân) và **Phalānumāna** (suy luận về quả). Lúc ấy, hành giả phải dứt bỏ sự dính mắc, thực hành rải tâm Từ, phát nguyện chân thật (Saccā) và phát nguyện kiên trì (Adhiṭṭhāna) để phân biệt rõ ràng thì mới có thể đạt đến cái thấy đúng đắn. Khi định lực đã chín muồi thì không còn gì phải bàn cãi, trí tuệ sẽ thấy biết một cách thanh tịnh. "**Athassa kaṅkhā vipyanti sabbā**": Khi đó, tất cả những hoài nghi (Kaṅkhā) như "Liệu điều này có xảy ra không? Đây có phải là con đường đúng không? Có thực thể nào cảm thọ không? Có ai sai khiến không? Sanh (Jāti), Già (Jarā), Chết (Maraṇa) là của ai?..." vốn đã làm rối loạn tầm nhìn về hiện tại, quá khứ và vị lai, tất cả đều sẽ bị tiêu tan và đoạn diệt. Chính vì lý do đó, khi định lực chưa đủ mạnh, hành giả không nên quán xét hoặc chạy theo các tướng trạng của ngoại cảnh (Bahiḍḍha Ārammaṇa Nimitta). (Theo Kinh Pamsu-dhovaka, Tăng Chi Bộ, Pháp Ba Chi): - **Ñāti-vitakka**: (Tầm về quyến thuộc/người thân), - **Janapada-vitakka**: (Tầm về quốc độ/xứ sở), - **Anavaññatti paṭisaṃyutta-vitakka**: Suy nghĩ muốn người khác coi trọng mình hoặc không khinh rẻ mình, và - **Dhamma-vitakka**: (Mười loại phiền não của thiền định - Upakkilesa). Những thứ này trộn lẫn với một chút hiểu biết đặc biệt hoặc những hiểu biết không rõ ràng sẽ tạo cơ hội cho đội quân Ma vương (Māra) lần lượt tiến vào khuấy đảo như: - Sự sợ hãi (**Bhīru**), - Sự lưỡng lự, không quyết đoán (**Vicikicchā**), - Sự tự cao, kiêu mạn (**Attukkaṃsana**), - Sự khinh rẻ người khác (**Paravambhana**)... Nếu định lực còn yếu, hành giả nên sử dụng Tâm Từ (Mettā) như một "ngón tay chỉ nam" (compass) để định hướng. Nên đặt sự hiểu biết lên "bàn cân" đó để kiểm chứng và sàng lọc. (Đây chỉ là sự tâm đắc của chúng tôi). ## TRANG 462 ### Vị Thầy có khả năng làm cho mưa rơi Số lượng đệ tử chứng đắc Pháp đặc biệt ngày càng đông, danh tiếng của Ngài cũng lan rộng từng ngày. Đến năm 1292, số lượng Tăng chúng đã lên đến hơn 130 vị. Việc ăn ở bắt đầu trở nên đôi chút chật vật. Với hơn 130 vị Tăng tại khu rừng Nyaung Lunt, nguồn lực từ các làng khất thực (Gocaragāma) không còn tương xứng. Vùng đất này vốn dĩ đã là vùng khô hạn, nên cả người dân lẫn chư Tăng đều gặp khó khăn. Suốt hai, ba năm liên tiếp, hạn hán kéo dài khiến nông dân không thể gieo trồng được gì. Tuy nhiên, kỳ lạ thay, các làng khất thực quanh vùng Nyaung Lunt vẫn có mùa màng tươi tốt. Họ hoan hỷ bảo nhau: "Càng cúng dường thì mưa càng thuận, mưa càng thuận thì lại càng cúng dường hơn." Những ngôi làng ở không xa đó thậm chí còn nói cạnh khía rằng: "Làng họ mưa thuận gió hòa là phải rồi, vì có chùa lớn Nyaung Lunt ở đó mà." Ngay cả những viên chức người Anh phụ trách thu thuế tại huyện Yamethin cũng nhận thấy điều kỳ lạ này. Giữa rất nhiều ngôi làng trong vùng, chỉ có ba bốn làng khất thực của chùa là phát triển vượt bậc và họ phải trực tiếp xuống tận nơi để thu thuế hàng năm. Do đó, họ đã gọi Ngài là "Bậc Thánh rừng mưa thuận" (Moe Kaung Tawya Ko-daw-gyi). Có một năm nọ, ngay cả các làng khất thực cũng lâm vào cảnh khốn khó vì không có nước đúng thời điểm. Sau giờ lễ Phật buổi tối, Ngài đã dạy chư Tăng: "Này các vị Tỳ-kheo, chúng sinh đang rất đáng thương vì hạn hán. Đừng lơ là. Hãy đặc biệt thanh lọc giới hạnh. Hãy đặc biệt thực hành thiền định tâm Từ hướng đến tất cả chúng sinh, bắt đầu từ chư thiên quản mưa (Chư thiên hỷ lạc)." Vào một buổi chiều, Ngài đích thân đến ngôi chùa làng Gyo Inn, triệu tập dân làng đến nghe pháp, bảo họ nghiêm túc giữ gìn ngũ giới và dạy họ: "**Sabbesattā dukkhā muccantu, Sammādevō pavassatu** = Nguyện cho tất cả chúng sinh thoát khỏi khổ đau, nguyện cho mưa lớn đổ xuống dồi dào." Ngài bảo họ hãy cùng rải tâm Từ và cầu nguyện như vậy. Ngay đêm hôm đó, một trận mưa lớn đã đổ xuống. ### Nghiên cứu thực tiễn về dưỡng chất của Vua Brahmadatta Như đã trình bày, các bậc Thiện tri thức luôn nỗ lực hết mình, "không dành thời gian nghỉ ngơi", để mang lại lợi ích và hạnh phúc cho chúng sinh. Việc hạnh phúc hay khổ đau do mưa thuận hay hạn hán đều liên quan mật thiết đến đạo đức của con người và... ## TRANG 463 # Các Bậc Alahan và Những Vị Đặc Biệt Rất ít người tin rằng có sự liên đới chặt chẽ giữa lối sống đạo đức và các hiện tượng tự nhiên. Tuy nhiên, trong các bộ kinh như Valahaka Samyutta (Vân Tản Tương Ưng) cùng các bản Chú giải, đức Thế Tôn đã thuyết giảng và giải thích điều này rất tường tận. Vì không tin tưởng, người ta thậm chí không buồn thực hành thử một đức hạnh nào để rồi không tìm thấy được điều gì đáng tin cậy. Họ lại quay sang nương tựa vào vật chất, nhưng khi đối mặt với thiên tai như hạn hán, lũ lụt, hỏa hoạn, sạt lở đất hay động đất, các nhà khoa học duy vật cũng chẳng thể thốt lên rằng "chúng tôi bó tay", mà chỉ dùng những lời lẽ hoa mỹ để che đậy sự bất lực. Thật đáng thương thay cho kiếp người khi không nhận ra rằng "tự thân mới là nơi nương tựa". Ngày nay, nên có những người dám thử nghiệm và nghiên cứu sức mạnh của Pháp giống như vua Brahmadatta thuở xưa. Một lần, trong khi đi viếng thăm kinh thành, nhà vua đã đến gặp một vị đại đạo sĩ ở vùng Himalaya. Vị đạo sĩ đãi vua bằng hạt bàng rừng vốn là thức ăn hàng ngày. Thấy hạt bàng có vị ngọt lịm lạ thường, vua hỏi nguyên do, đạo sĩ đáp: "Khi các bậc quân vương và dân chúng sống đúng Pháp, hoa trái sẽ dồi dào dưỡng chất và ngon ngọt. Ngược lại, nếu không sống theo Pháp, chúng sẽ trở nên còi cọc và mất đi hương vị." Vả chăng, nhà vua chưa tin nên quyết định "thực nghiệm". Khi trở về nước, vua cai trị bằng sự bất công, làm mọi việc tùy tiện theo ý mình rồi quay lại chỗ đạo sĩ. Lần này, khi ăn hạt bàng rừng, vị của nó lại vô cùng đắng chát. Khi ấy, vua mới cúi đầu thừa nhận lời dạy của đạo sĩ là đúng đắn (Trích chuyện tiền thân Rajovada, nhóm Bốn Pháp). ### Ngôi chùa được chư Thiên dâng vật phẩm Có một năm nọ, tình trạng hạn hán xảy ra khắp nơi. Ngay cả vùng Nyaung Lunt cũng bị khô hạn, khiến việc khất thực của chư tăng trong chùa gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn. Một ngày nọ, khi ngài Sayadaw đang đi dạo từ chùa hướng về phía đại Bảo tháp, ngài bỗng thấy một lá thư bằng lá thốt nốt còn rất mới và sáng bóng. Ngài nhặt lên xem thì thấy những dòng chữ lạ lùng: "Bạch Ngài, cầu xin các Ngài đừng lo âu về bốn món vật dụng, hãy cứ an nhiên mà nỗ lực tu hành." Sau buổi lễ bái Phật tối hôm đó, ngài Sayadaw đã giáo huấn chư tăng rằng: "Này các thầy, hãy lo thanh lọc giới hạnh và phát triển tâm từ, hãy chuyên tâm vào việc tu học. Tình cảnh hiện nay chưa đến mức tồi tệ như thời đức Phật trú ngụ tại thành Veranja đâu. Chư Thiên thiện lành đang bảo hộ để chư tăng không phải phiền lòng. Đến đúng thời điểm, mọi việc sẽ ổn thỏa thôi. Việc của mình thì mình cứ làm. Sự giáo huấn (Anusasani) ## TRANG 464 và thần thông được gọi là giới hạnh, tâm từ này có sức mạnh vô song mà chính chúng ta đôi khi không nhận ra. Chư Thiên thiện báu (Sammaneva) cũng nhờ nương vào chúng ta mà tích lũy được vô lượng công đức. Mỗi khi sắp tụng kinh Paritta, chúng ta thường nguyện: **'Yaṃ amhehi kataṃ puṇyaṃ, sabbasampatti sādhakaṃ'** = Nguyện cho công đức chúng con đang làm đây, có khả năng đem lại mọi sự hạnh phúc từ chuyển luân thánh vương, chư Thiên, Phạm thiên cho đến cứu cánh Niết-bàn. Xin các vị thiện thần, Phạm thiên hãy cùng thọ hưởng phần phước đức này và hoan hỷ tùy hỷ. Mặc dù chúng ta không nhìn thấy, nhưng chư Thiên biết rõ và họ rất biết ơn vì nhờ đó mà sự an lạc và phước báu của họ tăng trưởng. Vì vậy, các thầy hãy cố gắng. Hãy nhớ rằng chư Thiên đang hỗ trợ bồi đắp Ba-la-mật và hộ trì giáo pháp để giới hạnh và lòng từ của các thầy sớm trổ quả hiện tiền (Diṭṭha-dhamma-vedanīya)." Chẳng bao lâu sau, có những lời đồn truyền đi rằng người ta thấy ngài Sayadaw Nyaung Lunt cùng sư U Zo đang quét dọn trong khuôn viên chùa gần một ngôi làng tên là Te Myint ở phía đông Nyaung Lunt. Lại có tin tại một ngôi làng gần thị xã Lewe, khi dân làng đang dâng đặt bát cho ngài Sayadaw và sư U Zo thì thấy hai ngài bay vút lên không trung. Những tin tức này khiến đức độ của ngài lan tỏa khắp cả nước. Vật phẩm cúng dường gồm bao gạo, thùng dầu, mắm, cá khô, y áo... liên tục được chở đến bằng tàu hỏa và xe tải không ngắt quãng. ### Súng không nổ – Lời khen ngợi không ngớt Có một lần, ngài Sayadaw cùng với bốn vị cao tăng khác (Ngài U Kavinda chùa Ngwe Taung, ngài U Narinda vùng Pyawbwe, ngài U Nandiya chùa Taik Kyat và ngài U Saddhamma chùa Kalyani ở Bago) đi dự lễ kiết giới Sima tại chùa làng Khin Tan, thị xã Nyaung Lay Pin. Sau khi lễ kiết giới hoàn tất trên mảnh đất trống chưa có công trình xây dựng, trong lúc chư tăng đang ngồi tĩnh tọa, một vị thí chủ lớn tiếng đọc bài văn chúc mừng lễ thành tựu trong sự hoan hỷ của đại chúng. Dân làng cũng đã chuẩn bị mời một viên sĩ quan lâm nghiệp người Anh đứng gần đó bắn súng chào mừng sau khi bài văn kết thúc. Tuy nhiên, khi viên sĩ quan bóp cò, đạn lại không nổ. ## TRANG 465 Viên sĩ quan lập tức tháo đạn ra, thay viên mới vào nhưng vẫn không được. Cứ như thế, cả 50 viên đạn mang theo đều không phát hỏa. Ông ta kiểm tra kỹ lưỡng nhiều lần, lấy làm kinh ngạc và mồ hôi vã ra như tắm vì chuyện chưa từng thấy này. Giữa lúc đó, một vị sư trẻ (từ Nyaung Lunt) trong đoàn đi ra, ra hiệu bằng tay chân và nói: "Đừng bắn băng qua phía trên đầu các vị sư. Hãy quay hướng khác mà bắn". Quả nhiên, khi viên sĩ quan quay hướng khác và bóp cò, tiếng súng nổ rền vang "đùng đùng", khiến ai nấy đều không ngớt lời khen ngợi. (Trong chuyện tiền thân Kalingabodhi, thuộc nhóm Bốn Pháp) Có kể rằng vua Kalinga khi cưỡi con voi trắng quý báu đi trên không trung qua vùng Bodhi Manda (nơi đức Phật thành đạo), con voi bỗng dừng lại không chịu tiến về phía trước. Vị quân sư xuống kiểm tra và tâu rằng: "Đây là vùng đất thắng diệu nơi đức Phật chiến thắng phiền não, ngay cả chư Thiên cũng không dám băng qua trực diện phía trên". Nhà vua không tin, dùng móc sắt thúc mạnh vào voi nhưng voi vẫn không nhúc nhích, cuối cùng con voi thét lên một tiếng rồi chết ngay tại chỗ. Trong sự việc này, những viên đạn vô tri dường như cũng không dám bay xuyên qua phía trên đầu của ngài Sayadaw. Pháp bảo của các bậc hữu đức thật là vi diệu không sao kể hết. Viên sĩ quan người Anh sau đó cũng vô cùng kinh ngạc và cúi đầu đảnh lễ bày tỏ lòng tôn kính đối với ngài. Sau khi việc kiết giới hoàn thành, ngài Sayadaw định chuẩn bị quay về Nyaung Lunt thì chư tăng và người dân vùng Nyaung Lay Pin vì quá đỗi kính ngưỡng đã khẩn khoản thỉnh mời: "Xin ngài hãy ở lại an cư một mùa hạ tại đây để ban phước cho chúng con". Ngài Sayadaw ôn tồn từ chối rằng: "Chúng tôi rất hoan hỷ trước lời mời này. Tuy nhiên, nơi chúng tôi ở là rừng già Nyaung Lunt, không có năm món dục lạc (ngũ dục). Tự mình phải đi khất thực, thức ăn lại thiếu thốn, nên chính cái 'rừng thẳm và đồ ăn đạm bạc' đó đã thay tôi giáo hóa đồ chúng được một nửa rồi. Tôi chỉ cần giáo hóa một nửa còn lại nên rất nhẹ nhàng. Còn ở Nyaung Lay Pin của các vị là thành thị, ngũ dục đủ đầy, vật phẩm dồi dào, hạng người nào cũng có, nên việc giáo hóa sẽ rất khó khăn. Bản thân tôi cũng sẽ vất vả hơn. Vì thế, dù rất hoan hỷ nhưng xin các vị hãy lượng thứ." Những lời dạy của ngài thật vô cùng sâu sắc và đáng để ghi nhớ. ## Chương — Lễ Kiết Giới Sima Tại Núi Nemindhara Công cuộc hoằng pháp của ngài tại Thaton cũng vô cùng thú vị. Giới, Định, Tuệ của ngài khiến người ta kính ngưỡng không thôi. Những sự việc mắt thấy tai nghe... ## TRANG 466 Đó là một buổi lễ mà cả nước đều vô cùng kinh ngạc, bởi lẽ việc thuyết giảng và thiết lập ranh giới truyền giới (kiết giới Sīmā) diễn ra giữa những cuộc gặp gỡ đầy khó khăn với các vị thiện thần (nát), tinh linh (amannusa), ngạ quỷ (preta) và chư thiên. Trong buổi lễ ấy, ngài **Sunlun Sayadaw** từ Myingyan cũng cùng đi với Ngài để thực hiện Phật sự. Giống như Ngài, năng lực Giới, Định, Tuệ của ngài **Sunlun Sayadaw** cũng vô cùng phi thường, khiến mọi người đem lòng tín thành sâu sắc. Thần lực giác ngộ của hai vị Thánh tăng Alahan và những hiểm nguy kinh hoàng từ chúng tinh linh là những điều đáng được ghi vào sử sách. Tôi xin tóm tắt câu chuyện ấy một cách ngắn gọn nhất như sau: ### Ngọn núi Nemindhara đáng sợ Núi Nemindhara nằm về phía Bắc thành phố Thaton khoảng sáu furlong (chừng 1,2km), tiếp giáp với phía Đông Bắc của hào thành cổ Thaton. Đây là một ngọn núi nhô cao như một bảo tháp, chỉ có một mặt giáp với dãy núi lớn phía Đông Bắc; ngoài ra, núi có nhiều tầng đất bằng phẳng như các bậc thềm (paccaya), đủ để xây dựng những ngôi chùa nhỏ. Trên đỉnh núi là một khoảng đất bằng phẳng rộng khoảng một trăm feet. Độ cao ước tính hơn hai trăm feet. Ở đó cũng có những ngôi mộ gạch và đền thờ thần. Người ta bảo rằng "rừng thiêng nước độc", nên không ai dám lảng vãng đến gần nơi ấy. Các vị thân hào nhân sĩ ở thành phố Thaton như ngài **U Pho Sa** (vị quan hưu trí), ngài **U Kyaw Dun** (vị chỉ huy cơ quan hành chính) cùng những người khác đã xây dựng các công trình dưới chân núi để làm trung tâm hành trì giáo pháp (Paṭipatti). Họ đã thỉnh mời một vị Trưởng lão được xem là bậc túc nho, đầy đủ Giới - Định - Tuệ, cùng với các vị tỳ-kheo, tu nữ và những người hộ pháp về đây an trú. Khi tiếp tục chuẩn bị việc kiết giới trên đỉnh núi, họ đã chuyển các cột đá và tre gỗ lên núi. Nhưng sáng sớm hôm sau, tất cả số cột đá và tre gỗ ấy đều tự động lăn xuống chân núi, khiến ai nấy đều kinh ngạc. Vị Trưởng lão nói: "Đó chỉ là sự quấy nhiễu thôi, không sao đâu," rồi sai người chuyển vật liệu lên lần nữa vào ngày hôm sau. Ông còn cho người ở lại canh gác trên núi suốt đêm. Sáng hôm sau, không chỉ tre gỗ mà cả những người canh gác cũng đều thấy mình đang ở dưới chân núi, khiến một số vị tăng chúng trong chùa sợ hãi lánh đi nơi khác. Người dân trong thành cũng không ai dám lên núi nữa. Vị Trưởng lão ấy sau đó cũng đột ngột viên tịch. Một ngày nọ, khi ngài **U Pho Sa** và ngài **U Kyaw Dun** đến xem xét ngọn núi ấy, họ bỗng nghe thấy một giọng nói vang lên dù chẳng thấy người: "Tôi đã trở thành kẻ trấn giữ vùng núi này rồi. Khoảng sáu tháng nữa, tôi sẽ được giải thoát thôi." ## TRANG 467 Đó chính là giọng nói của vị Trưởng lão đã viên tịch. Các ông **U Pho Sa** vô cùng kinh hãi và trở về. ### Hai vị Thánh tăng thấu thị tương lai Trong lúc các vị thân hào có tâm đạo nhiệt thành như ngài **U Pho Sa** và **U Kyaw Dun** đang phiền lòng, thì vị Đạo sĩ (Yathee) **U Khanti** đến Thaton. Họ đã giao phó việc kiết giới Sīmā trên núi Nemindhara cho ông. Đạo sĩ **U Khanti** nói: "Tôi là đạo sĩ nên chỉ có thể chịu trách nhiệm phần xây dựng thôi. Ngài **Nyaunglun Sayadaw** là bậc toàn hảo về cả Pháp học (Pariyatti) và Pháp hành (Paṭipatti). Ngài là người bạn cùng tu thân thiết của tôi. Nếu thỉnh được Ngài, Phật sự chắc chắn sẽ thành tựu." Vì vậy, ông **U Than Dai** và ông **U Than Son** đã đến thiền viện Nyaunglun để thỉnh Ngài. Khi họ đến Nyaunglun, vị đại đệ tử là cánh tay phải của Ngài – Ngài **U Ottama** – đã suy xét sự tình. Ngài chưa cho gặp Sayadaw ngay mà trao cho họ một bản tuyên cáo để đi tuyên đọc trăng khuyết, đồng thời bảo họ hãy thử xem các vị thần giữ núi có đồng ý hay không trước đã. Các vị thân hào thành Thaton đã làm theo lời thử nghiệm và thấy mọi việc diễn ra tốt đẹp, bấy giờ mới chính thức đến thỉnh Ngài. Ngài Sayadaw cũng chưa nhận lời ngay mà trì hoãn một đêm để quán sát tình hình của các vị thần hộ thành, thần giữ núi và những tinh linh (ma hời). Ngài đã tu tập **Appanā Mettā** (Tâm từ an chỉ định). Sau khi biết rằng các vị thần đang mong chờ và bày tỏ lòng tôn kính, Ngài mới chấp thuận khởi hành. Đoàn đi gồm 11 vị tỳ-kheo trong và ngoài thiền viện, cộng với 5 vị từ Meiktila – trong đó có ngài **Trưởng lão chùa Yaylel** và ngài **Sunlun Sayadaw** (khi ấy đang trú tại chùa Yaylel) – và một vị từ Taungoo, tổng cộng là 17 vị. Người ta cho rằng: "Trong buổi lễ kiết giới này, việc có ngài **Sunlun Sayadaw** tham gia sẽ giúp mọi sự trở nên dễ dàng và hanh thông hơn." Trước khi đi Thaton, trong lúc ngài **Sunlun Sayadaw** đang quán chiếu về tiền thân bối cảnh của núi Nemindhara, người bạn thân của Ngài là ông **U San Tin** đã bạch rằng: "Bạch Ngài, có phải Ngài đang nhìn lại những chuyện cũ không? Xin Ngài cứ đi đi, đó là những việc mà chính Ngài đã từng thực hiện đấy. Ở góc hướng Đông Bắc (hướng Mặt Trời) sẽ có một gò đất nhỏ. Nơi ấy là chỗ thực hiện các nghi thức chuẩn bị (parikamma). Buổi lễ sẽ thành công tốt đẹp, bạch Ngài." Những lời ấy mang ý nghĩa vô cùng sâu sắc. Vì lẽ đó, sợi dây liên hệ từ kiếp cũ ## TRANG 468 là một yếu tố cho thấy nếu không có ngài **Sunlun Sayadaw** tham gia thì Phật sự này khó lòng hoàn tất. ### Lời tiên tri từ người điên Vào đầu tháng Tabaung (tháng Giêng) năm 1284 Miến lịch, Sayadaw cùng phái đoàn 17 vị đã khởi hành từ ga Nyaunglun bằng một toa tàu hỏa riêng biệt. Khi tàu tạm dừng ở ga Yedashe và chuẩn bị chuyển bánh, một vị sư điên kỳ lạ bỗng leo lên toa. Một tay cầm gậy và dây thừng, tay kia cầm một nhành hoa gỗ gãy và một chiếc chuông lạc, vị ấy nhìn chằm chằm vào các vị Sayadaw. Khi Ngài **U Sujata** ở Yaylel nói rằng "đây là toa riêng", vị sư điên đáp: "Ôi... của ta mà!" rồi cứ thế ngồi phắt xuống. Mọi người nói: "Có bậc Trưởng lão ở đây, đừng nói năng nhiều lời." Vị đó hỏi lại: "Trưởng lão nào?" Khi nghe đáp: "Đó là đại trưởng lão **Nyaunglun Sayadaw**," Vị đó nói luyên thuyên: "Nyaung (cây đa) gì? Cây đa **Bodhi** (Bồ-đề), đa chua, hay đa thắt? À... thì ra là cây đa **Bodhi** rồi," rồi lại hỏi tiếp: "Đi đâu mà đi?" Khi được trả lời ngắn gọn: "Đi Thaton để kiết giới Sīmā, làm Phật sự," vị sư điên liền la lớn: "Ồ... thì ra là đi hoằng pháp ở Thaton như ngài **Mahinda** sang Tích Lan (Siho) ấy nhỉ. À, đúng rồi, đi hoằng pháp ở Thaton..." rồi nói tiếp: "Thắng lợi chắc chắn! Thắng lợi chắc chắn! Cứ đi đi, sẽ thành công thôi, sẽ thành công thôi!" Vừa hét vị ấy vừa rung chiếc chuông và nhành hoa gãy trong tay. Miệng thì lẩm bẩm: "Nhìn đây, nhìn đây! Chuông này chuông này, hoa này hoa này, bên trong rỗng tuếch, chỉ là đồ gãy thôi." Nói xong những lời kỳ quặc đó, vị ấy xuống tàu ở ga kế tiếp. Dựa vào điềm báo ấy, mọi người giải mã rằng: "Sẽ gặp trở ngại, nhưng không đáng ngại." Đó là một điềm lành được nói ra từ miệng một người điên. ### Người nghe kinh một lượt, thần nghe kinh một lượt Khi các vị Sayadaw đến thành phố Thaton, họ đã được thỉnh mời một cách vô cùng long trọng và... ## TRANG 469 Các ngài cùng đi đến ngôi chùa tạm dưới chân núi Nemindhara. Riêng thiền sư Sunlun được cung thỉnh về an trú tại một ngôi chùa tạm yên tĩnh trên khu đất trống thuộc tầng cấp thứ hai, phía góc đông bắc (cung Anga) của đỉnh núi. Cả thành phố đều hồi hộp dõi theo, tự hỏi: "Sẽ có tin tức gì từ đây chăng?". Kể từ đêm đầu tiên đến nơi, sau khi cho đại chúng ra về sớm, thiền sư Sunlun bắt đầu thực hiện các nghi thức bái Phật và tụng kinh Paritta. Ngài chuyên tâm hành trì và rải tâm từ (metta) rộng khắp. Thiền sư cũng cho thắp nến sáng rực khắp núi Nemindhara, cắm các lá cờ phướn rồi hồi hướng công đức đến chư thiên để dâng cúng lên đức Phật. Những người không hiểu chuyện đã vội chỉ trích rằng: "Vị sư từ rừng sâu ra mà lại làm những việc thế gian (lễ nghi hình thức)". Tuy nhiên, sau khi thắp đèn sáng tỏ cả ngọn núi, ngài đứng tại góc chủ về ngày Chủ Nhật (hướng đông bắc), thực hiện các bước chuẩn bị (parikamma) và rải tâm từ. Từng đoàn chư thiên, các hạng phi nhân, ngạ quỷ lần lượt kéo đến đảnh lễ; ngài đều thuyết pháp giáo hóa rồi mới cho lui đi. Đoàn cuối cùng đi đến mang theo năm món trang sức hoàng gia (Min Myauk Tan Sar). Sau khi quán chiếu, ngài nhận ra đó chính là vua Manuha – người từng có mối nhân duyên thầy trò với ngài trong quá khứ. Ngài liền phán rằng: "Này chư thiên, trên ngọn núi này có bảo tháp Thūpā rāma, nơi tôn thờ xá-lợi Phật, nên việc người dân qua lại dẫm đạp lên đây là một tội nghiệp rất nặng. Chúng tôi đến đây để hoằng dương giáo pháp trên ngọn núi này, mong các vị hãy hộ trì. Người dân cũng sẽ xây dựng cho các vị một ngôi đền (miếu thờ chư thiên) mới." Sau khi nghe ngài thuyết giảng ngắn gọn, vị thiên vương ấy không nói lời nào, chỉ cúi đầu khóc rồi rời đi theo hướng đông bắc. Thiền sư Sunlun sau khi rải tâm từ và thuyết pháp xong cũng hạ sơn, trở về ngôi chùa tạm dưới chân núi. ### Một bên là đỉnh nóc, một bên là củi đốt Về phần thiền sư Nyaung Lunt, ban ngày ngài thuyết pháp cho đại chúng, ban đêm ngài lại thuyết giảng cho chư thiên và các hạng phi nhân. Ban đầu, khi quán chiếu bao quát toàn bộ núi Nemindhara và rải tâm từ, ngài thấy những vị đại thiên vương đầy quyền năng cùng quyến thuộc đông đảo kéo đến nghe pháp. Vị thiên vương hộ trì ngọn núi đang ngồi phía trước đã dâng mình phục vụ, hứa khả sẽ hộ trì và sắp xếp mọi việc cho giáo pháp đúng như mong đợi. Đêm ấy trôi qua cho đến khi bình minh ló rạng. Đêm tiếp theo. Ngài quán chiếu bao quát toàn bộ dãy núi phía đông và rải tâm từ định (appanā metta). ## TRANG 470 Lần này, một vị đại thiên vương có thần lực lớn hơn nữa cùng quyến thuộc vô cùng đông đảo đã đến đảnh lễ, đông đến nỗi núi Nemindhara không còn chỗ chứa. Vị thiên vương lập lại lời hứa như trước và thưa rằng: "Con đã ra lệnh cho các vị thiên thần hộ sơn này rồi." Vị ấy còn thưa: "Con chính là người đầu tiên đã kiến thiết nên thành phố Thaton vĩ đại này." Sau khi nghe pháp xong, họ biến mất. Đêm tiếp theo. Các vị thiên vương cai quản vùng phụ cận thành Thaton lại đến đảnh lễ. Hào quang, thần lực và quyến thuộc của họ còn rực rỡ và đông đảo hơn các vị trước. Không chỉ trên núi mà cả thung lũng lẫn thành phố đều sáng rực như ban ngày. Quang cảnh ấy tuyệt mỹ đến mức có thể khiến tâm trí người phàm tục phải xao động. Họ cam kết: "Theo lệnh của các vị đại thiên vương cấp trên, tất cả chúng con sẽ hộ trì." Họ còn buồn bã thưa thêm: "Tất cả các vị thiên vương và quyến thuộc quanh vùng núi này đều là những vị vua và quần thần từng trị vì thành Thaton thuở xưa, không thiếu một ai bạch Ngài." Qua quán chiếu, ngài thấy rằng theo thiên luật, họ phải ở lại trông nom khu vực Thaton theo từng nhóm riêng biệt. Cảm động trước cảnh tượng đáng suy ngẫm đó, ngài đã nỗ lực thuyết giảng để hóa độ cho họ. Suốt 10 ngày 10 đêm, ngài không hề có lúc nào nghỉ ngơi vì ban ngày thì tiếp đại chúng, đêm về lại tiếp chư thiên. ### Những trở ngại và sự mầu nhiệm khi kiết giới Sima Các thí chủ hộ pháp vô cùng hoan hỷ và tiến hành chuẩn bị cho lễ kiết giới Sima. Họ cũng thỉnh mời các bậc trưởng lão tăng già đại phương và quyết định thực hiện theo phương thức "Nal Theim" (kiết giới bao chiếm vùng). Trong phương thức "Nal Theim", để đảm bảo tính thanh tịnh, các lối vào khu vực ấn định đều có người canh giữ để ngăn không cho các vị tỳ-kheo bên ngoài bước vào trong khi đang hành lễ. Các vị tăng trong vùng nếu không thể đến dự thì phải gửi sự đồng thuận (chanda) bằng lời. Một vị thiền sư ở Thaton đã nêu chất vấn rằng hệ thống này không phù hợp với Luật tạng (Vinaya) nên cần phải giải trình thêm. Ngoài ra, họ còn phải đi tìm một vị tu sĩ không gửi sự đồng thuận cũng không đến dự để xin ý kiến thống nhất. Thiền sư Nyaung Lunt cùng thiền sư U Tikkhā (chùa Gyuak Pin Taw Ya Htanoung Tai) và thiền sư Yay Lel là ba vị chủ trì lễ nhổ giới cũ, sau đó vào lúc 10 giờ đêm ngày rằm tháng Tabaung năm 1284 Miến lịch, trong tiếng chuông trống rộn rã của cả thành phố và sự canh phòng cẩn mật của quân dân, ## TRANG 471 lễ kiết giới đã được cử hành xong. Sau khi hoàn tất, ngài Tổng đốc U Kyaw Dun và những người khác đã thực hiện nghi thức xuất gia gieo duyên (dullabha). Khi hai bậc thánh tăng quán chiếu xem việc kiết giới có thành tựu viên mãn (Aung) hay không, các ngài nhận thấy lễ đã không thành do sự quấy nhiễu của một vị sư. Các thí chủ thưa rằng đúng là có một vị sư từ vùng khác đã bất chấp sự ngăn cản của lính canh, cố tình xông vào khu vực giới đàn khi lễ đang diễn ra. Qua thần thông, các ngài còn biết rõ pháp danh, chùa viện và cả những lời vị đó đã nói. Do đó, lễ kiết giới phải được tổ chức lại vào lúc 7 giờ sáng ngày 7 tháng sau (nhuận) của tháng Tabaung. Lễ kiết giới lần này diễn ra ban ngày, dân chúng kéo đến đông nghẹt như đàn ong vỡ tổ để chiêm bái. Dù đang giữa mùa hè đổ lửa, mây đen bất chợt kéo đến che phủ và có vài hạt mưa rơi xuống. Điều kỳ lạ là mây chỉ bao phủ ngay trên đỉnh núi Nemindhara. Kỳ lạ hơn nữa là trong suốt thời gian cử hành lễ, không hề có chuyến tàu hỏa nào chạy qua. Bởi nếu có tàu hỏa đi qua mà trên đó có một vị sư nào đó, thì nghiệp lực có thể làm hỏng lễ kiết giới; nhưng thật bất ngờ, một cây cầu sắt đã bị hỏng ngay lúc đó khiến tàu phải dừng lại. Ngôi giới đàn này được đặt tên là "Abhaya Muni Cetiya Sima", và hiện nay một bảo tháp đã được xây dựng ngay tại vị trí đó. Sau khi hoàn tất, dù các vị thiền sư khác đã ra về, thiền sư Nyaung Lunt cùng hai đệ tử vẫn ở lại núi Nemindhara cùng các vị sư gieo duyên. Trong thời gian lưu trú, người dân khắp nơi nô nức kéo đến cúng dường, ngài phải lần lượt đi đến từng khu phố để ban phước. Các thành phố lân cận như Mawlamyine, Mudon, Kyaikkhami cũng cung thỉnh ngài đến để đảnh lễ và nghe pháp mỗi ngày. Ngài đã đem toàn bộ phẩm vật cúng dường trị giá hơn 40.000 đến 50.000 (đơn vị tiền tệ thời đó) để tặng lại cho các ngôi chùa địa phương nơi ngài đến. Đến cuối tháng Nayon năm 1285, ngài mới trở về rừng Nyaung Lunt. Ngọn núi Nemindhara vốn từng rất hoang sơ và đầy rẫy phi nhân, nay đã được ánh sáng giáo pháp bao phủ, trở thành một trung tâm hành thiền lớn, làm tăng thêm vẻ trang nghiêm cho thành phố Thaton. (Trong khi biên soạn tiểu sử các bậc thánh tăng, người viết nên dựa trên những sự kiện có thật và logic, không nên vì lòng tôn kính thầy mình mà thêu dệt hay phóng đại những điều nghe kể lại. Các bậc thiền sư đã cùng nhau hoằng dương giáo pháp trong sự hòa hợp và thân ái, vì vậy chúng ta nên giữ tâm chân chính (yoniso manasikāra) khi tìm hiểu, tránh những lời chỉ trích xúc phạm đến các ngài, để thiện nghiệp được tăng trưởng và lòng tin được thanh tịnh. Xin hãy lưu tâm.) ## TRANG 472 **Điềm báo dồn dập và nỗi ưu tư thầm lặng** **Dhamma-cariya U Htay Hlaing** “Này các bậc hữu học và quý Sư, trong khi đang có được thời cơ tốt đẹp và vận may lớn này, hãy nỗ lực học tập Pháp học (Pariyatti). Hãy tham dự đều đặn các buổi giảng Luật tạng (Vinaya) đang được truyền dạy hiện nay. Thật không dễ để có được một khóa học khác đâu; thân tâm phù du này chẳng thể kéo dài quá một năm nữa đâu. Hãy không ngừng nỗ lực hành trì Pháp hành (Patipatti). Đừng để đến khi chúng ta không còn nữa mới phải hối tiếc.” Từ đầu năm 1294 (Miến lịch), Ngài thường xuyên nhắc nhở như vậy mỗi khi giảng dạy. Nghe những lời ấy, không ít đệ tử đã nỗ lực hành trì tinh tấn hơn, giống như vị “Tỳ-kheo trẻ Dhamma-dhara” – người đã cảm nhận lòng rung động tâm linh (Saṃvega) sâu sắc như có tiếng sét đánh ngang tai khi nghe lời huyền ký của Đức Thế Tôn ba tháng trước khi Ngài nhập Niết-bàn. Không lâu sau những lời nhắc nhở đó, hầu hết các đệ tử đều nghe Ngài bảo rằng: “Ta thấy một tòa lâu đài bằng ngọc báu rực rỡ, lộng lẫy và kỳ ảo đang theo sát ngay sau lưng.” Phải chăng đó là sự cúng dường sau cùng của chư Thiên và Phạm thiên, hay là lời thỉnh cầu rằng “đã đến lúc buông bỏ thọ hành”? Dù thế nào, Ngài vẫn tiếp tục giảng dạy các lớp Pháp học như thường lệ. Ngài vẫn chu toàn các Phật sự và việc bổn phận của tăng đoàn. Vào tháng Nayon năm 1295, Ngài Sunlun Sayadaw ở Myingyan cũng đến đảnh lễ vì một việc tang lễ và đã gặp gỡ Ngài một cách thân tình, an bình như mọi khi. Ngài Sunlun Sayadaw chỉ nói với các vị đại đệ tử của Ngài rằng: “Bậc đạo sư thật sự đã hoàn thành xong phận sự của một vị Sa-môn rồi.” Sau đó Ngài ra về. Dù Ngài không định đi dự lễ kiết giới Sīmā cho Tỳ-kheo U Kusala ở Shwemyo, nhưng vì đại diện đã nài nỉ thỉnh mời quá mức nên Ngài đã nhận lời. Trên đường đi, do hít phải mùi khói cháy rừng và gặp những cơn mưa đầu mùa, Ngài đã ngã bệnh và không thể hồi phục hoàn toàn. (Các bậc thánh thiện thường hết sức cẩn trọng, từng bước đi của mình đều bằng tuệ giác để không làm tăng thêm gánh nặng trách nhiệm cho bản thân). Các vị đại đệ tử có tri thức và tầm nhìn bắt đầu cảm thấy lo âu vì nhận thấy thời khắc cuối cùng đã đến gần. Cột đồng hồ mặt trời dựng gần trai đường vốn rất vững chãi bỗng nhiên tự đổ sập. Xung quanh chùa, các loại hoa trái mùa đồng loạt nở rộ. Một con chim lớn có bộ lông vằn to bằng con gà trống thường xuyên bay đến từ hướng Tây Nam, lượn quanh phía trên ngôi chùa và phát ra những tiếng kêu than thê lương, kỳ quái. Trong nhiều ngày, khắp khuôn viên chùa vang lên những âm thanh rên rỉ, thổn thức không rõ rệt. Khi người xe thưa thớt, không gian càng trở nên tĩnh mịch, hãi hùng và đầy nỗi ưu tư. ## TRANG 473 Những ai thấu hiểu thời thế và biết ơn đức đều đã bắt đầu rơi lệ, **Samma-vedana Sampadetha** *(Hãy thành tựu sự cảm xúc đúng đắn)* Ngài Sayadaw có vẻ không biểu hiện đau đớn trầm trọng. Sắc diện Ngài vẫn tươi sáng và vẫn tiếp tục ban lời giáo huấn như thường lệ. Đến ngày mồng 3 sau trăng tròn tháng Nayon, Ngài có vẻ yếu hẳn đi. Từ nơi nghỉ ở tầng dưới ngôi chùa lớn do bà Daw Saw Tin cúng dường, Ngài được các đệ tử giúp di chuyển sang chiếc ghế bành nơi Ngài thường giảng dạy. Ngài bảo thỉnh tất cả tăng chúng trong tu viện đến và giáo giới: “Này các vị Tỳ-kheo, hãy nỗ lực không ngừng nghỉ trong công việc Pháp học và Pháp hành. Hãy giữ gìn các học giới (Sikkhāpada) trong Luật tạng từ những điều nhỏ nhất và noi theo tấm gương thực tế của bậc thầy tổ. Tất cả những gì Đức Thế Tôn ngăn cấm hay truyền dạy đều chỉ vì sự an lạc của chúng sinh. Các pháp hữu vi (Sankhāra) này thật chẳng có cốt lõi bền vững nào để nương tựa cả.” Sau đó, Ngài đã đảnh lễ hai vị trưởng lão U Ācara và U Zo ở Leeway – vốn là những huynh đệ đồng môn lớn tuổi và hạ lạp hơn Ngài. Không lâu sau, vào lúc 11 giờ đêm, trong khi đang ngồi xếp chân trên ghế bành, Ngài đã hoàn toàn an trú vào yếu tính tịch tịnh “**Anupādisesa Asaṅkhata**” (Vô dư hữu vi tịch diệt) và nhập Niết-bàn. Vào ngày mồng 3 tháng Waso, hơn một vạn người dân và khoảng bốn trăm vị Tăng đã tụ họp lại mà không cần sự thúc giục hay kêu gọi nào. Mọi việc đều được chuẩn bị chu toàn, đầy đủ để cử hành lễ trà tỳ (Sādhukīḷanā). Nhiều hiện tượng hy hữu đã xảy ra như củi thơm tự động chất cao để cúng dường (dù không ai thực hiện), hay những cơn mưa lớn trút xuống. Xá-lợi xương của Ngài sau đó đã được tôn trí trong một pho tượng Phật để thờ phụng. Trong dòng lịch sử Phật giáo thực hành tại Miến Điện, Ngài đã minh chứng rằng nếu kiên trì nỗ lực với niềm tin bất thối và hệ thống học tập lấy Luật tạng làm nòng cốt, thì Giáo pháp của Đức Thế Tôn chính là nơi nương tựa đích thực của chúng sinh. (Để biết thêm chi tiết, quý vị có thể tìm đọc trong cuốn “Tiểu sử tóm tắt và Pháp hành tại Nyung-lun Tawya” do các vị đại đệ tử cư sĩ biên soạn chung vào năm 1316 và được ấn hành vào năm 1327. Về sau, chúng ta cũng sẽ được chiêm bái tiểu sử của Ngài Shwe U Daung Taung Sayadaw và các vị Sayadaw ở Myaungmya Weluwady – những người đã thực hành theo sự hướng dẫn của Ngài và đạt được thành tựu viên mãn.) ## TRANG 474 **Sayadaw Thaton Jetawun** **( 1230 - 1316 )** Trong các vở kịch Zat hay múa rối, khi diễn các câu chuyện dài, lúc đầu người ta có thể diễn giải một cách thong thả. Nhưng khi gần đến hồi kết vào lúc rạng sáng, để kịp thời gian, họ phải diễn thật nhanh. Những chi tiết không quan trọng phải được lược bớt, những đoạn rườm rà phải được cắt bỏ, hoặc chỉ trình diễn những phần cốt yếu; sự khóc lóc hay sầu cảm cũng chỉ ở mức vừa đủ để gấp rút kết thúc vở diễn. Do đó, người xem thường thấy sự chuyển cảnh diễn ra quá nhanh và thay đổi đột ngột, khiến họ không kịp cảm nhận hay dự đoán, đến nỗi khi vở kịch chưa kết thúc, họ cũng chẳng biết nên khóc hay nên cười. “Vị đạo diễn” của những nghiệp quả quá khứ (Aparāpariya Kamma) cũng khiến hành giả phải trải qua những “vở kịch” luân hồi dài đằng đẵng, sử dụng những “vai ác” như Ma vương khi cần thiết. Đến lúc gần kết thúc, khi ánh sáng tuệ giác sắp rạng, những nghiệp quả lẽ ra phải chịu trong mười kiếp có thể được gom lại trong một kiếp, được lược bớt hoặc cắt bỏ để kịp thời gian. Vì vậy, chỉ trong vòng vài ngày hay vài tháng, mọi thứ có thể thay đổi nhanh chóng, các mắt xích và sự sắp đặt có vẻ rời rạc, không nhất quán. Bởi vậy, dù rạng đông đã ló rạng và gà rừng đã gáy, nhưng câu chuyện vẫn chưa kết thúc một cách bình thường. Lúc này thấy vị ẩn sĩ xuất hiện, lúc sau đã thấy hoàng tử bước ra; nhìn vở múa rối diễn ra một cách vội vã như vậy, người ta dễ rơi vào trạng thái bàng hoàng trước khi câu chuyện kết thúc, giống như những vần thơ của ông U Ponnya: “Gà đã gáy vang rồi, chẳng biết đây là đoạn kinh nào, cảnh trí muôn hình vạn trạng, nhiều không kể xiết”. Vào thời Đức Thế Tôn, tôn giả **Nāgasamāla** đã chứng đắc A-la-hán ngay khi đang xem một vở diễn, có lẽ vì Ngài đã quán chiếu được thực tính này. Chính vì thế, nhiều người đã không thể tin nổi khi thấy kẻ sát nhân Tambadāṭhika đắc được pháp thượng nhân, hay vị đại thần Santati đang trong cơn say sưa bỗng chốc trở thành bậc Thánh giả, dù trước mắt họ mọi thứ dường như chẳng hề nhất quán. Trong vòng luân hồi, nghiệp mệnh thật là huyền ảo thay. **Bậc trí giả hoàn tục U Tha Byaw** Tại làng Kyaukpa-nan, cách làng Kangyi-kone khoảng mười dặm về phía bắc thành phố Sagaing... ## TRANG 475 **Dự án 013: Tiểu sử các bậc A-la-hán** Tại làng Kyauk-pa-nan, âm thanh vang dội của các loại trống lễ báo hiệu một buổi lễ xuất gia (Shinpyu) đang diễn ra vô cùng náo nhiệt. Người dân từ khắp các làng lân cận đổ về khiến bầu không khí thêm phần đông đúc. Dân làng Kyauk-pa-nan ai nấy cũng đều hân hoan, ra sức góp công sức tại rạp lễ để tích lũy phước báu. Ngay lối vào rạp và trước bục dành cho chư Tăng, cát trắng được trải phẳng, xung quanh dựng hàng rào tre lộng lẫy, những cây chuối được trồng ngay ngắn và trên mái rạp treo lủng lẳng từng buồng chuối chín. Các vật phẩm cúng dường cũng được sắp xếp trang trọng. Để tiếp đãi quan khách, những thiếu nữ trẻ tuổi nhanh nhẹn bưng ra các khay trà, trầu cau và các khay thuốc lá đầy đủ thuốc, vỏ thuốc và lá cuốn để khách có thể tự tay cuốn thuốc theo ý thích. Một vài cụ ông lớn tuổi đang tụ họp trò chuyện, các cụ chỉ quấn xà-rông ngang hông mà không mặc áo. (Thực tế, các cụ thường cởi áo khoác Taik-pon vắt lên vai khi chuẩn bị vào làng có lễ, rồi khi đến rạp mới tìm cột rạp để treo áo lên một cách sẵn tiện). Giữa đám đông dân dã ấy, phong thái ăn mặc và dáng vẻ của anh Tha Byaw nổi bật nhất trong số hàng trăm người hiện diện. Anh đang đảm nhận một công việc quan trọng: ngồi trước chiếc bàn trà, giữ dáng vẻ trang trọng để tiếp nhận và ghi chép tiền cúng hỷ của quan khách. Ai đến dự lễ cũng đều gặp anh đầu tiên trước khi vào tiệc ăn uống và trò chuyện. Vì vậy, công việc của Tha Byaw được xem là quan trọng nhất lúc bấy giờ. Vì chỉ mới hoàn tục chưa lâu sau thời gian làm tu sĩ, nên anh vẫn giữ được phong thái uy nghi, đĩnh đạc. Giữa những người dân làng quê mộc mạc, Tha Byaw hiện ra đầy khí chất và tề chỉnh, tựa như chim thiên nga lạc giữa bầy quạ. Cô chị cả của Tha Byaw là Ma Htun Zan phải ở lại trông nhà, trong khi hai người em gái là Ma Wan và Ma Ma Gyi thì tất bật lo việc tiếp đãi tại rạp lễ. Khách khứa cứ từng nhóm một tiến vào. Tha Byaw bận rộn không ngớt tay: lúc thì ghi chép danh sách, lúc nhận tiền, lúc lại trả lại tiền thừa cho khách. Một vài bà dì khi thấy anh liền thốt lên kinh ngạc: "Ô kìa... ai đây nhỉ, hóa ra là thầy Tha Byaw à! Thôi được rồi, ghi sổ cho tôi đi nào. Đệ tử... à không... tôi gửi một kyat nhé". Dù đã từng tiếp xúc với nhiều tầng lớp xã hội trước đó, nhưng khi nghe những lời xưng hô quen miệng kiểu nhà chùa như vậy, Tha Byaw không khỏi cảm thấy ngượng ngùng và lúng túng. Từ khi còn nhỏ, Tha Byaw đã nuôi chí hướng trở thành một quan thư lại trong cung đình. Anh đã dày công rèn luyện từ cách viết chính tả, nét chữ cho đến cách viết trên lá buông theo đúng phong cách hoàng gia. Anh kể rằng, khi soạn thảo văn bản trước mặt nhà vua, người thư lại phải quỳ phục, không được phép ngẩng đầu nhìn mặt vua; tay trái cầm lá buông đặt lên đỉnh đầu, tay phải cầm bút trâm viết mà mắt vẫn phải nhìn xuống, không được rời khỏi văn bản. Anh đã từng khổ luyện theo cách khắc nghiệt như thế. ## TRANG 476 Giờ đây, Tha Byaw không trở thành thư lại cung đình mà lại là người thư ký của làng quê. Khi khách khứa đã thưa dần, Tha Byaw bắt đầu kiểm tra lại sổ sách và tiền nong để bàn giao cho chủ lễ. Những tiếng kèn lớn hòa cùng tiếng trống lễ lại vang lên rộn rã. Qua tiếng nhạc, mọi người biết rằng chư Tăng đang tiến vào, thế là cả rạp đều hướng mắt ra cửa đón chờ. Chư Tăng tay cầm quạt, theo thứ tự hạ lạp lần lượt bước vào rạp lễ, dân chúng đồng loạt phủ phục đảnh lễ. Tha Byaw vẫn đang mải mê với đống sổ sách. Hầu như vị sư nào cũng biết về danh tiếng của Tha Byaw, nên khi bước qua, thấy "anh thư ký" nổi tiếng đang khom lưng ghi chép trong bộ khăn đóng đỏ rực và chiếc xà-rông lụa cũng đỏ chói, các ngài không khỏi mỉm cười trước sự ăn mặc có phần "lệch pha" của anh. Vào thời đại Inwa, có vị quan Thila Wa nổi tiếng là cả đời chỉ cười đúng ba lần. Một trong số đó là khi ông nhìn thấy một vị sư mới hoàn tục đi tắm sông mà vẫn không chịu tháo khăn đóng trên đầu. Chuyện về những vị sư hoàn tục thường gắn liền với những tình huống dở khóc dở cười như vậy, và họ thường trở thành tâm điểm của những sự việc có phần thiếu hài hòa. Vị sư trụ trì chùa Saw Ke, người thầy đầu tiên của Tha Byaw, khi đến dự lễ và nhìn thấy anh đã không khỏi cảm thấy xót xa. Những vị sư cùng lứa học với anh cũng dùng quạt che mặt, khẽ khàng bàn tán về "diện mạo" mới của anh với lòng thương cảm. Bất cứ ai biết về năng lực và định mệnh của Tha Byaw hẳn cũng sẽ thấy bùi ngùi. Ít ai ngờ rằng Tha Byaw, người đang ở trong thân phận cư sĩ không mấy phù hợp này, chính là tiền thân của **Đại Trưởng lão Thaton Jetawun**, vị thánh tăng sau này sẽ tỏa sáng như mặt trăng mặt trời trong **lịch sử truyền thừa pháp hành (Paṭipatti Sāsana)**. Thật vậy, cuộc đời cư sĩ hoàn toàn không tương xứng với một nhân cách như Tha Byaw. ### Cuộc đời thăng trầm trong thời gian ngắn Tha Byaw sinh ngày mùng 5 tháng Giêng năm 1230 (Miến lịch), vào khoảng chập tối, là con của bà Daw Paing (người làng Adi-kan-kyi-kon) và ông U Nyo (người làng Kyauk-pa-nan). Năm lên tám tuổi, cậu được gửi vào học tại chùa Saw Ke nằm giữa hai làng Kyauk-pa-nan và Kan-kyi-kon. Nhờ sự lễ phép, hiểu chuyện và đặc biệt là sự thông minh, cần cù, cậu rất được vị sư trụ trì tin yêu. Chẳng bao lâu, cậu đã hoàn thành chương trình học căn bản. Đến năm 12 tuổi, cậu đã thuộc lòng tám bộ ngữ pháp (Saddā) và các bộ chú giải. Thấy học trò quá thông minh, dù chưa dạy đến bộ Thắng Pháp Tập Yêu (*Saṅgaha*), vị sư đã thử dạy các phần **Thắng Pháp (Abhidhamma)** nâng cao và vô cùng kinh ngạc trước sức tiếp thu phi thường của cậu. ## TRANG 477 Năm 14 tuổi, cậu xuất gia sa-di với pháp danh **Nārada**. Sau khi hoàn thành các oai nghi phép tắc của sa-di, cậu thậm chí còn thuộc lòng bộ **Nhị Mẫu (Dve Mātikā)** vốn dành cho các vị Tỳ-kheo. Thấy vậy, vị thầy đã dạy cho cậu năm bộ Luật Tạng (*Vinaya Piṭaka*) — vốn là những bộ kinh điển dành cho các vị Tỳ-kheo thâm niên. Chỉ trong vòng ba bốn năm, cậu đã thông suốt cả năm bộ Luật này. Có thể nói, ngay từ thời sa-di, nền móng của giáo pháp đã được đặt vững chắc trong tâm khảm của Sa-di Nārada. Vị sư trụ trì chùa Saw Ke không ngớt lời khen ngợi và tự hào về người học trò này. ### Vị sa-di hoàn tục và biến động thời thế Sa-di Nārada dù nhỏ tuổi nhưng học vấn lại uyên bác vượt xa bạn đồng lứa. Cậu từng lập chí: "Nếu không làm tu sĩ suốt đời, ta sẽ dùng học vấn của mình để phụng sự trong cung truyền". Cậu là người có chí lớn và sự kiên trì bền bỉ. Tuy nhiên, những dòng nghiệp lực bất ngờ đã khiến mọi dự định của cậu rẽ sang hướng khác. Cha cậu đột ngột qua đời, và chỉ bảy tháng sau, mẹ cậu cũng ra đi. Các chị em gái là Ma Htun Zan, Ma Wan và Ma Ma Gyi khi ấy vẫn còn thơ dại, không nơi nương tựa, lâm vào cảnh vô cùng khốn khó. Thế là Sa-di Nārada đành phải hoàn tục. Chàng trai Tha Byaw giờ đây phải cùng ba người chị em của mình làm lụng vất vả, cùng bầy bò cày cuốc trên mảnh đất Kyauk-ke-kon để mưu simh qua ngày. Dù vậy, ý nghĩ "đã sinh ra ở đời thì phải có ngày làm quan giúp nước" vẫn luôn thôi thúc trong tâm trí anh. Nhưng thời thế lúc bấy giờ đã dập tắt hy vọng đó. Năm 1247 (Miến lịch), khi Tha Byaw mới 17 tuổi, quân Anh (được gọi là bọn ngoại đạo da trắng) đã bắt đầu xâm chiếm và biến Miến Điện thành thuộc địa. Các cuộc nổi dậy nổ ra khắp nơi. Với bản tính quyết đoán, nhiệt huyết của tuổi trẻ, cộng với việc các dự định cá nhân đều không thành, Tha Byaw đã quyết định rời khỏi làng Kyauk-pa-nan, mai danh ẩn tích để tham gia vào dòng chảy biến động của đất nước. Mãi đến khi người Anh thiết lập quyền cai trị và các cuộc biến loạn tạm thời lắng xuống, Tha Byaw mới... ## TRANG 478 Nghe tin cháu mình đang ở nhà người bác (anh của thân phụ) tại làng Kaung-mhu, thị trấn Kun-gyan-gon, quận Han-thar-wa-dy. Trong thời gian ở đó, có một ngày tâm trạng không vui, Ngài giữ im lặng, nằm trên giường suốt hai ngày liền, không ăn không uống. Người cô mới nói với người bác rằng: "Thật là lạ, không ăn không uống thì đành rồi, nhưng đến cả việc bài tiết cũng không thấy, quả là điều hy hữu." Thực ra, Maung Thar Byaw đang đứng giữa những cơn phong ba của cuộc đời, một bên là tình cảm với các chị em gái, một bên là tâm đạo đã bén rễ sâu vào xương tủy, Ngài đang nhiều lần cân nhắc chọn lựa hướng đi cho tương lai. Cuối cùng, Ngài đưa ra quyết định và trở về quê hương Miền Thượng (Anyar). ### Ngài U Nārada đi theo tiếng gọi của tâm thức Năm 1249 (Miến lịch), khi về đến Miền Thượng, trong lúc cùng các chị em làm rẫy, Ngài dần dần thuyết phục và xin phép họ để được xuất gia tỳ-khưu. Tất cả đều đồng ý tán thành. Lúc này Ngài cũng vừa tròn 20 tuổi. Do đó, Ngài đã xuất gia với Ngài Trưởng lão U Lakkhaṇa (một người anh họ) tại chùa rừng Man-kyi-su, phía đông nam làng Kan-gyi-kone. Bà Daw Am Sar và ông U Paw Sa (em họ của bà Daw Paing) đã nhận làm thí chủ hộ độ. Đời sống nơi tự viện cùng với tâm nguyện của một bậc xuất gia đã giúp Ngài quên đi quá khứ; những giáo pháp kinh điển đã từng học hỏi trước đây nay trở thành nguồn an lạc vỗ về tâm hồn Ngài U Nārada. Sau khi tiếp tục học hỏi thêm về Pāḷi và Tạng Kinh, cảm thấy vẫn chưa thỏa mãn, Ngài đã chuyển đến học với Ngài Trưởng lão **U Rājinda**, vị Thống chủ của ba hệ phái (Thon-gaing-choke), tại chùa Taung-pā-gyi trên dãy núi Minh-kun. Vị Thống chủ đã tận tình chỉ dạy phương pháp nghiên cứu Tạng Kinh một cách thấu đáo, giúp Ngài tiến bộ vượt bậc chỉ trong vài tháng, vài năm. Cảm mến phong cách sống và ý chí của Ngài, vị Thống chủ đã giao cho Ngài U Nārada trọng trách giảng sư (Sā-cha), rồi sau đó giao luôn cả việc quản lý tự viện. Tuy nhiên, Ngài U Nārada không đảm nhận trọng trách đó lâu dài mà đã lên Mandalay, tìm đến chùa Moe-kaung — nơi nổi tiếng về Vi Diệu Pháp — để tu học. Từ đó, Ngài lần lượt chuyển qua các đại tự viện như Dakkhiṇavan, Myat-taung, và San-kyaung; Ngài đã học hỏi với nhiều vị thầy khác nhau để trang bị đầy đủ kiến thức, đồng thời cũng đảm nhận việc giảng dạy cho các chú Sa-di và Tỳ-khưu trẻ. Sau đó, do duyên sự, Ngài chuyển đến lưu trú với Ngài Thầy nổi tiếng tại chùa Veḷuvan, thị trấn Shwe-taung, quận Pyay. Với trí tuệ sắc bén, tinh tấn dũng mãnh trong giáo pháp, ## TRANG 479 cùng với phong cách sống đáng ngưỡng mộ, Ngài lại một lần nữa được Ngài Thầy tin tưởng giao cho quyền điều hành đại tự viện Veḷuvan. Thế nhưng, Ngài U Nārada cảm thấy không phù hợp với cuộc sống ở Miền Hạ, nên đã quay trở về Minh-kun. Tại đây, Ngài vừa làm tròn bổn phận đối với thầy tổ và tăng chúng, vừa giảng dạy giáo pháp, đồng thời dành thời gian nghiên cứu sâu rộng vào các bản Pāḷi, Chú giải (Aṭṭhakathā) và Phụ chú giải (Ṭīkā). Tiếng tăm của vị giảng sư U Nārada bắt đầu lan rộng khắp vùng Sagaing và Minh-kun. Thời điểm đó, bản '**Mahā-ṭīkā**' của Ngài Ledi Sayadaw đang tạo nên một làn sóng lớn; Ngài U Nārada đã nảy sinh ý định: "Nếu là mình, mình sẽ viết Chú giải", và đã dự định soạn thảo bản '**Chú giải**' mở rộng cho '**Peṭakopadesa Pāḷi-taw**'. Một đêm nọ, Ngài U Nārada nằm mơ thấy hai chiếc răng cửa hàm dưới bị gãy. Theo quan niệm "răng dưới gãy thì người dưới quyền mình có thể gặp nạn", Ngài đã vội vàng đi bộ hơn hai dặm đến làng Kyauk-pa-nan nơi các em gái đang ở để hỏi thăm sức khỏe. Các em của Ngài lúc bấy giờ vẫn chưa lập gia đình. Trong khi đang chuẩn bị cho việc soạn thảo Chú giải, Ngài đã gọi các chị và các em đến chùa và nói ngay khi họ vừa đến: "Sư sắp hoàn tục đây, hãy mang quần áo đến cho Sư, Sư không yên tâm về các con." Nghe vậy, các chị em đều khóc lóc thảm thiết. Dù họ đã hết lời cầu xin nhưng vô ích, cuối cùng, với tính cách kiên định và có phần cứng nhắc, Ngài đã xuất hiện trong trang phục cư sĩ với khăn đóng đỏ, xà-rông lụa đỏ, ngồi trước bàn viết và trở thành một thư ký (Sā-yay-gyi) tại một rạp lễ bố thí. Tất cả các bậc thầy và bạn đồng tu khi nghe tin hoặc nhìn thấy cảnh tượng đó đều không khỏi bàng hoàng và tiếc nuối. Để khuyên bảo Ngài U Nārada (nay là Ko Thar Byaw), người ta đã dẫn lời đức Thế Tôn dạy trong (**Tương Ưng Bộ - Chương Một Pháp - Phẩm Không Điều Phục**): "Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-khưu, lại đem đến bất lợi lớn và đau khổ như một tâm không được điều phục, không được hộ trì." Và cũng trong (**Chương Một Pháp - Phẩm Thứ Ba**): "Người tinh tấn trong một giáo pháp không chân chính sẽ chuốc lấy khổ đau, còn người ít tinh tấn lại được an lạc; vì đó không phải là con đường thoát khổ. Ngược lại, trong một giáo pháp chân chính, người tinh tấn sẽ được an lạc, còn người ít tinh tấn phải chịu khổ đau." Qua đó, Ngài so sánh cách vận dụng sự tinh tấn trong và ngoài giáo pháp. Nhìn lại những lời dạy này để thấy rằng không phải cứ có ý chí, nghị lực là đều mang lại lợi ích. ## TRANG 480 Khi thực hiện những việc không mang lại lợi ích hoặc làm việc sai phương pháp, thì tinh tấn bao nhiêu sẽ càng chuốc lấy khổ đau bấy nhiêu, thậm chí là nỗi nhục nhã và tổn thất. Vì vậy, trước khi định làm việc gì, cần phải phân xét kỹ lưỡng xem việc đó có đưa đến đoạn giảm tham, sân, si hay không; đúng hay sai; có được các bậc thiện trí thức như đức Phật tán dương hay không. Dù là việc đúng đắn, cũng phải cân nhắc xem sức mình có thực sự làm nổi hay không, thời gian, hoàn cảnh và địa điểm có phù hợp hay không. Ngay cả đối với những việc thiện lành, nếu tâm thiếu sự chánh niệm, trí tuệ soi sáng, mà lại nỗ lực một cách mù quáng, cố chấp thì cũng không thể mang lại kết quả tốt đẹp. Đối với các hành giả đang dùng công đức Vipassanā để thanh toán những món nợ nghiệp cũ, rút ngắn dần vòng luân hồi, thì tâm càng hăng hái, ý chí càng cao thì càng phải biết cân nhắc sao cho đúng với '**Trung Đạo**' (Majjhima Paṭipadā). Nếu không, dù đang đi đúng hướng nhưng vẫn có thể bị lệch lạc. Sau khi trải qua bao thăng trầm của cuộc đời, trong lúc cuộc sống cư sĩ sau khi hoàn tục vẫn chưa ổn định, Ko Thar Byaw đã được Ngài Trưởng lão **U Mañjūsāra** tại chùa Minh-kun Alae-taw-ya khuyên bảo và dẫn dắt trở lại với đời sống xuất gia. Ngài U Nārada xuất gia lần thứ hai. Chẳng bao lâu sau, Ngài được Ngài Trưởng lão **U Gandhamā** từ thị trấn Let-pan-tan thỉnh mời về giảng dạy giáo pháp. Ngài chỉ ở Let-pan-tan một mùa hạ rồi lại quay về Minh-kun. ### Ngài U Nārada phải bật khóc Sau khi trở về Minh-kun, trong khi đang tiếp tục công việc quản lý tự viện và giảng dạy tại chùa Taung-pā-gyi, Ngài lại nhận được lời thỉnh mời làm trụ trì và giảng sư tại một ngôi làng lớn ở thị trấn Mat-ta-ya. Theo lệnh của Ngài Thầy, Ngài lại phải lên đường. (Đây chính là cách mà giáo pháp và đồ chúng đã "giữ chân" Ngài, không để Ngài có cơ hội tiến sang phương diện Pháp hành - Paṭipatti). Việc làm quản chúng hay giảng sư thì dễ khước từ, nhưng một khi đã mang danh trụ trì thì không dễ gì rời đi ngay được. Ngôi chùa ở làng quê đó có hàng ngũ thí chủ hùng hậu, tăng chúng Sa-di lại đông đúc, nên khi thỉnh được một bậc đa văn túc học như Ngài U Nārada, cả vùng đều vô cùng hoan hỷ. Ngài U Nārada cũng được tự do điều hành theo ý nguyện của mình, ## TRANG 481 Ngài hoan hỷ với việc phụng sự Giáo pháp. Tuy nhiên, không lâu sau đó, ngài gặp phải sự bất đồng về uy tín đối với một số vị Sa-di lớn tuổi và các vị **Tỳ-kheo** (U Pazin) đương thời. Dù ngài đã hết lòng nhẫn nhục, khuyên dạy và thuyết giảng nhưng vì họ không phải là những đệ tử thân cận gắn bó từ thuở nhỏ, nên đúng như câu nói: "Khi vị Tỳ-kheo lớn tuổi đến, đó là kẻ thù của trụ trì", việc quản lý dần trở nên khó khăn. Về sau, ngay cả các học tăng và các vị Sa-di lớn tuổi cũng chịu ảnh hưởng của xu hướng chống đối, việc dạy bảo ngày càng trở nên nan giải. Sợ bị xem là "có học thức nhưng không biết quản lý", ngài đã cố gắng nhẫn nhịn. Thế nhưng cuối cùng, ngài đã phải vào trong phòng trang nghiêm, trùm kín y lên đầu mà khóc nức nở. Khi ấy, danh tiếng của ngài đang bắt đầu lan rộng, cả vùng đều ngưỡng mộ, ngài không biết phải xử trí ra sao. Rời đi đột ngột thì không được, khiến tâm ngài vô cùng khổ não. (Hãy lưu ý đến nghiệp quả khuấy động này). Chính sự phiền toái từ đồ chúng và những kiến thức kinh điển đã thức tỉnh **Ngài U Narada** cần phải thay đổi lộ trình cuộc đời. Người hướng thiện thì không thể làm cho xấu đi, còn người có tâm tính xấu thì khó mà uốn nắn thành tốt. Sau khi khóc cho vơi bớt nỗi niềm, từ ngày hôm sau, tâm kinh cảm (Saṃvega) phát khởi trong ngài. Ngài tự vấn: "Nỗi khổ của sự giận dữ, phiền muộn và khóc lóc thật là thiêu đốt. Liệu có pháp nào giúp thoát khỏi nỗi khổ này chăng?". Ngài tìm kiếm câu trả lời trong khi đọc sách để khuây khỏa tâm hồn. **Sokaparidevānaṃ samatikkamāya** = Bốn phép Tứ Niệm Xứ dẫn đến sự vượt qua sầu não và khóc lóc; **Dukkhadomanassānaṃ atthagamāya** = dẫn đến sự chấm dứt khổ thân và khổ tâm. Khi bắt gặp đoạn kinh văn về Tứ Niệm Xứ này, ngài vui mừng khôn xiết. Tuy nhiên, vì chưa thấu triệt phương pháp thực hành, ngài chỉ mới thử nghiệm các pháp truyền thống như **Niệm Phật** (Buddhānussati) và **Thiền Tâm Từ** (Mettā Kammaṭṭhāna). Một niềm tin mãnh liệt nảy sinh rằng: "Khi đến Mingun, mình sẽ tìm thấy câu trả lời". Do đó, không lâu sau, sau khi đã thưa chuyện ổn thỏa với các bậc thầy và các thí chủ liên quan, ngài đã rời bỏ Phật học viện **Madaya** để lên đường đến chùa **Mingun Taung Paw Gyi**. Khi từ **Madaya** đến **Mingun**, **Ngài U Narada** lại phải chuyển từ chùa Taung Paw Gyi sang chùa **Alal Tawya** để cư ngụ. Lần chuyển đổi này là bước ngoặt tuyệt vời nhất trong cuộc đời ngài. Vị Thiền sư ở chùa Taung Paw Gyi vốn chỉ thực hành Pháp hành (Paṭipatti) ở mức vừa phải, phần lớn thời gian dành cho việc nghiên cứu Pháp học (Pariyatti), và Ngài U Narada cũng từng noi theo gương đó. Tuy nhiên, vị Thiền sư tại **Alal Tawya** lại là bậc thầy thiên trọng về Pháp hành hơn. ## TRANG 482 "Việc học và dạy kinh điển đã quá nhiều rồi. Cứ sống thế này thì sẽ chẳng bao giờ thực hành được Sa-môn hạnh. Mà nếu không thực hành được, thì dù học cao hiểu rộng đến đâu cũng không thể thoát khỏi khổ đau". Tuệ giác ấy vốn như than hồng vùi dưới tro bỗng lóe lên, còn mạnh mẽ hơn cả tiếng sét đánh ngang tai. Qua việc học và dạy, ngài đã đi khắp các vùng, đã nếm trải đủ nỗi khổ của nhân sinh. Tuệ giác "than hồng dưới tro" ấy bắt đầu tháo gỡ từng nút thắt trong cuộn chỉ rối bời của cuộc đời mà bấy lâu nay ngài vô tình ôm giữ. "Cuộc đời mình trong thời gian qua đã có quá nhiều biến động, chỉ còn cách vực thẳm trong gang tấc". Ngẫm lại hành trình từ thuở nhỏ như thể đứng từ trên đỉnh núi nhìn xuống, ngài không khỏi rùng mình kinh hãi. ### Những bậc giữ kho Bất Phóng Dật Vào năm 37 tuổi, **Ngài U Narada** đã định thỉnh giáo phương pháp thực hành thiền quán từ vị Thiền sư trụ trì, nhưng ngài lại được giao phó trách nhiệm quản lý tăng chúng và dạy học. Trước đây, mỗi khi gánh vác trọng trách này, ban đầu ngài thường cảm thấy hài lòng, nhưng lần này, chính trách nhiệm đó lại làm ngài lo sợ. Dù vậy, ngài vẫn không thể từ khước và phải tiếp tục đảm đương. Ý định thỉnh cầu pháp hành lại một lần nữa bị vùi lấp. Một ngày nọ, sau khi xem sách xong, trong lúc ngài đang chú tâm đọc tụng lại những gì đã học, bất ngờ Ngài Hòa thượng trụ trì đi ngang qua và hỏi: "Này **U Narada**, thầy học tập và ghi nhớ kinh điển nhiều như vậy để làm gì?". Ý định vốn đang bị dồn nén bỗng nhiên bộc phát, ngài thưa rằng: "Bạch Ngài, con muốn đạt đến Niết-bàn". "Nếu muốn đạt đến Niết-bàn, chỉ cần thực hành **Bhūtaṃ bhūtato passati** (thấy rõ mọi sự vật như chúng đang là) là đủ rồi". Nói đoạn, Hòa thượng bước đi. Câu nói ấy như tiếng sét thứ hai giáng xuống đầu **Ngài U Narada**. Dường như Hòa thượng đã thấu suốt tâm can và nhìn thấy rõ mọi việc. Nghiệp lực thật kỳ diệu. Nếu biết quan sát bằng **Niệm** (Sati), **Định** (Samādhi) và **Tuệ** (Paññā) thì sẽ thấy rõ điều đó. Ngài U Narada thở phào nhẹ nhõm, miệng lẩm bẩm cụm từ "**Bhūtaṃ bhūtato passati**" và suy ngẫm về ý nghĩa sâu xa của nó. "Hễ thấy rõ thực tại đúng như nó đang là thì sẽ đạt đến Niết-bàn". Ngay lập tức ngài thấu hiểu và quyết tâm thực hành. --- Vào lúc các tổ chức chính trị của chư Tăng, gọi là Thathanathammaggi, đang trỗi dậy, các học tăng ## TRANG 483 trở nên khó dạy bảo, điều này đối với **Ngài U Narada** như một cú hích đẩy ngài nhanh chóng bước vào con đường thực hành Pháp hành. "Này **U Narada**, nếu muốn thoát khổ thì không có con đường nào khác ngoài Tứ Niệm Xứ, **Ekāyano ayaṃ maggo** (đây là con đường duy nhất)". Ngài Hòa thượng đã dạy như vậy, nhưng ngài không chỉ dẫn chi tiết cách thực hành ra sao, và Ngài U Narada cũng không thưa hỏi thêm. Từ trong tiềm thức (subconscious), ngài bắt đầu đối chiếu kinh văn "**Đại Niệm Xứ**" (Mahāsatipaṭṭhāna Sutta) với các bản Chú giải (Aṭṭhakathā) và Sơ giải (Ṭīkā), suy xét đi suy xét lại nhiều lần. Trong lúc ngài đang dốc lòng nghiên cứu các tài liệu về Tứ Niệm Xứ để chuẩn bị buông bỏ tất cả mà tu tập, thì ý định viết bản Chú giải "**Peṭakopadesa Aṭṭhakathā**" lại hiện ra ngăn trở. Cái danh xưng "Bậc thầy Chú giải" hào nhoáng chính là vũ khí cuối cùng mà **Ma vương** (Māra) sử dụng. Lúc bấy giờ Ngài U Narada có lẽ chưa nhận ra, nhưng thiện nghiệp của ngài đã tạm thời ngăn chặn được hiểm họa đó. Chẳng bao lâu sau, ngài xin phép Hòa thượng rời khỏi tăng đoàn, đi vào khu rừng cách chùa **Alal Tawya** khoảng bốn furlong (tầm 800m) về phía Tây. Một thiền thất nhỏ do vị nữ tu trưởng **Daw Ei** ở hang Gu Kalay cúng dường đã giúp ngài có nơi nương tựa. Tại đó, ngài tri túc với những gì đang có và kiên trì thực hành "**Pháp hành Bất Phóng Dật - Tứ Niệm Xứ**" không ngừng nghỉ. (Nơi này hiện nay được gọi là khu phía Tây của chùa Alal Tawya). Kể từ thời điểm đó, có thể nói trách nhiệm dạy bảo của vị Thiền sư chùa Taung Paw Gyi và Thiền sư chùa Alal Tawya đối với ngài đã hoàn tất. Hai vị Hòa thượng này giống như **Trưởng lão Siggava** và **Trưởng lão Caṇḍavajjī**, những người đã dành thời gian dìu dắt vị Bồ-tát tương lai **Moggaliputta Tissa** bước vào đường đạo. **Trưởng lão Siggava** đã dẫn dắt Ngài Moggaliputta Tissa xuất gia và ngay lập tức thúc đẩy việc thực hành Pháp hành. Tuy nhiên, vì Ngài Tissa còn trọng trách tổ chức cuộc Kết tập Tam tạng lần thứ ba để phụng sự Giáo pháp, nên Trưởng lão chỉ hỗ trợ ngài đạt đến đạo quả Dự lưu (Sotāpanna), đủ để ngài không rời xa Giáo pháp và có tuệ giác định tĩnh chín muồi, chứ chưa đưa ngài đạt đến quả vị Alahan ngay. Thấy ngài đã nếm trải hương vị Pháp (Dhammarasa), sợ ngài sẽ sống an nhiên mà quên đi Phật sự, Trưởng lão chưa để ngài đạt đến cứu cánh cuối cùng. Sau đó, ngài được gửi đến **Trưởng lão Caṇḍavajjī** để học tập Pháp học. Ngay từ thời Sa-di, ngài đã trở thành bậc **Tam Tạng Pháp Sư** (Tipiṭakadhara). (Trích Chú giải Luật Tạng, tập Pārājika, trang 30-31). Thực tế, hai vị Hòa thượng ở Taung Paw Gyi và Alal Tawya đều là những đệ tử thừa hưởng gia tài **Bất Phóng Dật** (Appamāda) từ **Ngài Thiền sư Thilon**, bậc thầy của vua Pagan và vua Mindon, một vị đã đắc sức mạnh tâm linh và thần thông (Jhāna Abhiññā). Vào thời đó, vị Thiền sư chùa Alal Tawya thậm chí còn được xưng tụng là bậc "A-na-hàm". Các ngài đã tự mình tận hưởng hương vị của sự Bất Phóng Dật đó và tiếp tục bảo tồn kho tàng quý báu này... ## TRANG 484 Nhưng đó chỉ là chuyện của quá khứ. (Trước đó, Ma Vương đã ra tay trước khiến chư thiên chỉ còn biết khoanh tay đứng nhìn.) Sự sắp đặt của các nghiệp quả thật kỳ diệu và nằm ngoài tầm hiểu biết của trí tuệ thông thường. Nếu chúng ta có thể quán chiếu được rằng "nhân này dẫn đến quả kia, quả này phát sinh từ nhân nọ" (như những bậc tiền bối cao thượng đã dùng cả cuộc đời để chứng minh), chúng ta sẽ thấy rõ bản chất của những "tạp chất" luôn tìm cách trì hoãn, làm chệch hướng hoặc can thiệp vào tiến trình nhân quả ấy. Chỉ khi đó, chúng ta mới có thể "nhìn thấy hiểm nguy từ xa" trước khi nó ập đến. ### Tuệ giác tự thân không lay chuyển Ngài **U Nārada** đã nỗ lực không ngừng nghỉ, hy sinh cả mạng sống để thực hành giáo pháp **Appamāda** (Không phóng dật). Nhận thấy lợi ích to lớn của pháp Tứ Niệm Xứ (Satipaṭṭhāna), ngài không khỏi trăn trở cho vận mệnh giáo pháp: "Trong Tạng kinh (Pāḷi) đã dạy rất rõ ràng, trong các bộ Chú giải (Atthakathā) và Phụ chú giải (Ṭīkā) cũng đã giải thích rành mạch, vậy mà sao lại chẳng có ai thực sự bắt tay vào thực hành?" Kể từ đó, ngài càng quyết tâm dấn thân tu tập tinh tấn hơn nữa. Tứ Niệm Xứ chính là việc quan sát và hay biết liên tục không sót mọi cử động của sắc thân cũng như mọi sự suy nghĩ, biến chuyển của tâm (danh pháp). Phương pháp này vốn dĩ rất rõ ràng và đơn giản. Đầu tiên, hành giả phải quan sát và ghi nhận các cử động đi đứng, co duỗi (về phần sắc). Sau đó, ghi nhận sự suy nghĩ, tác ý (về phần danh). Khi ghi nhận rằng tâm muốn đi phát sinh trước rồi hành động đi (sắc) mới theo sau, hành giả sẽ dần nhận diện được những mầm mống sơ khởi của tâm. Càng thực hành, chánh niệm càng trở nên khăng khít, đề mục ghi nhận cũng ngày một nhiều và tinh tế hơn. Khi ấy, những quan niệm sai lầm về "cái tôi xinh đẹp, hạnh phúc và trường tồn" sẽ hoàn toàn đảo ngược trước cái nhìn tuệ giác. Những lớp vỏ bọc chế định như trang phục, oai nghi hay sự liên tục của các uẩn (santati-ghana) đều hoàn toàn rơi rụng. Ví dụ, muốn phân biệt một người là thiện hay ác, ta phải luôn theo sát và quan sát kỹ lưỡng mọi hành động, mối quan hệ của người đó như một thám tử. Chỉ khi ấy, sự thật giữa những gì ta nghe, ta tưởng với những gì mắt thấy tai nghe mới hiển lộ, giúp ta đưa ra được sự phán đoán và kết luận chuẩn xác cho chính mình. Vì "tiếng ồn là kẻ thù của **Thiền định** (Samādhi)", Ngài **U Nārada** cảm thấy mệt mỏi với ngôi chùa cũ nằm gần khu dân cư náo nhiệt nên đã chuyển đến trú ngụ tại hang Thammone Chat. Sau ba năm độc cư, vào năm 40 tuổi, ngài đã đạt được thành tựu: ## TRANG 485 Giống như mở tung cánh cửa đang che lấp sự thật, hay như thắp lên ngọn đèn trong căn phòng tối tăm, lần đầu tiên ngài đã chứng ngộ được cốt tủy của cuộc đời. Như một cột trụ vững chãi được chôn sâu dưới đất không hề lay chuyển trước những cơn gió thổi đến từ bốn phương, ngài đã thấu hiểu ý nghĩa của danh sắc và cuộc đời một cách kiên định, không một tà thuyết hay quan điểm sai lệch nào của nhân, thiên hay phạm thiên có thể làm rúng động được nữa. **Bhūtaṃ bhūtato passati** = Ngài đã nhìn thấy sự vật như chúng đang là. ### Dẫu giảng đến khô cổ cũng chỉ nhận lại sự mệt mỏi Sau khi tự mình thực chứng pháp hành Tứ Niệm Xứ (**Appamāda**) và khởi tâm tôn kính, tin tưởng tuyệt đối (bằng đức tin do chứng ngộ - adhigama-saddhā) vào các ân đức "Thiết thực hiện tiền" (Sandhiṭṭhika) và "Không có thời gian" (Akālika), Thiền sư **U Nārada** tại chùa Mingun Alae Tawya bắt đầu xiển dương ân đức "Đến để mà thấy" (Ehipassika). Trong suốt ba năm đó, dù một số người coi ngài là một vị sư kỳ lạ, nhưng khi họ dần tìm đến nghe pháp, ai nấy đều ngỡ ngàng trước những lời dạy khác lạ của ngài: "Đi – ghi nhận là đang đi; dừng – ghi nhận là đang dừng; ngồi – ghi nhận là đang ngồi; nằm – ghi nhận là đang nằm." Sau ba năm, không chỉ tiếp những người đến hỏi đạo, ngài còn chủ động tìm cơ hội để thuyết giảng. Gặp bất kỳ ai, ngài cũng đều giảng dạy pháp hành ấy, khiến người nghe không khỏi kinh ngạc. "Đây chính là pháp Tứ Niệm Xứ mà cha mẹ, ông bà các con vẫn thường đọc tụng khi lễ Phật. Đây không phải là kinh để đọc suông, mà là pháp để thực hành. Đức Phật đã dũng mãnh khẳng định rằng nếu thực hành trong bảy ngày, các con có thể đắc chứng Niết-bàn. Hãy cố gắng lắng nghe, thực hành và đừng nghi ngờ." Tuy nhiên, vì đây là những lời dạy quá mới mẻ chưa từng được nghe qua, người nghe kẻ thì cười cợt, người thì mỉa mai. Họ phản bác và nhạo báng rằng: "Đi mà biết đi thì ai chẳng biết, ngay cả chó lợn cũng biết vậy thôi", hoặc "Đó chỉ là thiền định (samatha) thôi, là pháp chế định (paññatti) thôi". Dù bị phản đối và hạ thấp như thế, Ngài **U Nārada** vẫn không hề bỏ cuộc. "Họ có mê muội thì cứ để họ mê muội, ta vẫn phải thuyết giảng cho đến khi họ quen tai thì thôi", ngài kiên trì tự nhủ. Tuy nhiên, dù ngài có giảng đến khô cổ thì cũng chỉ nhận lại sự mệt mỏi. Suốt một năm trôi qua, vẫn chẳng có lấy một người nào chịu bắt tay vào thực hành thiền tập. Có lẽ vì quan niệm "yêu quý người mới mến mộ đạo", khi thấy không có ai ở Mingun chịu nghe và thực hành theo, Ngài **U Nārada** quyết định trở về quê hương để ## TRANG 486 dùng giáo pháp để báo đáp thâm ân. Điều này cũng giống như "khi được ăn ngon thì nhớ đến người thân thiết", đồng thời cũng là để thực hành **Ñātattha-cariyā** (Pháp hành vì lợi ích cho thân quyến). Khi về đến làng, ngài dựng một trú xứ thiền giữa rừng Kyaukpyok Kone, phía đông làng Kangyikone để cư ngụ. Trước đó, vị sư trụ trì chùa Moatgyisu Tawya là Ngài **U Lakkhaṇa** đã nói với những người thân cận rằng ông đã nằm mơ thấy một con bạch tượng đến quỳ phủ phục tại đây. Kể từ ngày đến nơi, Ngài **U Nārada** không bỏ lỡ một ai, dù là một người hay mười người tìm đến, ngài đều ban bố thời pháp. Thế nhưng, tình hình ở quê nhà thậm chí còn tệ hơn ở Mingun. Người dân bắt đầu chế giễu ngài: "Đi – biết đi, ăn – biết ăn, nhai – biết nhai, nuốt – biết nuốt, nghẹn – biết nghẹn, chạm – biết chạm, nhéo – biết nhéo". Vì đây là nơi ngài sinh trưởng nên sự phê bình từ những người quen biết lại càng trở nên thiếu nể nang và cay nghiệt hơn theo kiểu "bạn bè lâu ngày gặp lại". Nhưng Ngài **U Nārada** không hề nản lòng, ngài vẫn tiếp tục thuyết giảng. Dần dà, lượng người ra vào chùa cũng thưa thớt hẳn. Một người thị giả thân tín, vốn đã nghe quá nhiều lời bàn tán trong làng, vì lo lắng cho ngài nên một ngày nọ đã thưa rằng: "Bạch Ngài, mọi người đang bàn tán rằng: Vị sư này đang bày đặt ra những thứ kỳ lạ, thuyết những pháp mà người khác không thuyết, chỉ những pháp mà người khác không chỉ, ban những pháp mà người khác không ban, và thực hành những pháp mà người khác không thực hành." Ngài **U Nārada** nghe xong chỉ mỉm cười và ôn tồn đáp lại: "Có thuyết những pháp mà người khác chưa thuyết, thì người ta mới được nghe những điều chưa từng nghe. Có ban những pháp mà người khác chưa ban, thì người ta mới nhận được những gì chưa từng có. Có thực hành những gì người khác chưa thực hành, thì mới có thể chứng ngộ được những pháp đặc biệt mà người khác chưa thấy, từ đó mới hưởng được những lợi ích thù thắng, con ạ." Tuy đã khẳng định như vậy, nhưng sau một mùa an cư mà kết quả vẫn không như mong đợi, ngài đành phải quay trở lại Mingun. Trong công cuộc độ hóa thân quyến này, Ngài **U Nārada** đã không thi thố các thần thông biến hóa như phun nước, phun lửa để khiến họ tin phục. Trong mắt họ, ngài vẫn chỉ là "U Thar Byaw" (tên tục của ngài) ngày nào, nên việc không ai muốn lắng nghe hay thực hành theo cũng không phải là điều gì quá lạ lẫm. Nghiệp lực của chúng sinh quả thật thường khiến họ lỡ mất những cơ hội quý báu. ### Chỉ khi kiên định mới mong thành tựu Dù trong suốt hai năm qua Ngài **U Nārada** không tìm được ai muốn thực hành, thậm chí số người muốn nghe pháp cũng thưa dần, nhưng ngài vẫn không hề nản chí. Với tâm nguyện mãnh liệt và kiên định, ngài vẫn tận dụng mọi cơ hội để thuyết giảng. Một ngày nọ, tại vùng phụ cận Mingun... ## TRANG 487 # Các Bậc A-la-hán và Những Vị Đặc biệt 431 Gia đình ông bà môi giới trung gian **U Thi** (U Thit) - **Daw Kyaut** từ chợ Thure Zay, thành phố Mandalay, những người đang giữ giới bát quan dài ngày, đã tìm đến để nghe pháp về điều mà họ nghe đồn là "vô cùng kỳ diệu". Không thỏa mãn với việc chỉ dừng lại ở mức nghe, họ đã thỉnh cầu được thực hành thực tế. Ngài Thiền sư đã chỉ dạy cho họ lợi ích của pháp Tứ Niệm Xứ (Satipaṭṭhāna) cùng với phương pháp quán chiếu (vipassanā). Đầu tiên, Ngài hướng dẫn cách quán chiếu phần Sắc (Rūpa) bằng cách phối hợp phần Oai nghi (Iriyāpatha) và phần Tỉnh giác (Sampajañña). Đúng như lời dạy trong luận Vô Tị Giải Pháp (Visuddhimagga): "Khi đã thấu triệt được Sắc thì Danh (Nāma) cũng sẽ tự nhiên hiện khởi rõ rệt", sau khi hành giả đã làm chủ được phần Sắc, Ngài tiếp tục hướng dẫn quán chiếu các trạng thái của Danh. Chỉ sau khoảng bốn, năm ngày, bản thân hành giả đã có thể cảm nếm được hương vị của giáo pháp, khiến cả hai vợ chồng đều trở nên hăng hái và phấn khởi. Họ đã nhận ra được thứ hạnh phúc không hề có ở cõi người hay cõi trời (theo Đại Sớ - Mahāṭīkā), thứ hạnh phúc mà những người không thực hành không thể nào biết được (**Amānusī rati** - hỷ lạc siêu nhân). Vì đạt được điều này chỉ trong vài ngày, họ không còn cảm thấy mệt mỏi mà càng muốn tiến sâu hơn nữa vào việc quán chiếu. Ngài Thiền sư cũng quan sát thái độ của hành giả để điều chỉnh sao cho phù hợp (không quá căng, không quá chùng). "Này nam nữ cư sĩ, khi quán chiếu, đừng cố làm cho nó sanh, cũng đừng cố làm cho nó diệt. Chỉ cần hay biết cái đang sanh và đang diệt mà thôi. Cố làm cho sanh là Tham (Lobha), cố làm cho diệt là Sân (Dosa), còn không biết rõ sự sanh diệt là Si (Moha)." Lời pháp thẳng thắn, không dùng âm điệu mỹ miều của Pali, khiến những người bình thường có khi không hiểu Ngài đang nói gì, nhưng đối với vợ chồng ông bà môi giới, đó lại là những lời thấm thía đến tận xương tủy, khiến họ vô cùng an lạc và mãn nguyện. Họ hiểu ngay lập tức thái độ tâm lý cần có khi quán chiếu, trí tuệ bừng sáng. Từng ngày một, Ngũ Quyền (Indriya) gồm: **Tín (Saddhā)**, **Tấn (Viriya)**, **Niệm (Sati)**, **Định (Samādhi)**, **Tuệ (Paññā)** của họ ngày càng nhạy bén, phấn chấn và trở nên cân bằng. Chỉ trong vòng một tháng rưỡi đến hai tháng, họ đã đạt được sự sáng suốt của trí tuệ mà không ai có thể làm lay chuyển được. Sau đó, **U Nyunt** (em trai ông U Thi), một bà lão giữ giới từ thành phố Phyu (người sau này cũng đắc pháp và xuất gia thành Tu nữ trưởng lão **Daw Kusala** ở Mawlamyine), ông **U Khin** ở Kanyutkwin (người sau đó xuất gia với pháp danh **U Medhāvī**), ông **U San Dun** ở Myothla (bạn của ông U Khin), cùng nhiều hành giả mới từ khắp các tỉnh thành đã tìm đến theo lời truyền miệng. Tại chùa Jetawa, phía tây khu Alattauya ở Mingun, đã có những hành giả lưu lại thực hành kiên trì suốt bốn, năm tháng. Cùng với danh hiệu "Ngài Thiền sư Jetawun", tiếng vang của pháp "Tứ Niệm Xứ" bắt đầu lan tỏa khắp nơi, mọi người dần trở nên quen thuộc với danh từ này. Ý chí quyết đoán, sắc bén và tinh thần kiên định đến cùng của Ngài Thiền sư đã được vận dụng đúng chỗ vào một công việc đúng đắn như pháp Tứ Niệm Xứ. ## TRANG 488 Mọi thứ trở nên ăn khớp hoàn toàn. Để khai quật được kho báu vĩ đại vốn đã bị chôn vùi và lãng quên suốt thời gian dài, phải cần đến tâm thế và sự nỗ lực như vậy mới có thể đào xới lên được. ### Bốn Thánh Đế từ chiếc muôi khuấy Như câu nói "từ một người khởi đầu đến hàng trăm người", theo lời khuyến tấn của các cựu hành giả từ khắp phương xa, số lượng hành giả tìm đến ngày một tăng. Đặc biệt, những hành giả mới từ thành phố Myothla - nơi ông **U San Dun** sinh sống - đã tìm đến Mingun hành thiền đạt kết quả rất khả quan nhờ sự khuyến khích của ông. Khi ông **U San Dun** đến Mingun thực hành, ông đã ở lại khoảng chín tháng, và bài pháp Ngài Thiền sư dành cho ông lúc bấy giờ là bài pháp "nấu mứt Tứ Đại Ngọt" (Catumadhu). Ngài Thiền sư thường quan sát thái độ của hành giả để điều chỉnh đề mục và đối tượng quán chiếu cho phù hợp. Giống như Ngài **Sāriputta** (Xá-lợi-phất) khi dạy đề mục tử thi (Asubha) cho vị tỳ-kheo con của người thợ vàng không hiệu quả, Đức Thế Tôn đã thấu suốt căn cơ và sở thích của vị ấy nên đã hóa hiện một hồ sen và bảo vị ấy quán cánh hoa sen (Kinh Tittha Jātaka - Tiểu bộ kinh). Việc không có thần thông mà phải thẩm thấu để chỉ dạy đề mục cho đúng là một việc không hề dễ dàng. Một ngày nọ, Ngài bảo ông **U San Dun** ra giữa trời nắng gắt để khuấy một nồi mứt Catumadhu (gồm bơ, đường cứng, dầu, mật ong). Ông phải quán sát cử động của bàn tay và hay biết "khuấy, khuấy". Công việc này dưới cái nắng nóng gay gắt khiến mồ hôi nhễ nhại, cực kỳ khó nhẫn nại. Phải khuấy liên tục không nghỉ suốt một đến hai tiếng đồng hồ để bốn loại nguyên liệu hòa quyện vào nhau, là một việc rất mỏi tay. (Càng lâu càng tốt, càng khó càng hay để rèn luyện tâm không nôn nóng). Chiếc muôi khuấy trong nồi mứt Catumadhu ấy đã dạy cho ông **U San Dun** về Bốn Thánh Đế. Vì vậy, trong số các đệ tử của Ngài Thiền sư, ông **U San Dun** được tán thán là người có tuệ quán (Bhāvanā-ñāṇa) rất nhạy bén. Điều này gợi nhớ đến thời Đức Phật, có vị chứng đắc A-la-hán khi đang xào rau, khi đang rửa chân. Điểm này chỉ dạy cho hành giả rằng: "Dù làm bất cứ việc gì, dù ở bất cứ đâu, phải luôn giữ chánh niệm áp sát trên đối tượng". Trong Chú Giải cũng nói rằng, ở đảo Sri Lanka, không có một nhà ăn (Zayat) nào mà không có người đắc quả A-la-hán tại đó. Khi ăn cũng phải có chánh niệm. Dưới sự dẫn dắt của ông **U San Dun**, các hành giả ở Myothla đã thỉnh mời Ngài Thiền sư về và thành lập trung tâm thiền đầu tiên tại đồi Bo-te, thành phố Myothla vào năm 1273 (Miến lịch). Ngài đã lưu lại đó hai mùa hạ để truyền dạy giáo pháp. Từ thời điểm đó, tiếng trống pháp Tứ Niệm Xứ đã được vang dội đến các thành phố như Yedarshe, Phyu, Daik-U, Taungoo, Kanyutkwin, Bago, Maubin, Pyay, Letpadan, Hinthada, Pyawbwe, Pyinmana... Vì pháp Tứ Niệm Xứ khi đó còn quá mới mẻ, nên ở bất cứ nơi nào Ngài đến cũng có rất nhiều người nghi ngờ, chất vấn: "Tại sao lại thế này? Như vậy là sao?" hoặc thậm chí có những người tìm cách công kích, bắt bẻ. ## TRANG 489 Đặc biệt, khi Ngài nhận lời thỉnh mời của nữ thí chủ **Daw Khin** tại thành phố Shwegyin để đến thuyết pháp, Ngài đã bị một nhóm người vây quanh ném đá và chai lọ. Với tâm nhẫn nhục, Ngài đã kiên cường chịu đựng tám ngọn gió đời (Loka-dhamma) giống như một thăng tượng ngoài chiến trận dũng cảm chịu đựng những lướt tên bắn tới từ bốn phương. Ngài hiểu rằng đó là những viên đá, chai lọ mà Ma vương đã đưa vào tay những kẻ thiếu trí tuệ nên Ngài hoàn toàn có thể bao dung và tha thứ. Khi đang thuyết pháp, đá và chai ném trúng khiến máu trên đầu Ngài chảy xuống ròng ròng. Nghe nói ngay trong đêm đó, chính vị tu sĩ thông kinh thạo luật - người đã xúi giục đám đông - đã phải đích thân đến xin lỗi và đảnh lễ Ngài. ### Cái "Tôi" đáng thương Thành phố Myothla là nơi đầu tiên mở đường cho các khóa thực hành Tứ Niệm Xứ. Tại đây, cũng cần nhắc đến câu chuyện về Tu nữ trưởng lão **Daw Uttarā** ở Myothla. **Daw Uttarā** là một tu nữ già yếu, sống tại một ngôi đình cũ (Zayat) nằm trong khuôn viên một ngôi chùa. Bà không có ai thân thích bên cạnh để sai bảo hay nhờ vả, thường ngày chỉ bầu bạn với chiếc gậy gỗ. Cuộc sống ăn ở của bà rất thiếu thốn. Có một vị Sa-di tại ngôi chùa đó học hành rất xuất chúng, sau này trở thành một giảng sư (Sayadaw) nổi tiếng tại một đại học viện ở Mandalay. Trong một lần trở về thăm chùa cũ (vị này chợt nhớ ra bà lão sắp gần đất xa trời, dù trước kia chưa từng chào hỏi hay đoái hoài tới), vị giảng sư đã mang theo bánh trái đến đình để thăm hỏi. Thấy bà không có ai bầu bạn, vị ấy cảm thấy vô cùng thương xót. Với ý định sách tấn bà lão lúc cuối đời, vị hòa thượng trẻ thuyết giảng: "Sư bà đã cao tuổi rồi, nên cố gắng lần chuỗi hạt, hãy luôn hướng tâm vào pháp **Phật tùy niệm** (Buddhānussati) nhé...". **Daw Uttarā** cung kính lắng nghe. Tuy nhiên, sau một hồi trò chuyện, vị giảng sư trẻ đã vô cùng kinh ngạc trước những lời của bà. "Kính bạch Ngài, từ khi Ngài Thiền sư Mingun đến đây, con đã nắm được pháp Tứ Niệm Xứ trong tay thì không cần đến chuỗi hạt nữa rồi. Xin các vị sư trẻ cũng hãy cố gắng khi còn sức, bởi cái hạnh phúc không cần sự bầu bạn chỉ có ở nơi này thôi. Sáu **Nội xứ** (**Ajjhattika Āyatana**) gồm mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý ngày càng trở nên nhạy bén sắc sảo lạ thường, khiến việc nhìn, nghe, biết của con không giống như những người bình thường nữa. Con nghe, thấy và biết một cách tập trung và sâu sắc hơn nhiều. Đừng nói chi xa xôi, như tiếng của ban nhạc lễ (Saing Waing) đang đánh kia, trước đây con chỉ nghe thấy những âm thanh ồn ào hỗn tạp trong tai thôi...". --- # Tóm tắt Bối cảnh — Tiểu Sử Alahan > Sau batch: output-487-to-489 ## Nội dung đã dịch đến nay Giai đoạn Ngài Thiền sư Mingun (Mingun Jetawun Sayadaw) bắt đầu truyền bá mạnh mẽ pháp môn Tứ Niệm Xứ. Bối cảnh diễn ra tại Mingun và thành phố Myothla. Các nhân vật quan trọng bao gồm những hành giả đầu tiên đắc pháp (ông bà U Thit, U San Dun) và các tu nữ, tu sĩ thực hành nghiêm túc. Văn phong nhấn mạnh vào sự thực chứng, nhẫn nhục trước chướng ngại và sự chuyển biến nội tâm của người hành thiền. ## Batch vừa hoàn thành - Nội dung chính: Sự lan tỏa của pháp Tứ Niệm Xứ từ Mingun đến các tỉnh; bài học về Bốn Thánh Đế qua hoạt động khuấy mứt của ông U San Dun; sự nhẫn nhục của Ngài Thiền sư khi bị ném đá tại Shwegyin và tuệ giác của tu nữ lão thành Daw Uttarā. - Số trang: 487-489 ## TRANG 490 “Dù ông có đánh trống nhanh đến mức nào đi nữa, vì ông đánh từng tiếng một nên âm thanh phát ra cũng tách biệt, tôi nghe rõ mồn một tiếng của từng mặt trống nhỏ thưa Ngài. Không chỉ vậy, từ lúc âm thanh vừa khởi lên cho đến khi dứt hẳn, tôi đều nhận biết được sự tiếp nối của tiến trình sinh diệt của âm thanh đó. Trước đây, tôi không chỉ lầm tưởng về tính liên tục (paññatti) của âm thanh mà còn tưởng rằng chúng vang lên cùng một lúc thành một khối.” Khi Ngài chuyển lời thuật lại này đến tác giả, Ngài đã bảo: “Ta vốn định đến để an ủi vì thấy bà ấy tội nghiệp, nhưng hóa ra bà ấy lại là người đang cảm thương cho sự thiếu sót của ta. Ta thật không ngờ bà ấy lại đạt đến mức độ hiểu biết như vậy.” ### Phương pháp tự thôi miên của Đức Phật Thông qua sự hiểu biết cá nhân, bà Daw Uttara đã mô tả một cách rõ nét sự tinh nhạy của nhãn thanh triệt (sotapasāda - khả năng nghe nhạy bén). Tương tự như vậy, năm căn thanh triệt còn lại cũng trở nên trong trẻo, sắc bén và tinh nhạy như một mặt gương không vướng chút bụi trần. Không chỉ riêng hành giả, ngay cả trong thế giới thế tục cũng có bộ môn gọi là “thuật ngủ tâm lý hay thuật thôi miên”. Trong bộ môn đó, người bị thôi miên có thể kể lại những trải nghiệm từ quá khứ xa xôi, hoặc có thể đọc được những ngôn ngữ xa lạ mà họ chưa từng được học qua. Qua nhiều phương thức thử nghiệm và nghiên cứu, người ta nhận thấy rằng cả sáu nội xứ thanh triệt (các giác quan) đều có những khả năng đặc biệt và nhạy bén đến mức khó tin. Tuy nhiên, đó chỉ là những kết quả không trọn vẹn, mang tính cục bộ mà các đạo sư thế gian có thể chạm tới qua những thử nghiệm thô sơ bên ngoài mà thôi. Những hành giả thực hành pháp hành thiền (kammaṭṭhāna) thực chất cũng giống như những người đang tự thôi miên chính mình. Do đó, việc họ đạt được những khả năng nghe và thấy đặc biệt, vượt trội hơn người thường cũng không có gì đáng ngạc nhiên. Nếu duy trì được chánh niệm, hành giả đều có thể đạt được những tuệ giác dù nhỏ hay lớn. “Tuệ giác lớn” ở đây chính là sáu loại thắng trí (*abhiññā*), bao gồm cả Thiên nhãn thông (*dibbacakkhu*). Trong giáo lý nhà Phật cũng có rất nhiều phương pháp để thu hút và nhiếp hóa người khác đi theo con đường chân chánh một cách dễ dàng vì lợi ích của chính họ. Tôi lấy ví dụ so sánh với các bộ môn thế gian chỉ để quý vị dễ hình dung hơn, xin chớ vì thế mà nghĩ rằng điều này làm giảm đi giá trị cao quý của giáo pháp. Tóm lại, những phẩm hạnh như Thế Gian Giải (*Lokavidū*) của Đức Thế Tôn đều là kết quả nảy nở từ việc thực hành hơi thở (ānāpāna). Nếu thấu hiểu được điều này, quý vị sẽ càng thêm phần cảm phục và khởi tâm trong sạch nơi giáo pháp. ## TRANG 491 ### Chuyến hoằng pháp đầy duyên khởi Sau hai năm trú tại Myolha, theo lời thỉnh mời của các hành giả tại Mawlamyine, Đại đức cùng với cận sự nam U San Dun lên tàu hỏa khởi hành. Đó là năm 1275 (Miến lịch). Khi đó, tỳ-kheo U Kelāsa trú tại chùa dưới Meghavan thuộc thành phố Thaton cũng ra ga tiễn một vị thầy khác. Tình cờ gặp Đại đức, vị này mới hỏi rằng: “Bạch Ngài, Ngài từ đâu đến ạ?” Đại đức đáp: “Ta từ Myolha đến.” Nghe vậy, vốn đã từng nghe danh tiếng từ trước, vị này hỏi tiếp: “Vậy... Ngài có biết vị thiền sư Mingun không ạ?” Đại đức dừng lại một chút rồi đáp: “Chính là ta đây.” Khi đó, Đại đức U Kelāsa vốn đang tìm kiếm một vị thiền sư dạy thiền nên khi được diện kiến Ngài, vị ấy vô cùng vui mừng và hân hoan. Vị ấy hỏi tiếp: “Bạch Ngài, hiện giờ Ngài dự định đi đâu ạ?” Ngài đáp: “Ta định đi Mawlamyine.” Với lòng nhiệt thành muốn biết thêm, vị ấy lại hỏi: “Bạch Ngài, Ngài đi có việc gì ạ?” Ngài chậm rãi đáp một cách không chắc chắn: “Vì các đệ tử thỉnh mời nên ta đi, nếu thời tiết và điều kiện thích hợp (sappāya) thì có lẽ ta sẽ tạm trú lại đó một thời gian.” Nghe vậy, Đại đức U Kelāsa chợt nảy ra ý định và thưa rằng: “Bạch Ngài, nếu Ngài muốn hoằng pháp ở vùng hạ lưu này thì không nơi nào tốt hơn Thaton. Trong vùng này không có nơi nào mà con chưa từng ở qua.” Nói xong, vị ấy dùng những lời lẽ chân thành để thuyết phục và thưa tiếp: “Con là tỳ-kheo Kelāsa ở chùa Meghavan. Từ khi nghe danh tiếng của Ngài, con luôn đặt trọn niềm tin và sự kính trọng. Nếu Ngài không chê trách, xin thỉnh Ngài về chùa của chúng con để hoằng pháp trong một mùa hạ này. Nếu Ngài có thể tạm trú lâu dài, con xin nguyện lo liệu mọi việc hộ độ (veyyāvaccasamāpana) để Ngài được thân tâm an lạc mà hoằng dương giáo pháp, đồng thời cũng là để con được vun bồi ba-la-mật.” Vị ấy khẩn khoản nài ép Ngài nhận lời. Đại đức trầm ngâm suy nghĩ một hồi. Ngài sực nhớ về truyền thống cổ xưa của vùng đất Suvaṇṇabhūmi, nơi giáo pháp bắt đầu khởi nguồn tại Thaton, và nảy ra ý định: “Nếu giáo pháp Tứ Niệm Xứ có thể bắt đầu lan tỏa từ nơi này thì thật tốt.” Vì vậy, Ngài quyết định không đi tiếp đến Mawlamyine nữa mà xuống tàu và ở lại Thaton. Để quý vị có thể cảm nhận được vẻ đẹp kỳ diệu của những nhân duyên vô hình, tôi xin ghi lại lời thuật của Đại trưởng lão U Kelāsa. Vì tính cách của Ngài U Kelāsa vốn thẳng thắng và dứt khoát nên Ngài đã thỉnh mời một cách quyết liệt. Còn Đại đức, dù chưa hề quen biết từ trước, cũng đã chấp thuận và đi theo sự thỉnh mời của Ngài U Kelāsa ngay lập tức. Các vị trưởng lão bạn hữu khi ấy còn có lời trách khéo Ngài U Kelāsa vì sự đường đột này. ## TRANG 492 ### Bài pháp đầu tiên chào đón vùng đất Thaton Mặc cho ai nói gì, Đại trưởng lão U Kelāsa vẫn vô cùng hân hoan và không hề thấy mệt mỏi. Vị ấy thỉnh Ngài trú tại một ngôi trường lớn dài 60 hắc tay, và ngay trong đêm đó đã thỉnh cầu Ngài ban cho thời pháp đầu tiên. Ngay khi được sự chấp thuận, vị ấy đã đi khắp nơi loan báo cho mọi người cùng đến lắng nghe trong niềm hân hoan. Đại đức cũng gạt đi nỗi mệt nhọc sau chuyến hành trình để nhiệt tâm thuyết giảng thời pháp đầu tiên. Bài pháp mà Ngài thuyết là kinh Đại Lục Xứ (*Mahāsaḷāyatanika Sutta*) thuộc phần *Uparipaṇṇāsa Pāḷi*. Ngài trích dẫn các đoạn Pāḷi bắt đầu bằng: **“Cakkhuṃ bhikkhave ajānaṃ apassaṃ yathābhūtaṃ...”** rồi giải thích sang tiếng Việt. Ngài thuyết giảng một cách sâu sắc và đúng theo lời Phật dạy, không thêm thắt điều gì về việc: “Vì không thấu rõ bản chất thật sự của nhãn căn (mắt) nên chúng sinh mới khởi tâm tham ái, đưa đến sự chấp thủ vào thân và chịu đủ mọi loại khổ đau trong vòng luân hồi. Nếu hằng ngày hằng giờ biết tỉnh giác ghi nhận thì các pháp thuộc Bồ-đề phần (*bodhipakkhiyadhamma*) như Tứ Niệm Xứ sẽ được bồi trưởng. Khi đó, thiền định (*samatha*) và thiền tuệ (*vipassanā*) sẽ cùng song hành như một đôi bò cùng kéo một chiếc xe; hành giả sẽ nắm vững bốn nhiệm vụ: hiểu rõ khổ, đoạn tận nguồn gốc của khổ (tập), chứng đắc sự diệt khổ (diệt) và tu tập con đường thoát khổ (đạo).” Những lời thuyết giảng đầy uy lực ấy đã chạm sâu vào tâm khảm của Ngài U Kelāsa, gặp đúng lúc duyên lành ba-la-mật chín muồi nên vị ấy đã thấu triệt hoàn toàn. Kể từ thời điểm đó, phong trào học tập và thực hành pháp thiền Tứ Niệm Xứ tại thành phố Thaton bắt đầu lan rộng nhanh chóng. Nhờ sự vận động và sắp xếp của Ngài U Kelāsa, số lượng hành giả ngày càng đông đến mức họ phải rời từ tu viện Meghavan sang một tu viện cổ lớn hơn tên là Sāsanapajjotika để mở trung tâm thiền. Dù đã nỗ lực sắp xếp nơi ăn chốn ở, nhưng cơ sở này vẫn không thể đáp ứng đủ số lượng người tìm đến. Do đó, vào năm 1276, dưới sự dẫn dắt của Ngài U Kelāsa cùng các hành giả kỳ cựu từ nhiều nơi, với sự hỗ trợ của ông U Bo Sa (một vị quan chức bộ phận xét xử), họ đã xin cấp phép và tiến hành khai hoang một khu rừng rộng 5 mẫu Anh (nay vẫn còn hiện hữu). Nơi này vốn là địa điểm của hoàng cung cũ trong lịch sử Suvaṇṇabhūmi. Nằm ở góc đông bắc, giữa lớp tường thành thứ nhất và thứ hai, rừng rậm bao quanh phía đông và nam bắc, nên nơi đây vô cùng yên tĩnh và tách biệt với sự ồn ào của dân cư. Tại khu đất phước báu này, họ đã xây dựng giếng nước, nhà nghỉ chân và các ngôi chùa nhỏ, rồi đặt tên cho nơi này là “Jetavan” (Kỳ Viên). Trên mảnh đất linh thiêng của thành Thaton cũ, nơi có ba lớp hào bao quanh, “lá cờ chiến thắng của Tứ Niệm Xứ” đã chính thức được giương cao. ## TRANG 493 437 **Nếu Ngài Thiền sư không xuất hiện** Tại thành phố Thaton, phương pháp "Ghi nhớ" (Satipaṭṭhāna) của Ngài Thiền sư lúc đầu cũng không dễ dàng được chấp nhận. Từ những người bán cá tươi cho đến khi sát hại cá, họ đều đem ra chế giễu, nhạo báng không thôi bằng những từ như "đang cầm nè, đang đập nè, đang giết nè". Họ còn mỉa mai rằng: "Nghe nói chỉ cần biết đi biết lại là thành bậc Thánh Dự Lưu (Sotāpanna), co tay duỗi chân cũng là Pháp; xưng là Sotāpanna mà ngay cả 28 sắc pháp (rūpa-aṭṭhavīsa) cũng không đếm nổi", và đưa ra đủ lời chỉ trích, bất mãn. Một số vị Tỳ-khưu khi thuyết pháp cũng kịch liệt phê phán và hạ thấp phương pháp này. Thực tế, vì đây là pháp hành vốn đã bị gián đoạn trong Giáo pháp suốt nhiều thế kỷ, nên việc họ chế giễu, chỉ trích hay chê bai cũng là điều khó tránh khỏi. Dù kinh văn dạy rất trực diện và rõ ràng: "**Gacchanto vā gacchāmīti pajānāti** = Khi đi, tu sĩ ấy biết rõ rằng mình đang đi", nhưng người ta vẫn dường như không thể lĩnh hội được. Ý nghĩa cốt lõi của Tứ Niệm Xứ (Satipaṭṭhāna) là "làm sao để biết rõ mọi cử động của thân và mọi suy nghĩ của tâm", điều này vốn vô cùng giản đơn. Nhưng để giải thích và làm sáng tỏ những điều giản đơn ấy lại là việc khó khăn nhất. Vì vậy, khi một chân lý giản đơn được khơi dậy và trình bày như một điều mới mẻ, việc bị thế gian chế giễu là lẽ thường tình, không có gì đáng trách. Trong bối cảnh những người xung quanh không hiểu biết như vậy, chúng ta cần thấu cảm cho người đã nỗ lực truyền bá chân lý giản đơn ấy, rằng họ đã phải kiên trì và nhẫn nại đến dường nào. Nếu chỉ với lòng nhẫn nại và sự tinh tấn tầm thường thì khó lòng đạt được thành quả như ngày nay. Thông thường, đa số mọi người chỉ muốn giữ sự an lạc cho riêng mình sau khi đã chứng ngộ. Những người có thể vượt qua mọi khó khăn thử thách vì sự hưng thịnh của Giáo pháp và vì chúng sinh còn mê muội như Ngài Thiền sư thật sự là vô cùng hiếm hoi. Nếu không có những bậc vĩ nhân đặc biệt, những người có lòng nhẫn nại và sự tinh tấn kiên cường, quyết liệt, không lùi bước và đầy tâm huyết như Ngài, thì giáo lý Satipaṭṭhāna cho đến tận ngày nay có lẽ vẫn chỉ dừng lại ở mức độ kinh kệ dùng để thờ phụng, chứ chưa thể nâng tầm thành pháp hành thực tiễn. (Trong công cuộc hoằng dương Satipaṭṭhāna, Pháp sư nổi tiếng toàn quốc U Paṇḍita - cư sĩ U Kyaw - là một trong những bạn đồng hành dũng cảm của Ngài. Ông là một bậc vĩ nhân cư sĩ đã soạn thảo nhiều tác phẩm như bộ "**Vipassanā-ṭīkā**" và từng đi thuyết pháp lưu động sang tận nước Thái Lan.) ## TRANG 494 **Trong chùa tôi không nhận Bồ-tát** Tại trung tâm thiền Jetavana, tăng ni và Phật tử từ khắp nơi tìm đến hành thiền. Giống như việc phân chia nơi cư ngụ cho các hành giả (yogī), các quy định kỷ luật cần tuân thủ cũng được thiết lập rõ ràng. Chuyện kể rằng, có một vị Thiền sư nổi tiếng hiện nay, khi xưa đến học phương pháp Satipaṭṭhāna nơi Ngài. Khi vị này dường như đã đạt đến tầng "Hành Xả Tuệ" (Saṅkhārupekkhā-ñāṇa) nhưng tiến trình tu tập bỗng chững lại không tiến triển thêm, Ngài đã kiểm tra bằng nhiều cách khác nhau. Khi đó, vị sư ấy đã bạch rằng: "Bạch Ngài, con đã phát nguyện thành bậc Chánh Đẳng Giác (Phật quả). Trong Giáo pháp này, con không muốn chứng đắc quả vị Thanh Văn (Sāvaka)". Sau sự việc đó, Ngài Thiền sư đã ban lời chỉ dạy rằng: "Trong chùa chúng ta, nếu là hành giả phát nguyện thành Phật (Bồ-tát) thì không tiếp nhận". (Tuy nhiên, vị sư kia hẳn là một bậc có đại nguyện chân chính.) Tư tưởng phát nguyện thành Phật (Bồ-tát) đang rất phổ biến ở một số nơi, và đây là một vấn đề cần được xem xét cẩn trọng. Lời tuyên bố "Trong chùa tôi không cho phép Bồ-tát ở" dường như nghe có vẻ rất gay gắt, nhưng nếu suy xét kỹ, đó là một lời dạy rất phù hợp và đúng đắn, dù rất khó để nói ra. Đằng sau việc phát nguyện thành Phật thường ẩn chứa những khuynh hướng tâm linh rất khó nhận diện và sâu sắc. **Sự thỏa mãn và trì hoãn thời gian** Vào thời kỳ Sri Lanka, có một vị Đại trưởng lão tên là Mahāsaṅgharakkhita, là bậc lãnh đạo của một tông phái lớn. Khi ngài sắp viên tịch và đang nằm trên giường bệnh, có tin đồn lan truyền rằng "Ngài sắp nhập Niết-bàn với tư cách là một bậc Alahan". Đám đông tụ tập đến để đảnh lễ, khi đó một người học trò đã thưa rằng: "Bạch Ngài, việc của bậc Sa-môn Ngài đã hoàn tất chưa? Có tin đồn rằng Ngài sắp nhập Niết-bàn nên mọi người đang tụ tập rất đông đảo." Ngài đáp: "Vẫn chưa xong." Người học trò thưa tiếp: "Trong tông phái chúng con, nếu một bậc thầy như Ngài mà không chứng đắc Alahan, vẫn tịch diệt trong thân phận phàm phu thì thật không xứng đáng, điều này sẽ khiến lòng người không khỏi xót xa, bạch Ngài." Ngài nghe vậy liền bảo: "Vậy thì, này hiền giả, hãy đỡ ta ngồi dậy rồi con lánh ra ngoài phòng một lát." Ngài bắt đầu thu thúc tâm và quán chiếu Pháp. Người học trò vừa đóng cửa ## TRANG 495 bước ra ngoài chỉ trong chốc lát, Ngài đã búng tay gọi vào và bảo: "Việc Sa-môn của ta đã hoàn tất rồi, này hiền giả." 439 (Trích Chú giải Thanh Tịnh Đạo - Visuddhimagga Aṭṭhakathā I, 45). Vị Đại trưởng lão Mahāsaṅgharakkhita này vốn đã hội đủ các pháp Giới - Định - Tuệ để chứng đắc Alahan. Về phương diện không phóng dật (appamāda), ngài được ghi nhận là "từ khi xuất gia cho đến năm 80 tuổi, chưa từng làm việc gì mà thiếu chánh niệm." Dù vậy, sở dĩ ngài chưa chứng quả Alahan không phải vì lý do gì khác, mà chính là do tâm còn dính mắc vào nguyện ước (āsa) muốn được chiêm bái đức Phật Metteyya (Di-lặc) tương lai. Việc cái tâm ấy ngăn cản sự chứng ngộ có lẽ không phải là chuyện đơn giản. Tuy người ta có thể nói rằng "vì tôi muốn chiêm bái Ngài", nhưng những mưu chước của Ma vương (Māra) vốn rất rộng lớn và vi tế; đó chính là việc bị dùng hình ảnh đức Phật Metteyya để trì hoãn thời gian chứng ngộ. Tương tự, có một bậc Thánh Alahan tại Myanmar, sau khi đắc quả Bất Lai (Anāgāmī), lúc sắp bước vào tầng đạo lộ Alahan (Arahatta-magga) thì lại không thể tiến vào được. Khi đó, ngài đã cùng một vị đạo hữu thảo luận và phân tích chi tiết về trạng thái tâm lý lúc bấy giờ. Vị Bất Lai ấy nói rằng: "Tâm con cứ thường xuyên hướng về phía vị Bồ-tát đang ở cung trời Đâu-suất (**Tusitā**), gần bên đức Bồ-tát **Arimetteyya**." Sau khi suy xét kỹ lưỡng nhiều lần, ngài mới nhận ra cái tâm của mình đang diễn tiến một cách vô cùng vi tế mà không hề hay biết. Khi ngài thuật lại như vậy, vị đạo hữu liền cảnh báo: "Cái tâm đó không đúng đâu, đừng để nó dính mắc, hãy đoạn tuyệt nó đi." Nhờ lời cảnh báo đó mà ngài mới có thể đắc chứng Alahan. Câu chuyện này mang giá trị vô cùng lớn lao trong pháp hành vi tế. (Đối với hai vị này, chúng ta không nên nhìn nhận dưới góc độ ai lớn ai nhỏ hay thầy trò khi họ đàm đạo như vậy. Với người có trí tuệ thực nghiệm, dù trẻ tuổi nhưng sự hiểu biết vẫn có thể rất sâu rộng.) Ngày nay, những người xưng là Bồ-tát rất nhiều. Danh sách các bậc Bồ-tát và các đại kiếp (kappa) mà họ sẽ thành Phật nhiều đến mức không thể thống kê hết. Nói một cách trực diện, những người theo các tông phái thường phát nguyện thành Phật với cái tâm dính mắc vào ý niệm "để cứu độ chúng sinh". Những bậc "Vị-tát" (Wijja - những bậc ẩn danh) cũng thường được gọi là những bậc đại Bồ-tát. Tất cả những người theo Phật giáo Đại thừa cũng đều tự nhận mình là Bồ-tát. (Hãy lưu ý rằng dù khác biệt về dân tộc, hình thức hay danh xưng, nhưng từ căn bản cho đến mục tiêu cuối cùng đều tương đồng với nhau.) Tuy nhiên, dường như họ không phân biệt rõ ràng vị Phật mà họ phát nguyện hướng tới là vị nào. Đôi khi đó lại là những vị Phật tùy tùng của vị Đại Phạm Thiên (Mahātma Brahmā) đầy quyền năng trong giáo thuyết Ngã (Atta) của Bà-la-môn giáo. ## TRANG 496 Dù là loài súc sinh nhưng giữa các đại nhân vật kiệt xuất vẫn có thể tồn tại những bậc Đại Nguyện (Bodhisatta) chân chính, có tri kiến sẵn sàng đánh đổi mạng sống để giữ gìn tịnh giới. Tuy nhiên, những bậc chân chính như vậy hẳn là cực kỳ hiếm hoi. Bản chất của các chủng tử nghiệp (āsevana-paccaya) vốn luôn vận hành theo tiến trình riêng của chúng, thật khó để thấy rõ bằng mắt thường. Tâm nguyện mong cầu thành bậc Đại Nguyễn cũng không phải là điều luôn kiên định. Tương truyền khi Đức Thế Tôn từ cõi trời Tāvatiṃsa (Tam Thập Tam) ngự xuống nhân gian, không một ai hiện diện lúc đó mà không phát nguyện thành Phật. Tuy nhiên, lời nguyện ấy không chỉ khó giữ qua các kiếp luân hồi, mà ngay trong chính một đời người cũng thường xuyên thay đổi. Vì vậy, đừng nên bỏ lỡ cơ hội quý báu hiện tại. (Hãy xem thêm chương về Ngài Mahā Gandhayon Sayadaw). ### Vị Tỳ-kheo trẻ kế thừa pháp hành Tứ Niệm Xứ Ngày mùng 5 tháng Tabaung năm 1293 (Miến lịch). Ngày này chính là một dấu mốc lớn lao, mở ra một chương mới cho lịch sử Pāṭipatti Sāsanā (Giáo pháp thực hành) tại Myanmar với sự bùng nổ của pháp hành Satipaṭṭhāna (Tứ Niệm Xứ). Một vị Tỳ-kheo trẻ tuổi, người sẽ kế thừa di sản Satipaṭṭhāna, đang bước vào khu vực chùa Jetavan với phong thái đĩnh đạc, không mang giày dép, không che dù, vai khoác tấm da thú, tay mang bát. Ngài đã rời khỏi tu viện Taung-waing-kalay ở Mawlamyine từ ngày 13 sau trăng tròn tháng Pyatho cùng với một người bạn đồng hành là Tỳ-kheo U Tejavanta (6 hạ lạp). Vị Tỳ-kheo ấy chính là **U Sobhana**, lúc bấy giờ mới 8 hạ lạp nhưng đã là một bậc Giảng sư (Sāchya-phongyi) và đã đỗ bằng Dhammācariya (Pháp sư) – một học vị cực kỳ hiếm hoi thời bấy giờ. Ngài đã dành khoảng hai tháng để đi bộ khảo sát và trực tiếp thực hành tại các trung tâm thiền quanh vùng Thaton, và nay mới chính thức diện kiến Ngài Jetavan Sayadaw như dự định ban đầu. Người bạn đồng hành U Tejavanta đã tách đoàn và đến trước một bước. Điều này gợi nhắc lại câu chuyện tầm đạo của hai ngài Upatissa (Xá-lợi-phất) và Kolita (Mục-kiền-liên). Dù đã xác định mục tiêu rõ ràng là đến với Ngài Sayadaw, nhưng trên đường đi, những duyên sự như dừng chân tại trung tâm thiền của thầy U Ohn Khaing hay thực hành pháp đầu đà nghĩa trang (susāna-dhutaṅga) với tâm nguyện đảnh lễ Phật tích đã khiến ngài phải ghé chỗ này chỗ nọ, tách khỏi bạn đồng hành, làm thời gian kéo dài thêm nhiều ngày tháng. Nhưng giờ đây, những nhân duyên gây chậm trễ ấy đã yếu dần. Bậc Minh sư đã ở trước mặt. Trách nhiệm phải làm đã hiện rõ. Và những gì chính mình đã dày công nghiên cứu cũng đã đến lúc đem ra ứng dụng. Quê quán của vị Giảng sư trẻ **U Sobhana** cũng là một vùng đất tâm linh phước báu (bhūmi-nekkhaṃ). Đứng từ cổng làng nhìn ra, người ta có thể thấy rõ bảo tháp lưu giữ xá-lợi của Ngài Thilone Sayadaw – một bậc danh tăng lẫy lừng trong lịch sử thực hành thiền. Sau Ngài Thilone Sayadaw, các bậc thiền sư ẩn dật như Ngài Mahā-bodhi cũng liên tục hiện diện tại các trú xứ không xa ngôi làng. Hiện nay, Ngài Jetavan Sayadaw cũng đang tiếp nối truyền thừa không phóng dật (appamāda) ấy, ## TRANG 497 khai mở con đường Tứ Niệm Xứ, là bậc đại nhân vật đang dấn thân khai phá rừng rậm khổ đau. Câu chuyện về môi trường sinh trưởng và hành trình tầm đạo của Ngài **U Sobhana** thực sự vô cùng thú vị. Sứ mệnh của định mệnh mang tên "hợp duyên tại vùng đất thánh Thaton (Suvaṇṇabhūmi)" đã được hoàn tất trọn vẹn vào ngày mùng 5 tháng Tabaung. (Sự gặp gỡ này không phải là ngẫu nhiên do sở thích tu tập, mà để các hành giả thấy rõ sức mạnh của nghiệp tiền khiên (pubbe-kata) và trí tuệ hiểu về nghiệp (kammassakatā-ñāṇa)). Ngài Sayadaw để Ngài **U Sobhana** nghỉ ngơi hồi phục sức khỏe, rồi đến khoảng 7 giờ tối đã bắt đầu hướng dẫn pháp hành. Ngài đọc từng chữ trong đoạn kinh Netti bắt đầu bằng câu "**Sabbbe bhikkhū paribbaje**", sau đó giải thích ngắn gọn sang tiếng Miến mà không thêm thắt rườm rà. Ngài **U Sobhana**, vốn đã thông thạo đại kinh Satipaṭṭhāna, nay lại được nghe những lời dạy từ kinh Netti do Ngài Đại Ca-chiên-diên (Mahākaccāyana) trích dẫn và hiển thị, cảm thấy vô cùng hân hoan và thấm thía. "Những gì Ngài Sayadaw đang thuyết giảng không phải là lý thuyết suông, không phải là lời nói trên sách vở, mà là những gì ngài đã thực chứng, đã hành trì rồi mới nói ra." Sự nhận thức này giúp Ngài U Sobhana tự động thấu hiểu sự khác biệt giữa khuynh hướng Ba-la-mật (pāramī) của mình với sức mạnh vô vi (dhamma-dhātu) từ Ngài Sayadaw. Lời nói phát ra từ miệng và sự lắng nghe từ tai giúp thấy rõ độ sâu của Pháp (liệu sức mạnh vô vi có hiện diện trong đó hay không). ### Thầy trò hỏi đáp – Những điều cần ghi nhớ Kể từ khi nhận được pháp hành, vị Giảng sư trẻ **U Sobhana** nỗ lực ghi nhận mọi oai nghi và hoạt động: "nằm, ngồi, các chuyển động của sắc pháp; đi, ăn, uống, đi tiêu, đi tiểu, nhìn, nghe, suy tư...". Càng thực hành, ngài càng cảm thấy tâm mình định tĩnh và thuần thục qua từng ngày. Sau vài ngày, ngài thầm nghĩ: "Đây chắc hẳn chỉ là giai đoạn căn bản ban đầu của Vipassanā (Thiền Minh Sát). Chắc chắn sau này ngài sẽ hướng dẫn thêm các cấp độ cao hơn." Đây là suy nghĩ mang tính học thuật dựa trên những kiến thức Abhidhamma (A-tỳ-đàm) mà ngài đã học. Với tư duy của một nhà học giả, ngài chưa hoàn toàn tin rằng chỉ bấy nhiêu thôi là có thể đạt được pháp thượng nhân. Tuy nhiên, không lâu sau đó, ngài đã nhận ra một cách sâu sắc rằng: "Không có cấp độ nào khác để tiến lên sau này cả. Chính phương pháp ghi nhận này đã bao hàm toàn bộ tiến trình từ sơ, trung đến hậu." Để xác nhận tri kiến này, ngài đã bạch trình lên Ngài Sayadaw và được Ngài chỉ dạy rằng: "Đúng vậy, này U Sobhana. Không chỉ người phàm, mà ngay cả chư Thiên và Phạm thiên cũng vậy, ## TRANG 498 vốn đã soạn thảo tập '**Peṭakopadesa Aṭṭhakathā**' (Lời giải thuật Ngắt đoạn Tạng kinh) và hoàn thành vào năm 1286 (Miến lịch). Những suy nghĩ, lời nói và hành động (Nghiệp) mà chúng sinh đã thực hiện trong quá khứ chắc chắn sẽ trổ quả vào một thời điểm nào đó. Dù là một ý định nhỏ bé và âm thầm nhất, tưởng chừng như đã chìm sâu vào quên lãng, nhưng một ngày nào đó, nó sẽ đột ngột hiện khởi thành hình hài thực tế (quả báo). Sự trổ quả của Nghiệp thực sự vi diệu. Nếu là một ý niệm bất thiện đã ăn sâu vào tầng tùy miên (anusaya), hoặc một ý niệm thiện lành đã chạm đến căn gốc của tâm (āsayānusaya), thì tùy theo cường độ tác động, chúng chắc chắn sẽ trổ quả vào một lúc nào đó. Vì vậy, thông qua Citta-nupassanā (Niệm Tâm), hành giả phải nỗ lực ghi nhận và buông xả mọi ý niệm dù tốt hay xấu. Dù chúng sinh có thể cho rằng đó là một ý định tốt, nhưng đôi khi nó lại dẫn đến kết quả xấu. Trong 31 cõi luân hồi, những gì thực sự tốt đẹp vốn dĩ rất hiếm hoi. ### Một sát-na tâm quan trọng Xin được nói tiếp. Đức Thế Tôn từng dạy ngài Cunda rằng: "Này Cunda, đối với các thiện pháp, chỉ cần một khởi tâm mong muốn thôi cũng đã mang lại lợi ích to lớn." Trong Kinh Pháp Cú, Ngài cũng dạy rằng (vì ngài thấy rõ quả báo): "Đừng coi thường việc thiện hay việc ác dù chỉ là 'một chút xíu'." Quả đúng vậy. Ngài Đại trưởng lão Cūḷapanthaka (Chu-lợi-bàn-đà-già), trong một tiền kiếp làm vị vua đang du ngoạn kinh thành, khi dùng khăn lau mồ hôi trên trán đã thấy chiếc khăn lấm bẩn bởi các uế tạp của thân. Lúc đó, ngài cảm thấy nhàm chán và khởi lên một tưởng về vô thường (anicca-saññā) một cách thoáng qua. Tưởng chừng như không đáng kể gì, nhưng chính ý niệm nhỏ bé ấy trong kiếp sống cuối cùng đã giúp ngài thực hành đề mục '**Rajoharaṇaṃ**' (Tẩy sạch bụi bẩn) và chứng đắc quả vị A-la-hán cùng với các thắng trí. Chàng thanh niên Maṭṭhakuṇḍalī, vốn là người ngoại đạo, vào giây phút lâm chung chỉ kịp nhìn thấy Đức Thế Tôn đi khất thực trong một khoảnh khắc rực sáng, mà nhờ đó đã được sanh làm thiên tử. Hoàng hậu Padumadevī, người mà mỗi bước chân đi đều có hoa sen đỡ dưới chân, chính nhờ phước báu cúng dường hoa sen đến Đức Phật Độc Giác. Còn việc bà bị các cung phi khác đố kỵ dẫn đến mất ngôi vị và phải sống khổ cực trong rừng sâu, cũng là do khi cúng dường hoa sen, bà từng có ý nghĩ: "Bậc Thánh này chắc không cần đến hoa," rồi định lấy hoa lại sau đó mới dâng cúng. Đó chính là sức mạnh của "sát-na tâm" bị chần chừ (tâm sở hối - kukucca) trong giai đoạn hậu tư (apara-cetanā). Vì vậy, Ngài Webu Sayadaw tôn kính từng dạy rằng: "Nếu mỗi khi tâm khởi lên mà không kịp ghi nhận, ## TRANG 499 ### Các Bậc A-la-hán và Những Bậc Đặc Biệt Ngài dạy rằng: “Trong mỗi khoảnh khắc búng tay, chúng ta có thể mắc thêm nợ đến hàng trăm ngàn ức.” Dù dường như các suy nghĩ thiện hay bất thiện chỉ khởi lên trong nháy mắt rồi biến mất, nhưng nếu không dùng pháp Niệm Tâm (Cittānupassanā) để quán chiếu, thì sự chấp thủ mạnh đến đâu, kết quả sẽ tác động đến đó vào một thời điểm nào đó. Chính vì vậy, khi thuyết về quả báu của lòng từ ái (Mettā), Đức Phật đã dùng những thước đo như “một lần vắt sữa bò, một hơi thở, một cái búng tay, một cái chớp mắt, một khoảnh khắc ánh chớp” để răn dạy; chúng ta cần lưu tâm rằng ngay cả những ý nghĩ thiện hay ác nhỏ bé cũng không được xem thường, huống hồ là các hành vi qua lời nói (khẩu nghiệp) hay hành động (thân nghiệp). Khi sự tiếp xúc giữa đối tượng và tâm biết đối tượng xảy ra (**Phassa - Xúc**), tạo nên cảm thọ tốt hay xấu (**Vedanā - Thọ**), thì ngay lúc đó cần phải quán chiếu để xả bỏ cảm thọ ấy. Nếu không quán chiếu kịp, tâm sẽ chuyển sang Ái (Taṇhā), rồi đến Thủ (Upādān), Hữu (Bhava)... làm cho vòng luân hồi Thập Nhị Nhân Duyên tiếp tục xoay chuyển. Theo tiến trình tâm (Vīthi) dưới nháy mắt của Thắng Pháp (Paṭṭhāna), không được để tâm rơi vào các tâm Tốc Hành (Javana) sau giai đoạn Đoán Định (Votthapana). Khi các đối tượng như hình sắc cảnh trần hiện khởi, phải dùng chánh niệm quán chiếu để cắt đứt trước khi tâm kịp suy xét và hưởng thụ vị ngọt của đối tượng (**Javana**). Nếu đã rơi vào Tốc Hành tâm, tùy theo cường độ tác động mà nó sẽ đem lại quả báu ngay trong hiện tại (Diṭṭhadhamma) hoặc về sau. Ngay khoảnh khắc tâm Tốc Hành đầu tiên, nếu biết tham tâm (Rāga) đang khởi lên, thì ngay lập tức ở tâm Tốc Hành thứ hai phải dùng chánh niệm để quán chiếu và cắt đứt nó. Trong các bản chú giải kinh *Chaḷāyatana* và *Dukkhamadhamma Sutta* có giải thích rằng: “Nếu đã thuần thục, thời gian khởi niệm chánh niệm có vẻ lâu, nhưng việc đoạn trừ lại diễn ra rất nhanh chóng.” Trong các bài kinh Nikaya, Đức Phật dạy rằng: “Khi mắt thấy sắc, không được nắm giữ các tướng chung và chi tiết (tướng riêng), mà chỉ dừng lại ở sự thấy (**Nānubyañjanaggāhī** - Không nắm giữ các chi tiết phụ)”; đây chính là ý nghĩa của điều đó. Đây là cách giải thích theo kinh điển. Đối với một hành giả, việc hiểu tường tận các thuật ngữ này không quá quan trọng; điều cốt yếu là phải luôn giữ chánh niệm, quán chiếu và nhận biết rõ ràng mọi thực tại của Danh và Sắc (Rūpa - Nāma) đang diễn ra, như vậy là đã hoàn thành nhiệm vụ. ### Các Tác Phẩm Đã Biên Soạn Kể từ khi nuôi dưỡng ý định viết sách từ năm hạ thứ 6, Ngài đã phải tạm gác lại việc hướng dẫn các môn đồ hành thiền vốn rất tin tưởng Ngài, để dấn thân vào công việc biên soạn kinh sách (**Gantha Palibodha** - sự chướng ngại do công việc nghiên cứu kinh điển). Lúc bấy giờ Ngài khoảng 52 tuổi. Vào năm 1280 (Miến lịch), tác phẩm đó đã được ấn hành. Cư sĩ Hermit U Kanti vì lòng tôn kính đã cho khắc nội dung này lên 28 phiến đá, đặt tại chùa Sandamuni dưới chân núi Mandalay, cùng với các văn bia của kỳ Kết tập kinh điển lần thứ năm. Ngài cũng tự mình biên soạn bản diễn giải (Nissaya) cho bộ chú giải này, gồm 3 tập (hoàn thành vào các năm 1290, 1297 và 1298). ## TRANG 500 Sau đó, tùy theo các câu hỏi và những tư duy sâu sắc, Ngài đã biên soạn thêm các tác phẩm sau: 1. Giải thích về Bốn mươi nơi trú ngụ ẩn dật (To-lay-se-aphwint-kyan). 2. Tác phẩm Ārambhāvidhi Vissajjanā (Giải đáp về các phương thức bắt đầu). 3. Tác phẩm Sandhetāvidhi Vissajjanā (Giải đáp về các phương thức kết nối). 4. Bản diễn giải mới (Nissaya) cho Chú giải Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga). 5. Luận về Niết-bàn (Nibbānakathā - văn xuôi). 6. Bài giảng Chỉ dẫn con đường đến Niết-bàn. 7. Tiểu luận về Niết-bàn. 8. Tiểu luận về Tứ Niệm Xứ (Satipaṭṭhāna). 9. Satipaccaye hay là Viniñchaya Samuha (Tập hợp các quyết định). 10. Quyết định về lễ Kathina (văn xuôi). 11. Diễn giải về Kathina (Phần lễ Kathina trong kinh Milinda). 12. Quả Siêu thế (Phala Samāpatti). 13. Diễn giải kinh Đại Lục Nhập (Mahāsaḷāyatanika Sutta Nissaya). 14. Diễn giải kinh Pháp Môn Căn Bản (Mūla Pariyāya Sutta Nissaya). 15. Pādapādāraha Viniñchaya. 16. Paṭijñāta Karaṇa Viniñchaya. 17. Chương về Căn nhà Giới đàn (Simā). 18. Đại tác phẩm về các tầng tuệ Minh sát (Vipassanā Ñāṇazañ Kyan-gyi). 19. Về các Tùy miên (Anusaya). 20. Quyết định về cách thực hiện các việc dư sót (Atirik). 21. Chú giải Peṭakopadesa. 22. Chú giải Milindapañhā (Mi Tiên Vấn Đáp). ### Vấn đề nảy sinh từ bộ Chú giải Mi Tiên Vấn Đáp Dù đã biên soạn rất nhiều sách, nhưng Ngài thường chỉ công nhận hai bộ Chú giải là tâm đắc nhất: “Ta chỉ thực sự viết hai bộ thôi.” Ngài bắt đầu viết bộ Chú giải Mi Tiên Vấn Đáp (Milindapañhā Aṭṭhakathā) vào năm Ngài 70 tuổi (năm 1300 Miến lịch) và hoàn thành vào năm 1303. Sách dày 505 trang. Khi được in vào năm 1310, các vấn đề về “Lễ Kathina và vấn đề Tỳ-kheo-ni” đã gây ra nhiều tranh luận, dẫn đến việc cuốn sách bị thu hồi. ## TRANG 501 Được biết, khi đó Thiền sư Mahāsi đã không đồng ý việc in ấn vì lo ngại rằng nó sẽ đem lại nhiều rắc rối hơn là lợi ích (có lẽ Ngài không tin rằng điều này sẽ mang lại nhiều đại ích cho Giáo pháp). Thiền sư Mahāsi từng nói: “Hãy chờ sau khi tôi viên tịch hãy in”, nhưng vì lòng đức tin quá lớn, người ta vẫn triển khai in ấn, dẫn đến những tranh cãi không đáng có khiến Ngài phải vất vả xử lý thêm công việc. Tuy nhiên, Ngài vẫn giữ vững quan điểm của mình. Ngài thậm chí còn cho viết và in ấn riêng bản diễn giải về phần lễ Kathina. Về vấn đề Tỳ-kheo-ni, đối với những người đến hỏi, Ngài thường tụng các đoạn Pali và Chú giải để giải thích rằng: “Ta không viết tùy tiện. Ta dựa trên đoạn kinh Cūḷavagga: **'Anujānāmi bhikkhave bhikkhūhi bhikkhuniyo upasampādetum'** (Này các Tỳ-kheo, Ta cho phép các Tỳ-kheo được truyền giới cụ túc cho các Tỳ-kheo-ni) và các bản chú giải kèm theo. Các tiểu giới (Anupaññatti) này bắt đầu từ khi Đức Phật ban hành sẽ không bị mai một trong suốt 5.000 năm của Giáo pháp. Do đó, các Tỳ-kheo (được gọi là Ekatoya Sangha) vẫn có thể truyền giới cho các nữ nhân để trở thành Tỳ-kheo-ni. Điều quan trọng là các tiểu giới mà Đức Phật cho phép đó có bị mất đi hay không. Nếu tiểu giới đó mất đi thì không thể tạo ra Tỳ-kheo-ni, nhưng vì tiểu giới không mất đi nên ta khẳng định là làm được.” Liên quan đến vấn đề lễ dâng y Kathina, trong truyền thống thường dùng cụm từ: **“Imaṃ kathiṇacīvaraṃ saṃghassa dema”** (Chúng con xin dâng y Kathina này đến Tăng đoàn). Ngài đã phân tích và phê bình chi tiết rằng nếu thêm từ “Saṃghassa” (đến Tăng đoàn) làm mục tiêu hướng đến khi dâng cúng thì lễ Kathina đó sẽ không thành tựu (xem chi tiết trong cuốn “Kathina Nissaya”). ### Trí tuệ phi thường không lời nào tả xiết Kể từ khi có ý nguyện mãnh liệt muốn viết bộ “Chú giải Peṭakopadesa”, công việc biên soạn kinh sách đã khiến việc thực hành thiền (Paṭipatti) của Ngài bị lu mờ đi phần nào. Những tranh luận nảy sinh cũng khiến Ngài phải làm việc nhiều hơn. Các môn đồ cũng không được yên ổn. Năm 1288, để Ngài có nơi cư ngụ ổn định tại Mingun, các hành giả đã xây dựng một ngôi chùa dạng cư xá để cúng dường. Tuy nhiên, vì bị kẻ xấu tưởng lầm là giàu có nên đã vào cướp bóc, buộc Ngài phải quay về Thaton. Sau một thời gian tại Thaton, Ngài báo tin cho môn đồ ở khắp nơi rằng “chùa đã hoàn thành” và Ngài lại quay về Mingun để giảng dạy bộ Chú giải Thanh Tịnh Đạo. Ngài vừa viết bản diễn giải, vừa giảng dạy; đến năm 1289, Ngài lại trở về Thaton. Với việc đi lại giữa các nơi, nghiên cứu, giảng dạy và biên soạn kinh sách, Ngài đã thể hiện một ý chí và nghị lực vô cùng mãnh liệt. Dù gặp nhiều khó khăn, trắc trở, Ngài chưa bao giờ lùi bước mà luôn quyết đoán thực hiện cho đến cùng. Thông qua việc biên soạn vô số kinh sách, Ngài đã đóng góp to lớn cho Giáo pháp đến mức nào... ## TRANG 502 Bỏ qua chuyện không viết được nhiều, nhưng trước mắt, trong công phu tu tập quán chiếu, việc bộc lộ những dấu hiệu tiêu cực là điều không thể phủ nhận. Do đó, việc khởi tâm muốn viết kinh sách cũng chính là một sự ràng buộc trong 31 cõi; những ý tưởng, dự định và đối tượng tư duy — dù có nói là vì Phật sự đi chăng nữa — cũng thường rơi vào cảnh “tốt thì có tốt, nhưng chưa hẳn đã hay”, đây là điều cần phải lấy làm bài học. Dù thế nào đi nữa, việc Thiền sư đưa ra những quan điểm mới mẻ, sâu sắc và tinh tường liên quan đến Pháp học (Pariyatti) là một điều hết sức thú vị. Sự luyến lưu với kinh điển của Ngài cũng thật lớn lao. Nhưng điều đáng kinh ngạc hơn cả chính là trí tuệ siêu việt của Ngài. Trong khi biên soạn các bộ luận lớn như Peṭakopadesa và Milindapañhā Aṭṭhakathā, ngay từ trước khi đặt bút, Ngài đã thuộc lòng hai bộ Pāḷi gốc ấy rồi. Sau khi viết xong các bộ chú giải, Ngài vẫn hằng ngày đọc tụng và ghi nhớ nằm lòng chính những tác phẩm do mình viết ra. Ngài đã trì tụng thuộc lòng như vậy suốt bốn, năm năm, rồi mới bắt đầu chỉnh sửa, thêm bớt. Việc thuộc lòng chính văn chương do mình viết ra mới là điều khó nhất. Đáng kinh ngạc hơn nữa là vào năm 1291 (Miến lịch), khi Thiền sư U Vāsavinda từ thị trấn Myohla đến trú ngụ tại chỗ Ngài ở Thaton, vì muốn biết rõ nên đã bạch hỏi rằng: “Ngoài việc tu tập thiền quán ra, còn có những phận sự đặc biệt nào khác nữa chăng?”. Khi ấy, Ngài đáp rằng hằng ngày Ngài vẫn đọc tụng luân phiên Tam Tạng (Tipiṭaka) trong giờ lễ Phật. Vị Thiền sư ấy đã kể lại điều này cho người viết [tác giả]. Quả thật Ngài chính là một bậc “Tam Tạng Pháp sư” (Tipiṭakadhara) ẩn mình mà thế gian không mấy ai hay biết. Đúng như lời dạy: **“Samādhiparibhāvitā paññā, paññāparibhāvitō samādhi”** (Trí tuệ được định hữu dưỡng, định được trí tuệ hữu dưỡng), năng lực của trí tuệ khi được định lực thấm nhuần là điều không thể nghĩ bàn. Có lần, thanh niên Saṅgārava đã bạch hỏi Đức Thế Tôn rằng: “Bạch Ngài, có những lúc những bài minh chú (kinh văn) đã được đọc tụng từ lâu lại tự nhiên biến mất khỏi trí nhớ. Lại có những lúc, những bài minh chú dù không được đọc tụng trong thời gian dài nhưng vẫn tự nhiên hiện rõ. Vì nguyên do gì vậy?” Khi ấy, Đức Phật đã dùng năm loại ví dụ để thuyết giảng rằng: “Khi năm triền cái (Nīvaraṇa — những pháp ngăn che trí tuệ) còn tồn tại, thì không thể biết đúng, thấy thực bất cứ điều gì.” **Tuệ tiến, kinh thuộc, vạn sự hanh thông** 1. **Tham dục triền cái (Kāmacchanda-nīvaraṇa):** Người có tâm tham muốn, đắm say vào một đối tượng nào đó thì giống như nhìn vào bát nước có pha các loại màu như nghệ; họ sẽ không thể thấy rõ hình bóng khuôn mặt mình, cũng vậy, họ không thể biết và thấy đúng sự thật. 2. **Sân hận triền cái (Byāpāda-nīvaraṇa):** Người có tâm giận dữ, bất mãn thì giống như nhìn vào bát nước đang đun sôi bốc hơi nghi ngút; họ không thể thấy rõ hình bóng khuôn mặt mình, cũng vậy, họ không thể biết và thấy đúng sự thật. ## TRANG 503 3. **Hôn thụy triền cái (Thina-middha-nīvaraṇa):** Người có tâm dã dượi, buồn ngủ thì giống như nhìn vào bát nước có bèo tấm và bụi bặm phủ đầy; họ không thể thấy rõ hình bóng khuôn mặt mình, cũng vậy, họ không thể biết và thấy đúng sự thật. (Ở hành giả, ngoài cái buồn ngủ dã dượi sinh lý thông thường, đôi khi còn có những trạng thái kỳ lạ. Nếu không biết mà cứ cho là buồn ngủ rồi đi ngủ, định lực sẽ giảm sút, dẫn đến những loạn động của thân, khẩu, ý và các chướng ngại nội ngoại xâm nhập. Điều này cũng giống như những thủ thuật thôi miên để lấy cắp đồ trong thế gian vậy. Các triền cái khác cũng tương tự.) 4. **Trạo hối triền cái (Uddhacca-kukkucca-nīvaraṇa):** Người có tâm phóng dật, hối hận thì giống như nhìn vào bát nước đang bị gió thổi làm gợn sóng lăn tăn; họ không thể thấy rõ hình bóng khuôn mặt mình, cũng vậy, họ không thể biết và thấy đúng sự thật. 5. **Hoài nghi triền cái (Vicikicchā-nīvaraṇa):** Người có tâm lưỡng lự, không tin tưởng, không phân định được nơi Tam Bảo thì giống như nhìn vào bát nước đục ngầu bùn đất hoặc bát nước đặt trong bóng tối; họ không thể thấy rõ hình bóng khuôn mặt mình, cũng vậy, họ không thể biết và thấy đúng sự thật. (Trích Saṃyutta Mahāvagga và Phân đoạn Saṅgārava Sutta thuộc Tăng Chi Bộ). Đối với người đang thực hành thiền định, nhờ lìa xa năm triền cái ấy nên định lực trở nên tốt đẹp. Nhờ định lực tốt (vì định là nhân cận của tuệ) nên các loại trí tuệ được tăng trưởng. Trí tuệ ở đây bao gồm từ việc dễ dàng thuộc lòng kinh sách cho đến quả tuệ A-la-hán. Do đó, hành giả không được để năm loại ngăn ngại, chướng ngại này xâm nhập. Việc nói rằng “Thiền sư hằng ngày luân phiên đọc tụng Tam Tạng để cúng dường Đức Phật” không phải là điều không thể xét theo phương diện Pháp (Dhamma). Ánh sáng của các vì sao, mặt trăng và mặt trời vốn luôn tỏa rạng khắp nơi. Chỉ tùy theo sự ngăn che của sương mù, mây mù nhiều hay ít mà ánh sáng trở nên rõ hay mờ. Củi, nước, xăng, dầu, pin, ắc quy hay bóng đèn điện — mỗi thứ đều có năng lực tự thân khác nhau, nên ánh sáng phát ra cũng khác nhau. Ở các hành giả, nương vào mức độ xa lìa triền cái và mức độ thâm nhập vào năng lực vô vi (**Dhammadhātu** — Pháp giới) mà họ có thể tỏa sáng. Từ đó, ta có thể ngưỡng mộ và ước lượng được năng lực của Nhất Thiết Chủng Trí (Sabbaññutañāṇa) — một trí tuệ sáng suốt đến mức có thể giải đáp tức khắc những câu hỏi được dày công suy tính. (Kinh Abhayarājakumāra Sutta — Trung Bộ). Định lực của hành giả cũng cùng chung một “đẳng cấp” với loại định lực mang lại ánh sáng của Nhất Thiết Chủng Trí vậy. ## TRANG 504 (Trong các bộ Chú giải, **Dhammadhātu** được giải thích là Nhất Thiết Chủng Trí v.v... Điều này nên hiểu theo nghĩa ẩn dụ. Giống như dùng thấu kính hội tụ ánh nắng mặt trời để làm cháy giấy, bông gòn; thấu kính chỉ là nguyên nhân gián tiếp của sức nóng mặt trời. Qua ví dụ này, cần hiểu về cách thức mà năng lực của Vô vi Pháp giới (Niết-bàn) tác động lên các tâm thiện hiệp thế và tâm thiện siêu thế tùy theo khả năng thụ nhận của mỗi người.) Điều muốn nói ở đây là “Định nghiệp xứ” (Kammaṭṭhāna-samādhi) không chỉ giúp đạt tới Niết-bàn trong phương diện thực hành (Paṭipatti), mà trong phương diện học thuật (Pariyatti), nó còn mang lại những lợi ích như giúp thuộc lòng kinh sách dễ dàng, không mau quên và thấu hiểu sâu sắc các ý nghĩa. Không chỉ có vậy, Đức Phật còn dạy rằng: “Người có giới (với nền tảng là sự không phóng dật — Appamāda) có thể thu được khối tài sản lớn”; tức là ngay cả trong việc kinh doanh, tìm kiếm sinh kế, nếu có Chánh niệm và Định lực thì mới có thể hưng thịnh và tiến bộ. Thiền nghiệp xứ chính là món vũ khí lợi hại nhất cho bất kỳ ai mong muốn sự tiến bộ và hưng thịnh trong cả đời đạo lẫn đời thường. Về phương diện sức khỏe và trường thọ, vì đây là kết quả của Thất giác chi (Bojjhaṅga) và Tứ thần túc (Iddhipāda) nên không cần phải nói thêm nhiều, thực tế đã có rất nhiều minh chứng. Trong giáo pháp của Đức Thế Tôn, mọi phương diện đời và đạo đều có thể được hoàn tất một cách trọn vẹn, không có chỗ nào để nói là “còn thiếu cái này cái kia”. Do không biết được những giá trị thực tiễn và sự bảo chứng như vậy, nên một số người lầm tưởng và theo đuổi các phương pháp tu luyện Yogī của Ấn Độ, thiền Zen của Nhật Bản hay các bài tập huấn luyện tinh thần của phương Tây một cách lạ lẫm. Từ Lục thông (Abhiññā) cho đến Nhất Thiết Chủng Trí có thể thấu suốt toàn bộ thế gian, định lực của Pháp có thể giúp con người đạt được bất cứ điều gì họ mong muốn. Mong rằng tất cả sẽ đạt được những điều tốt đẹp nhất. ### Thói quen gần gũi và những điều kỳ diệu Theo lời kể của các bậc xuất gia và cư sĩ thân cận chăm sóc Ngài, tôi xin được trình bày thêm về những thói quen đời thường của Ngài. Liên quan đến chuyện ăn uống, lúc còn trẻ, nếu Ngài dùng thịt gà thì Ngài sẽ dùng đúng món thịt gà ấy suốt ba năm ròng rã. Nếu dùng thịt heo v.v... thì cũng theo cách đó. Khi các thí chủ dâng cúng vật thực bạch hỏi: “Ngài dùng có ngon không?” để tìm câu chuyện, Ngài chỉ đáp: “Thì vẫn ăn như thường lệ thôi”. Nếu hỏi những chuyện linh tinh khác, Ngài không đáp mà giữ sự im lặng. Sau khi dùng bữa xong... ## TRANG 505 Sư thường tự mình rải thức ăn cho quạ. Vì lý do sức khỏe, trong suốt nhiều năm, chiều nào Sư cũng dùng nước đường nóng. Khi lương y Kywe ở Yangon dâng thuốc, Sư phán: “Ta chẳng dùng loại thuốc nào cả.” Tuy nhiên, Sư rất thích ăn trầu. Sư tự mình giã trầu rồi dùng. Khoảng bảy ngày Sư mới đi đại tiện một lần, phân giống như phân dê. Sư luôn đi bộ rèn luyện. Về vấn đề sinh hoạt, khi các đệ tử xin phép được theo sát chăm sóc, Sư thường không chấp thuận. Ngay cả khi đã ngoài 80 tuổi, Sư vẫn nói: “Việc của họ thì họ làm, việc của ta thì ta làm,” rồi tự mình làm lấy mọi việc. Chính vì thế, có lần Sư bị trượt chân lăn từ bậc thang cao nhất của ngôi chùa xuống tận chân thang, nhưng Sư dường như không thấy đau đớn gì, lập tức đứng dậy đi tiếp. Một lần khác, trong lúc đi bộ, Sư bị kiệt sức nên ngã xuống; Sư đã gạt tay những người đến giúp và tự mình nỗ lực đứng dậy. Cho đến khoảng một năm trước khi viên tịch, Sư mới tựa lưng khi ngồi. Bình thường Sư luôn ngồi thẳng lưng — **Uddhaṃ kāyaṃ paṇidhāya**. Trong khuôn viên chùa, Sư không thích việc đẽo gọt cây cối, quét tước quá mức hay trang hoàng lộng lẫy. Tấm thảm Sư thường ngồi dày khoảng một lóng tay, lâu ngày bám đầy bụi, nhưng khi có người muốn giũ bụi, Sư cũng không thích; Sư cũng không cho phép thay thảm mới. Xung quanh chỗ Sư ngồi thường thấy những đường kiến bò. Liên quan đến những con kiến đó, Sư đã nói một lời rất lạ lùng mà ông San Wai đã ghi nhớ và kể lại với ông Tin Maung, biên tập viên tạp chí *Thất Bại*: “Trên sàn nhà trước mặt Ngài, kiến bò lể mể nhưng Ngài không cho ai quét đi. Ngài dạy: ‘Ta đã báo cho chúng biết là sắp có khách phương xa đến. Nếu không bảo trước, chúng chẳng biết ý đâu, cứ bò ngang bò dọc làm phiền khách’.” Về vấn đề tài lộc, Sư không bao giờ tự mình nhận vật thí, cũng không cho phép ai nhận thay. Sư lập một quỹ riêng cho Tăng chúng (Saṅghika). Sư là người ít ham muốn (thiểu dục). Ngài không xem chùa là tài sản riêng của vị trụ trì mà chỉ xác định đó là đất tôn giáo; các ngôi liêu cốc được xem là thuộc sở hữu của thí chủ (Gahapatikuṭi). Sư không nhận trẻ con hay Sa-di để hầu hạ. Các lễ xuất gia ngắn hạn hay lễ thành nhân (Shinbyu) không được tổ chức tại chùa của Ngài. Đối với các hành giả (yogī), Ngài rất nghiêm khắc; nếu phạm lỗi phải rời đi ngay lập tức. Sư cực kỳ tôn trọng Giới luật, và chỉ những ai tôn trọng Giới luật mới được Sư quý mến. Trong thời kỳ Nhật Bản chiếm đóng, sau khi thọ trai xong, Sư thường cùng một vị sư trẻ đi vào những nơi rừng rậm. Vị sư trẻ nọ cho rằng dường như Ngài cũng có tâm lý sợ hãi khi nghe tiếng máy bay. ## TRANG 506 ### Việc tìm hiểu xem Ngài có phải là bậc A-la-hán hay không Vào khoảng hai năm trước khi viên tịch (năm 1314, lúc 84 tuổi), Sư không còn viết lách nữa. Các việc thuyết giảng khác cũng được Sư tiết giảm tối đa để tập trung hoàn toàn vào việc thực hành pháp (Paṭipatti). Về phần ẩm thực, Sư ăn rất ít cơm, chủ yếu duy trì sức khỏe bằng sữa và trái cây. Đến năm 1315, vì Ngài đã cao tuổi, một người đệ tử lớn là Ngài U Medhāvī, trụ trì chùa Thāsanā Māraung ở Kamayut, Yangon, vì rất muốn biết trình độ giáo pháp của Sư nên đã đến đảnh lễ và vấn đạo như sau (Cuộc đối thoại này được Ngài U Parama ở Kanni ghi lại và được in ấn phổ biến trong lễ tang): **U Medhāvī hỏi:** Bạch Ngài, khi Ngài nghe người ta bàn tán đủ chuyện thế gian trước mặt mình, Ngài giữ tâm như thế nào? **Ngài trả lời:** Ta chẳng giữ tâm gì cả. **Hỏi:** Bạch Ngài, Ngài có cảm thấy hài lòng hay không hài lòng về những chuyện đó không? **Trả lời:** Không. **Hỏi:** Bạch Ngài, con muốn biết lý do tại sao các vị trưởng lão kết tập kinh điển lại đưa **Kinh Dhammadāsa (Kinh Tấm Gương Đạo Hạnh)** vào Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya)? **Trả lời:** Ta không thể nói được nữa. Không biết diễn đạt thế nào. **Hỏi:** Theo **Kinh Dhammadāsa**, nếu một người đạt đến quả vị Tu-đà-hoàn (Sotāpanna), Ngài cho phép nói rằng “Ta là bậc Tu-đà-hoàn”. Việc này chỉ dành riêng cho những bậc Thánh tại gia, hay dành cho cả cư sĩ, Sa-di và Tỳ-kheo? **Trả lời:** Ngài cho phép tất cả mọi người: cư sĩ, Sa-di và Tỳ-kheo. **Hỏi:** Một vị Tỳ-kheo nếu đạt được Thiền định, Đạo, Quả mà nói ra một cách thành thực thì không phạm lỗi, không phạm giới; vậy thì có đáng để nói ra không bạch Ngài? **Trả lời:** Đáng để nói chứ. **Hỏi:** Bạch Ngài, Ngài còn có tâm nguyện muốn tái sanh vào cõi Phạm thiên không? **Trả lời:** Ta không muốn. **Hỏi:** Vậy trước đây, Ngài đã từng có tâm nguyện đó chưa? **Trả lời:** Đã từng có. **Hỏi:** Chẳng phải nếu được sanh vào cõi Phạm thiên Tịnh Cư (Suddhāvāsa) thì sẽ rất tốt sao bạch Ngài? **Trả lời:** (Lúc này, Sư đang nằm tựa đầu trên ghế bành, liền sửa thế ngồi thẳng dậy và phán:) Việc được sanh vào cõi Tịnh Cư... thì cũng tốt ## TRANG 507 ...tốt trong chừng mực nhất định thôi. Nhưng cái “tốt” đó chỉ dành cho những người chưa thấu triệt (với trí tuệ toàn diện). Còn đối với người đã liễu tri trọn vẹn, thì chẳng còn cái gì gọi là “tốt” nữa cả. **Hỏi:** Bạch Ngài, sau này Ngài còn muốn sanh vào cõi đời nào khác nữa không? **Trả lời:** Ta không muốn sanh vào bất kỳ cõi nào nữa. **Hỏi:** Ngài trả lời vậy là vì Ngài đã xác chứng rằng sẽ không còn sự tái sanh (hữu) nữa phải không bạch Ngài? **Trả lời:** Ta xác chứng như vậy. Trên đây là những lời trích dẫn từ tập tài liệu phát trong lễ tang. Mặc dù Ngài U Medhāvī hỏi và Sư trả lời như vậy, nhưng việc công bố những lời này dường như không làm hài lòng một số đệ tử thân cận lâu năm. Không biết liệu có những ẩn ý sâu xa nào cần phải suy xét hay không. ### Sự nỗ lực hành thiền kiên cường trong lúc bệnh trọng Từ đầu năm 1316, Sư thường phán: “Ta sắp chết rồi.” Sư càng nỗ lực thực hành pháp (Paṭipat) mãnh liệt hơn. Đến khoảng giữa năm, Sư lại nhắc lại: “Năm nay ta sẽ không qua khỏi.” Các đệ tử như bà Kusalā và những người khác đã chuẩn bị sẵn áo quan và đến túc trực chăm sóc Ngài. Ở tuổi 86, sức khỏe của Sư đã yếu đi nhiều. Tuy nhiên, việc thực hành pháp của Sư ngày càng tinh tấn hơn. Cùng với lời tiên đoán “Năm nay ta sẽ không qua khỏi,” Ngài thường xuyên nhìn chăm chú, bất động lên phía trên. Lúc đó, tinh tấn (vīriya) trong lúc hành thiền của Ngài dường như tăng vọt. Đặc biệt, ngay cả khi đi kinh hành, vì sức yếu nên Ngài thường bị ngã, sau đó phải có một vị sư trẻ dìu hai bên để bước đi. Ngài lại thường nhìn đăm đăm lên không trung. Mọi người tự hỏi: “Phải chăng Ngài đang nhìn thấy những cỗ xe thiên giới đang đến đón, hay chính vào lúc đó tâm kinh cảm (saṃvega) khởi lên khiến Ngài biết rằng mình vẫn còn việc phải hoàn thành?” Dù nỗ lực đi kinh hành, nhưng vì phải dựa vào sức dìu của người khác chứ không tự đi được bằng sức mình, nên dường như Sư không thỏa mãn. Có lúc Sư cuốn cao y nội lên đến tận đầu gối. Do việc tiểu tiện không còn tự chủ, Ngài vừa đi vừa tiểu mà không hay biết; một đệ tử phải đi theo sau để lau sàn nhà. (Hai vị sư U Vilāsa ở Toungoo và U Tikkhācāra ở Taungdwingyi đã chăm sóc Ngài từ đầu đến cuối). Sự nỗ lực hành thiền của Ngài dường như đang ở mức cao độ nhất. Có vẻ như Ngài hành thiền không phải chỉ vì sự an lạc ngay trong hiện tại (Diṭṭhadhammasukhavihāra). ## TRANG 508 Ngài Sayadaw đã có thể bắt đầu bước vào địa hạt siêu thế ngay từ lúc 40 tuổi. Nếu vào lúc trẻ trung, sức khỏe còn sung mãn và trí tuệ còn sắc bén mà Ngài nỗ lực dốc toàn tâm toàn ý tu tập liên tục thì hẳn sẽ đạt được sự an lạc dễ dàng và thuận lợi hơn. Khi làm công tác hoằng pháp, nếu đã có đầy đủ đạo lực Vô Vi (Asaṅkhata) thì công việc sẽ tiến triển xa hơn và những chướng ngại cũng sẽ ít đi. Thay vì phải dựa nhiều vào Pháp học (Pariyatti) và sự tinh tấn nỗ lực để hoằng dương giáo pháp, nếu Ngài thiết lập và đạt được trọn vẹn đạo lực Vô Vi — hay còn gọi là Pháp tánh (Dhammadhātu) — thì Ngài sẽ vừa nhẹ nhàng hơn, vừa đạt được nhiều thành tựu hơn. Ngay khi vừa tìm thấy sự an lạc của Pháp, vì quá nôn nóng muốn cứu độ chúng sinh mà thời gian Ngài dành cho việc thuyết pháp và viết lách đã tiêu tốn hết những năm tháng tuổi trẻ sung mãn với trí tuệ tinh anh. ### Nghỉ chân một nhát, mệt thêm bội phần Đức Ānanda đã sống ở quả vị Tu-đà-hoàn (Sotāpanna) trong một thời gian khá dài. Thay vì dốc sức nỗ lực tiến bước, Ngài đã tiêu tốn thời gian vào việc thuyết pháp không ngừng. Khi kỳ kết tập kinh điển đã cận kề, vì nếu không có Ngài thì không thể hoàn thành nên các bậc Đại Trưởng lão đã phải lên tiếng nhắc nhở, và trách nhiệm của Ngài càng tăng thêm. Thế nhưng Ngài vẫn cứ mải mê thuyết giảng. Trong lúc các vị Trưởng lão đang bận rộn với công việc hệ trọng của kỳ kết tập, thì Đức Ānanda lại đang thuyết pháp cho đông đảo quần chúng, vì thế vị Đại Trưởng lão Vajjiputta có thần thông đã nhắc nhở Ngài rằng: “Này Ānanda, người thuộc dòng họ Gotama! Hãy đem Niết-bàn tịnh lạc đặt vào trong tâm khảm, hãy tìm đến một gốc cây mà tu tập Quán sát (Vipassanā). Chớ có phóng dật. (**Ki te biḷibiḷikā karissati**) = Việc ông cứ thuyết giảng ríu rít như thế thì có đem lại lợi ích gì cho ông chăng?” Sau khi được cảnh báo và dạy bảo như vậy, vị Trưởng lão Ānanda vốn thuyết pháp rất hay đã sớm đắc quả A-la-hán. (**Chú giải trưởng lão tăng kệ Vajjiputta.**) Ý nguyện thuần khiết của Đức Thế Tôn cũng giống như mũi tên đã bắn đi, Ngài muốn người tu tập phải tinh tấn liên tục, không ngừng nghỉ, ngồi một mạch cho đến khi chứng đắc quả vị A-la-hán mới thôi. (**Kinh Đại Gosinga.**) Ngài không hề mong muốn bất kỳ sự dừng nghỉ nào vì bất cứ lý do gì. (**Trong kinh Đại Thí Dụ Lõi Cây — Trung Bộ Kinh**) có dạy rằng: Lợi lộc (như cành lá), Giới (như vỏ ngoài), Định (như vỏ trong), Thần thông (như giác gỗ), Pháp siêu thế (như lõi cây). Giáo pháp của Đức Phật dạy rằng không được hài lòng khi chỉ mới có được cành lá, vỏ ngoài, vỏ trong hay giác gỗ (thậm chí không được hài lòng khi chỉ mới đạt được phần lõi sát với giác gỗ), mà phải nỗ lực để đạt được lõi cây thực thụ là quả vị A-la-hán ngay trong kiếp sống này. Có như vậy thì việc hoằng pháp mới rộng lớn và sâu sắc, đó chính là điều mà Đức Thế Tôn đã nhìn thấy. ## TRANG 509 Nếu chỉ dừng lại ở quả vị Tu-đà-hoàn hay Tư-đà-hàm mà qua đời, thì nỗi khổ phải nghỉ chân ghé lại cõi người, cõi trời thêm nhiều lần nữa, hay dù có đắc quả A-na-hàm đi nữa thì nỗi khổ phải tiếp tục mang vác gánh nặng của uẩn ở cõi Phạm thiên với tuổi thọ cực dài cũng là điều đáng buồn chán và nhàm chán. Thấy rõ điều đó nên Đức Thế Tôn đã tha thiết khuyến tấn. Trong vòng luân hồi 31 cõi, hễ dừng chân nghỉ lại một nhát là mệt thêm bội phần. ### Rắn và quạ đến cúng dường Vào năm 1316 (Miến lịch), khi Ngài Sayadaw 86 tuổi, từ đầu tháng Tà-bông (Taboung), Ngài phải nằm trên giường suốt khoảng mười ngày, không thể trở mình hay ngồi dậy được. Nhiệt độ cơ thể không lúc nào xuống dưới 100-102 độ F. Đến giữa trưa ngày thứ Sáu sau mười ngày đó, do đờm tắc nghẽn và kiệt sức, sắc nghiệp tái sinh (cuti-kammaja-rūpa) của Ngài đã chấm dứt. Các thí chủ đứng vây quanh đều òa lên khóc lóc. Vị thầy ban truyền giáo pháp không còn nữa. Đàn quạ quanh vùng cũng tụ tập lại than khóc thảm thiết, chúng bay từng đàn phía trên ngôi chùa nơi đặt kim thân Ngài, kêu gào như để cúng dường. Vị chủ nhân thường cho chúng ăn cũng không còn nữa. Vào lúc 1 giờ 25 phút ngày 13 tháng Tagu, giữa lúc đông đảo mọi người đang vây quanh chiêm bái, một con rắn lớn dài khoảng năm feet bò vào, trườn tới bên chân Ngài, đầu gật gật như đang tỏ lòng tôn kính. Mọi người đều vô cùng kinh ngạc. Sự việc kéo dài khoảng hai giờ năm mười phút. (Lúc bấy giờ các báo đều có đăng ảnh sự kiện này). Khi đó, giữa những lời bàn tán xôn xao của mọi người, một vị nữ tu (Sīla-răng) cao hạ thầm phát nguyện trong tâm: “Nếu đây không phải một con rắn bình thường thì xin hãy biểu hiện cho thấy rõ ràng”, rồi bà ngồi xuống bên chân kim thân Ngài. Sau khi bà phát nguyện xong, con rắn đang ở phía trên đài hoa sen liền bò xuống, quấn quanh vị nữ tu một vòng như để chào hỏi rồi tỏ lòng cung kính. Khoảng hai mươi vị nữ tu ngồi gần đó đã phải hoảng sợ bỏ chạy. Lại còn một sự việc khác gây xúc động lòng người hơn nữa. Đó là việc một số vị Đại Trưởng lão ở thị trấn Thaton đã bí mật đến đảnh lễ kim thân Ngài vào lúc đêm khuya vắng người. Không biết trước kia họ đã từng nói những điều gì quá lời hay xúc phạm đến Ngài, nhưng dù thế nào đi nữa, việc đến đảnh lễ để sám hối như vậy chính là truyền thống tốt đẹp của những bậc thiện tri thức, những bậc con của Đức Phật. ## TRANG 510 ### Lời kể của vị Đại Thần cây (Rukkhaso) Kim thân Ngài để suốt 21 ngày mà không hề hư thối hay có mùi, da dẻ vẫn săn chắc và vàng óng. Mọi người không nỡ hỏa thiêu. Lại thêm nạn phiến quân chưa yên và có nhiều tranh luận, nên mãi đến ngày mùng 8 tháng Kasone năm 1317 (Miến lịch) mới tổ chức lễ hỏa thiêu. Trong những ngày tang lễ, dù có các viên chức chính phủ ra vào, và tình hình phiến quân có thể gây ra sự cố, nhưng nhờ oai đức của Ngài Sayadaw mà những người có ý định phá hoại cũng đều mặc thường phục trà trộn vào để cùng làm việc và cúng dường như bao người khác. Xá-lợi xương của Ngài được tôn thờ trong một bảo tháp ngay tại khuôn viên chùa. Liên quan đến Ngài Sayadaw, có một câu chuyện mới nổi lên và rất nổi tiếng ở Thaton. Có một vị sư am tường về các pháp thế gian ở phía Theim-seik, Kyaik-kaw, vì muốn biết mức độ chứng đắc giáo pháp của Ngài Sayadaw nên đã triệu thỉnh và hỏi một vị Đại Thần cây (Rukkhaso) — vốn là một bậc Tu-đà-hoàn đang canh giữ tại chùa Jetavana ở Ấn Độ (Majjhima Desa), nơi Đức Phật từng ngự. Vị Thần cây thưa rằng... “Tôi chỉ biết rằng Ngài ấy cao thượng hơn tôi, còn cao thượng đến mức nào thì tôi không thể thưa được. Tuy nhiên, Ngài ấy vẫn chưa phải là bậc A-la-hán. Hiện nay tôi đang thấy lâu đài (vimāna) của Ngài ở cõi Trời Đâu-suất (Tusitā).” Lược thuật lời này vốn đã có từ ba bốn mươi năm trước khi Ngài viên tịch, nên không thể lấy đó làm điều xác tín hoàn toàn. Bởi lẽ, các lâu đài ở cõi trời có thể xuất hiện trước và cũng có thể thay đổi, đây chỉ đưa ra như một kiến thức tham khảo. Ngài Sayadaw vốn là bậc đại nhân đã tu tập quán chiếu trong nhiều năm, nên Ngài hoàn toàn có đủ thời gian và cơ hội để hoàn tất đạo nghiệp của một vị Sa-môn. Dù sao đi nữa, đông đảo tăng ni và phật tử trong và ngoài nước đều nhất mực tôn kính gọi Ngài là “Bậc A-la-hán tôn quý”. Hiện nay, chúng ta có thể chiêm bái xá-lợi của Ngài tại nơi các vị đại đệ tử của Ngài đang trụ trì. Gia sản giáo pháp Tứ Niệm Xứ mà Ngài đã khai phá bắt đầu được Ngài Sayadaw U Visuddha (**1266-1320**) tiên phong truyền bá tại Insein, Yangon, gọi là 'Mingun Yeiktha'. Ngày nay, bậc ân sư Mahāsi Sayadaw đang vững vàng hoằng dương, gióng lên hồi trống pháp Tứ Niệm Xứ cho đông đảo chúng sinh ở cả trong và ngoài nước. (Tôi xin tập hợp và ghi chép lại những gì đã được đọc và nghe thấy, không thêm thắt, để cúng dường trong khả năng của mình. Mong các bậc hữu duyên hãy ghi nhớ, suy xét đúng sai mà tinh tấn tu tập. Nếu muốn biết chi tiết...) ## TRANG 511 ### Cách nhận biết một bậc A-la-hán Muốn biết một vị có phải là bậc Thánh A-la-hán hay không, cần hội đủ bốn yếu tố sau: 1. Phải cùng chung sống, gần gũi mới có thể biết được giới đức (**Saṃvāsena sīlaṃ veditabbaṃ.**). 2. Phải qua đàm đạo, đối thoại mới có thể biết được sự thanh tịnh (**Saṃvohārena soceyyaṃ veditabbaṃ.**). 3. Phải khi gặp hoạn nạn, nghịch cảnh mới biết được sức mạnh của trí tuệ và sự kiên trì (**Āpadāsu thāmo veditabbo.**). 4. Phải qua sự thảo luận, vấn đáp mới có thể biết được trình độ tuệ giác (**Sākacchāya paññā veditabbā.**). Những điều này chỉ có thể nhận biết được sau một thời gian dài quan sát, với sự chú tâm hướng nội và bởi người có trí tuệ. Nếu thời gian quá ngắn, không có sự chú tâm hoặc thiếu trí tuệ thì không thể nào nhận biết được. (Đức Phật đã thuyết dạy điều này cho vua Kosala khi đức vua lầm tưởng các vị ngoại đạo là bậc A-la-hán. Trích *Kinh Bảy vị Kết tóc* - *Sattajaṭila Sutta*, chương *Sagāthāvagga*). [Để tìm hiểu chi tiết về phương pháp thẩm tra một vị có phải là bậc Thánh hay không, xin mời xem thêm trong phần Chánh văn và Chú giải kinh *Chabbisodhana Sutta* thuộc *Uparipaṇṇāsa*; và các tài liệu như: *Vi-ṭṭh* (Chú giải Luật), tập 2, trang 11, phần *Pārājika* thứ tư; *Abhi-ṭṭh* (Chú giải A-tỳ-đàm), tập 2, trang 470; *Visuddhi-ṭṭh* (Chú giải Thanh Tịnh Đạo), tập 2, trang 270; *Sāratthaṭīkā*, tập 2, trang 282, cùng các tài liệu liên quan. Tuy nhiên, việc tự xét mình có phải là bậc Thánh hay không mới là điều quan trọng và cấp thiết hơn cả.] ## TRANG 512 # Ngài Đại trưởng lão Shwetaung Sayadaw U Tikkhindriya (1232 – 1303 Miến lịch) Ngài Shwetaung Sayadaw **U Tikkhindriya**, trụ trì tu viện Ammārāma tại thành phố Shwetaung, là một trong những bậc danh tăng lỗi lạc đáng được ghi danh vào lịch sử hành trì giáo pháp (*Paṭipatti*) tại Myanmar. Ngài đã soạn thảo nhiều bộ luận thư và không ngừng nỗ lực hoằng dương pháp hành thiền Minh sát (*Vipassanā*) trên khắp cả nước; tiếng vang từ những lời dạy của Ngài vẫn còn âm ỉ truyền thừa cho đến tận ngày nay. Một tổ chức mang tên "Hội thiền Minh sát Trưởng lão U Tikkhindriya" đã được thành lập để tiếp nối và gìn giữ di sản tu tập mà Ngài để lại. Dù danh tiếng của Ngài vô cùng hiển hách, nhưng do tư liệu nghiên cứu chuyên sâu về tiểu sử của Ngài vẫn chưa được thu thập đầy đủ (phần vì e ngại có những chi tiết quan trọng bị bỏ sót), nên chúng tôi xin phép chỉ trích dẫn lại nguyên văn bản tóm tắt tiểu sử được tìm thấy trong phần lời tựa của bộ luận thư *Samuppāda Nirodhagaṃ*, tập 1 do chính Ngài biên soạn, để quý vị cùng chiêm bái và hoan hỷ. Vào thứ Bảy, ngày 12 tháng Chạp (trăng khuyết) tháng Wazo năm 1232 Miến lịch (mùa Hè), lúc hơn 4 giờ sáng, tại khu phố Bauktisu, thành phố Sittwe, bà Myat Pan Oo – phu nhân của vị thư ký trưởng U Ye Baw – đã hạ sinh một người con trai quý báu. Cậu bé ấy sau này chính là bậc thăng hoa, người đã có công lao to lớn trong việc làm hưng thịnh và lan tỏa giáo pháp Minh sát Tuệ (*Adhipaññā Vipassanā*). Tên thuở nhỏ của cậu là Maung Thar Mar Oo. Bậc tiền thân của Ngài Sayadaw **U Tikkhindriya**, cậu bé Maung Thar Mar Oo, có một người em trai ruột. Maung Thar Mar Oo là anh cả, còn người em trai là Maung Paw Tun (về sau trở thành Bộ trưởng Bộ Nội vụ Myanmar, tức Sir Paw Tun). Ngoài ra, các anh em họ của Ngài gồm có: 1. Ông U Zan Thar Oo, quan tòa nhận huân chương dải lụa vàng (*Shwe-salwe*) tại Phapyone. 2. Ông U Saw Phyu, quan huyện tại Toungoo. 3. Ông U Maung Tun Aung, thẩm phán đặc biệt tại Pathein. 4. Ông U Shwe Thar, thanh tra cảnh sát tại Phapyone. Khi đến tuổi trưởng thành, Maung Thar Mar Oo được cha mẹ cho theo học tại trường chính quy. Cậu đã xuất sắc đỗ thủ khoa hạng nhất toàn quốc trong kỳ thi lớp 7 thời bấy giờ. Để con trai có thể thọ nhận gia tài pháp bảo, theo truyền thống của người Phật tử, cha mẹ đã đưa cậu đến tu viện Azi Sayadaw tại West Pauktaw Chaung (nay là tu viện Phaya Lay Zu) ở Sittwe để làm lễ xuất gia Sa-di. ## TRANG 513 Cậu Sa-di Thar Mar Oo được vị thầy tế độ Azi Sayadaw ban cho pháp danh là "Sadi Tissa". Vì lòng yêu mến và an lạc trong đời sống xuất gia, Sadi Tissa đã gắn bó với thiền môn. Đến khi tròn 20 tuổi, Ngài được vị thầy tế độ Azi Sayadaw truyền giới trở thành Tỳ-khưu. Sau khi thọ đại giới, Tỳ-khưu **U Tissa** đã lên Yangon để theo học các bậc thầy đạo cao đức trọng, đặc biệt là dưới sự chỉ dạy của Ngài Shwegyin Sayadaw tại Kyaugtawya. Ngài lưu trú và tu học tam tạng kinh điển tại tu viện Kyaugtawya Shwegyin. Sau đó, Ngài đã sang Ấn Độ và tu hành tại đó trong suốt 3 năm. Từ Ấn Độ, Ngài tiếp tục hành trình sang Tích Lan (Sri Lanka) và lưu trú tại đây trong 5 năm. Trong thời gian ở Tích Lan, khi đang chiêm bái cây Bồ-đề Dakkhinasakha, lòng tôn kính đức Phật trong Ngài dâng trào mãnh liệt đến mức Ngài đã tự cắt ngón tay trỏ bàn tay trái, dùng vải tẩm dầu quấn lại rồi đốt làm đèn cúng dường lên cội Bồ-đề thiêng liêng. Sau khi trở về từ Tích Lan, Ngài lưu trú tại một tu viện rừng ở huyện Sittwe. Tại đây, Ngài gặp phải một cơn trọng bệnh khiến Ngài phải hoàn tục (để giữ sự thanh tịnh). Tuy nhiên, ngay sau đó, do nhận thức sâu sắc về sự vô thường (thâm tín sự yếm ly), Ngài đã phát nguyện làm một vị đạo sĩ ẩn dật (*Rishi*) để tu tập tại vùng rừng Mahamyaing. Sau đó, Ngài đi đến Sagaing và lưu trú tại tu viện Sambuṇṇārāma. Rời Sagaing, Ngài đến tu viện Kan Kalay tại thị trấn Kyan Khin. Theo lời thỉnh cầu của bà thí chủ Daw Phawt, Ngài đã đến tu viện rừng Shwe Hintha ở Nyaungdon để tái xuất gia Tỳ-khưu với Ngài Đại trưởng lão Kyaugtawya Shwegyin làm thầy tế độ (lúc bấy giờ Ngài Shwegyin Sayadaw đang lưu trú tại tu viện Shwe Hintha, Nyaungdon). Lần này, Ngài được ban pháp danh là "**U Tikkhindriya**". Bậc thiện thệ **U Tikkhindriya** từng lưu trú tại Kyee Chaung và Lay Myethna. Khi Ngài đang tu tập tại Monywa, sau khi trải qua một giấc mơ vô cùng kỳ lạ, Ngài đã chứng ngộ sâu sắc con đường thiền Minh sát. Ngài đã nỗ lực hành trì tinh tấn đến mức các hàng đệ tử, cả xuất gia lẫn tại gia, đều hết lòng tin tưởng và cung kính tôn xưng Ngài là "Bậc Thánh giả Mẫu mực" (Ariya). Trong thời gian du phương hoằng pháp tại các tỉnh thành, khi Ngài đang dừng chân tại tu viện Kan Kalay, thị trấn Kyan Khin, theo lời thỉnh mời của ông lý trưởng U Thukha vùng Puretan, Ngài đã đến Puretan và Padaung để thuyết pháp. Trước lòng thành kính của thiện nam tín nữ thị trấn Padaung, Ngài đã lưu trú tại một tu viện gần tượng Phật đồng lớn ở Padaung. Tiếp đó, theo lời thỉnh cầu của vị hộ pháp U Shwe Htaik, Ngài đã lên đường đến thành phố Shwetaung. ## TRANG 514 Ngài quang lâm vào bảo tháp Shwe Pyaw Pyaw để thuyết pháp. Khi ấy, các ông U Po Sine, U San Nyunt, U Thit, U Shwe Htaik và U Aung Kyaw đã hùn phước mua lại vườn xoài (nơi hiện nay là tự viện Ambārāma) và thành lập tu viện Ambārāma vào năm 1282 (ÂL). Họ đã thỉnh bậc cao đức **U Tikkhindiya** về làm tọa chủ để nương tựa tu học. Bậc cao đức **U Tikkhindiya** cư trú tại tu viện Ambārāma, thị xã Shwedaung, vừa tự mình tinh tấn tu tập, vừa thuyết giảng chỉ dạy cho những người khác. Sau khi thí chủ tu viện là ông U San Nyunt qua đời, một ngày nọ, trong lúc Ngài đang hành thiền trên giường ở tòng lâm trang nghiêm, Ngài đã đạt được tuệ giác thâm sâu hơn hẳn những lần tu tập trước đây. Sau đó, Ngài đã trình bày những sở đắc về giáo pháp của mình lên Hòa thượng U Nārada vùng Akjuttaw-kone, thành phố Sittwe. Kể từ thời điểm đó, tất cả đệ tử xuất gia lẫn cư sĩ đều một lòng tin tưởng rằng Ngài là một bậc "Thánh nhân" (Ariya) với đạo hạnh viên mãn, và sự cung kính cúng bàng của họ càng tăng gấp bội. Với sở học uyên bác và chứng nghiệm thực chứng trong pháp môn Thiền Định và Thiền Tuệ, bậc cao đức **U Tikkhindiya** đã biên soạn rất nhiều tác phẩm, tiêu biểu như: 1. Samuppāda Nirodhaga-kyan (Tập yếu về Diệt tận Duyên khởi) 2. Dhammacakkā Amē-aphay-kyan (Tập vấn đáp về Kinh Chuyển Pháp Luân) 3. Paramatthādinayodassana-kyan (Tập luận về kiến giải Thắng pháp) 4. Vedanānupassanā-kyan (Tập luận về Quán Thọ) 5. Nirodha Vinicchaya-kyan (Tập phân tích về Niết-bàn Diệt) 6. Buddhānussati-kyan (Tập về Niệm Phật) 7. Pañhābyākaraṇa-kyan (Tập giải đáp các vấn nạn) 8. Viññāṇānupassanā-kyan (Tập luận về Quán Tâm) 9. Nibbānattha-vinicchaya-kyan (Tập phân tích về ý nghĩa Niết-bàn) 10. Saṅgraha Nissaya-kyan (Tập chú giải Vi diệu pháp tập yếu) 11. Catusaccānupassanī-kyan (Tập luận về Quán Tứ Diệu Đế) 12. Tihetuka Vinicchaya-kyan (Tập phân tích về hạng người Tam nhân) 13. Issādipakāsanī-kyan (Tập luận về lòng ganh tỵ và cách đối trị) 14. Mahāsatipaṭṭhāna-sutta Nissaya နှင့် Aphay-kyan (Tập chú giải và vấn đáp về Kinh Đại Niệm Xứ) Dù đã biên soạn rất nhiều kinh sách để xiển dương giáo pháp mà mình đã chứng ngộ, Hòa thượng **U Tikkhindiya** vẫn chưa lấy đó làm đủ trong công cuộc hoằng pháp. Vì mong muốn được trực tiếp hướng dẫn những người hữu duyên, Ngài đã viết trong lời ngỏ của một số tác phẩm: "Bất kỳ ai ở thành phố nào muốn tìm hiểu, lắng nghe và thực hành giáo pháp, nếu điều kiện thuận lợi và có lời thỉnh mời, tôi sẽ sẵn lòng quang lâm để đóng góp cho sự hưng thịnh của giáo pháp Đức Thế Tôn. Những ai mong cầu thực hành pháp môn Thiền định (Samatha) và Thiền tuệ (Vipassanā) một cách đúng đắn, tôi xin khuyến tấn hãy đến tu viện Ambārāma, đầu khu phố Shan-tan, thị xã Shwedaung để cùng nhau nỗ lực tu tập." ## TRANG 515 Vì lợi ích của thế gian, lợi ích của giáo pháp, lợi ích cho bản thân và lợi ích cho tha nhân, Ngài đã không ngừng cống hiến cho đến khi viên tịch vào lúc 8 giờ tối Thứ Sáu, ngày 11 tháng Sau Trăng Tròn tháng Wazo, năm 1303 (ÂL). Trong giai đoạn đầu đời, Ngài từng lập gia đình và có hai người con gái. Cả người vợ và hai con gái sau này đều đến cư ngụ tại cốc Mogok, khu vực Maggin-chaung, đồi Sagaing để xuất gia làm tu nữ. Họ luôn trì giữ các hạnh đầu đà như **Ekāsanik** (hạnh ăn một bữa) và **Pattapiṇḍik** (hạnh ăn trong bát), chuyên tâm hành thiền. Người ta thường gọi họ là "ba mẹ con bậc Dự lưu". Vào năm 1308 (ÂL), cụ bà Daw Paññā (người vợ cũ tại Mogok) đã qua đời ở tuổi 99. Đức Hòa thượng Abhi Shwe-hintha thời còn là tăng sinh cũng từng học kinh văn với Ngài và đã tận tụy phục vụ các tiểu tiết trong thời gian Ngài ẩn tu tại rừng. Trong tác phẩm "Hòa thượng Shwe-hintha và các mẩu chuyện văn học" (trang 39, 137) có ghi lại: "**Ekatowinowa-tayan** = Tất cả đã cùng nhau nương náu nơi Niết-bàn", đó là điều chúng ta nên tưởng niệm về những bậc cao đức này. ## TRANG 516 # Hòa thượng Sayadaw U Tiloka vùng núi Thakyet (1233 - 1299) "Maung Tiloka mà cứ làm việc kiểu đó thì thật là quá sức, còn trẻ mà rồi sẽ mù mắt mất thôi." Đó là lời than phiền của Hòa thượng Ledi Sayadaw khi nghe tin về **U Tikola**. Ngay lập tức, Ngài gọi hai vị tỳ-kheo trẻ đến và bảo: "Này hai con, hãy đến chùa của Maung Tiloka. Tất cả kinh sách chép trên lá bối, sách vở, bút chì, giấy tờ hiện có ở chỗ nó, hãy thu gom hết lại và mang về để trên chùa của ta." Hai vị tỳ-kheo vâng lệnh, đến trình bày lại lời dạy của Hòa thượng và thu dọn toàn bộ sách vở của **U Tiloka** mang đi. **U Tikola** là một người có nghị lực vô cùng phi thường. Ngài sống trong một ngôi chùa nhỏ mái lá vách tre trong tòng lâm Ledi, thị xã Monywa, ngày đêm miệt mài giảng dạy, nghiên cứu và biên soạn kinh sách với sự tinh tấn mãnh liệt. Ban đêm, cảm thấy ánh sáng từ ngọn đèn dầu nhỏ không đủ, Ngài đã tự chế một ngọn đèn lớn từ thùng sắt thiếc bốn cạnh để tiếp tục xem sách. Thời kỳ đó, việc học tập phần lớn vẫn dựa vào kinh lá bối. Các chữ viết trên lá bối rất nhỏ và khít, phải bôi nước nghệ trộn dầu hỏa lên bề mặt mới có thể đọc rõ. Do tiếp xúc liên tục với khói dầu từ lá bối và hơi nóng, khói đen từ ngọn đèn dầu hỏa lớn qua nhiều ngày đêm không nghỉ, **U Tiloka** đã bị mắc bệnh về mắt. Đôi mắt Ngài đỏ rực như quả cà rừng chín và bắt đầu chảy nước mắt liên tục. Mắt sưng to như nắm đấm, máu từ cả mắt và mũi không ngừng rỉ ra. Một vị tỳ-kheo thấy vậy đã bạch lại với Hòa thượng Ledi Sayadaw, đó là lý do vì sao Ngài ra lệnh tịch thu hết sách vở. Tuy nhiên, khi bản thân không còn tự đọc được nữa, **U Tiloka** lại bảo các vị tỳ-kheo nhỏ đọc cho mình nghe để tiếp tục học hỏi. ### Thầy là bậc Tam Tạng, cha mẹ thuộc dòng dõi trưởng giả **U Tiloka** sinh vào lúc 3 giờ sáng ngày Thứ Bảy, mùng 9 tháng Tazaungmon, năm 1233 (ÂL) tại làng Khaw-thanti, khu vực Bant-kyi, phía Tây thị xã Monywa. Thân phụ là cụ U Tet Phyo, thân mẫu là cụ Daw Thi. Thân phụ Ngài thuộc dòng dõi trưởng giả giàu có, còn thân mẫu thuộc dòng dõi quan lại quyền quý. ## TRANG 517 Thời niên thiếu, Ngài theo học với Ngài Trưởng lão U Zavana tại chùa Ngõa Đạt (Ngàn Chuối), làng Khaw-thandi, phía nam. Trưởng lão U Zavana là một bậc **Tam tạng (Tipitaka-dhara)** xuất chúng, vốn là đệ tử của Đức Tăng thống Maung-daung dưới triều vua Bodaw. Ngài tu học tại Ngõa Đạt cho đến khi thọ giới Tỳ-khưu. Sau khi xuất gia không lâu, Ngài đã tìm đến cầu học với Đại trưởng lão Ledi Sayadaw. Ngài bắt đầu học từ bộ Rūpasiddhi (Văn phạm), và chỉ trong vòng năm, sáu hạ, Ngài đã thông suốt các luận giải **Pāḷi-Aṭṭhakathā-Ṭīkā** vượt trội hơn người. Trưởng lão Ledi Pandita cũng từng có thời gian thọ giáo nơi Ngài U Tiloka. Ngài U Tiloka là bậc có trí tuệ nhạy bén và nghị lực tinh tấn phi thường. Ngài Ādiccavamsa từng tán thán rằng: từ thời Bagan trở lại đây, hiếm có đôi thầy trò nào có thể thông suốt Tam tạng như hai vị ấy. Thời bấy giờ, Ngài U Tiloka đang ấp ủ một tâm nguyện, ngày đêm không nghỉ để soạn thảo một bộ kinh thư, đó chính là bộ **Nekkhamma-vidhāna Dīpanī** (Cẩm nang về Pháp Ly tham – Xuất gia). Dù khi ấy Ngài U Tiloka đang bị bệnh về mắt, không thể xem sách hay giảng kinh bằng văn bản, nhưng Ngài vẫn nhiệt tâm thuyết giảng không ngừng cho những ai tìm đến. Tuyệt nhiên, đó chính là lúc Ngài đang tích lũy năng lực từ pháp học (Pariyatti) sang pháp hành (Paṭipatti) để chuẩn bị vào rừng ẩn tu, lòng tràn đầy **Nekkhamma-jjhāsaya** (tâm nguyện tha thiết được xuất gia, ly tục). Chẳng bao lâu sau, chứng bệnh về mắt của Ngài cũng hoàn toàn tiêu biến. Cổ đức có câu “Chim quý đậu cành vàng”, vì là người thân cận bên cạnh Đại trưởng lão Ledi Sayadaw nên Ngài dường như cũng được huân nhiễm những phong thái của thầy mình. Ngài thường ghi chép và nghiên cứu dưới ánh sáng của chiếc đèn hộp sắt vuông, y hệt như cách của Đại trưởng lão. Cả hai thật đúng là những bậc đại nhân trung kiên của giáo hội. Về sau, Đại trưởng lão Ledi Sayadaw thậm chí không cần thắp đèn, người ta kể rằng (do một người thợ máy tên là U Ba Tun ở làng Paline, Mandalay, từng thấy khi còn làm chú tiểu bên cạnh Ngài) Ngài có thể biên soạn sách vào ban đêm nhờ ánh sáng phát ra từ chính đôi mắt của mình. Điều này tương tự như việc Trưởng lão Dabba dùng ánh sáng từ ngón tay trỏ để dẫn đường trong đêm tối. Dẫu sao đi nữa, có thể xem là Ngài U Tiloka không chỉ nắm vững tinh hoa pháp học mà còn thấu triệt sâu sắc các phương diện pháp hành của thầy mình. Việc gặp căn bệnh về mắt và các kinh sách bị cất giữ dường như là một lời cảnh tỉnh: “Hãy bắt đầu nỗ lực hành thiền (Kammaṭṭhāna) đi thôi”. Kể từ đó, Ngài chuyên tâm tu tập thiền định khi mới chỉ 25 tuổi. ## TRANG 518 Ở một phương diện khác, Ngài U Tiloka vừa giảng dạy kinh điển vừa nỗ lực hành đạo đặc biệt vào ban đêm. Thời ấy, tại tu viện Ledi có rất nhiều chuyện kỳ bí. Chuyện kể rằng thường có một thực thể phi nhân (quỷ dạ xoa) hiện hình nằm ngủ nơi cầu thang tu viện. Vào một đêm trời tối mịt và u ám. Khi toàn bộ tu viện đã chìm vào giấc ngủ sâu, Đại trưởng lão đang đi kinh hành nơi hành lang dài 60 thước. Khi Ngài nhìn về phía ngôi thất nhỏ gần cây Thnaung nơi Ngài U Tiloka đang ở, bỗng nhiên Ngài dừng bước. Lý do là toàn bộ ngôi thất của Ngài U Tiloka đang tỏa sáng rực rỡ như được thắp bởi ánh sáng điện khí. Ba bốn ngày sau, nhân lúc vắng người, Đại trưởng lão gọi Ngài U Tiloka đến để giáo hóa: “Này Maung Tiloka, về mặt pháp học, truyền dạy kinh điển thì con đã viên mãn rồi. Hiện tại con không nên ở lại tu viện này nữa, hãy đi đến nơi nào con muốn đi”. Ngài U Tiloka chỉ đáp: “Bạch Đại đức, xin vâng ạ”, rồi đảnh lễ và trở về liêu phòng của mình. Ngày hôm sau, với một bình bát, ba tấm y và bản thảo bộ **Nekkhamma-vidhāna Dīpanī** do chính mình soạn thảo, Ngài bước xuống khỏi ngôi thất để rời khỏi Ledi. Trước khi đi, Ngài vào đảnh lễ thầy lần cuối và bạch rằng: “Bạch Thầy, con chỉ có thể quay lại tu viện Ledi này từ trên hư không mà thôi”. (Có lần Đại trưởng lão từng kể với cư sĩ Pyaw-bwe Sayathetgyi rằng: Lúc đó định lực của Ngài U Tiloka đã rất thâm hậu, nếu cứ tiếp tục ở giữa đám đông tại tu viện Ledi thì định lực ấy sẽ bị suy giảm, nên Ngài mới bảo đi; nhưng Ngài U Tiloka lại có chút chạnh lòng vì nghĩ rằng thầy không muốn mình ở lại nữa nên mới xua đuổi). ### Dùng pháp điều phục tâm tự phụ Ngài bắt đầu cuộc hành trình cô độc, đi qua nhiều làng mạc, rừng núi tiến về phía thượng nguồn sông Chindwin để chuyên tâm hành đạo. Đó là năm 1259 (Miến lịch), khi Ngài 26 tuổi. Do khí hậu vùng thượng nguồn sông Chindwin không được thuận lợi (asappāya), Ngài chuyển đến trú ngụ tại một ngọn núi gần Kyaik-hto, vùng Thaton. Vì đây là nơi trú ngụ của những bậc đang nỗ lực hành thiền (**Sekkhapuggala** - bậc Hữu học), nên ngọn núi được đặt tên là “The-kya-daung” (Núi Hữu Học). Ngài nỗ lực tu hành không quản ngày đêm. Các đệ tử tìm đến cầu đạo và các am thất cũng tăng lên nhanh chóng. ## TRANG 519 Nơi hẻo lánh ấy bỗng trở nên sầm uất như một thị trấn. Đó quả là một **Brahmacārūpaddava** (chướng ngại cho đời sống phạm hạnh). Có vẻ như khi ấy Ngài rất khao khát chứng đắc các tầng Thiền định và Thần thông (Abhiññā). Đại trưởng lão Ledi đối với người đệ tử đầy nhiệt huyết và kiên cường này luôn có một tình thương sâu sắc và sự lo lắng khôn nguôi. Ngài cũng đặt nhiều kỳ vọng vào người đệ tử có thể nối chân mình này. Nhân duyên đến vào tháng Tazaungmon năm 1260, Ngài nhận được một bức thư từ Ngài U Tiloka. Trong thư viết: “Nếu đệ tử nhận được sự hộ trì của thầy, thì việc phạm hạnh có thể hoàn tất trong một sớm một chiều”. Xem thư xong, Đại trưởng lão mỉm cười. Tuy nhiên, vì lòng thương đệ tử cũng như có cảm tình với vùng núi rừng Kyaik-hto, vào ngày mùng 9 sau trăng tròn tháng đó, Ngài đã cùng đệ tử Ledi Pandita lên đường tìm đến. Sự hiện diện của Đại trưởng lão Ledi Sayadaw khiến Ngài U Tiloka cùng các đệ tử vô cùng hoan hỷ và hết lòng hầu cận. Một ngày nọ, theo lời kể của người hộ tông Maung Samon, họ bí mật tìm đến lán lá nơi Đại trưởng lão đang độc cư thiền định. Họ kinh ngạc thấy Đại trưởng lão đang ngồi kiết già, đôi mắt nhắm nhẹ, toàn thân lơ lửng cách mặt đất khoảng hai gang tay với phong thái vô cùng tĩnh tại. Dường như Đại trưởng lão đang dùng thực chứng để điều phục tâm tự phụ về kiến thức và pháp hành của Ngài U Tiloka. Trong thời gian ở Kyaik-hto, một hôm Đại trưởng lão bảo Ngài U Tiloka và Ledi Pandita mỗi người mang bát, cầm gậy cùng Ngài đi chiêm bái chùa Kyaik-htiyo. Khi đi sâu vào rừng rậm, một con voi rừng hung dữ bỗng lao thẳng về phía Đại trưởng lão. Hai vị đệ tử U Tiloka và U Pandita hoảng sợ chạy đến leo lên những cái cây gần đó. Riêng Đại trưởng lão vẫn đứng vững bất động, đối diện với con voi đang lao tới bằng tâm Từ bi mãnh liệt, giống như cảnh Đức Phật điều phục voi Nalagiri. Chẳng bao lâu sau, con voi rừng bỗng cúi đầu cung kính rồi rẽ sang lối khác bỏ chạy. Sau khi con voi đi khuất, hai vị đệ tử mồ hôi đầm đìa mới dám leo xuống khỏi cây. Lúc ấy, Đại trưởng lão với gương mặt rạng rỡ và giọng cười ôn hòa, nói rằng: “Này Maung Tiloka, bức thư con viết cho thầy và thực tế này có chút khác biệt nhỉ”. Ngài U Tiloka khi ấy mới thức tỉnh, nhận ra mình đã rơi vào tâm **Adhimāna** (tăng thượng mạn), lầm tưởng mình đã chứng đắc quả vị A-na-hàm (Anagami). Thời Tích Lan cổ đại, cũng có vị **Đại trưởng lão Mahānāga - bậc thông thạo Tam tạng**, do đạt được định lực và thần thông hiệp thế nên lầm tưởng mình đã đắc quả A-la-hán. Một vị đệ tử đã chứng đắc A-la-hán và có thần thông tìm đến thầy, yêu cầu thầy hóa phép ra một con voi, rồi chính con voi ấy... ## TRANG 520 Khi được yêu cầu hóa phép ra vẻ như sắp đâm giết mình, ngài đã hoảng sợ khi cận kề cảnh bị voi húc (điều này có chép trong **Visuddhimagga Atthakatha** - Thanh Tịnh Đạo Chú Giải). Cũng tương tự như vậy, có lần tôi từng nói với bạn bè rằng: "Con voi bây giờ cũng có thể là voi rừng hoang dã, hoặc biết đâu lại là voi của **Đại trưởng lão Ledi Sayadaw**", nhưng tất cả đều phản đối. Vì thế, ở đây tôi cũng e dè không muốn nhắc lại lời đó nữa. Nhưng việc gặp voi rừng là có thật. Dù sao đi nữa, nếu xét theo các tình tiết của sự việc, có thể hiểu đó là tâm thế "dùng Chánh Pháp để nhiếp phục cái mạn của Pháp". ### Hiệu đính kinh sách bằng tuệ giác hành thiền Ngài Trưởng lão **U Tiloka** tự mình nỗ lực thực hành hết sức tinh tấn. Ngài cũng tiếp nhận và hướng dẫn thiền cho các đệ tử hành giả. Ngài còn du hành khắp nơi để thuyết giảng và biên soạn nhiều tác phẩm kinh sách. Có thể nói ngài là người đã nối gót bậc thầy để đánh vang tiếng trống Ba-la-mật (Patipatti) của đất nước Myanmar. Các tác phẩm do ngài biên soạn gồm có: 1. **Nekkhamma Vidhāna Dīpanī** (1258), 2. **Ariya Magga Dīpanī** (1262), (bên trong có trích dẫn quyển Vijjā Magga Dīpanī của Ledi Sayadaw). 3. **Paṇḍita Vedanīya Dīpanī** (1267), 4. **Tāing Kyī Soḷasa Dīpanī** và quyển chú dẫn nhỏ kèm theo (1280), 5. **Niruttti Padabyañjanī**, 6. **Viniccaya Pakāsanī**, 7. **Catubbiddha Byākaraṇa**, 8. **Abhidhammattha Sarūpa Dīpanī** (1273), 9. Các quyết định về Mangala, các loại Viniccaya (phán quyết) và thơ ca Ratu, 10. **Dhammarāsī Kyan** (do các đệ tử ấn hành năm 1296 sau khi ngài viên tịch). Trong số đó, liên quan đến việc thực hành thiền định, tác phẩm **"Paṇḍita Vedanīya Kyan"** là nổi tiếng nhất. Cho đến nay, chưa có tác phẩm nào đầy đủ hơn về các phương pháp tu tập Kasina (đề mục biến xứ). Đối với những ai muốn theo lộ trình Thần thông (Abhiññā), đây là tác phẩm đặc biệt thú vị. Cách quán chiếu sáu đại (dhātu) bao trùm toàn bộ thế giới hữu tình và vô tình trong tập sách này thậm chí còn đầy đủ hơn cả các bài viết của **Ngài Ledi Sayadaw**. ## TRANG 521 Trong quá trình biên soạn tập sách đó, ngài viết theo lối giảng giải cho đệ tử giống như cách Đức Phật thuyết cho đồ chúng. Những bài kệ trong **Sekkhabhāsita Sutta** cũng được đưa vào, tạo nên sự mới lạ cho người nghe. Vì ngài viết theo lối gọi "Này các đệ tử, này các đệ tử", nên có một vị sư đã bạch với **Đại trưởng lão Ledi Sayadaw** rằng: "Bạch ngài, đọc sách của vị ấy thì rất hay, nhưng cái cách gọi 'đệ tử' nghe thật khó chấp nhận." Ngài Ledi đáp rằng: "Nếu không muốn bị gọi là đệ tử thì đừng đọc sách của ông ấy." Liên quan đến những trải nghiệm thực chứng tâm linh, cuốn sách cũng chứa đựng nhiều điều rất đáng ghi nhớ. Phần viết về mười chướng ngại của **Vipassanā** (Minh sát) cũng cực kỳ lôi cuốn. ### Ánh sáng và các ngã rẽ của Vipassanā Ngài Trưởng lão đã trình bày mười điều làm ô nhiễm **Vipassanā** một cách đầy đủ hơn trong tác phẩm **"Abhidhammattha Sarūpa Dīpanī"**, vốn được viết sau quyển **Paṇḍita Vedanīya**. 1. **Obhāsa** = Hào quang (ánh sáng), 2. **Pīti** = Sự hỷ lạc quá mức, 3. **Passaddhi** = Sự khinh an (thanh tịnh) và đức tin cực độ, 5. **Paggaha** = Sự tinh tấn quá mức cân bằng, 6. **Sukha** = Sự an lạc (hạnh phúc) quá mức, 7. **Ñāṇa** = Trí tuệ cực kỳ sắc sảo, 8. **Upaṭṭhāna** = Sự thiết lập chánh niệm cực mạnh, 9. **Upekkhā** = Sự xả (quân bình) mạnh mẽ, 10. **Nikanti** = Sự đắm nhiễm, thỏa mãn (với những trạng thái trên). Về mục **"Hào quang/Ánh sáng"** trong mười loại trên, ngài Trưởng lão đã đưa ra nhận định như sau: ["Hào quang **Obhāsa** không phải ai cũng có. Nó thường xuất hiện ở những người đã đắc **Cận định (Samādhi)** hoặc các tầng **Thiền định (Jhāna)** vững chãi. Đó là ánh sáng của tâm thanh tịnh và tuệ thanh tịnh mà chỉ bản thân hành giả thấy được, người khác không thấy. Đôi khi hào quang cũng có thể phát ra từ thân đến mức người khác có thể nhìn thấy được."] Trong mười loại này, chỉ riêng **"Nikanti"** là bất thiện và là yếu tố then chốt (gây hại). Chín loại còn lại thực chất là những pháp tốt giúp làm già dặn **Tuệ giác (Bodhi-ñāṇa)**, thuộc về các pháp **Bồ-đề phần (Bodhipakkhiya)**. Chúng là những dấu hiệu của sự tiến bộ trong tu tập. Tuy nhiên, vì hành giả thường ## TRANG 522 sinh tâm ưa thích và quyến luyến những tiến bộ đó... nên chúng mới được gọi là **Vipassanupakkilesa** — mười pháp làm ô nhiễm **Vipassanā**, hay mười loại 'gỉ sét' của hành giả Minh sát." Những nhận định của ngài liên quan đến mười loại này rất đáng lưu tâm. Trong quyển **Paṇḍita Vedanīya Kyan** (1267), ngài đã nhận định về **Obhāsa** như sau: ["Khi nảy sinh **Anicca-vijjā-ñāṇa** (Tuệ trí về vô thường) có khả năng thấy rõ bản chất sinh diệt của **Udayabbaya**, thì trước đó thường xuất hiện ánh sáng của tuệ, ánh sáng của tâm, gọi là **Āloka** (Quang minh). Ánh sáng **Āloka** này được gọi là **Obhāsa**. Này các đệ tử, đây không phải là loại hào quang phát ra từ thân rực rỡ đâu. Đó là ánh sáng **Āloka** do tâm và tuệ thanh tịnh khi các phiền não (kilesa) tạm lắng dịu. Lúc bấy giờ, vị hành giả ấy giống như người có **Thiên nhãn (Dibba-cakkhu)**, có thể dùng ý môn (manodvāra) để thấy rõ các sắc trần dù ở xa, bị che khuất hay ngay cả trong đêm tối. Này các đệ tử, khi ấy các chi **Thiền (Jhāna)** xuất hiện như lúc sắp đạt đến **Patibhāga** (tương tự tướng) trong định, đồng thời các pháp **Đạo chi (Maggaṅga)**, **Giác chi (Bojjhaṅga)**, **Bồ-đề phần (Bodhipakkhiya)** cũng trở nên mạnh mẽ và hiển lộ rõ ràng. Khi thấy được những điều đặc biệt chưa từng thấy, chưa từng gặp trước đây trong tự thân mình như vậy, hành giả dễ nảy sinh ý nghĩ: 'Đây hẳn là Đạo quả rồi, mình chắc đã đắc Đạo quả rồi'. Này các đệ tử, không được tưởng tượng như thế. Đó vẫn chưa phải là Đạo quả đâu."] Khi viết quyển **Abhidhammattha Sarūpa Dīpanī** (1273), ngài đã vạch rõ và cảnh báo về những hiểu lầm, thấy sai, biết sai trong **Vipassanā** một cách công khai hơn như sau. Những lời di huấn của các bậc vĩ nhân đã trực tiếp chứng nghiệm là điều chúng ta cần phải hết sức tôn trọng, lưu tâm và làm theo: ### Điên vì thiền, mê hoặc vì định ["Đối với những người không thuần thục trong lộ trình tu tiến, khi rơi vào trạng thái này (tức là **Udayabbaya-ñāṇa** - Tuệ Sanh Diệt, hay còn gọi là **Maggāmagga-ñāṇadassana-visuddhi** - Đạo Phi Đạo Tri Kiến Thanh Tịnh), họ thường lầm tưởng rằng: 'Chính những trạng thái **Pīti** (Hỷ), **Passaddhi** (Khinh an) này là Đạo, là Quả; vì đắc Đạo Quả nên hào quang (**Obhāsa**) mới phát ra. Ta đã đắc pháp cao thượng Đạo Quả rồi, phận sự đã xong'. Họ dừng lại ngay giữa lộ trình và rồi dần thoái hóa, hư hỏng. Dù không lầm tưởng là Đạo Quả, nhưng nếu sinh tâm tâm đắc, thăng hoa và thỏa mãn quá mức với các hiện tượng **Obhāsa**, **Pīti** đó, thì **Taṇhā-nikanti** (Ái thỏa mãn) sẽ phát khởi mạnh mẽ, khiến tâm bị vẩn đục..."] ## TRANG 523 Trong các pháp Bồ-đề-phần đó, nếu tâm bị chìm đắm (hôn thụy) thì sẽ dẫn đến sự suy thối và hư hỏng. Ngược lại, nếu hành giả cứ mải mê theo đuổi và bám lấy những hiện tượng đặc biệt mới phát sinh như **Hào quang (Obhāsa)**, **Phỉ lạc (Pīti)**... khiến tâm bị chấn động và phóng dật (**Dhammuddacca - Pháp trạo cử**) thì cũng dẫn đến sự suy thối và hư hỏng. “Mặt khác, trong khi nỗ lực thực hành Vipassanā như thế này, các vị chư thiên có lòng thành kính nhưng chưa am tường giáo pháp có thể sẽ hỗ trợ bằng cách làm hiện ra các cảnh giới (ấn chứng) cho hành giả thấy. Để hành giả thấy được tướng Vô thường (Anicca), họ hóa phép ra những cảnh tượng hoại diệt; để thấy tướng Khổ (Dukkha), họ hóa ra hình ảnh người bệnh, người chết, hay những bộ xương. Thậm chí trong khi tu tập Samatha (Thiền chỉ), họ cũng hóa phép ra các cảnh giới của định (ấn chứng - nimitta). Bất cứ cảnh giới nào mà hành giả muốn thấy, họ đều có thể làm cho hiện ra đủ loại. “Khi những cảnh giới ấy hiện lên, đó không phải do trí tuệ của tự thân hành giả đã già dặn mà thấy. Vì trí tuệ chưa già dặn, chưa trong sáng, mà lại thấy cảnh do tác động (payaoga) của người khác, nên hành giả dễ sinh lòng sợ hãi, khiếp nhược, khiến tâm huyết bị loạn động. Bởi lẽ sự thấy này không phải do trí tuệ chín muồi đúng thời điểm, nên những cảnh giới do chư thiên hóa hiện ấy cũng giống như vàng bạc, cơm nước do ảo thuật gia biến ra: chúng không thể có được lâu dài hay tồn tại bền vững. Giống như người ăn cơm nước của ảo thuật gia thì không thể no bụng hay hết đói, việc nhìn thấy và đắm mình trong các cảnh giới ấn chứng do chư thiên hóa hiện kia cũng không giúp đoạn trừ Niết-bàn-chướng (Nīvaraṇa - Triền cái), không giúp đắc được các pháp đặc biệt như Thiền định (Jhāna) hay Đạo quả (Magga). Công việc tu tập sẽ không thể hoàn tất. “Nếu không từ bỏ hay xua tan những cảnh giới do chư thiên hiện ra đó, mà lại khởi tâm thỏa mãn, vui mừng, ưa thích ngắm nhìn, thì các vị chư thiên ấy cũng sẽ nghĩ rằng: 'Hành giả này ưa thích cảnh giới của ta', rồi họ càng thêm lòng quý mến và hóa hiện cảnh giới rõ rệt hơn nữa. Họ cũng dùng oai lực thiên giới để ban cho hay rót thêm thần thông vào người hành giả trong khả năng của họ. Khi chư thiên thường xuyên ban cho và rót thêm thần thông như vậy, hành giả đó có thể sẽ đạt được 'mắt thấy, tai nghe' (thiên nhãn, thiên nhĩ) hay các loại bùa phép, nhưng sẽ không bao giờ chạm tới được con đường Thiền định hay Thánh đạo. Các phiền não triền cái sẽ không thể đoạn trừ. Loại bùa phép có được theo cách này được gọi là 'Bùa chú định lực' (Samādhi hmaw). “Đây chính là những vực thẳm và nẻo tà cắt ngang, chắn lối trên con đường Thiền định và Thánh đạo. Trí tuệ có khả năng quyết trạch rằng: 'Đây không phải là đường Thiền, đường Đạo; đây là đường vòng, nẻo tà, là vực thẳm. Đây mới là con đường Thiền, đường Đạo thẳng tắp, chân chính mà bậc Thánh đã đi'; đồng thời dùng tuệ giác để chế ngự và dứt bỏ những chướng ngại dị kỳ gặp phải ngay trên con đường đó, đưa tâm trở lại với Vipassanā để nhận biết và đi theo đúng lộ trình - trí tuệ ấy được gọi là '**Mmagga-magga-ñāṇadassana Visuddhi**' (Đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh).” [ **Magga** = đường đúng, **Amagga** = đường sai; **Ñāṇadassana** = trí tuệ thấy biết; **Visuddhi** = sự trong sạch. ] Ở điểm này, kinh nghiệm của Ngài Sayadaw thật rõ ràng và dứt khoát. Việc chư thiên hóa hiện cảnh giới và những tri kiến về Vô thường, Khổ não cũng giống như việc ăn cơm ảo thuật: không thể thực sự no lòng. ## TRANG 524 Nếu hành giả chấp nhận những cảnh giới đó, họ sẽ tiếp tục ban cho các thần thông về nghe nhìn (linh thông). Dù có vẻ như đã "đắc đạo", nhưng phiền não không hề giảm bớt, trái lại còn trở thành chướng ngại vô cùng sâu nặng. Tuy nhiên, về việc coi thực thể tạo ra những cảnh giới này là "chư thiên quá kính tin mà không hiểu pháp" thì cũng cần phải suy xét kỹ. (Trong các kinh điển như **Devatā Saṃyutta - Tương Ưng Chư Thiên**), ta thường thấy chư thiên bảo vệ và giúp đỡ theo đúng khả năng của họ; nếu hành giả sai lạc, họ sẽ giúp đưa về đường chính. Kẻ hỗ trợ khiến hành giả lạc lối trên con đường tu tập Thiền - Đạo - Quả đến mức sa xuống vực thẳm chắc chắn không phải là những vị chư thiên có đức tin trong sạch nơi giáo pháp. Ta hoàn toàn có thể tin rằng đó chỉ là những vị ác thiên có tà mạng (Thiên ma). Ngay cả trong việc luyện kim thuật (phò thâu), còn có những vị thần chuyên trộm "đạn dược" (ball); kẻ trộm cướp và phá hoại thì không thể là bạn, mà chính là kẻ thù. ### Luyện kim trong hang đá, hạt giống và môi trường Ngài U Tiloka là một bậc đặc biệt, thông suốt Pháp học (Pariyatti) từ khi còn rất trẻ và có chí hướng rất lớn trong Pháp hành (Paṭipatti). Tuy nhiên, có lẽ vì tự phụ vào kiến thức kinh điển và sức trẻ, Ngài dường như không cầu học phương pháp tu tập từ những bậc thầy lớn như Ngài Ledi Sayadaw. Do những lời nói quá mức hoặc vượt ngoài khuôn khổ, chính Ngài Sayadaw (Ledi) đã phải đứng ra nâng đỡ, khích lệ. Tâm nguyện muốn "bay lên trời" của Ngài U Tiloka cũng rất mãnh liệt. Với sức trẻ, trí tuệ sắc bén và sự nỗ lực tinh tấn đến mức hy sinh cả tính mạng, dường như Ngài đã gặp phải nhiều sự lạc lối. Vì tài hùng biện và giảng giải hay, thính chúng vây quanh rất đông, nên Ngài càng muốn cắt đứt mọi liên hệ với thế gian để tu tập một cách triệt để hơn. (Như đã trình bày ở trước, nếu phương pháp không đúng thì nỗ lực càng mạnh, nguy hại càng lớn). Có khi Ngài tu tập bằng cách nhịn ăn. Có khi Ngài lại bế môn tu luyện trong hang núi ở vùng núi Thay-kya-taung. Những phương pháp thực hành này đã vô tình rơi vào lối tu tập không thuộc về "**Majjhima Paṭipadā**" (Trung đạo). Các vị Lạt-ma Tây Tạng theo Mahāyāna hay các tu sĩ Sadhu Fakir ở Ấn Độ thường có tập tục tu trong hang hay ẩn mình dưới đất. Năm 1837, tại thành phố Lahore (Ấn Độ), một tu sĩ Fakir tên là Haridat đã biểu diễn việc ẩn mình dưới lòng đất suốt 40 ngày. Tại Miền Điện, cách đây khoảng 20 năm, cũng có một vị tăng tên là U Magha đã viên tịch trong khi bế môn tu khổ hạnh trong hang. Có lẽ họ đã bị những ảo giác đánh lừa rằng "phải tu như thế này mới đắc pháp cao thượng". ## TRANG 525 Giống như các tầng sóng radio đan xen trên bầu trời, trong lĩnh vực định lực thế gian, các tầng sóng cũng vô cùng hỗn tạp và khó lòng phân định. “Dù hạt giống xoài và hạt giống sầu đâu (tamar) cùng được gieo trên mảnh đất này, cùng uống chung dòng nước, hít thở chung bầu không khí và nhận chung một ánh sáng để sinh trưởng, nhưng khi kết trái, giống xoài thì ngọt mà giống sầu đâu lại đắng. Chính cái gốc mầm cố hữu (**Diṭṭhibīja - Chủng tử tri kiến**) đã làm nên sự khác biệt. (Nguyên lý này đã được đức Thế Tôn thuyết trong **Ekadhamma Pāḷi**, phẩm thứ hai, **Ekaṅguttara - Tăng Chi Bộ**). Dù là giống tốt, nhưng nếu "rễ bị quấn bởi dây đắng, trồng xen kẽ nhau, thì cây xoài chúa cũng mất vị ngọt", như câu chuyện về cây xoài trong **Jātaka Dadhi-vāhana**: do môi trường không tốt mà trái trở nên đắng. Những chấp thủ về Tham, Ngã mạn, Tri kiến (Taṇhā, Māna, Diṭṭhi) trong tâm khảm và những ác hữu chính là tác nhân khiến cái ngọt trở thành cái đắng (ngay cả khi đang thực hành pháp này). Từ khởi thủy không bờ bến cho đến tận ngày nay, các pháp luyện tâm như Ānāpāna (Niệm hơi thở) đã tồn tại ở khắp mọi nơi, mọi sắc tộc, mọi tôn giáo với những hình thức tương tự nhau. Dù cùng thực hành Niệm hơi thở y hệt nhau, nhưng nếu đích đến (**Niṭṭha**) khác nhau, thì dù nhân giống nhau, quả vẫn không thể tương đồng. “Đích đến của các Bà-la-môn là Phạm thiên giới, của các đạo sĩ (Rishi) là cung trời Ābhassarā (Quang Âm Thiên), của các du sĩ (Paribbajaka) là cung trời Subhakiṇhā (Biến Tịnh Thiên), của các tu sĩ tà mạng (Ājīvaka) là cõi Vô tưởng (Asaññī-bhava); còn đích đến của những hành giả trong giáo pháp này chính là quả vị A-la-hán (Arahatta-phala)”. (Điều này đã được phân định rõ trong phần chú giải kinh **Cūḷasīhanāda Sutta** của **Mūlapaṇṇāsa - Trung Bộ Kinh**). Đừng vì thấy những điểm tương đồng ở phần thế gian mà để trí tuệ bị mê mờ. Có rất nhiều "vị thầy, người bạn" (giống như sóng radio không nhìn thấy được) dẫn dắt sai lạc, khiến trí tuệ rối loạn và làm cho trái ngọt cũng phải hóa đắng. Vào khoảng năm 1276 (Miến lịch), Ngài U Tiloka lại một lần nữa dốc lòng vào việc luyện kim thuật, dẫm chân lên con đường cầu tìm thần thông diệu pháp. Trong giới tăng sĩ Miền Điện, trào quyền luyện kim (phò thâu) theo lối các đạo sư thần thông Mahāyāna - vốn không hề quan trọng trong đời sống Phạm hạnh (Brahmacariya) - lại đang khiến nhiều người nhẹ dạ đi theo. Thật là điều đáng hổ thẹn đối với đức Bổn Sư. ### Vị đạo sĩ nuôi trẻ bằng ngón tay Vì một lý do nào đó, Ngài lại chuyển từ hình thức tỳ-kheo sang hình thức đạo sĩ du sĩ (Rishi Paribbajaka). Về nguyên nhân này, ông lão Sayat Thet Gyi (người từng sống gần Ngài) đã khẳng định rằng đó không phải do chuyện nữ sắc (Visabhāga). ## TRANG 526 Khi ấy, do không thấu triệt được những cạm bẫy xảo quyệt của Ma vương (Mara) và sự biến hóa khôn lường của nghiệp lực, một số người đã khởi tâm chê bai. Sự việc đáng trách không chỉ dừng lại ở đó. Tại cổng chùa, Ngài lại thu nhận một bé gái mồ côi về nuôi dưỡng. Lại có lời đồn rằng, một phụ nữ nhan sắc mỹ miều đã đi theo Ngài đến tận các thị trấn, làng mạc nơi Ngài thuyết pháp để chăm sóc, phục dịch cơm nước, giặt giũ. Sự kết hợp của ba yếu tố: mặc y đạo sĩ, nuôi con nhỏ, và sự thân cận thái quá của một nữ thí chủ đã khiến không ít người thêu dệt nên những ý niệm sai lạc. Việc này chẳng khác nào mưu kế của bọn ngoại đạo thuở xưa, cho nàng Ciñcā-Māṇavikā thường xuyên ra vào tinh xá để vu khống Đức Thế Tôn. **Ma vương** (Māranaṭ) nếu không dụ dỗ được bậc tu hành bằng sắc đẹp của con gái mình, thì cũng sẽ bày ra những cảnh tượng mập mờ, "nửa hư nửa thực" để gieo rắc sự nghi kỵ trong lòng thế gian. Có người hỏi rằng: "Về đứa trẻ được nhặt ở cổng chùa, **Cụ Shwe Tet** (Sayar Thet Gyi) từng thưa hỏi: 'Bạch Ngài, đứa trẻ này Ngài nuôi nấng chăm sóc ra sao?'" Ngài đáp rằng: "Này ông Tet, sư chỉ có ngón tay trỏ này thôi, mà đứa bé đã lớn đến chừng này đấy." (Tương truyền rằng Ngài nhai cơm rồi phết lên ngón tay trỏ cho đứa trẻ mút mà sống qua ngày). Sau này, bé gái ấy dường như đã đi theo phụng sự Ngài để báo đáp ân đức cứu mạng. Có lời kể rằng về sau cô đã lập gia đình với một viên tri huyện. Mưu kế của **Ma vương** thật nham hiểm, dù sự thật "không phải vậy" nhưng kẻ này lại khéo dàn dựng khiến người đời nhìn vào đều thốt lên "rõ ràng là vậy". Dù thế nào đi nữa, giai đoạn sau của cuộc đời **U Tiloka** vẫn luôn bị những "luồng khí chao đảo" (amway dāt) quấy nhiễu theo ý muốn của chúng. Việc Ngài từ bỏ hình tướng tỳ-khưu để mặc y đạo sĩ chắc hẳn không phải xuất phát từ nguyên nhân liên quan đến phụ nữ (mātugāma). Đôi khi, người hành giả dù không có vi phạm thực thể nào, nhưng lại bị đội quân của **Hối hận Ma** (Kukkucca Māra) áp đảo, tự cáo buộc mình phạm giới bằng đủ loại lý lẽ tự huyễn hoặc để rồi tự hạ thấp phẩm hạnh của mình. Đây là điều mà các hành giả tỳ-khưu cần hết sức tỉnh giác. ### Người đi lên Mặt Trăng và Người đi đến Niết-bàn Tại đây, xin được phép trình bày đôi chút về các phi hành gia – những anh hùng không gian du hành lên Mặt Trăng. Cung trăng vốn dĩ khác biệt hoàn toàn với thế gian này. Suốt dọc hành trình đi đến đó, ## TRANG 527 có vô vàn những chướng ngại. Khi rời khỏi Trái Đất để bay vút lên cao, các điều kiện như thời tiết hoàn toàn đảo ngược so với những gì chúng ta trải nghiệm trên mặt đất. Chỉ trong khoảng 7 dặm đầu tiên, nhiệt độ còn ổn định như ở mặt đất, nhưng khi lên đến độ cao 50 dặm, nhiệt độ có thể lên tới 117 độ F. Càng lên cao càng nóng. Ở độ cao khoảng 250 dặm, sức nóng có thể đạt đến 418 độ. Quá 12 dặm, bầu trời dần chìm vào bóng tối đặc quánh, sắc xanh lam dịu nhẹ hoàn toàn biến mất. Áp suất không khí càng xa Trái Đất càng giảm mạnh. Khi áp suất bên trong cơ thể và áp suất không khí bên ngoài không còn cân bằng, các mạch máu và khí quản có thể bị vỡ tung. Càng lên cao không khí càng loãng, nên các phi hành gia phải mang theo dưỡng khí (oxy) để thở. Nếu không có oxy mang theo, ở độ cao 40.000 bộ, con người chỉ có thể duy trì sự sống trong vòng 4 phút. Trong không gian không có âm thanh (vì không có môi trường truyền dẫn). Không thể nói, cũng chẳng thể nghe. Ở đó không có mây mù, không có thời tiết, cũng chẳng có khái niệm ngày đêm. Vì không còn chịu ảnh hưởng của trọng lực Trái Đất nên mọi vật đều mất đi trọng lượng. Một vật nặng 1 pound ở mặt đất, khi lên đến độ cao 8.000 dặm chỉ còn nặng khoảng 7/19 ounce. Chính vì vậy, khi bước đi trong không gian, bước chân không còn chuẩn xác, không có cảm giác mỏi mệt, dù có rơi vào trạng thái lộn ngược ngọn đầu xuống dưới cũng chẳng thấy khó khăn. Tóm lại, tất cả những cái thấy, cái biết của con người trên mặt đất đều bị đảo ngược hoàn toàn khi ở trong không gian. Bởi sự khác biệt về nóng lạnh, nặng nhẹ, nghe nhìn như vậy, nên những người muốn bay vào không gian phải trải qua quá trình huấn luyện khắc khổ: phải ở trong các phòng cực lạnh, cực nóng trên mặt đất suốt nhiều ngày để rèn luyện sức chịu đựng; thực phẩm không thể ăn bằng thìa hay đĩa mà phải tập ép ra từ những ống như tuýp kem đánh răng suốt nhiều tháng trời; để chịu được sự rung lắc dữ dội có thể làm vỡ mạch máu của tên lửa, họ phải chui vào những khối cầu sắt để chịu đựng sự va đập, lăn lộn thử nghiệm trong nhiều ngày. Những nỗi khổ ấy thật vô lượng (đây là điều mà các hành giả cần lấy đó làm gương). Vì mọi thứ giữa Trái Đất và không gian đều khác biệt, nên khi người phi hành gia đạt đến độ cao 10.000 bộ, họ bắt đầu cảm thấy chán nản, thất vọng với môi trường xung quanh một cách tự nhiên. Sự tự tin vào bản thân cũng giảm sút. Dù có phạm phải sai lầm, họ cũng không đủ tỉnh táo để nhận ra và sửa chữa, thường rơi vào trạng thái bàng hoàng, thẫn thờ. Ở độ cao từ 15.000 đến 25.000 bộ, họ bắt đầu có những hành vi điên rồ như người say rượu. Sự tự cao (māno) tự nhiên trỗi dậy mạnh mẽ. Dù làm sai nhưng họ vẫn luôn cho rằng mình đang làm đúng. Tâm trí rơi vào trạng thái hoảng loạn, mông lung. Những điều này cần phải được biết trước. ## TRANG 528 Những lời mở đầu về bối cảnh cuộc đời của một hành giả đang chuẩn bị nỗ lực thoát khỏi lực hút của 31 Cõi (Khổ giới) cũng tương tự như các phi hành gia đang nỗ lực thoát khỏi lực hấp dẫn của Trái Đất vậy. ### Pháp mà hàng phàm phu hãi sợ (Trong **Kinh Rūpārāma - Tương Ưng Sáu Xứ**), đúng như lời Đức Thế Tôn đã thuyết giảng: tất cả những quan niệm của phàm phu (quan niệm dựa trên Ái, quan niệm dựa trên Ngã mạn, quan niệm dựa trên Tà kiến) đều trở nên đảo ngược dưới nhãn quan của bậc Thánh (Ariya). Định lực càng cao thì sự khác biệt càng rõ rệt, nếu trí tuệ chưa chín muồi thì khi ảo tưởng, kỳ vọng hay sự chấp trước càng lớn, sự rung động và hoảng sợ sẽ càng mãnh liệt. Thuở xưa tại Tích Lan, có một vị tỳ-khưu đang thuyết giảng về Pháp Minh Sát (Vipassanā) dựa trên **Ba Tướng** (Vô thường, Khổ, Vô ngã). Khi ấy, một thiện nam đang lắng nghe, ngay khi vừa nhìn thấy sự sanh diệt, ông ta bỗng cảm thấy như mình đang rơi xuống từ đỉnh một vách đá cheo leo, rồi nhận ra: "Ta không còn nữa, cái của ta cũng chẳng còn nữa!", chính sự chứng ngộ ấy khiến ông kinh hãi tột độ mà bỏ chạy về nhà. (**Chú giải Kinh Udāna - Tạng Kháp**) Vì ở giai đoạn chuyển tiếp này, giữa ảo tưởng (saññā) và thực chứng (viññāṇa) dễ có sự sai lệch, nên hành giả cần phải rèn luyện và thanh lọc tâm bằng Giới hạnh ngay từ đầu để có thể buông bỏ sự dính mắc tối đa, thấu hiểu rằng: "Chỉ có danh và sắc đang sanh diệt, không có ta, không có của ta." Giáo pháp của bậc Thiện Thệ quả thực là một điều đáng sợ đối với những kẻ ngu muội vốn chỉ mong cầu được quẩn quanh mãi trong nhà lửa của 31 Cõi này. ### Các luồng phân nhánh của sáu giác quan Nếu không thể thanh lọc bằng Giới (Sīla), Tâm từ (Mettā) hay Văn tuệ (Sutamaya-ñāṇa), trí tuệ của hành giả sẽ càng trở nên rối loạn. Giống như người phi hành gia bay vào không gian, hành giả sẽ rơi vào trạng thái không tin tưởng vào chính mình, không biết vận dụng các công cụ đắc lực như Giới và Tâm từ, không dám nương tựa vào chúng, rồi rơi vào thẫn thờ vì không tìm ra giải pháp, hoặc sinh lòng tự cao, cho rằng mọi việc mình làm đều đúng, dù có làm sai cũng không đủ tỉnh giác để sửa đổi, tâm trí trở nên hoảng loạn, điên cuồng. 1. Nhãn căn: Thấy những hình tướng kỳ lạ, phi thường dẫn đến sợ hãi hoặc vui mừng quá độ; nhìn thấy hành động của một ai đó rồi tự thêu dệt nên các mối liên hệ nhân quả; thấy những vật dụng, con người mà mình khao khát, thậm chí cho đến cuối cùng... ## TRANG 529 #### 2. Việc thấy các ý nghĩa và nội dung giáo lý hiện ra một cách lạ lùng như thể có chư thiên đến mách bảo; hay việc chúng hiện ra trước mắt một cách dễ dàng mà không cần phải nỗ lực đặc biệt nào; hoặc có quá nhiều tài liệu để xem đến mức xem không hết làm ảnh hưởng đến công việc; mắt mờ hoa và xoay chuyển dữ dội; trạng thái đờ đẫn, u ám; liên tục gặp phải các dục lạc trần cảnh; cảm thấy bực bội và nản lòng trước tất cả những gì nhìn thấy. #### 3. Tai nghe thấy những âm thanh lạ lùng; có ai đó nói hoặc chính mình nghe thấy lời ngăn cản không cho dám làm việc mình đang làm; hoặc nghe theo cách nào đó với ý nghĩa rằng “Cứ tiếp tục làm đi, điều đó là đúng”; không tin tưởng ngay cả những lời nói với lòng tốt; cảm thấy chướng tai; mũi ngửi thấy những mùi thơm lạ hoặc mùi hôi thối. #### 4. Ở lưỡi, do các duyên liên kết tạo ra mà vô tình ăn phải những thực phẩm không thích hợp làm cho dễ phát sinh bệnh tật; định nói hướng Nam lại nói nhầm sang hướng Bắc; muốn nói lời đối kháng; rất muốn thuyết giảng Pháp; hoặc muốn giữ im lặng hoàn toàn, muốn thực hành hạnh tịnh khẩu; miệng cứng lại như bị dán keo, hoàn toàn không thể nói được. #### 5. Thân thể lo lắng liên quan đến bệnh tật; cảm giác như thể bệnh sắp chết đến nơi chỉ trong ngày một ngày hai; cảm thấy toàn bộ sức lực trong người tan biến nhanh chóng như bong bóng xì hơi, khiến chân tay rã rời không thể nhấc lên nổi; không muốn đi lại; chân tay co rút (như bị cùm kẹp); hoặc đi lại quá nhẹ nhàng như có bánh xe, cảm giác như sắp bay bổng; nghĩ rằng nếu tăng thêm tinh tấn thì sẽ chết; dễ bị thương tích một cách tình cờ; chóng mặt và không muốn ngồi dậy; trái tim (ở vùng ngực) cảm thấy thắt chặt, nóng rát; cảm giác như trái tim bị bóp nghẹt; sau khi tình trạng đó xảy ra thì gặp phải đối tượng gây sân hận, rồi sau đó cảm giác thắt nghẹt đó biến mất (như thể trạng thái huyết nhiệt của phụ nữ; vô cùng sợ hãi). #### 6. Trong tâm xảy ra sự phân vân, lưỡng lự như đã trình bày; đang tiến bộ mà lại nghĩ là không tiến bộ; đang thối lui lại nghĩ là đang tiến bộ; bị ảnh hưởng và cảm nhận y hệt những ý định tốt xấu của người đến gần mình; nếu tâm nôn nóng muốn đạt được Pháp đặc biệt thì sẽ rơi vào trạng thái mất tỉnh giác (bhavanga), rồi cho rằng mình đang nhập Định (Ekaggatā) hay đang hưởng lạc Niết-bàn; rồi đắm chìm và nằm lỳ trong đó, tâm không tiến bộ thêm được; dễ nổi giận; ngã mạn lớn; cảm thấy sống không có hương vị, trạng thái “trống rỗng”; cảm giác chỉ là đang tồn tại; không có hương vị của Pháp; ## TRANG 530 Cảm thấy nhẹ bổng và trống rỗng; dễ chạy theo sự lôi kéo của tài lộc, quyền lực và thần thông; sự lôi kéo này cũng xuất hiện nhiều; cảm thấy bồn chồn, bất an một cách vô nghĩa; hối hận; đờ đẫn (như bị trúng thuốc); u ám; thất niệm; Cứ như vậy, sáu loại đối tượng ở sáu căn xâm nhập vào một cách hỗn loạn, cả tốt lẫn xấu, khiến hành giả cảm thấy khó khăn để nhận biết rõ “cái gì là tốt, cái gì là xấu”, và khi đã nhận ra thì cũng khó lòng sửa đổi, chuyển hóa. Dù có thể tách rời khỏi đối tượng không thích bằng cách nào đó, nhưng nếu là đối tượng yêu thích thì hành giả lại cho là tiến bộ, rồi cứ thế ôm lấy và nuôi dưỡng đối tượng đó. Cảm thấy hài lòng. Việc cưỡi ngựa mà không biết là ngựa đực hay ngựa cái là điều tồi tệ nhất. Cứ chạy theo sáu đối tượng tấn công vào từ sáu căn, hành giả phải luôn luôn tính toán sổ sách lỗ lãi xem: “Hiện giờ việc làm của mình có đúng không? Có phù hợp với sở nguyện của Đức Phật không? Nếu phù hợp thì có đang hành trì đúng mức **Trung đạo** (Majjhima-paṭipadā) hay không? Đang tiến, đang lùi hay đang đứng yên?” v.v... Tuy nhiên, không phải lúc nào đi cũng đều tới đích. ### Sức mạnh lớn nhất để bảo vệ Trong những lúc như vậy, một số hành giả thường quét dọn hoặc làm các việc nặng nhọc để phá bỏ định lực (samādhi). Việc cứ xây dựng mới rồi lại phá bỏ khiến cho sự tiến bộ bị đình trệ. Phương pháp tốt nhất chính là **Tu tập Tâm từ** (Mettā-bhāvanā). Nhưng hành giả thường nghĩ rằng việc đó “không đi đến đâu, không sắc bén, không có hương vị, là dư thừa”, và chỉ khi ghi nhận đề mục thiền (kammaṭṭhāna) quen thuộc mới cảm thấy hài lòng, thỏa mãn. Không phải vậy đâu. Khi đối tượng tấn công quá mạnh mẽ, hành giả nên tạm dừng đề mục chính từ vài ngày đến vài tháng, chỉ nên chú tâm rải tâm từ một cách nhẹ nhàng trong khi đi đứng nằm ngồi. Khi ánh sáng mặt trời rực rỡ, sương mù sẽ tan biến và con đường phải đi sẽ hiện ra rõ rệt. Đôi khi phải chia phước và thỉnh nguyện đến các vị Thánh Phạm thiên cho đến cõi Phạm thiên Sắc cứu cánh (Akaniṭṭha), tiếp nhận uy lực của chư Phật và chư vị A-la-hán, tụng niệm các bài hộ kinh (Paritta), phát nguyện và cử hành lễ Thành tựu (Sacca) để quyết định điều đúng sai. Đối với những phàm phu chưa dứt bỏ điên đảo (vipallāsa) thì thật khó để phân định ranh giới. Trong thế gian có các loại thuật như thuốc gây tê, thuốc mê, thuốc lú, thuốc mê hoặc, thuật thôi miên, tịnh khẩu v.v... thì Ma vương cũng có đủ loại thuộc hạ ## TRANG 531 và đủ loại kỹ thuật tương tự. Hơn cả Ma vương, chính tâm bất thiện của mình là kẻ thù đáng sợ nhất. Khi đối tượng xấu xâm nhập, hành giả không nên xem xét dưới góc độ cá nhân hay chúng sinh, mà nên quán sát: “Nỗi khổ mà ta đang chịu đựng hiện nay không phải là thường hằng. Nó chỉ là thực tính pháp (Dhamma) đang sinh diệt và biến đổi liên tục mà thôi. Dù có chết cũng là điều cao thượng. Cả thế gian này là một sự chán chường, mệt mỏi vì sự sinh diệt không ngừng (ghi nhớ không xuể, quán sát không tận)” và tu tập “**Tưởng về vô thường (Anicca-saññā), Tưởng về sự không ưa thích trong toàn thế giới (Loke-anabhirati-saññā)**”; khi đối tượng tốt hiện đến thì tu tập “**Tưởng về sự bất tịnh (Asubha-saññā)**”; thậm chí sẵn sàng xả bỏ mạng sống, buông bỏ sự dính mắc vào bất cứ điều gì để tiếp tục tu quán. “**Virāgo tesaṃ aggamakkhāyati** — Sự không luyến ái, dính mắc vào mọi sự chính là sức mạnh tối thượng. (Trích Kinh Phật tự thuyết - Itivuttaka, Aggappasāda sutta, lấy chân nghĩa là **Vô vi giới - Asaṅkhata-dhātu**). ### “Ba niềm tự mãn” — Lực hút của ba mươi mốt cõi Chúng sinh giống như những bó lúa (mạch) bị đặt tại ngã tư đường là sáu **Nội xứ** (Ajjhattikāyatana) mắt, tai, mũi...; và bị sáu người đàn ông cầm sáu cây gậy là sáu **Ngoại xứ** (Bahiddhāyatana) gồm sắc, thinh... (cả tốt lẫn xấu) đánh đập túi bụi cho đến khi tan nát. Chúng sinh không dừng lại ở đó, nếu còn khởi lên ý nghĩ tự mãn về sự phát triển hay sự tái sinh trong đời sau, nếu còn lầm lạc ham muốn và ngạo mạn, thì giống như bị một người thứ bảy tên là Ái (Nikanti) cầm một cây gậy đánh bồi thêm một lần nữa cho đến khi nát vụn. Sự tự mãn (ngạo mạn) đó cực kỳ khó nhận biết và vi tế, còn vi tế hơn cả việc đại thần A-tu-la bị cầm tù bởi chính tâm của mình. (Theo bài kinh **Saḷāyatana-yavakalāpī sutta**). Đại thần A-tu-la sau khi thua trận bị bắt, hai chân hai tay và cổ (năm vị trí) đều bị trói chặt tại điện Pháp hội Sudhammā. Nếu khởi tâm nghĩ rằng “Chư thiên là người đúng pháp” thì lập tức được thoát khỏi sự trói buộc đó. Nhưng nếu nghĩ rằng “không đúng pháp” thì chỉ vừa khởi tâm là đã bị trói chặt lại như cũ. Vì bị trói bằng tâm và cũng được cởi trói bằng tâm nên điều đó cực kỳ vi tế. (Hãy chú ý rằng tâm có năng lực mạnh mẽ đến mức này). Sự tự mãn, mong cầu sự phát triển và đời sống mới chính là sự trói buộc của Ma vương, nó còn khó nhận biết và vi tế hơn thế nữa. Dù có độn thổ hay bay lên trời cũng không tránh khỏi. Chỉ có dùng tuệ giác cắt đứt mới có thể giải thoát được— “Này các Tỷ-kheo, người khởi lên sự tự mãn (nghĩ mình giỏi, hiểu lầm về mình) là người đang ở trong sự trói buộc của Ma vương...” ## TRANG 532 đang bị vướng mắc vào cái tôi. Sự tự mãn này chính là mầm mống căn bệnh, là nỗi hiểm họa lớn của sự kiêu mạn vậy” - các bậc thầy đã thuyết giảng và giải thích như thế. Giáo pháp giải thoát khỏi vòng sinh tử mà Đức Thế Tôn đã thuyết giảng vốn vô cùng sáng sủa và dễ hiểu, đến mức ai cũng có thể thấu triệt. Chính vì vậy, trong kinh *Bodhirajakumara (Trung Bộ)*, Ngài đã khẳng định mạnh mẽ rằng: “Làm buổi sáng, buổi chiều có kết quả; làm buổi chiều, buổi sáng có kết quả”. Hay như trong kinh *Đại Niệm Xứ* và kinh *Nhập Tức Xuất Tức Niệm*, Ngài cũng cam đoan rằng: “Chỉ trong vòng bảy ngày là có thể chứng đắc đạo quả cao thượng”. Thế nhưng, tại sao khi thực hành trên thực tế, có những người nỗ lực suốt 10 năm, 15 năm, thậm chí 40 hay 50 năm mà vẫn chưa đắc được thánh quả? Câu trả lời thật rõ ràng. Giữa sự tác động và va đập không ngừng của sáu căn, con người vẫn bị chi phối bởi mong cầu phát triển, mong muốn có được một đời sống mới tốt đẹp hơn (Ái - Taṇhā), sự tự mãn (Mạn - Māna), và sự hiểu lầm (Kiến - Diṭṭhi). Ba “ông lớn” này đã ngăn chặn con đường giải thoát. Lực kéo của 31 cõi thực sự vô cùng mạnh mẽ và đáng sợ thay. #### Dù Trí Tuệ Nỗ Lực Đầy Đủ Nhưng Nghiệp Cũ Chưa Hỗ Trợ Vào lúc 2 giờ sáng ngày 13 tháng sau của tháng Waso thứ hai, năm 1299 (Miến lịch), Ngài Thiền sư núi Thekkyetaung đã viên tịch vì bệnh phong đau bụng ở tuổi 66. Vào tháng Tabaung năm đó, các đệ tử hành giả lớn như **U Buddhabala** - vị dịch giả bộ *Thanh Tịnh Đạo* - đã không tổ chức tang lễ với giấy tre hình thức rườm rà, mà cùng nhau xây dựng một bảo tháp bằng gạch ngay trên núi Thekkyetaung để tổ chức đại lễ trà tỳ và cúng dường vị thầy. Công đức của Ngài trong việc hoằng dương giáo pháp thực hành (Paṭipatti) to lớn không kém gì Ngài Ledi Sayadaw. Tuy nhiên, người ta chỉ dám ước đoán Ngài là bậc “đạt được thế gian thông”, còn việc đắc chứng siêu thế (Lokuttara) thì không ai dám khẳng định chắc chắn. Có một lần, khi Cụ Sayagyi Thetgyi đang truyền dạy thiền cho vị Sayadaw chùa Magyihla, Cụ đã hướng về nơi các bậc Sayadaw cư ngụ, chắp tay thưa rằng: “Bạch Ngài, dù các bậc ân nhân có lòng tinh tấn và trí tuệ vô cùng lớn lao, nhưng dường như hành trình vẫn chưa đạt được đích đến như mong đợi.” Liên quan đến việc đắc pháp của Ngài Sayadaw núi Thekkyetaung, sau khi Ngài viên tịch, khi một số đệ tử hỏi Cụ Sayagyi về việc này, Cụ đã quở trách: “Đó có phải là việc của các con không?” rồi Cụ nói thêm: “Ngài vẫn đang là đệ tử của thần Satagiri vậy.” ## TRANG 533 Trong lĩnh vực pháp học (Pariyatti), trong sự tinh tấn nỗ lực, và trong kinh nghiệm thực hành (Paṭipatti), Ngài đã nỗ lực xuất sắc đến mức hầu như không có ai sánh kịp, tu tập không hề thối chuyển, vậy mà mục tiêu vẫn chưa viên thành. Dù trí tuệ và sự nỗ lực đã đầy đủ, nhưng nghiệp cũ vẫn chưa hỗ trợ. Tuy nghiệp cũ chưa trợ duyên, nhưng vì nghiệp mới đã được tạo dựng, nên chắc chắn trong tương lai sẽ tỏa sáng rực rỡ. ### Thử Nghiệm Thực Tế Vị Thầy Về phương pháp thực hành của Thiền sư **U Tiloka**, tôi xin phép thuật lại một sự việc kỳ diệu dựa trên lời kể của cố Tổng cục trưởng Thuế **U San Thein**. Ông **U San Thein** là một hành giả cư sĩ lỗi lạc, người từng giữ chức vụ Chủ tịch Phân ban Thực hành của Hội Phật giáo Quốc gia, chịu trách nhiệm lập danh sách và hỗ trợ có hệ thống các trung tâm thiền trên khắp Miến Điện. Ông đã tham gia hàng đầu vào công cuộc hoằng pháp của Chính phủ đồng thời với kỳ Kết tập Kinh điển lần thứ sáu. Ông là người đã thọ giáo với các bậc thầy tại Thaton Jetawun, Sunlun Gu, Webu Sayadaw và đặc biệt là Cụ Sayagyi Thetgyi. Ông cũng là người biên soạn và xuất bản hai lần cuốn thiền thư hiện đại mang tên “Yathabhuta Lambyunt” (Hướng dẫn thực tại). Lời phát biểu của ông **U San Thein** liên quan đến Ngài Thiền sư U Tiloka đã được đăng tải trên tạp chí tiếng Anh mang tên “The Open Door” (Cánh cửa mở), tập 1, số 3, trang 9, do “Hội Liên hữu Phật giáo” xuất bản. Hội này bao gồm các thành viên như Tổng thống **Sao Shwe Thaik**, hành giả **U Tin**, **U Tin** (Myaungmya), **U Sein Nyo Tun**, **U Tun Hla Aung**, và người Anh **U Ohn Khine** (**Mr. Maurice**, biên tập viên tạp chí *Dhammaduta* tiếng Anh). Nội dung như sau: Nhiều năm trước Thế chiến thứ hai, tại thị xã Nyaungdon xảy ra một trận dịch bệnh truyền nhiễm lớn. Người dân đã thỉnh cầu Đức ngài Ledi Sayadaw đến để tụng kinh Paritta và ban rải tâm từ bảo hộ. Khi đến nơi, theo thông lệ, mỗi đêm Ngài đều thuyết pháp và chỉ dẫn các biện pháp ngăn ngừa dịch bệnh. Khi Ngài Ledi Sayadaw chuẩn bị rời đi, người dân Nyaungdon đã thỉnh cầu Ngài ở lại lâu hơn để giảng dạy về giáo lý Vi diệu pháp và các pháp thiền Định, thiền Tuệ. Ngài Ledi Sayadaw bảo rằng: “Này các cư sĩ, bần tăng có rất nhiều Phật sự, không có thời gian ở lại đây. Tuy nhiên, các vị đừng nản lòng. Ở Kyaito có đệ tử của bần tăng là Ngài U Tiloka ở núi Thekkyetaung. ## TRANG 534 Vị ấy có khả năng hoằng pháp giống như bần tăng và có thể ban cho các vị giáo pháp mà các vị mong muốn. Hãy đi thỉnh Ngài ấy. Cứ thưa rằng chính bần tăng cử các vị đến. Nếu nói vì Phật sự mà bần tăng sai đi, chắc chắn vị ấy sẽ không từ chối mà đi theo ngay.” Theo lời chỉ dẫn của Đức ngài Ledi Sayadaw, ba vị cư sĩ đại diện của Nyaungdon đã lên đường đến thiền viện rừng Thekkyetaung ở Thaton, Kyaito để thỉnh Ngài **U Tiloka**. Tuy nhiên, họ không gặp được Ngài. Khi trình bày mục đích, một vị đệ tử của Ngài bảo rằng: “Ngài Sayadaw đã rời khỏi chùa được năm sáu ngày rồi.” Khi các cư sĩ hỏi Ngài đã đi đâu, vị tỳ-kheo này đáp: “Thưa các cư sĩ, đây là việc riêng tư bảo mật của Ngài Sayadaw, bần tăng không có thẩm quyền tiết lộ Ngài đi đâu. Ngài vẫn thường đi như vậy. Các vị cũng không nên tìm hiểu làm gì.” Vị tỳ-kheo đáp lời một cách dứt khoát. Ba vị đại diện Nyaungdon nghe vậy thì vô cùng hụt hẫng vì họ đã lặn lội đường xa với hy vọng lớn lao. Dù đã tha thiết khẩn cầu nhiều lần nhưng vị tỳ-kheo vẫn khư khư giữ kín khiến họ càng thêm sốt ruột. Lúc đó, một cư sĩ nảy ra ý định: “Bạch Ngài, chúng con lặn lội từ thị xã Nyaungdon xa xôi đến đây. Chúng con không chỉ tự ý đi để bái yết Ngài mà còn theo chỉ trì đặc biệt của Ngài Ledi Sayadaw - thầy của Ngài U Tiloka. Ngài Ledi Sayadaw bảo chúng con đi thỉnh Ngài ấy vì Phật sự.” Nghe đến đây, vị tỳ-kheo kia thở dài, lặng người đi một hồi lâu. Sau đó, vị tỳ-kheo bảo: “Thôi được rồi, các cư sĩ hãy đi theo bần tăng.” Ngài dẫn các cư sĩ ra khỏi khuôn viên chùa, chỉ tay về một lối mòn nhỏ mờ nhạt đi sâu vào khu rừng dưới chân núi và nói: “Ngài Sayadaw đã theo lối này vào rừng sâu. Các cư sĩ cứ theo đường đó mà tự tìm lấy.” Nói rồi, vị tỳ-kheo quay trở vào chùa. Các cư sĩ đứng sững lại một lát rồi bàn với nhau: “Đã đến đây rồi thì phải tìm cho bằng được.” Thế là cả ba cùng nhau dấn bước vào rừng. Khi theo lối mòn nhỏ đó đi được một đoạn khá xa, họ thấy một căn chòi lá tạm bợ nằm không xa lối đi giữa rừng sâu... --- ## TRANG 535 Họ nhìn thấy một am thất nhỏ. Ba vị thí chủ vội vã bước về phía đó; khi đến gần, họ mở cánh cửa lá thưa ra và thấy Ngài đang ngồi kiết già thiền định trên những tấm ván sàn tạm bợ với phong thái vô cùng điềm tĩnh, an lạc. Cả ba nhẹ nhàng tiến lại gần Ngài và đảnh lễ. Họ không dám thở mạnh, cứ thế phủ phục đảnh lễ trong niềm kính tin suốt một thời gian dài. Về phần Ngài, dường như Ngài không hề biết đến sự hiện diện của các thí chủ đang ở bên cạnh. Trong lúc đang chắp tay cung kính đứng lặng, một người trong nhóm bèn khều tay các bạn và nói khẽ: “Tôi nghe nói những bậc có định lực kiên cố và thuần thục về *vasībhāva* (tự tại trong thiền định), khi đang nhập định thì giữ vững oai nghi đến mức không gì có thể làm lay động được... Thế nào, hay là chúng ta thử xem Ngài có thực như vậy không?” Nói đoạn, anh ta ra hiệu bằng mắt và tay chân, rồi họ cùng nhau rón rén rút từng tấm ván sàn tạm bợ (cao hơn mặt đất khoảng hơn một gang tay) mà Ngài đang ngồi trên đó. Tuy nhiên, Ngài dường như không hề hay biết những việc họ đang làm; Ngài không mảy may nhúc nhích, oai nghi cũng không hề thay đổi. Điều kỳ diệu là sau khi tất cả các tấm ván sàn đã được rút hết, họ nhìn thấy Ngài vẫn ngồi kiết già y như oai nghi ban đầu, lơ lửng trong không trung cách mặt đất khoảng một gang tay, không hề có vật gì nâng đỡ hay tiếp xúc. Các vị thí chủ vô cùng kinh ngạc trước cảnh tượng chưa từng thấy này. Sau một hồi chiêm bái trong niềm kính ngưỡng, họ nhẹ nhàng đặt từng tấm ván trở lại vị trí cũ. Họ đảnh lễ Ngài một lần nữa và lầm rầm đọc lời sám hối. Một lát sau, một thí chủ cất cao giọng bạch: “Bạch Ngài, theo lời chỉ dạy của Ngài Thiền sư Ledi bậc ân nhân, chúng con từ thị trấn Nyaungdon đến đây để cung thỉnh Ngài ạ.” Khi nghe lời bạch đó, Ngài mới từ từ, nhẹ nhàng mở đôi mắt vốn đang nhắm lại. Sau khi hỏi han sự tình, Ngài rời am thất tạm bợ đó để cùng các thí chủ trở về tu viện lớn ở rừng núi Thekkhya Taung. Ngày hôm sau, Ngài lên đường đến thị trấn Nyaungdon. Khi đọc lại sự kiện nhỏ này, chúng ta không chỉ kính ngưỡng giới hạnh, định lực và trí tuệ của Ngài U Tiloka, mà còn không khỏi khâm phục tuệ giác của Ngài Thiền sư Ledi bậc ân nhân — người dường như đã thấu suốt mọi ngóc ngách của sự việc này từ trước. ## TRANG 536 # BẬC TRƯỞNG LÃO TU VIỆN MOHNÝIN ( 1234 - 1326 ) • Có lẽ không quá lời khi nói rằng Ngài Trưởng lão Mohnýin chính là vị Thiền sư đã khởi xướng mạnh mẽ phong trào *pappaṭippatti* (thực hành giáo pháp) tại Myanmar, lôi cuốn được đông đảo quần chúng và mở ra chiếc chìa khóa then chốt của tâm linh. Người đời thường chỉ thấy Ngài qua những buổi thuyết pháp rầm rộ, giảng giải về những vấn đề hình thức bên ngoài nên gọi Ngài là “Vị sư giỏi thuyết kinh”. Thật đáng tiếc khi người ta ít biết đến quá trình thực hành tu tập và sự đắc chứng giáo pháp (*dhammābhisamaya*) của Ngài. Trong số những người thiếu hiểu biết đó có cả bản thân tác giả. Khi Ngài sắp lâm chung vì bạo bệnh, tôi đã đến Mohnýin. Lúc đó, tôi thậm chí còn không biết hỏi thăm xem “Ngài có khỏe không”. Chẳng biết có phải vì quá chú tâm vào kinh sách hay không mà tôi chỉ đứng từ xa đảnh lễ một cách vội vàng rồi quay về. Mãi đến khi có duyên đọc lại tiểu sử của Ngài, tôi mới cảm thấy vô cùng hối hận. Tôi thật là ngu muội. Người anh của tôi (Ngài U Sobhita, trụ trì tu viện Maunghtaung Yun-set) đã đến đó không lâu sau và được tiếp cận Ngài như một người con với cha, để rồi nhận được món quà di chúc cuối cùng của cuộc đời. Ngài khuyến khích rằng: “Sư Maunghtaung à, nhất định phải xuất ly thế gian (đi ẩn tu) cho được nhé. Tôi đây mãi đến hạ thứ 17 mới đi được. Tôi đã quyết chí đi ẩn tu, treo túi bát lên cột mà đến nỗi rỉ sét làm đứt dây rụng mất ba cái túi bát mới đi được đấy, hãy cố gắng lên.” Nhờ lời thúc giục chân tình đó mà người anh vốn rất nhát gan của tôi giờ đây đã sống an lạc với giáo pháp tại tu viện rừng Mezin ở làng Maunghtaung. Vì sự ngu muội trước kia, tôi viết những dòng này với lòng hổ thẹn và thành kính đảnh lễ Ngài. Tôi chỉ chấp bút viết sau khi đã đến đảnh lễ tôn tượng của Ngài tại Mohnýin. ### Thời thơ ấu bộc lộ căn tánh Ngài sinh vào lúc 8 giờ sáng, thứ Sáu, ngày mùng 2 tháng Táp-áp-တွဲ (Tabaung) năm 1234 (Miến lịch), tại làng Gonyinsu, gần làng Barku (vùng Syriam, quận Hanthawaddy), là con của cụ ông U Moe và cụ bà Daw Baw. Khi đó, mẫu thân Ngài đã 56 tuổi. Có lẽ vì vậy mà Ngài có tướng mạo và trí tuệ vô cùng đặc biệt. Các anh chị em của Ngài gồm có: U Po Hla, U Po Myat, U Po Ba, Ma Shwe May, Ma Shwe Thet, Ma Shwe Yuat. Như câu tục ngữ “Người sẽ làm vua lộ diện từ khi còn để chỏm”, ngay từ nhỏ Ngài đã bộc lộ căn tính và ba-la-mật phi thường. Một ngày nọ, khi cậu bé (sau này là Thiền sư) mới 5 tuổi, thấy những con sâu từ mái nhà rơi xuống, theo tính tò mò của trẻ thơ, cậu dùng tay đẩy nhẹ và cầm lên xem thì người mẹ bảo: ## TRANG 537 “Đừng làm thế con ạ, con sâu sẽ chết mất đấy.” Cậu bé hỏi lại: “Ơ... nó biết chết ạ?” “Ừ, nó biết chết đấy.” Cậu lại hỏi tiếp: “Thế còn cha mẹ, cha mẹ có biết chết không? Cha mẹ sẽ chết chứ ạ?” Khi nghe mẹ giải thích về việc mọi người đều phải chết... Mặc dù còn nhỏ tuổi, cậu đã nhận thức được một chân lý sâu sắc rằng: “Tất cả rồi sẽ phải chết.” Một ngày thọ giới bát quan, cậu theo cha mẹ đến tu viện ở đầu làng của vị Sư U Ācara. Đến chiều, vì đói nên cậu khóc đòi ăn. Mẫu thân lấy cơm cho ăn, nhưng cậu vẫn chưa chịu ăn ngay mà hỏi: “Sao cha mẹ chưa ăn?” “Cha mẹ đang giữ giới (Uposatha) nên không được ăn.” Nghe vậy, cậu bé vừa khóc vừa nói: “Nếu cha mẹ không ăn thì con cũng không ăn đâu, giới sẽ chạy mất đấy.” Cậu cứ thế vừa khóc vì đói, vừa băn khoăn không dám ăn. Lúc bấy giờ, người anh trai là Po Ba chợt nảy ra ý định, bèn dỗ dành: “Em trai à, nếu ăn không thì giới mới chạy mất, chứ nếu đeo tràng hạt vào cổ rồi ăn thì giới sẽ không chạy đi đâu đâu.” Nói rồi, người anh lấy chuỗi tràng hạt quàng vào cổ em. Lúc bấy giờ, cậu bé mới lau nước mắt rồi bắt đầu ăn. Hạt giống ba-la-mật đã sớm lộ diện như thế đó. Năm 5 năm tuổi, cậu được gửi vào học tại tu viện làng Maungma với vị Sư U Ācara. Khi đã biết đọc chữ khá tốt, sau khi đọc cuốn “Ngục gian thi” (*Naraik-khan Pyo*), vì sợ phải đọa địa ngục nên cậu đã hạ quyết tâm nhất định sẽ xuất gia làm sư. Năm 14 tuổi, cậu xuất gia Sa-di với pháp danh là **Shin Sumana**. Cậu là người rất dễ bảo, luôn vâng lời thầy dạy một cách tuyệt đối, chưa bao giờ để lời thầy rơi xuống đất. Cậu nhận được sự khen ngợi đặc biệt từ bậc thầy. Sự lễ phép và cách thưa gửi của cậu cũng vượt xa lứa tuổi. Tướng mạo thì không có gì phải bàn cãi. Cậu thường vẽ tranh về Đạo sĩ Sumedha, Vua Temiya, Vua Janaka, hay cảnh xuất gia của Hatthipāla; hoặc vẽ lại hình dáng những ngôi chùa linh thiêng ở Bagan rồi treo ở phía đầu nằm để tâm hồn luôn được đắm mình trong chốn rừng núi thanh tịnh. Đó chính là những điềm báo trước cho con đường tương lai. Không chỉ giỏi kinh sách, cậu còn trọn vẹn cả đức hạnh và bổn phận của một người đệ tử. Ngày mùng 8 tháng 6 (Waso) năm 1254 (Miến lịch), Ngài thọ cụ túc giới, chính thức bước vào hàng ngũ Tỳ-kheo. Ngài luôn thức dậy lúc 3 giờ sáng, hành trì các pháp đầu-đà (*dhutaṅga*), không bao giờ ăn trầu hay hút thuốc. ## TRANG 538 Khi thân thể khỏe mạnh, Ngài không dùng các loại nước giải khát pha đường hay đường thốt nốt. Ngài không đi dép, không che lù, không đi xe bò hay xe ngựa khi vào trong làng. Đôi khi dù phải đi xe lửa hay tàu thủy, Ngài cũng không bao giờ nằm ngủ nghỉ trên đó vào ban đêm. Ngài luôn đầy nhiệt huyết và tinh tấn, cực kỳ ghét sự lười biếng. ### Vừa tu học Pháp học vừa hành trì Pháp hành tại vùng Mandalay Vị tỳ-kheo trẻ **U Sumana**, sau khi đã học đi học lại nhiều lần năm bộ Luật tạng kinh điển cùng với các bộ Chú giải, vào ngày Rằm tháng Táp-pô-tuê năm 1259 (âm lịch Myanmar), khi mới được 5 hạ lạp, Ngài đã cùng với người anh cả là U Bo Ba đóng vai trò hộ pháp (kappiya), rời ga Da-pein để lên Mandalay học đạo. Khi đó, tuyến đường sắt nối liền Nam - Bắc Myanmar mới chỉ khánh thành được 8 năm. Ngài theo học với Hòa thượng **U Yan Kon** (pháp danh **U Sujāta**) tại chùa Phaya Gyi, phía nam Mandalay (đây cũng là nơi vị thầy thời Sa-di của Ngài và bạn học của Ngài là To Kyaung Ka-lay từng tu học). Hành trang mang theo chỉ gồm một chồng bản chép tay trên lá bối, một chiếc bình bát và ba tấm y cà-sa. Ngài tuyệt đối không bao giờ cầm giữ tiền bạc. Trong thời gian đó, Ngài cũng đã đến cầu học với các bậc danh sư lỗi lạc thời bấy giờ tại Mandalay, những vị sáng chói như mặt trăng mặt trời gồm các Hòa thượng: Kyi-wun, Moe-dar, Min-din, Maing-khaing, Maha Visuddhārāma và Shwe-ye-saung. Trong suốt cuộc đời sinh viên tăng, Ngài luôn giữ thái độ khiêm nhường (nivāta) trong giao tiếp. Ngài không chỉ phục vụ các bậc thầy mà còn luôn tận tụy làm mọi việc cho bạn đồng tu như múc nước tắm, nước dùng, quét dọn hay vệ sinh nhà vệ sinh. Chính vì vậy, Ngài luôn được mọi người yêu mến và kính trọng. Bất cứ khi nào đi khất thực được gì, Ngài cũng đều dâng cúng lên thầy giáo thọ trước rồi mới dùng phần còn lại. Trong quãng đời học tăng, bên cạnh việc tự mình tu học, Ngài còn dành thời gian dạy các lớp Vi Diệu Pháp (Abhidhamma) vào ban đêm cho các vị tăng trẻ. Ngài giảng dạy đồng thời các bộ **Mātika** (Mẫu đề), **Dhātukathā** (Chất ngữ), **Yamaka** (Song đối) và **Paṭṭhāna** (Vị trí - 4 bộ đầu) và cho từng vị tụng đọc. Ngài đã sáng tạo ra các phương pháp giảng dạy giúp người học nắm bắt dễ dàng và rõ ràng chỉ trong vòng một năm, điều này khiến các học tăng thời đó vô cùng yêu thích. (Bộ sách lớn giải thích tóm tắt về hệ thống dạy ban đêm của chùa Mohnyin dài hơn 300 trang đã được ấn hành vào năm 1324 theo đúng nguyên bản cũ). Quãng đời học tăng của Hòa thượng Mohnyin thật là một tấm gương sáng cho các bậc Sa-di và Tỳ-kheo trẻ hậu thế noi theo. Năng lực về Pháp học (Pariyatti) của Ngài là điều không cần phải bàn cãi, các tác phẩm của Ngài chính là minh chứng sống động nhất. Mặc dù **U Sumana** đang bận rộn với việc học và dạy Pháp học để đạt đến sự thông thạo, nhưng trong tâm khảm Ngài mỗi ngày một thôi thúc ý định rời bỏ thế sự để vào rừng tu tập. Trong khi chưa đưa ra được quyết định cuối cùng, vào mỗi ngày trai giới (Uposatha), Ngài thường đi đến nghĩa trang Yahi ở phía tây Mandalay để thực hành hạnh đầu đà trú ngụ dưới gốc cây (rukkhamūla dhutaṅga). ## TRANG 539 Trong khi tu tập các đề mục thiền định gồm **Buddhanussati** (Niệm Phật), **Mettā** (Niệm Tâm Từ), **Asubha** (Niệm Thể Xác Bất Tịnh) và **Maraṇassati** (Niệm Sự Chết) — còn gọi là **Caturārakkha** (Bốn Pháp Bảo Vệ) — Ngài luôn chờ đợi một ngày có thể hoàn toàn giải thoát khỏi mọi ràng buộc để ẩn tu. Giữa lúc đang tích lũy nội lực như vậy, Ngài nhận được một lá thư từ vị thầy ở quê nhà yêu cầu Ngài về tiếp quản ngôi chùa. Sau khi suy xét kỹ lưỡng, Ngài đã quyết định không quay về. Ít lâu sau, Ngài lại nhận được điện báo báo tin mẫu thân và phụ thân lần lượt qua đời. Ngài đã làm lễ dâng cúng vật thực và y áo để hồi hướng công đức cho cha mẹ quá cố nhưng vẫn kiên định không quay về. Tuy nhiên, sau đó đã nảy sinh một lý do khiến Ngài không thể không trở về quê nhà. Lý do đó không phải điều gì khác ngoài việc: khi chuẩn bị buông bỏ tất cả để vào rừng tu tập, Ngài đã nhiều lần quán chiếu lại bản thân xem từ khi biết nhận thức cho đến nay mình có phạm phải sai lầm nào không. Ngài kiểm tra đi kiểm tra lại và chỉ tìm thấy duy nhất một lỗi nhỏ. Đó là thời còn làm chú tiểu, trên con đường nhiều người qua lại, Ngài đã từng nhặt một viên gạch ném một con chó đang sủa mình. Đối với người bình thường, đó là việc không đáng kể, nhưng với Ngài **U Sumana**, Ngài cảm thấy vô cùng hối hận và kinh hãi trước ác nghiệp đó. Ngay khi nhớ ra, Ngài quyết định trở về quê để sửa lại con đường đó. Ngài thực hành theo quan điểm của các bậc thánh nhân: **“Aṇumattesu vajjesu bhayadassāvi” — Thấy sự nguy hiểm ngay cả trong những lỗi nhỏ nhặt nhất (như thấy núi Meru)**. Đây là một điểm đáng lưu tâm rằng chỉ khi rèn luyện từ những việc nhỏ thì mới có thể chiến thắng được những việc lớn. Không nên coi thường những lỗi dù là nhỏ nhất. Khi Ngài về đến quê nhà, họ hàng thân quyên vây quanh trách móc và khóc lóc, bảo rằng: “Cha mẹ chết cũng không thấy mặt, thầy gọi cũng không về, sao mà đoạn tuyệt tình cảm đến thế”, Ngài đã dùng giáo pháp để an ủi họ. Ngài dành hai ngày để sửa xong con đường và ở lại thêm năm ngày rồi quay trở lại Mandalay. May mắn thay, vị sư phụ của Ngài lúc đó đang đi vắng nên không có ai ngăn cản quyết liệt, giúp Ngài có thể rời đi một cách thuận lợi. ### Ngôi chùa rừng nhỏ “Bốn Cột” Ngài U Sumana đã dành đến 17 hạ lạp để thực hiện các bổn phận nghiên cứu và giảng dạy giáo pháp, ưu tiên hàng đầu cho trách nhiệm về Pháp học (Pariyatti). Trong khi đang sống như vậy— Một luồng sáng lớn của tuệ giác ập đến với Ngài: “Ta không nên để ngày tháng trôi qua một cách vô ích tại ngôi chùa này, làng này, với vị thầy này, những đệ tử này hay những bạn đồng tu này nữa. Giống như một con voi đầu đàn rời khỏi bầy, như một mũi tên đã bắn ra không còn vướng bận, ta phải dấn thân vào rừng một mạch để đạt được sự giải thoát hoàn toàn”. Nghĩ vậy, Ngài đã đến gặp các vị thầy giáo thọ cùng các bạn đồng tu và thưa rằng: ## TRANG 540 “Con xin được chuyển sang thực hành Pháp hành (Paṭipatti). Trong rừng sâu hiểm nguy rất nhiều, lại chẳng biết cái chết đến lúc nào. Có lẽ đây là lần cuối chúng ta gặp nhau. Vì vậy, nếu từ vô lượng kiếp cho đến kiếp sống này, con có điều gì đắc tội, kính mong các Ngài từ bi hỉ xả và tha lỗi cho con”. Ngài cũng đem tất cả đồ đạc dư thừa ra bốc thăm để tặng lại cho mọi người. Chỉ với một chiếc bình bát, ba tấm y và ba cuốn sách: **Visuddhimagga** (Thanh Tịnh Đạo), **Chú giải Uparipaṇṇāsa** (Hậu Trung Bộ Kinh) và **Chú giải Sutta Nipāta** (Kinh Tập) có chứa kinh **Khaggavisāṇa Sutta** (Kinh Sừng Tê Giác), Ngài đã cắt đứt mọi sự ràng buộc (palibodha) và lên đường đến làng Aim-bya-mak-kha-ya. Ngôi làng này nằm gần Myit-nge trên tuyến đường Mandalay - Kyaukse. Phía đông có dòng sông Dote-hta-waddy, phía tây có bảo tháp Shwe-zigon vĩ đại. Giữa bụi rậm um tùm phía sau bảo tháp đó, Ngài đã chọn trú ngụ tại một ngôi chùa rừng nhỏ bỏ hoang có tên là “Bốn Cột”. Không tích trữ vật thực cho ngày hôm sau, cũng chẳng có gì để quyến luyến. Giống như loài chim chỉ mang theo sức nặng của đôi cánh, như làn gió chẳng vướng bận điều chi, Ngài không có ai để nương tựa và cũng chẳng phải lo lắng cho ai. Lần đầu tiên, Ngài nếm trải được hạnh phúc thực sự của đời sống độc cư (ekacārī) an lạc tuyệt đối. Hàng ngày Ngài lễ Phật, rải tâm từ, hồi hướng công đức, tụng các bài nguyện mời gọi chư thiên và giảng kinh **Mahāsamaya Sutta** (Kinh Đại Hội), **Rāhulovāda Sutta** (Kinh Giáo Giới La-hầu-la), **Samacitta Sutta** (Kinh Tâm Bình Đẳng). Mỗi sáng khi thức dậy, Ngài dùng một gáo dừa múc đầy nước và uống hết. Chính dòng nước đó lại trở thành vị thuốc thanh lọc cơ thể và hỗ trợ tiêu hóa. Trong bốn đề mục thiền định đã nêu, dường như thiền Tâm Từ (Mettā) sớm trở nên vượt trội. Mỗi khi chiều tà, Ngài rời chùa đi bộ đến bảo tháp cổ Shwe-zigon để thực hiện bổn phận quét dọn sân chùa (cetiyaṅgana vatta). Sau đó, Ngài hướng tâm về Đức Phật. Lúc bấy giờ, các loài chim chóc và thú rừng thường đến vây quanh Ngài. Sau khi hành lễ xong, Ngài dùng tay chạm vào một vài con chim và nói: “Nào, các quyến thuộc của ta, hãy trở về nơi ở của mình trong sự bình an đi”. Ngay lập tức, chúng như hiểu được tiếng người và đồng loạt bay đi hết. Hàng ngày Ngài đi khất thực nhưng tuyệt đối không nói lời nào. Vào ngày trai giới, dù có một ít Phật tử đến thọ trì giới pháp, nhưng sau khi truyền giới xong Ngài chỉ nói: “Ở đây không có chỗ nghỉ, mọi người hãy về đi” rồi mời họ rời khỏi. Ít lâu sau, người dân tự ý xây dựng các am sau khất thực và nhà trai giới, khiến hàng chục người đến thọ giới và ở lại đến tận tối mịt, gây ra sự phiền toái. Tuy nhiên, Ngài tuyệt đối không nhận thêm bất cứ vật dụng dư thừa nào. Khi tiếng tăm ngày một vang xa, vào một buổi bình minh nọ, Ngài đã âm thầm rời khỏi ngôi chùa rừng nhỏ Aim-bya-mak-kha-ya đó. ---SOURCE_END--- ## TRANG 541 **Thụ giáo Ngài Zin Nyun tại Yesagyo** Từ đó, Ngài tiếp tục hành trình qua Myit Nge, Paleik, Innwa, Sagaing Ywa Thit hướng về phía Monywa. Trước khi đến Monywa, Ngài dừng chân nghỉ tại thiền viện Mahabodhi Tawya ở làng Khin Mon. Vị trụ trì chùa Khin Mon khi ấy là bậc được ngay cả Ngài Shwegyin Thathana Paing (Tăng thống Shwegyin) tôn kính, vô cùng nổi tiếng về giới hạnh cao khiết và sự uy nghiêm, được triều đình ban tặng danh hiệu Rajaguru (Quốc sư). Sau sáu tháng thụ giáo Ngài Khin Mon Sayadaw, Ngài Sumana xuôi thuyền từ Monywa đi tiếp đến thành phố Yesagyo. Vị thiền sư Gu Phyu Tawya ở phía tây Yesagyo bấy giờ lừng danh là bậc Alahan. Ngay cả vị Hòa thượng U Sīla lừng danh cũng phải thốt lời tán thán Ngài Gu Phyu rằng: “Vị này vượt xa ta.” Ngài Sumana đã ở lại đây đúng ba tháng để học tập phương pháp hành trì. Sau đó, Ngài ngược dòng từ Yesagyo trở về Monywa và đến thiền viện Ledi Tawya. Đúng lúc ấy, Ngài Ledi Sayadaw cũng vừa từ Mawlamyine trở về sau mùa hạ, nên Ngài Sumana có cơ duyên được đảnh lễ. Khi Ngài Sumana trình bày tâm nguyện muốn hành trì giáo pháp, Ngài Ledi Sayadaw dạy rằng: “Muốn hành trì pháp là điều rất quý. Hãy cứ nghỉ ngơi hồi phục sức khỏe một thời gian đã,” rồi Ngài chỉ định nơi nghỉ ngơi cho. ### Lời giáo giới của Ngài Ledi Sayadaw Sau đó, Đức Sayadaw lớn đã ban lời giáo giới như sau: “Này Sumana, giáo pháp cần thực hành không khó, cái cần nhất chính là sự tinh tấn (Viriya). Thời nay, người ta không còn thiết lập được sự tinh tấn đủ mãnh liệt để có khả năng chứng đắc Đạo Quả nữa. Như bậc thầy chú giải đã dạy, hãy tinh tấn như con ong bay đi lấy mật, như người thầy thuốc rạch mạch máu trên lá sen giữa mặt nước, như kẻ muốn kiếm bốn ngàn đồng tiền vàng mà kiên nhẫn dùng que quay từng sợi tơ nhện, như người thợ thuyền khi gió lặng thì hạ buồm, khi gió mạnh thì căng hết buồm vượt sóng, như người rót dầu vào ống tre hẹp sao cho không một giọt nào vãi ra ngoài. Phải xem xét quán chiếu tâm mình sao cho không thối chí cũng không kiêu mạn, với khát vọng mãnh liệt như người muốn băng qua đại dương, phải đem cả tính mạng ra mà nỗ lực tinh tấn.” “Xưa kia có hai người đàn ông đi trong rừng sâu, tìm thấy một khúc gỗ lõi cây khế. Một người bảo: ‘Dùng gỗ khế này cọ xát chắc chắn sẽ ra lửa’. Người kia bảo: ‘Dù có cọ xát cho đến khi lõi gỗ mòn hết cũng chẳng ra lửa đâu’. Người thứ nhất không cam tâm, quyết chí mài cọ thật mạnh, thấy khói lên lại càng ép mạnh và cọ nhanh hơn cho đến khi lõi gỗ nát vụn ra... ## TRANG 542 ...và lửa cuối cùng đã bùng cháy. Theo lời dạy từ xưa ấy, khát vọng và sự nỗ lực của người đời nay thậm chí còn không bằng một phần nhỏ của người mài lửa kia.” “Việc đắc pháp cao thượng mà người ta không hoan hỷ bằng việc có được một bộ y hay một chiếc bát, không yêu mến bằng việc nhận được một bát cơm. Đối với những kẻ trụ trần (puthujjana) chỉ biết hưởng thụ, thì giáo pháp cao thượng này sẽ cách xa họ như trời với đất vậy. Dù gân, xương, thịt, máu có khô cạn đi chăng nữa, nếu đó là pháp đáng được chứng đắc, thì chừng nào chưa đắc, ta quyết không dừng lại. Chừng nào chưa thấu đạt, ta quyết không nghỉ ngơi. Phải giữ vững tinh tấn không thối chuyển mà hành trì như vậy.” “Nếu nỗ lực tinh tấn đến mức quên mình như thế, thì cũng giống như hạt lọc nước bỏ vào bình nước đục, chỉ trong chốc lát nước sẽ trở nên xanh trong thanh khiết. Nhờ sức mạnh của Định (Samādhi) luôn tập trung duy nhất vào một đối tượng pháp, dòng tâm thức của người hành giả sẽ trở nên cực kỳ sáng suốt, chói lọi và có thể chứng đắc những tầng pháp cao thượng, thâm diệu.” Ngài Ledi Sayadaw dạy xong, **U Sumana** bạch rằng: “Con xin cung kính đón nhận những lời giáo giới của Ngài như đóng đinh vào đại não. Nếu Ngài chỉ dạy cho con một nơi chốn thích hợp (sappāya), con xin được đến đó để hành trì.” Ngài Ledi Sayadaw nghe vậy liền hoan hỷ thốt lên “Sa-thu”. Sau đó, đích thân Đức Sayadaw bảo một vị đệ tử dẫn Ngài **U Sumana** đến núi Lapatoung, nơi mà chính Ngài Ledi đã từng tu hành vào năm 1265 (Miến lịch). Núi Lapatoung nằm cách bờ tây sông Chindwin, Monywa khoảng bốn dặm. Ngài **U Sumana** đã đến thiền viện đó để hành trì. Khi đi khất thực, Ngài không nhận được cơm gạo trắng, chỉ nhận được hạt kê và các loại ngũ cốc thô. Ngài tự nhủ: “Chỉ cần không chết là được,” rồi dồn toàn tâm sức vào hành thiền. Chẳng bao lâu, do ăn hạt kê và canh chua nên Ngài bị tiêu chảy nặng, không thể đi khất thực cũng không thể ngồi thiền, cơ thể trở nên suy kiệt, lảo đảo. “Nơi này không còn là nơi thích hợp (asappāya) với ta nữa. Nếu tiếp tục ở lại, chỉ có nước chết mà mục đích tu hành vẫn chưa thành,” Ngài quyết định trở về thiền viện Ledi Tawya, nương tựa dưới lòng từ bi của Đức Sayadaw để chữa trị bằng thuốc men. Trong vòng một tháng, sức khỏe Ngài đã gần như bình phục hoàn toàn, Ngài lại xin Đức Sayadaw chỉ dạy cho một nơi chốn phù hợp khác. ### Đại nguyện 10 năm (Không nói, không thuyết) Khi ấy, Ngài Ledi Sayadaw dạy rằng: “Này Sumana, nếu ông quyết tâm thực hành Pháp hành Minh sát (Vipassanā Dhura) cho đến khi đạt kết quả, ông phải tuân thủ sáu điều quy định sau.” Ngài Sumana đã cung kính lập lời thề hứa sẽ tuân thủ nghiêm ngặt. ## TRANG 543 Sáu điều quy định là: 1. Không được nhận lời mời thọ thực tại nhà thí chủ. 2. Không được thực hiện các lễ truyền giới, xuất gia hay tham gia các đoàn làm phước. 3. Không được tham dự các buổi lễ tang Hòa thượng hay các buổi hội họp. 4. Trong mười năm, phải nỗ lực hành trì mà không nói năng, không thuyết pháp. 5. Sau khi đủ mười năm, chỉ được thuyết pháp tại nơi trú xứ của mình. 6. Chỉ khi đủ 60 tuổi mới được đi các vùng khác để thuyết pháp. Ngài Ledi Sayadaw cử Ngài **U Ñāṇobhāsa** (sau này là Ngài Ledi Sayadaw đời thứ hai) đi cùng để đưa Ngài Sumana đến rừng Monyne. Đó là một khu thiền viện cổ nằm giữa làng Aung Thar và làng Monyne, cách thành phố Monywa khoảng 6 dặm. Ở đó chỉ còn lại những phế tích bảo tháp và một ngôi chùa cũ nát, cây cối rậm rạp. Nghe đồn nơi này có ma quỷ quấy nhiễu nên ngay cả ban ngày người dân cũng không dám vào. Những vị sư đến trụ trì trước đó đều phải bỏ chạy, nếu không chạy thì cũng viên tịch trong vòng vài tháng. Hơn nữa, rắn độc ở đây cũng rất nhiều. Dân làng xung quanh vô cùng vui mừng khi có một vị sư do chính Ngài Ledi Sayadaw cử đến. Họ đã cùng nhau dọn dẹp khuôn viên chùa, tháp, giới đàn và đào lại giếng nước cũ. Nơi này vào năm 788 (Miến lịch) từng là trung tâm hoằng pháp chính yếu, nơi 200 vị Tăng của vua Mohnyin Min Taya Gyi triều Innwa từng lưu trú. Để tôn vinh vị vua ấy, thiền viện Monyne đã được đổi tên thành “Thiền viện Mohnyin”. Từ đó, Ngài bắt đầu được gọi là “Mohnyin Ko-taw-lay” (Vị sư trẻ Mohnyin). Ngài bắt đầu nhập hạ tại đây từ tháng 4 năm 1273 (Miến lịch). Ngài đã yêu cầu Phật tử các làng lân cận rằng: “Xin đừng trò chuyện, hỏi han hay cúng dường dư thừa và không được cung thỉnh đi đâu.” Ngay từ ngày đầu tiên đến, Ngài đã hướng tâm trọn vẹn về Niết-bàn, quyết tâm hành trì với nghị lực phi thường. Cứ hoàng hôn xuống, Ngài lại lễ Phật, dâng hoa nước, rồi rải tâm từ. Ngài cất tiếng vang rền rải tâm từ đến chư thiên và chia phước cho họ. Ngài tụng đọc các bài kệ bảo vệ (Gāthā) đã thuộc lòng, sau đó mới bắt đầu tọa thiền. Việc sống độc hành giữa ngôi chùa cổ hoang tàn, tháp đổ nát, nơi mà ngay cả ban ngày cũng thấy rợn người, là một thử thách vô cùng lớn. Ngài không quản ngại gió sương, giá rét, thậm chí ở giữa bãi đất trống không nhà không cửa (**Hạnh Đầu đà lộ địa — Abbhokāsika Dhutaṅga**). Không chỉ là việc không ngủ cả ngày lẫn đêm, mà ngay cả việc nằm xuống duỗi người Ngài cũng không thực hiện (**Hạnh Đầu đà bất ngọa — Nisaĵĵa Dhutaṅga**). Những việc này nói thì dễ nhưng làm thì cực khó. Công việc ấy không phải một ngày, một tháng hay một năm, mà là cho đến khi chứng được pháp cao thượng. Thời gian tối thiểu cam kết là mười năm. Đức tính dễ dạy (**Sovacassatā**)... ## TRANG 544 Thật đáng để làm gương noi theo thay! **Dhamma-cariya U Htay Hlaing** Ngài Mohnyin thọ trì đại nguyện "không nói chuyện" (tư trì tịnh khẩu), cứ mỗi bảy ngày lại phát nguyện tiếp nối một lần để không làm gián đoạn tâm định. Dù gặp phải đủ mọi loại chướng ngại và khó khăn khác nhau, Ngài vẫn trưởng dưỡng tâm từ ái mãnh liệt, đặt niềm tin kiên cố vào đại nguyện Ba-la-mật như bàn thạch. Ngài phát nguyện: “Thật vậy, bổn phận đối với cha mẹ và thầy tổ đã viên thành. Ân đức ấy thật lớn lao thay. Cái chết có thể đến bất cứ lúc nào, không trì hoãn dù chỉ một giờ. Ngoài pháp hành Vipassanā (Minh sát), chẳng còn nơi nào để nương tựa. Chừng nào chưa chứng đắc đặc biệt pháp, ta quyết không rời khỏi nơi này vì bất kỳ lý do gì. Dù nơi đây có trở thành nghĩa địa của ta đi chăng nữa”, rồi Ngài hiến dâng trọn vẹn thân mạng này lên Đức Thế Tôn, không màng đường lui, nỗ lực tu tập không ngủ nghỉ. Cái chết vốn chẳng có gì lạ lẫm, chết trong khi đang hành trì và ngay tại nơi hành đạo mới là điều cao quý. ### Bò rừng và những con rắn độc Trên đường đi khất thực, khi vừa ra khỏi cổng chùa, Ngài dừng lại định tâm, rồi từ đó cho đến lúc vào làng, mỗi bước chân Ngài đều đặt chánh niệm Vipassanā vào đó. Nếu lỡ bước mà thiếu chánh niệm, Ngài liền lùi lại và ghi nhận lại từ đầu. Khi vào trong làng, Ngài chỉ thuần túy trưởng dưỡng tâm từ. Trên đường trở về chùa, Ngài cũng giữ chánh niệm y như lúc đi. Pháp hạnh này được gọi là **Gatapaccāgatikavatta** (Hạnh đi và về đều có chánh niệm). (Trong cuốn sách về các bậc Thánh nhân tiêu biểu thời Sri Lanka có viết chi tiết về việc này.) Vào một ngày nọ, khi đang giữ gìn hạnh nguyện đi và về này, từng bước chân đều có chánh niệm, có một con bò đực hung dữ đang trong mùa động đực lao thẳng về phía Ngài. Những người dân chứng kiến kinh hãi đồng thanh hét lớn: “Ngài Mohnyin trẻ tuổi ơi! Bò kìa, bò kìa! Nó sẽ húc Ngài mất, xin Ngài hãy tránh mau!” Thế nhưng, Ngài thoáng khởi ý nghĩ: “Nếu vì sợ chết mà phá bỏ hạnh nguyện này để chạy trốn thì cũng chẳng khác nào đã chết rồi”, Ngài vẫn tiếp tục bước đi từng bước chánh niệm như cũ. Đúng như câu: “**Dhammo have rakkhati dhammacārī** - Pháp bảo hộ người trì Pháp”, khi con bò rừng chỉ còn cách Ngài khoảng bốn sải tay (trượng), nó đột nhiên quay ngoắt đầu bỏ chạy như thể vừa bị ai đó giáng một đòn mạnh. Những ai nhìn thấy và nghe kể lại đều không khỏi kinh ngạc. Giáo pháp luôn hiển lộ minh chứng cho những ai có niềm tin sâu sắc. Tương tự như vậy, một lần nọ trên đường đi khất thực, có một con rắn độc lớn đang dựng cổ phì phò chặn lối. Người dân thấy Ngài đang đi tới liền cố đuổi con rắn đi nhưng không được. Họ liền thưa rằng: “Bạch Ngài, phía trước có con rắn độc lớn, xin Ngài hãy lùi lại!” Ngài Mohnyin vẫn tiếp tục bước đi. Khi chỉ còn cách khoảng hai khuỷu tay, chính con rắn đó phải tự bỏ chạy nhường đường. Năng lực của Tâm từ và Giới hạnh một khi thực hành miên mật sẽ có sức mạnh thật phi thường. ## TRANG 545 Có lần, sau khi dọn dẹp các gốc tháp cổ và đang hành lễ bái, một con rắn từ phía sau tiến đến phì phò đe dọa. Ngài không phá bỏ định nguyện, vẫn tiếp tục thành tâm lễ bái. Con rắn đó trườn từ phía sau qua giữa hai chân khi Ngài đang ngồi xổm, rồi bò đến gần pho tượng, ngóc đầu vươn cổ ra vẻ hung dữ. Chỉ đến khi Ngài định tâm trưởng dưỡng tâm từ mãnh liệt hướng về nó, nó mới lặng lẽ biến mất. Ngài Mohnyin càng thêm tin tưởng sắc đá rằng, để chống lại và bảo vệ bản thân trước mọi sự chướng ngại, không có gì khác ngoài năng lực của Tâm từ. ### Huệ nhãn và những điều mầu nhiệm Sau khoảng một năm Ngài hành trì, có bốn người gồm ông U Tun Mya, U Hlwar Gyi và U Htin ở làng Se Gyi, cùng ông U Boe Kyu ở làng Aung Thar, đã bàn bạc với nhau mỗi người sẽ làm hộ pháp (kappiya) trong ba tháng. Vì Ngài không nói truyện, nên khi Ngài đi vệ sinh, họ đã viết thư xin phép và Ngài gật đầu chấp thuận. Các hộ pháp khi có việc cần cũng chỉ thỉnh nguyện bằng văn bản. Ngài đã nỗ lực hành trì liên tục như vậy trong suốt ba năm, vào đêm rằm tháng Tazaungmon năm 1276 (Miến lịch), cũng giống như câu nói: “**Cakkhuṃ udapādi, ñāṇaṃ udapādi** - Nhãn sinh, Tuệ sinh”, Ngài đã đạt được những tuệ giác thấu suốt đặc biệt. Sau khi hoàn tất ba năm, Ngài lại tiếp tục phát nguyện hành trì thêm hai năm nữa. Nguyện tịnh khẩu được thực hiện theo chu kỳ mười ngày một lần, ấn định thời gian hoàn tất là năm năm. Trong giai đoạn năm năm lần thứ hai, nguyện tịnh khẩu được ấn định là 15 ngày một lần. Khi dùng bữa, Ngài thực hành “**Āhāre paṭikūlasaññā**” (Tưởng vật thực là uế trượt), cứ mỗi miếng cơm lại lần một hạt tràng hạt rồi mới thọ dụng. Trong thời gian hành trì, Ngài thỉnh thoảng xem kinh sách. Ngài cũng ghi chép lại phương pháp quán Minh sát của mình, mà nay đã được in thành bộ “**Visuddhi-kyintsin-kyan**” (Thanh Tịnh Đạo Thực Hành). Trong suốt 10 năm đó, chư Tăng và thiện nam tín nữ từ khắp nơi xa gần đã thông qua hộ pháp gửi thư thỉnh cầu Ngài truyền dạy pháp hành, nhưng Ngài đều hồi đáp bằng thư rằng: “Vì đại nguyện chưa viên mãn nên chưa thể hứa khả.” Mặc dù Ngài luôn khép mình trong đại nguyện, nhưng khi kỳ hạn sắp hoàn thành, những tin đồn thường xuyên xuất hiện rằng Ngài được nhìn thấy cùng một lúc ở hai ba nơi khác nhau như núi Pho Win, núi Let Padaung, núi Kyaukka, núi Kway Mon Shwe Myin Tin và cả tại chỗ Đức trưởng lão Ledi Sayadaw ở Monywa. Các hộ pháp cũng thường xuyên thấy Ngài “biến mất” khỏi chùa. Thỉnh thoảng, họ thấy cả ngôi chùa rực sáng, hoặc thấy Ngài đang thuyết pháp cho các bậc Chư thiên, Phạm thiên và thậm chí là cả các loài Dạ-xoa (Yakkha). Các hộ pháp vô cùng hoan hỷ, và tiếng tăm của Ngài ngày một vang xa. ## TRANG 546 Vào tháng Waso năm 1283, đại nguyện 10 năm hành trì thiền định đã viên mãn, và Ngài cũng đã thấu đạt được những đặc biệt pháp cần thiết. Do đó, vào kỳ Thadingyut năm ấy, Ngài đã đến đảnh lễ bậc ân sư – Đức trưởng lão Ledi Sayadaw và trình bạch về những pháp đã chứng ngộ. Đức trưởng lão Ledi Sayadaw đã thốt lên "Lành thay" (Sādhu) ba lần. Ngài ban tặng các bộ kinh Ledi Dipani và cho phép Ngài Mohnyin được thuyết giảng giáo pháp. Ban đầu, khi có khoảng bốn hay năm mươi người gồm các hộ pháp và dân chúng tụ hội, Ngài đã truyền dạy pháp dưới một mái lều lợp lá thốt nốt dưới gốc cây. Dần dần, các thiền đường (zayat) và giảng đường bắt đầu được dựng lên. Trong thời gian này, các tác phẩm như “**Vipassanā Pīti Asasā Kyintsin Taya Gyi**” (Đại Pháp Hành Các Loại Hỷ Lạc Trong Minh Sát), “**Paṭiccasamuppāda Kyintsin Gyi**” (Đại Pháp Hành Thập Nhị Nhân Duyên), “**Nissaya Muccaka Kyintsin Kyan**” (Luận Về Pháp Hành Giải Thoát Y Chỉ) đã được biên soạn và ấn hành. Từ năm 1285 đến 1291, Ngài cũng đã trùng tu được chín ngôi bảo tháp cổ thông qua việc quyên góp từng nắm gạo cúng dường thường nhật. Vào năm 1285, khi số lượng đệ tử hành giả ngày một đông đảo, Ngài đã bổ nhiệm Tỳ-khưu U Sumangala làm Quản sự (Taik-ok), Tỳ-khưu U Āsabha làm Giám sự (Taik-kyat), và bà Daw Sandar Gyi đại diện cho nữ giới để điều hành. Ngài cũng cho in ấn bộ “**Visuddhi-kyintsin-kyan Gyi**” (Đại Thanh Tịnh Đạo Thực Hành) và hướng dẫn pháp hành cả ngày lẫn đêm. Ngài răn dạy mọi việc phải luôn đúng theo giới luật (Vinaya). Mỗi đêm, đại chúng cùng tụng kinh và tu tập pháp hành **Caturārakkha** (Bốn pháp hộ trì). Tiếp đó, Ngài thuyết giảng trong ba đêm về vô thường của Sắc (Rūpa) kết hợp với thiền hành, từ một điểm diệt đến sáu điểm diệt. Khi người hướng dẫn thiền hành phía trước, các hành giả bước theo sau. Ngài cũng dành sáu ngày để hướng dẫn về vô thường của Danh (Nāma - **Sáu loại thức**). (Tác giả lúc 8 tuổi đã từng được diện kiến và thấy Ngài hướng dẫn pháp khi đang thiền hành.) ### Sự kiện Đức trưởng lão Ledi Sayadaw viên tịch Vào ngày mùng 8 tháng Waso năm đó, vì Đức trưởng lão Ledi Sayadaw lâm trọng bệnh nên đã gửi điện tín thỉnh Ngài Mohnyin đến. Ngài liền khởi hành đến trú xứ của phú ông U Lan Taik (Chùa Ledi San) ở Pyinmana. Khi đang cúi đầu đảnh lễ sát đôi bàn chân của bậc ân sư để bày tỏ lòng tôn kính... Đức trưởng lão phán rằng: “À... có phải Ngài Mohnyin đó không? Này con, hãy nỗ lực hoằng dương giáo pháp Vipassanā nhé. Dù ta không còn nữa nhưng kinh sách của ta vẫn còn đó, hãy thay ta mà làm nơi nương tựa cho chúng hữu tình.” Các đệ tử đã tụng bộ Paṭṭhāna (Vị Trí) cho Ngài nghe. Riêng Ngài Mohnyin đã tụng bài Anatta Dipani (Vô Ngã Minh Đăng) để cúng dường và đền đáp ân sư. Đức trưởng lão Ledi Sayadaw nói rằng: “Thật là tốt thay! Khi được nghe giáo lý Vô ngã này, ta như nhìn thấy và khởi tâm tịnh tín trước hình ảnh Đức Thế Tôn khi Ngài thuyết bài kinh Anattalakkhaṇa Sutta (Kinh Vô Ngã Tướng). Cứ như thể chính Đức Phật đang ngự đến vậy, này con...” ## TRANG 547 Ngài phán rằng: “Ta đã thuyết **Abhidhamma** (Vi Diệu Pháp) ở cõi người rồi, giờ đã đến lúc phải đến thuyết ở cõi trời một chuyến; ta nghe như có tiếng Đức Thế Tôn đang ngự ở phía trên đầu mình phán truyền như vậy.” Vào lúc 2 giờ 30 phút chiều ngày rằm tháng Tư (Waso) năm đó, **Đại trưởng lão Ledi Sayadaw** đã diệt tận sắc nghiệp tái sinh (cuti kammaja rūpa). Ngài (Mohnyin Sayadaw) xin phép các vị đại đệ tử rồi trở về tu viện Mohnyin. Sau khi **Đại trưởng lão Ledi Sayadaw** viên tịch, vì lòng cảm hoạt **Dhammasaṁvega** (sự xúc động trước giáo pháp), Ngài quyết tâm nỗ lực đặc biệt trong việc thuyết giảng **Vipassanā** (Thiền Quán). Khi chưa đầy 60 tuổi, Ngài đã tổ chức các buổi thuyết pháp ngay trong rừng thiền Mohnyin. Chẳng bao lâu sau, vào năm 1301 (Âm lịch Miến Điện), ông U Hmyin - bà Daw Sein ở thị trấn Mawlamyinegyun và ông U Sit Kyu ở thị trấn Laymyethna đã cúng dường một ngôi đại giảng đường (Dhammāyon) mang tên “Paṭṭhāna Adhipati” dài 150 feet, rộng 62 feet. Ngôi giảng đường này rất tráng lệ, đáng chiêm ngưỡng với những bức tượng điêu khắc các vị Đại Thượng thủ Thinh văn (Atīti Sāvaka) và chín đoàn truyền giáo đến chín phương (Ko Taing Ko Hta Na). Đặc biệt, trên trần của đại giảng đường có điêu khắc hình ảnh **500 con dơi** đang nghe **Abhidhamma**. Trong khi đang điêu khắc, **Đại trưởng lão Mohnyin Sayadaw** đã hỏi người thợ vẽ: “Này con, con có biết vẽ hình con dơi cho giống không? Nếu không biết thì hãy lấy giấy bút lại đây, ta sẽ vẽ cho xem.” Trong lúc Ngài đang phán như vậy, một con dơi bỗng nhiên rơi xuống ngay trước mặt Ngài và người thợ vẽ. Ngài phán: “Được rồi, hãy lấy tờ giấy đắp lên con dơi rồi dùng bút chì tô theo hình nó đi con.” Sau đó, con dơi cúi đầu ba lần rồi bay đi. ### Bắt Đầu Đi Thuyết Pháp Vào năm 1294 (Âm lịch Miến Điện), khi đã tròn 60 tuổi, vào tháng Tư (Tagu) năm đó, lần đầu tiên Ngài lên Maymyo để thuyết pháp trong năm ngày. Vào ngày 14 tháng Chạp (Tabaung) nhuận năm 1295, Ngài ngự trên một toa xe lửa màu trắng đặc biệt để đi thuyết pháp tại Mawlamyine. Trước khi đi, lúc sắp lên tàu, Ngài đã hướng về phía đại tu viện Ledi cúi đầu đảnh lễ rồi mới đăng trình. Người sắp xếp mọi công việc cho những buổi đại thuyết pháp đó chính là vị sư trẻ U Kovida (Sau này là Sa-ya-daw-ga-lay). Tại Mawlamyine, Ngài ở lại 18 ngày; khi thuyết pháp tại quảng trường Maida, thính chúng lên đến hơn hai mươi ngàn người. Lượng thính chúng đông đảo như thế này là điều chưa từng có trước đây. Tại Miến Điện, đây là lần đầu tiên loa phóng thanh (máy khuếch đại âm thanh) được sử dụng. Có 5.000 người đã ký tên cam kết nỗ lực giữ giới và hành thiền (trở thành thành viên hội **Gativisuddhi**) và 500 vị nữ tu sĩ (Yathe-ma) đã đăng ký ghi danh hoằng pháp. Đi đến đâu Ngài cũng được cung đón và cúng dường nồng nhiệt như bầy ong vây quanh mật. (Sau này) viên cảnh sát trưởng còn cho bắn một trăm phát đại bác để chào đón Ngài. Từ ngày mùng 2 tháng Ba (Kasun) nhuận năm 1296, tại khuôn viên trường Myoma ở Yangon, ## TRANG 548 Ngài thuyết pháp bằng loa phóng thanh, thính chúng đông đúc đến nức lòng. Khi đó ở Miến Điện chỉ mới có duy nhất một bộ máy này. Ngài vừa thuyết giảng các giáo lý tối hậu (paramattha) vừa liên tục hỏi: “Này các con, có nghe rõ không?”. Đó là những bài pháp hướng dẫn thực hành **Vipassanā** trong 15 ngày. Các tờ báo lớn như Thuriya và Myanmar Alinn cũng đăng tải nội dung các bài pháp kèm theo hình ảnh, nhờ đó cả nước đều rúng động; số lượng báo phát hành cũng phải tăng thêm hơn năm ngàn bản mỗi số. Điều kỳ lạ là trong những ngày thuyết pháp, dù đang là mùa mưa nhưng trời lại không hề mưa. Nhân lúc Mohnyin Sayadaw đến Yangon, Ngài đã mang lễ vật đến đảnh lễ vị thầy thuở nhỏ (Ngài U Ācara ở làng Aye, Thongwa) sau 37 năm xa cách. Vị đại trưởng lão ấy xúc động đến mức không thể đọc hết lời chúc phúc sau khi nhận lễ, mà chỉ biết khóc vì vừa buồn vừa vui. Thuở Ngài **Mohnyin Sayadaw tương lai** còn là một trẻ chăn trâu, Ngài từng bị trâu húc khiến sừng trâu mắc vào xà-rông, chính trưởng lão U Ācara đã nhìn thấy và cứu mạng. Sau này khi còn là chú tiểu, trên đường đi bát từ làng Tagon ở phía Nam về, lúc băng qua suối Ngài suýt bị nước cuốn trôi, và cũng chính vị thầy ấy đã cứu Ngài một lần nữa. Đó là vị ân nhân đã hai lần cứu mạng Ngài khỏi cửa tử. Thính chúng chứng kiến cũng đều rơi lệ. Vì mọi người khẩn thiết yêu cầu Ngài thuyết pháp nên Ngài đã hủy kế hoạch ở Yangon để ở lại thuyết pháp trong ba ngày (ngày 13, 14, 15 tháng Tám - Tazaungmon năm 1297). Cả trong buổi pháp lẫn lúc Ngài lên đường trở về, mọi người lại vây quanh khóc lóc. Ngài quán niệm về sự đánh lừa của các pháp hữu vi (**Saṅkhāra**) và phát khởi tâm nhàm chán (**Saṁvega**): “Ôi... khổ thay, khổ thay! Chính vì vậy mà các bậc hiền trí thánh nhân mới ghê sợ và nhàm chán thế gian này”. Kể từ đó, hằng năm Ngài đều đến Yangon. Mỗi buổi thuyết pháp, thính chúng đông đến mức khiến người ta phải nổi da gà. Số người phát nguyện hành thiền và gia nhập hội **Visuddhi** lên đến từ mười ngàn đến năm mươi ngàn người. Cứ như thế, Ngài ban bố giáo pháp đến mọi thành phố khi có duyên sự thuận lợi. Ngài cũng đã thành lập các hội **Maṅgalā Gativisuddhi**. ### Những Vị Đại Diện Của Ma Vương Đặc biệt tại Yangon, do Ngài thuyết giảng và yêu cầu đốt bỏ các tiểu thuyết, tạp chí vì chúng kích thích **Taṇhā-rāga** (ái dục), điều này đã gây ra một làn sóng phản đối dữ dội trong giới nhà văn, họ đã dùng ngòi bút để công kích lại Ngài. Trong các cuốn tiểu thuyết, họ bắt đầu viết về các nữ tu sĩ (Yathe-ma) bằng những tình tiết bất chính. Tại Mawlamyine, trong các buổi pháp vào dịp Tết Songkran (Thingyan), Ngài đã có lời yêu cầu mọi người đừng tạt nước, tờ báo Myanmar Alinn đã đăng tranh biếm họa ## TRANG 549 châm chọc rằng: “Đừng có thuyết pháp về chuyện không tạt nước nữa”... Ngài phán: “Phải rồi... vì ta nói những điều họ không thích mà. Phải chấp nhận thôi. Đời (Loka-dhamma) là như vậy.” Cùng với sự nổi tiếng của Mohnyin Sayadaw, trong khi ở khắp các vùng miền có nhiều người đắc chứng pháp bảo (**Dhammābhisamaya**), thì những người tạo trọng tội (xuống địa ngục) cũng không phải là ít. Đặc biệt, người ta tìm sơ hở để chỉ trích việc Ngài cho phép xuất gia theo hình thức tu sĩ Yathe. Ngài Sayadaw U Paññāvaṁsa đã viết các tác phẩm như “Sāsanataṅkhwan”, “Sāsanama-lavisodhanī” để phê phán và hạ nhục nặng nề. Họ cho rằng: Ngài dụ dỗ những người không hiểu biết để đưa họ xuống địa ngục; rằng tôn giáo giả hiệu sẽ bị đất nuốt, v.v. Sayadaw chùa Yay-oo-wa-so cũng viết cuốn “Isipahāyakavinicchaya” (2 tập) để phản đối. Họ thậm chí còn kích động để thực hiện các thủ tục kỷ luật (Vinaya-kamma) nhằm trục xuất Mohnyin Sayadaw. Thư kích động được rải đến các vị trưởng lão trên khắp cả nước. Thậm chí, có những vị Tăng không còn muốn thọ dụng đồ cúng dường của Mohnyin Sayadaw nữa. Vào tháng Tư (Waso) năm 1298, Ngài đã đến gặp vị Sayadaw U Pakhan nổi tiếng tinh thông kinh điển ở thành phố Pakokku để trình bày và thảo luận về vấn đề tu sĩ Yathe. Sau đó, các tờ báo lớn đã đăng tải đầy đủ sự thật về Mohnyin Sayadaw. Tám mươi ngàn cuốn sách mang tên “Lời giải trình của Yesagyo” cũng đã được xuất bản. Kể từ đó, mọi tranh cãi dịu xuống như lửa được dội nước. Ma vương thường nhập vào những kẻ thiếu trí tuệ để gây khó khăn cho các bậc thiện trí chân tu. Khi chết, những kẻ đó sẽ đọa địa ngục. Nếu không phá hoại được bằng cách đó, Ma vương sẽ khiến thính chúng cúng dường nhiều phẩm vật, danh tiếng và lợi lộc. Khi những người (cúng dường) đó chết, họ sẽ lên cõi trời. Việc Ma vương dùng những kẻ không hiểu biết làm bàn đạp để quấy phá đã được nêu rõ trong bài kinh “**Māratajjaniya Sutta, Mūlapaṇṇāsa**”. “Nếu bị tấn công bằng danh lợi và sự tôn kính (Lābha), phải dùng pháp **Vô thường** (Anicca) để đối kháng. Nếu bị hành hạ bởi các loại bệnh tật, đói khát và tai ương, phải dùng Tâm Từ (Mettā) để bảo vệ.” Các đệ tử của Đức Phật đều đã thấu hiểu điều này. Vào năm 1296, khi tổ chức buổi pháp tại thành phố Bago, lại có một vấn đề nảy sinh. Vấn đề là vào đêm thuyết pháp, lịch diễn ra trùng với một buổi pháp của một vị đại trưởng lão khác. Trong quy định của hệ phái Mohnyin có một điều khoản: “Không được thuyết pháp tại cùng một thành phố khi có một buổi pháp khác đang diễn ra, nếu vi phạm sẽ phải chịu phạt”. Dựa vào quy định này, Ngài phán rằng mình sẽ không thuyết pháp. Điều này khiến ông U Sein Win và các vị lãnh đạo ban quản trị chùa Shwemawdaw gặp khó khăn vì mọi thứ đã chuẩn bị xong. Họ thậm chí còn thỉnh mời các vị trưởng lão trong thành phố đến để thỉnh cầu Ngài. Khi đó, sau khi nhận được lời cam kết rằng mọi người sẽ cùng nhau trùng tu ngôi bảo tháp Shwemawdaw đang bị hư hại, Ngài đã phán rằng nếu có được một thiện sự to lớn như vậy, Ngài sẽ chấp nhận chịu phạt để thuyết pháp. Ngài phán rằng việc gánh chịu tai tiếng nước nôi (do đi lại vất vả trong mùa mưa) để thuyết Pháp là chuyện thường tình. Bởi lẽ, những bậc thiện trí luôn giữ trọn lời hứa và sẵn lòng thực hiện những việc mang lại lợi ích cho chúng sinh. ### Bước chân vào pháp trường Ngài Cố đạo sư không chỉ thuyết minh về pháp hành Thiền Quán (Vipassanā) cho những người có ba-la-mật (pāramī) chín muồi, mà Ngài còn thuyết giảng về các pháp Minh Hạnh (Maṅgala) – những nền tảng đạo đức căn bản cho con người – để cầu nguyện cho đất nước được thái bình, an lạc. Tại các nhà tù ở nhiều thành phố khác nhau, nơi có từ 700 đến 1000 tù nhân, Ngài thường tận dụng cơ hội để thuyết Pháp cho họ. Khi bước đến khu vực giá treo cổ (máy chém) tại nhà tù Insein, Ngài phán: "Này, cái máy chém này nó không 'bắt' ta đâu các con ạ. Này, điều thực sự đáng sợ không phải là cái máy chém, mà chính là những ác nghiệp (akusala) đã dẫn dắt người ta đến chỗ máy chém này." Ngài thuyết giảng tường tận về lợi ích và hậu quả của việc giữ hay vi phạm Ngũ giới (Pañcasīla), khuyên họ nên thọ trì giới luật. Ngài cũng dạy phương pháp niệm Phật (Buddhānussati) và tu tập tâm Từ (Mettā), đồng thời tặng mỗi người một xâu chuỗi hạt. Lúc bấy giờ, dân chúng đang mong chờ sự xuất hiện của một vị Chuyển Luân Thánh Vương (Cakkavatti). Các mặt báo cũng ví von hành trình của Ngài Monyin Sayadaw là "Monyin Cakkavatti" (Chuyển Luân Vương vùng Monyin). Do đó, có người còn bàn tán rằng: "Chính phủ Anh rước Ngài Monyin Sayadaw vào tù để làm lễ giải hạn (yatra), ngăn không cho vị Chuyển Luân Vương xuất hiện." ### Sức mạnh tâm Từ xua tan khói lửa Điểm đặc biệt nhất ở Ngài Monyin Sayadaw chính là đường lối tu tập tâm Từ (Mettā). Ngài thường đi khất thực qua các khu phố ở Yangon. Mục đích chính là để thực chứng việc lan tỏa tâm Từ giữa đời thực. Ngài thường xuyên nhắc nhở đệ tử mỗi ngày phải tu tập tâm Từ với tâm nguyện thiết tha, mong cho hết thảy chúng sinh trên toàn thế giới đều được an vui, khỏe mạnh: "Cầu cho tất cả được vạn sự cát tường, thân tâm thường lạc." Vào ngày mùng 3 tháng Natdaw năm 1301 (Âm lịch Myanmar), Ngài Thái Hư (Tai Xu) – vị cao tăng đứng đầu Phật giáo toàn Trung Hoa từ Bắc Kinh – đã gửi lễ vật và thư thỉnh Ngài. Trong thư, Ngài Thái Hư cầu thỉnh Ngài Monyin Sayadaw thuyết Pháp để công cuộc hoằng Pháp được thành tựu và cầu nguyện cho nhân dân Trung Hoa thoát khỏi các nạn tai, khổ ách. "Trước khi muốn đi đến nơi nào hay thực hiện công việc gì, ## TRANG 551 trước tiên phải tu tập tâm Từ," Ngài đã viết thư phản hồi như vậy. Ngài còn căn dặn nếu cần sự gia trì trọn vẹn của năng lượng tâm Từ, hãy gửi một bức ảnh chân dung toàn thân của người đó đến cho Ngài. (Ngài Thái Hư ở chùa Amuoy [Hạ Môn] từng sang Anh, Pháp hoằng Pháp vào năm 1928, điều này có ghi trong cuốn Lịch sử Đức Phật của Ngài Meghawadi U Narada). Vào ngày rằm tháng Tazaungmon cùng năm đó, ông Paramananda – Thư ký hiệp hội Ấn giáo 'Grettinichabha' tại Yangon – (sau khi dẫn giải về sự tương đồng giữa Phật giáo và Ấn giáo qua các tư liệu lịch sử) đã cầu thỉnh một lời giáo huấn để thắt chặt sự đoàn kết giữa tín đồ hai tôn giáo. Ngài cũng phúc đáp bằng thư, khuyên họ nên thực hành tâm Từ với sự chân thành từ thân, khẩu, ý ít nhất 10 đến 15 lần mỗi ngày. Có thể người ta nghĩ đó chỉ là những lời khuyên sáo rỗng thường tình, nhưng thực tế không phải vậy. Ngài khuyên bởi Ngài đã thực sự nhìn thấy sức mạnh và lợi ích vượt trội của nó. (Lời thỉnh cầu của ông Paramananda có ghi chép đầy đủ trong cuốn Monyin Therapadān). Một minh chứng rõ rệt hơn là vào thời điểm Ý và Abyssinia (nay là Ethiopia) đang xảy ra chiến tranh. Một buổi tối sớm nọ, Ngài trải một bản đồ lớn ra trước mặt, rồi bảo vị thị giả là U Kovida rằng: "Này Pho Kaw (tên gọi thân mật của U Kovida), hãy nhìn xem, Ý và Abyssinia đang đánh nhau, chúng sinh chết chóc tan tác thật đáng thương thay. Cần phải gửi tâm Từ để họ thoát khỏi nạn này. Nếu cuộc chiến ấy được dập tắt bằng cách nào đó, thì phải hiểu rằng đó là nhờ sự thành tựu của tâm Từ." Sau đó, Ngài liên tục tu tập tâm Từ ngày đêm. Chỉ năm ngày sau, có tin điện báo rằng hai nước đã ký kết hòa bình. Điều này có thể khó tin đối với người bình thường, nhưng không nên nảy sinh lòng hoài nghi. Điểm cốt yếu chính là năng lực của Giới (Sīla), Định (Samādhi) và Trí tuệ (Paññā) cùng lòng tin (Saddhā). Đức Thế Tôn đã từng hàng phục voi dữ **Nālāgiri** bằng tâm Từ; Ngài cũng dùng tâm Từ để thu phục vị hoàng tử ngoại đạo Roja Malla; và trong các bài kinh như **Kinh Lợi ích Tâm Từ (Mettānisaṃsa Sutta)**, **Kinh Karajakāya**, **Kinh Ví dụ Cây Giáo (Satti Sutta)** thuộc Tương Ưng Bộ (Opamma Saṃyutta), Đức Phật đã khẳng định rõ rệt về sức mạnh của tâm Từ. Hễ ai có lòng tin kiên cố thì người đó nhất định sẽ thành tựu. Nếu một người có Giới hạnh và Định lực cao thâm, biết huân tập các ân đức của Phật, rồi nhất tâm hướng đến những cuộc chiến khốc liệt nhất với lòng từ ái chân thành và sự định tĩnh, thì họ sẽ thấy kết quả linh ứng đến mức chính mình cũng khó tin. Hỡi các bậc thiện trí, hãy tinh tấn thực hành! Nhờ vào tâm Từ và những phẩm hạnh cao quý ấy, các buổi thuyết Pháp của Ngài Monyin Sayadaw được tổ chức vô cùng long trọng trên khắp đất nước Myanmar. Đi đến bất cứ thành phố nào, Ngài cũng đều đến đảnh lễ các bảo tháp, các bậc cao tăng và cúng dường y bát đến chư Tăng. Tại thiền viện Monyin Forest rộng 37 mẫu Anh, Ngài đã cho xây dựng tường bao che chắn và đại bảo tháp **Sambuddhe** cùng nhiều liêu phòng, chùa chiền, giúp cho phần hình thức (vật chất) của Giáo Pháp cũng được hưng thịnh. ## TRANG 552 ### Trúng bom trong Thế chiến Vào năm 1302 (Tháng 1 năm 1941), Ngài được triều đình dâng tặng danh hiệu cao quý Aggamahāpaṇḍita (Bậc Đại Trí Tuệ). Ngày 23 tháng 12 năm đó (ngày mùng 7 tháng Pyatho năm 1303), Yangon hứng chịu đợt tấn công đầu tiên của Thế chiến thứ hai. Tại thiền viện Monyin Forest lúc đó có khoảng 2000 hành giả đang lánh nạn. Ngài ban huấn từ: "Không cần đào hầm trú ẩn, hãy nỗ lực nhiếp tâm vào Pháp. Có như vậy mới xứng đáng là bậc Thánh đệ tử (Ariyasāvaka) của Phật." Nói rồi, Ngài vẫn tiếp tục thuyết Pháp như thường lệ và việc xây dựng bảo tháp **Sambuddhe** vẫn được tiến hành. Có ba quả bom rơi trúng khu vực thiền viện nhưng dường như chẳng mấy ai hay biết, vì chúng rơi vào đống cát khổng lồ và không phát nổ. (Mối nhân duyên giữa tâm Từ của Ngài và một sĩ quan cao cấp Nhật Bản có thể xem thêm trong cuốn sách Sức mạnh Tâm Từ). Đến ngày Chủ nhật, mùng 10 tháng Wagaung năm 1307 (2/9/1945), Thế chiến thứ hai kết thúc. Trong thời gian chiến tranh, đôi mắt của Ngài dần bị đục thủy tinh thể và không còn nhìn thấy rõ. Ngài đã an ủi các đệ tử rằng: "Ta đã có Pháp nhãn (mắt Pháp) rồi. Các con đừng lo lắng cho ta. Hãy tự mình nỗ lực thực hành Pháp của chính mình." Vào thời điểm quân đội Anh quay trở lại, họ đã nã pháo vào thành phố Monywa từ đằng xa. Một quả pháo đã rơi trúng ngay chỗ Ngài đang đi kinh hành. Ngài bị áp lực quả pháo hất ngã xuống trong tư thế ngồi. Tất cả đồ vật xung quanh đều bị nghiền nát tan tành. Những người xung quanh hoảng hốt vây lại vì nghĩ rằng Ngài đã viên tịch, nhưng kỳ lạ thay, Ngài không hề bị thương tích gì. Dân chúng vô cùng vui mừng truyền tai nhau rằng Ngài "miễn nhiễm với bom đạn". Quả thật, Pháp luôn bảo hộ cho người thực hành Pháp. ### Già và Bệnh Vào tháng Pyatho năm 1309 (19/12/1947), Ngài được bác sĩ Chan Tate điều trị bệnh mắt tại Bệnh viện Đa khoa Yangon. Ngài lại dùng lời dạy tâm đắc để an ủi những đệ tử đang lo lắng: "Làm thì thành mới, mà có thì là cũ" (mọi thứ sinh ra rồi cũng sẽ suy tàn theo quy luật tự nhiên). Thời gian Ngài nằm viện trùng với ngày lễ trọng đại công bố Độc lập của đất nước (4/1/1948). Ngài đã yêu cầu đặt một pho tượng Phật lên bàn, thức dậy từ 3 giờ sáng để hành lễ. ## TRANG 553 ### Bậc A-la-hán và các bậc Vĩ nhân **499** Ngài dâng nước cúng dường, thắp đèn dầu hổ trợ. Ngài đọc các bài kệ Jayamaṅgalā Gāthā (Kệ Thắng Cát Tường), thỉnh chư Thiên chứng giám và phát nguyện bằng lời: “Cầu mong nền độc lập vĩ đại này trường tồn mãi vĩnh viễn hàng vạn năm”, rồi Ngài gửi lời chúc phúc và lòng từ ái vô biên. Một mắt của Ngài thị lực đã hồi phục tốt, nên Ngài tiếp tục thuyết giảng pháp bảo truyền dạy cho đại chúng như trước đây. Năm 1310 (17/12/1948), Ngài bị bệnh phổi và phải điều trị tại bệnh viện trong năm tháng. Sau đó, vào năm 1315 (03/06/1953), Ngài lại phải nhập viện một lần nữa vì các vết tổn thương ở phổi. Lúc này Ngài đã 81 tuổi, nhưng nghị lực và sự tinh tấn vẫn không hề giảm sút. Năm 1326, khi Ngài 93 tuổi, từ khoảng tháng Tawthalin trở đi, thân ngũ uẩn vốn “như bờ cát lở, già đi từng chút một, bị thiêu rốt như lửa đốt” này bắt đầu bị sự già yếu (già) và bệnh tật (bệnh) dày vò mỗi ngày một nặng nề hơn. Ngài không thể dùng được thức ăn gì, chỉ có thể ngậm nước súc miệng. Ngay cả khi đó, Ngài vẫn tự mình đi vệ sinh cách đó năm bộ. Ngài nói: “Ta đã phát nguyện rằng khi nào không còn tự mình dọn dẹp uế tạp được nữa thì xin cho ta được xả bỏ gánh nặng thân xác này”, rồi Ngài tiếp tục quán chiếu thọ uẩn. ### Những sự kiện kỳ diệu khi Ngài viên tịch Vào ngày mùng 8 tháng Tawthalin khuyết, các vị đại đệ tử và các bác sĩ chỉ còn biết túc trực bên cạnh và tụng đọc kinh Paṭṭhāna (Kinh Vị Trí). Ngài dạy rằng: “Gánh nặng thân này đã quá nặng nề rồi. Các con hãy sống chớ có dâng đầy sự phóng dật (chớ có dể duôi)”. Đúng 6 giờ 4 phút chiều ngày hôm đó, tâm tử (cuti) và nghiệp sắc thân (kammaja-rūpa) đã chấm dứt. Ngay lập tức, một trận động đất xảy ra. Một luồng hào quang rực rỡ (cầu vồng) xuất hiện phía trên ngôi chùa nơi Ngài an nghỉ. Chim chóc đồng loạt cất tiếng hót vang như đang đồng thanh xướng lên những lời kinh cảm niệm về sự vô thường (saṃvega-gīti). Điều kỳ lạ hơn cả là từ trên không trung vang lên những tiếng tù và, tiếng chiêng đồng, tiếng nhạc lễ rộn ràng. (Bác sĩ Thein Aung, người chăm sóc sức khỏe cho Ngài, kể lại rằng: “Ngài biết trước khi nào mình sẽ đến, khi nào không, và Ngài biết rõ mọi phương pháp điều trị của bác sĩ trước khi chúng được thực hiện”.) Kim thân của Ngài được đưa vào bảo tháp chứa di cốt Mahā Bodhi vào lúc 4 giờ chiều ngày 12 tháng Tawthalin khuyết. Vào ngày Ngài viên tịch, các loài hoa trong chùa nở rộ trái mùa, tất cả đều hướng về phía ngôi chùa nơi Ngài tịnh cư như đang cúi đầu đảnh lễ. Điều gây kinh ngạc hơn cả là cây Bồ-đề lớn 45 tuổi, vốn được xem như cùng tuổi với Ngài, đã rụng hết lá và khô héo ngay trong ngày hôm đó. ## TRANG 554 Đại trưởng lão Mohnyin Sayadaw đã để lại di sản gồm 36 bộ kinh sách lớn nhỏ, mang lại lợi ích to lớn cho chúng sinh. Ngài đã chứng minh cho đức tính Sandiṭṭhika (Thiết thực hiện tiền) của Giáo pháp, cho thấy rằng việc thực hành thiền tuệ (Paṭipatti) không phải là vì lợi ích cá nhân, mà là món vũ khí lợi hại nhất để cứu độ chúng sinh. (Để biết chi tiết về tiểu sử của Ngài, xin xem cuốn “Mohnyin Therāpadān” do Ngài U Kovida soạn.) Đại trưởng lão Mohnyin Sayadaw là bậc vĩ nhân thành tựu và nổi tiếng không ai sánh kịp trong thời đại của mình. Nhưng đối với những bậc vĩ nhân như vậy, đi cùng với sự thành công và danh tiếng luôn là những sự phản kháng và trở ngại. Những kẻ thiếu phước báu sẽ phải chịu quả báo nặng nề. Danh sách các vị đại đệ tử của Ngài được khắc tại bảo tháp di cốt Mahā Bodhi. Ngài Aggamahāpaṇḍita U Indriya đã thay mặt Đại trưởng lão duy trì sự nghiệp hoằng pháp tại tu viện Mohnyin, Yangon cho đến khi Ngài ngoài 90 tuổi. ### Niết-bàn có thể đạt được ngay bây giờ “Ngày nay, bằng cách thường xuyên quán chiếu theo sự hướng dẫn trong kinh Satipaṭṭhāna (Kinh Niệm Xứ), những ai nỗ lực thực hành trong vòng một hoặc hai tháng có thể chứng ngộ được Đạo, Quả và Niết-bàn, số người như vậy hiện nay rất nhiều.” — **Mahāsi Sayadaw** ## TRANG 555 ### Sayadaw dạy thiền Niệm Xứ tại Moulmein Ngài Shweminwun U Kosalla Sayadaw, bậc pháp sư nổi tiếng của dòng thiền Mohnyin từ vùng núi Shweminwun, đã cùng với Ngài Mahāsi Sayadaw đến Yangon vào năm 1311 để hoằng truyền pháp môn Niệm Xứ. Không lâu sau đó, Ngài đã thành lập riêng một thiền viện mang tên Shweminwun Sāsana Yeikthā tại Yangon. Trong danh sách các vị đại đệ tử còn có tên “Ngài trụ trì làng Hteinkan U Paṇḍava”, một vị thiền sư có tiểu sử vô cùng đặc biệt trong lịch sử thực hành pháp môn thiền định. Ngài U Paṇḍava sinh vào chiều thứ Năm, lúc 3 giờ, ngày 14 tháng Tagu năm 1259, là con của ông U Pho Khaung và bà Daw Nu, tại làng Hteinkan, phía bắc thị trấn Myinmu. Tên thuở nhỏ của Ngài là Maung Moe. Ngài là vị thiền sư đã dành cả đời mình cho sự nghiệp hoằng truyền pháp môn thực hành (Paṭipatti) cho đến khi ngoài 90 tuổi. Khi còn trẻ, Ngài học giáo lý tại làng Hteinkan và tại tu viện Shwegyin Mahāvisuddhārāma ở Mandalay, sau đó Ngài đã đến nương tựa và thực hành thiền dưới sự chỉ dạy của Đại trưởng lão Mohnyin Sayadaw trong khoảng một năm. Tiếp đó, Ngài lưu trú tại tu viện Shwegyin ở Taungwainggyi, Moulmein và đã cùng với các nam nữ cư sĩ đệ tử của mình thực hành thiền Niệm Xứ dưới sự chỉ dẫn của một vị thiền sư là cư sĩ. Vị thiền sư cư sĩ đó là ông U Min Din người Mae Sot, vốn là đệ tử của Ngài Thaton Jetawun Sayadaw vĩ đại. Việc một vị trụ trì thông kinh điển, có uy tín lớn mà lại có thể hạ mình đi học thiền từ một cư sĩ—người thuộc về một dòng phái khác với phái của mình—là một sự hy sinh và lòng đức tin không hề tầm thường. Ngài quan niệm rằng, dù sắc lệnh của vua được một người lính đánh trống đọc lên, thì sắc lệnh đó vẫn là lệnh của đức vua. Chánh pháp của bậc thiện trí (Saddhamma), hay bản thân bậc thiện trí, vốn không có màu sắc hay ranh giới dòng phái. Tuy nhiên, một số vị cùng dòng phái có cái nhìn hạn hẹp, luôn tự đóng khung Chánh pháp và đời sống của bậc thiện trí, đã không thể hài lòng với hành động này của Ngài. Dù vậy, Sayadaw U Paṇḍava sau khi đã học tập và thực hành thuần thục dưới sự hướng dẫn của vị thầy cư sĩ đó, Ngài đã mở trung tâm thiền và đích thân hướng dẫn thiền. Sau này, Ngài còn tiếp tục thực hành thêm dưới sự chỉ dạy của Ngài Jetawun Sayadaw vĩ đại. Vào thời điểm đó, Ngài U Sobhana—người sau này trở nên lừng lẫy với danh hiệu Mahāsi Sayadaw—cũng đã thực hành thiền với Ngài Jetawun Sayadaw và đang giảng dạy giáo lý tại vùng Taungwaing Galay. Hai vị Sayadaw thường xuyên gặp gỡ và thảo luận giáo pháp mà không hề có sự phân biệt giữa các dòng phái Sudhamma hay Shwegyin. ## TRANG 556 Ngài Sayadaw U Paṇḍava đã hết lòng ủng hộ mọi mặt, không thiếu sót điều gì, từ các kỳ thi Luật tạng (Vinaya) toàn vùng Mawlamyine trở đi. Ngài cũng rất rộng rãi trong việc bố thí. Tại kỳ thi Luật tạng, chính Ngài là vị Sayadaw đã đề xuất và hỗ trợ, khuyến khích việc tụng đọc phần ý nghĩa của đại kinh Satipaṭṭhāna Pāḷi. Một lần nọ, khi Đại trưởng lão Sayadaw Mohnyin đến Mawlamyine để thuyết pháp, Ngài U Paṇḍava đã đến đảnh lễ. Đại trưởng lão Mohnyin vốn đã biết trước rằng Ngài U Paṇḍava đang làm đệ tử của Đại trưởng lão Sayadaw Jetavan (Thaton), đang thực hành và truyền dạy pháp hành theo phương pháp Satipaṭṭhāna, nên Ngài quay sang các đệ tử khác và phán rằng: “Phải rồi... họ đã biết thì cứ để họ biết, ta có diệt thì cứ để ta diệt, chẳng phải vậy sao?” Ngài không những không trách móc mà trái lại, mỗi khi có thời gian, Ngài còn lân mẫn đến tận tu viện Taungwaingyi để khích lệ. Có một lần, Đại trưởng lão Sayadaw Mohnyin cùng với các đệ tử đến Taungwaingyi, đúng vào ngày làm lễ Uposatha (Bố-tát), nên Ngài đã cùng thực hiện lễ Bố-tát với chúng Tăng trong viện do Ngài U Paṇḍava dẫn đầu. Chẳng bao lâu sau, Ngài U Paṇḍava gặp phải rắc rối. Theo luật của tông phái (Nikāya), không được phép cùng thực hiện các Tăng sự (Kamma) lớn nhỏ với chư Tăng thuộc tông phái khác. Nếu vi phạm sẽ phải chịu hình phạt (daṇḍa). Ngài U Paṇḍava đã phải chịu hình phạt "múc nước" (rạng-đan - ye-daṇḍa) tại kỳ thi Luật tạng trước sự chứng kiến của đông đảo chư Tăng trong tông phái. Sau khi thọ phạt, Ngài còn phải trình bày rõ trước đại chúng về lỗi lầm khiến mình bị phạt. Khi Ngài U Paṇḍava thọ phạt xong và trình thưa với chư Tăng, trong hàng ngũ tăng chúng bắt đầu có những tiếng xầm xì không hài lòng. Tuy nhiên, không ai có thể bắt bẻ hay tranh luận gì được, bởi cách hành văn trong lời trình thưa của Ngài U Paṇḍava như sau: “Con đã thọ xong hình phạt nước mà chư Tăng trong tông phái đã ban cho. Chỉ vì con được kết giao với bậc thiện tri thức (bậc chân nhân) nên mới phải chịu hình phạt như thế này.” Khi Sayadaw U Paṇḍava dạy đạo Satipaṭṭhāna tại Taungwaingyi, có hai vị là Ngài U Soma và Ngài U Kheminda thuộc tông phái Vajirārāma từ Tích Lan (Sri Lanka) đã đến và thực hành tại chỗ của Ngài trong khoảng hai tháng. Vị sư người Đức, Ngài Ñāṇapoṇika, cũng từng đến đảnh lễ và thọ giáo phương pháp thực hành vào thời điểm diễn ra kỳ Kết tập Kinh điển (Saṅgāyanā). Khi Ngài Sayadaw sang Tích Lan, tất cả đều đã cung đón và phục vụ Ngài rất chu đáo. Sau khi độc lập, mặc dù Pháp học (Pariyatti) ở Mawlamyine rất hưng thịnh, nhưng lại thiếu vắng những người dẫn dắt và ủng hộ về phương diện Pháp hành (Paṭipatti). Do đó, Ngài Sayadaw đã dời đến khu vực Pauk-taw thuộc thành phố Mawlamyine, và vào ngày mồng 8 tháng Waso năm 1311 (tại thiền viện Mahāsi Yangon là tháng Nadaw), Ngài bắt đầu truyền dạy pháp hành Satipaṭṭhāna một cách vô cùng rộng rãi. “Ngài Sayadaw Satipaṭṭhāna luôn luôn an trú trong chánh niệm,” chính Ngài Mahāsi ## TRANG 557 Sayadaw đã ngợi khen và tôn kính như vậy. Sau khi Ngài Mahāsi Sayadaw viên tịch, Ngài U Paṇḍava đã đảm nhiệm vai trò thành viên Ban Cố vấn (Ovadācariya) của Thiền viện Mahāsi Yangon để tiếp tục công cuộc hoằng dương giáo pháp hành trì. Trong chú giải kinh Đại Bát Niết-bàn (Mahāparinibbāna Sutta), sự lan tỏa và hưng thịnh liên tục của các bậc Thánh tri thức được ví như "**Naḷavanaṃ, Saravanaṃ** - rừng lau, rừng sậy". Khi một cây lau hay một cây sậy mọc lên, nơi đó sẽ phát triển thành một rừng lau, rừng sậy rộng lớn không dứt dòng giống; cũng vậy, khi một bậc Thánh nhân xuất hiện, sự việc cũng diễn ra tương tự như thế. Với mục đích nêu bật sự hưng thịnh của các thế hệ đệ tử nối tiếp bắt nguồn từ các Ngài Mohnyin Sayadaw, Jetavan Sayadaw, cũng như để giúp mọi người có thể vượt qua những chấp thủ tầm thường trong việc thực hành giáo pháp của bậc chân nhân, tôi xin lược trích đôi nét về tiểu sử của Ngài Sayadaw Satipaṭṭhāna U Paṇḍava. (Để biết chi tiết hơn, xin mời xem trong cuốn sách "Đời sống và các đức tính Minh sát của Sayadaw Satipaṭṭhāna chùa Pauk-taw, Mawlamyine" của Ngài Ashin Paññissara "Hla Tway"). --- **Một đời và một vòng sinh tử** “Nếu vì chịu khổ chỉ trong một ngày mà có được an lạc trong nhiều ngày, thì không nên sợ hãi cái khổ trong một ngày ấy. Nếu vì chịu khổ trong một tháng, một năm, hay chỉ một kiếp sống mà có được an lạc trong nhiều tháng, nhiều năm, và nhiều kiếp sống, thì không nên sợ hãi cái khổ trong một tháng, một năm, hay một kiếp sống ấy. Đừng nên nuông chiều theo ham muốn của tham ái, bỏn xẻn và dục vọng trong một ngày, một tháng, một năm hay một kiếp sống. Hỡi người, hãy nhìn xa trông rộng, nên dấn thân tinh tấn trong giáo pháp của bậc chân nhân, sẵn lòng xả ly cả mạng sống để tìm cầu niềm hỷ lạc chân thật.” — **Ngài Sayadaw Catugīri Taung-lay-lone (Bốn Ngọn Núi)**. ## TRANG 558 **Ngài Sayadaw Toà-ya Inn-ma-gyi, chùa Thein-taung** (1237 - 1283) **Dhammācariya U Htay Hlaing** Ngài U Jotika của tu viện Inn-ma-gyi, chùa Thein-taung, cũng là một vị Sayadaw nổi tiếng từ khi còn trẻ, cùng thời kỳ với Ngài Ledi Sayadaw. Hiện nay, tu viện Thein-taung tại thị trấn Thae-daw là một cơ sở hoằng pháp lớn mạnh, tiếp nhận cả chư Tăng lẫn các Tu nữ, tu tập song hành cả Pháp học lẫn Pháp hành. Đây chính là di sản giáo pháp của hai vị Sayadaw là Ngài Inn-ma-gyi và Ngài Sayadaw Se-gyi (thứ hai), những bậc toàn tài về cả Pháp học lẫn Pháp hành. Các chi nhánh của tông phái Thein-taung cũng đang phát triển hưng thịnh tại các thành phố như Taunggyi, Kalaw... Vị Sayadaw tôn kính U Jotika, người đã khai sáng tông phái Thein-taung toàn diện này, sinh vào thứ Ba, ngày trăng tròn tháng Tagu năm 1237, tại làng Zay-ywa-gyi gần thành phố Nyaung-yan. Ngài thọ giới Tỳ-khưu năm 1257 và theo học Pháp học (Pariyatti) tại tu viện Mo-ta và tu viện Shwe-yay-saung ở Mandalay. Từ khoảng hạ lạp thứ sáu, Ngài bắt đầu vào rừng hành đạo tại vùng núi Sagaing, sau đó là núi Pyet-kha-yway ở phía đông thị trấn Thae-daw. Ngài Sayadaw thường từ núi Pyet-kha-yway đi xuống khất thực tại chín ngôi làng cụm Phaya-su. Cụm chín làng này nằm cách tu viện Thein-taung hiện nay khoảng 4 dặm về phía bắc, với tổng cộng khoảng một ngàn hộ gia đình. Khi Ngài vào làng Kan-thit khất thực, một vị thầy thuốc chữa mắt tên là Saya Shein đã quan sát và nhận định: “Chà... vị sư này trông thật đáng cung kính, nhưng dường như một bên mắt không được tốt lắm.” Vừa quan sát, ông vừa đi theo sau, sau đó đã trình thưa rõ ngọn ngành và chữa trị cho một bên mắt bị màng đục của Ngài. Trong thời gian chữa mắt, Ngài trú ngụ tại ngôi chùa rừng vốn là ngôi giới đàn (Sīmā) của các bậc A-la-hán (từ thời vua Anawrahta) gần cụm chín làng Phaya-su. Sau khi chữa khỏi mắt, ông U Shein không muốn Ngài quay lại núi Pyet-kha-yway mà đã thỉnh cầu Ngài hãy trú ngụ tại một nơi nào đó gần đây thích hợp để ẩn tu. Ngài đã đi khảo sát một khu rừng lớn ở phía tây bắc cụm chín làng Phaya-su. Nơi đó có nhiều đầm nước (inn), rừng rậm rạp và vắng bóng người, nên Ngài đã chọn chính nơi ấy để lập am thất ẩn tu. Thấy vậy, Saya Shein thưa rằng: “Bạch Ngài, nơi này ngay cả giữa ban ngày, nếu có lạc mất bò thì những người chăn bò cũng không dám đi vào. Thú dữ rất nhiều, lại có nhiều chuyện ma quái kinh sợ. Xin Ngài hãy xem xét một nơi khác.” Nhưng Ngài không chấp thuận và phán rằng: “Ta lại chính là thích nơi này.” ## TRANG 559 505 Ngài nói: “Này thí chủ”, thế là một ngôi chùa nhỏ bốn cột đã được dựng lên và cúng dường. Về phần Ngài, Ngài chỉ mong muốn dựng một túp lều tạm bợ một mái mà thôi. Sau đó, đệ tử và thiện nam tín nữ dần dần trở nên đông đúc, nơi đây được biết đến rộng rãi với cái tên “Thiền viện In-ma-gyi”. Vào năm 1263 (Miến lịch), ông U Set Kalay từ làng Kyauk-pyoke-kone, cụm Tháp Phật (Phaya-su), đã xây dựng và cúng dường một ngôi chùa hành thiền lớn dài sáu mươi hắc tay nối liền với một hang động (gu). Thiền viện In-ma-gyi được bao quanh bởi ba ngọn núi, đầm hồ san sát, nên rất phù hợp với việc thực hành Samatha (Thiền Định) và Vipassanā (Thiền Tuệ). Trong thời gian cư ngụ tại đây, vào năm 1270, theo lời thỉnh cầu của ông U Set Kalay và ông U Thu Daw (người hộ trì hang động lớn ở thị trấn Thae-taw), Ngài đã biên soạn tác phẩm “Saṃvega Kammaṭṭhāna Kyan” (Tạm dịch: Luận về Pháp hành hướng tới sự tỉnh giác). Tác phẩm được ấn hành tại nhà in Kawi Myet-mhan vào tháng Wagaung năm 1274. Nội dung lấy việc tu tập Ānāpāna (Niệm hơi thở) làm Pháp hành chủ đạo, đồng thời viết những lời khuyến tấn về bốn pháp bảo hộ (Caturārakkha Kammaṭṭhāna) như Buddhānussati (Niệm Phật), Mettā (Tâm Từ)... sách dày 188 trang. ### Khởi nguồn lịch sử của hệ phái Theim-taung Đọc những dòng thủ bút bằng chì trong tập nhật ký ngắn của Ngài Sayadaw chùa See-gyi-taw-ya (U Javana) – vị đệ tử lớn của Ngài Sayadaw In-ma-gyi, đồng thời là Ngài Sayadaw Theim-taung đời thứ hai – với tiêu đề “Thư răn dạy các đệ tử”, người viết không khỏi hoan hỷ khi có cơ hội tìm hiểu và chiêm bái về khởi nguồn lịch sử của hệ phái Theim-taung. Trong đó cũng có những điều thấy thật kinh ngạc và rùng mình. [Bản thảo thủ bút của Ngài Sayadaw lớn được nhận từ vị Ni trưởng là cháu gái của Ngài. Vị Ni trưởng này – thường được gọi là Bà nội nhỏ (A-hpwa-lay) – hiện đang cư ngụ tại khu nhà nghỉ chùa Mogok, tu viện Htee-lin, phía nam núi Mandalay.] ### Mỗi vị sư một chiếc thủ cấp “Thư răn dạy các đệ tử” [Khi Ngài Sayadaw In-ma-gyi còn ở trong ngôi chùa nhỏ bốn cột, có một nữ ngạ quỷ lớn (pittā) đến quấy nhiễu, Ngài dạy rằng: “Này thí chủ, hãy cứ làm công việc của loài ngạ quỷ trong cảnh giới của mình đi. Ta vào thời còn là ngạ quỷ cũng đã từng đi nhát người khác vậy. Nay đã là tu sĩ, ta phải làm công việc của một tu sĩ.” (Đêm thứ nhất). Sang đêm thứ hai, một con rắn lớn từ hướng tây nam bò đến, ngóc cổ phình mang và phun phè phè ngay trên đầu Ngài. ## TRANG 560 Ngài dạy: “Ngươi là rắn thì hãy làm việc của loài rắn. Ta là bậc tu hành trong rừng thì phải làm việc của người tu hành. Ngươi cứ việc phun hơi theo ý muốn đi.” Con rắn bèn bò xuống. (Đêm thứ hai). Sau khi thọ nhận giáo pháp từ Ngài U Tiloka ở núi Thek-khya cùng với vị đạo sĩ U Kesara (người đã viên tịch tại Kalaw), Ngài Sayadaw See-gyi (U Javana) trở về In-ma-gyi. Ngài nỗ lực tu tập trong căn phòng đóng kín trên lối đi hành thiền dài sáu mươi hắc tay. Ngài thực hành với lời đại nguyện: “Trình lên bậc **Jotika** ở trên, thấu đến bậc **Tiloka** ở dưới”. Phía sau tháp Phật, trên lối đi bộ nhỏ, ông U Kesara trong hình tướng Sa-di cùng với thầy trò đã dấn thân tu tập bất chấp tính mạng. Sau đó, rời khỏi đường hành thiền, vào năm Ngài Sayadaw Ledi an cư tại Myingyan, họ đã đến để trình Pháp và cầu xin sự chỉ dạy: “Bạch Thầy, bỏ mặc đại giáo pháp (Sāsanā) là điều không nên. Xin Thầy hãy thuyết giảng và truyền dạy các đề mục thiền định (Kammaṭṭhāna).” Sau đó, Ngài bắt đầu dần dần truyền dạy Kammaṭṭhāna. Ngài không nhận quá mười đệ tử cùng lúc và rèn luyện họ vô cùng nghiêm khắc. Năm giờ chiều đi gánh nước. Dâng hoa, nước, đèn lên Phật; sáu giờ tối làm lễ bái Tam bảo. Xong xuôi thì ôn tụng kinh văn. Sau chín giờ tối, tất cả cùng nhau thọ trì hạnh đầu đà nghĩa địa (susāna dhutaṅga) rồi đi ra nghĩa trang. Trước bốn giờ sáng, họ phải vác những chiếc thủ cấp (sọ người) từ nghĩa địa về; năm giờ sáng húp cháo. Sau đó học đạo và đi khất thực. Một giờ trưa nghỉ ngơi, rồi lại tiếp tục học đạo, ôn kinh, dâng nước sạch, quét dọn và tinh tấn tu tập không ngừng. Ngài quy định: “Mỗi vị sư một chiếc thủ cấp, một am thất”. Theo lời dạy của thầy, mỗi vị ở cùng một chiếc đầu lâu trong am để chiến đấu với phiền não (kilèsa). Sau đó, theo lời thỉnh mời của các cư sĩ như cụ U Hmin-khè, ông U Pho Hlè, thí chủ chùa U Pho Kar và bà Daw Si Pu, họ đã đến chùa Yay-le tại làng Lein-pin. Sau khi thuyết Pháp được hai đêm, vào sáng sớm, Ngài cùng với vị sư nguyên là trung sĩ (Sergeant) ở làng Nyaung-pin cùng ba vị nữa đã đến xem địa điểm chùa Theim-taung. Lúc ấy nơi đây bụi rậm bao phủ, gai góc mọc đầy. Về sau, Ngài U Javana đến Yangon nghe Pháp từ Ngài Sayadaw Ledi, rồi lại đến chỗ Ngài U Tiloka để nỗ lực hành trì. Sau mùa an cư, Ngài đi đến Thaton và cư ngụ tại Thiền viện Taung-waing-gyi. Trong lúc đó, Ngài Sayadaw In-ma-gyi nhắn rằng: “Vào ngày rằm tháng Tazaungmon, ta đã đến địa điểm Theim-taung rồi, hãy trở về đi”, nên Ngài đã quay về. Ngài Sayadaw đặc biệt thuyết giảng và hướng dẫn cách thực hành Tâm Từ.] (Cách thực hành Tâm Từ sẽ được trình bày cụ thể trong chương về “Ngài Sayadaw Thiền viện See-gyi”). Ghi chép này chỉ có bấy nhiêu. Dù có ý định viết tiếp nhưng Ngài đã không thực hiện, trong nhật ký chỉ thấy ghi lại những sự việc khác. ## TRANG 561 507 ### Phương pháp đánh giá nội lực qua văn phong và lời nói Ngài Sayadaw In-ma-gyi nổi tiếng là bậc song toàn cả về Pháp học (Pariyatti) và Pháp hành (Paṭipatti), đồng thời cũng lừng danh về khả năng viết lách và thuyết giảng. Năm 1269, Ngài rời Thiền viện In-ma-gyi để chuyển đến địa điểm Thiền viện Theim-taung hiện nay. Ngôi chùa này được tương truyền là nơi tọa lạc của một ngôi giới đàn (sīma) của các bậc Alahan thời xưa. Có lời sấm truyền rằng: “Tại núi Theim-taung, ánh sáng kim cương sẽ tỏa rạng.” “Đối với sắc pháp được gọi là hơi thở ra và hơi thở vào này, phải dùng **Vipassanā** (Minh sát) để nắm bắt trong mỗi lần thở ra và mỗi lần thở vào. Cách nắm bắt là phải quán chiếu sao cho thấy rõ sự hoại diệt trong mỗi hơi thở ra, sự hoại diệt trong mỗi hơi thở vào. Đây chính là **Anicca** (Vô thường). (Các tướng **Dukkha** [Khổ] và **Anatta** [Vô ngã] sau đó sẽ trở nên dễ dàng nhận diện). Tâm ghi nhận, tâm lấy hai hơi thở ra và hơi thở vào đó làm đối tượng được gọi là Danh pháp (Nāma). Cũng hãy quán chiếu sao cho thấy rõ sự ‘vô thường do biến diệt’ trong mỗi lần thở ra và mỗi lần thở vào của Danh pháp đó. Trong số bốn mươi đề mục thiền định, **Ānāpānassati Kammaṭṭhāna** (Niệm hơi thở) này là đề mục dễ dàng nhất để duy trì sự tu tập liên tục. Tuy nhiên, nói là dễ nhất nhưng cũng chỉ dễ đối với những người rèn luyện và thực hành nhiều lần; còn với những ai không nỗ lực tu tập thì chẳng thể nào dễ dàng được. Do đó: Khi các bậc trí giả nói rằng **Ānāpāna Kammaṭṭhāna** là việc dễ thực hiện, các con hãy nỗ lực hết sức để có thể tin tưởng và thực hành theo cả thân lẫn tâm, đừng để tâm hay thân khởi sự phản kháng và cho rằng đó là việc khó. Đức Thế Tôn cũng đã dùng vô vàn lời tán thán với những công đức ưu việt, vượt trội hơn hẳn so với các đề mục thiền định khác. Các bậc Đại luận sư cũng gọi đây là ‘**Mahāpurisabhūmi**’ (Cảnh giới của bậc Đại nhân). Đây không phải là đề mục thiền định dành cho những hạng phàm phu tục tử hay những vị tu sĩ tầm thường. Đây là pháp thiền chỉ xứng hợp với những bậc đại trí luận sư, những bậc đại trí giả và các vị tỳ-kheo uyên bác. Chính vì lẽ đó: Cần phải nỗ lực tu tập thật nhiều để xứng đáng là bậc đại trí giữa hàng cư sĩ, xứng đáng là bậc đại trí giữa hàng tu sĩ. Nếu không nỗ lực, các con sẽ bị rơi vào hàng ngũ phàm phu và tu sĩ tầm thường mà thôi. Điều đó thật đáng hổ thẹn. Hỡi các bậc thiện tri thức trí tuệ, hãy luôn giữ sự tỉnh giác cao độ.” Đây là một đoạn trích từ tác phẩm “Saṃvega Kammaṭṭhāna Kyan”. Qua đó, chúng ta có thể đánh giá được sự thâm hiểu sâu sắc của Ngài đối với **Ānāpāna Kammaṭṭhāna**, cũng như thấy được uy lực và nội lực toát ra trong văn phong của Ngài. Đối với các hành giả... ---END--- ## TRANG 562 Bậc Đạo sư có thể tiếp nhận được di sản **Tuệ giác (Pañña)** từ đoạn văn ấy. (Những bài viết từ bộ kinh văn về Kammaṭṭhāna này đã từng được đăng dưới dạng các bài báo trên tờ "Báo Pháp học Ledi" và tập san "Thế giới Phật pháp - Buddhadhamma Loka" vào năm 1959). #### Pháp thoại và những năng lực khác Liên quan đến việc thuyết giảng pháp thoại, xin được dẫn ra những lời giáo giới của Ngài Đại đức U Ādicca – vị cao tăng đã 80 tuổi, là bậc Trưởng lão thứ ba của tông phái Thိမ်တောင် (Theimtaung) tại thị trấn Kalaw: “Theo những gì chúng tôi ghi nhận được, một điểm đặc biệt là mỗi khi Ngài thuyết giảng về bất kỳ giáo pháp nào, dù là về Bố thí (Dāna), Trì giới (Sīla) hay Hành thiền (Bhāvanā), thính chúng khi nghe xong đều khởi lên tâm nguyện tha thiết muốn thực hành ngay lập tức. Nếu Ngài giảng về sự Bố thí, họ cảm thấy chỉ cúng dường bấy nhiêu thôi là chưa đủ, mà trong tâm cứ thôi thúc mong muốn được về nhà lấy thêm lễ vật đến để dâng cúng.” (Điều này có thể so sánh với khi Đức Thế Tôn thuyết Pháp: "**Samuttejesi** = làm cho phấn chấn, tha thiết; **Sampahaṃsesi** = làm cho hỷ lạc, phấn khởi"). “Một điểm nữa là khi còn ở Thိမ်တောင်, Ngài đã dặn vị sư phụ trách nhà ăn rằng: ‘Này sư, nếu cần gạo hay dầu thì hãy báo cho tôi biết trước khoảng bảy ngày nhé’. Ngay cả những khi có đông đảo khách tăng và thiện tín ghé thăm, Ngài cũng dặn vị sư nhà ăn như vậy. Một ngày nọ, dù gạo và dầu vẫn còn khá đủ, vị sư nhà ăn lại nghĩ rằng: ‘Ngài cứ dặn đi dặn lại mãi, không biết có ẩn ý gì không? Thôi thì mình cứ thử xem sao’, thế là vị ấy liền thưa rằng gạo và dầu sắp hết rồi. Ô kìa... chỉ một lát sau khi thưa chuyện, các toa tàu hỏa và xe tải đã chở gạo và dầu đến cúng dường thật.” #### Ánh sáng rạng ngời vào đêm cuối cùng Vì Ngài luôn thực hành các hạnh Đầu đà (Dhutanga) một cách tinh tấn và nghiêm ngặt, nên thọ mạng của Ngài không dài. Ngài viên tịch vào năm 46 tuổi, với 26 hạ lạp. Trong suốt sáu ngày trước khi viên tịch, Ngài không dùng vật thực, không tiếp đón đệ tử hay người ngoài. Chỉ có duy nhất một đệ tử lớn là Ngài trưởng lão chùa Segyi Tawya ở bên cạnh chăm sóc và quan sát ngày đêm. (Theo lời kể của Ngài trưởng lão chùa Segyi với người cháu gái của mình): Bậc Đạo sư luôn nằm ngửa trên giường, chỉ chuyên tâm nhất ý chú niệm vào hơi thở (Ānāpāna). ## TRANG 563 Ngài hành thiền một cách liên tục không ngừng nghỉ. Vào đêm trước khi viên tịch, chính Ngài trưởng lão chùa Segyi đã tận mắt chứng kiến những luồng ánh sáng rực rỡ tỏa ra xung quanh cổ và phía trên vai của bậc Đạo sư, xòe rộng như đuôi công đang múa. Những ghi chép về Ngài trưởng lão Inma Gyi – vị khai sáng tông phái Thိမ်တောင် vĩ đại – mà chúng tôi tìm thấy được chỉ bấy nhiêu đây thôi. (Về những sự kiện phi thường khi Ngài và Ngài trưởng lão chùa Segyi Tawya đến nghe pháp tại nhà cư sĩ Saya Thet Gyi ở làng Dala Pyawbwai Gyi, xin mời đọc thêm trong cuốn sách “Saya Thet Gyi”). ## TRANG 564 # Ngài Trưởng Lão Sunlun Sayadaw U Kavi ( 1239 - 1314 ) “Vào khoảng 10 giờ đêm thứ Ba, ngày 13 tháng 10 năm 1282 (Âm lịch Miến Điện). Vị giới tử (Koyin-gyi) **U Kavi** đang độc cư hành thiền tại hẻm núi Maung Yin Paw, phía nam núi Sunlun. Tiếng dế kêu rỉ rả vang dội khiến người ta không khỏi rùng mình. Trong lúc đang chánh niệm với sự quân bình của Tấn, Niệm và Tuệ, Ngài nghe thấy một âm thanh lạ và ngước nhìn lên cao. Ngài thấy một cỗ thiên xa rực rỡ từ cầu thang bạc đang lao thẳng xuống phía mình với tốc độ cực nhanh. Tuy nhiên, **U Kavi** không nhìn theo cỗ thiên xa ấy nữa mà quay lại tiếp tục chánh niệm vào thiền đề của mình. Khi **U Kavi** đang dồn sức chánh niệm một cách vững chãi, Ngài cảm thấy thân thể mình nhẹ dần, nhẹ dần một cách rõ rệt. Cảm giác như toàn thân rung động rồi bay bổng lên cao, Ngài liền mở mắt nhìn thì thấy cỗ thiên xa lúc nãy giờ đã ở phía dưới chân mình. Tại bốn góc của cỗ thiên xa ấy, Ngài thấy bốn vị Thiên vương, và ở phía bên phải là Thiên chủ Sakka (Vua Trời Đế Thích). Tất cả đều đang cung kính đảnh lễ. Vài ngày trước đó, khi thấy một cây nấm lớn gần chùa, Ngài đã nhổ nó lên và thấy toàn bộ từ nụ đến rễ đều bật gốc ra khỏi đất. Lúc đó Ngài đã suy nghiệm rằng: ‘Ta sẽ đạt được giáo pháp giải thoát hoàn toàn, đoạn tận gốc rễ’. Với quyết tâm đó, Ngài đã nỗ lực tu tập không màng đến xương tan thịt nát, cũng không rời khỏi chỗ ngồi. Giờ đây, khi tận mắt nhìn thấy các vị Chư thiên và Phạm thiên – Ngài thầm nghĩ: ‘Vì ta sắp chứng đắc pháp thượng nhân nên các vị ấy đến để hộ trì’. Không bận tâm đến thiên xa hay Thiên chủ, Ngài giữ nguyên oai nghi, với một sức mạnh tinh tấn phi thường, sẵn sàng buông bỏ cả thân mạng để hành trì. Ngay tại nơi đó, Ngài đã chứng đắc quả vị ‘A-la-hán’. #### Tuệ giác nhìn thấu suốt vô số kiếp sống Một lúc sau, khi xuất khỏi định và nhìn lại thì cỗ thiên xa đã biến mất. Ngước nhìn lên không trung, Ngài thấy Thiên chủ Sakka cùng bốn vị Thiên vương đang lớn tiếng công bố rằng: ‘Này chư vị, một bậc Thánh A-la-hán đã xuất hiện giữa nhân gian. Hãy đi đến để đảnh lễ Ngài’. ## TRANG 565 511 Sau đó, các vị Chư thiên trú ngụ tại địa phương (Bhummā-deva), các vị thọ thần (Rukkha-deva) cùng với chư thiên và phạm thiên từ khắp nơi đã lần lượt kéo đến đảnh lễ ngài, tạo nên một cảnh tượng uy nghiêm trải dài vô tận. Với thân tâm vô cùng an tịnh và sáng suốt, Ngài hướng tầm mắt quan sát khắp cả vũ trụ thế gian này. Từ cõi trời tột đỉnh (Bhavagga) cho đến địa ngục A-tì (Avīci) sâu thẳm, tất cả các cõi địa ngục, nhân giới, thiên giới và phạm thiên giới đều hiện ra rõ rệt, thông suốt như nhìn vào một khoảng không trống rải. Ngài có thể quán sát một cách chi tiết và thấu đáo cả ba loại thế gian: Chúng sinh thế gian (Satta-loka), Hành thế gian (Saṅkhāra-loka) và Khí thế gian (Okāsa-loka). Sau đó, Ngài bắt đầu quán chiếu về cuộc đời của chính mình. Ngài sinh tại làng Sunlun, phía nam thị trấn Myingyan, là con của ông U Thant và bà Daw Toke, vào sáng sớm Thứ Hai trước khi tiếng chuông canh bốn vang lên, mùng 2 tháng Tabaung năm 1239 (Âm lịch Myanmar). Ngài từng đi học tại tu viện Myingyan Min Kyaung nhưng vì không tiếp thu được chữ nghĩa nên đã rời trường vào năm 15 tuổi. Cùng với cha, Ngài làm công việc kéo quạt dây (punkah) tại văn phòng Quan cai trị. Đến năm 30 tuổi, Ngài nghỉ việc và trở về làm ruộng rẫy để sinh sống... Ngài tiếp tục quán sát về quá trình từ một người có trí tuệ hạn hẹp trong hiện tại cho đến khi đắc được quả vị Alahan (Arahatta-phala) cao thượng vô song, nhìn lại toàn bộ nguyên nhân từ quá khứ dẫn đến kết quả này. Đạo quả Alahan và Lậu tận trí (Āsavakkhaya-ñāṇa) mà Ngài U Kavi đạt được, đi kèm với Túc mạng trí (Pubbenivāsānussati-ñāṇa) và Thiên nhãn trí (Dibba-cakkhu-ñāṇa). Vì đã thành tựu cả ba loại minh (Vijjā) là Túc-Thiên-Lậu, nên Ngài chính là một vị "Bậc Alahan Tam Minh" (Tevijja Arahant). Khi quán chiếu rằng: "Ta đã thực hiện những công đức lành nào mà đạt được pháp thượng nhân này?", Ngài đã nhìn thấy thiện sự mình từng làm dưới thời Đức Phật Kassapa (Ca-diếp) như sau: ### TRUYỆN KÝ NGÀI U KAVI (U Kavi Thera-apadāna) Trong vòng luân hồi (Saṃsāra) đầy rẫy những nỗi khổ đau, khi thì sinh ra ở nơi này, lúc lại ở nơi khác, trôi lăn qua nhiều kiếp sống khác nhau, lên xuống thăng trầm, như con bò quay quanh cột, Ngài nhìn lại không dứt các kiếp làm người, làm trời hay súc sinh. Trong số vô vàn kiếp sống đó, Ngài quán chiếu về thiện nghiệp làm duyên (Upanissaya) hỗ trợ cho việc đắc pháp hiện tại, và thấy rằng vào thời Đức Phật Kassapa, Ngài từng là một con chim vẹt. Con vẹt đó đã hết lòng ## TRANG 566 thành tâm và cung kính đối với Đức Phật, đã chắp hai đầu cánh lên đầu (thay cho đôi tay đảnh lễ) và với tâm vô cùng hân hoan, đã dâng cúng trái cây lên Ngài. Nhờ thiện nghiệp đó, Ngài đã trải qua nhiều kiếp hưởng thụ vinh hoa phú quý bậc nhất ở các cõi người và cõi trời. Sau đó, trong một kiếp khác, Ngài từng là một vị thái y đại danh tiếng tại thành Takkasilā (Taxila), đã dùng y thuật để cứu độ chúng sinh. Ngài cũng thấy rằng: "Tất cả những ai từng có duyên gặp gỡ và liên hệ với ta trong kiếp đó, nay sẽ tìm đến ta để thọ nhận liều thuốc giáo pháp, giúp họ thoát khỏi căn bệnh phiền não (kilesa)." (Có vẻ như các hàng đệ tử cần được hóa độ của ngài hiện nay chính là những người đã có duyên từ kiếp làm thầy thuốc đó). Cần lưu ý về các phần kết thúc của 550 bản Duyệt Chuyện (Jātaka). Những người thiếu trí tuệ thường xem 550 chuyện tiền thân như là thần thoại hay truyện cổ tích nhẹ nhàng, nhưng đúng ra cần phải nuôi dưỡng đức tin dẫn dắt bởi trí tuệ. Trong việc nhiếp phục và hóa độ chúng sinh đang vùng vẫy trong vòng xoáy của phiền não, 550 bản Duyệt Chuyện của Đức Thế Tôn không phải là loại truyện cổ tích mà ông nội kể cho cháu nghe. Ngài U Kavi đã chỉ rõ rằng đó là những sự thật đã từng xảy ra trong quá khứ, được Đức Phật dùng Túc mạng minh để nhìn lại và thuyết giảng. Vào thời giáo pháp của Đức Phật Gotama, Ngài cũng thấy mình từng có một kiếp là Thiền sư Bar-me, vị thầy của vua Manuha tại vương quốc Suvaṇṇabhūmi (Thaton). Trước khi nhập thai vào lòng bà Daw Toke (thân mẫu hiện tại), thân phụ là ông U Thant đã có một giấc mơ. Ông U Thant kể lại rằng, có một người dáng vẻ thanh lịch đến nói rằng: "Xin cho tôi được vào ở trong nhà này". Ông trả lời: "Nhà tôi nghèo lắm, xin đừng vào ở", nhưng người đó vẫn nhất quyết xin vào và ông đã chấp thuận. Do đó, Ngài đã sinh ra với cái tên "Maung Kyaw Din", trải qua một đời sống thiếu thốn cả về vật chất lẫn trí tuệ. Trong các kiếp luân hồi trước đây, phần lớn Ngài sinh vào các cõi súc sinh vô tri (a-hetuko), nên dù trong kiếp cuối cùng (Pacchimabhavika) để trở thành bậc Alahan, trí tuệ học thuật của Ngài vẫn còn hạn chế. Ngài từng thuyết rằng: "Trong năm trăm kiếp, chỉ có hai kiếp được làm người". Điều này nhắc nhở chúng ta rằng thân người khó đắc đến nhường nào. Trong kinh điển Phật giáo, có truyền thống các vị Đại Trưởng lão trong phần Thera-apadāna (Trưởng Lão Tăng Kỷ Sự) thường thuyết giảng về việc họ đã làm công đức gì ở kiếp nào, hưởng lạc ra sao ở cõi người, cõi trời, và đã đạt được các pháp thượng nhân như thế nào trong giáo pháp này. Những diễn biến này chính là "Truyện Ký Ngài U Kavi" vậy. ## TRANG 567 513 ### LỜI TIÊN TRI CỦA VỊ GIÁO CHỦ Vào thời điểm vị sẽ là ngài U Kavi – "Maung Kyaw Din" – còn đang lam lũ làm công việc kéo quạt để mưu sinh, khi đến tuổi trưởng thành, ông đã kết hôn với một người phụ nữ cùng làng tên là Ma Shwe Yi và có với nhau năm người con. Bốn người đã mất từ khi còn nhỏ, chỉ còn lại một người con trai tên là Ko Shein (còn gọi là Ko Kan Nyunt). Năm 30 tuổi, ông nghỉ công việc ăn lương và quay về làm ruộng rẫy theo nghề cũ của cha mẹ. Từ anh Kyaw Din trở thành ông U Kyaw Din, tiến trình cuộc đời trôi đi nhanh chóng. Giống như các bậc vĩ nhân như Đức Thế Tôn thường có những vị đạo sư thế gian như Asita (Devela) hay Koṇḍañña (Kiều-trần-như) ở bên cạnh, Ngài U Kyaw Din cũng có một người bạn thân là ông U San Tin, người đóng vai trò như Koṇḍañña vậy. Có người nói ông U San Tin là "người thành tựu về định học", có người lại nói ông "thỉnh thoảng được các vị đại phạm thiên hộ thế nhập vào". Thế gian và xuất thế gian vốn không thể tách rời, và những hiện tượng huyền bí dường như luôn xuất hiện quanh các bậc vĩ nhân. Một ngày nọ, ông U San Tin đến nhà ông U Kyaw Din. Vừa mới đến nơi, ông U San Tin đã đọc bài sấm truyền (tabaung) sau: "Một vòng, hai vòng, xoắn rối ren, Như búp sợi của bà Bút (Budh) rối mù, Ai là người quay sợi, để những rối rắm này, Có thể gỡ ra cho thông suốt đây." "Trước búp sợi, giữa búp sợi, Hãy để con thoi nhỏ lướt qua. Tượng Phật cụt phát hào quang, Hỡi cô Ma Khway mặc áo mẫu, Viền ngoài trang trí màu xanh lá, Giữa thêu khung xanh dương, Tiếng con thoi làm từ gỗ tếch đực, Vang vọng khắp vạn thế giới." Ông U San Tin đọc bài sấm và tiếp tục giải thích ý nghĩa, khiến ông U Kyaw Din dù chẳng hiểu mô tê gì cũng chỉ biết lắng nghe và gật đầu... "Này anh Kyaw Din, búp sợi của bà Bút dù có rối đến đâu, khi đưa vào khung cửi thì cũng sẽ được gỡ sạch thôi. Dưới thời Đức Phật này (được ví như bà Bút), anh sẽ phải dùng duy nhất con thoi 'Chánh niệm' trên khung cửi 'Tứ Niệm Xứ' để gỡ sạch búp sợi 'Vô minh' đang rối ren này đó. Khi đó, tại phía nam làng Sunlun, một khung cửi thực sự sẽ xuất hiện. Tại gò đất Rừng Tếch (Kyun-pho-kon) nơi khung cửi xuất hiện, anh sẽ thực hiện sứ mệnh hoằng pháp. Khi hoằng pháp, sẽ có sự hiện diện của hai cột trụ bằng gỗ tếch. Câu 'Tượng Phật cụt phát hào quang' có nghĩa là giáo pháp hành trì (Paṭipatti Sāsanā) vốn đã bị mai một (như tượng cụt) nay sắp sửa phục hưng trở lại. Vì vậy... ## TRANG 568 "Anh Kyaw Din à, tiếng chuông pháp của anh sẽ vang vọng khắp cả nước, khắp cả 31 cõi giới này đấy" – Anh San Tin cứ thế liên tục nói một cách hào hứng không biết mệt mỏi.... "Munn San Tin... thôi đi cha nội, đừng có nói mấy chuyện tào lao đó nữa" – Ông U Kyaw Din đáp lại với vẻ như không muốn nghe, nhưng lúc đó... "Anh cứ chống mắt lên mà xem" – San Tin nói khía cạnh. ### Ngọn đèn ngàn tia sáng xua tan bóng tối Năm đó, việc đồng áng của ông U Kyaw Din và bà Ma Shwe Yee có phần thuận lợi, họ mua được một vảnh rẫy và hai vợ chồng cùng nhau phát hoang, dọn dẹp: "Này bà Shwe Yee, năm nay mình gieo mè ở khu rẫy này thì tốt quá. Chỉ cần thu hoạch được năm mươi thùng mè thôi, mình sẽ cúng dường một ngàn ngọn đèn lên đức Phật nhé" – Ông U Kyaw Din vừa cầm cuốc vừa dừng tay nói với vợ. "Chẳng cần đến năm mươi đâu ông, dù chỉ được bốn mươi thôi, tôi cũng nhất quyết cúng dường đèn mà" – Bà Ma Shwe Yee vừa nhặt rễ cây, rác rưởi vừa đáp lời ngay lập tức. "Phải đó, tuyệt quá, nhớ giữ lời hứa đấy nhé" – Ông U Kyaw Din nói rồi dừng lại một chút, tâm lân lân tưởng tượng cảnh làm phước: "Tôi không muốn đi linh đình với kèn trống như ngày xưa đâu. Lỡ mấy đứa nhỏ mất đồ trang sức thì mình lại phải chịu trách nhiệm, cứ đi đơn giản thôi" – Hai vợ chồng vừa làm rẫy không biết mệt mỏi, vừa cùng nhau bàn tính chuyện làm phước trong tâm tưởng. Khi mùa mưa đến, họ bắt đầu gieo mè, nhưng gặp hạn hán khiến cây mè gần như chết khô. Các ruộng rẫy lân cận đều chết sạch. Tuy nhiên, rẫy mè của ông U Kyaw Din nhờ gặp mưa đúng lúc nên trổ bông tốt tươi một cách lạ lùng. Đúng như mong ước của bà Ma Shwe Yee, thu hoạch vừa vặn bốn mươi thùng, không thừa không thiếu dù chỉ một nắm. Vào ngày rằm tháng Thadingyut năm 1281 (Miến lịch), họ cúng dường mỗi vị Phật, Pháp, Tăng ba cân dầu và kinh hành nghe pháp. Năm đó làm ăn phát đạt, sản lượng mè lại đúng như ý nguyện nên bà Daw Shwe Yee tiếp đãi những người đến nghe pháp bằng thuốc lá, trầu, trà một cách niềm nở, không biết mệt là gì. Ngay khi mặt trời lặn, họ liền đi đến ngôi bảo tháp ở phía đông nam làng để dâng đèn. Ông U Kyaw Din không rời khỏi bảo tháp. Ông chăm chú nhìn những ngọn đèn cầy, lòng tràn đầy hỷ lạc. Đầu bấc trong chén đèn dần dần chuyển sang màu đen. Những ngọn lửa nhỏ nhảy mót, lung linh không ngừng nghỉ. Dầu trong chén sôi lên sùng sục. Một số chén đèn đã cạn dầu, bấc cháy hết và tắt lịm. ## TRANG 569 Ông U Kyaw Din càng nhìn ngắm, tiếng dầu sôi lách tách do sức nóng và sự bùng cháy rồi vụt tắt của những ngọn đèn càng khiến ông cảm thấy rúng động, da gà nổi khắp người. Giống như vua Mahājanaka và vua Karaṇḍaka thuở xưa, khi nhìn thấy những hàng cây bị gãy cành rụng lá vì hoa trái mà ngộ ra giáo pháp để xuất gia, những chén đèn này dường như cũng đang thuyết cho ông U Kyaw Din một bài pháp nào đó mà không ai hay. Ông U Kyaw Din lập tức ngồi xuống, chắp tay trước Phật và phát nguyện: "Nếu ngay lúc này tôi cầu nguyện, chắc chắn cầu gì cũng được" – Với niềm tin mãnh liệt do hỷ lạc mang lại, ông thầm nghĩ: "Nhờ phước báu cúng dường ánh sáng này, xin cho con được trở thành một vị Tỳ-kheo. Khi thành Tỳ-kheo, nguyện cho chúng sinh có thể thực hành theo đúng những lời con thuyết giảng và giáo huấn" – Ông thuận theo ý nghĩ vừa khởi lên trong tâm mà phát nguyện như thế. Nhưng sau khi nguyện xong, trong lòng ông lại dấy lên sự lo âu, hối hận làm suy giảm ý chí: "Mình làm sao mà thuyết pháp nổi, trong khi chữ nghĩa còn chẳng biết." Đó là bởi ông vẫn nghĩ rằng: "Phải am tường kinh điển thì mới có thể thuyết pháp." Chính tâm thức đó có thể kéo người ta đi lên, nhưng cũng chính nó có thể làm người ta thoái chí. Dù sao đi nữa, ánh sáng của một ngàn ngọn đèn đã xua tan bóng tối. ### Nên đi tìm giáo pháp không chết Quan niệm "Của cải lên thì người dễ chết" đã trở thành một sự chấp thủ trong tâm ông U Kyaw Din. Năm đó, hai vợ chồng ông làm ăn phát tài một cách đặc biệt. Lúc ấy tại thành phố Myingyan đang có dịch hạch, nghĩa trang ngày nào cũng đông đúc người qua lại. Giống như bốn điềm báo lớn (người già, người bệnh, người chết, vị sa-môn) hiện ra trước mắt Thái tử, ông U Kyaw Din cũng nhìn thấy những điềm báo của cái chết đang cận kề. "Nếu chẳng may vướng vào trận dịch hạch này mà đi đời, thì mình chẳng còn công đức nào ra hồn để làm nơi nương tựa cả" – Nghĩ đến cái chết đang rình rập, ông tự kiểm điểm bản thân và càng thấy rùng mình sợ hãi hơn. Vào một đêm tháng Tabaung, ông U Kyaw Din hốt hoảng bật dậy khỏi giường, miệng lẩm bẩm những âm thanh không rõ lời, lay bà Ma Shwe Yee thức giấc. Bà Ma Shwe Yee hốt hoảng ngồi dậy: "Có chuyện gì vậy ông Kyaw Din?" Ông U Kyaw Din run rẩy nói: ## TRANG 570 "Shwe Yee à, bà thử sờ ngực tôi xem, tôi sắp chết rồi bà ơi..." – Nói đoạn, ông kể lại giấc mơ của mình. "Shwe Yee này, tôi thấy ở trong cái rạp trước nhà mình, có một pho tượng Phật ngự đến, tượng cứ rung rinh rồi mỉm cười với tôi. Thế là tôi lấy tráp cơm từ tay bà để tự thân dâng cúng. Khi dâng cơm, tượng Phật nói: 'Chúng sinh thật là rắc rối, ta chỉ nói chuyện lúc này thôi, sau này sẽ không nói nữa.' Thôi bà... cho tôi xin cây nến để cúng dường Phật đi. Chắc là tôi sắp chết rồi, nên Đức Phật mới ngự đến nhắc nhở để tôi kịp làm chút công đức cuối cùng đó" – Ông kể lại. "Nếu ông hứa không kể chuyện giấc mơ này với bất kỳ ai, tôi sẽ đưa nến cho ông" – Sau khi ông cam đoan, bà mới đưa nến cho ông. Ông U Kyaw Din cầm nến và lập tức đi thẳng về phía chùa. Đến nơi, ông gặp người bạn là U Chi Tine. Khi được hỏi lý do, ông kể rằng vì sợ chết nên đến cúng dường đèn. U Chi Tine hỏi tuổi tác, năm sinh rồi bắt đầu bấm đốt ngón tay tính toán. "Hèn gì... Munn Kyaw Din à, ông đang rơi vào hạn sao Thổ (Saturn) đấy. Ừ thì... sợ thì cũng đừng có sợ quá, nhưng tôi thấy trong nhà ông cũng có điềm báo 'vật hai chân rời đi' đấy" – U Chi Tine phán. "Này... đừng có nói xằng nói xiên nghe cha, tôi đã đang sợ muốn chết rồi đây này" – Khi ông Kyaw Din nói vậy, U Chi Tine bồi thêm: "Không phải tôi nói đâu, là thuật chiêm tinh nói đấy" – Vì bị dọa thêm như vậy, ông U Kyaw Din càng trở nên hoang mang và sợ hãi tột độ. Vì quá sợ cái chết, ông quyết tâm sẽ nỗ lực tìm kiếm "giáo pháp không chết" bằng cách tinh tấn lên chùa lễ Phật. Ông cũng dặn dò và khẩn khoản nhờ hai người bạn là U Chi Tine và U San Tin hàng ngày nhớ gọi ông cùng đi lễ chùa. Mọi nhân duyên thật là vi diệu. Nghiệp lực đã được định sẵn và vận hành một cách chuẩn xác, khi thời khắc đã cận kề, nó liền thúc đẩy cuộc đời ông chuyển biến một cách nhanh chóng. Không lâu sau đó, vào một đêm trăng sáng, ông U Kyaw Din cùng với anh San Tin ngồi trò chuyện ở sập gỗ trước nhà rồi cả hai cùng ngủ quên đi. Chừng một tiếng sau, ông U Kyaw Din giật mình lay anh San Tin dậy và hỏi dồn dập: "Này... anh nói gì tôi chẳng hiểu, nói lại tôi nghe xem nào" – Anh San Tin còn đang ngái ngủ, ngơ ngác đáp: "Tôi có nói gì đâu?" – Thấy anh San Tin ngơ ngác như vậy, ông U Kyaw Din mới nhận ra là mình vừa nằm mơ thấy hai người đang nói chuyện với nhau, nhưng nghe không rõ nên mới hỏi lại như thế... ## TRANG 571 Đang lúc ấy, ông chợt tỉnh giấc nhưng vẫn còn ám ảnh bởi câu chuyện trong giấc mơ nên cứ tiếp tục hỏi han như vậy, rồi mới sực nhận ra mình vừa tỉnh dậy. Vì nỗi sợ cái chết cận kề, U Kyaw Din không sao ăn ngon ngủ yên; dù có chợp mắt được đôi chút thì giấc ngủ cũng chập chờn như gà ngủ gật. Có vẻ như các thiện thần (Sammā-deva) đang tha thiết đánh thức ông. "Này anh bạn, có lẽ ngày chết của tôi đã gần kề rồi. Vừa rồi tôi lại nằm chiêm bao. Tôi thấy anh nói với tôi rằng: 'Chúng sinh thật đáng thương xót, tam tai đang ập đến, họ đang lầm đường lạc lối và rơi xuống vực thẳm rồi'. Thế là tôi đáp lại: 'Tôi biết là họ đang rơi xuống vực, nhưng nếu lúc này tìm thấy con đường đúng đắn thì tôi cũng muốn đi theo'. Khi đó, anh mới bảo: 'Muốn tìm được đường đúng thì không khó đâu, cứ chờ ở ngã tư đường lớn, vị thầy chỉ đường sẽ xuất hiện'. Tôi nghe mà chưa rõ nên mới hỏi lại, hóa ra anh cũng đâu có biết gì, đó chẳng qua chỉ là lời nói trong giấc mộng mà thôi." Vì tâm không yên và quá tin vào điềm mộng: "Này Mon San Tin, tôi đang gặp họa vì sự chấp thủ (upādāna) của mình rồi. Cứ thế này mãi thì không ổn, tôi phải chữa trị tâm bệnh của mình thôi. Như giấc mơ hôm nọ, tôi định dựng một cái rạp trước nhà và thỉnh một pho tượng Phật về. Tôi cũng sẽ mời các thành viên trong hội cư sĩ ở làng, thay vì lên chùa thì hãy đến đây tụng kinh lễ bái trong ba bốn ngày; tôi sẽ thiết đãi họ chu đáo. Như thế có tốt không?" Ông trình bày dự định mà ông nghĩ sẽ làm tâm mình thanh thản hơn. U San Tin cũng đồng ý và cả hai cùng nhau dựng rạp. Vừa dùng xong bữa tối, những người dân làng Sunlun vốn có lòng hâm mộ Phật pháp đã kéo đến lễ bái, cùng nhau thảo luận, tranh luận về giáo pháp. Bà Shwe Yi cũng phát tâm hỗ trợ, tận tình thỉnh mời khách dùng thuốc, trầu và trà. U Kyaw Din có vẻ đã phần nào thấy nhẹ nhõm hơn. Tuy nhiên, giáo pháp bất tử thì vẫn chưa tìm thấy. Tại đây, các hành giả cần lưu ý về những giấc mơ và điềm báo. Nếu biết cách nhìn nhận, chúng sẽ trở nên vô cùng thú vị. Trong những lời tiên tri, điềm báo, mộng mị hay tướng số mà chư thiên hiển thị, có những điều là thật giúp mang lại lợi ích, nhưng cũng có nhiều điều là giả khiến người ta lạc lối sa chân xuống vực thẳm. Nếu hành giả không có đủ định lực để phân biệt thật giả thì sẽ càng thêm rối loạn, làm hư hỏng công phu hành trì. "Hành giả (bậc xuất gia) không được làm những việc thế gian như chữa bệnh, coi bói... ## TRANG 572 **GIẢNG SƯ U HTAY HLAING** ... và không được tin vào những điều đó. Hàng cư sĩ cũng không nên tin vào những điềm báo may rủi (kotuhala mangala)..." Đức Thế Tôn đã ngăn cấm như vậy vì những điều này có thể làm gián đoạn việc tu tập. Tuy nhiên, nếu có thể phân biệt rõ ràng thì chúng lại mang lại lợi ích rất lớn trong quá trình thực hành, đó là sự thật. Dù thế nào đi nữa, hành giả hãy tin tưởng tuyệt đối rằng: "Với người có ba-la-mật (pāramī) và có thiện nghiệp, cả những chúng sinh hữu hình và vô hình đều sẽ chung tay giúp sức." (Hãy hằng ngày tu tập tâm từ và hồi hướng công đức. Cũng có thể cầu xin sự trợ giúp). Người biết nấu ăn sẽ nấu giúp, người biết dạy đạo sẽ chỉ dạy, và những người có khả năng tạo ra điềm mộng sẽ tạo ra giấc mơ báo hiệu. "Trong thế gian này, không có ai cao quý bằng người có ba-la-mật và thiện nghiệp đang nỗ lực hành trì giáo pháp." Hãy tin như vậy và kiên trì làm công việc của mình. Pháp sẽ tự đem lại kết quả của Pháp. Sự vận hành của nghiệp quả thật kỳ diệu. Ở phương diện bất thiện, nó giống như có một ác thần đang điều khiển; còn ở phương diện thiện lành, nó như có một thiện thần đang dẫn dắt và sắp xếp. Mọi thứ đều được an bài một cách chặt chẽ và chính xác vô cùng. **Kammassakatā** (Nghiệp là của riêng): Vì không nhìn ra căn nguyên của nghiệp, chỉ biết dừng lại ở mức độ hiểu biết này, nên các tín ngưỡng thờ thần thánh hay tôn giáo về đấng sáng tạo mới nảy sinh. ### Ân đức của Ngài Ledi Sayadaw Trong một hai ngày đầu, chỉ có những giảng sư Vi diệu pháp (Abhidhamma) và các bậc học thức trong làng tìm đến. Đến ngày thứ ba, ông U Ba San, một thư ký từ nhà máy Steel Brothers, đã tìm đến thảo luận giáo pháp dù không được mời trước. Hai người đánh xe bò từ vùng thượng nguồn xuống bán củi cho nhà máy cũng đi cùng vị thư ký này. Một trong hai người đánh xe vốn là một người từng xuất gia, là đệ tử của Ngài Ledi Sayadaw; ông ta đã trích dẫn nhiều đoạn kinh văn Pāḷi để luận bàn cặn kẽ về đề mục thiền định hơi thở (**Ānāpāna**). Về phần thư ký U Ba San, ông chỉ nói đôi chút về **Ānāpāna** rồi giới thiệu người đánh xe với các vị thầy đang có mặt tại Sunlun. Chính U Ba San cũng là người đã chứng đắc pháp cao thượng từ thời Ngài Ledi Sayadaw (sau khi được Ngài khảo hạch pháp) và được Ngài tán thán "Sa-thu" (Lành thay). Ông thực sự là một bậc thánh hữu học đặc biệt. Bất kể việc gì, khi một kết quả hiện hành, đừng vội nghĩ đó chỉ là chuyện ngẫu nhiên tình cờ; thực tế nó được hình thành từ sự hội tụ của vô số nguyên nhân mà mắt thường không thấy được. Điều này quả thực vô cùng sâu sắc và thú vị. ## TRANG 573 U Kyaw Din ngồi bên cạnh, lặng lẽ chú tâm lắng nghe các vị thầy và những hành giả am tường Vi diệu pháp đang say sưa thảo luận. Phần lớn những lời họ nói ông đều không hiểu. Tuy nhiên, khi nghe từ "**Ānāpāna**" (hơi thở) được lặp đi lặp lại nhiều lần, chỉ nội âm thanh ấy thôi cũng khiến U Kyaw Din cảm thấy rúng động, toàn thân nổi da gà. Cảm giác ấy giống như khi trưởng giả Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc) vừa nghe thấy danh hiệu "Phật" lần đầu tiên, niềm hỷ lạc đã thấm thấu tận tâm can. U Kyaw Din vừa rùng mình xúc động vừa lắng nghe và thầm nghĩ: "Họ đến đây dù mình không hề thỉnh mời. Phải chăng họ đến để thuyết pháp cho mình? Đúng như trong giấc mơ, mình đã dựng rạp đứng đợi ở ngã tư đường này rồi (nhà U Kyaw Din cũng nằm ngay ngã tư làng). Nếu mình thực hành theo giáo pháp mà họ đang nói, nhất định sẽ đạt được kết quả." Nhưng rồi, một ý nghĩ thối lui lại nảy sinh: "Chao ôi, họ toàn dùng những thuật ngữ Pāḷi, mình nghe chẳng hiểu hết được, thật là khó khăn quá. Mình lại không có học thức gì, chắc không xong đâu." Mỗi hành giả khi nảy sinh ý định "muốn hành chay" thường bị một tâm niệm cản trở kiểu như "mình không có học" kéo ghì lại, tạo ra sự do dự, tiến thoái lưỡng nan. (Đây cũng chính là một trạng thái của pháp). Với những người có học thức cao, cái "lực kéo lùi" này đôi khi còn mạnh mẽ hơn. Dù những người có kinh nghiệm thực chứng nói thẳng thắn vào trọng tâm, họ vẫn chưa thể tin ngay được. Trong thời đại như hiện nay, nếu chưa có được một sự chấn động thấu tận tâm can như vậy, hành giả nên tự hiểu rằng "mình vẫn chưa đạt đến nơi đến chốn" và cần phải nỗ lực tinh tấn hơn nữa. ### Ānāpāna và việc nhai lõi ngô Đêm hôm sau, khi thư ký U Ba San đến, U Kyaw Din đã ra tận cửa rạp đón tiếp và hỏi với vẻ lo lắng: "Thưa ông thư ký, công phu tu tập hành trì của các ông thì loại người không biết chữ như tôi có thực hiện được không?" "Ồ, chuyện biết chữ hay không chẳng phải là cái cốt lõi đâu ông ạ. Điều quan trọng là có thực lòng tin và có quyết tâm thực làm hay không thôi. Chỉ cần có đức tin (Saddhā) và sự tinh tấn (Vīriya) là đủ." Vị thư ký đáp. "Vậy thì phải thực hành như thế nào?" Ông tiếp tục hỏi... ## TRANG 574 "Chỉ cần chú tâm vào hơi thở ra, hơi thở vào là đủ rồi," nói đoạn, ông U Ba San bước vào trong rạp, nơi các bạn đạo đang tụ họp. Theo thói quen, họ lại bắt đầu thảo luận và giảng giải đạo lý. Riêng ông U Kyaw Din không vào rạp mà đi đến chái hiên bên hông nhà, ngồi trên chiếc ghế tựa bọc bao bố, nhắm nghiền mắt và thầm niệm: "Hít vào... Thở ra...", ông chú tâm theo dõi hơi thở một cách mạnh mẽ. Khi hơi thở ra vào dần trở nên điều hòa và thân tâm bắt đầu cảm thấy thư thái, an lạc, thì ông U Shwe Lok — một người thực hành chánh niệm từ chỗ bà Anāgāmī Daw Ngwe Bon — đi đến nhà và nói: "Tôi vừa nắm bắt được một luồng thần lực (magnet)." "Phải theo dõi cái biết đó như thế nào?" ông U Kyaw Din tò mò hỏi. "Thì cứ biết... biết... biết thôi chứ sao," ông U Shwe Lok trả lời một cách giản đơn. "Theo dõi cái biết như vậy thì được gì?" ông U Kyaw Din hỏi tiếp. "Thì được công đức (kuso) chứ sao!" câu trả lời chỉ ngắn gọn bấy nhiêu. Ông U Kyaw Din vốn có đức tin kiên cố rằng "nếu mình làm thì nhất định phải đạt được", nên ông bảo: "Nếu có công đức thì tôi sẽ làm." Chỉ với cái hiểu đơn giản như vậy, ông bắt dấn thân vào hành thiền Định niệm hơi thở (Ānāpāna). Thật là một tinh thần đáng ngưỡng mộ. Với cái hiểu ấy, ông U Kyaw Din dành mọi thời gian có thể để giữ chánh niệm, và định lực của ông tiến triển rõ rệt qua từng ngày. Ngay cả khi băm thân cây ngô làm thức ăn cho bò, ông cũng giữ chánh niệm. Tiếng "pặc, pặc" khi thân ngô bị chặt đứt nhịp nhàng khớp với sự ghi nhận của chánh niệm khiến ông cảm thấy vô cùng hỷ lạc (pīti). Ông làm việc mà không hề biết mệt mỏi. Ông nghĩ thầm: "À, giờ mới thật là đúng chỗ. Vừa có công đức, vừa băm được nhiều thân ngô, lại còn đỡ mệt nữa." Với tâm hoan hỷ, ông thực hành không quản ngày đêm, dù là lúc gánh nước, chăn bò, nhổ cỏ hay làm ruộng. Ông thực hiện song hành hai công việc cùng một lúc. Cách hành trì của ông cũng giống như câu nói "thợ săn dạy voi" (mu-soe-sine-thin), chính công việc đã uốn nắn và điều chỉnh tâm ông đi đúng hướng. Giống như khi ngủ, người ta không cần cố ý điều chỉnh tư thế của đầu, tay, chân hay thân mình mà chúng tự động vào tư thế thoải mái nhất, việc hành thiền cũng vậy. Cứ nỗ lực hành trì đi, nếu có sai lạc thì chính Pháp (Dhamma) sẽ tự điều chỉnh cho mình. Ông cũng đến hang Maung Yin Paw để thực hành và nghỉ lại qua đêm. Khi nhìn thấy những luồng ánh sáng, ông càng nỗ lực hơn vì nghĩ rằng: "Nhờ mình hành thiền mà được chiêm bái hào quang của Đức Phật." Khi thấy những quả cầu ánh sáng nhỏ xoay tròn trước mặt, ông lại càng phấn chấn, dán mắt vào nhìn. Càng nhìn, những quả cầu ánh sáng ấy càng bay cao hơn. Và cứ mỗi khi chúng bay lên... ## TRANG 575 Ông lại thầm khích lệ: "Lên đi, lên đi!" và dùng tâm dõi theo cho đến khi cảm thấy mình như chạm đến tận tầng mây. "Chà, thật là kỳ diệu, mình còn có thể lên đến tận mây xanh nữa cơ à," ông cảm thấy mãn nguyện không biết mệt. Chẳng bao lâu sau, khi dõi theo những quả cầu ánh sáng ấy, ông lại nhìn thấy những lâu đài, cung điện rực rỡ hiện ra. Ông tự nhủ: "À, đây chắc hẳn là những cung điện dành cho mình sau khi thác nhờ công đức hành thiền này," và thế là ông càng dũng mãnh, liều mình tinh tấn hơn nữa. [Lưu ý: Thời đó kiến thức chưa được phổ biến rộng rãi nên hành giả thường tu tập theo tưởng tượng của mình. Những gì đang viết ở đây là dựa theo lời kể lại của chính Ngài Thiền sư.] ### "Kyaw Din điên rồi!" Sự dũng mãnh, không sợ hãi trong cách tu tập của ông U Kyaw Din — dù chỉ dựa trên hiểu biết ít ỏi và tự mày mò — quả là điều đáng khâm phục. Quanh ông không có vị thầy nào hướng dẫn bài bản, phương pháp hành trì cũng chưa hoàn thiện, và ông cũng chẳng có vốn liếng kiến thức kinh điển hay giáo lý nào để làm nền tảng. Nhưng chính việc ông trân quý cái biết ít ỏi ấy hơn cả mạng sống đã minh chứng cho chân lý: "Thợ săn dạy voi", bất kỳ ai thật sự thực hành thì sẽ đạt được kết quả thật sự. Bài học rút ra ở đây là: "Không cần phải học rộng tài cao, không cần phải thông minh xuất chúng, cũng không nhất thiết phải bỏ nhà vào rừng sâu mới tu được. Điều kiện duy nhất là lòng tin chân thành và sự dấn thân thực thụ." Về sau, định lực của ông U Kyaw Din ngày một thâm sâu. Khi thọ (vedanā) khởi lên trên thân, ông liền đặt chánh niệm vào đó, và sự ghi nhận của chánh niệm khớp khít với cảm thọ một cách chuẩn xác. Từ đó, lời lẽ của ông U Kyaw Din bắt đầu trở nên sâu sắc, ông chỉ nói những điều cốt lõi và thuận theo tự nhiên. Ông không còn hợp chuyện với dân làng, lời qua tiếng lại thường không tương xứng. Dân làng thấy quan điểm của ông không còn giống họ nữa, nên bắt đầu bàn tán: "U Kyaw Din này phát điên rồi." Khi tư duy không đồng điệu thì lời nói khó hòa hợp. Mà lời nói không hòa hợp thì chỉ dẫn đến tranh cãi và xích mích, nên ông U Kyaw Din chọn cách im lặng như "ngậm nước trong miệng". Vì bị coi là người điên nên cũng chẳng còn ai muốn trò chuyện với ông nữa. Chính nhờ không muốn nói và cũng không có người để nói mà định lực của ông thâm sâu một cách kỳ lạ. ## TRANG 576 ### Nói lắm thì khổ, nói nhiều lỗi nhiều (Trong lời nói có địa ngục) Đức Thế Tôn dạy rằng những lời bàn tán phù phiếm trong xóm làng là **Tiracchāna-kathā** (Bàn chuyện bàng sinh). Giống như loài bàng sinh đi ngang (không đi thẳng), những câu chuyện kể lể của thế gian đều ngăn trở và đi ngược lại với con đường dẫn đến Đạo, Quả và Niết-bàn. Người thực hành Pháp và các vị Tỳ-kheo không được nói những lời ấy. Đức Phật chỉ cho phép nói mười loại lời lành gắn liền với giáo pháp giúp giảm trừ Tham, Sân, Si. Khi trò chuyện với ai đó, thật khó để tránh khỏi việc rơi vào **Tiracchāna-kathā**. Do đó, Đức Thế Tôn đã tóm lược lời dạy: "Nếu nói, hãy chỉ nói những lời liên quan đến Pháp; nếu không, hãy giữ sự im lặng thánh thiện." Việc nói năng phù phiếm mang lại lỗi lầm rất lớn. Đối với hành giả, ngay cả việc bàn luận về Pháp cũng có thể trở thành sự chướng ngại. Vì vậy, việc giữ im lặng giúp tăng trưởng sức mạnh của Giới (Sīla), từ đó thúc đẩy Định (Samādhi) phát triển. Khi không còn những cử động thân thể dư thừa và luôn an trú trong chánh niệm, Giới kiểm soát các căn (Indriya-saṃvara-sīla) tự nhiên được thiết lập, góp phần nâng cao định lực. Việc ông U Kyaw Din bị người đời hắt hủi, gọi là "kẻ điên" và sự khác biệt trong tư duy khiến chính ông cũng không muốn giao tiếp, đã vô tình đóng chặt bốn cánh cửa của khẩu ác nghiệp. Điều này lại hoàn toàn phù hợp với Pháp và đúng với ý muốn của Đức Phật. ### Bói toán hành thiền: Xác voi và quạ mù Khi giữ im lặng, ông U Kyaw Din nhận thấy sự tiến bộ vượt bậc trong tu tập. Ông tâm đắc nghĩ: "Người đời nói chuyện cả ngày, chẳng khác nào để lửa địa ngục thiêu đốt ngay nơi miệng mình." Ông bắt đầu cảm thấy sợ hãi những lời nói và kinh hãi trước những việc làm của dân làng. Ông hoàn toàn thấu hiểu và tin tưởng sâu sắc rằng: Đối với những người không biết Pháp, mọi suy nghĩ, lời nói và hành động của họ đều là **Sabbampi ādittaṃ** — tất cả đều đang hừng hực cháy trong ngọn lửa (phiền não). Nhờ Giới mạnh nên Định mạnh, Định mạnh dẫn đến Tuệ sinh khởi, giúp các tuệ quán Minh sát (Vipassanā) dần tăng trưởng. Trong giai đoạn **Udayabbaya-ñāṇa** (Tuệ sinh diệt) — khi hành giả bắt đầu thấy rõ sự sinh và diệt của danh sắc — tâm trí thường phát sinh những hiểu biết đặc biệt, và ông U Kyaw Din cũng bắt đầu trải nghiệm... ## TRANG 577 Những linh cảm và kiến thức đặc biệt bắt đầu xuất hiện. Với những người sắp đắc **Thiên nhãn thông (Dibbacakkhu-ñāṇa)** và **Túc mạng thông (Pubbenivāsānussati-ñāṇa)**, họ sẽ thấy rõ những hiểu biết đặc biệt (vô cùng chuẩn xác) về tiền kiếp và tương lai. Tuy nhiên, nếu hành giả cứ mải mê đuổi theo những ngoại cảnh (bahiddhārammaṇa) mà mình nhìn thấy ấy, năng lực Vipassanā (Minh sát) sẽ bị giảm sút. Vì giai đoạn này thuộc phạm vi "**Đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh (Maggāmagga-ñāṇadassana-visuddhi)**", là nơi có nhiều ngã rẽ giữa đường đúng và đường sai, nên người tu tập chỉ được phép nắm giữ thật chặt chẽ chánh niệm (sati) trên đề mục gốc. Tuyệt đối không được phóng tâm đuổi theo các cảnh giới ấy. Đôi khi vì quá thương xót, cụ Kyaw Din đã báo trước ngày giờ cụ thể cho một số người trong làng rằng: "Hãy tìm nơi nương tựa nơi Tam Bảo đi, anh sắp chết rồi đó". Những người bị cảnh báo đều lần lượt qua đời đúng như lời cụ nói, khiến dân làng sợ hãi không dám lại gần cụ. Cụ Kyaw Din thì lại càng thuận lợi hơn để tu tập. Cụ nhìn thấy chi tiết từng bộ phận trong cơ thể mình và người khác, từ phổi, gan đến tim. Khi nhìn xuống lòng đất, cụ lại thấy những chúng sinh trong địa ngục đang chen lấn, xâu xé nhau như lũ giòi trong xác chó thối. Vì không thể giữ kín nên cụ đã kể ra, khiến mọi người càng thêm kinh ngạc. Họ bắt đầu chú ý và bảo nhau: "Cứ tưởng là lão điên, hóa ra giáo pháp của cụ Kyaw Din lại là thật!" Vì những lời cụ Kyaw Din nói luôn luôn chính xác, nên từ chuyện mất trâu mất bò cho đến đau đầu, nhức bụng, dân làng đều đến hỏi cụ về phương thuốc hay cách chữa trị. Ở điểm này, hành giả cần đặc biệt cảnh giác, giống như loài ếch thường tử nạn vì tiếng kêu của chính mình khi trời mưa. Lời nói của mình có thể quay lại hại chính mình. Lúc bấy giờ, cụ Kyaw Din chợt suy nghĩ và quyết định đi đến hang Maung Yin Paw để nỗ lực hành thiền một mình nhằm tránh sự làm phiền của đám đông. Cụ từng thuyết giảng rằng: "Các tầng thiền thế gian (lokiya) này tốt đẹp vô cùng. Tôi nhờ có đại phước đức mới có thể vượt qua được phía bên kia, nếu không đã bị chìm đắm trong cái 'thế gian' ấy rồi". Quả thật vậy! Các tầng thiền thế gian tốt đẹp đến mức khiến người phàm phu phải mê đắm. Cũng giống như ngó sen dưới bùn rất ngon đối với loài voi con khờ dại; hay xác voi chết trôi ngoài biển khơi là kho báu cả đời ăn không hết đối với loài quạ ngu ngốc. Nhưng voi con vì tham vị ngó sen mà lún sâu trong bùn lầy không có đường về; quạ ngu vì không nỡ rời bỏ xác voi mà cũng phải bỏ mạng giữa đại dương. Ngày nay, nhiều người phàm và cả những tu sĩ bình thường cũng chỉ đặt mục tiêu đạt được chút hiểu biết đặc biệt ấy làm cứu cánh cho mình. Họ chỉ mải nhìn vào ngó sen và ## TRANG 578 xác voi mà không xem xét trước về bãi bùn lầy hay mặt biển mênh mông không lối thoát. Nếu thực sự đạt được "ngó sen" hay "xác voi" (thần thông thật) thì còn đỡ; đằng sau đó còn có bao nhiêu thứ "ngó sen, xác voi" giả tạo do ma vương lừa gạt, nhử mồi. Các bậc thiện tri thức hãy thật trọng cảnh giác! Về **Túc mạng thông (Pubbenivāsa)**, những người tu tập không theo lộ trình của Giáo pháp chỉ nhìn thấy được khoảng bốn mươi kiếp quá trước một cách lờ mờ như người mù đi đường (Chú giải Luật tạng, tập 1, trang 130). Ánh sáng ấy chỉ bằng tầm con đom đóm (Thanh Tịnh Đạo, tập 2, trang 41). Tầm nhìn của họ luôn thay đổi, không vững chãi như cây cọc cắm trên đống trấu (Chú giải Trường Bộ Kinh, tập 1, trang 98). (Xem thêm Chú giải Phân Tích Đạo). Do đó, ngay cả khi một người đắc Thiên nhãn thông nói về quả báo của nghiệp, ta cũng không nên tin tưởng hoàn toàn (Kinh Đại Phân Biệt Nghiệp - Mahākammavibhaṅga Sutta). Thuở xưa tại quốc độ Daṇḍakī, từ nhà vua trở xuống đã phạm lỗi với đạo sĩ Kisavaccha rồi cho rằng nhờ thế mà được thăng quan tiến chức, đất nước thái bình, mưa châu báu rơi xuống. Họ đã gạt bỏ luật nghiệp báo mà hành xử như vậy, để rồi cuối cùng cả vương quốc đều bị tiêu diệt (Tiền thân Sarabhaṅga - Bộ Cát-tá-li-sá). ### Chạm - Biết: Chánh niệm vô cùng dễ dàng Cụ Kyaw Din càng nhìn thấy cách mọi người nói năng, hành động thì càng thấy sợ hãi; càng nhìn thấy chúng sinh thọ khổ trong địa ngục thì càng thấy kinh hoàng. Càng kinh hoàng, sợ hãi bao nhiêu, cụ càng tăng trưởng nỗ lực (vīriya) bấy nhiêu. Dù đi hay nằm, cụ đều giữ tâm này, miệt mài tu tập khiến người ngoài nhìn vào phải thốt lên: "Thôi thì chúng tôi không cần Niết-bàn cũng được, chứ không thể làm nổi như thế này". Họ thường tự hạ thấp khả năng của mình và đánh giá cao người khác rằng: "Cụ ấy chịu khổ được như vậy là nhờ có Ba-la-mật". Không phải vậy đâu! Nếu thực sự bắt tay vào thực hành, chỉ sau vài ngày, hành giả sẽ cảm nhận được hương vị của Pháp và lòng tin (**Tín - Saddhā**) sẽ tăng trưởng. Khi **Tín** tăng thì **Cần (Vīriya)** tăng. Khi **Cần** tăng thì **Niệm (Sati)** tăng. Khi **Niệm** tăng thì **Định (Samādhi)** tăng. Khi **Định** tăng thì **Tuệ (Paññā)** tăng. Đây không phải là sự cố gắng ép buộc hay gò bó một cách khiên cưỡng. Ngày qua ngày, thân, khẩu, ý của hành giả sẽ dần thoát khỏi các thiêu đốt (phiền não) và trở nên thanh lương, an tịnh. Chính hành giả sẽ tự cảm nhận được điều đó mà không cần ai phải thuyết giảng hay thúc giục. Đó chính là ý nghĩa của câu: "**Akāliko** = Có kết quả tức thời" và "**Sandiṭṭhiko** = Tự mình thấy rõ ngay trong hiện tại". Điều quan trọng nhất là phải thực hành thử. Mọi hành giả đều sẽ cảm thấy hối tiếc rằng: "Giá như biết thế này, mình đã tu tập từ sớm (khi còn trẻ) rồi". Thực hành thực tế còn dễ hơn là nói về nó. ## TRANG 579 Vì thế nên mới có lời cam đoan: "**Ehipassiko** = Đến để mà thấy (hãy thử nếu không tin)". Phương pháp này vô cùng sáng sủa và dễ dàng để bất kỳ ai cũng có thể thực hành. Tuy nhiên, vì những người có lòng tin thực sự để thực hành rất hiếm hoi, nên Đức Phật đã từng phải than thở vì đã thuyết giảng quá nhiều mà người nghe không chịu thực hành: "Cũng như việc trồng trọt trên đất khô cằn chỉ mong kiếm chút cỏ cho bò; Ta nghĩ rằng nếu họ biết được dù chỉ một câu, một kệ thôi cũng đã có lợi ích không nhỏ. Nhưng với những phàm phu si mê ám chướng không chịu thấy, không chịu hiểu dù Ta đã nói rõ như thế này, Ta còn có thể làm gì hơn được nữa?" (Kinh Ví Dụ Về Ruộng Nương - Khandhavagga). Sự an lạc ấy không cần bạn đồng hành, nó là **Santo** = thanh tịnh, **Paṇīto** = cao thượng (vi diệu). Sự an lạc ấy không bao giờ gây cảm giác nhàm chán. Nó là **Asecanako** = thuần khiết, không cần thêm bất kỳ sự phụ trợ nào (như rắc thêm vừng) mà tự thân nó đã tràn đầy hương vị. Khi năm yếu tố (còn gọi là **Ngũ uẩn** hay **Ngũ lực**): **Tín**, **Tấn**, **Niệm**, **Định**, **Tuệ** càng phát triển thì hương vị càng đậm đà, trí tuệ càng tăng trưởng. Khi đó, việc từ bỏ đám đông đang bị ngũ dục sai khiến để sống độc cư không phải là vì lòng can đảm hay Ba-la-mật siêu việt, mà đơn giản là hành giả đã tự có được năng lực chịu đựng và đang sống trong sự an lạc. Người phàm phu không thể nào thấu cảm được trạng thái này. Cụ Kyaw Din đã có thể ghi nhận hơi thở ra - vào tại đầu mũi: mỗi khi thở ra thì Chạm - Biết, mỗi khi thở vào thì Chạm - Biết; sự hay biết liên tục không gián đoạn. Ngoài ra, cụ còn mở rộng sự quan sát sang cả bốn oai nghi: Lên, Ngồi, Đứng, Đi. Khi đi, cụ đặt niệm để ghi nhận sự xúc chạm của bàn chân trên mặt đất; khi ngồi, ghi nhận sự xúc chạm giữa mông và sàn nhà; khi ăn, ghi nhận sự xúc chạm giữa tay và vắt cơm, rồi xúc chạm tại miệng... Cụ đã đúc kết toàn bộ pháp hành **Tứ Niệm Xứ** vào một câu khẩu hiệu: "Chạm + Biết + Niệm". (Đây là pháp hành lấy địa đại làm chủ đạo. Trong khi đó, Thiền sư Mahāsi lại lấy phong đại làm chủ đạo). Sau đó, sự quan sát sâu sắc còn được mở rộng đến các cảm thọ (Vedanā) như đau, nhức, nóng, lạnh trong cơ thể. Thiên hạ gọi đó là "theo dõi cảm thọ", hay còn gọi là **Thọ quán niệm xứ (Vedanānupassanā)**. Có vẻ như cụ ưu tiên ghi nhận các **Khổ thọ (Dukkha-vedanā)** rõ rệt và khó kham nhẫn. (Dĩ nhiên các Hỷ thọ và Xả thọ cũng được ghi nhận, khách quan mà nói thì chúng đã bao hàm trong đó nên không cần nhắc riêng). Vì vậy, cụ Kyaw Din đã ghi lại như sau: "Thực khó cam lòng, Pháp bảo này. Nếu thấy dễ dàng, mãi tham say. Dòng đời trôi nổi, bao người đắm. Cực khổ tu hành, mới thoát vây." (Ý dịch: Thật đúng là Pháp này không dễ dàng kham nhẫn. Nếu mà dễ dàng (hưởng thụ) thì đa số chúng sinh đã trôi lăn mãi trong vòng luân hồi rồi). ## TRANG 580 Khi đang ghi nhận sự Chạm-Biết (thở ra - thở vào) hoặc các đối tượng Chạm-Biết khác mà có một cảm thọ (Vedanā) nào đó khởi lên, hành giả phải hướng tâm sang ghi nhận cảm thọ đó. Phải quán sát cho đến khi "thoát khỏi cảm thọ" (tức là ghi nhận liên tục cho đến khi cảm thọ ấy biến mất). Vì mỗi thiền sinh có một cá tính (carita) khác nhau, nên cần phải thực hành theo con đường Trung Đạo (Majjhima Paṭipadā), điều chỉnh sao cho phù hợp với loại cảm thọ, tính chất và mức độ của cảm thọ đó. Dựa trên tinh thần Nhẫn nại (Adhivāsana Khantī), hành giả nên cố gắng chịu đựng hết mức có thể; chỉ khi không thể chịu đựng thêm được nữa mới dùng tâm xả đối với cảm thọ đó rồi chuyển sang ghi nhận đối tượng khác. Đây là cách làm đúng đắn nhất. ### Ngày quyết định đối với ông Kyaw Din Ông Kyaw Din đã thực hành ghi nhận liên tục ngày đêm không gián đoạn như vậy, cho đến khi những cảm thọ đau nhức, tê buốt dữ dội bỗng chốc mờ dần rồi tan biến hẳn. Các ảo ảnh (nimitta) cũng dần tách rời, lìa xa và bị buông xả; ông chỉ còn thấy rõ sự sinh - diệt liên tục của các danh pháp và sắc pháp trong thân tâm. Do chỉ tập trung ghi nhận sự sinh diệt nên việc hành thiền của ông trở nên rất chuẩn xác và thuần thục. Trong tâm ông trào dâng niềm hân hoan, hỷ lạc và vô cùng mãn nguyện. Giữa lúc niềm hỷ lạc ấy đang cực kỳ mãnh liệt, một luồng ánh sáng chói lòa bỗng hiện ra trước mắt ông. Dù tưởng rằng cảm thọ đã chấm dứt do được bao phủ bởi niềm hỷ (Pīti), nhưng thực tế những dư chấn của nó vẫn còn âm ỉ bên trong. Chỉ đến khi ánh sáng lớn hiện ra, các cảm thọ mới thực sự tịch diệt hoàn toàn và mọi thứ trở nên mát lạnh, êm dịu. Thế nhưng, ông lại nảy sinh tâm luyến ái đối với luồng ánh sáng ấy, dẫn đến việc đánh mất sự tỉnh giác về sinh diệt. Ông Kyaw Din suy xét một lát rồi tự nhủ: "Ồ, cái này không đúng rồi", ngay lập tức ông dùng trí tuệ tỉnh sát và đưa tâm trở lại ghi nhận trên thân. (Đây chính là việc tự kéo mình lên khi bị sa vào Hào quang - Obhāsa và chìm đắm trong Sự tịnh chỉ - Passaddhi). Khi đó, những cảm thọ lúc trước lại trỗi dậy. Ông cảm thấy như mình đang ôm một súc gỗ bơi giữa dòng nước xoáy dữ dội. Đây chính là giai đoạn Đạo Phi Đạo Tri Kiến Thanh Tịnh (Maggāmagga Ñāṇadassana Visuddhi) – thời điểm cần có sự tỉnh giác, nỗ lực đúng đắn và sử dụng trí tuệ để phân biệt đâu là đường đúng, đâu là đường sai. Khi quay lại ghi nhận các cảm thọ, đối tượng và sự ghi nhận ban đầu chưa thực sự ăn khớp, điều hòa. Việc cứ phải lặp đi lặp lại một kiểu ghi nhận khiến ông bắt đầu cảm thấy mệt mỏi. Sự ghi nhận và đối tượng khi thì vượt quá, khi thì tụt lại, khi thì bay xa phía trước hoặc bị bỏ lại phía sau. Lúc này, ông Kyaw Din điều hòa hơi thở đều đặn, điều chỉnh theo con đường Trung Đạo cho đến khi ngũ căn (indriya) đạt được sự cân bằng. Ngay lúc đó, ông bắt gặp được trạng thái Diệt (Nirowdha dhātu) và— ## TRANG 581 giống như một khẩu súng đã nạp đạn bất ngờ được siết cò, sự ghi nhận bỗng chốc "bùng thoát" ra ngoài. Một người sắp chết đuối có sự tỉnh giác, nỗ lực và trí tuệ, khi thả mình trôi theo dòng nước rồi bất ngờ chạm đầu vào bến bờ, người đó sẽ bám chặt lấy bến bờ không buông để nghỉ ngơi sau cơn kiệt sức. Cảm giác của ông lúc này cũng tương tự như vậy. Ông đã tận mắt chứng kiến và trải nghiệm một sự an tịnh mát mẻ mà suốt bao vòng luân hồi chưa từng cảm nhận được, nhờ đó cơn mệt mỏi được xua tan và tâm hồn được nhẹ nhõm. "Ánh sáng tuệ giác đã sanh" (Āloka udapādi) – luồng ánh sáng Chánh pháp lần đầu tiên an trú trong tâm ông Kyaw Din. Giống như một người bị rắn cắn, dù sau này vết thương đã lành hẳn nhưng mỗi khi nhớ lại cảm giác ấy, họ vẫn không thể nào quên; ông Kyaw Din cũng sẽ mãi mãi không quên được trạng thái và ngày hôm đó. Ngày mà ông lần đầu tiên xóa bỏ được nợ nần trong bốn đường ác đạo (apāya) là... **"Ngày 13 sau trăng tròn tháng Waso, năm 1282 (Âm lịch Myanmar), thứ Năm, vào khoảng 10 giờ đêm."** ### Pháp Ānāpāna dành cho người có trí tuệ và phước báu Ông Kyaw Din tiếp tục trì giữ hơi thở ra vào không quá mạnh cũng không quá nhẹ. Sự Tỉnh giác và Cái biết càng ngày càng trở nên khăng khít hơn trước, ông nhìn thấy các danh sắc rõ ràng và sắc bén hơn bao giờ hết. Ngay từ khi bắt đầu nỗ lực, ông dường như không hề gặp phải sự dao động hay rung lắc cơ thể nào đến mức làm hỏng các căn. Sự rung lắc, dao động chính là biểu hiện của định lực yếu. Chính vì sự tham luyến và thỏa mãn (Nikanti) trong những rung động đó mà cơ thể càng bị dao động mạnh hơn. Vào thời Đức Phật, Ngài và các bạn đồng tu đã từng khen ngợi Ngài **Đại Thượng tọa Mahā Kappina**, người luôn giữ được thân tâm bất động, cực kỳ tĩnh lặng khi thực hành thiền Ānāpāna. (Kinh Mahā Kappina, Tương Ưng Ānāpāna). Bất kỳ ai thực hành ghi nhận với sự đầy đủ và cân bằng của Giới - Định - Tuệ (hoặc Niệm - Định - Tấn - Tuệ) (Paripuṇṇa bhāvitā), và tuân theo trình tự bài học mà Đức Phật đã dạy mà không nhảy bước (Anupubba paricitā), thì đều có thể đạt được sự tĩnh lặng, an lạc và dễ dàng chứng đắc hạnh phúc Niết-bàn như **Ngài Thượng tọa Kappina** (dù đã là vị A-la-hán hay chưa). [Về việc các hành giả đạt đến Niết-bàn như thế nào trong khi hành thiền, tôi sẽ trình bày đầy đủ ở chương về Ngài Thiền sư Mahasi]. ## TRANG 582 Những đoạn Pāḷi dạy rằng: "Không thể đạt đến Niết-bàn bằng cách làm hời hợt, phải đánh đổi bằng cả thân mạng", v.v... không nên hiểu theo nghĩa đen đen tối hay thô thiển theo kiểu "đóng đinh, xẻ thịt". Điều quan trọng nhất là một tinh thần quyết đoán, chính xác, đầy nhiệt huyết và đi đôi với trí tuệ. (Ye suppayuttā manasā daḷhena). Nếu không, hành giả sẽ không thể vượt qua được những rào cản hay vướng mắc nào đó, mà có thể dẫn đến những hành động cực đoan như **Ngài Channa** hay **Ngài Godhika**, những vị đã tự sát vì sự quyết tâm sai lệch. Do những nỗ lực cứng nhắc còn vướng chấp, con đường Trung Đạo vốn dĩ cực kỳ tĩnh lặng và an lạc đôi khi lại trở thành con đường đầy mồ hôi và máu. Đã có không ít người ngã gục giữa đường trong tình trạng thê thảm, hơi thở hổn hển. Thực tế, đề mục thiền Ānāpāna mang lại lợi ích và uy lực lớn lao hơn các đề mục khác. Nhưng lợi ích càng lớn thì cái giá phải trả (sự đầu tư) cũng cao hơn các đề mục khác. Sự đầu tư đó không gì khác ngoài Chánh niệm và Trí tuệ. Mọi đề mục thiền đều cần đến Niệm - Tuệ, nhưng với Ānāpāna thì lại cần đặc biệt nhiều hơn. Đức Phật từng dạy: "Ta không dạy, không trao pháp hành này cho người thiếu Chánh niệm và Trí tuệ" (Tương Ưng Ānāpāna và Kinh Ānāpānasati - Trung Bộ). Pháp hành này dành cho chư Phật, chư Phật Độc Giác và những bậc Thinh văn có phước báu lớn lao. Đây không phải là việc của những người kém phước (người tầm thường). Ngay cả những bậc cao nhân ấy cũng không thể thực hành hời hợt (như lửa rơm) mà có kết quả. Phải thực hiện với sự kiên trì, tập trung sâu sắc và huy động rất nhiều Chánh niệm, Trí tuệ mới có thể thành tựu. (Thanh Tịnh Đạo, Q.1, tr.276). Vì vậy, cưỡi một con ngựa giống (Sindhava) chạy nhanh mà không biết cách điều khiển thì khi ngã sẽ bị thương rất nặng. Ānāpāna là một đề mục mang tính then chốt và cốt lõi trong cơ thể học, giúp hành giả làm chủ thân tâm một cách vững vàng như thể nắm được tận tóc của một người. Vì là người có phước báu lớn nên ông Kyaw Din đã nỗ lực ghi nhận không sót một ngày nào. Phương pháp ghi nhận của ông cũng không hề thay đổi, vẫn là: "Chạm - Biết - Niệm". (Ngay cả sau khi đã chứng đắc quả vị A-la-hán, ngài vẫn tiếp tục ghi nhận như vậy, và vẫn muốn tiếp tục ghi nhận như thế). Do đó, giáo pháp của Đức Phật rất dễ hiểu, không ai là không thể làm được. Ông Kyaw Din có thể thiền ngay cả khi đang làm việc nhà, lúc đảo bắp, lúc cho bò ăn, lúc cày ruộng hay đốn củi; không lúc nào lơ là. Thậm chí ông còn giảm bớt thời gian ngủ để nỗ lực nhiều hơn nữa. "Trong cùng một khoảng thời gian mà có thể làm được hai việc, thì chỉ có pháp này thôi. Người thời nay..." ## TRANG 583 Không nhiều quyến thuộc và đồ chúng như chư Thiên hay Phạm thiên, cũng không bận rộn nhiều công chuyện như các bậc đế vương, trưởng giả thời xưa. Ấy vậy mà ngay giữa đám đông đồ chúng và công việc đa đoan như thế, nhờ nhận được sự giáo giới từ đức Thế Tôn mà họ tinh tấn thực hành không ngừng nghỉ, khiến cho mọi thành tựu đạt được đều vượt xa cả mong đợi ban đầu.” Lời giáo giới này của bậc ân sư — **Ngài Đại trưởng lão Webu Sayadaw** (vào ngày 28/05/1955) thật đáng để chúng ta ghi nhớ. #### Bà Daw Shwe Yi đóng vai người vợ hung dữ Gác lại việc nhà để hành thiền, **U Kyaw Din** đã đạt được thành tựu ở tầng thánh đầu tiên. Mọi việc trong nhà ông vẫn chu toàn, không chút lơ là. Thế nhưng, người vợ là **bà Daw Shwe Yi** lại luôn cằn nhằn, gắt gỏng rằng ông “bỏ bê công việc”. Ban đầu bà nói bóng gió, sau đó nhiếc móc, và rồi thậm chí còn xô ông ngã khỏi giường để quấy nhiễu. **U Kyaw Din** vẫn nhẫn nhục, tiếp tục công phu như cũ. “Đừng quấy nhiễu nữa mà, bà Shwe Yi ơi,” ông vừa nói vừa ngồi ngay xuống nền đất nơi mình vừa bị xô ngã để tiếp tục chánh niệm. Có khi **bà Daw Shwe Yi** còn gỡ hết mấy tấm ván lót giường đem dựng đứng lên, nhưng ngay khi bà vừa càu nhàu bỏ đi, **U Kyaw Din** lại ngồi ngay trên những thanh xà không còn ván lót ấy mà hành thiền. Một lát sau, **bà Daw Shwe Yi** quay vào nhà và nói: “Này... ông lớn, né ra cho tôi nhờ,” rồi bà lại đem ván giường ra lát lại như cũ. “Bà Shwe Yi à, sao bà lại muốn quấy nhiễu tôi làm chi vậy?” Khi ông hỏi, bà đáp: “Để cho ông nổi cám mà đánh tôi đấy.” **U Kyaw Din** liền bảo: “Tôi không có giận đâu bà nó ơi, cũng không đánh bà đâu. Hãy nỗ lực mà thuyết pháp cho tôi nghe đi,” nói rồi ông lại tiếp tục chánh niệm. Bậc “Dự Lưu” (Sotāpanna) không phải là hạng người tầm thường. Người ta thường nói một cách giản đơn rằng họ “mới chỉ trừ bỏ được Thân kiến và Hoài nghi”. Thực tế, họ đã đoạn tận tất cả những phiền não có thể dẫn đến khổ cảnh (**Aṭṭhasālinī** - **Dassanatika**). Với lòng tri ân sâu sắc đối với Tam Bảo và sự thấu triệt về các vấn đề trong đời sống, ánh sáng đức tin kiên cố đã ngự trị trong tâm khảm họ. Năm giới cũng được giữ gìn trọn vẹn một cách tự nhiên (ngay cả khi sang đời sau) (**Paripūrakāro**). Những tâm tánh không trung thực như che giấu lỗi lầm (māyā - xảo quyệt), phô trương đức hạnh mình không có (sāṭheyya - xảo trá), lòng đố kỵ và bủn xỉn (issā, macchariya)... ## TRANG 584 đều không còn nơi bậc Dự Lưu. Họ là bậc **Ujuppaṭipanna** — người ngay thẳng, thuần khiết (Xem Aṅguttara Nikāya 2, 382; Vibhaṅga 349). Bậc Thánh có niềm an lạc và ánh sáng trí tuệ mà người phàm phu không thể tự mình thấu cảm được. Đó không phải là điều nhỏ bé hay tầm thường. Thứ hạnh phúc mà ngay cả vinh hiển của Chuyển Luân Thánh Vương cũng không thể đổi lấy được thì làm sao có thể giống như “tôi với anh” cho được? Chính vì thế, **U Kyaw Din** không hề oán giận mà chỉ cảm thấy thương xót cho **bà Daw Shwe Yi**. Lòng nhẫn nhục tràn đầy tâm từ cứ thế tự nhiên nảy nở. Sự chánh niệm quan sát thọ uẩn liên tục cũng giúp tăng trưởng khả năng chịu đựng. Ông có thể nhiếp phục những tâm tham, sân vừa khởi lên ngay lập tức. Đạo quả **Nhất Lai** (Sakadāgāmimagga) sẽ tiếp tục đoạn trừ những tâm tham và sân thô lậu còn lại. Phần **bà Daw Shwe Yi**, ngày qua ngày bà lại bày ra đủ kiểu quấy nhiễu khác nhau. “Chẳng nói chẳng rằng chi cả, cứ như vua Temi vậy. Nếu muốn hành đạo đến thế thì đi làm sư cho rồi!” Bà cứ càm ràm, trách móc như vậy mãi. Vì nhận thức khác nhau nên cái nhìn cũng khác nhau. Người hiểu biết nhiều hơn đương nhiên phải nhẫn nhục nhiều hơn. Khi đó, người hành thiền lại càng phải cẩn trọng hơn. Họ phải giữ gìn để những người kém hiểu biết không tạo nghiệp quá nặng nề vì mình. Nếu không, những người không biết có thể phạm phải trọng tội phỉ báng bậc Thánh. Ngay cả với những hành giả chưa đắc chứng, việc xúc phạm cũng có thể gây ra nghiệp tương đương tội **ariyūpavāda** (phỉ báng bậc Thánh), do đó cần phải nhẫn nhục nhiều hơn nữa. Mười loại nghiệp phỉ báng bậc Thánh thật đáng khiếp sợ thay! Việc tán dương một người không phải bậc Thánh là bậc Thánh cũng tai hại tương đương với tội phỉ báng bậc Thánh (theo **Chú giải kinh Kokālika** trong Tăng Chi Bộ). Việc tiếp xúc với bậc Thánh hay những hành giả đang nỗ lực tu tập để trở thành bậc Thánh là điều rất đáng sợ đối với những kẻ ngu muội. Để những kẻ ngu không phạm lỗi nặng, người hành thiền cần phải thu thúc trong cách ăn ở và lời ăn tiếng nói. Sự nhẫn nhục không chỉ giúp pháp hành của bản thân tấn hóa mà còn là cách bảo vệ những người chưa hiểu biết. “Nếu sống trong thiền viện mà không ra dáng người hành đạo thì tốt nhất đừng ở đó. Đừng ở lại làm gì. Nếu vì thấy mình không đoan chính mà người khác khởi tâm phê phán, cho rằng 'ai ở đây chắc cũng vậy thôi', thì người đó sẽ mang trọng tội. Bản thân mình không những không có lợi ích gì mà còn gieo nghiệp cho người khác nữa,” đó là lời giáo giới của bậc ân sư — **Ngài Đại trưởng lão Webu Sayadaw** khi Ngài phân tích các loại bậc Thánh (tướng mạo bậc Thánh, oai nghi bậc Thánh...) để răn dạy những vị ## TRANG 585 tu sĩ cao niên đang hành thiền gần bên. Đây là điều rất đáng để tâm lưu ý. Người hành thiền, nếu chưa đạt được Đạo quả như **U Kyaw Din**, cũng nên nỗ lực chịu đựng một cách thầm lặng. Với riêng **U Kyaw Din**, việc nhẫn nhục diễn ra một cách dễ dàng. Tuy nhiên, **bà Daw Shwe Yi** vẫn không chịu dừng lại. Một đêm nọ, khi **U Kyaw Din** đang định tâm hành thiền rất tốt, bà liền tháo dây buộc con bò cái rồi gọi lớn: “Ông Kyaw Din ơi, con bò sổng chuồng rồi, mau đi tìm nó đi!” Bà bắt ông đi tìm bò giữa đêm hôm khuya khoắt như vậy. Con bò cái đó vốn rất hung dữ, hễ thấy người là húc, vậy mà khi **U Kyaw Din** đi theo, ông đã dễ dàng bắt và buộc nó lại được. Bà Daw Shwe Yi tội nghiệp, chẳng biết tâm tính thay đổi lúc nào mà lại đi đóng vai người đàn bà hung dữ như vậy. Nhưng liệu ai mới là “đạo diễn” đứng sau vở kịch này? #### Đang trả nợ, đừng xen vào làm loạn Người hành thiền cần lưu ý rằng, trong quá trình tu tập, sự xuất hiện của các “tướng quấy nhiễu” (nguyên nhân gây loạn) thường rất tinh vi. Không phải hành giả nào cũng nhận ra được. Những hành động của **bà Daw Shwe Yi** thoạt nhìn có vẻ rất bình thường: “Có gì lạ đâu, ai chả làm vậy, vợ chồng với nhau mà,” nghe qua cứ ngỡ là chuyện thường tình thế gian. Đứng dưới góc độ tâm lý con người, điều này có phần đúng, nên nếu nói “đây là tướng quấy nhiễu” thì không phải ai cũng dễ dàng chấp nhận. Đó là lý do vì sao chúng tôi dùng từ “tinh vi và kín đáo”. Đặc tính của các tướng quấy nhiễu là luôn giả vờ như có một phần sự thật khiến ta không thể bác bỏ ngay lập tức, chúng sẽ bám vào những kẽ hở hoặc điểm yếu nhỏ nhất để tấn công. Chúng không xuất hiện một cách lộ liễu để bị phát giác, mà luôn tạo cảm giác như đó là chuyện tự nhiên, bình thường. Chỉ khi không còn cách nào khác, chúng mới trực diện tấn công. Chúng thường ẩn núp trong bóng tối để hành động, tìm kiếm những “kẻ thế thân” và sử dụng họ như những công cụ đắc lực. Nếu không thể đánh lừa người hành thiền rằng: “Đó là do tâm ta, do ta ăn uống thất thường nên mệt, do ta muốn làm vậy, do người kia như vậy...”, thì chúng sẽ nhắm vào những người thân cận nhất với hành giả để làm “kẻ thế thân”. Chúng dùng những người đó làm “gậy” để đánh vào người hành thiền. Đó có thể là thầy tổ, cha mẹ, đệ tử, vợ con hay người thân bạn bè. Hành giả càng nặng lòng tham ái (thâm tình), càng kính trọng họ bao nhiêu, và những người đó lại càng thiếu khả năng tự chủ bấy nhiêu (tức là có tâm tham, sân, si lớn), thì tướng quấy nhiễu càng dễ dàng dàn dựng đủ mọi chiêu trò để phá rối. ## TRANG 586 Khi việc hành thiền đi vào giai đoạn quan trọng, những chướng ngại cũng bắt đầu ập tới. Mara (Ma vương) dàn dựng những kịch bản vô cùng tinh vi và khéo léo để hành giả không có ý định đến thiền đường, hoặc nếu đã có ý định thì cũng không thể đi được, hoặc nếu đi được thì công việc cũng không tiến triển. Sự sắp xếp này tinh xảo đến khó tin. Vì thế, Đức Thế Tôn đã dạy rằng: “**Số người có thể băng qua bờ bên kia là rất ít, phần lớn vẫn còn kẹt lại ở bờ bên này; giống như số chim thoát khỏi lưới của người thợ săn thì ít, mà số chim phải chết trong lưới lại rất nhiều.**” Lúc ấy, hành giả không nên bám chấp vào việc cho rằng “mình đúng thế nào, mình đã nhẫn nại ra sao”, mà hãy tự nhủ lòng rằng: nếu hiện tại mình đúng thì đó cũng là nhờ đã từng sai lầm trong biết bao kiếp trước mà thôi. Ai làm nấy chịu, quả báo của chính mình. Để chế ngự được sức mạnh khuấy động này, không có cách nào khác ngoài sự nhẫn nại, tha thứ, lòng bi mẫn và tâm từ. Không được nhìn vào hay xem xét trên phương diện chế định (paññatti) về cá nhân hay chúng sinh. Dù đúng hay sai, dù xấu hay tốt, hãy chấp nhận thua cuộc và chỉ tập trung tiếp tục công việc của mình. Nếu không được, hãy nỗ lực rải tâm từ thật nhiều. Khi cái xấu đến, hãy quán xét về sự tương tác giữa tâm từ và bản chất tự nhiên để nhẫn nại với cơn giận (dosa). Khi cái tốt (lợi lộc, những điều vừa lòng) đến, hãy quán xét về tính vô thường (anicca) và sự bất tịnh (asubha) để nhẫn nại với lòng tham (lobha). Nếu những điều này xảy ra quyết liệt, hãy hiểu rằng mình sắp tiến bộ nhanh chóng. Đặc biệt, hãy làm việc đó với lòng biết ơn và niềm hoan hỷ lớn lao. Cần lưu ý đến đoạn kết của 550 chuyện Tiền thân (Jātaka). Trong vòng luân hồi (saṃsāra), không còn gì để tiếp tục đi nữa. Ở kiếp này, chúng ta phải thanh lý xong sổ sách. Nếu có nợ nần gì thì phải trả. Những người mà chúng ta phải thanh toán nợ cũ nợ mới... không ở đâu xa (họ ở ngay sát bên cạnh hành giả). Đó chính là những người thọ ơn hoặc ban ơn, là cha mẹ, thầy tổ, con cái, học trò, bè bạn. Họ thường xuất hiện đối diện với bạn trong vai trò là đại diện của Mara. Còn chính Mara thì sẽ ẩn núp trong bóng tối, giống như việc bôi nhọ nồi lên những con gà nhà rồi bắt chúng đá nhau. Vì vậy, đừng để những người thân cận bị yếu thế, hãy dùng tâm từ đưa họ vào con đường Chánh pháp. Hãy rải tâm từ thật nhiều đối với họ. Trong **Kinh Li-cha-vi Quan-cái (Licchavi Kumāraka Sutta)** thuộc **Tăng Chi Bộ (Aṅguttara Nikāya)**, Đức Phật có dạy 5 pháp đem lại sự hưng thịnh cho người chủ gia đình: 1. Cha mẹ và ông bà, 2. Vợ con, người làm và quyến thuộc, 3. Hàng xóm láng giềng và cộng sự, 4. Chư thiên (như thiên thần hộ trì truyền thống), 5. Các bậc thiện tri thức. Hãy sống sao để được những đối tượng này yêu mến bằng cách ủng hộ và dâng cúng bằng tài sản đúng pháp. ## TRANG 587 Việc nhận lại sự đáp trả bằng tâm từ từ những người thân cận là một yếu tố vô cùng quan trọng. Nói cách khác, không chỉ là Từ nghiệp về ý (manokamma), mà nếu có thể thực hiện cả Từ nghiệp về lời nói (vacīkamma - nói lời dịu dàng, hỗ trợ bằng lời) và Từ nghiệp về thân (kāyakamma - trực tiếp giúp đỡ, tặng quà, hỗ trợ bằng hành động) thì công việc sẽ càng tiến triển và thành công hơn. Hãy làm sao để cha mẹ, vợ con, quyến thuộc, người làm, cộng sự, chư thiên và các bậc thánh nhân đều yêu mến bạn. Cụ Kyaw Din đã dùng tâm từ để nhẫn nại trước mọi sự quấy rối của bà Shwe Yi, đồng thời tận dụng mọi thời gian có thể để tu tập quán sát, nhờ đó trí tuệ càng tỏa sáng hơn trước. Vì đây là con đường cụ đã từng đi qua nên không còn gặp khó khăn nào nữa. Cụ từng giảng rằng: “**Điểm khác biệt duy nhất là các thọ uẩn (vedanā) bên trong phát khởi mạnh mẽ hơn mà thôi.**” (Tuy nhiên, không nên mặc định rằng hành giả nào cũng sẽ trải qua điều tương tự). Một đêm nọ, trong khi đang ngủ với chánh niệm, cụ Kyaw Din nằm mơ thấy mình đến một nhà ga xe lửa. Khi đi mua vé, cụ chỉ định mua một vé nhưng người bán lại đưa cho cụ bốn vé. Sau đó cụ bỏ cả bốn vé vào túi rồi đi về phía đoàn tàu. Lúc đó tàu sắp khởi hành nên cụ phải nhanh chóng bước lên. Không lâu sau, cụ lại nằm mơ thấy mình đến một cánh đồng, thấy một con bò đang chạy tới liền đuổi theo nắm lấy, cụ túm được cái đuôi và cái đuôi đó tuột ra ngay từ gốc. (Chúng tôi đã chỉ ra rằng ở các hành giả, những giấc mơ thường có lợi ích theo cách này hay cách khác). Cụ Kyaw Din đã giải mã những giấc mơ đó và tuyên bố rằng: “Phần sau của giáo pháp là sự dứt tuyệt hoàn toàn (aprok) đó thôi.” Cụ dùng chánh niệm để bắt lấy mọi đối tượng tưởng (saññā) khởi lên và dùng tuệ để cắt đứt chúng. Đúng một tháng sau lần đắc đạo thứ nhất— “Vào khoảng 10 giờ đêm thứ Bảy, ngày 13 tháng 2 năm 1282 (Miến lịch), cụ đã chứng ngộ Niết-bàn lần thứ hai.” ### Nội tình của bậc Tư-đà-hàm (Sakadāgāmī) Sau khi đạt đến tầng thánh thứ hai, tuệ nhãn của cụ Kyaw Din càng trở nên sáng tỏ. Lời nói của cụ cũng mang tầm vóc lớn lao hơn. Cụ có khả năng phân tích sâu sắc theo ý nghĩa chân đế (paramattha). Đối với các pháp ngoại cảnh (bahiddha), cụ cũng có cái nhìn tinh tường hơn. Khi ở trong làng, ## TRANG 588 nghe tin ai đó không khỏe, nếu cụ Kyaw Din nói “người này chắc chắn sẽ chết” thì người đó sẽ chết thật. Nếu cụ nói không chết là sẽ không chết. Vì những lời cụ nói đều ứng nghiệm nên mọi người không dám lại gần cụ. Nhờ vậy, cụ Kyaw Din càng có không gian yên tĩnh để chuyên tâm quán chiếu giáo pháp của mình. Quá trình diệt trừ các nhiệt lực ô nhiễm (kilesa), các hạt giống ngủ ngầm (anusaya) đã bén rễ từ sâu thẳm trong vòng luân hồi theo từng cấp độ thật vô cùng thú vị. Nó giống như việc phải giặt đi giặt lại nhiều lần một tấm giẻ rách, hay việc phải nung lửa nhiều lần để làm sạch một thanh sắt bị rỉ sét đóng tầng tầng lớp lớp, hay việc gạn lọc bùn đất để đãi lấy vàng, hoặc như người tập tạ không thể một lúc mà nâng ngay được khối lượng lớn mà phải tăng dần dần. Các lớp bụi bặm thô, trung bình và vi tế sẽ được rũ bỏ dần dần theo từng bước. 1. Mặc dù nói rằng **Sơ đạo (Sotāpatti-magga)** diệt trừ **Thân kiến (Diṭṭhi)**, **Hoài nghi (Vicikicchā)** và **Giới cấm thủ (Sīlabbata-parāmāsa)** (những quan điểm sai lạc, sự do dự đối với Tam Bảo, giới hạnh và bậc Thầy, cũng như các tà hạnh), nhưng thực tế chúng đã được loại bỏ dần từ các giai đoạn chuẩn bị như giữ giới. Trước khi đạt đến giai đoạn đó, hành giả đã phải trải qua biết bao thăng trầm trong việc ăn, ở, mặc, chuyện đời, chuyện đạo, sự nguy hại từ các vị thầy khác nhau, những suy nghĩ sai lầm, quan điểm lệch lạc và sự do dự không ngừng. Hành giả đã phải lần mò giữa con đường đúng và sai. Chỉ sau khi đã được thanh lọc bằng **Bảy bước thanh tịnh (Visuddhi)** từ việc giữ giới trở đi, thì **Sơ đạo** mới có thể cắt đứt tận gốc rễ. Dù thanh kiếm Sơ đạo có sắc bén đến đâu, nếu không có cái thớt là nền tảng trì giới thì cũng không thể cắt đứt được. Ngoài ra, các phiền não như Tham (Lobha), Sân (Dosa), **Si (Moha)**, **Ngã mạn (Māna)** cũng phải được "tỉa bớt" cành lá trước đó càng nhiều càng tốt để các tầng Thánh đạo cao hơn có thể nhổ tận gốc một cách thuận lợi. Dù thế nào chăng nữa, khi đã đạt đến quả vị Tu-đà-hoàn, hành giả đã hoàn toàn thoát khỏi các định kiến về giáo điều và có một cái nhìn cực kỳ minh bạch và thấu đáo. Điều này được gọi là "**Dassanaṭṭha**" (Tuệ thấy - Hãy xem thêm mục **Yathindakhīlo**). 2. Mặc dù **Nhị đạo (Sakadāgāmi-magga)** không có nhiệm vụ riêng biệt là nhổ tận gốc rễ một loại phiền não nào mới, nhưng nó phải huân tập để làm cho Tham, Sân... trở nên yếu ớt nhất có thể. Ở điểm này, đa số mọi người thường nghĩ rằng: "Bậc Tư-đà-hàm (vì không diệt trừ thêm loại phiền não nào đặc biệt) nên cũng không khác gì bậc Tu-đà-hoàn". Nhưng không phải vậy. Giống như lớp vỏ cây mỗi năm lại dày lên một vòng, lõi gỗ bên trong càng lúc càng trở nên rắn chắc và già dặn hơn; dù nhìn bề ngoài có vẻ không khác biệt mấy nhưng sự trưởng thành về cốt lõi của Pháp thì hoàn toàn không giống nhau. Tham và Sân của bậc Tư-đà-hàm (dù chưa được nhổ tận gốc) nay chỉ còn khởi lên rất hiếm hoi và không còn đủ sức mạnh để dẫn đến các hành vi lỗi lầm nữa... ## TRANG 589 Trong **“Chú giải Bộ Phân Tích Đạo”** (*Paṭisambhidāmagga Aṭṭhakathā*, Tập 1, trang 257 - phần Giải thích về Đạo trí), có một sự lý giải rất đặc biệt. Ở bậc **Nhất Lai** (*Sakadāgāmī*), “chuyện ấy” (những thô thiển của tham dâm và sân hận) không còn nữa. 3. **Bất Lai Đạo** (*Anāgāmi-magga*) diệt trừ tận gốc sân hận và nén chặt tham ái cho đến khi chúng trở nên yếu ớt. 4. Chỉ khi đạt đến **A-la-hán Đạo** (*Arahatta-magga*), hành giả mới có thể tận diệt hoàn toàn tham và si. (Đây chỉ là cách trình bày khái quát). Ví như người phát rẫy làm nương, tùy theo sức của công cụ mà đào được những rễ nào thì đào; còn những cây đại thụ chưa thể đào gốc ngay được thì phải dùng cách đốt lửa, chặt cành, lột vỏ trước để chuẩn bị cho việc nhổ tận gốc về sau. **Nhân vật tư tưởng gây khổ lụy** Với những hành giả có kiến thức pháp học (*pariyatti*), những diễn biến trong các giai đoạn của **Bảy bước Thanh tịnh** (*Visuddhi*) hay các tầng Tuệ minh sát (*Ñāṇa*) thường rất thú vị. Tương tự như vậy, nếu có thể nhận diện được những trạng thái trỗi dậy, phản kháng liều lĩnh của các phiền não ngủ ngầm (**Anusaya**) cần phải bị đoạn tận khi tiến lên bốn tầng Thánh Đạo, thì sẽ thấy hương vị Pháp bảo thật là sâu sắc. Bà Daw Shwe Yi đã khơi dậy cơn sân hận của ông U Kyaw Din một cách dữ dội ở giai đoạn thứ hai. Nhờ có khả năng nhẫn chịu trước sự khiêu khích đó mà ông đã chiến thắng được cơn sân thô thiển và tiến lên tầng thánh thứ hai. Xét phương diện này, bà Daw Shwe Yi quả là người đáng cảm ơn. Mười kẻ thù phiền não đã ngủ ngầm và hành hạ chúng ta suốt vòng luân hồi, khi bị bốn vị tướng quân (bốn tầng Đạo) lần lượt kết liễu theo từng đợt, chúng không thể cứ ẩn nấp hay trốn tránh mãi được. Bằng cách này hay cách khác, chúng phải lộ diện; và trước khi bị xử trảm trước mặt vị tướng quân, cách chúng vùng vẫy khi bị trói buộc, cách chúng dốc hết tàn lực để chống trả, đấm đá, và cuối cùng khi không thể làm gì khác hơn là phải đưa cổ chịu khuất phục... tất cả đều là những hình ảnh vô cùng thú vị và làm hiển lộ sự vận hành của trí tuệ. Gã hung đồ “Tà kiến luân hồi” khi sắp bị đưa lên đoạn đầu đài của **Sơ Đạo** (*Sotāpatti-magga*), mỗi khi được Tham ái đồng lõa, gã liền xoay trở đủ kiểu: lúc thì muốn làm thí chủ hộ độ giáo pháp, lúc thì muốn làm vị cứu tinh nguyện thành Phật, lúc lại muốn làm bậc thầy đắc đạo, hay muốn làm đại gia trí thức, thậm chí muốn bay liệng trên không trung... gã cuống cuồng biến hóa khôn lường. Đó chính là cách thức mà **Tà kiến** (*Diṭṭhi*) vùng vẫy trước khi bị diệt. Nói tóm lại, hành giả có thể tự mình nhận biết điều này. Như việc nhận biết sự sanh diệt của danh sắc theo đúng thời điểm trong tiến trình Thiền định, tiến trình Thanh tịnh và tiến trình Tuệ giác; và trong sự sanh diệt đó, ## TRANG 590 người ta thường thấy sự xen lẫn của những ý niệm về chế định như người, trời, chúng sinh... Tương tự, trong bốn tầng Thánh Đạo, hình thái của sự kích động và phản kháng của các bản chất danh sắc sẽ hiển lộ vô cùng rõ rệt trước nhãn quan của trí tuệ. Chúng ta nên nỗ lực để có thể giảng giải chi tiết như cách ngài Xá-lợi-phất (*Sāriputtra*) đã thuyết giảng về các tầng tuệ. **Tiếng sét trước mặt ông U Kyaw Din** Một tháng sau khi đạt đến tầng thứ hai— “Vào khoảng 10 giờ đêm thứ Hai, ngày 13 tháng 8 âm lịch (tháng Tawthalin) năm 1282 Miến lịch, ông chứng ngộ Niết-bàn lần thứ ba (đắc quả Bất Lai). Ngay trước 10 giờ, các gân kheo trên toàn thân ông đột ngột co rút lại như thể sắp đứt lìa, ông phải cam chịu một nỗi đau đớn cực kỳ khốc liệt. Sau này ông từng kể lại rằng: ‘Lúc đó nếu chịu đựng được thì qua, không chịu được thì bật ngược lại; vượt qua được đoạn này tôi mới dám tùy hỉ (Sādhu)’.” Ở giai đoạn này, thường có những cách diễn đạt mang tính vật lý về việc điều gì xảy ra trong cơ thể hành giả, nhưng chúng ta không nên quá bận tâm vào những lời đó. Vật chất không phải là yếu tố tiên quyết. Nếu cứ nhất quyết bám vào những biểu hiện vật chất không cốt lõi đó mà cho rằng “phải xảy ra như vậy mới là đắc quả Bất Lai” thì sẽ tạo ra một định luật áp đặt không cần thiết. Ngày hôm sau, một tiếng sét cực mạnh giáng xuống ngay trước mặt ông U Kyaw Din. Nhưng ông không hề rúng động, không kinh hãi. Sự tức giận, run sợ hay hốt hoảng chính là tính chất của Sân. Ông U Kyaw Din nay đã diệt trừ tận gốc tâm Sân. Tiếng sét ấy giống như một sự xác nhận rằng ông đã đạt đến tầng thánh đó. Tiếng sét này quả thật giống như thiên lôi của Thiên chủ Sakka. Đúng như câu nói “Giáo pháp là dòng nước ngược dòng” (hướng thượng), nếu giáo pháp đã thực sự an vị trong tâm khảm thì hành giả sẽ chỉ có tiến lên những tầng cao hơn, thanh khiết hơn. Không bao giờ có chuyện thối thất hay sụt giảm như những của cải thế gian. **Đời sống và môi trường thế tục nóng bỏng như chết đi được** Sau khi đạt tầng thứ ba, ông U Kyaw Din tiếp tục nỗ lực hành trì. Khi nhìn thấy những lời ăn tiếng nói, cách làm việc và lối sống sinh hoạt hằng ngày của người đời, ông càng thấy ## TRANG 591 kinh hãi và khiếp sợ hơn. (Sự khiếp sợ này không phải là tâm Sân, mà là **Kinh cụ trí** (*Bhayatupaṭṭhāna-ñāṇa*) - một loại trí tuệ nhận thức rằng: “Ồ, tất cả đều đáng sợ thay!”). Giống như người đi sâu vào một đường hầm dài dặc, càng vào sâu càng cảm thấy hơi lạnh và càng không thể chịu nổi sức nóng bên ngoài. Ông U Kyaw Din bắt đầu chán ghét đời sống cư sĩ và khao khát được xuất gia. Tuy nhiên, việc xuất gia lúc bấy giờ không hề dễ dàng. Trong sách **Mi-lan-đà Vấn Đạo** (*Milindapañhā*) có chép: “Nếu một người cư sĩ đắc quả A-la-hán, người đó phải xuất gia ngay trong ngày hôm đó; nếu không xuất gia được thì phải nhập **Niết-bàn** (viên tịch) ngay ngày hôm ấy.” Qua đó có thể thấy các bậc Thánh thanh tịnh, mát mẻ đến nhường nào, và đời sống cùng môi trường của kẻ phàm phu thiêu đốt đến mức nào. Sức nóng đó thực sự có thể gây chết người. Bàn thêm một chút về vấn đề này, sách **Mi-lan-đà Vấn Đạo** giải thích là do hình tướng cư sĩ quá yếu ớt (**Liṅgadubbala**), không đủ sức gánh đỡ phẩm hạnh và quả vị cao thượng đó, kèm theo nhiều ví dụ minh họa. Tuy nhiên, lời trong sách *Milindapañhā* có vẻ chưa chạm đến cái gốc của vấn đề. Theo quan điểm của chúng tôi, điểm mấu chốt nằm ở sự khác biệt quá lớn giữa năng lực của Pháp, giữa cái nóng phiền não và cái lạnh giải thoát. (Xem thêm *Sammohavinodanī Aṭṭhakathā*, trang 505...) Đời sống (uẩn) của một bậc **A-la-hán** đã hoàn toàn sạch bóng hơi nóng phiền não, tràn đầy trạng thái tịch tĩnh của pháp **Vô vi** (*Asaṅkhata*). Một vị đã có được một phần tư năng lực Vô vi (**Bậc Dự Lưu**) đã cảm thấy chán ghét y phục, đời sống và môi trường cư sĩ hết một phần tư rồi. Bản chất giới tính (phần tử) đã không còn đồng nhất nữa. Những người tâm tính thấp kém thường không thích đến chùa, nếu có đến cũng không muốn ở lại lâu. Các vị Chư Thiên, Phạm Thiên khi xuống thế gian, ngay cả trước mặt Đức Thế Tôn, họ cũng thường chỉ đứng mà thôi. Tương truyền rằng mùi của con người xông lên đến tận một do-tuần (yojana). Bậc **Dự Lưu** dù không tự tuyên bố “Ta là bậc Dự Lưu”, nhưng tâm họ tuyệt nhiên không còn ý muốn giết hại dù chỉ là một con kiến, con mối. Giống như loài ruồi không dám đậu lên một khối sắt đang nung đỏ, họ tự nhiên tách biệt khỏi năm điều ác nghiệp (ngũ giới). Đó là bản chất tự nhiên của Pháp. Bậc **Bất Lai** sau khi thân hoại mạng chung không còn tái sinh ở cõi người hay cõi trời dục giới, mà chỉ sinh về cõi Phạm Thiên. Ngay cả Đức Phật cũng không muốn luôn luôn ở cùng với các vị Tỳ-kheo. Pháp **Vô vi Niết-bàn** (*Asaṅkhata Nibbāna*) có một năng lực đặc biệt là có thể dập tắt và đẩy lùi những hơi hướm và ảnh hưởng của bất thiện (**Nissaraṇapahāna**). Thủy ngân không thể ở gần lửa. Những nhân vật như Đề-bà-đạt-đa (*Devadatta*), nàng Ciñcāmāṇavikā hay Tỳ-kheo Kokālika không bị đất rút ngay trước mặt Đức Phật, cũng không bị phát tác ghẻ lở ngay lúc đó. Chỉ khi đi khuất mắt ngài, những quả báo đó mới xảy ra. Đây có thể gọi là tính chất “Viễn ly đoạn” (*Nissaraṇapahāna*) của pháp **Vô vi**. Tóm lại, đó là đặc tính phân định ranh giới của trạng thái tịch tĩnh Vô vi vậy. ## TRANG 592 Ông Kyaw Din rất muốn xuất gia, nhưng cơ duyên vẫn chưa thuận lợi. Ông chỉ biết kiên trì hành trì pháp niệm. Càng hành trì sâu rộng, ông càng nhìn thấy rõ ràng những kẻ đại thù của cuộc đời. Ông nhận ra rằng **Tham (Lobha)** chính là tên cầm đầu chủ chốt. Khi ông dùng chánh niệm Xúc-Tri (Thiết-Tri) để chế ngự, ông thấy tham ái càng lúc càng xa rời, càng yếu ớt và tiêu nhỏ dần. Tiếp tục truy tìm kẻ thù, ông thấy rằng kẻ thù gần gũi nhất theo khái niệm thế tục chính là người vợ chung sống bên cạnh, con cái và của cải tài sản. Ông suy nghĩ: "Phải trả cho xong những món nợ này rồi mới đi được", và quyết định sẽ khẩn thiết thuyết phục bà Daw Shwe Yi. "Này Shwe Yi, giữa tôi và bà có duyên lành từ vòng luân hồi nên mới gặp được nhau. Từ giờ phút này, mong bà đừng trả nợ cho tôi nữa, và cũng xin cho tôi được thôi trả nợ cho bà. Tôi xem bà như em gái ruột, bà cũng hãy xem tôi như anh trai ruột mà sống với nhau nhé. Sau đó, xin bà hãy cho phép tôi được xuất gia thành tỳ-kheo." "Anh Kyaw Din, chuyện nợ nần như anh nói thì thôi cứ bỏ qua đi, tôi không tính toán nữa. Nhưng anh đừng đi đâu cả, cũng đừng đi tu. Cứ ở trên gian nhà chính trị để tôi được hầu hạ, cung phụng như một người anh lớn. Một ngôi nhà mà không có người đàn ông thì không trang trọng chút nào, người ngoài cũng chẳng nể trọng đâu." Qua những lời trao đổi ấy, ông Kyaw Din nhận thấy ý nguyện của mình vẫn chưa thành. Ngày qua ngày, ông chỉ biết sống trong khổ tâm. Ông không biết phải làm sao để thoát khỏi đời sống gia đình khi mà tình nghĩa vợ chồng đã đoạn tuyệt nhưng vẫn chưa thể dứt khoát về mặt hình thức. Ông lại còn lầm tưởng rằng "phải có sự cho phép của vợ thì mới được xuất gia". Nhìn thấy mọi người làm lụng cực lực chỉ vì một miếng ăn, ông hầu như không thấy công việc nào là "vô tội", và ông cảm thấy vô cùng sợ hãi cuộc đời nhân sinh này. "Thôi thì... nếu xuất gia được thì xuất gia, bằng không tôi sẽ giả làm người điên vậy," ông quẩn quanh với những ý nghĩ kỳ quặc. "Khâu một cái bao tải lớn, khoét ba lỗ để thọc đầu và hai tay vào mà mặc. Vừa làm quần áo, vừa làm chỗ nằm, thật tiện lợi. Đến giờ ăn thì cầm một cái bát đi khất thực từng nhà." Trước đó, người ta đã gọi ông Kyaw Din là kẻ điên. Giờ chính ông cũng nghĩ đến việc làm người điên. Ông cho rằng chỉ có như vậy mới có thể hành trì pháp một cách tự do tự tại. ## TRANG 593 Nhưng vì không thể thực sự trở nên điên dại, ông lại một lần nữa xin phép bà Daw Shwe Yi, nhưng vẫn không được. Ông Kyaw Din lâm vào cảnh ăn không ngon, ngủ không yên, ngày càng trở nên gầy mòn, chỉ còn da bọc xương. Không đành lòng nhìn thấy tình cảnh của ông, dân làng lân cận cũng xúm lại khuyên nhủ bà Daw Shwe Yi giúp, nhưng bà vẫn khăng khăng. "Thà để ông ấy chết đi còn hơn. Chứ bây giờ thấy ông ấy trong bộ dạng sư sãi, tôi sẽ không bao giờ thấy bình an được," bà kiên quyết giữ ý định của mình. Dù chưa mặc bao tải, nhưng với mái tóc và bộ râu dài, quần áo lem luốc, đôi má hóp sâu, ông Kyaw Din trông chẳng khác nào một người điên thực sự. Nhờ sự giúp đỡ nhiệt tình của dân làng, cuối cùng bà cũng đồng ý cho ông xuất gia trong vòng mười lăm ngày. Ông vui mừng khôn xiết. "Phải rồi, phải rồi, vui mừng quá Shwe Yi ơi. Nếu tôi không có ba-la-mật, không thấy an vui trong đạo thì chưa đến mười lăm ngày, tôi sẽ trở về ngay. Còn nếu có ba-la-mật, thấy an vui thì xin cho tôi tiếp tục được ở lại." "Thôi được rồi. Nhưng trước khi đi tu, hãy ra đồng gieo nốt mấy rổ đậu trên những đường cày còn bỏ dở kia đi." ### Hai con bò và vị sư dựng ngược cày Vào ngày 5 tháng sau rằm tháng Thadingyut năm 1282 (Miến lịch), ông Kyaw Din dắt bò ra đồng để gieo đậu. Khi ra đến ruộng, ông thúc bò bắt đầu đường cày nhưng hai con bò cứ đứng ngẩn ra, hết nhìn sang bên này lại nhìn sang bên kia mà không chịu bước. Dù ông có quát "Hê!" để thúc giục, chúng vẫn không tiến lên, cứ nhìn quay lại như muốn nói điều gì đó với ông. "Thường ngày hai 'vị ân nhân' này chẳng cần thúc giục cũng tranh nhau kéo, vậy mà giờ lại đứng trơ ra ngăn cản tôi. Hèn chi, chuyện của chính mình mà mình không tự quyết định được, thì trí tuệ của mình phái có ích gì đâu?" Một ý nghĩ chợt lóe lên, ông Kyaw Din bước xuống khỏi cày, tháo dây buộc cổ bò rồi dựng ngược cái cày lên trời. "Này, giữa các ngươi và ta, từ nay đoạn tuyệt nợ nần. Hãy đi đến nơi nào các ngươi muốn. Ta trả tự do cho các ngươi!" Nói đoạn, ông thả hai con bò đi. Sau đó, ông tìm đến thiền viện của Ngài U Wiriya (còn gọi là Ngài U Kyauk Kyaung). Trên đường đi, ông gặp bà Daw Tin. Khi nghe ông nói định đi đắp y xuất gia, bà bảo: "Này Maung Kyaw Din, nếu vậy thì nhà tôi còn một tấm y vai trái (Ekathi) cũ từ hồi Maung Tar làm Sa-di lớn, ông hãy lấy mà dùng. Đừng để Shwe Yi biết." Nhờ tấm y Ekathi của bà Daw Tin cúng dường và tấm y nội (Antaravasaka) của Ngài U Wiriya ban cho, ngay trong ngày hôm đó, ông Kyaw Din đã trở thành Sa-di lớn mang pháp danh **Shin Kawi**. Người dân còn gọi ông là "Vị sư xuống đồng" hay "Vị sư dựng ngược cày". ## TRANG 594 Giờ đây, Sa-di Shin Kawi mới thực sự cảm thấy thân và tâm, bên trong và bên ngoài, hình tướng và ý nguyện đã hoàn toàn hợp nhất. Ông có cơ hội hành trì **Niệm Hơi Thở (Anapanasati)** theo đúng tâm nguyện của mình. Ở đoạn này, liên quan đến việc hành trì Niệm Hơi Thở để thăng tiến từ quả vị A-na-hàm lên A-la-hán, có một điểm đáng suy ngẫm trong kinh "Anapanassati Samyutta Kotthika Sutta". Trong kinh này, Tôn giả Kotthika vốn đã là bậc A-na-hàm, khi hành trì pháp Niệm Hơi Thở có 5 giai đoạn, Tôn giả chỉ mới thực hành ở mức "An trú chánh niệm là giai đoạn đầu". Mãi đến khi được Đức Thế Tôn khuyến khích tu tập trọn vẹn bốn bậc thiền theo trình tự và kết hợp với các pháp Minh sát như Quán vô thường (Aniccanupassi), Tôn giả mới đắc quả A-la-hán. Điều này cũng hàm ý rằng chỉ cần hành trì ở mức "An trú chánh niệm là giai đoạn đầu" cũng có thể đạt tới quả vị A-na-hàm. Đây là điểm để các bậc trí giả cùng suy xét. Năm ngày sau khi ông Kawi xuất gia Sa-di, người bạn của ông là U Shwe Loke cũng đi theo và xuất gia với pháp danh **Shin Wijaya**. (Như đã trình bày trước đó) Đúng một tháng sau khi đắc quả A-na-hàm, tại hang Maung Yin Paw, ông đã chứng đắc A-la-hán quả, trở thành bậc Thánh A-la-hán. Vào ngày rằm tháng Thadingyut năm 1281, ông Kyaw Din đã dâng cúng một ngàn ngọn đèn, và đến tháng Tabaung năm đó, ông đã dựng rạp cúng dường đức Phật. Chỉ nhờ nghe được một phần pháp **Anapanasati** mà ông đã nỗ lực hành trì như "người thợ săn học bắn". Vào khoảng 10 giờ đêm, các ngày 13 sau rằm các tháng Waso, Wagaung, Tawthalin và Thadingyut năm 1282, mỗi tầng thánh quả cách nhau đúng một tháng, ông đã dựng lên lá cờ chiến thắng của bốn tầng Thánh giả. Ở tuổi 43, trong hình tướng một vị Sa-di lớn, ông đã hoàn tất "việc cần làm của vị sa-môn". Còn bài học nào về con đường Thánh đạo đáng để chúng ta ngưỡng mộ hơn tấm gương của ông Kyaw Din? ### Thọ thực thiên thực và sự kiểm chứng giáo pháp Tại ga Meiktila, đoàn xe lửa từ Myingyan vừa tiến vào ga. Chỉ còn 30 phút nữa là đúng 12 giờ trưa. Có hai vị sư và hai người cư sĩ bước xuống xe... ## TRANG 595 Hai vị xuống xe. Hai người thí chủ lo lắng vì trời đã gần trưa, sợ trễ việc thọ thực của hai vị tu sĩ (Shin). “Này Ko-yin Vijaya, đi đến chùa thì chuyện bát khanh (cúng dường) chưa chắc đã sẵn, thời gian lại sắp đến rồi. Trong khi còn kịp, chúng ta hãy đi khất thực thôi,” vị Ko-yin lớn tuổi là **Shin Kavi** nói như vậy... “Vậy thì Đại đức (Ko-yin lớn) hãy đi trước,” nói rồi cả hai cùng xuống xe ngựa và đi khất thực. Tại ngôi nhà đầu tiên họ dừng lại, có một người thí chủ đang đi tới đi lui trước cửa. Vừa thấy hai vị Ko-yin, người này vui mừng khôn xiết, cung thỉnh họ lên nhà. Anh ta hồ hởi gọi vợ con ra để cùng đặt bát cúng dường. Họ đã chuẩn bị sẵn sàng và chờ đợi suốt hai tiếng đồng hồ rồi. Chủ nhà là một người Ấn Độ (Kula), làm trưởng ga xe lửa, còn người vợ là người Miến Điện. Trong khi cúng dường, người vợ khẽ chạm tay gọi chồng ra chỗ khuất rồi thì thầm: “Này ông, hai vị sư này là Ko-yin lớn thôi. Đâu phải là Tỳ-kheo (Bhikkhu) đâu.” “Ôi dào, sao cũng được! Được cúng dường đúng như giấc mơ của tôi là tôi mãn nguyện lắm rồi,” người chồng đáp lại rồi quay lại đứng gần bàn ăn với lòng đầy kính tín. Niềm tin từ giấc mơ và sự chờ đợi suốt hai tiếng đồng hồ trước cửa nhà cuối cùng đã được đền đáp xứng đáng. Sau khi thọ thực xong, họ tiếp tục lên đường đến gặp Ngài Sayadaw chùa Re-le (Thủy Trung), một bậc đa văn túc học danh tiếng tại thành phố Meiktila. Nhờ sự thưa thỉnh và đưa tin của **U Phyo Tha** và thư ký **U Ba San** từ Myingyan mà Ngài Re-le Sayadaw đã gửi lời cung thỉnh. Đêm trước đó, Ngài Sayadaw cũng nằm mơ thấy “hai thăng tượng trắng từ trên trời bay vào chùa.” Khi tận mắt thấy **Shin Kavi** và **Shin Vijaya** quang lâm, Ngài hết sức vui mừng và sắp xếp chỗ nghỉ ngơi chu đáo. Vừa mới đến nơi, Ngài Re-le Sayadaw đã hỏi thăm những lời xã giao (ālapa-sallāpa). Qua những lời đối đáp đầy oai nghi, Ngài hoàn toàn tin tưởng rằng đây chính là các bậc ‘A-la-hán’ và hoan hỷ đồng thanh Sa-thú (Sādhu). Người thí chủ trưởng ga cũng đứng dưới sàn chùa lắng nghe cuộc đàm đạo. Khi nghe xác nhận họ đúng là các bậc “A-la-hán”, anh không kịp đợi câu chuyện kết thúc mà vội vã chạy tức tốc về báo tin cho vợ. Ngài Re-le Sayadaw để **Shin Kavi** và **Shin Vijaya** nghỉ ngơi, sau đó để có thể phát khởi đức tin một cách chuẩn xác theo kinh điển, Ngài đã tiếp tục chất vấn như sau. **U Phyo Tha** và **U Ba San** cũng đứng gần đó lắng lòng nghe với niềm kính tín. [Ghi chú: Hãy chú ý đọc để thấy những câu hỏi này khó trả lời như thế nào đối với một người không biết chữ.] ## TRANG 596 Hỏi: Này **Shin Kavi**, trong ba cõi (ti-bhūmaka), ai là kẻ xây dựng ngôi nhà (thân xác)? Đáp: Bạch Ngài, chính là **Ái dục (Taṇhā)** xây dựng ạ. Hỏi: Các **hành trong ba cõi (tebhūmaka saṅkhāra)** có hạt giống từ đâu? Đáp: Bạch Ngài, **Vô minh (Avijjā)** chính là hạt giống ạ. Hỏi: Sự sanh làm người là do thiện nghiệp (kusala) hay bất thiện nghiệp (akusala)? Đáp: Bạch Ngài, sanh làm người là do cả thiện và bất thiện nghiệp ạ. Hỏi: Thiện nghiệp là lạc (sukha) hay là khổ (dukkha)? Đáp: Bạch Ngài, (thông thường) nói thiện là lạc, nhưng thực chất cũng là khổ ạ. Hỏi: Hạnh phúc của người và trời (nhân thiên lạc) có thực sự hiện hữu không? Đáp: Trong phạm vi hữu vi (saṅkhata), nó thực sự có; nhưng theo nghĩa chân đế (paramattha) thì không có ạ. Hỏi: Có cá nhân chịu khổ địa ngục, có cá nhân hưởng lạc thiên giới không? Đáp: Bạch Ngài, không có ạ. Hỏi: Trong thế gian này có người chịu khổ và người hưởng lạc, vậy gọi cái nào là đúng? Đáp: Bạch Ngài, cả hai cách gọi đều đúng ạ. Hỏi: Vậy hai thứ đó được gọi là gì? Đáp: Bạch Ngài, đó gọi là **Danh và Sắc (Nāma-Rūpa)** ạ. Hỏi: Trong thế gian có kẻ giết và người chết không? Đáp: Bạch Ngài, có ạ. Hỏi: Nói là có thì phải ghi nhớ như thế nào? Đáp: Bạch Ngài, chỉ là **Danh và Sắc** thôi ạ. Hỏi: Sát sanh thì bị đọa địa ngục là điều đúng thật phải không? Đáp: Bạch Ngài, đúng thật ạ. Hỏi: Nếu đúng thì cái gì được gọi là cái đúng thật đó? Đáp: **Danh và Sắc** chính là kẻ đọa địa ngục, và cũng chính chúng là thực thể chứng đắc Niết-bàn ạ. Hỏi: Quan niệm có kẻ giết người chết, và quan niệm không có kẻ giết người chết; trong hai thứ đó, cái nào gọi là Chánh kiến (sammā-diṭṭhi), cái nào gọi là Tà kiến (micchā-diṭṭhi)? Đáp: Bạch Ngài, nếu ngoài **Danh và Sắc** mà cho rằng có hay không có thì cả hai đều là Tà kiến ạ. Hỏi: Để trở thành Chánh kiến thì phải quan niệm như thế nào? Đáp: Bạch Ngài, nếu thấy chỉ có **Danh và Sắc** hiện hữu thì đó là Chánh kiến ạ. Hỏi: Người không biết về **nghĩa Chân đế (Paramattha)** thì liệu có thể viên mãn **Mười Pháp Ba-la-mật (Pāramī)** không? Đáp: Bạch Ngài, không thể viên mãn được ạ. Hỏi: Giữa **Chế định (Paññatti) và Chân đế (Paramattha)**, người chỉ biết Chế định có đắc được Đạo (Magga) không? ## TRANG 597 Đáp: Bạch Ngài, không thể đắc được ạ. Hỏi: Giữa **Chế định và Chân đế**, cái nào gọi là sự thật (chân lý)? Đáp: Bạch Ngài, chỉ có **Chân đế** mới được gọi là sự thật thôi ạ. Hỏi: Giữa Tà kiến và Chánh kiến, khi nào thì được gọi là Chánh kiến? Đáp: Bạch Ngài, kể từ khi thoát ly khỏi **Thân kiến (Diṭṭhi)** và **Hoài nghi (Vicikicchā)** thì trở thành Chánh kiến ạ. “Hừm... Sa-thú, Sa-thú (Lành thay)! Thật là đúng đắn và cao thượng thay, **U Kavi**! Những yếu tính tự nhiên này quả thực rất khó thấu hiểu, **U Kavi** ạ. Từ nay trở đi, bần đạo cũng muốn nỗ lực hành trì theo phương pháp và sự hướng dẫn (nissaya) của **U Kavi**. Để các thiện nam tín nữ có thể đóng cánh cửa ác đạo, hai vị **U Kavi** hãy tạm trú lại đây hết mùa an cư này nhé,” Ngài Re-le Sayadaw ngỏ lời... “Bạch Ngài, chúng con cũng đang trong lúc tìm cầu một bậc **Thầy nương tựa (Nissaya Sayadaw)** để gửi gắm, nghe lời Ngài dạy như vậy chúng con hết sức vui mừng,” sau khi thưa thỉnh, **U Kavi** và **U Vijaya** đã cùng lưu trú và tu hành tại chùa Re-le. ### Ngài Re-le Sayadaw đi sai đường luyện kim (alchemy) Ngài Re-le Sayadaw dường như là bạn đồng môn với Ngài Nyaung-lun Sayadaw, họ rất thân thiết. Ngài là bậc uyên bác kinh điển, cũng có hành thiền Minh sát (Vipassanā). Tuy nhiên, Ngài thường tụng niệm các lời sấm truyền (tabaung) và dấn thân vào việc luyện kim thuật (alchemy/pho). Ngài đã đi theo phương diện thế tục. Trong việc hành thiền, dường như Ngài cũng nôn nóng muốn đạt được **Thiền định và Thần thông (Jhāna-Abhiññā)**. Một ngày nọ, Ngài giảng giải về cách tu tập **Mười biến xứ (Kasiṇa)** theo đúng kinh điển cho **U Kavi** và bảo ông hãy quán chiếu mười loại biến xứ này. Cách tu tập biến xứ này bao gồm việc quán chiếu thuận nghịch (anuloma-paṭiloma) qua lại theo nhiều cách, theo ngôn ngữ kinh điển thì dường như rất khó khăn. Tuy nhiên, **U Kavi** chỉ mất một ngày để quán chiếu mười biến xứ và quay lại trình bày những gì mình chứng nghiệm được. Lúc đó, Ngài Sayadaw lại bảo **U Kavi** quan sát các trạng thái ngoại cảnh (**bahiddha**) khác nhau: “Liệu có vị thí chủ nào sẽ đến tu sửa bảo tháp Shwe Myin Tin, nơi được dùng làm đài quan sát hỏa tiêu cạnh bờ hồ Meiktila hay không?” Ý nghĩa của lời sấm truyền: “Khi ao cạn thì chim đậu, chim đậu thì lập ruộng, lập ruộng thì xuống cày.” Ngài cũng hỏi về ý nghĩa của các lời sấm: “Hơn hai ngàn năm cũ, giá rẻ hãy tranh mua. Qua năm ngàn năm ấy, vải đóng chẳng tìm ra.” (Lời tiên tri về sự khan hiếm giáo pháp/vải y sau 5000 năm). ## TRANG 598 ## TRANG 599 Ngài U Kavi đang phải giải thích: "Thưa ngài U Kavi, hồ Inle đang hiện ra ngay trong hồ Meiktila. Có lời sấm truyền rằng: 'Tại vùng Meiktila, bốn hồ sẽ hiện lên, hơn tám vạn bậc thượng đồ (Vijjā) sẽ xuất thế, ai muốn đắc đạo hãy bước vào lò luyện (phù thổ)'." Khi ngài U Kavi hỏi ý nghĩa lời sấm ấy, vị Thiền sư (Yeled Sayadaw) đáp rằng đó là ám chỉ bốn loại minh sư: Thuốc (Say-vijjā), Bùa chú (Inn-vijjā), Thủy ngân (Pyadā-vijjā), Chú thuật (Mann-vijjā) và lò luyện nhục thân. Khi ấy ngài U Kavi bạch rằng: "Bạch ngài, bậc Thượng đồ ở đây là bậc Thánh (Ariya Vijjā), còn lò luyện chính là lò luyện hơi thở (Anapana)." Vị Thiền sư Yeled Sayadaw nghe vậy liền phán: "Đúng, đúng vậy! Chỗ này quan điểm của tôi chỉ sai biệt một chút xíu thôi." Cái "một chút xíu" ấy không hề nhỏ. Đó là sự khác biệt giữa một kẻ mong cầu thần thông (Thwet-yat-pauk) và một vị A-la-hán, hai thực thể không thể nào kết nối được với nhau. Kể từ đó, vị Thiền sư Yeled như thể vừa được tẩy sạch một loại độc tố nguyên tử xâm nhập qua không khí (dù ngài giỏi kinh điển và đang hành thiền). Ngài nhận ra tâm mình đã bị những mục tiêu thế gian lôi kéo lúc nào không hay, liền dứt khoát từ bỏ mọi loại linh đơn và lò luyện phù thuật. ### Ma vương hiện hình sau khi đắc Kasiṇa Như đã kể, sau khi ngài U Kavi tu tập Kasiṇa thành công, vị Thiền sư Yeled cứ liên tục hỏi về những chuyện thế gian. Đối với các bậc Thánh, việc phải sống trong các dục lạc thế gian là một phần của Khổ đế nên các ngài vô cùng nhàm chán. "Bạch ngài, con không muốn tu tập thêm các pháp Kasiṇa nữa. Nếu cứ tiếp tục, e rằng lát sau có người mất người, mất bò cũng đến nhờ xem giúp, lúc đó con lại thành một ông thầy bói mất thôi," ngài U Kavi cung kính thưa. Đêm đầu tiên sau khi đắc Kasiṇa, ngài U Kavi nghe thấy một giọng nói vô hình hỏi: **"Ñāṇadassanaṃ vividhaṃ"**. Ngài đáp: **"Ñāṇadassanaṃ"** là Tuệ kiến, **"Vividhaṃ"** là đa dạng, sai biệt. Giọng nói ấy thốt lên "Lành thay" (Sādhu) rồi biến mất. (Thời nay cũng có kẻ nghe lõm bõm vài câu Pali rồi tự xưng tụng, hãy cẩn trọng). Một đêm khác, ngài lại nghe tiếng: "Hãy buông bỏ mạng căn (Āyusaṅkhāra)". Ngài U Kavi đáp lại: "Ta không buông!" "Buông bỏ mạng căn" nghĩa là không còn lo nghĩ, chăm sóc cho sự sống nữa, như một người bệnh buông xuôi ý chí. Khi ngài bạch chuyện này với Thiền sư, ngài hỏi: "U Kavi, ông có buông mạng căn không?" "Bạch ngài, con không buông." "Đừng buông nhé U Kavi. Chúng vẫn đang thử thách ông đấy, chúng sẽ còn quay lại. Hãy cảnh giác." Quả nhiên vài ngày sau, một thực thể hiện thân rõ rệt nói: "Bạch ngài, xin ngài đừng thuyết pháp Tứ Diệu Đế nữa." Ngài U Kavi đáp: "Ta vẫn sẽ thuyết." "Ngài... nói mà không nghe sao?" giọng nói trở nên hung hăng. Ngài Kawi liền nhiếp tâm rải tâm từ (Mettā). Một lát sau, ngài hỏi: "Ngươi không nhận được tâm từ ta gửi sao?" Ngài nghe tiếng đáp trong đau đớn, tuyệt vọng: "Bạch ngài, con nhận được." "Chúng sinh rồi sẽ giải thoát hết mất thôi," kẻ ấy than vãn rồi biến mất. Khi nghe chuyện, vị Thiền sư muốn biết rõ danh tính kẻ đó nên bảo: "U Kavi, hãy thử quan sát xem. Nếu ông dụng tâm sẽ thấy hắn là ai." Sau khi định tâm, ngài U Kavi bạch: "Không phải Ma vương (Māra) ạ, chỉ là một kẻ trong hàng tùy tùng thân cận của hắn thôi." Sau đó vài ngày, chúng lại đến. Lần này vào lúc đêm khuya, là hai cô gái cài hoa đỏ trên đầu. "Này các nữ thí chủ, đêm hôm khuya khoắt đến đây có việc gì?" Ngài quát đuổi và chúng liền biến mất. Này các hành giả, mưu kế của Ma vương rất đa đoan. Hãy tỉnh táo và chỉ nuôi dưỡng tâm nguyện muốn thoát ly khỏi thế gian này. ### Thiền sư Nyaung Lunn vấn đạo về cách chứng Thiền Giữa vị Thiền sư Yeled và Thiền sư Nyaung Lunn Taw Ya có lời hẹn ước: "Nếu ai đắc Pháp thì phải báo cho nhau biết". Do đó, khi nghe tin về ngài U Kavi, ngài Nyaung Lunn đã lặn lội đến Meiktila để thẩm vấn. Ngài U Kavi xin được hỏi tách bạch: chuyện thế gian ra thế gian, chuyện xuất thế gian ra xuất thế gian. ## TRANG 600 Ngài xin chia ra mỗi ngày hỏi một loại pháp. Một số vị cao tăng thông tuệ kinh điển từ khắp nơi cũng không tin rằng một người không biết chữ lại có thể đắc Pháp nên họ đã tra vấn dồn dập, dùng những lời lẽ hạ thấp khiến bản thân mang trọng tội. (Về chi tiết các kỹ năng hành đạo của ngài U Kavi dù không biết chữ, xin xem ở phần phụ lục). Việc thẩm vấn này chủ yếu là để họ có thể thực sự hoan hỷ và kính tin nếu đó là thật. Dĩ nhiên cũng có nhiều người coi thường. Dù sao, tất cả những cuộc thẩm vấn này chính là hòn đá thử vàng để cả nước tin tưởng và công nhận đức hạnh của một vị A-la-hán nơi ngài U Kavi. Bất kỳ ai hỏi cũng đều kinh ngạc trước khả năng thấu suốt giáo pháp (Paṭipatti) dù ngài "không học mà biết". Do đó trong lộ trình Tuệ phân tích (Paṭisambhidāmagga) và Chú giải Bộ Phân tích (Vibhaṅga Aṭṭhakathā) có ghi: "Một khi đã đắc quả Thánh (Ariya), không ai là không đạt được Tuệ phân tích (Paṭisambhidā)". **"Paṭisambhidā-patta"** có nghĩa là người có trí tuệ đặc biệt, thấu triệt và phân tích đúng đắn bản chất của Danh - Sắc, ngôn từ và ý nghĩa. Mọi vị Thánh đều đạt được quả chứng (Paṭivedha), và đó gọi là đắc **"Tuệ Phân Tích"**. Còn bậc có đức hạnh vượt trội như Ngài Koṭṭhika - bậc **"Pabhinna Paṭisambhidā-patta"** (đắc Tuệ phân tích chuyên sâu) - thì lại là một hạng khác. Vì vậy, lời trong Chú giải dường như chỉ muốn nói đến mức độ thấu triệt bản chất (Attha-paṭisambhidā). Hỏi: "Này ngài Kawi, hãy nói về 5 chi Thiền của tầng Thiền hiệp thế (Lokiya Jhāna)." Đáp: "Bạch ngài, con không biết gọi tên các chi Thiền theo cách ngài nói. Xin cho con được nói theo cách con hiểu." (Sau khi được đồng ý, ngài thưa): "Bạch ngài, đây là vòng định Kasiṇa. Đầu tiên con thu nhiếp tâm ý và đặt lên vòng ấy. Sau đó con quán sát. Gai ốc nổi lên, người run động. Cảm thấy an lạc. Tâm trở nên tĩnh lặng." Hỏi: "Cái gì... cái gì cơ ngài Kawi? Xin ngài nói lại lần nữa xem." Đáp: "Bạch ngài, đây là vòng định Kasiṇa, con thu nhiếp tâm và đặt lên đó. Sau đó con quán sát, gai ốc nổi lên và run động, cảm thấy an lạc, tâm tĩnh lặng vững chãi. Chỉ có vậy thôi ạ, còn tên gọi thì tùy các ngài muốn đặt sao thì đặt, gọi sao thì gọi." Khi ấy Thiền sư Nyaung Lunn thốt lên: "Đúng rồi ngài Kawi! Đặt tâm lên vòng Kasiṇa (nếu định nơi đầu mũi thì lấy đầu mũi làm đối tượng) chính là **Tầm (Vitakka)**, quán sát là **Tứ (Vicāra)**, nổi gai ốc và run động là **Hỷ (Pīti)**, an lạc là **Lạc (Sukha)**, tĩnh lặng vững chãi là **Định (Ekaggatā)**. Kìa... tôi đã thông suốt rồi, xin ngài hãy tiếp tục." ## TRANG 601 Người hỏi tiếp tục trình thưa cho đến tầng thiền thứ năm. (Nên so sánh và nghiên cứu giữa cái biết qua kinh điển và cái biết thông qua thực hành.) Sư trưởng hỏi: "Vậy hãy khoan, thiền **Không vô biên xứ (Ākāsānañcāyatana)** lấy khái niệm hay thực tại làm đối tượng?" Đáp: "Bạch Ngài, lấy khái niệm (Panyat) làm đối tượng ạ." Hỏi: "Còn thiền **Thức vô biên xứ (Viññāṇañcāyatana)**?" Đáp: "Bạch Ngài, lấy thực tại (Paramat) làm đối tượng ạ." Hỏi: "Còn thiền **Vô sở hữu xứ (Ākiñcaññāyatana)**?" Đáp: "Bạch Ngài, lấy khái niệm làm đối tượng ạ." Hỏi: "Còn thiền **Phi tưởng phi phi tưởng xứ (Nevasaññā nāsaññāyatana)**?" Đáp: "Bạch Ngài, lấy thực tại làm đối tượng ạ." Sư trưởng hỏi tiếp: "Vậy khi tiến từ thiền **Không vô biên xứ** lên thiền **Thức vô biên xứ**, hành giả chú tâm vào đối tượng bên dưới hay đối tượng bên trên?" Đáp: "Bạch Ngài, chú tâm vào đối tượng bên dưới rồi mới tiến lên ạ." Khi đó, Sư trưởng nói: "Hèn chi... thật vô lý, đã tiến lên cấp trên sao lại còn chú tâm vào đối tượng bên dưới làm gì?" Ngài Kavi thưa rằng: "Bạch Ngài, con xin dâng một ví dụ. Giả như đằng kia có một đống phân lớn, vì sợ rơi vào đống phân đó mà người ta phải bám vào vật ở trên để leo lên. Cũng vậy, chính nhờ chú tâm vào tầng dưới (để thấy sự thô tháo/nguy hiểm) mà hành giả mới bám trụ để tiến lên tầng trên được ạ." Nghe vậy, Sư trưởng tỏ lòng hài lòng. Chính Ngài Kavi có lần từng thuyết rằng: "Hồi đó các Sư trưởng không hỏi tiếp, chứ nếu hỏi rằng: Trong cõi **Vô sắc (Arūpa-bhūmi)**, kinh điển vốn dạy không có khái niệm về sự không có mặt (Natthibhāva-panyat), nhưng cũng dạy rằng thiền này lấy khái niệm làm đối tượng, vậy lấy khái niệm nào và lấy như thế nào? Khi đó tôi sẽ đáp: 'Lấy khái niệm về sự không có mặt làm đối tượng'. Nếu hỏi tiếp làm sao chú tâm vào cái không có mặt, tôi sẽ chỉ vào một đồ vật nào đó và hỏi: Có thấy không? Thấy rõ chứ? Rồi tôi giấu nó đi và hỏi: Còn đó không? Không còn nữa. Tuy không còn nhưng hãy thử chú tâm vào cái đã thấy lúc nãy xem, có phải vẫn chú tâm được không? Đó chính là cách chú tâm vào khái niệm về sự không có mặt vậy." Cần lưu ý rằng với những người chuyên tâm tu tập (Hành), dù có vẻ như phần Kinh điển (Học) bị yếu đi, nhưng thực tế tuệ giác lại càng trở nên sâu sắc và sáng rõ hơn. ## TRANG 602 ### Ngài Kavi xuất gia Tỳ-kheo và phụng sự Giáo pháp Sau khi đã kiểm tra Ngài Kavi về kinh điển như vậy, Ngài Sư trưởng Ye-le đã khuyến khích Ngài Kavi nên xuất gia Tỳ-kheo. "Con vốn không am tường kinh chữ, cũng chẳng thiết tha học thêm nữa. Con chỉ muốn chuyên tâm quán tưởng đạo quả mình đã đắc được thôi. Bạch Ngài, con không cầu thọ giới Tỳ-kheo đâu ạ," Ngài Kavi từ chối. Nhưng Ngài Sư trưởng Ye-le khuyên bảo: "Này ông Kavi, không nhất thiết phải học làu thông Luật tạng, chỉ cần vâng nghe lời chúng tôi chỉ dạy là đủ. Công đức xuất gia Tỳ-kheo vô cùng lớn lao. Một bậc như ông mà bước vào hàng ngũ tăng đoàn, dù chỉ là một vị Tỳ-kheo hay hộ trì cho một ngôi giới đàn (Sima) thôi, cũng đủ mang lại lợi lạc to lớn cho chúng sinh." Ngài Kavi chấp thuận. Vào lúc 4 giờ 9 phút chiều tối thứ Hai, ngày 12 sau trăng tròn tháng Tabaung năm 1282 Miến lịch, tại tiểu giới đàn (Khandaka Sima) của ngôi chùa này, Ngài Kavi đã được thọ lễ **Cụ túc giới (Upasampadā)**. Buổi lễ do Ngài Sư trưởng Hin-yan-kan làm thầy Tế độ (Upajjhāya), cùng sự chủ trì của các Ngài Sư trưởng Ye-le, Nyaung-lun và hơn mười vị tăng đức. Vợ chồng ông Po, bà Kyi Nyo - những thương gia tại Meiktila - đã phát tâm làm thí chủ hộ giới cho Ngài Kavi và Ngài Vijaya gia nhập tăng đoàn. Đến năm 1283 Miến lịch, dân làng Sunlun đã thỉnh Ngài Kavi về thuyết pháp. (Về nội dung các bài pháp của Ngài Kavi, xin xem thêm trong phần Tiểu sử thảo). Do Ngài Kavi không am tường giáo điển nên khi giảng giải ý nghĩa hay thiết lập các khái niệm, Ngài thường dùng những ngôn từ dân dã nhất để diễn đạt. Ví dụ như "Vàng tâm" (để chỉ Vô minh - Avijjā), "Lìa lớp" (để chỉ Sa đọa - Apāya), vân vân. Tuy nhiên, về mặt bản chất thực tại (Paramat), Ngài không hề có một sai sót nào. Đối với những người không học giáo lý, cách giảng này lại càng dễ hiểu hơn. Còn với những bậc thông thạo kinh điển, một số thuật ngữ dân dã ấy trái lại còn làm bật lên hương vị của thực tại (A-tì-đàm) một cách sâu sắc hơn. Dù sao đi nữa, giữa một bậc thông thạo giáo điển rồi thành tựu pháp hành với một người không học mà thành tựu, vẫn có sự khác biệt lớn trong việc thưởng thức hương vị Pháp và cách thức truyền đạt lại cho người sau. Giống như hai người cùng đến một thành phố lớn, một người có kiến thức và một người không, dù cùng nhìn thấy những điều giống nhau nhưng sự cảm thụ và thấu hiểu sẽ không thể như nhau. Cũng vậy, khi trở về làng quê để chia sẻ lại trải nghiệm, sự khác biệt lại càng rõ rệt hơn. Trong thời đại mà người có thể đi xa đến các đô thị lớn là hiếm hoi, việc nương tựa vào một người dám dấn thân mở đường để rồi từ đó tạo nên một con đường thông suốt cho kẻ khác đi sau, quả thật là ân đức vô lượng. Tuy nhiên, việc nhận chân được sự thật đúng như nó đang là vẫn là điều tối cần thiết. Ngay cả giữa những người thông thạo giáo điển, trình độ hiểu biết và khả năng diễn đạt cũng khác nhau. Giữa các bậc **Thánh Dự lưu (Sotāpanna)**, giữa các bậc **Lục thông A-la-hán**, hay ngay cả giữa các bậc **Chánh Đẳng Giác** cũng có sự khác biệt. Đức Phật Gotama của chúng ta không có cùng tầm nhìn như Đức Phật Vipassī, cũng không có cùng hào quang rạng rỡ như Đức Phật Maṅgala. Điều này xuất phát từ sự khác biệt trong quá trình tích lũy công hạnh (**Ba-la-mật - Pāramī**). Do đó, không nên chấp thủ sai lầm rằng "chỉ có vị Phật của chúng ta mới là Phật". Mỗi vị đều thành tựu tùy theo năng lực và công hạnh riêng của mình. Vì lẽ đó, hành giả không nên chỉ tính toán sao cho xong công việc của một vị Tỳ-kheo trong kiếp này, mà khi có cơ hội, cần phải nỗ lực không ngừng nghỉ để bồi đắp nền tảng công đức như Bố thí, Trì giới, Từ tâm... sao cho khối lượng Ba-la-mật thật vững chắc, ngõ hầu dẫn đến Đạo Quả với năng lực mạnh mẽ hơn. Công hạnh Ba-la-mật thực hành trong thời kỳ có Giáo pháp (Sāsanā) còn cao quý hơn cả công hạnh Ba-la-mật của các vị Bồ-tát trong thời kỳ không có Giáo pháp. Một mặt phải không ngừng dũng mãnh thực hành các công hạnh Ba-la-mật thù thắng bất cứ khi nào có thể. (Về các nguồn sức mạnh căn bản như Bố thí, Trì giới, Thiền định, **Niệm Phật - Buddhānussati** cùng các câu chuyện thực tế, xin mời xem trong sách "Ân đức Tam Bảo"). ## TRANG 603 ### Bà Shwe Yi thỉnh cầu trong nước mắt Không lâu sau khi Ngài Kavi xuất gia và trở về Sunlun thuyết pháp, bà Shwe Yi đã tìm đến Meiktila. Bà khóc lóc thảm thiết, dùng đủ mọi lời lẽ khẩn cầu Ngài Kavi hoàn tục. Ngài Sư trưởng Ye-le sau đó kể lại: "Cái cách mà thí chủ của ông Kavi nói năng, than vãn rồi khóc lóc, khiến đến cả tôi cũng thấy mủi lòng muốn khóc theo." (Hãy lưu ý đến cái nghiệp luyến ái này). Cuối cùng, nhận thấy không thể lay chuyển được ý định của Ngài Kavi, bà Shwe Yi đành đưa ra bốn điều cam kết: 1. Phải cho bà được quyền làm thí chủ hộ độ bốn món vật dụng (tứ sự). 2. Khi bà thỉnh mời thuyết pháp, Ngài phải ban lời chỉ dạy. 3. Khi bà tự mình xây được chùa, Ngài phải trở về làng. 4. Ngài cũng phải cho bà được sống theo ý nguyện riêng của bà. Sau đó, vào năm 1284 Miến lịch, ông San Tin cũng tìm đến Meiktila và thưa với Ngài như lời đã nói trước đây rằng: "Ở phía Nam làng Sunlun, xưởng dệt lớn đã mọc lên rồi, kính thỉnh Ngài..." ## TRANG 604 Ngài đã bàn bạc với bà Shwe Yi về việc hoằng pháp thực hành (Paṭipatti Sāsanā), dự định xây chùa bằng cột gỗ Kyun-pho, và thưa rằng: "Khi ngài U Kavi đến, con cũng sẽ xin xuất gia tỳ-khưu". Sau khi xây chùa tại vực Maung Yin Paw, U San Tin đã mặc y chờ đợi và đến kỳ An cư năm đó, bà Shwe Yi đã đích thân thỉnh ngài U Kavi đến để cúng dường ngôi chùa. Bà Shwe Yi cũng tinh tấn hành thiền. (Về sau bà Shwe Yi kết hôn với quản sự - Kappiya U Pyaung. Khi bà qua đời, do đọa vào cõi ngạ quỷ nên ngài Sunlun Sayadaw đã phải thuyết pháp để cứu độ). ### Anāgāmī Daw Ngwe Bon đến tìm hiểu Từ đó, Sayadaw bắt đầu hướng dẫn hành thiền tại vực Maung Yin Paw. Khi hướng dẫn, Sayadaw dạy hành giả không nên thở quá mạnh cũng không quá nhẹ, mà chỉ cần đều đặn. Nếu tầm (vitakka) khởi lên, ngài dạy dùng ngón trỏ vuốt từ mũi xuống môi để định tâm. Liên quan đến phương pháp thở mạnh, ngài U San Thein (Chủ tịch Hội Thực hành Giáo pháp Paṭipatti), một đệ tử lớn của Sayadaw và cũng là người đầu tiên thỉnh Sayadaw về Yangon vào năm 1301 (lịch Myanma), đã ghi trong lời tựa cuốn sách "Cẩm nang Như Thật" (Yathābhūta Lanyun - tái bản lần 2 năm 1317) rằng: "Ngài đại đức **U Sundara**, một vị đệ tử lớn thời kỳ đầu của Sunlun Sayadaw, khi dạy sự chú tâm vào sự xúc chạm của hơi thở ra vào, đã cho một số người thở mạnh, trong khi một số khác lại cho thở nhẹ nhàng theo tự nhiên." Trong cuốn "Sāraṇīya Kathā" do các đệ tử lớn thời Sayadaw cùng biên soạn cũng có lời giải thích rõ ràng. (Dù có vô số trích dẫn Pāḷi và lý luận logic để tranh luận qua lại, điều quan trọng nhất là phải nỗ lực hoằng dương giáo pháp của mình sao cho phù hợp với ý nguyện của Đức Phật, đúng với sở nguyện của Sayadaw, không rời ròng căn cơ của hành giả và không sai lạc với sự tác ý đúng đắn - yoniso manasikāra). Một ngày nọ, Daw Ngwe Bon - người nổi tiếng là bậc Anāgāmī (A-na-hàm) và là đệ tử của ngài Minkun Jetawun Sayadaw - đã đến vực Maung Yin Paw, trú tại một nhà nghỉ (zayat) để dành thời gian quan sát và tìm hiểu về Sayadaw. Sayadaw cũng đã biết trước những câu hỏi mà bà định hỏi. Khi Daw Ngwe Bon đến đảnh lễ Sayadaw, rất nhiều hành giả đã tụ tập lại vì muốn lắng nghe. ## TRANG 605 Ngay khi Daw Ngwe Bon vừa đến và đảnh lễ xong, Sayadaw đã giải đáp ngay cả khi bà chưa kịp hỏi. Từ khâu chuẩn bị (parikamma) cho đến tiến trình đắc các Đạo quả (tất cả những gì Daw Ngwe Bon dự định hỏi), ngài đã trả lời và thuyết giảng không sót một chi tiết nào. Bà thưa rằng: "Bạch Ngài, suốt lộ trình thực hành giáo pháp của Ngài, việc lấy Chánh niệm làm trọng tâm quả thật vô cùng khế hợp với chân lý." Daw Ngwe Bon thấy sự tương đồng trong tu chứng nên vô cùng hoan hỷ, bà vỗ tay reo lên: "Đúng là con của ta! Đúng là con của ta!" (theo nghĩa đạo vị). Sayadaw như đã biết trước việc bà sẽ cúng dường vật thực, liền phán: "Nếu muốn nhận làm con thì phải cho ăn thì mới thành mẹ được chứ." ### "Nếu là vị ấy thì chắc chắn là vị ấy" Ngày hôm sau, sau khi cúng dường vật thực cho chư Tăng và toàn thể hành giả, Daw Ngwe Bon nói lời tùy hỷ (sādhu) rồi ra về. Sayadaw cũng dành nhiều lời tán thán cho bà. Cũng có những người từng dùng cách thô thiển để thử xem Sayadaw có phải là bậc A-la-hán hay không. Có người đứng phía sau đốt pháo khi ngài đang đi; có người trộn rượu vào nước ngọt (bilat-yay) để cúng dường trong một lễ hội. (Ngài **U Kavi** kể rằng khi uống hỗn hợp nước ngọt pha rượu đó, dù rượu đã vào miệng nhưng độc tính của nó đã bị tiêu trừ). Một lần khác, khi đang đi trên đường, một chiếc xe ngựa lao trực diện về phía Sayadaw với tốc độ rất nhanh. Sayadaw vẫn bất động không hề nao núng. Chỉ thấy chiếc xe ngựa khi đến gần liền bị lật nhào. Những kẻ muốn thử nghiệm thô bạo cuối cùng lại tự chuốc lấy tai họa. Về việc chứng đắc pháp thượng nhân, Sayadaw không bao giờ ấn định cho ai là cấp độ nào, ngài thường chỉ nói: "Nếu là vị ấy thì chắc chắn là vị ấy". Điều này cũng là vì chính hành giả có thể tự biết rõ. Những điều được thấy biết đích thực thì Pháp học (Pariyatti) có thể kiểm chứng, và sự thực hành tự thân (Paṭipatti) cũng có thể dùng làm đá thử vàng. Vào một ngày lễ Nhập hạ, sau khi thực hiện các nghi thức trước bàn thờ Phật, chư Tăng và hành giả đã vân tập đông đủ. Dù đã đến giờ làm lễ Nhập hạ nhưng Sayadaw bảo: "Hãy đợi một lát", rồi ngài thuyết pháp và mọi người cùng ngồi thiền định trong tĩnh lặng. Trong khi chư Tăng đang thắc mắc không biết tại sao, thì một vị tỳ-khưu từ xa ## TRANG 606 tiến vào nơi bái Phật và đảnh lễ Sayadaw. Sau đó mọi người mới biết rằng Sayadaw trì hoãn thời gian vì còn thiếu một vị tỳ-khưu nữa mới đủ chúng An cư. Vị tỳ-khưu khách đó chính là ngài **U Sobhana**, hiện là trụ trì tổ đình Sunlun Gu, Myingyan. Tại đây, tôi xin trích dẫn một bản ghi chép trải nghiệm thực tế của cư sĩ U Thein Aung ở Mandalay. ### Thắng trí và Diệt tận định (Abhiññā & Nirodha Samāpatti) U Thein Aung, một bậc thầy Abhidhamma (A-tỳ-đàm) nổi tiếng ở Mandalay, vào khoảng năm 1291, theo lời kể của **U Āciṇṇa** (người quê làng Ku-gaung, Wetlet, vốn là học trò cũ của ông và đã có 2 năm tu học dưới sự chỉ dạy của Sayadaw), đã đến gặp Sayadaw và thực hành theo phương pháp của ngài trong khoảng một tuần. Những gì trải qua lúc đó đã được ông viết lại trong cuốn "Thuyết Phật giáo về sự hình thành Tam giới và Chúng sinh" (mục 22-4). Bản ghi chép này ghi lại những lời dạy của Sayadaw về Thắng trí (Abhiññā) và Diệt tận định (Nirodha Samāpatti). Xin trích dẫn nguyên văn lời viết của ông như sau: "Tôi cùng với đại đức **U Āciṇṇa** đến đảnh lễ ngài Sunlun Sayadaw tại chùa rừng (taw-ya) ở Myingyan. Khi **U Āciṇṇa** thưa rằng: 'Vị cư sĩ này chính là người đã từng dạy kinh điển cho con', Sayadaw liền cho phép: 'Có điều gì thắc mắc liên quan đến việc thực hành giáo pháp, con cứ hỏi'." Tôi thưa: "Bạch Ngài, con đến đây không phải để đặt câu hỏi. Con xin được lắng nghe về pháp hành mà Ngài đã nỗ lực thực chứng để từ đó con có thể vận dụng tuệ giác của chính mình." Khi đó, ngài Sunlun Sayadaw bắt đầu kể từ lúc ngài còn làm người đưa tin tại văn phòng huyện trưởng thành phố Myingyan, bắt đầu nghe và tìm hiểu về pháp hành Ānāpāna do ngài Ledi Sayadaw thuyết giảng, cho đến quá trình nỗ lực thực hành hơi thở ra - vào và sự khởi sinh của các tuệ giác đặc biệt. Ngài đã giảng giải cho tôi và **U Āciṇṇa** nghe suốt từ 8 giờ tối cho đến khoảng 3 giờ sáng hôm sau. Tôi lắng nghe những lời kể của Sayadaw với niềm hoan hỷ và tin kính. Suốt thời gian đó, tôi không hề đặt một câu hỏi nào. Tuy nhiên, khi đang giảng về lộ trình giáo pháp, Sayadaw đã hỏi tôi: 'Giữa thần thông thắng trí và đạo quả giải thoát, cái nào khó đạt được hơn?'" ## TRANG 607 ### Bậc A-la-hán và những bậc phi thường Tôi thưa: "Bạch Ngài, xin Ngài hãy thuyết giảng cho." Khi ấy, Ngài Thiền sư Sunlun Sayadaw dạy rằng: "Này cư sĩ Thein Aung, cái gọi là thần thông (Abhiññā) thực sự không tồn tại sẵn có; đó là việc sử dụng sức mạnh của định (samādhi) để tuệ (ñāṇa) tạo ra được kết quả đó. Còn Đạo hữu vi (Magga-dhamma) là chân lý thực hữu; nếu đi đúng đường thì tất nhiên sẽ gặp được Đạo, vì nó thực sự tồn tại. Giữa việc làm cho cái không có trở thành có, và việc đi tới cái thực có, thì việc làm cho cái không có trở thành có [thần thông] là khó khăn hơn nhiều." Mọi người đều biết Ngài Sunlun Sayadaw không phải là người từng được đào tạo qua kinh điển (học thuật). Khi nghe lời dạy của Ngài, tôi khởi lên niềm tin sâu sắc. Sau đó, Ngài dạy tôi thực hành pháp **Ānāpāna** (Niệm hơi thở). U Arciṇṇa và tôi cùng hành thiền trong một am nhỏ. Cách Ngài dạy tôi lúc bấy giờ không giống như cách các đệ tử Sunlun học ngày nay. Ngài chỉ bảo: "Khi hít thở, phải quán sát để biết rõ hơi thở chạm vào đầu mũi." [Cần lưu ý quan điểm: phải thở mạnh mới được]. Khi trở về, U Arciṇṇa bảo: "Này cư sĩ, nếu có gì muốn hỏi thì hãy hỏi đi, sau này sẽ không dễ gì gặp lại Ngài đâu." Tôi thưa: "Tôi không có điều gì hỏi nhiều. Tuy nhiên, tôi muốn biết về kinh nghiệm thực tế của việc nhập **Diệt Thọ Tưởng Định** (Nirodha-samāpatti) là như thế nào." Lúc nói chuyện đó, chúng tôi chỉ trao đổi nhỏ nhẹ giữa hai người trong am thiền. Sáng hôm sau, trước khi lên tàu về Mandalay, tôi đến đảnh lễ Ngài Sunlun Sayadaw. Lúc ấy, Ngài đang dùng tiểu thực cùng chư Tăng. Khi tôi cúi đầu đảnh lễ, Ngài Sunlun Sayadaw liền phán: "Này cư sĩ Thein Aung, **Nirodha-samāpatti** là trạng thái mà tất cả các danh pháp (nāma-dhamma) thực hữu đều diệt tận, hành giả trú trong sự an tịnh thuần tuý suốt bảy ngày đêm." Cả U Arciṇṇa và tôi đều vô cùng kinh ngạc và ghi khắc lời dạy này. Tôi vừa suy ngẫm về những lời pháp của Ngài vừa trở về Mandalay. Tôi vô cùng kinh ngạc vì Ngài đã trả lời ngay lập tức mà không cần hỏi, như thể Ngài đã biết rõ ý định và suy nghĩ trong tâm tôi. ## TRANG 608 Nói về việc "biết tâm người khác" (Tha tâm thông), không chỉ những bậc thánh nhân như Ngài Sunlun Sayadaw mà ngay cả những hành giả bình thường cũng có thể chứng nghiệm. Phương pháp thực hành để biết được điều này đã được ghi chép chính xác trong kinh điển Pāḷi. **(Trong kinh Parihāna Sutta, Tăng Chi Bộ Kinh - Chương 10 Pháp):** Ngài Xá-lợi-phất (Sāriputtra) khi thuyết pháp cho chư Tăng đã dạy rằng: "Này các Tỳ-kheo, nếu một Tỳ-kheo không biết được tâm người khác, thì phải làm sao để biết được tâm của chính mình, phải rèn luyện điều đó." Giống như khi soi gương, người ta có thể thấy rõ những vết sẹo hay khiếm khuyết trên khuôn mặt và cơ thể; cũng vậy, nếu một người có thể quan sát không bỏ sót từng ý nghĩ, biết rõ rằng: "Trong tâm mình đang có tâm tham, tâm sân, tâm hại, tâm si, tâm ghét, tâm thương, tâm dã dượi, tâm phóng dật, tâm buông lung hay tâm mê mờ? Tâm nào đang khởi lên?", thì người đó tất yếu sẽ biết được tâm của kẻ khác. Đây chính là **"Cittānupassanā"** (Niệm Tâm). Dù chưa đạt được Minh sát tuệ (Vijjā-ñaṇa) hay Thần thông (Abhiññā), nhưng nếu sức mạnh định của pháp **Niệm Tâm** đủ tốt, hành giả vẫn có thể thấu thị được tâm ý người khác. Hãy nỗ lực thực hành và tu tập. ### Cách tự mình nghe pháp của Ngài Ngài Sunlun Sayadaw nhận thấy các chúng sinh xung quanh thường khởi lên tâm tham, sân, mạn rất nhiều. Khi thấy những chúng sinh ấy đua nhau về tham, tranh nhau về sân, so kè về mạn, Ngài thường dạy các đệ tử cách nghe pháp từ chính những cảnh tượng đó qua câu chuyện về cách chính Ngài đã từng nghe pháp. Ngài kể rằng: "Khi còn là cư sĩ, bần tăng làm nghề nông nên phải chăn bò. Khi đàn bò tụ tập đông đúc, bò của mình lẫn với bò của người, trong đó có cả những con bò đực, chúng thường gầm gừ, hăm dọa nhau rồi chẳng mấy chốc đã húc nhau kịch liệt. Sau một hồi, con mạnh thắng, con yếu tháo chạy. Khi đó, hai con bò đứng đó với dòng máu chảy dài trên sừng, đầu cứ lắc qua lắc lại. Lúc ấy, bần tăng suy nghĩ: 'À, hai con này chính là những kẻ đang thi thố sân hận với nhau. Cái gọi là Sân (Dosa) chỉ là một yếu tố ngoại lai (āgantuka) khởi lên nhất thời, giống như một kẻ tội phạm trốn nã đầy nguy hiểm. Dù chúng có húc nhau thế nào đi nữa, chúng cũng chẳng bao giờ chạm được vào cái Sân đó. Chỉ có cái thân xác chấp nhận kẻ trốn nã mang tên Sân này là phải gánh chịu đau đớn, đứng đó với cái đầu lắc lư tội nghiệp.' Vậy nên, này các đệ tử hành giả, hãy dùng mắt tuệ mà quán sát để thấy rằng: 'Ngươi đừng có chấp nhận kẻ trốn nã mang tên Sân như những con vật kia; nếu chấp nhận nó, chắc chắn ngươi sẽ phải chịu khổ cảnh như chúng'." ## TRANG 609 Một ngày nọ, Ngài Sunlun Sayadaw đi vào làng Sunlun để tụng kinh và thọ thực theo lời thỉnh mời. Trên đường về, Ngài bắt gặp hai cô bé đang cãi vã kịch liệt, mắng chửi nhau vang động cả xóm. Thấy vậy, Ngài bảo người hộ tông (kappiya) tên là Ko Pyaung rằng: "Này con, hai cô bé đằng kia đang thuyết pháp đấy. Chắc là mệt lắm rồi. Con hãy cầm nải chuối này, chia đôi ra rồi đem cho mỗi đứa một nửa. Bảo rằng đây là lễ vật cúng dường pháp (dhamma-pūjā), bảo các cô ăn cho đỡ mệt rồi nếu muốn cãi tiếp thì cãi." Khi được nhận chuối, hai cô bé nhìn trước ngó sau rồi im bặt, cầm quả chuối đứng ngẩn người ra. Dân làng thấy vậy đều kinh ngạc bàn tán: "Chuyện gì thế này? Có phải Ngài U Kavi đã niệm chú vào quả chuối rồi đưa cho hai đứa nhỏ đang đánh nhau không?" Trong môi trường xung quanh hành giả, mọi lời nói, hành động và sự việc diễn ra hàng ngày đều là Pháp (Dhamma). Hãy chú tâm ghi nhớ và lắng nghe. ### Những sự kiện kỳ lạ khi đi kiết giới Sīma tại núi Nemindra, Thaton Sự kiện lễ kiết giới Sīma tại núi Nemindra, Thaton đã được trình bày chi tiết trong chương về Ngài Nyaung Lwin Sayadaw. (Về việc Ngài Webu Sayadaw đã sắp xếp mọi thứ trước khi Ngài Sunlun Sayadaw khởi hành đi Thaton, xin xem trong chương về Ngài Webu Sayadaw). Cũng giống như Ngài Nyaung Lwin Sayadaw, sự hiện diện của Ngài Sunlun là không thể thiếu để sự kiện được viên mãn. Sau khi lễ kiết giới hoàn tất, ông U Kyaw Dun đã bế xốc Ngài lên và hô lớn trong niềm hỷ lạc: "Đây mới thật sự là bậc A-la-hán!" Trong thời gian lưu trú tại Thaton, Ngài cũng đã thuyết giảng nhiều thời pháp. Một đêm nọ, tại nơi nghỉ, có một vị sư tìm đến và gọi: "U Kavi... U Kavi". Nghe thấy tiếng gọi, Ngài liền đi xuống... ## TRANG 610 “Hãy đi theo tôi tới chỗ này một chút”, người đó đến gọi một cách bất ngờ, không rõ nguyên do. Ngài suy xét: “À... người này ta không hề quen biết, nếu ta không đi theo thì họ sẽ khổ tâm, mà nếu đi theo thì chính ta sẽ gặp vất vả. Thôi được — ta thà chịu vất vả vậy”, rồi Ngài quyết định đi theo người dẫn đường vào sâu trong khu rừng tối mịt. Khi đến giữa rừng sâu: “Thôi, bấy nhiêu đủ rồi bạch Ngài, xin Ngài hãy quay về, con sẽ hộ tống Ngài trở ra”, người đó nói. Ngài đáp: “Không sao đâu, ta sẽ tự tìm đường về”, nói rồi Ngài lần mò trong đêm tối để quay trở lại. Đường về dường như không xa bằng lúc đi, Ngài dễ dàng trở lại trú xứ của mình. Không rõ đó là người hay là chư thiên. Có lẽ họ muốn thử thách xem Ngài có phải là bậc A-la-hán hay không, và liệu Ngài có còn tâm dao động hay sợ hãi hay không. Trong thời gian ở Thaton, một ngày nọ, Ngài **U Tiloka** từ núi Thek-khya và Khayae Sayadaw — người bạn đồng tu — đã đến để tìm hiểu về Ngài. Khayae Sayadaw lớn tuổi hạ hơn Ngài U Kavi. Sayadaw Nyaung Lunt nói rằng: “Này U Kavi, hãy thử tìm hiểu về Khayae Sayadaw xem sao. Sư ấy tích lũy kiến thức thế gian khá nhiều, tự xem mình là bậc nhất và đang muốn dương danh đấy”. Sau khi tìm hiểu, Khayae Sayadaw đã bàn luận sôi nổi từ cách chuẩn bị và lấy tướng (nimitta) của vòng tròn Kasina cho đến những tầng cao hơn. Ngài U Kavi liền bạch: “Bạch Ngài, xin hãy dừng lại một chút, vừa rồi Ngài có nhắc đến hộp trầu, vậy con xin hỏi trong hộp trầu này hiện có bao nhiêu lá trầu ạ?”. Vị kia đáp: “Đến mức này thì tâm ta không thể hướng tới được”. Ngài U Kavi liền nói chính xác số lượng lá trầu bên trong. Sau đó, Ngài giải thích phương pháp hành thiền từ đầu đến cuối cho vị kia nghe. Vị ấy vẫn dùng giọng bề trên mà khuyến khích: “Ngài hãy còn trẻ lắm, hãy tiếp tục nỗ lực thêm nữa”. Rồi vị ấy nói tiếp: “Về phần ta, vì đang mắc chứng phong thấp (svajvapāda) nên tâm không thể định tĩnh đến mức ấy được. Hồi đó, ta cùng với **U Uttama** và Ngài **U Tiloka** ở núi Thek-khya đã cùng nhau phát nguyện rằng chỉ khi nào có thể thuyết pháp cho chúng sinh từ trên hư không mới trở về, rồi chúng ta ra đi tìm đạo. Nhưng sau đó vì gặp phải nhiều gian nan vất vả, công sự không thành nên đành phải thoái lui”. Trong lời nói của vị ấy đã tự lộ ra câu trả lời. Trong ba vị kể trên, **Ngài U Uttama** đã rời khỏi núi Thek-khya để đến Sunlun cầu pháp và thực hành thiền. Trong thời gian Ngài U Uttama ở đó hành thiền, Ngài đã nhận thấy một thực tế là hàng cư sĩ đôi khi dễ đắc pháp hơn chư Tăng, và hàng nữ giới lại dễ đắc pháp hơn nam giới. Ngài đã ví von bằng một đoạn kệ rằng: ## TRANG 611 “Những con bò đực to khỏe với cặp sừng nghênh ngang, vậy mà trên bãi đất khô cằn, ngay cả chiếc xe không chúng cũng kéo không nổi. Trong khi những con bò cái nhỏ bé, sừng ngắn, chân nhỏ lại có thể gồng mình kéo cả xe đầy hàng hóa”. ### Nếu không biết hãy giữ yên lặng, hãy nỗ lực để biết, đừng để thân, khẩu, ý buông lung Vào ngày đầu tiên sau rằm tháng Tì-xá-khê (Thadingyut) năm 1285 (Miến lịch), Ngài đã bàn giao các thiền sinh và chùa chiền tại khe núi Maung Yin Paw lại cho Ngài U Vijaya và dời đến ở dưới một gốc cây Keo (Shar) bên bờ suối Sunlun, chỉ với một chiếc chõng tre. Việc di dời này là do sự quấy nhiễu của **U Vijaya** (**U Shwe Lok**, người mà Ngài U Kavi từng cứu mạng khỏi chết đuối khi còn là cư sĩ). Sau này, khi có thí chủ phát tâm cúng dường thêm chùa và hang động, nơi này được gọi là “Chùa Hang Sunlun” (Sunlun Gu Kyaung), thiền sinh lại bắt đầu tụ hội đông đúc. Y-khu-shí-thaw U San Pe i phe-khín-khi-ga yeik-tha-mye e-ka 20 hlu-dan-thi. Thiền sinh cũng ngày càng đông đúc theo từng ngày. Vị tu sĩ người Ý — Ngài **U Lokanatha**, người đã dành cả đời sống tại Miến Điện, cũng đi khắp thế giới để thuyết giảng và viết lách về tin vui rằng các bậc A-la-hán đã xuất hiện tại Miến Điện. Ngài đã đến Myingyan để đảnh lễ Sayadaw Sunlun với các phẩm vật y áo, đồng thời đặc biệt hồi hướng công đức đến hai vị thân phụ mẫu đã quá cố của mình. Mặc dù có những người quá thiên chấp vào Pháp học (Pariyatti) đã thực hiện ác nghiệp xem thường và gọi Ngài là “Lão già rừng rú không biết chữ”, nhưng cũng có những bậc đại trưởng lão Pháp học lừng danh, vốn có tâm **Như lý tác ý** (Yoniso Manasikara) và lòng trung thực, đã tôn kính đến cầu học phương pháp thực hành từ “Lão già rừng rú không biết chữ” này. Vào ngày rằm tháng Tư (Waso) năm 1292, khi Sayadaw đang chuẩn bị cho lễ truyền giới tại thị trấn Taung Thar, Ngài đã gặp Sayadaw Taung Thar — Ngài **U Aggavamsa**, một bậc tu hành khổ hạnh. Hai bên đã có cuộc đàm đạo thân mật (**Alappa Sallappa**). Ngài Sayadaw Taung Thar đã thỉnh mời Ngài U Kavi trình bày phương pháp hành thiền từ đầu đến cuối như cách dạy cho những người bình dân, và vị ấy đã cung kính lắng nghe một mình. Sayadaw Taung Thar vốn là bậc thầy uyên thâm về Pháp học, nổi danh khắp cả nước và đã được triều đình ban tặng danh hiệu Aggamaha Pandita (Bậc Đại Trí giả). “Con đường mà Ngài U Kavi đang thực hành là con đường ngắn nhất và tinh giản nhất. Con đường của chúng tôi quá rộng lớn nên rất khó để đạt đến đích”, Sayadaw Taung Thar đã thừa nhận và tán thán như vậy. Ngài cũng kể cho hàng đệ tử của mình nghe về câu chuyện của Ngài Trưởng lão **Tipitaka Mahā Nāga**, bậc thầy giỏi kinh điển nhưng đã phải cầu học pháp hành từ chính đệ tử của mình. ## TRANG 612 Trong buổi lễ truyền giới, vị ấy lại thỉnh Ngài **U Kavi** thuyết pháp lần nữa để được lắng nghe. Ngài cũng yêu cầu Ngài U Kavi viết lại phương pháp chuẩn bị và cách quán niệm hơi thở (**Anapana**) thành văn bản. Vào ngày mùng 4 sau rằm tháng Tư năm 1292, Ngài U Kavi đã hoàn tất bản thảo này. “Nếu canh giữ và cắt đứt (phiền não) từ các cửa như mắt, v.v... thì cũng có thể đạt được, nhưng thông qua việc chú tâm vào sự xúc chạm và sự biết rõ (tiếp xúc) tại thân môn thì tuệ phân biệt **Danh Sắc** (Namarupa-nana) sẽ dễ dàng trở nên nhạy bén. Tại thân môn, nơi sự xúc chạm (**Phassa**) xảy ra, do xúc nên phát sinh thọ (**Vedana**). Để ngăn chặn Ái, Thủ, Hữu, v.v... không phát sinh từ Thọ, ta phải dùng Chánh niệm để cắt đứt. Khi cắt đứt được, ‘**Vọng thọ tưởng**’ (Vedana-sanna) sẽ không sinh khởi mà thay vào đó là ‘**Vọng thọ tuệ**’ (Vedana-panna)”, Ngài đã viết như vậy, mô tả từ bước chuẩn bị cho đến khi đạt được Đạo tâm và Quả tâm. Như thế, không màng đến việc biết chữ hay không, những bậc đại trưởng lão Pháp học lừng danh vì lòng tôn kính đối với trí tuệ thực chứng đã không ngần ngại cầu pháp và thực hành theo. Chỉ có những kẻ Pháp học nửa vời, luôn giương cao ngọn cờ ngã mạn, không những đánh mất cơ hội quý báu mà còn phải gánh chịu ác nghiệp sa đọa. Mặt khác, sở dĩ Ngài được các bậc “Trình độ Pháp học uyên thâm” kính trọng như vậy là bởi Ngài đã viên mãn trí tuệ A-la-hán quả, sở hữu các đặc tính siêu việt về nghe, thấy và thấu hiểu. Tuy nhiên, thay vì nỗ lực để đạt được sự viên mãn ấy, một số “vị Tăng hay cư sĩ thiền sinh từ rừng mới ra”, dù chỉ mới thực hành sơ sài, lại sinh tâm xem thường và phỉ báng những bậc mang vác gánh nặng Pháp học, dẫn đến việc phải chịu cảnh địa ngục. Thực tế, nếu chỉ mới chứng đắc A-la-hán mà không có sự thấu đạt sâu rộng về các thắng trí hoặc không có thêm nền tảng Pháp học bổ trợ, thì cũng chưa nên vội vàng đi dạy đạo cho người khác. Bởi lẽ sẽ có rất nhiều điểm dễ gây nhầm lẫn và sai lệch. Do đó, trong mọi việc, ta cần phải có **Như lý tác ý** (Yoniso Manasikara), **Chánh niệm tỉnh giác** (Sati-sampajanna) để thực hành đúng theo **Trung đạo** (Majjhima Patipada). Ngài Cố Sayadaw Sunlun từng giáo giới rằng: “Nếu không biết thì hãy nỗ lực để biết. Nếu không biết mà tay chân táy máy (làm càn) thì sẽ gặp khổ. Nếu không biết mà miệng lưỡi nhanh nhảu (nói càn) thì sẽ gặp khổ. Nếu không biết mà tâm ý buông lung thì sẽ gặp khổ. Nếu không muốn khổ thì hãy giữ mình yên lặng và nỗ lực để đạt đến sự hiểu biết thật thụ”. ## TRANG 613 # BẬC ALAHAN CÓ NGHỊCH NGHIỆP NẶNG NỀ: NGÀI U MAṆISĀRA Năm 1298 (Miến lịch), vào khoảng sau nửa đêm ngày 14 tháng Tagu (tháng Tư) trăng khuyết, bóng tối bao trùm và sự tĩnh lặng tuyệt đối ngự trị khắp hang động và chùa chiền Sunlun Gu. Đây là thời điểm vàng để các hành giả, cả xuất gia lẫn tại gia, đang an trú trong các am thất và hang động để hành thiền. Tiếng động từ môi trường xung quanh cũng đã lặng bớt. Đúng lúc ấy, gần chùa của Ngài Thiền sư (Sunlun Sayadaw), tiếng trống, tiếng mõ và tiếng mõ tre (kalar tet) bỗng vang lên dồn dập, phá tan sự tĩnh lặng. Các hành giả hốt hoảng chạy ra khỏi am thất và tập trung lại. họ nhìn thấy lửa đang bùng cháy từ một hang động nơi một vị tỳ-kheo hành giả đang thiền định. Mọi người đồng lòng dập lửa, rồi bế vị tỳ-kheo bên trong hang ra ngoài. Ngài đã bị kẻ xấu dùng dây trói chặt toàn thân, nhét giẻ vào miệng rồi phóng hỏa nhằm thiêu chết. Tuy nhiên, ngoài việc bị hơi nóng áp sát, thân thể Ngài không hề bị bỏng, cũng không có bất kỳ thương tích nào. Vị ấy chính là bậc Alahan có nghịch nghiệp nặng nề — **Ngài U Maṇisāra**. Vào khoảng 11 giờ rưỡi, khi Ngài U Maṇisāra đang đi vệ sinh thì bị những kẻ tội lỗi bắt trói, nhốt vào hang rồi đốt lửa. Khi ấy, vì không thể kêu cứu, Ngài chỉ biết hướng tâm bạch với Ngài Thiền sư (Sunlun Sayadaw) rồi nhập định (Samāpatti). Ngài Thiền sư thấu suốt chuyện đó nên đã ra lệnh đánh trống mõ để báo động. Đó chính là khả năng **"Cetasa ceto paravitakka maññāya"** — dùng tâm biết tâm kẻ khác để cứu trợ. Ngài Thiền sư nhẹ nhàng bảo: “Này Tỳ-kheo, nếu con còn nợ người ta thì hãy trả đi. Hãy kham nhẫn mà chịu đựng, bởi vì chính bản thân mình đã từng làm như vậy trong quá khứ.” Ngài U Maṇisāra vốn đã thấu suốt tiền kiếp của mình. Ngài là người có định lực (Samādhi) phi thường. Việc Ngài phải trả nghiệp này cũng tương tự như trường hợp của Ngài Mục-kiền-liên (Moggallāna) hay Ngài Angulimāla. (Trong Chú giải Pháp Cú, Phẩm Ác Hạnh): Chuyện bảy người chăn bò từng nhốt một con kỳ đà trong hang suốt bảy ngày; do nghiệp đó, họ đã trải qua mười bốn kiếp luôn bị đói khát trong bảy ngày liên tục. Ở kiếp cuối cùng, họ trở thành bảy vị tỳ-kheo cùng nhau tu tập trong một hang động. Bất ngờ, một phiến đá khổng lồ to bằng cả ngôi nhà đổ xuống chắn ngang cửa hang. Dân chúng từ bảy ngôi làng lân cận đã cố gắng hết sức nhưng không thể di dời phiến đá. Chỉ sau đúng bảy ngày, phiến đá mới tự động mở ra và năm vị thoát chết (Nếu họ đã giết con kỳ đà ấy, hẳn họ đã phải bỏ mạng tại đó). ## TRANG 614 Đức Phật đã dạy rằng nghiệp mình đã tạo và quả của nó thì dù có lặn xuống đất hay bay lên trời cũng không thể trốn thoát. Giờ đây, Ngài U Maṇisāra cũng đang phải tự mình gánh chịu những gì mình đã làm, và với định lực thâm sâu, chính Ngài cũng thấy rõ điều đó. Thời còn là cư sĩ, Ngài U Maṇisāra (tên tục là U Mya Maung) là một người cực kỳ hung bạo và ngang tàng. Ông là con trai của vị xã trưởng làng Thabye Pin, làm nghề lái xe bò thuê và từng làm lính lệ. Ông có tới bảy người vợ và đối xử với họ vô cùng tàn nhẫn. Với những người bị ông nghi ngờ có quan hệ với vợ mình, ông không bao giờ nương tay. Sau này, nhờ khởi tâm kinh cảm (Saṃvega), ông đã đến gặp Ngài Thiền sư, xuất gia tại hang Maung Yin Paw Chauk và nỗ lực hành thiền. Chỉ sau bảy ngày, ông đã hoàn tất phận sự của một vị sa-môn (đắc quả Alahan). Sự kiện này xảy ra vào năm 1294, vào các ngày mùng 10, 12, 14 tháng Tabaung (tháng Ba) và ngày mùng 1 trăng khuyết, cách nhau mỗi hai ngày. Chính Ngài Thiền sư đã thuật lại việc đắc quả Alahan của Ngài U Maṇisāra cho người con trai của vị Saopha xứ Hsenwi là Sap Khun Set và vị quan đại thần U Thone xứ Yawnghwe (lúc họ đang hành thiền tại đó). (Câu chuyện này sau đó được cụ Sap Khun Set, lúc 87 tuổi, kể lại cho Ngài Sunlun Sayadaw U Sāsanavisuddhi — tác giả cuốn "Phương pháp hành thiền Ānāpāna theo truyền thống Sunlun"). Những hạng người ngang tàng như ông U Mya Maung quả thực hiếm thấy. Hồi còn là cư sĩ lái xe bò, có lần khi lên dốc, chiếc xe chở quá nặng khiến con bò không thể kéo nổi. Ông đã dùng roi quất con bò hết sức bình sinh nhưng nó vẫn không nhúc nhích và ngã gục ngay tại chỗ. Cơn giận mù quáng khiến ông chất rơm lên mình con bò rồi phóng hỏa đốt nó. Khi quán xét về tai nạn mà Ngài U Maṇisāra vừa gặp phải, cả Ngài Thiền sư lẫn Ngài U Maṇisāra đều thấy rõ đó chính là món nợ nghiệp báo (vatta-kyway) mà Ngài phải trả. Sau này, lại có những kẻ ganh ghét kéo đến vây bắt và dùng dao chém Ngài. Nhờ kham nhẫn nhập định, các vết chém chỉ để lại những lằn đỏ nhẹ như cỏ khứa. Một lần khác, khi đang an cư tại làng Simigan, Ngài lại bị kẻ xấu lấp cửa hang và phóng hỏa đốt. Vị tỳ-kheo quản sự (Taik-oke Sayadaw) hiện nay là Ngài U Sobhaṇa đã phải đích thân đến đó để đón Ngài về. Vào thời điểm Ngài U Maṇisāra bị đốt trong hang, người con trai của vị Saopha xứ Hsenwi và vị quan đại thần xứ Yawnghwe cũng đang hành thiền trong các hang động lân cận. Sau khi nghe và khởi tâm kính tin trước lời dạy của Ngài Thiền sư, vào ngày rằm tháng Kason năm đó, họ đã thỉnh Ngài U Maṇisāra đến vùng Taunggyi thuộc bang Shan để hoằng dương giáo pháp thực hành (Paṭipatti Sāsanā). ## TRANG 615 Trong thời gian cư ngụ tại Taunggyi, Ngài Maṇisāra đã dùng thần nhãn nhìn thấy tại chùa Sunlun Gu ở Myingyan, có những kẻ ganh ghét đang âm mưu phá hoại giáo pháp bằng cách chôn các loại bùa chú, yểm đối nghịch (In). Ngài đã báo tin về Myingyan, và quả nhiên mọi người đã tìm thấy đúng như lời Ngài chỉ dạy. Nhờ đó, những mưu đồ ám hại đã bị dẹp tan. Ngài U Maṇisāra quả là bậc có nhãn thông xuất chúng. Sau khi giao phó công việc cho Sap Khun Set và vị thiền sư cư sĩ U Toe ở bang Shan, năm 1298, Ngài trở về an cư mùa hạ tại Myingyan. Vị thánh tăng Maṇisāra, người đã gieo những hạt giống giáo pháp thực hành Sunlun tại bang Shan, đã nhập **Niết-bàn (Parinibbāna)** vào tháng Thadingyut (tháng Chín) năm đó. Xá-lợi của Ngài ban đầu được tôn thờ trong một ngôi bảo tháp tại chùa Sunlun Gu, sau này được người dân vùng bang Shan thỉnh về cúng dường theo lời kể của vị tỳ-kheo quản sự. Quả là một câu chuyện đáng để suy ngẫm và là tấm gương lớn để noi theo. Đúng như câu nói "Ngọc quý thì không bao giờ mất giá", ông U Mya Maung — tức Ngài U Maṇi (Viên ngọc quý) Sāra (Cốt tủy) — là một viên ngọc sáng trong giáo pháp thực hành, để lại bài học vô giá cho những người vốn có quá khứ lầm lỗi. Về phía Ngài Thiền sư Sunlun (Sayadaw-gyi), Ngài Chandra (một vị thầy tướng số) từng kể cho tác giả nghe rằng chính Ngài Thiền sư cũng từng bị phóng hỏa. Có lần vào lúc 7 giờ tối, một vị tỳ-kheo từ ngôi chùa gần đó đến thỉnh Ngài đi. Khi đến giữa một cánh đồng cách đó khoảng hai dặm, một người cư sĩ đã mở nắp thùng dầu hỏa chuẩn bị sẵn. Ngửi thấy mùi dầu, Ngài biết họ sắp đốt mình. Vị tỳ-kheo đi cùng còn đe dọa: "Để xem ông có phải là bậc Alahan thật không". Khi Ngài đến nơi, họ vây bắt rồi phóng hỏa thiêu Ngài. Ngài đã phát nguyện: "Trong vòng một giờ, cầu cho thân ngũ uẩn này của ta không bị hủy hoại", rồi Ngài nhập **"Diệt tận định" (Nirodha-samāpatti)**. Khi lửa tắt, thân thể Ngài vẫn vẹn nguyên, không hề hấn gì. Thần lực của các bậc Thánh Alahan quả thật không thể nghĩ bàn. Nếu thấu hiểu được nghiệp báo từ quá khứ, những kẻ ngu muội mới có thể thức tỉnh mà tìm về nẻo thiện. Trên đời này, có những hạng người từng trộm cướp, hung bạo, nghiện ngập, nhưng khi bước vào lộ trình tu tập thì lại đạt được những thành tựu phi thường. Thời Đức Phật, có vị cư sĩ nghiện rượu Saraṇāni hay vị đại thần Santati cũng đã đắc chứng thánh quả. Kẻ sát nhân Angulimāla cũng đã hoàn tất phận sự thánh đạo. Tuy nhiên, trong lịch sử giáo pháp thực hành tại Miến Điện, một người có quá khứ ngang tàng như ông U Mya Maung mà có thể chuyển hóa thành Ngài tỳ-kheo U Maṇisāra thanh tịnh quả thật là điều hiếm có. ## TRANG 616 Theo những gì chúng ta được nghe biết, khi những kẻ trộm cướp, sát nhân trong đời sống thế tục bước vào chặng đường tu tập, nếu không gặp được bậc thiện tri thức (hoặc không chịu nương tựa vào bậc thầy đúng đắn) mà lại chỉ cậy vào "vũ khí hạng nặng" là Pháp hành Samatha (Thiền Định), thì họ thường cướp đoạt đi những nội sản như đức tin (saddhā), giới hạnh (sīla) của hàng Phật tử, và thậm chí còn "trấn lột" ngay cả giáo pháp "Vô Ngã" (Anatta Sāsana) của Đức Phật. Hễ nghe tin "Một gã nghiện rượu nặng vừa đắc Pháp (A-la-hán) rồi" mà dỏng tai lắng nghe kỹ, ta thường thấy họ chỉ mới bước chân vào lộ trình hiệp thế mang danh nghĩa "Samatha" mà thôi. Do đó, việc tìm cầu nương tựa nơi bậc thiện tri thức là điều vô cùng hệ trọng. **Chờ đợi vì còn nhiều người có duyên đắc Thánh quả** Số lượng những vị nhờ nương tựa nơi Ngài Cố Đại sư (Sunlun Sayadaw) mà đắc thành bậc Thánh Nhân (Ariya) là không sao kể xiết. Được biết, Ngài đã từng quang lâm đến Yangon để ban bố phước lành vào các năm: năm 1301 (Miến lịch), năm 1311 theo lời thỉnh mời của Hội Phật giáo Nu-ga-ha (Buddha Sāsana Nuggaha), và năm 1313 để cử hành lễ kiết giới Sīma tại địa điểm Sunlun Gū, Bauk Taw. Những lời dạy và những châm ngôn giáo lý của Ngài vô cùng đáng ghi nhớ và hành trì. Chi tiết xin mời xem trong các cuốn sách "Tiểu sử (Theruppatti) và Pháp thoại Sāraṇīyakathā". Đặc biệt, khi thuật lại các lời giáo huấn và châm ngôn của Ngài, nếu quá chú trọng vào việc trích dẫn kinh điển Pāḷi để chứng minh cho vững chắc thì cần lưu ý sắp xếp sao cho không làm lu mờ đi phong thái ngôn ngữ nguyên bản của Ngài. Nếu trình bày các lời dạy của Ngài một cách thuần túy và nguyên sơ nhất có thể, thì hương vị Pháp (Dhamma) sẽ càng thêm đậm đà sâu sắc. Chắc chắn sẽ còn nhiều tư liệu khác về Ngài được công bố trong tương lai. Riêng về phần bản gốc, vốn dĩ đã vô cùng tinh tế và mặn mà, không cần phải thêm thắt hay "nêm muối" gì cả. Bài học lớn lao mà Ngài Sunlun Gū Sayadaw đã dựng xây trong lịch sử Giáo pháp Hành trì (Paṭipatti Sāsana) chính là: "Dù điều kiện không cho phép học hành, dù không am tường chữ nghĩa, ta vẫn có thể hành pháp được. Không nhất thiết phải đơn độc vào rừng sâu mới đắc đạo. Chỉ cần tin tưởng chân thật và thực hành rốt ráo thì bất luận là ai cũng có thể thành tựu." Ngài đã từ bỏ thân xác (viên tịch) vào lúc 5 giờ chiều thứ Bảy, ngày mùng 9 sau trăng tròn tháng Kasone, năm 1314 (Miến lịch). Khoảng 5 năm trước khi nhập Niết-bàn, Ngài đã tiên đoán chính xác ngày giờ ra đi (tuy nhiên có thuyết nói rằng do người ghi chép nhầm lẫn nên ngày tháng có sự sai lệch đôi chút). Theo lời di huấn: "Sau khi Ta chết, đừng làm gì cả. Cứ để nguyên như vậy", nhục thân của Ngài không hề biến đổi và vẫn được tôn trí trong ngôi bảo tháp Gandhakūṭi Saṃsarā-aye ngay tại chùa Sunlun Gū cho đến tận ngày nay để hàng hậu học chiêm bái. ## TRANG 617 Trước lúc nhập Niết-bàn, lời cuối cùng Ngài để lại là: "Vẫn còn rất nhiều người chờ để đắc quả Thánh (Ariya)". Có vẻ như kim thân của Ngài vẫn đang hiện diện ở đó để chờ đợi và dìu dắt những chúng sinh hữu duyên còn sót lại vậy. ## TRANG 618 ### Những cuộc đối thoại và thẩm tra giáo lý #### Hòa thượng Phak-peng-aing và Ngài U Kavi Bản ghi chép dưới đây tóm lược cuộc thẩm vấn và thảo luận giáo lý giữa Hòa thượng Phak-peng-aing và Ngài U Kavi (vị Sayadaw vùng Myingyan) diễn ra tại làng Abyar, thành phố Bago vào ngày mùng 4 sau trăng tròn tháng Kasone, năm 1287 (Miến lịch). Hòa thượng Phak-peng-aing vốn là một bậc thông tuệ kinh điển lừng danh. **Hỏi:** Khi nhãn căn và sắc trần gặp nhau, nhãn căn đi đến chỗ sắc trần hay sắc trần tìm đến chỗ nhãn căn? **Đáp:** Bạch Ngài, nhãn căn không đi và sắc trần cũng chẳng đến. **Hỏi:** Vậy thì làm sao mà thấy được? **Đáp:** Khi năng lực (satti) của chúng đối diện nhau thì khả năng thấy được phát sinh, bạch Ngài. **Hỏi:** Vậy chẳng phải là sắc trần tìm đến đó sao? **Đáp:** Bạch không phải ạ. (Ví dụ) Người nhìn mặt trời thì chỉ có năng lực ánh sáng của mặt trời làm chói mắt thôi, chứ không phải vòng tròn mặt trời bay vào trong mắt, cũng chẳng phải con mắt bay vào trong vòng tròn mặt trời, bạch Ngài. **Hỏi:** Được rồi, vậy hãy nói về Niết-bàn xem sao. **Đáp:** Bạch Ngài, Niết-bàn (ví dụ) là khi một hành giả tu tập Minh sát (Vipassanā), cảm thấy nhàm chán sự sanh diệt của Tâm, Tâm sở và Sắc pháp vì xem đó là nỗi khổ cực kỳ lớn lao. Khi tìm kiếm nguyên nhân của khổ và nhận diện được Tham ái (Taṇhā), ngay lập tức **Đạo (Magga)** đoạn trừ Tham ái đó, khiến nhân quả bị cắt đứt. Những gì sanh diệt trước khi bị Đạo đoạn trừ gọi là **Hữu vi (Saṅkhata)**, còn sau khi nhân quả đoạn tuyệt, không còn gì (vướng bận) nữa thì đó chính là **Vô vi Niết-bàn (Asaṅkhata Nibbāna)**, bạch Ngài. **Hỏi:** Tại Niết-bàn đó có ánh sáng như mặt trời mặt trăng không? **Đáp:** Bạch Ngài, không có ánh sáng nào cả. **Hỏi:** Vậy thì nó như thế nào, hãy nói thử đi? **Đáp:** Bạch Ngài, không có gì để nói cả. **Hỏi:** Vậy chẳng lẽ Niết-bàn không tồn tại? **Đáp:** Bạch Ngài, có tồn tại ạ. **Hỏi:** Có bốn pháp **Chân đế (Paramattha)** là Tâm, Tâm sở, Sắc và Niết-bàn, phải không? **Đáp:** Dạ đúng vậy, bạch Ngài. ## TRANG 619 **Hỏi:** Bạch Ngài, xin hãy nói về chân nghĩa pháp (paramattha). **Đáp:** Thưa Đại đức, theo ý của U Kavi, nếu nói về chân nghĩa pháp thì chẳng có gì để nói cả, chỉ cần khoanh tay ngồi yên mà thôi. **Hỏi:** Hãy khoan đã, này Ngài. Chỉ bằng cách gọi thỏi vàng lớn này là hòn đá thì thỏi vàng này có biến thành hòn đá được không? Xin hãy trả lời xem nào. **Đáp:** Thưa, không thể thành hòn đá được. Tuy nhiên, nó không thể hiển thị rõ ràng thông qua thực thể vật chất như chế định pháp (paññatti). Sự diệt tận của danh và sắc, nơi mà không còn sự sanh (upāda), trụ (ṭhī), diệt (bhaṅga), thì đó gọi là Niết-bàn. **Hỏi:** Xin hãy nói về việc tu tập **10 loại Tuệ quán** (Vipassanā-ñāṇa). **Đáp:** (Ví dụ) Khi một hành giả tu tập Anapanasati (Niệm hơi thở) và định lực đã chín muồi, vị ấy dùng chánh niệm để theo dõi cảm thọ trên thân mình. Lúc đầu, nhờ tưởng (saññā) mà cảm thọ hiện khởi, sau đó vị ấy thấy rõ thực tính pháp của sự sanh diệt đúng như thật. Do đó, sự sợ hãi và kinh cảm phát sanh. **Hỏi:** **10 loại Tuệ quán** đó phải tu tập từng cái một, đúng không? **Đáp:** Tu tập từng cái một là tùy theo ý muốn của mỗi người, thưa Ngài. **Hỏi:** Nếu không tu tập từng cái một thì phải làm sao? **Đáp:** Chỉ cần dùng **Tuệ Kiến sát (Sammasana-ñāṇa)** để quán xét thì sự sanh diệt, sự sợ hãi, kinh cảm, v.v., sẽ tự nhiên phát sanh, bạch Ngài. **Hỏi:** Khoan đã, chuyện này là thế nào... "Khi dùng **Tuệ Kiến sát** để quán xét, thấy được sự sanh diệt thì đó là **‘Tuệ Sanh diệt’ (Udayabbaya-ñāṇa)**. Thấy sự tan rã là **‘Tuệ Diệt’ (Bhaṅga-ñāṇa)**. Thấy sự sợ hãi là **‘Tuệ Kinh sợ’ (Bhaya-ñāṇa)**. Thấy sự kinh cảm là **‘Tuệ Nguy hại’ (Ādīnava-ñāṇa)**." À, đúng vậy, quả đúng là như vậy. **Hỏi:** Này U Kavi, trong thế gian này theo chế định thì có các bậc Thánh: Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm và A-la-hán, đúng không? **Đáp:** Bạch Ngài, đúng là có như vậy. **Hỏi:** Những vị đó có tiến đắc liên tục theo thứ tự từ Tu-đà-hoàn lên Tư-đà-hàm, A-na-hàm rồi đến A-la-hán không? **Đáp:** Không phải tiến đắc theo cách đó đâu, bạch Ngài. **Hỏi:** Vậy thì tiến đắc như thế nào? Xin hãy nói rõ cách tiến đắc xem. **Đáp:** (Ví dụ) Một hành giả dùng **Tuệ Kiến sát** để quán xét, sau khi đi trọn **10 loại Tuệ quán**, theo chế định, vị đó được gọi là "Bậc Tu-đà-hoàn". ## TRANG 620 Sau đó, lại tiếp tục dùng **Tuệ Kiến sát** để quán xét, khi đi trọn **10 loại Tuệ quán** lần nữa thì gọi là "Bậc Tư-đà-hàm". Cứ tiến đắc bốn lần như vậy thì được gọi là "Bậc A-la-hán", thưa Ngài. ## CHƯƠNG — Quan điểm của U Kavi về 7 bước Thanh tịnh (Visuddhi) Khi Ngài Jabin Sayadaw hỏi U Kavi: "Hãy nói về bảy bước Thanh tịnh xem", U Kavi đáp: "Bạch Ngài, con không biết nói về Thanh tịnh theo cách hàn lâm. Xin cho phép con được nói theo cách mà con hiểu." Được Ngài cho phép: "Cứ nói đi, cứ nói đi", U Kavi đã bạch trình như sau: 1. Một hành giả khi hành thiền, trước tiên phải đảnh lễ Đức Phật, rải tâm từ, hồi hướng công đức. Sau đó, trong khi hành thiền, vị ấy dâng hiến danh sắc này lên Đức Phật, không giới hạn thời gian, nỗ lực hết khả năng. Khi định lực phát sanh, trên thân sẽ hiện khởi các cảm thọ như nóng, lạnh, v.v. Trong khi quan sát những cảm thọ đó, mắt không nhìn đông ngó tây, miệng không nói năng, tay chân không cử động thừa thãi. Khi đó, năm căn là nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn và thân căn đều được thu thúc. Đó là sự thanh tịnh về giới, gọi là **“Giới thanh tịnh” (Sīla-visuddhi)**. 2. Khi tâm an định trên cảm thọ thì tâm được thanh tịnh. Đó gọi là **“Tâm thanh tịnh” (Citta-visuddhi)**. 3. Khi giới đã thanh tịnh và tâm đã thanh tịnh thì sẽ thấy được sự thật. Thấy sự thật là như thế nào? Giống như khi ta quẹt đá lửa, thấy những tia lửa phát ra liên tục, hành giả cũng thấy rõ từng lỗ chân lông trên thân mình như vậy. Khi thấy được như thế, vị ấy nhận ra: "Ta không có chân, không có tay, không có thân, không có đầu", toàn bộ thân thể dường như trống rỗng. Khi đó, cái nhìn (tri kiến) trở nên thanh tịnh. Đó gọi là **“Kiến thanh tịnh” (Diṭṭhi-visuddhi)**. 4. Khi thấy được như vậy, hành giả khởi tâm tin tưởng: "Quả đúng là như vậy, thật đúng là như vậy" đối với Đức Phật. Khi đó, mọi hoài nghi đều tan biến, gọi là **“Đoạn nghi thanh tịnh” (Kaṅkhāvitaraṇa-visuddhi)**. 5. Khi thấy và chứng nghiệm được như thế, tâm sẽ sanh hỷ lạc. Do sự hỷ lạc đó, một luồng ánh sáng chói lọi hiện ra trước mặt. Tâm vị ấy đi đến và dính mắc vào luồng ánh sáng đó. Trong khi dính mắc như vậy, các cảm thọ trên thân thể ## TRANG 621 biến mất và trở nên mát lạnh. Đó gọi là đang chìm đắm trong 10 loại phiền não tùy thuộc của tuệ quán (vipassanupakkilesa). Từ sự dính mắc trong ánh sáng đó, hành giả nhận thức rằng: "Cái này không phải là của ta", rồi quay hướng tâm trở lại ghi nhận trên thân mình. Đó gọi là **“Đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh” (Maggāmagga-ñāṇadassana-visuddhi)**. 6. Khi hướng tâm quay trở lại trên thân, các cảm thọ lại hiện khởi. Khi đó, tâm có lúc phóng lên cao, có lúc lại rơi xuống thấp, chưa đạt được Trung đạo (Majjhima-paṭipadā). Lúc này, hành giả giữ vững tiến trình của tâm (javana) rồi từ từ hạ xuống, đạt được sự quân bình của Trung đạo. Đó gọi là **“Đạo hạnh tri kiến thanh tịnh” (Paṭipadā-ñāṇadassana-visuddhi)**. 7. Khi đã đạt được sự quân bình trong đạo hạnh, giống như súng đã nạp đầy thuốc nổ và ta bóp cò, một tiếng "đùng" vang lên và mọi thứ đoạn tuyệt. Đó gọi là **“Tri kiến thanh tịnh” (Ñāṇadassana-visuddhi)**. Ngài Jabin Sayadaw nhận xét: "Cách giải thích về Thanh tịnh của Ngài thậm chí còn hay hơn nữa." ### Cuộc đối thoại đối chiếu giữa Lý thuyết và Thực hành Vào lúc 6 giờ chiều ngày mùng 3 tháng Tawthalin năm 1287 (P.E), khi Ngài Phak-pin-aing Sayadaw vĩ đại quang lâm, cùng đi với Ngài có các vị Tỳ-khưu như Ngài U Puñña, U Jāgara, v.v. Trong lúc các thí chủ đang vây quanh đảnh lễ, Ngài Phak-pin-aing Sayadaw vĩ đại đã thẩm vấn Ngài Myingyan Sayadaw U Kavi như sau: "Này U Kavi, vì trong thư thỉnh có nhắc đến việc các Ngài sẽ đến nên tối nay tôi mới phải đến đây. Nếu không, tôi định bụng sáng mai mới đến cho kịp bữa thọ thực thôi. Vì đã cao tuổi nên việc đi lại nhiều cũng thấy nặng nề, này U Kavi." "Thưa vâng, bạch Ngài." "Nào, Ngài U Puñña, Ngài U Jāgara, các vị hãy đàm đạo với Ngài U Kavi đi. Tôi thì vẫn còn hơi mệt." "Bạch Ngài, xin Ngài cứ nghỉ ngơi cho hồi phục sức khỏe, sau đó xin thỉnh Ngài ban lời chỉ dạy cho chúng con," các vị Tỳ-khưu thưa như vậy, nhưng Ngài không nghỉ ngơi mà tiếp tục nói như sau: "Này U Kavi, chúng ta không phải là những người mới gặp nhau lần đầu. Trước đây chúng ta cũng đã từng gặp gỡ và quen biết nhau rồi, vì vậy đối với một người... ## TRANG 622 Không có gì phải ngại cả. Chẳng lẽ con không được phép hỏi cho đến khi thỏa mãn những gì cần hỏi sao, thưa Ngài?” “Bạch Ngài, xin hãy cứ giáo huấn đệ tử theo ý Ngài muốn ạ.” “Vậy thì, trước đây khi gặp nhau ở làng Abya, thị trấn Bago, một phần vì gặp gỡ bất ngờ, phần nữa vì cả hai đều là khách tăng nên tôi chỉ hỏi những gì cần hỏi. Nay tôi xin được tiếp tục hỏi thêm.” Hỏi: Thưa ông Kawi, nay cũng sắp đến kỳ mãn hạ (tháng Thadingyut). Trong mùa an cư này, ông thường dùng đề mục nào để trú tâm hành trì vậy? Đáp: Bạch Ngài, con đang hướng tâm về Giáo pháp (Sāsana) ạ. Hỏi: Ông hướng tâm về Giáo pháp như thế nào? "Giáo pháp" bao gồm hai phần là Pháp học (Pariyatti) và Pháp hành (Paṭipatti). Trong hai phần đó, ông hướng tâm về phần nào và theo cách nào? Đáp: Bạch Ngài, vì con không am tường kinh sách nên không đủ khả năng hộ trì Pháp học. Do đó, con chỉ chuyên tâm vào Pháp hành để những người chưa có định (Samādhi) sẽ đắc được định, những người đã có định sẽ định càng thêm sâu dày, và những người đã định tâm sâu dày sẽ đạt đến cứu cánh cuối cùng ạ. Hỏi: Vậy đó chính là Tâm Từ (Mettā) phải không? Đáp: Dạ đúng vậy, bạch Ngài. Hỏi: Nói về Tâm Từ, đó là đặt tâm trên Chế định về chúng sinh (Satta-paññatti), thuộc về thế gian (lokiya). Còn về xuất thế gian (lokuttara), ông hướng tâm và đặt tâm như thế nào? Ông không đặt tâm vào xuất thế gian sao? Đáp: Bạch Ngài, có chứ, con vẫn đặt tâm vào xuất thế gian ạ. Hỏi: Vậy sao ông không đặt tâm hoàn toàn vào xuất thế gian đi, tại sao vẫn còn để tâm rơi vào các tâm thế gian? Đáp: Bạch Ngài, con không thể chỉ đặt tâm duy nhất vào xuất thế gian được, vì gánh nặng uẩn (khandha-vāra) quá lớn nên tâm phải thay đổi, lúc ở thế gian, lúc ở xuất thế gian ạ. Hỏi: Vậy thì việc hướng tâm vào Chế định thế gian cứ tạm gác lại đã. Còn về Thắng nghĩa pháp (Paramattha) xuất thế gian, ông hướng tâm như thế nào? Đáp: Con hướng tâm vào những gì mình đã từng thấy ạ. Hỏi: Vậy thì ngoài các kinh sách khác, theo đúng như trong Thắng Pháp Tập Yếu (Abhidhammatthasaṅgaha) có chép: **“Magga-phalañca nibbānaṃ, paccavekkhati paṇḍito”**, tức là Phản tỉnh tri (Paccavekkhaṇā) phải không? Đáp: Dạ đúng vậy, bạch Ngài. ## TRANG 623 Hỏi: Vậy giữa việc hướng tâm vào Đạo, Quả, Niết-bàn và hướng tâm vào Chế định, cái nào khó hơn? Chẳng phải hướng tâm vào Đạo, Quả, Niết-bàn khó hơn nhiều sao? Đáp: Theo ý con thì cái nào cũng không khó cả, thưa Ngài. Hỏi: Hãy nói cho tôi nghe cách ông hướng tâm vào Đạo (Magga). Đáp: Ví dụ, một hành giả tu tập thiền quán (Vipassanā) và tiến triển dần lên. Khi đó, sau khi hữu phần (bhavaṅga) vừa lắng xuống đôi chút, ba tâm đi trước sẽ loại bỏ các phiền não (kilesa), và tâm tiếp theo sẽ thấy được Niết-bàn. Hỏi: Chuyện này là về ba pháp Tâm, Tâm sở và Sắc đang diễn tiến trong sự "sinh diệt", "sinh diệt", chính đó là nỗi khổ lớn (dukkha). Khi truy tìm nguyên nhân của nỗi khổ này, ta sẽ thấy "Tham" (Lobha) chính là kẻ tạo ra Tâm, Tâm sở và Sắc đó. Hiện nay vì phải nói từng chút nên mất thời gian, chứ khi đó thì không nghe thấy gì cả đâu ạ. Việc tuệ tri nỗi khổ diễn ra đồng thời. (Cứ nói tiếp đi Ngài) Khi thấy kẻ gây ra điều đó, người chiến thắng sẽ bất ngờ tiêu diệt kẻ đó ngay lập tức, đó chính là "Đạo" (Magga) ạ. Khi đó, Tâm, Tâm sở và Sắc giống như bị tan rã, mắt xích nhân quả bị cắt đứt. Đó chính là "Niết-bàn". Sau đó, "Quả tốc hành" (Phala-javana) sẽ bao trùm lấy. Đó là những gì con đã từng thấy ạ. Hỏi: Khoan đã. Khi Đạo phát sinh đó, ông có biết rõ ràng là Đạo đang phát sinh không? Đáp: Dạ không biết ạ, sau khi phản tỉnh (suy xét lại) mới biết được ạ. Hỏi: Nói rằng sau khi phản tỉnh mới biết, điều đó có đúng không? **Yathāpi mūle anupaddave daḷhe,** **Chinnopi rukkho punareva rūhati.** **Evaṃpi taṇhānusaye anuhate,** **Nibbattate dukkhamidaṃ punappunaṃ.** [ (Lưu ý: từ "daḷhe" không có ký tự "ha" viết dưới. Tương tự như "manusā", "daḷhana", v.v.) ] **Anupaddave** = chưa bị tiêu diệt, vẫn còn xanh tươi. **Mūle** = rễ cái, ## TRANG 624 rễ hút nước. **Daḷhe** = khi đã vững chắc, kiên cố. **Chinnopi** = dù cành lá, thân cây có bị chặt đứt. **Rukkho** = cái cây. **Punareva** = chắc chắn sẽ lại. **Rūhati yathā** = mọc lên trở lại như thế nào. **Evaṃ** = cũng tương tự như thế. **Taṇhānusaye** = đối với tham ái ngủ ngầm thường hay tích tụ. **Anuhate** = khi chưa bị Đạo tuệ tiêu diệt. **Punappunaṃ** = hết lần này đến lần khác. **Idaṃ dukkhampi** = nỗi khổ trong vòng luân hồi này. **Nibbattate** = chắc chắn sẽ phải phát sinh, không thể sai chạy. Đúng như trong kinh điển nói rằng Đạo tiêu diệt Tham. Tuy nhiên, giống như trong thế gian, một vị tướng quân ra quân để đánh dẹp quân thù không đi một mình mà đi cùng với rất nhiều binh lính, thuộc hạ đi kèm. Vậy thì Đạo xuất thế gian khi tiêu diệt Tham có đồng minh nào khác không, hay chỉ tiêu diệt một mình? Đáp: Bạch Ngài, vẫn có đồng minh ạ. Hỏi: Đồng minh đó là ai, hãy giải thích rõ xem. Đáp: Ví dụ, một hành giả khi tu tập Thiền quán sắp đạt đến đỉnh cao, ba tâm phía trước sẽ loại bỏ để quét sạch các phiền não. Khi phiền não đã sạch, tâm nhìn thấy Niết-bàn sẽ xuất hiện. Khi tâm đó thấy Niết-bàn, Đạo sẽ nương tựa vào Niết-bàn mà tâm đó đã thấy để tiêu diệt sạch Tham ái ạ. Hỏi: Tôi đã hiểu về Đạo rồi thưa ông Kawi, quả là những chỗ cực kỳ vi tế và thâm sâu. Tôi thì chỉ nói dựa trên kinh sách thôi. Vậy sau khi Đạo phát sinh rồi Quả tốc hành bao trùm lấy, thì trong tâm cảm thấy thế nào? Đáp: Dạ con không biết rõ lắm ạ. Hỏi: Quả phát sinh ngay sau Đạo được gọi là **Akanika-phala** (Quả không có khoảng cách), nó chỉ diễn ra hai hoặc ba thời tâm, mà tâm thì diễn tiến cực nhanh nên chắc chắn không thể biết rõ được. Vậy khi phản tỉnh về Đạo, sự hiểu biết đó như thế nào? Đáp: Ví dụ, một hành giả đắc được Tu-đà-hoàn Đạo (Sotāpatti-magga). Khi vị đó phản tỉnh về Đạo mình đã đắc, vị đó chỉ biết rằng "Ta đã đắc Tu-đà-hoàn Đạo" thế thôi ạ. Hỏi: Khi phản tỉnh về Quả, vị đó hướng tâm vào cái gì? Khi tâm Quả đang diễn tiến, trong lòng cảm thấy thế nào? Đáp: Chỉ cần hướng tâm vào sự chấm dứt nhân quả mà mình đã từng thấy, tâm Quả sẽ phát sinh. Khi đó, tâm sẽ cảm thấy "an lạc và chìm đắm sâu lắng" ạ. ## TRANG 625 Bạch Ngài. 571 “Sau khi quán xét và nhập định như thế gọi là **Walañcana Phala** (vui hưởng quả định). Từ nơi quả định đó mới có thể biết rõ ràng, thực sự vô cùng vi tế bạch Ngài. Thôi, con cũng đã mỏi rồi, xin được xoa bóp thêm chút nữa,” nói rồi Ngài trưởng lão Phak-pin-aing đi lên chùa. Ngài trưởng lão Mying-yan trả lời rằng: “Bậc đồng hành của Đạo chính là Niết-bàn.” Ngài U Dhammika không hài lòng với câu trả lời này, nên đã đi theo sau Ngài trưởng lão Phak-pin-aing lên chùa. Các vị tỳ-khưu, tăng chúng như Ngài U Puñña, Ngài U Jāgara cùng các thí chủ, sau khi nghe cách Ngài trưởng lão Phak-pin-aing hỏi chuyện Ngài trưởng lão Mying-yan, đều cảm thấy rất hoan hỷ và khởi tâm tịnh tín sâu sắc, họ cứ thế bàn tán xôn xao với nhau. ### Ngài U Dhammika bạch hỏi Ngài trưởng lão Phak-pin-aing Hỏi: Bạch Ngài trưởng lão, khi Đạo sát trừ **Samudaya-sacca** (Tập đế) tức là tham ái, Ngài trưởng lão Mying-yan trả lời rằng bậc đồng hành của Đạo chính là Niết-bàn, con không thấy hài lòng. Bởi vì trong **Magga-vīthi** (lộ trình tâm Đạo), Bốn Thánh Đế hiện khởi đồng thời theo cách của ngọn đèn (padīpa-naya), nên không chỉ có Niết-bàn là bậc đồng hành của Đạo, mà con nghĩ rằng **Dukkha-sacca** (Khổ đế) và **Samudaya-sacca** (Tập đế) cũng vẫn là bậc đồng hành của Đạo, bạch Ngài. Đáp: Không phải đâu ông Dhammika ạ. Theo như câu “**Maggo dukkhasaccaṃ pajānāti**”, việc Đạo liễu tri **Khổ đế**, sát trừ **Tập đế**, tu tiến **Đạo đế**, và chứng ngộ **Diệt đế** là phận sự của Đạo (magga-kicca), là năng lực bản tính của Đạo, chứ chưa phải là bậc đồng hành. Hỏi: Bạch Ngài, nếu vậy theo như phần Pariññā-vāra trong bộ Yamaka, ba loại liễu tri là **Ñāta-pariññā** (Tri biến tri), **Tīraṇa-pariññā** (Thẩm sát biến tri), và **Pahāna-pariññā** (Đoạn tận biến tri) đều đạt được đồng thời trong sát-na Đạo, vậy không nên gọi ba loại liễu tri đó là bậc đồng hành của Đạo sao bạch Ngài? Đáp: Chỉ vì cùng hiện khởi đồng thời mà gọi là bậc đồng hành của Đạo thì không đúng đâu ông Dhammika. Gọi là bậc đồng hành nghĩa là phải nương nhờ lẫn nhau. Hỏi: Nếu nương nhờ lẫn nhau được gọi là bậc đồng hành, thì theo như câu “**Cittena niyuttaṃ cetasikaṃ**” (tâm sở là pháp tương ưng với tâm), vậy không nên gọi 36 tâm sở cùng tương ưng đồng hành với Đạo là bậc đồng hành của Đạo sao bạch Ngài? Đáp: 36 tâm sở đó cũng chưa phải là bậc đồng hành của Đạo, chúng chỉ mới là “**Sahakārī-kāraṇa**” (đồng sinh duyên) thôi. Trong việc sát trừ **Tập đế**, để tạo sức mạnh cho Đạo, ## TRANG 626 chúng không phải là chỗ nương tựa, là nơi để cậy trông, nên chưa gọi là bậc đồng hành. Hỏi: Vậy xin Ngài hãy chỉ dạy cho con hiểu rõ về bậc đồng hành của Đạo là như thế nào. Đáp: Này, trong **Magga-vīthi** (lộ trình tâm Đạo), sau khi ý môn hướng tâm sinh khởi, các tâm tốc hành Parikamma (Chuẩn bị), Upacāra (Cận định), Anuloma (Thuận thứ) đi cùng với **Saṅkhārupekkhā-ñāṇa** (Hành xả tuệ) làm phận sự gột sạch các phiền não, khi đó Gotrabhū (Chuyển tộc) nhìn thấy Niết-bàn. Lúc này Gotrabhū ra dấu rằng “Niết-bàn ở đây”, theo dấu hiệu của Gotrabhū, Đạo nương nhờ vào Niết-bàn mà Gotrabhū đã chỉ ra đó làm chỗ dựa vững chắc để sát trừ tùy miên phiền não (anusaya) đấy ông Dhammika ạ. Những điều ông Kawi nói thật đúng đắn, đó là những chỗ vô cùng vi tế. [ Theo ví dụ về bông gòn, thấu kính và mặt trời, có thể nói rằng nhờ có sự trợ giúp của pháp Vô vi (Asaṅkhata-dhātu) mà Đạo mới có thể thiêu rụi phiền não. Do đó, việc lấy Trí tuệ là ý nghĩa của “**Dhamma-dhātu**” (Pháp giới) trong chú giải chỉ là cách nói hoán dụ (upacāra) như đã trình bày. ] ### Một lần nữa lại cùng nhau chất vấn 1. Ngài U Nārada (trụ trì chùa Ngamyagyi). 2. Ngài U Sāsana (trụ trì chùa Ngamyagyi). 3. Ngài U Nārada (trụ trì chùa Si-mi-khon). 4. Ngài U Nanda (trụ trì chùa Myin-tha). Bốn vị trụ trì này cùng nhau bàn bạc, rồi ở giữa hội chúng, họ lại một lần nữa chất vấn Ngài trưởng lão Mying-yan như sau: Ngài U Sāsana: Ngài đã từng học pháp học (sách vở) chưa? Ngài trưởng lão Mying-yan: Bạch Ngài, con chưa từng học. U Sāsana: Nếu vậy thì làm sao biết hành thiền quán (Vipassanā)? Ngay cả Giới tịnh (Sīla-visuddhi) và Tâm tịnh (Citta-visuddhi) còn chưa biết thì làm sao. Mying-yan: Con chỉ biết rằng các bậc thầy dạy điều gì không nên làm thì con thậm chí không chạm tay vào, bạch Ngài. U Nārada (1): Theo như trong kinh văn “**Āvāso ca ... iddhi ti te dasa**”, Ngài có đoạn trừ 10 pháp chướng ngại (palibodha) không? Mying-yan: Con hành thiền từ khi còn là cư sĩ, sau khi trở thành sa-di không lâu thì con đến chỗ các Ngài trưởng lão Yay-lel và Nyaung-lun. Ở đó con không làm việc gì khác, chỉ sống theo lời chỉ dạy của các Ngài, sau đó thì con được thọ cụ túc giới, bạch Ngài. U Sāsana: Vậy nếu Ngài không thông suốt kinh điển, làm sao Ngài có thể hành thiền quán một cách đúng đắn được? Mying-yan: Con chỉ làm theo những gì các bậc thầy truyền dạy thôi. ## TRANG 627 U Nārada (1): Ôi, những người đắc đạo thời Đức Phật đâu phải ai cũng thông suốt kinh điển, quan trọng là đi đúng đường. U Nārada (3): Tin tức về Ngài vang xa lắm, nói rằng Ngài đã đắc quả A-la-hán. Tuy nhiên, nếu Ngài nói rằng mình không thông suốt kinh điển, thì một số thí chủ và tỳ-khưu sẽ cho rằng không cần học pháp cũng có thể đắc Đạo Quả, coi việc học là dư thừa. Nếu không ai chịu học nữa thì giáo pháp Pháp học (Pariyatti-sāsana) chẳng phải sẽ tiêu vong sao? Khi Pháp học tiêu vong thì Pháp hành (Paṭipatti) và Pháp thành (Paṭivedha) cũng sẽ tiêu vong theo. Nếu quả thực Ngài là bậc A-la-hán như chúng tôi nghe nói, thì không nên nói từ “không biết kinh điển”, mà nên nói theo một cách tế nhị (pariyāya) khác. Nếu giáo pháp tiêu vong thì bậc Thánh chẳng phải sẽ đau lòng hơn cả hạng phàm phu sao? Mying-yan: Bạch Ngài, vì con không biết nên con mới nói là không biết. Đối với những vị đang học tập Pháp học, con vẫn thường cúng dường y bát và khuyến khích họ đấy chứ. U Nārada (1): Ôi... người ta hỏi Ngài có biết kinh điển hay không, chẳng lẽ không biết mà Ngài lại phải nói dối là biết sao? U Nārada (3): Xin Ngài hãy lắng nghe, để tôi nói tiếp. U Nārada (1): Ôi... chỉ vì Ngài nói thật về bản thân mình mà cả ba phương diện giáo pháp phải bị tiêu vong sao? U Nārada (3): Hãy khoan đã ông U Nārada, chuyện đó để nói sau, để tôi hỏi Ngài Mying-yan tiếp đã. U Nārada (1): Ôi... các Ngài nói không đúng rồi. Thời Đức Phật chẳng phải có hai vị tỳ-khưu là bạn của nhau đó sao? Một vị là bậc A-la-hán, một vị là bậc thông suốt Tam Tạng kinh điển. Vị thông suốt Tam Tạng mới nghĩ rằng người bạn của mình không học hành gì, chỉ sống theo ý mình nên định chất vấn bậc A-la-hán. Đức Phật sợ vị đó phạm lỗi với bậc A-la-hán nên Ngài đã đứng ra đặt câu hỏi. Hãy xem đó, nếu đi đúng đường và đạt đến đích rồi thì không ai có thể hiểu rõ lộ trình thiền quán hơn họ đâu. U Nārada (3): Khoan đã ông U Nārada, để tôi hỏi Ngài Mying-yan trước cái đã. Này, để cho ba phương diện giáo pháp được trường tồn lâu dài, Ngài nên dùng một cách nói tế nhị hơn là nói mình không học kinh điển. Mying-yan: Bạch Ngài, con cũng chỉ nói theo sự thật thôi. U Nārada (3): Vậy Ngài hãy học kinh điển đi, chẳng phải nếu Ngài vừa thông suốt kinh điển vừa giảng dạy thì giáo pháp sẽ càng hưng thịnh hơn sao? Mying-yan: Con tin rằng do quả của nghiệp (vipāka) nên con mới không học được, và con cũng không có ý muốn học... ## TRANG 628 — Thưa Ngài, không còn gì nữa cả, và con cũng nghĩ mình không có khả năng hiểu biết thêm nữa. **Vị thứ 3:** — Việc do quả báo ngăn trở cũng đúng một phần, nhưng như tôn giả Cūḷapanthaka thuở còn là phàm phu mới bị quả báo ngăn trở, khi đã đắc quả A-la-hán thì không còn ngăn trở nữa. Như Ngài vừa nghe đó, một khi đã thành bậc A-la-hán thì phải thông suốt giáo lý chứ. **Vị thứ 1:** — Hừm, ngài **Cūḷapanthaka** là bậc **Đạt Thông (Paṭisambhidāpatta)**. Bây giờ Ngài có biết Ngài ấy (Ngài Myingyan) là bậc gì không? Ngay cả giữa các bậc Thánh với nhau, bậc thấp hơn cũng không thể thấu triệt được bậc cao hơn, huống hồ là... Chẳng lẽ khi đã thành bậc A-la-hán rồi mà quả báo vẫn còn đeo bám sao? **Vị thứ 3:** — Cũng đúng vậy, nhưng cứ thử học giáo lý xem sao. Trong khi họ còn đang tranh luận qua lại như thế thì trời đổ mưa, nên tất cả phải đi lên trên chùa. ### Tiếp tục thảo luận trên chùa **Người hỏi:** — Thưa Ngài, xin Ngài hãy chứng đắc **Thần thông (Abhiññā)** rồi hãy thuyết giảng có được không? **Ngài Myingyan:** — Con nghĩ mình không đắc được đâu ạ. **Vị thứ 3:** — Giữa việc đời và việc đạo, việc nào khó hơn? **Ngài Myingyan:** — Việc đời khó hơn ạ. **Người hỏi:** — Sau khi đã chứng đắc đạo quả rồi, chẳng lẽ việc học đạo không dễ dàng sao? **Ngài Myingyan:** — Con cũng không có tâm ý muốn nỗ lực học nữa ạ. **Vị thứ 3:** — Thưa Ngài, hiện giờ có bao nhiêu vị Tăng ở đây? **Ngài Myingyan:** — Dạ, có 15 vị ạ. **Vị thứ 3:** — Theo như chúng con được nghe, nếu đã thành bậc A-la-hán thì liệu có còn sự luyến ái (tùy miên/kiết sử) với đệ tử không? **Ngài Myingyan:** — Không phải con cố bám víu lấy họ, mà vì họ muốn ở lại nên con không thể bảo họ đừng ở. **Vị thứ 1:** — Hừm, sau lưng Đức Thế Tôn có đến hàng ngàn đệ tử, chẳng lẽ Đức Thế Tôn lại có sự luyến ái với họ sao? **Vị thứ 3:** — U Nārada à, sao ông cứ hay làm rối chuyện thế. **Vị thứ 1:** — Không phải tôi làm rối, mà vì những điều các ông nói không đúng. ### Tiếp tục thảo luận sau bữa thụ trai **Vị thứ 3:** — Xin Ngài hãy trình bày trình tự quá trình nỗ lực tu tập của Ngài. **Ngài Myingyan:** — (Ngài kể lại từ lúc còn là cư sĩ cho đến khi đắc Đạo). **Vị thứ 3:** — Sau khi đắc Đạo, Ngài không **Phản tỉnh (Paccavekkhaṇā)** sao? ## TRANG 629 **Ngài Myingyan:** — Dạ có, thưa Ngài. **Vị thứ 3:** — Xin Ngài hãy trình bày **Trạng thái (Ākāra)** khi phản tỉnh về **Đạo, Quả và Niết-bàn**. **Ngài Myingyan:** — Sau khi phản tỉnh, con cảm thấy vô cùng hân hoan, thưa Ngài. **Vị thứ 3:** — Ngài hãy nói rõ ra xem. **Ngài Myingyan:** — Dạ, con đã trình bày xong rồi ạ. **Vị thứ 3:** — Hãy nói rõ hơn đi. **Ngài Myingyan:** — Con đã bạch với các Ngài Trưởng lão rồi ạ. **Vị thứ 3:** — Tôi không muốn kiểu "đã thấy voi rồi mà còn đi tìm dấu chân". **Ngài Myingyan:** — Thì phản tỉnh rồi cảm thấy hân hoan thôi. Những hành giả chân chính đều thu thúc/quán xét những pháp mà mình đã đoạn tận. **Vị thứ 3:** — Bậc Đạo sư của chúng tôi khi còn là Bồ-tát đạo sĩ cũng chỉ là phàm phu, Ngài thu thúc tâm sân rất kỹ, nhưng chỉ nói thu thúc không thôi thì tôi chưa thể tin hoàn toàn được. **Vị thứ 1:** — Ba-la-mật mỗi người mỗi khác, Ngài chỉ toàn nói theo ý riêng của mình thôi. **Vị thứ 3:** — Ông xen vào nói cái gì thế? **Vị thứ 1:** — Ý Ngài là sao? **Vị thứ 3:** — Tôi thật chẳng biết nói sao với các ông nữa. **Pháp sư Phak-pin-aing:** — Thôi, đừng tranh cãi nữa. Khi phản tỉnh thì không có trạng thái cụ thể để diễn tả bằng lời đâu, chỉ là biết rõ việc đắc **Đạo** mà thôi. ## TRANG 630 ## Ngài Trưởng Lão Thiền Sư Kanni Shwe Thein Daw ### ( 1242 - 1328 ) “Trời đất ơi con tôi... Cuốn sách nhỏ chỉ bằng bàn tay thế này mà phải học đến tận chín ngày mới thuộc, thì bao giờ con mới thành tài được hả con!” **Mẫu thân** Vào năm mười tuổi, vị sẽ trở thành Ngài Trưởng lão Kanni tương lai đã học thuộc lòng bộ Vi diệu pháp tập yếu (Abhidhammatthasaṅgaha) gồm chín chương, cả tiếng Pāḷi lẫn ý nghĩa chỉ trong chín ngày. Bà Daw Kàng (thân mẫu Ngài) đã than thở rằng: “Chẳng lẽ trí tuệ lại chậm lụt đến thế sao?”. Bởi mế của Ngài chỉ cần nghe người ta đọc trước một lần là có thể đọc lại trôi chảy không sai một chữ ngay lập tức. ### Trí tuệ xuất chúng đáng kinh ngạc Ngài Trưởng lão Kanni không chỉ nổi danh trong lĩnh vực Pháp hành (Paṭipatti) mà còn cho thấy sự xuất chúng vượt bậc trong Pháp học (Pariyatti). Từ khi được khoảng bốn hạ lạp, Ngài đã là bậc kỳ tài có thể thông thạo không chỉ các giáo trình căn bản mà còn thuộc lòng cả năm bộ Nikāya. Chỉ vì Ngài không sống vào thời kỳ huy hoàng của các kỳ thi tụng thuộc lòng “**Ubhatovibhaṅga**” hay thời kỳ tuyển chọn bậc **Thông thuộc Tam Tạng (Tipiṭakadhara)**, nên người dân trong nước đã không có cơ hội được chiêm bái và tán dương hết năng lực Pháp học của Ngài. Dù ngoài 60 tuổi, đôi mắt đã không còn nhìn thấy ánh sáng, nhưng khi thuyết giảng về ý nghĩa các bản kinh, Ngài vẫn thường chỉ rõ chương đoạn (có bản ghi là số trang) một cách minh bạch. Mọi bậc thầy thông thạo giáo lý thời bấy giờ đều phải thán phục và tán dương Ngài. Khi không còn tự mình xem sách được nữa, Ngài luôn giữ một vị tăng chuyên đọc sách để hàng ngày, từ 7 giờ đến 9 giờ sáng, vị này lần lượt đọc tụng Tam Tạng cho Ngài nghe. Khi xem tác phẩm “**Yogī Pāragū**” (Bậc Toàn Tri của Hành Giả) do Ngài viết năm 44 tuổi, các bậc trí giả có thể thấu triệt được trình độ Pháp học sâu dày của Ngài. Dựa trên lời than thở của mẫu thân Ngài, có thể thấy Ngài là người có dòng dõi trí tuệ, một bậc đại trí tuệ bẩm sinh. Cách đây hơn bốn mươi năm, Ngài cũng giống như cậu bé Pāḷi Maung Tun Kyaing, một người tài năng vượt xa lứa tuổi. Những bậc trí tuệ bẩm sinh đến mức khó tin như vậy vẫn luôn hiện hữu ở khắp các quốc gia trên thế giới. Trong lịch sử văn học và lịch sử nước Anh, một nhân vật nổi tiếng tên là "Lord Thomas Babington Macaulay" cũng có khả năng đọc qua một cuốn sách chỉ một lần là có thể đọc lại nguyên văn không sai một chữ. Tại thành phố Vienna, một người đàn ông gốc Litva tên là “Rabbi Elijah” cũng có hàng ngàn cuốn sách... ## TRANG 631 Bậc sẽ trở thành vị Đại Trưởng lão phái Thiền lâm Shwe Thein Taw ở thành phố Kanni, thường được gọi là ngài Kanni Sayadaw, đã giáng sinh vào ngày thứ Sáu, 4 ngày sau kỳ trăng tròn tháng Tabaung năm 1241 (Miến lịch), tại làng Kan Phyu, phía Tây Nam thành phố Kanni. Thân phụ ngài là thí chủ tu viện U Tha Nu, thân mẫu là bà Daw Kaung. Ngài có trí nhớ phi thường, chỉ cần đọc qua một lần đã thuộc lòng hơn hai ngàn (đơn vị văn bản). Ngài từng tâm sự rằng: “Ban ngày tâm trí sáng suốt như đang ở trong thư viện, ban đêm kinh sách như được xếp sẵn trong đầu, không thể nào quên được khiến đôi khi cảm thấy mệt mỏi vì tâm không ngơi nghỉ”. Trong lĩnh vực toán học, ngài có thể tính toán nhanh gấp đôi các công cụ điện tử hiện đại thời bấy giờ, như phương pháp ‘Martin Phase’ và nhiều phương pháp khác. (Điều này được ghi lại để tôn vinh sự thật, không phải để khoa trương). ### Phương pháp của Trưởng lão Thila Tissa người Tây Tạng Từ năm bốn tuổi, ngài đã bắt đầu học đạo với Thiền sư **U Kalyāṇa** tại tu viện Htee Lal, sau đó là đệ tử của ngài là **U Nandiya**, và ngài **U Āciṇṇa** tại tu viện Kan Phyu. Sau khi thọ giới Sa-di và Tỳ-kheo, ngài tiếp tục tầm sư học đạo tại Monywa và Mandalay. Pháp danh của ngài là **U Sobhita**. Sau khi hoàn tất việc học, ngài về ngụ tại tu viện làng Kan Phyu. Một thời gian sau, ngài chuyển đến tu viện thiền lâm Kin Taung, chuyên tâm hành trì thiền định (paṭipatti) trong suốt hai năm. Khi nghe danh tiếng về sự hành trì của ngài Trưởng lão tu viện Oke Pho Let Pan, ngài đã đi bộ từ Kanni đến thành phố Budalin để cầu đạo. Khu vực Oke Pho Let Pan nằm cách thành phố Budalin khoảng 8 dặm về phía Bắc trên trục đường Monywa – Ye-U, nơi có dãy núi Oke Pho. Cách đó khoảng 10 dặm là làng Let Pan nằm gần dãy núi này. Trưởng lão **U Ādicca** ở tu viện Let Pan vốn là đệ tử của các bậc danh đức như Ngài Sayadaw xứ Ayadaw và Ngài Sayadaw xứ Lone Taw. Phương pháp hành trì của ngài Let Pan Sayadaw chủ yếu là “Ānāpāna” (Thiền định tâm trên hơi thở). Tương truyền ngài đã thọ nhận phương pháp thực hành này từ Ngài **Thila Tissa**, một vị Trưởng lão người Tây Tạng đã du hành qua Tích Lan (Sri Lanka) trước khi đến đây. Đây không phải là pháp thế gian mà chính là phương pháp theo đúng tinh thần **Visuddhimagga** (Thanh Tịnh Đạo). Tỳ-kheo **U Sobhita** đã nỗ lực hành trì dưới sự chỉ dạy của Ngài Let Pan Sayadaw trong khoảng tám tháng. Nhận thấy trí tuệ lỗi lạc của U Sobhita, ngài Let Pan Sayadaw đã nhiều lần phó thác: “Này Hiền giả, con hãy soạn thảo một bộ luận lớn về phương pháp hành trì mà các bậc thầy truyền lại cho các hành giả kế thừa để thoát khỏi vòng luân hồi, lấy tên là ‘Pāragū’ (Bậc Đáo Bỉ Ngạn)”. ## TRANG 632 Trên đường từ Let Pan trở về Kanni, khi đi qua gần làng Nyaung Kan thuộc Budalin, ngài đã ghé vào đảnh lễ và cầu pháp nơi Trưởng lão **U Tha Shon** (đây chính là bậc Alahan **U Kavinda**, vị đại thọ hơn một trăm tuổi). (Chi tiết về sự kiện này đã được trình bày ở phần trước). Không lâu sau khi trở về Kanni, đôi vợ chồng vị quan thành phố Kanni đã xây dựng và cúng dường ngôi đại tu viện Shwe Kyaung. Ngài đã bàn giao ngôi chùa cho các đệ tử, còn mình thì lui về ẩn cư tại vùng Wat Kone, phía Tây Nam Kanni để độc cư thiền định và biên soạn bộ đại luận “Yogī Pāragū”. Lúc đó ngài 44 tuổi, vào năm 1285 (Miến lịch). Các tác phẩm của ngài thường ở dạng **Gaṇṭhi** (sách giải thích các điểm khó), văn phong súc tích và hàm súc. Ngay cả những bậc học rộng cũng khó lòng thấu triệt ngay nếu không suy xét kỹ vì ý nghĩa vô cùng sâu sắc. Hiện nay, ngài thường xuyên lưu tại thiền lâm Shwe Thein Taw để hoằng dương giáo pháp hành trì. Do trí tuệ nhạy bén từ sự thực hành thiền định kết hợp với trí tuệ bẩm sinh (paṭisandhi), đôi khi ngài vẫn thể hiện sự uyên bác xuất chúng trong lĩnh vực Pháp học (pariyatti). Khi còn là hậu thế, ngài từng theo học với vị Đại Trưởng lão **Manle Sayadaw**. Có một lần trong buổi lễ khánh thành tu viện, vị đại sư đã chỉ định ngài thực hiện nghi thức hồi hướng. Sau khi hoàn tất, ngài Manle Sayadaw đã gọi: “Này vị Tỳ-kheo trẻ, lại đây”, rồi nắm tay ngài lắc mạnh và tán thán: “Thật là một bậc trí tuệ tuyệt vời!”. Ngài Let Pan Sayadaw cũng từng bảo ngài viết trình bày về 10 loại trí (ñāṇa). Sau khi ngài viết và đọc trình lên, bậc thầy cũng nắm tay ngài lay mạnh và khen ngợi: “Này vị Tỳ-kheo, con quả là một viên đá quý (bậc kiên định)”. (Quý vị có thể tìm đọc thêm những lời giáo huấn của ngài trong bộ **Chavassa Dīpanī** của ngài **U Vibodhālaṅkāra** xứ Taung Sun, hoặc bộ **Padhāna Pāragū** của ngài Sayadaw xứ Mezin, Maung Htaung). ### Đức tin của đôi vợ chồng vị Thần Cây (Rukkhaso) Thời trẻ, khi ngài chỉ mới có khoảng 20 đệ tử Tỳ-kheo, ngài chỉ thọ nhận vật phẩm đặt bát do dân thành mang đến cúng dường tại tu viện chứ không đi khất thực vào làng. Khi đó, đến giờ thọ trai, ngài thường chỉ lấy một phần nhỏ vào bát rồi đi đến khu vực Boh Mae Chaung để thọ thực một mình trong thanh tịnh. Lúc ấy, có một người đàn ông đến xin được phục dịch và hộ độ ngài nhưng ngài từ chối. Người ta đồn rằng vị đó chính là một vị đại Thần Cây hiện hình người đến để hộ pháp. Liên quan đến chuyện chư thiên Rukkhaso, người viết (Ngài **U Sobhita** thuộc tu viện Maung Htaung Yun Set) kể rằng khi ngài đang hành thiền tại Shwe Thein Taw, có một vị Tỳ-kheo cùng tu hành đi khất thực nhưng mãi không thấy về, khiến mọi người phải đi tìm. ## TRANG 633 Vị Tỳ-kheo đó là Ngài **U Subhoga**, một bậc Pháp sư (Sāchya) đến từ Yangon để hành thiền. Ba ngày sau ngài mới trở về tu viện, nhưng trong tâm thức của ngài, dường như ngài không biết là đã trôi qua ba ngày. Ngài kể lại: “Có một vị nữ thí chủ thỉnh mời nên tôi đã thọ trai tại nhà bà ấy”. Chuyện là trên đường đi khất thực, ngài Subhoga gặp một người đàn ông mặc y phục trắng tinh từ trên một thân cây bước xuống. Người đó thưa: “Bạch Ngài, xin hãy dừng bước một lát”, rồi dâng cúng một bộ y. Sau đó, người đàn ông hỏi: “Bạch Ngài, chắc Ngài không nhận ra con?”. Thấy Ngài Subhoga có vẻ ngỡ ngàng, người đó nói tiếp: “Bạch Ngài, thời Ngài còn là vị Tỳ-kheo trẻ ở Yangon, ngày nào Ngài cũng đến khất thực tại nhà con mà Ngài không nhớ sao?”. Ngài Subhoga vẫn chưa nhớ ra ai, thì người đó bạch: “Con chính là **Aggamahāpaṇḍita** Maung Phay đây bạch Ngài”. Ngài Subhoga vô cùng kinh ngạc. Quả thực, ngài sực nhớ lại khoảng bốn mươi năm về trước, ngài thường đến khất thực tại nhà bậc thầy dạy Pali nổi tiếng – cư sĩ **U Phay**. .. Vị thiện nam đó lại thưa: “Bạch Ngài, Ngài không gặp bà nhà sao? Nhà con cũng ở loanh quanh đây thôi”. Trong khi Ngài Subhoga còn đang suy ngẫm liệu vị nữ thí chủ đã thỉnh mình thọ trai có phải là phu nhân của ông không, thì vị thiện nam Rukkhaso (tiền thân là cư sĩ U Phay) đã biến mất. Được biết, cư sĩ **U Phay** là người đầu tiên trong hàng cư sĩ được chính quyền Anh quốc thời bấy giờ phong tặng danh hiệu cao quý “**Aggamahāpaṇḍita**” (Bậc Đại Trí Tuệ). ### Phương pháp truyền dạy và Quan điểm giáo pháp Tóm tắt sơ lược về phương pháp của ngài Kanni Sayadaw: Trước tiên hành giả phải thanh tịnh giới bổn (sīla). Sau đó, trong khoảng từ hai, ba ngày đến một tuần, hành giả cần thực tập các đề mục: Thiền Tâm Từ (Mettā), Niệm Phật (Buddhānussati) và Niệm Sự Chết (Maraṇassati). Tiếp theo mới bắt đầu thực hành **Ānāpāna** (Niệm hơi thở) từ phương pháp đếm số (gaṇanā) 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8... cho đến khi thủ đắc được **Paṭibhāga-nimitta** (Tương tự tướng) một cách rõ ràng. ## TRANG 634 Để có thể làm chủ được Đối tượng Tương tự (paṭibhāga-nimitta), người hành giả cần thực hành "biến hóa" định tướng (nimitta) rất nhiều: như cho nimitta ăn mòn cơ thể mình, dần dần mở rộng nimitta lan tỏa cho đến tận bức tường của luân hồi (vũ trụ), rồi lại thu hồi nymitta trở lại, v.v. Tuy nhiên, Ngài không quá chú trọng vào các tầng Thiền định (jhāna). Ngài hướng dẫn hành giả chuyển sang Minh sát (vipassanā) để đạt được Đạo, Quả và Niết-bàn. Liên quan đến An chỉ Định (appanā jhāna), trong cuốn sách "Yogī Pāragū" (xuất bản năm 1315 Miến lịch - 1931-1932 DL) có ghi rằng: "Khi các thiền sinh cầu vấn bậc Ân sư cách thức để chứng đạt An chỉ Định, các Ngài chỉ thuyết giảng theo phương pháp trong kinh điển. Còn về bí quyết cốt lõi (hatthamuṭṭhi) — cách thức đưa bốn đại vào bên trong nội thân — các Ngài không thị hiện, nên kẻ hèn này tuyệt nhiên không dám viết ra." Về quan điểm đối với Thiền định (jhāna), tại trang 44 của cuốn sách đó có ghi: "Dù muốn đạt được Thiền định, nhưng vì tâm niệm rằng đây không còn là thời kỳ (thời đại) thích hợp cho việc đó, nên hành giả nên nỗ lực đạt đến Cận định (upacāra samādhi) là đã đủ cơ sở để tiến lên tu tập tuệ Minh sát, v.v." Lại tại trang 45, tác giả nhận định: "Ngoại trừ chú giải Culla-vagga, trong quan điểm của bốn bộ Chú giải lớn khác vào thời kỳ thứ ba, vẫn còn thấp thoáng bóng dáng của Tam Minh (tevijjā). Tam Minh là loại Thắng trí (abhiññā) phát sinh ngay sau tầng Thiền thứ năm, cho nên vẫn còn hy vọng đạt được từ tầng Thiền thứ nhất trở đi. Dù là vậy, (hiện nay không còn vị thầy nào có thể thực chứng và chỉ dạy điều đó)." Bên cạnh đó, các bằng chứng cho thấy có rất nhiều vị đại hành giả (Yogī) ngoại đạo tại Ấn Độ đạt được tầng Thiền thứ tư có thể được tìm thấy trong các cuốn sách kể về những cuộc gặp gỡ với các hành giả Ấn Độ của Tiến sĩ Paul Brunton. Về vấn đề Niết-bàn, trong cuốn "Yogī Pāragū" cũng phân loại và giải thích rõ ràng về các loại ánh sáng khác nhau thường gây nhầm lẫn cho trí tuệ của hành giả; đây là những điểm cực kỳ đáng lưu tâm và suy ngẫm. Liên quan đến bốn Đạo (magga-catukka) và bốn Diệt (nirodha-catukka), ngay trong chương "Niết-bàn" này, người ta cũng tìm thấy các phương pháp của Ngài Kanni Sayadaw **U Sīlatissa** được trình bày. ### Các đức tính và thói quen của Ngài Sayadaw Ngài Sayadaw cực kỳ tôn trọng Giới luật (vinaya). Ngài cũng chỉ hài lòng khi mọi việc được thực hiện đúng luật. Khi cúng dường vật thực, nếu dùng đĩa có vết nứt hay sứt mẻ, Ngài sẽ từ bỏ luôn cả vật thực lẫn chiếc đĩa đó. Ngài thực hành nghiêm túc giới sanni-dhi (không tích trữ thực phẩm qua đêm) theo lời dạy "không được để lại phần ăn trưa cho bữa tối". Ngay cả những điều học nhỏ nhặt nhất, từ khi còn trẻ, Ngài đã luôn đặc biệt chú ý tránh phạm và nghiêm túc tuân thủ. Một số hành giả dựa vào lời dạy **“Oramattakaṁ sīlaṁ”** (so với Định và Tuệ thì Giới là ## TRANG 635 hạng thấp kém) mà hiểu sai lệch, hoặc cho rằng: "Khi đang ghi nhận đề mục thì ba chi đạo của Giới (Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng) đã tự động bao gồm rồi, nên Giới không quan trọng đến thế". Việc Giới tự động bao gồm trong định lực là đúng, nhưng để luôn luôn duy trì sự tỉnh giác và giữ giới thì không hề dễ dàng. Giới ví như chân và tay (carana). Không có chân tay thì chẳng làm được việc gì. Minh họa rõ nhất là người đi xe đạp: nếu tay không vững, chân đạp lên xuống mà lưng không giữ được thăng bằng thì không thể đi được. Khi đã làm chủ được chân, tay và lưng, chỉ cần đạp một cái là xe tự chạy theo đà. Lúc đó không cần nỗ lực đặc biệt để đạp hay giữ tay lái nữa, vì mọi thứ đã tự động vận hành trong đà đó rồi. Hành giả nên hiểu và thực hành theo cách này. Để có được niềm hỷ lạc lớn lao từ việc giữ Giới thanh tịnh, hãy phát nguyện giữ giới một cách cung kính bằng lời nói (samādāna-viratī), và hãy thường xuyên quán xét lại giới hạnh của mình (sīlānussati). Niềm hỷ lạc đặc biệt phát sinh từ đó chính là một khối thiện sự vô cùng to lớn. Khi các thí chủ thân thiết thỉnh mời cúng dường vật thực, Ngài Sayadaw thường nhắc nhở họ hãy tìm các hang hốc để cho chim chóc, muông thú, chó và kiến ăn nữa. Tại tu viện, việc này được thực hiện hàng ngày. Nếu có đường thốt nốt, Ngài bảo tìm tổ kiến để cho chúng ăn. Nếu không còn cơm thừa cho chó, phải nấu gạo pha thêm chút dầu để cho chúng ăn. Ngay cả chuột cũng được Ngài cho ăn. Ngài còn bảo mua rơm cúng dường cho những con bò đi lạc. Tuy nhiên, đối với hành giả, cần suy xét để không tự tạo ra những chướng ngại (palibodha) không cần thiết, làm xao nhãng việc hành trì chính. Không nên bám chấp một chiều theo quan niệm "Āciṇṇakappo" (mọi việc thầy làm đều đúng). Khi có khách tăng đến, nếu có dư y bát, Ngài thường mang ra biếu tặng. Ngài thường răn dạy các vị Sa-di và **Tỳ-khưu** giúp việc nhận và chuyển đồ rằng: "Đừng để tâm bủn xỉn ngăn trở ở giữa, nếu không sau này sẽ rơi vào cảnh giới không thể thốt nổi một lời tùy hỷ (sādhu) đâu." Ngài yêu thích việc thực hiện các thời khóa bái Phật một cách tôn kính. Bản thân Ngài, từ nơi ở của mình, luôn hướng về bốn phương để dâng đèn cúng dường và lễ bái các bảo tháp xa xôi như Shwedagon ở Yangon, Mahācetiya ở Sri Lanka... rồi mới đi nghỉ. Ngài cũng dâng đèn cúng dường tất cả các ngôi chùa trên núi và trong thành phố bằng sự tưởng niệm hướng tâm. Một lần nọ, có một vị sư khách đến thăm... Ngài hỏi: "**Ông Pazin** (Tỳ-khưu), một ngày ông bái Phật mấy lần?". Vị sư thưa rằng lễ bái sáng 3 lần, tối 3 lần. Ngài hỏi tiếp: "Vậy một ngày ông ăn mấy bữa?". Vị sư thưa có 10 bữa (tính cả các bữa nhẹ/vật thực cho phép). Ngài liền ## TRANG 636 phán rằng: "Hóa ra số lần ông bái Phật còn chẳng nhiều bằng số lần ông ăn cơm." Dhammācariya **U Htay Hlaing** (nhận định) Khi đã ngoài 88 tuổi, Ngài chỉ nghỉ ngơi vừa đủ để duy trì sức khỏe, thời gian còn lại Ngài dành trọn cho việc ôn tầm kinh sách và hành thiền Minh sát. Ngài thường dạy rằng: "Hãy sống sao cho có công đức (kusala), đừng để tầm tứ (vitakka) bất thiện xen vào, đừng để một lời nói nào thốt ra mà rời xa quy luật Vô thường (anicca)." ### Liên quan đến việc đắc chứng Pháp đặc biệt Một ngày nọ, khi Ngài Sayadaw đang đi kinh hành, một thí chủ từ làng Mè-din đến bạch rằng: "Bạch Ngài, mọi người đang đồn đại Ngài là bậc A-na-hàm (Anāgāmī)". Ngài liền đáp: "Ờ... đúng rồi đó, tôi đang 'A-na-khâm' (chịu đựng đau đớn) để mà đi bộ đây này" (Một cách chơi chữ trong tiếng Miến: Anāgāmī và Anā-khan - chịu đựng đau đớn). Ngài cực kỳ giữ bí mật về sự chứng đắc của mình. Có lần, một người học trò đã hoàn tục từ làng Bant-pway đến bạch: "Con nằm mơ thấy ban đêm trên đỉnh núi có những đoàn người cưỡi ngựa, che lọng trắng đi xuống rồi biến mất". Khoảng 2 năm trước khi viên tịch, Ngài đã ngăn người này: "Con đừng đi kể chuyện này với người khác." Hiện nay, hai vị tôn túc được tôn vinh là "Bậc Thánh A-la-hán" tại cốc Parakkama phía Đông và phía Tây của dãy núi Sagaing đều là đệ tử của Ngài. Khoảng 2-3 tháng trước khi viên tịch, khi hai vị này đi bộ đến Kanni để đảnh lễ Ngài... Họ tha thiết thỉnh cầu: "Bạch Ngài, nếu từ vô lượng kiếp luân hồi cho đến tận hôm nay, chúng con có điều gì sơ suất phạm lỗi qua thân, khẩu, ý, xin Ngài từ bi lân mẫn hỷ xả cho chúng con." Ngài đáp: "Các vị không có lỗi lầm gì với tôi cả. Trái lại, nếu tôi có điều gì sơ suất thì chính các vị hãy hỷ xả cho tôi." Sau đó Ngài im lặng suy nghĩ một hồi rồi nói thêm một câu kỳ lạ: "Thôi... các vị hãy đảnh lễ cho thỏa lòng đi, vì sau này sẽ không cần đảnh lễ nữa đâu." Quả nhiên không lâu sau đó Ngài viên tịch. Thọ 88 tuổi, 68 hạ lạp. Ngài viên tịch vào lúc 11:30 sáng ngày mùng 1 tháng Tagu năm 1328 Miến lịch (1966 DL). Lễ Trà tỳ (hỏa táng) được tổ chức vào ngày rằm tháng Tagu năm 1329 Miến lịch. Trước đó Ngài từng dặn: "Khi tôi mất, đừng để xác nhiều ngày, đừng làm lễ rình rang, cũng đừng làm lễ dâng cơm cầu siêu." ## TRANG 637 Tại đây, Ngài đã chỉ dạy các đệ tử như **U Thon-wa-ra** (Sayadaw U Saṃvara), **U Nya-ni-ka** (Sayadaw U Ñāṇika), **U Re-wa-ta** (Sayadaw U Revata), **U Ka-win-da** (Sayadaw U Kavinda), v.v... dựng các đình lợp lá thốt nốt, tổ chức các buổi thuyết pháp và lễ cúng dường theo đúng Chánh pháp (không nhận tiền hỗ trợ trực tiếp cho chư Tăng). Bảo tháp chứa xá-lợi (di cốt) của Ngài đã được xây dựng để hàng hậu thế chiêm bái. Một bảo tháp xá-lợi khác cũng được tôn trí tại Parakkama-chaung, nằm ở khu vực giữa của dãy đồi Sagaing. Các tác phẩm do Ngài biên soạn bao gồm (từ mục 1 đến 4 đã được xuất bản): 1. **Yogi Pārāgū Kyan** (Du-gi Ba-ra-gu - Luận về sự đạt đến cứu cánh của hành giả), soạn năm 1285 (1923). 2. **Sacca Pārāgū Kyan** (Thit-sa Ba-ra-gu - Luận về sự đạt đến cứu cánh của sự thật), soạn năm 1293 (1931). 3. **Vivaṭa Pārāgū** và **Saraṇa Pārāgū** (Vi-voat Ba-ra-gu và Sa-ra-na Ba-ra-gu). 4. **Dhamma Vidū** (Dhamma Vi-du - Bậc thông tuệ Pháp). 5. **Sujana Pārāgū** (Thu-za-na Ba-ra-gu). 6. **Dassana Pārāgū** (Dat-tha-na Ba-ra-gu). 7. **Araddhovāda Sāttan** (A-rat-tho-va-da - Các bài huấn từ). 8. **Diṭṭhipahāyaka Sāttan** (Deit-hti-pa-ha-ya-ka - Chuyên khảo về việc đoạn trừ tà kiến). 9. **Kalyāṇuppāda Kyan** (Kal-lya-nu-pa-da). Những thông tin để chúng ta chiêm bái trên đây được ghi chép dựa theo lời của Sayadaw **U Sobhita** (U Tho-bi-ta) thuộc tu viện Yun-set, làng Maung-htaung-gyi, huyện Budalin, quận Monywa, cùng với nội dung trong các tác phẩm như **Yogi Pārāgū**. ### Hành giả đã đạt được vị trí đúng đắn chưa? "Đừng mải mê nói về việc người khác chưa đạt được vị trí đúng đắn (chưa tu đúng hướng), chỉ cần biết bản thân mình đã đúng hay chưa là đủ rồi. Khi biết rằng mình chưa đúng, đó chính là lúc bắt đầu đúng đắn. Còn nếu bản thân chưa đúng mà lại lầm tưởng mình đã đúng, thì hạng người ấy hoàn toàn không có hy vọng gì (trên con đường tu tập)." — **Đại Trưởng lão Webu Sayadaw**. ## TRANG 638 ### Sayadaw Thim-taung Se-gyi Tawya (1244 – 1321) Sayadaw Thim-taung Se-gyi Tawya (Thiêm-taung Sê-di To-da) là vị trụ trì đời thứ hai của hệ phái Thim-taung. Ngài là đệ tử đầu tiên của Ngài In-ma-gyi Sayadaw và đồng thời là một cánh tay đắc lực trong công cuộc hoằng Pháp. Sayadaw Se-gyi Tawya không chỉ tiếp nhận tinh túy pháp học và pháp hành từ Sayadaw In-ma-gyi mà còn thừa hưởng gia sản Pháp bảo từ các bậc danh đức như Sayadaw **Ledi**, Sayadaw **Thek-khya-taung**, và cư sĩ đại trưởng giả **Saya Thet** (tại Pyaw-bwe, Dala). Do đó, các tác phẩm của Ngài như: "**Ariya Vijjā Magga Alin-pya Kyan**" (Ấn hành lần 1 năm 1312, lần 2 năm 1316) và cuốn sách nhỏ được viết vào cuối đời mang tên "**Nibbāna Paung-choke Ah-si-htoke**" (do **U Tun Hla Aung** thuộc tổ chức Buddha Dhamma Loka ấn hành cúng dường tại lễ tang của Ngài) đã mang lại lợi ích vô cùng to lớn cho lĩnh vực Giáo pháp thực hành (Paṭipatti Sāsanā). ### Chỏm tóc dài và sự dùng dằng chưa dứt Ngài sinh vào Thứ Ba, ngày mồng 5 sau trăng tròn tháng Wazo năm 1244 (1882) tại làng Shwe-twin-du Se-gyi (hệ phái Hti-hlaing), huyện Wundwin, quận Meiktila. Thân phụ là ông **U Kyawt**, thân mẫu là bà **Daw Kaung**. Trong phần kết của các bộ luận, Ngài có chép rằng: gần ngôi làng có một con đập do vua Anawrahta xây dựng, và chính ngôi làng đó là do vua Kyansittha thành lập. Tu viện Se-gyi Tawya nơi Ngài ngụ tọa lạc tại vị trí cách chùa Shwe-bon-tha năm trăm sải tay về hướng Tây Nam; ngôi chùa này là do hoàng hậu **Khin Thant** (vốn sinh tại làng Hti-hlaing) của vua Kyansittha xây dựng. Tại tu viện đó còn có một đường kinh hành dài một trăm sải tay được trải cát trắng. Khi Ngài cao tuổi, một cột trụ lớn tại đường kinh hành này đã được dát vàng lá. Đây chính là nơi đầu tiên Ngài chứng đắc (Pathama Bodhithana). Con đường xuất gia của Ngài không hề dễ dàng. Phải mất ba bốn năm trì hoãn Ngài mới chính thức trở thành tu sĩ. Cho đến năm ngoài hai mươi tuổi, Ngài vẫn phải phụ giúp cha mẹ làm ăn. Vì môi trường ở làng không yên tĩnh nên Ngài đã lên Mandalay để làm việc. Khi ấy, Ngài vẫn để tóc theo kiểu chỏm dài (Shyaung-gyi-bye). Về sau, cảm mến đức tính thật thà trung hậu của Ngài, một vị phú ông tại Mogok đã ## TRANG 639 nhận Ngài làm con nuôi và đưa về Mogok chung sống. Vị phú ông ấy thường dỗ dành Ngài rằng: "Tất cả của cải này đều là của con", rồi đem cho Ngài xem vô số vàng bạc, đá quý và hồng ngọc để Ngài vui lòng ở lại. Thế nhưng, Ngài không hề có tâm ham muốn những báu vật đó và cũng không thấy an lạc khi ở Mogok. Đúng lúc ấy, thân phụ Ngài là ông **U Kyawt** nghe tin đã tìm đến đón Ngài về quê. Vị phú ông ở Mogok đành bùi ngùi nhìn Ngài ra đi. Khi về đến làng, tâm trí Ngài vẫn không nguôi ý định xuất gia. Cuối cùng, Ngài đã tìm đến một tu viện nhỏ trong rừng tại In-ma-gyi và nhất quyết không trở về nhà nữa. Nơi Ngài cảm thấy an lạc chính là tu viện nhỏ bé trong rừng thưa, lợp mái tranh đơn sơ trên bốn cột gỗ. Dù cha mẹ có nài ép thế nào Ngài cũng từ chối quay về. Khi đó, Ngài vẫn để chỏm tóc dài và làm người hộ tăng (Kappiya) tại chỗ của Sayadaw In-ma-gyi. Thời điểm đó là vào mùa hạ năm 1246 (1884). Thấy con trai có ý chí sắt đá, cha mẹ Ngài sau cùng cũng phải thuận lòng. Ngay trong mùa hạ năm đó, Ngài đã xuất gia thành vị Sa-di lớn tuổi mang pháp danh **Jawana** (Javana), tu tập tại tu viện bốn cột gỗ ấy. (Thông tin dựa theo lời kể của nữ tu **A-pwa-lay** – cháu họ của Ngài tại tu viện Hti-lin, phía nam Mandalay; cùng ông Luật sư **U Kar Nyein** và bác sĩ **Daw Ma Ma Lay** tại Kyaukse). Trong sổ tay bản thảo của Ngài, người ta thấy có ghi chép như sau: (Ngày mồng 8 tháng Waxing tháng Tawtalin năm 1268, tại giới đàn Khanda Sīmā tu viện Shwe-twin-du; các vị Thầy tụng Tuyên ngôn Tăng sự gồm Sayadaw **U Mala** - lãnh đạo hệ phái Mon-daw, Sayadaw **U Visuddha** - lãnh đạo hệ phái Hnaung-gon, Sayadaw **U Tejavanta** - lãnh đạo hệ phái Tama-gon Thayet-chan; cùng với vị Thầy tế độ (Upajjhāya) là Ngài Sayadaw lãnh đạo hệ phái Hti-hlaing. Lúc 1 giờ trưa. Năm 1290, được 22 hạ. Năm 1268, đang làm Sa-di trong mùa hạ. Năm 1294, được 27 hạ). ### Sức mạnh có thể bao trùm thế gian Sau khi thọ giới Tỳ-kheo, Ngài nỗ lực tu tập song hành cả Pháp học (Pariyatti) và Pháp hành (Paṭipatti). Ngài cũng đã được thọ nhận pháp môn từ Trưởng lão **Ledi Sayadaw** và Sayadaw **U Tiloka** của vùng Thek-khya-taung. Những ghi chép về cách kiểm chứng và giảng dạy Giáo pháp của **Ledi Sayadaw** trong tác phẩm "**Ariya Vijjā Magga Dīpanī**" do Ngài biên soạn thật sự mang lại lợi ích vô cùng quý báu. 1. Khi các vị sư và thí chủ từ Sun-lun đến để được Trưởng lão **Ledi Sayadaw** kiểm chứng việc tu tập, Ngài dạy rằng: không nên vội vàng tuyên bố "Tôi đã đắc quả Tu-đà-hoàn", v.v... Bậc thầy cũng không nên đưa ra phán quyết quá sớm, vì làm vậy có thể ví như việc "bẹ gãy mầm non của Đạo quả". Tính chất của phiền não ngủ ngầm (Anusaya Kilesa) vốn rất tinh vi; đôi khi nhờ sức mạnh của định (Samādhi) mà chúng tạm thời lắng xuống, khiến hành giả lầm tưởng mình đã trở thành bậc Thánh (Ariya), nhưng thực sự thì không phải vậy. ## TRANG 640 Khi Ngài U Javana mới xuất gia làm Tỳ-khưu không lâu, trong lúc đang thọ giáo với Ngài Đại trưởng lão Ledi Sayadaw tại tự viện Ingyingmyaing, thành phố Pyinmana, Ngài nhận thấy vào mỗi buổi chiều, Đức Sayadaw thường đi sâu vào khu rừng bên ngoài am tự. Ngài Javana nảy sinh ý muốn đi theo để quan sát. Ngày hôm sau, chính Đức Sayadaw đã gọi: “Này Javana, hãy đi cùng ta,” rồi dẫn Ngài vào rừng. Tại một nơi thích hợp, hai thầy trò cùng hành thiền. Khi bóng tối vừa chớm phủ, kết thúc thời thiền, Đức Sayadaw phán rằng: “Này Javana, ta đang nỗ lực hành trì pháp **Ānāpāna** (Niệm hơi thở) này cho đến tận cùng đường đạo. Luồng ánh sáng phát ra từ hai lỗ mũi có thể bao trùm khắp toàn bộ thế giới luân hồi này. Tuy nhiên, điều khó khăn là khi ta thu hồi luồng ánh sáng đã lan tỏa ấy trở lại, nó vẫn chưa được gom tụ nhất quán hoàn toàn, mà vẫn còn những điểm rời rạc như những hạt tấm tán vịn. Nếu có thể làm chủ được điều này, ta sẽ làm chủ được cả thế giới luân hồi. Khi đó, ta có thể vận hành mọi việc theo ý muốn. Vậy nên, nếu con ở lại nơi này, hãy cố gắng tinh tấn như ta vậy.” ### Lòng từ tại lễ khánh thành cung điện Chin Tsong Vào năm 1282 (Âm lịch Myanmar), tại ngôi chùa nghỉ mát (Sankan) do vị phú hộ Chin Tsong xây dựng tại khu vực Katunmaing, phía Bắc núi Zin Kyaik, thuộc thị trấn Thaton, Ngài Ledi Sayadaw đã đến an cư kiết hạ và Ngài U Javana cũng đi theo phục vụ. Trong thời gian lưu trú tại đây: Đức Sayadaw truyền dạy: “Này Javana, con hãy thử viết một bài giảng thật cặn kẽ, dùng các thí dụ sao cho những người chưa từng học giáo pháp cũng có thể thấu hiểu về cách phân biệt Chế định (Paññatti) – Thắng nghĩa (Paramattha) và về yếu tố tùy miên (Anusaya).” Ngài Javana đã soạn thảo và nhờ vị Tỳ-khưu U Ñeyya đang ở cùng đến đọc trình lên Đức Sayadaw. Đức Sayadaw khen ngợi: “Được đấy, con hãy viết rộng thêm ra.” Do nhiều duyên sự, mãi đến ngày Rằm tháng Kasone năm 1312, tác phẩm mới hoàn tất. Trong tác phẩm đó, Ngài đã trình bày rất đặc sắc về sự khác biệt giữa **Ariyavijjā** (Thánh trí) và **Lokiyavijjā** (Thế gian trí), cũng như cách các vị có thần thông thế gian dùng phép thuật để mê hoặc lòng người, thật là những nội dung rất đáng ghi nhớ. (Trích tác phẩm số 368). Khi đó, Ngài Ledi Sayadaw cùng đoàn đi đến Ngưỡng Quang (Yangon) để dự lễ... ## TRANG 641 khánh thành cung điện Chin Tsong (nay là Kambawza Yeiktha) do vị phú hộ Chin Tsong xây dựng. Trong thời gian đó, Ngài Javana đã đến trú xứ của cụ Sahaya Thet Gyi ở Dala Pyawbwe để thuyết Pháp giảng giải về việc sám hối các lỗi lầm về nghiệp môn (Kammadvāra). (Chi tiết xin xem trong quyển sách “Cụ Sahaya Thet Gyi”). Khi trở về Yangon, Đức Sayadaw hỏi: “Con đã thuyết những thời pháp gì cho thí chủ Thet Gyi và mọi người?” Sau khi nghe Ngài Javana trình bày sơ lược, Đức Sayadaw bảo rằng Ngài cũng muốn nghe, nên Ngài Javana đã thuyết lại thời pháp đó một lần nữa. Đức Sayadaw đã hoan hỷ tán thán “Sādhu”. Tại lễ khánh thành cung điện Kambawza đó, Ngài Ledi Sayadaw thuyết pháp hằng đêm, thính chúng vân tập vô cùng đông đảo. Tuy nhiên, dường như có một sự cản trở hay khó khăn gì đó mà người thường không thể nhận biết được. Bởi vì sau một hai ngày thuyết pháp, Đức Sayadaw bảo: “Này Javana, khi ta đang thuyết pháp ở phía trước, con hãy ở phía sau ‘yểm trợ bằng mạng lưới kính’ (Manku-kwet) cho ta.” (“Manku-kwet” ở đây ám chỉ việc tu tập và lan tỏa tâm từ). Vâng lệnh Đức Sayadaw, Ngài Javana đã nỗ lực hơn bình thường rất nhiều trong việc tu tập rải tâm từ. Sau một hai ngày, Đức Sayadaw nhận xét: “Này Javana, ‘mạng lưới kính’ của con thật sự có hiệu quả đấy. Lúc nào vắng người, hãy trình lại cho ta chi tiết cách con thực hiện như thế nào.” Trong một căn phòng thuộc cung điện Kambawza khi không có ai, hai thầy trò đã trò chuyện thân mật và hoan hỷ. Ngài Javana đã trình bày cách rải tâm từ như sau: “Bạch Đức Sayadaw, nếu con có chỗ nào sai sót, xin Ngài chỉ dạy và sửa đổi cho con. Con vẫn thường rải tâm từ như thế này, nhưng khi có lời dạy của Ngài, con đã nỗ lực hơn gấp bội. Trước hết, con quán tưởng và thu giữ hình ảnh khuôn mặt cũng như phong thái của Ngài khi đang thuyết pháp để rải tâm từ đến Ngài. Tiếp theo, con hướng tâm đến những vị thí chủ chính là ông bà phú hộ Chin Tsong cùng toàn thể những người hộ trì, ban hộ tự; ai biết tên thì con niệm thầm tên người đó để gửi tâm từ. Với thính chúng chưa biết tên, con rải tâm từ bao quát đến tất cả. Sau đó, theo lệ thường, con lan tỏa rồi thu nhiếp tâm từ từ chư thiên quanh vùng cho đến khắp toàn bộ thế giới luân hồi, bạch Ngài.” “Đúng vậy, đó chính là trạng thái của Parikamma (Chuẩn bị) và Uggaha (Học tập tướng). Vậy còn nội dung lời nguyện khi rải tâm từ thì sao?” “Dạ, con xin trình. Với mỗi cá nhân, con hướng tâm vào sáu môn, tập trung vào sáu **Āyatana** (Xứ) thanh triệt nội căn, bắt đầu từ **Cakkhu-pasāda** (Nhãn thanh triệt) và **Cakkhu-viññāṇa** (Nhãn thức), bạch Ngài.” Sau khi nghe Ngài Javana trình bày chi tiết cách rải tâm từ như dưới đây, Ngài Ledi Sayadaw đã: ## TRANG 642 tán thán rằng: “Đúng vậy... chính vì thế mà pháp hành mới có hiệu quả như vậy. Thật hợp lý thay! Sādhu, Sādhu!” ### 1. Phương pháp rải tâm từ thông qua 6 thanh triệt căn (Pasāda) 1. **Cakkhu (Mắt)**: (Ví như nhãn thanh triệt và nhãn thức của con được thoát khỏi mọi khổ nạn, được an lạc như thế nào thì) mong cho nhãn thanh triệt và nhãn thức của vị này (hoặc của chúng sinh này – tùy theo đối tượng hướng đến) cũng được thoát khỏi mọi tai ương, nghiệp chướng và được thân tâm an lạc. 2. **Sota (Tai)**: Mong cho nhĩ thanh triệt và nhĩ thức được thoát khỏi mọi khổ nạn, được thân tâm an lạc. 3. **Ghāna (Mũi)**: Mong cho tỷ thanh triệt và tỷ thức... 4. **Jivhā (Lưỡi)**: Mong cho thiệt thanh triệt và thiệt thức... 5. **Kāya (Thân)**: Mong cho thân thanh triệt và thân thức... 6. **Manodvāra (Ý môn)**: Mong cho ý thanh triệt và ý thức được thoát khỏi mọi khổ nạn, được thân tâm an lạc. Phương pháp rải tâm từ này, nếu càng thực hành thường xuyên, sẽ giúp năng lượng từ tâm tác động một cách sâu sắc đến đối tượng mong muốn. Người thực hành không cần phải quá nỗ lực để hình dung diện mạo đối tượng, vì khi nhắm vào sáu môn và sáu thanh triệt căn, hình ảnh của đối tượng đó tự nhiên sẽ hiển hiện rõ ràng trong tâm. Khi hình ảnh đó hiện lên, tâm từ sẽ trực tiếp tác động vào những sắc tinh vi (Sukhuma-rūpa) quan trọng nhất trong thân của một chúng sinh – đó chính là các thanh triệt căn (những loại sắc tố thanh tịnh có khả năng thu nhận và phát tán năng lượng mạnh mẽ). Nhờ đó, các làn sóng từ tâm của người gửi có thể xâm nhập và tác động trọn vẹn đến người nhận. (Dù nói là hướng vào các yếu tố vật chất, nhưng tâm vẫn dựa trên khái niệm Chế định về chúng sinh đó). Đây là phương pháp rải tâm từ rất tương thích và hỗ trợ tốt cho lộ trình thực hành Minh sát (Vipassanā) – vốn cũng quán chiếu về sáu yếu tố thực tính và sáu thanh triệt căn. Do đó, mọi người nên nỗ lực thực hành. Dựa trên việc Ngài Inmagyi Sayadaw thường xuyên thuyết giảng về tâm từ, cũng như việc Ngài luôn vượt qua mọi tai ương và có được sự hộ độ dồi dào, có thể suy đoán đây là phương pháp do chính Ngài Inmagyi Sayadaw chỉ dẫn. Tuy không thể khẳng định tuyệt đối, nhưng đây là một điểm rất đáng lưu tâm. (Chi tiết xin xem thêm trong tác phẩm "Thuyết về Tâm từ" của chúng tôi). ## TRANG 643 **Thuyết pháp định tâm cho vị Thống giáo** Vào khoảng năm 1300 (Miến lịch), Ngài trụ trì trường thiền Sè-gyi-daw đã đến vấn an và đảnh lễ Ngài Đại Trưởng lão Thống giáo Taung-khwin tại Mandalay. Ngài U Hmin-khè, thầy giáo thọ của Ngài Sè-gyi-daw, vốn là một bậc đa văn túc học, đồng thời cũng là bạn đồng học thời trẻ với Ngài Thống giáo Taung-khwin. Thời điểm ấy, Ngài Thống giáo đã khiếm khuyết thị lực. Khi nghe tin người bạn đồng học U Hmin-khè đã viên tịch, Ngài không khỏi bùi ngùi xúc động và bảo rằng: “Ngài trụ trì Thìm-taung, hãy tiến lại gần đây.” Nói rồi, Ngài nắm chặt lấy tay vị Trưởng lão, cảm giác như thể vừa được hạnh ngộ lại người bạn cũ U Hmin-khè. Ngài Thống giáo khẩn khoản: “Bạch Ngài Thìm-taung, xin Ngài hãy thuyết giảng pháp hành cho tôi.” Dù Ngài Thìm-taung đã nhiều lần từ tốn chối từ vì biết Ngài Thống giáo vốn là bậc quảng kiến, nhưng do lời thỉnh cầu khẩn thiết, Ngài đã y chiếu theo lời dạy của các bậc thầy tại In-ma-gyi, Ledi và Thè-kya-taung mà thuyết giảng trọn vẹn. Ngài Thống giáo vô cùng hoan hỷ, đồng thanh sa-thủ (Sādhu) và khẩn cầu: “Xin Ngài hãy lưu lại đây đêm nay và tiếp tục thuyết giảng vào buổi tối cho tôi được nghe thêm.” Vì lẽ đó, Ngài đã ở lại một đêm để tiếp tục pháp thoại. Ngài Thống giáo cũng chia sẻ rằng: “Trước đây, Ngài Trưởng lão trụ trì chùa Khin-ma-kan (vị thông thuộc Tam Tạng ở phía Đông kinh thành) là Ngài U Kha từng chỉ dạy tôi hành thiền rằng: Ban ngày nên quán Aloka-kasina (đèn quang), ban đêm nên quán Tejo-kasina (đèn lửa). Ngài dạy rằng Uggaha-nimitta (thủ tướng) và Patibhaga-nimitta (tợ tướng) rất dễ phát sinh, và khi tôi hành trì theo lời dạy ấy thì quả thực đạt được định lực rất nhanh chóng.” Sau đó, Ngài Thống giáo còn mời Ngài đến thuyết pháp thêm một lần nữa. (Qua đó có thể thấy được định lực và pháp lực của Ngài trưởng lão Thìm-taung cao thâm đến nhường nào). **Pháp hành dễ bị sai lệch trong gang tấc** Sự tu tập vắng lặng (Samatha) và tuệ quán (Vipassanā) vốn rất vi tế, chỉ cần sai lệch một chút là đi lầm đường. Nhờ nương tựa vào các bậc minh sư, Ngài Trưởng lão đã trở thành một vị thầy đáng tin cậy trong thế giới tu đạo (Patipatti). Ngay cả những bậc đa tài toàn vẹn như thế đôi khi cũng gặp phải những sự đánh lừa vi tế, khiến việc đưa ra quyết định xác thực trở nên khó khăn. Đó là tình trạng chưa chứng đạt quả vị nhưng lại lầm tưởng mình đã đắc đạo (**Adhimāna** - Tăng thượng mạn), hay bị ảnh hưởng bởi các loại năng lượng xáo trộn. ## TRANG 644 Vấn đề này đã được ghi chép lại trong tác phẩm “Nibbāna Paung-choke Kyan” (Luận giải tổng hợp về Niết-bàn) và được đính kèm ở phần phụ lục như nguyên bản để mọi hành giả (Yogi) đều có thể lưu tâm cảnh giác. (Theo sổ tay chép tay của Ngài Trưởng lão cũng như lời kể của ông U Kar Nyein và những người khác về việc Ngài gặp gỡ những bậc có thần thông, các loài phi nhân, hay việc xá-lợi tỏa hào quang rực rỡ trước khi xây dựng tháp Thìm-taung, hoặc dự tri việc mái chùa sắp sập mà kịp thời gọi đệ tử rời đi... Những câu chuyện kỳ diệu và đầy lòng thành kính này, vì lẽ không phải ai cũng có thể tin nhận hoàn toàn, nên chúng tôi xin phép không ghi chép vào đây.) **Bút ký chép tay đặc biệt** Như đã trình bày, chúng tôi có dịp đọc qua những dòng chữ mờ nhạt viết bằng bút chì trên các tập vở của Ngài Trưởng lão, qua đó thấy được thói quen ghi chép tỉ mỉ, tường tận của các bậc tiền bối. Trong đó có cả những ghi chép về tương lai của Giáo pháp, nhưng nhiều nhất vẫn là về pháp hành. Giữa những mẩu ghi chép ngắn ngủi ấy, đoạn văn sau đây là đáng chú ý nhất. Đoạn văn này bao hàm cả sự nghiệp phụng sự nhân sinh (Lokattha Cariya) lẫn những trải nghiệm tâm linh cá nhân của Ngài. “Ngày Rằm tháng Nat-daw năm 1308 (Miến lịch), đêm Chủ nhật, có hiện tượng nguyệt thực (La-nga-pote phàm). Đây là điềm lành đặc biệt cho dân tộc Miến Điện. Sau đó vào ngày mùng 3 tháng hạ huyền (thứ Tư), ngày kỷ niệm Đức Phật thành đạo thắng ma vương, sau khi dâng cúng vật thực đến 31 vị Tăng (Sangha Dana), chúng tôi đã tiến hành nghi thức Abbhana (phục vị) tại giới đàn nước (Yae-theima) của tu viện Sè-gyi, thành tựu viên mãn và đạt đến đỉnh cao nhất.” (Đoạn văn này được viết riêng biệt trên một tờ giấy, không liên kết với các nội dung khác.) Ngài Trưởng lão Sè-gyi-daw, vị Phó lãnh đạo kiêm Giáo thọ sư (Ovadacariya) của giáo khu Thìm-taung Taw-ya, đã viên tịch vào lúc 7 giờ sáng ngày 14 tháng thượng huyền tháng Tazaungmon năm 1312 (Miến lịch), hưởng thọ 78 tuổi. Lễ tang cuối cùng (Antima Jhapana) được tổ chức trang trọng vào ngày Rằm tháng Pyatho với nghi thức cúng dường thực phẩm bốn phương (Catudisa), dâng cúng y tam (Dvipanna) theo số tuổi đời của Ngài và các buổi thuyết giảng cúng dường pháp bảo. ## TRANG 645 **Vị "Alahan" nữ trẻ tuổi** [Các ví dụ về trường hợp lầm tưởng là bậc Thánh khi phiền não thô (**Vitikkama kilesa**) tạm thời lắng dịu] Nay tôi xin trình bày những điểm trọng yếu mà các vị Tăng Ni và hành giả cư sĩ đang tu tập hiện nay cần đặc biệt lưu tâm. Có hai thầy trò vị tỳ-khưu thông hiểu kinh điển, sau khi nỗ lực hành thiền tinh tấn đến mức quên mình, đã lầm tưởng mình đã chứng đắc bốn Đạo bốn Quả. Cả hai thầy trò đều đồng thuận với quyết định này và đã đến gặp tôi (tác giả) để trình bày. Ngài đã giảng giải lại rằng: “Khi tuệ quán (Vipassanā-ñāṇa) của hành giả trở nên cực kỳ sắc bén và mạnh mẽ, sự quán chiếu về nỗi khổ (**Dukkha**) trên danh và sắc đạt đến mức độ sâu sắc, khiến các phiền não bộc phát ra thân và khẩu (Vitikkama) cũng như phiền não khởi lên trong tâm (**Pariyutthāna**) tạm thời biến mất. Chừng nào tuệ quán của hành giả còn mạnh mẽ và sắc bén, các phiền não thô (**Vitikkama kilesa**) có thể ẩn tàng trong suốt một tháng, năm tháng, thậm chí một năm hay bảy năm. Khi ấy, nếu chưa dùng Đạo trí để thực sự đoạn trừ phiền não ngủ ngầm (**Anusaya**), tâm của hành giả rất dễ rơi vào ảo tưởng (**Adhimāna**) mà tự khẳng định mình đã đắc quả.” (Đây là lời giáo huấn mà Ngài Đại Trưởng lão Ledi từng chỉ dạy). Dù đã được giảng giải như vậy, hai thầy trò vẫn không thay đổi định kiến của mình. Mãi về sau, khi vị đệ tử cùng một hành giả khác thảo luận chi tiết về các trạng thái sinh diệt trong suốt ba, bốn ngày liên tục, họ mới nhận ra rằng việc tự quyết định mình đã đắc bốn Đạo bốn Quả là sai lầm. Sau đó, hai thầy trò đã quay lại báo với Ngài rằng họ đã bắt đầu hành thiền lại từ đầu. Ngoài ra, còn có một trường hợp khác về một nữ tu (Sayalay) và một nữ cư sĩ. Trong đó, vị nữ tu trẻ tuổi được vị thầy của mình khẳng định là đã đắc bốn Đạo bốn Quả và trở thành bậc “Alahan ni”. Vị thầy ấy đã gọi tất cả Tăng Ni và cư sĩ trong tu viện đến để đảnh lễ cô. Tuy nhiên, vì không tin tưởng nên mọi người đã không làm theo. Khi nghe tin đó, tôi đã đích thân đến kiểm tra và xác thực sự việc như đã thấy. Bên cạnh đó, lại có một nữ hành giả cư sĩ khác, trong lúc hành thiền... --- Khi hành thiền tinh tấn đến mức quên mình, trí Tuệ Minh Sát (Vipassanā-ñāṇa) trở nên vô cùng chín muồi và mãnh liệt. Do các phiền não thô sơ đã ẩn tàng, tâm trí trở nên vô cùng thanh tịnh và định tĩnh, dẫn đến sự phát sinh của “tăng thượng mạn” (adhimana - tưởng lầm mình đã đắc chứng). Vị hành giả ấy tự quyết định rằng mình đã đắc bốn Đạo, bốn Quả, rồi bắt đầu thuyết pháp cho tất cả chư Tăng và thiện nam tín nữ đến gặp. Nhiều tháng ngày trôi qua, một vị phu nhân của quan Khâm sai cùng các chị em của một nữ hành giả nọ đã đưa cô đến diện kiến Ngài Thiền sư để đàm luận về giáo pháp. Cô mặc y phục sẫm màu hơn so với y của các nữ tu (thila-shin). Khi đi đến cách Ngài Thiền sư khoảng năm mươi sải tay (atoung), cô mất khoảng nửa giờ đồng hồ để di chuyển. Cô bước đi trong sự tỉnh giác, ghi nhận từng dòng tâm thức (cittuppāda) theo đúng phương pháp Tứ Niệm Xứ. Dáng vẻ của nữ hành giả này khiến người xem vô cùng khởi tâm tịnh tín. Khi đến trước mặt Ngài Thiền sư, cô đảnh lễ cung kính mãi không thôi. Ngài Thiền sư bảo vị nữ cư sĩ trẻ ấy rằng: “Này nữ hành giả cư sĩ, ta muốn nghe con trình bày về giáo pháp mà con đã thực hành để khởi tâm hoan hỷ.” Thế rồi cô bắt đầu trình bày một cách lưu loát, tinh tế và sâu sắc từ đầu, giữa đến cuối; buổi trình pháp kéo dài không dưới hai giờ đồng hồ. Cô mô tả tỉ mỉ sự sinh khởi của các sát-na chuyển tộc (gotrabhu-javanā), Đạo (magga-javanā), Quả (phala-javanā) cùng tiến trình đắc chứng bốn Đạo và bốn Quả. (Chứng kiến điều này, Ngài Thiền sư vì quá đỗi hoan hỷ đã thốt lên lời tán thán ‘Sādhu! Sādhu! Sādhu!’ ba lần). Dù thực tế chưa đến mức như lời cô trình bày, nhưng Ngài tin rằng dòng giống phàm phu (puthujjana) nơi cô có lẽ đã đoạn diệt. Bởi lẽ trong lĩnh vực Minh Sát thiền, hiếm khi gặp được bậc nào có thể trình bày thông suốt, đúng với thực tại tự nhiên (sabhāva-dhamma) những vấn đề vi diệu và sâu thẳm từ đầu đến cuối như vậy khi bị kiểm tra. Tuy nhiên, Ngài Thiền sư cũng so sánh với kinh điển rằng nếu cô thực sự là bậc A-la-hán như lời tự bạch, thì tâm ấy không thể trụ lại trong trạng thái đó suốt nhiều tháng ngày như vậy. Sau đó, Ngài Thiền sư đã thuyết giảng tường tận về việc bảy tùy miên (anusaya) chính là hạt giống thực sự làm phát sinh ngũ uẩn trong 31 cõi bằng cách nào, cũng như thực tính ngủ ngầm và sự phát sinh của các tùy miên ấy. Do trước đây chưa từng được nghe về thực tính của tùy miên, nên vị nữ hành giả này đặc biệt tâm đắc. Khoảng hai năm sau buổi thuyết pháp đó, chính Ngài Thiền sư đã tận mắt nhìn thấy vị nữ cư sĩ trẻ này đeo đầy trang sức như chuỗi hạt, vòng tay và đang thực hiện việc cúng dường chư Tăng trong một buổi lễ. Ngài Thiền sư cảm thấy vô cùng xúc động (saṁvega). Sau đó Ngài tự suy xét và trấn an tâm mình rằng: “Không biết liệu cô ấy có giống như đại thí chủ Visākhā, một bậc Thánh Dự lưu vào thời Đức Thế Tôn hay không?” ## TRANG 647 Tuy nhiên, sau đó Ngài lại được người bạn của cô là phu nhân quan Khâm sai cho biết rằng cô đã lập gia đình và sinh con cái. Lại có một vị tu nữ trẻ khác, người cũng được một vị thầy quyết định rằng đã đắc bốn Đạo Quả, cũng đã lập gia đình giống như vị nữ hành giả kia; điều này do chính chị ruột của cô bạch lại với Ngài Thiền sư. Vị thầy đưa ra quyết định đó vốn là một bậc thiện tri thức, một bậc đa văn (bậc thông suốt kinh điển) đang hành thiền, và cả thầy lẫn trò đều đồng lòng quyết định rằng “đã đắc bốn Đạo Quả”. Vì vậy, hiện nay tất cả các bậc thiện trí thức đang hành thiền nên lấy những sự việc đã nêu trên làm điều cảnh tỉnh, phải hết sức thận trọng và suy xét kỹ lưỡng. Trong những trường hợp như thế, cả thầy và trò đều rất khó để thấu triệt tinh tường thực tính pháp (sabhāva-dhamma). Do đó, hành giả cần phải tham chiếu tỉ mỉ các tiêu chuẩn của một bậc Thánh (Ariya) được dạy trong các bản văn Pāḷi như **Uparipaṇṇāsa** (Hậu Trung Bộ) và **Majjhimapaṇṇāsa** (Trung Trung Bộ). Sau đó, hãy dùng trí tuệ quán chiếu nhiều lần để có cái nhìn đúng đắn về các pháp đã đoạn trừ trong tâm mình: “Pháp nào đã được đoạn trừ tuyệt căn không còn dư sót? Pháp nào chỉ đang ẩn tàng tạm thời (tadaṅga) nhờ vào sự mạnh mẽ của Tuệ Minh Sát?” Nếu không có sự quán chiếu như vậy, khi Tuệ Minh Sát còn yếu ớt mà gặp phải năm dục trưởng dưỡng bên ngoài vốn vô cùng hấp dẫn và đáng lạc thọ, thì tâm có thể lại bị cuốn xoáy vào đó. Điều này ví như một cái cây lớn khô héo suốt mùa hè tưởng chừng như đã chết, nhưng khi mưa xuống, nước thấm sâu vào rễ cái, nhựa sống (dāt-si) bắt lại từ rễ rồi đâm chồi, nảy lộc, ra nhánh, nở hoa, kết trái xum xuê khắp cả cây và xanh tươi trở lại. Tâm của hành giả cũng không khác gì cái cây đó; những tùy miên (anusaya) chỉ tạm thời ẩn tàng nhưng cả thầy lẫn trò lại lầm tưởng là đã đoạn tận gốc rễ và đồng ý quyết định như vậy. Ngài Thiền sư đã từng tự mình chứng kiến những sự việc như thế nên mới viết ra rõ ràng để dẫn chứng. (Đã 35 năm trôi qua kể từ khi Ngài gặp những câu chuyện thực tế này). Có trường hợp do thầy quyết định, có trường hợp do hành giả tự lầm tưởng rồi quyết định. Để thấu triệt thực tính pháp một cách đúng đắn và chuẩn xác là một vấn đề vô cùng vi diệu. Do đó, không nên để đức tin dẫn dắt mà phải lấy trí tuệ làm tiền đề. Đừng vội vàng đưa ra quyết định mà hãy tìm hiểu một cách đúng đắn và thẳng thắn các bài kinh như **Kinh Chân Tế (Chachakka Sutta)** hay ## TRANG 648 **Kinh Đa Giới (Bahudhātuka Sutta)** trong bộ **Uparipaṇṇāsa Pāḷi**. Hãy đối chiếu và kiểm tra một cách cẩn trọng để biết rõ pháp nào đã đoạn trừ hoàn toàn, pháp nào còn ngủ ngầm, pháp nào vẫn còn nguyên vẹn. Chỉ khi biết rõ đúng như thật thì cả thầy và trò mới nên an tâm quyết định. Ngay cả sau khi đã biết đúng như vậy, vẫn cần phải theo dõi, quan sát mọi hành vi của thân, khẩu, ý trong suốt một năm, hai năm, ba năm, thậm chí năm, sáu hoặc bảy năm. Nếu sau thời gian dài quan sát như thế mà không thấy khởi lên bất kỳ hành vi bất thiện nào thì mới có thể thực sự yên tâm. Vì đây là vấn đề vô cùng tinh tế, sâu sắc và khó khăn, nên không thể quyết định một cách hời hợt. Hỡi các bậc thiện trí thức đang thực hành thiền, hãy giữ sự tỉnh giác cao độ! Giống như cái cây khô héo bỗng đâm chồi nảy lộc, nở hoa kết trái trở lại, khi hành giả gặp gỡ và vướng mắc vào năm dục lạc đáng hỷ thì các tùy miên đang ngủ ngầm sẽ trỗi dậy mạnh mẽ. Hãy hết sức tỉnh giác về điều này! (Đây là điểm trọng yếu và cần thiết nhất trong việc thực hành Minh Sát, nên Ngài đã viết ra với tâm từ bi để làm sáng tỏ cho mọi người). ## TRANG 649 Thiền sư Tháp-pê-a-in Tọa rà **U Kitti** (1255–1331) Từ năm 1288 cho đến khi viên tịch vào năm 1331, Ngài đã có hơn bốn mươi năm độc cư tu tập tại thiền viện Tháp-pê-a-in (Thapyay-aing Tawya). Thiền viện này tọa lạc tại huyện Paung, tỉnh Thaton (cách Thaton 28 dặm và cách Mottama 10 dặm), lấy làng Kyon-ka làm nơi trì bình khất thực (gocara-gāma). **Chư thiên có biết vị ấy đắc quả A-la-hán chăng?** Sự việc xảy ra vào ngày cuối tháng Kasone (tháng 2 âm lịch Myanmar), năm 1316. Khi ấy, các ông U Tun Kyaing, U Bo Kyawt ở làng Kadon và thầy giáo U Jar Aye ở làng Kyon-ka (người phụ giúp việc chùa cho Ngài, về sau cũng xuất gia) cùng đến đảnh lễ Ngài và thưa rằng: “Bạch Ngài, vào kỳ lễ Thingyan vừa rồi, chúng con có đến giữ giới tại thiền viện rừng làng Dēparein Sayettaw. Vị sư trụ trì tại Sayettaw có phán bảo rằng: ‘Chư đại thiên có đến thưa với ta rằng Thiền sư Tháp-pê-a-in đã đắc quả A-la-hán rồi’. Vị sư ở Sayettaw cũng nhắn lời rằng ngài ấy muốn đến thăm thiền viện Tháp-pê-a-in này, bạch Ngài.” Mọi người cùng im lặng, háo hức chờ đợi xem Ngài sẽ phản hồi thế nào. Sau một hồi lặng lẽ suy xét, Ngài chỉ ôn tồn bảo: “Các cư sĩ khi trở về hãy thưa lại với ngài ấy rằng: Xin hãy khoan vội đến đây, rồi chúng ta sẽ gặp nhau sau thôi. Cứ thưa lại như thế là được.” Sau khi nhóm cư sĩ thưa lại lời ấy, khoảng ba ngày sau, vị sư ở Sayettaw gửi tin nhắn cho các cư sĩ rằng: “Ta đã được chiêm bái Thiền sư Tháp-pê-a-in ngay tại chùa của mình rồi.” Vào ngày mùng 9 tháng Kasone năm 1318, vị sư ở Sayettaw đã trực tiếp đến thiền viện Tháp-pê-a-in. Khi đó, Thiền sư Tháp-pê-a-in đích thân đón tiếp, đàm đạo và mỉm cười hỏi rằng: “Sư Sayettaw, nghe nói Sư đã gửi tin báo rằng đã gặp được tôi rồi. Vậy vị sư mà Sư gặp đó có đúng thật là tôi hay không?” ## TRANG 650 Vị sư ấy liền đáp: “Bạch Ngài, đúng là Ngài chứ không sai vào đâu được, hình dáng y hệt như thế này, không hề khác biệt một chút nào cả.” Tuy nhiên, Ngài không bình luận gì thêm về việc đó mà lại chuyển hướng câu hỏi: “Khoan đã, chư thiên nói với Sư chuyện đó từ khi nào? Sư còn nhớ rõ ngày tháng không? Và lúc họ đến thưa thì Sư đang làm gì?” Vị sư Sayettaw thưa: “Bạch Ngài, con nhớ rõ. Đó là vào khoảng 7 giờ tối ngày mùng 6 tháng Thadingyut năm 1315. Lúc bấy giờ con đang hành thiền.” Thiền sư Tháp-pê-a-in điềm tĩnh lắng nghe lời trình bày đầy hoan hỷ của vị sư Sayettaw. Vị này lại tiếp tục thưa: “Những vị đến thưa không phải hạng thiên nhân thấp kém đâu bạch Ngài, mà chính là các vị đại thiên vương. Các ngài ấy từ trên không trung hiện xuống và khích lệ rằng: ‘Xin Ngài hãy tinh tấn nỗ lực, chớ có thối chí. Thiền sư Tháp-pê-a-in quả thật đã đắc quả A-la-hán rồi, bạch Ngài’.” Ở điểm này, người hành giả cần lưu ý rằng không phải hễ nghe nói đến chư thiên là đều tin ngay, và cũng không nên mặc định rằng vị chư thiên nào cũng có trí tuệ thấu suốt. Sau khi thọ nhận những lời giáo huấn, vị sư Sayettaw đã xin cáo biệt để trở về chùa của mình. Vào mùa Thadingyut năm 1317, có bảy vị sư hành giả đang tu tập độc cư tại các vùng núi rừng quanh làng Kyon-ka đã cùng nhau vân tập về thiền viện Tháp-pê-a-in. Đây là dịp sau ngày mãn hạ (Pavāraṇā), các vị đến để đảnh lễ và thọ giáo từ Ngài. Nhân đó, Ngài đã thuyết giảng giáo pháp để chỉ dạy các vị sư khách tăng. Khi giảng về **mười loại phiền não (kilesa)** vẫn luôn ngấm ngầm ngủ ngầm (anusaya) trong dòng tâm thức chúng sinh suốt vòng luân hồi, Ngài hỏi: “Này chư Hiền giả, khi phiền não ở dạng **triền cái (pariyuṭṭhāna)** trỗi dậy trong tâm hành giả, các vị nghĩ xem chư thiên có thể biết được hay không?” Các vị sư thưa: “Bạch Ngài, chắc chắn là có thể biết được ạ.” “Vậy nếu trong tâm hành giả mới chỉ khởi lên ý niệm phiền não thôi, họ có biết được chăng?” ## TRANG 651 “Bạch Ngài, điều đó họ cũng biết được ạ.” Ngài khựng lại suy nghĩ một chút, kín đáo quan sát nét mặt của các vị khách tăng rồi mới phán rằng: “À, chẳng hay có phải vì lý do đó hay không mà từ năm 1312 cho đến năm 1321, tôi chưa từng thấy phiền não trỗi dậy (pariyuṭṭhāna) trong tâm mình dù chỉ một lần, cũng không hề có dù chỉ một ý niệm phiền não nào khởi lên.” Ngài dừng lại một lúc lâu rồi tiếp tục: “Có lẽ chư đại thiên biết rõ điều này nên mới đến nói với vị sư rừng **U Sundara** ở Sayettaw như vậy chăng?” Ngài nói lời ấy một cách chừng mực, vừa phải, không khẳng định cũng chẳng phủ nhận hoàn toàn. Ta khó có thể biết chắc Ngài nói vậy với dụng ý sâu xa gì, nhưng có lẽ do thấy điều đó mang lại lợi ích cho người nghe theo kiểu “một mũi tên trúng hai đích” nên Ngài mới hứa khả như vậy. **Ngài có chứng đắc thế gian thông (loki-abhiññā) chăng?** Có vẻ như Ngài không xem lời của chư thiên là bằng chứng xác thực nhất. Chuyện chư thiên nói là việc của họ, còn Ngài dường như tự biết rằng mình đã **xong công việc của bậc Sa-môn** bằng chính tuệ giác của tự thân. Ngài nói ra điều đó có lẽ cũng nhằm khích lệ tinh thần cho các vị sư đang tu tập. Ngài không chỉ uyên thâm về Pháp học (Pariyatti) mà còn có nhiều năm độc cư chuyên tu Pháp hành (Paṭipatti), điều này là không bàn cãi. Ngài đã soạn thảo một tác phẩm về đề mục quán Pháp Đại chủng (dhatu-kammaṭṭhāna) mang tên “Tiến trình đắc quả Tiểu Tu-đà-hoàn” (Cūḷasotāpanna), tài liệu này dày 118 trang khổ lớn. Nghe nói Ngài còn có các tác phẩm khác nữa. Riêng quyển này đã được tái bản tới 13 lần. Văn phong của Ngài rất sắc sảo và trình bày rõ ràng về bản chất thực tại của các danh pháp, sắc pháp. (Trong một số lần in, phần tiểu sử tóm tắt cũng được đính kèm. Phần tiểu sử đó thực chất có vẻ là những ghi chép từ nhật ký hằng ngày của Ngài. Dựa trên những nhật ký đó và những gì nghe được từ các bạn đạo, chúng tôi đã biên soạn lại theo trình tự trước sau.) Tuy nhiên, ở phần kết của tác phẩm đó, Ngài đã viết lời nguyện rằng: “Sau khi thân hoại mạng chung ở kiếp này, con nguyện sinh làm một vị thiên tử ở cõi trời Đao Lợi (Tāvatiṃsa) để thuyết giảng chân lý tối hậu và thấu triệt được Bốn Diệu Đế”. Chính vì lời nguyện xin được làm thiên tử trong quá khứ này... ## TRANG 652 Trong đời này, không nên có quan niệm rằng một người không thể chứng đắc Thánh quả. **Dhammācariya U Htay Hlaing** Đối với các hành giả, tuệ giác và sự tinh tấn không phải lúc nào cũng duy trì ở một mức độ cố định, mà luôn có sự tiến triển không ngừng. Với phương châm "Hành động quan trọng hơn lời cầu nguyện", nếu một người nỗ lực tu tập Vipassanā (Thiền quán) không thối chuyển, thì những ước muốn ban đầu như mong cầu giàu sang, muốn thuyết Pháp, muốn hoằng dương Giáo Pháp, hay nguyện thành Phật cũng sẽ thay đổi theo thời gian. Những mong cầu ấy sẽ dần phai nhạt và rời bỏ tâm trí một cách tự nhiên. Ngài Sadaw của tu viện Mahagandhayon ở Sagaing từng phát đại nguyện thành bậc Chánh Đẳng Giác. Tuy nhiên, ngay trong kiếp sống này, Ngài đã nổi danh là một bậc "Anāgāmī" (bậc A-na-hàm) và đã chứng đắc quả vị Thánh Thinh Văn (Sāvaka Bodhi). Do đó, không nên cứng nhắc cho rằng "vì trước đây từng cầu nguyện làm thiên nam nên nay không thể đắc Thánh quả". Điều đó chỉ có nghĩa là "nếu còn phải tiếp tục tái sinh thì mới như vậy". Dù thế nào đi nữa, có vẻ như Ngài Sadaw cũng đã đắc được các thắng trí (Abhiññā) thế gian. Điều này thể hiện rõ qua lời nhắn nhủ của Ngài với vị trụ trì chùa Thayet Taw và việc Ngài hiện thân đến thăm vị đó. Việc Ngài thị hiện thân mình như vậy không phải là do chư thiên biến hóa ra hình dáng giống Ngài, như cách Ma vương đã biến hình Phật để cho Trưởng lão **Phussadeva** chiêm bái. (Chi tiết này sẽ còn được làm rõ ở phần sau). ### Trận động đất thúc giục việc xuất gia Ngài Sadaw sinh vào Thứ Hai, ngày mùng 3 tháng Hai (Kason) âm lịch, năm 1255 (Miến lịch). Thân phụ là ông U Lone Tone, quê ở làng Pho Toke Pon, thị trấn Nyaung Lay Pin; thân mẫu là bà Daw Shwe Nu, quê ở làng phía Tây, thị trấn Shwegyin (thuộc quận Toungoo). Ngài là người con thứ hai trong số bảy anh chị em, tên thuở nhỏ là Maung Pho Thaung. Vào hồi 8 giờ 30 sáng ngày mùng 4 sau rằm tháng Tư (Tabaung) năm 1278, Ngài thụ giới Tỳ-kheo với Ngài Sadaw của tu viện Thapyaypin, làng Kyar Inn làm thầy tế độ (Upajjhāya). Pháp danh của Ngài là **U Kitti**. Có vẻ như Ngài đã thừa hưởng trọn vẹn di sản về cả Pháp học (Pariyatti) và Pháp hành (Paṭipatti) từ các bậc thầy như Hòa thượng U Sīla và các Ngài Sadaw ở tu viện Nyaung Lay Pin. Ngài U Vāsava, hiện là Sadaw của tu viện Kyar Taw ở Nyaung Lay Pin, chính là vị đại đệ tử của Ngài. Sau khi thi đỗ kỳ thi Pathama Lat tại tu viện Nyaung Lay Pin, Ngài chuyển đến tu viện Kankalay ở thị trấn Oktwin. Tại đây, Ngài đã thi đỗ kỳ thi Pathama Gyi (vào thời đó, đây là cấp độ cao nhất). Sau đó, Ngài đã vân du đến các thành phố như Pakokku, Myingyan, Mandalay và Amarapura để tầm sư học đạo, nỗ lực nghiên cứu suốt ngày đêm về năm bộ Nikāya và Vi diệu pháp (Abhidhamma). ## TRANG 653 Suốt thời gian học tập Pháp học, Ngài thường xuyên ghi chép và thuộc lòng những điểm trọng yếu liên quan đến Pháp hành. Nhờ vậy, khi vào rừng sâu, Ngài không cần mang theo bất kỳ cuốn sách nào. Ngay cả khi soạn thảo các bộ luận về đề mục thiền định (Kammaṭṭhāna) hay luật nghi (Vinaya) liên quan đến việc quyết định cương giới (Sīmā), Ngài có thể viết một cách tinh thông với đầy đủ các trích dẫn từ Pāḷi, Chú giải (Aṭṭhakathā) và Phụ chú giải (Ṭīkā) mà không cần tra cứu tài liệu. Sau 10 hạ lạp chuyên tâm Pháp học và khoảng 4 năm làm giảng sư, kể từ ngày mùng 1 tháng Hai (Kason) năm 1288, Ngài hoàn toàn chuyển sang con đường Pháp hành. Điểm dừng chân đầu tiên Ngài chọn là tu viện hang động nhỏ (Gu Lay Tawya) gần làng Ywalut, đảo Bilu. Sau khi quyết định việc xuất gia vào rừng và thông báo sắp xếp mọi việc, Ngài tỉnh giác nằm nghỉ để chuẩn bị khởi hành bằng chuyến tàu hỏa buổi sáng. Tuy nhiên, khi giờ ra ga đã đến, cả tu viện không một ai thức giấc, tất cả đều đang chìm trong giấc ngủ say. Đúng vào lúc cần phải khởi hành, một trận động đất mạnh đã làm rung chuyển toàn bộ tu viện. Chính nhờ đó mà Ngài U Sunanda và những người khác mới choàng tỉnh để kịp tiễn Ngài ra nhà ga. Dù không nói với ai, Ngài Sadaw vẫn luôn tin tưởng rằng: "Ý nguyện và mục tiêu của ta nhất định sẽ thành công". Trận động đất chính là một điềm báo đại cát tường ngay từ lúc khởi đầu. Ngài Sadaw chỉ lưu lại tu viện hang động ở đảo Bilu trong một mùa hạ. Kể từ ngày 13 tháng Chạp (Natdaw) năm đó, Ngài chuyển đến tu viện Thabeik Aing và phát nguyện độc cư tại đó cho đến cuối đời. Tu viện Thabeik Aing nằm dưới chân núi Nwar Labo, gần làng Kyon Ka, cách Kywe Chan khoảng 3 dặm. Nơi đây được gọi là Thabeik Aing (Ao Bát) vì có một hồ nước suối lớn mang hình dáng như một chiếc bình bát. Không gian nơi đây vô cùng mát mẻ và tĩnh lặng với những khe núi và dòng suối nhỏ. Địa thế của tu viện giống như một dãy núi uốn cong hình chữ "P" (ký tự Miến), với cửa thung lũng hướng về phía nhánh sông Salween, đảo Bilu và biển cả. Những dòng thác nước chảy rì rào không dứt. Tại tu viện này, Ngài Sadaw chỉ ở trong một chiếc chòi nhỏ dựng trên bốn cây cột. Ngài không cho phép bất kỳ sự dọn dẹp hay sửa sang nào làm mất đi vẻ tự nhiên của núi rừng. Ngay cả những đôi dép cao su hay bình bát sơn mài, Ngài cũng không dùng vì còn chút hoài nghi về tính thanh tịnh; thay vào đó, Ngài dùng bình bát bằng thiếc được nung qua dầu mè. Sau khi dùng bữa xong, chính tay Ngài thường cho cá và các loài chim ăn. Trong suốt 6 ngày đầu mới đến, Ngài chỉ thọ dụng cơm trắng mà không có bất kỳ món thức ăn nào kèm theo. ## TRANG 654 ### Các loài thú dữ trở nên hiền lành Đúng như câu nói "Tâm từ của người này chạm đến lòng người kia", giống như trong am thất của Đức vua Vessantara và bà Maddī, các loài thú dữ trong rừng đều trở nên hiền hòa, thì tại tu viện Thabeik Aing của Ngài Sadaw, những loài cầm thú hoang dã cũng trở nên thuần hậu và dễ bảo. Trên đường đi khất thực, Ngài thường xuyên đối mặt với voi rừng và hổ dữ. Chúng không những không tấn công mà còn chủ động nhường đường cho Ngài. Mọi người dân trong vùng đều chứng kiến sự tương tác kỳ lạ giữa Ngài và muông thú, như thể đôi bên đều thấu hiểu lẫn nhau. Các loài thú hễ Ngài gọi "Lại đây" thì chúng đến, bảo "Đi đi" thì chúng đi. Chúng dường như hiểu được ngôn ngữ của Ngài. Một số loài chim, voi và thú rừng khác thậm chí còn đến gần để ngửi dép và y áo của Ngài. (Trong phần tiểu sử đính kèm cuốn sách "Đề mục thiền về các đại hiển - Dhātu Kammaṭṭhāna", có ghi chép rất nhiều chi tiết kèm theo ngày tháng cụ thể về việc Ngài tương tác với các loài thú). Xin trích dẫn một ví dụ điển hình: Đó là ngày mùng 4 tháng Hai (Kason) năm 1302. Trong khi anh Thwin Linn Maung và những người khác đang lợp mái cho nhà nghỉ (zayat) trong khuôn viên tu viện, họ tiến hành phát quang bụi rậm cách đó khoảng 4 cubit (khoảng 2 mét). Một con hổ mẹ đang nấp trong bụi rậm liền bỏ chạy, để lại một con hổ con. Những người thợ lợp mái không chắc chắn nên mang đến hỏi Ngài Sadaw: "Bạch Ngài, đây là mèo hay hổ ạ?". Ngài Sadaw liền đáp: "Này các con, loài mèo thì mõm tròn và dài, tai nhọn và dài. Còn con vật này mõm và tai đều ngắn và tròn. Đây chính là hổ con đấy. Thôi, các con cứ mau chóng lợp mái cho xong đi. Hổ mẹ chắc hẳn đang rất lo lắng tìm con của mình." Nói xong, Ngài ôm lấy hổ con và thọ nhận bữa cơm. Vì thương con, hổ mẹ đã bảy lần mon men tiến vào khuôn viên tu viện. Khi Ngài Sadaw bế hổ con đi giao lại, lúc đến gần khoảng 9-10 cubit (khoảng 4,5 - 5 mét), hổ mẹ nhận thấy con mình đang nằm trong tay Ngài nên nó tỏ vẻ nản lòng, cứ vừa đi vừa ngoái đầu nhìn lại rồi lẩn mất. Mãi đến khi mọi người lợp xong mái nhà và đặt hổ con trở lại chỗ cũ, nó mới dám đến đón con về. Loài hổ tuyệt nhiên không gây hại gì cho Ngài. Có lẽ là vì trong tâm Ngài vốn không còn sự phân biệt giữa "người và hổ". Đó chính là sức mạnh thực thụ của tâm từ. ## TRANG 655 Bảy con voi rừng lớn cũng thường xuyên kéo đến phía chùa. Đó là những con voi rừng hung dữ, thường dẫm chết người. Ngay trước mặt những người quản tượng, Ngài Sayadaw vẫn thản nhiên đút thức ăn cho chúng và đưa tay chạm vào đôi ngà. Nếu là người khác chạm vào, chúng tuyệt đối không bao giờ chấp nhận. "Các ông cứ việc trở về đi, hãy để hai con voi này lại đây, dù tôi và hai con voi này có ra sao thì cũng mặc kệ," Ngài nói rồi bảo những người quản tượng đi về. Những người quản tượng nghe vậy chỉ biết cười rộ lên. Khi họ còn đang nửa tin nửa ngờ quay đi, đích thân Ngài Sayadaw đã đứng đút những cây chuối cho hai con voi rừng suốt hơn một tiếng rưỡi đồng hồ. Chúng không cần bị xích thúc mà vẫn hiền lành quanh quẩn trong khuôn viên chùa. Ngay cả những con voi rừng của các vị triệu phú, mỗi khi sổng chuồng chạy mất, chúng cũng đều tìm đến am tự của Ngài Sayadaw. Tại vùng tu hành khổ hạnh (dhutanga) đó, rắn độc cũng rất nhiều. Không phân biệt rắn độc hay rắn lành, lớn hay nhỏ, Ngài đều tự tay bắt lấy rồi thả đi. Không một con rắn nào cắn Ngài cả. ### Tâm đi đến đâu thân hiện đến đó, lướt đi theo ý nguyện Từ năm 1313 (Miến lịch) cho đến khi viên tịch, những người tận mắt chứng kiến kể lại rằng họ thường xuyên thấy Ngài Sayadaw Thabeik-aing đi khất thực tại những thị trấn và làng mạc xa xôi. Những người có đức tin quá mãnh liệt đôi khi cũng thêu dệt thêm về những sự việc như thế này. Đó là vào năm 1314. Cậu thiếu niên Maung Aung, 16 tuổi, người làng Kyon-ka, khi ấy đang là một vị Sa-di tu học tại Thaton, đã vô cùng kinh ngạc khi thấy Ngài Sayadaw Thabeik-aing đi khất thực trong nội thành Thaton. Cậu đã kể lại chuyện này cho Maung Tun Aung ở làng Kyon-ka, và Maung Tun Aung đã bạch lại sự việc với Ngài Sayadaw. Vào tháng Thadingyut năm 1317, Sa-di Maung Aung hoàn tục và trở về làng Kyon-ka. Khi đến đảnh lễ Ngài Sayadaw, Ngài hỏi: "Nghe nói con nhìn thấy ta đi khất thực ở Thaton phải không?"... "Bạch Ngài, đúng vậy ạ, chính con đã tận mắt nhìn thấy," cậu thưa. Ngài Sayadaw không nói thêm gì nữa. Ngoài ra, tại các thị trấn và làng mạc như Mawlamyine, Bilu-kyun, Alan-taya, Kywe-chan, Kada, Pan-kone, Let-pan, người ta đều đồng thanh nói rằng "Sayadaw đã đến đây khất thực". Trước những tin tức đó, chính Ngài Sayadaw cũng có đôi lần dò hỏi để xác minh. Vào đầu tháng Kasone năm 1316, Ngài đã hỏi một người tên Maung ở làng Kyon-ka rằng: "Trong làng các con, người ta bàn tán gì về tin tức của ta?" ## TRANG 656 Maung San Maung bạch rằng: "Khoảng hai năm trước, khi mẹ từ Mottama đến, mẹ kể rằng người dân ở Mottama hỏi: 'Ngài Sayadaw Thabeik-aing có còn ở Kyon-ka không?'. Khi mẹ trả lời: 'Ngài vẫn ở đó, không đi đâu cả, hằng ngày vẫn đi khất thực', thì họ bảo: 'Ở Mottama này, Ngài cũng đến khất thực và chúng tôi đã được dâng vật thực cho Ngài'." Cũng vào một ngày sau rằm tháng Nat-taw năm 1319, U Suriya và U Te-za-ni-ya từ Kyauk-tan, Mu-pwan, Mawlamyine đến thăm Ngài. U Te-za-ni-ya bạch rằng: "Các thí chủ thưa lại rằng khi Ngài Sayadaw đến Yangon khất thực, họ đã dâng cúng bánh và trái cây. Nhưng khi hỏi các thí chủ ở đây thì lại biết Ngài vẫn luôn hiện diện tại nơi này." Ngài Sayadaw mới đáp: "Ừ... khi đó đúng là ta có được ăn bánh và trái cây thật." Sự việc diễn ra như sau: Có một người đã đến nhà của Maung Tun Shein và Ma Phwa Tint ở làng Thon-ein-su và nói: "Nếu Ngài Sayadaw Thabeik-aing đến khất thực thì hãy dâng những thứ này, quà từ Yangon gửi tới," rồi đưa lại tám chiếc bánh ngọt Cheesecakes, ba quả lê và một chùm nho chín lớn. Chủ nhà nói rằng họ cũng không nhớ mặt người đã mang đến. Sự việc Ngài đi khất thực tại khắp các thị trấn, làng mạc như vậy, có thể là sự thực do Ngài đắc được Thần thông (Abhiññā) mà đi, cũng có thể là do sự thúc giục của chư Thiên. (Xin xem thêm chương về **Ngài Sayadaw Ne-tha-mein**). Về việc Ngài di chuyển theo cách thức nào, để quý độc giả có thể tự mình nhận định, xin hãy tiếp tục theo dõi các sự việc dưới đây. ### Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ Về chuyện Ngài đi khất thực ở các nơi, những lời bạch lại với Ngài phần lớn chỉ là nghe kể lại. Trong số đó, sự việc vào ngày mồng 5 tháng Tabaung năm 1322, khi một nữ thí chủ lớn tuổi ở làng See-son thưa rằng chính bà đã tự tay dâng sới vật thực, là một minh chứng có phần xác thực hơn. Cũng chính vào ngày mồng 5 tháng Tabaung đó, một người tên Maung San Tin ở Pa-thein-kwin cũng thưa với Ngài vào ngày 13 tháng Tagu năm 1324 (ngày đầu năm mới) rằng: "Chính con cũng đã được dâng sới vật thực cho Ngài." Điều này lại càng củng cố thêm niềm tin. Vào ngày mồng 7 sau rằm tháng Tagu năm 1322, một người tên A-chaw ở làng Alai đã ## TRANG 657 bạch với Ngài một sự việc còn thú vị hơn cả những điểm đã nêu trên. Lời bạch như sau: "Bạch Ngài Sayadaw, có một vị Sư bà trưởng thượng ở làng con đang trú tại một ngôi đình nghỉ chân (zayat) thuộc chùa Mu-kyo-paw-daw-mu. Vị Sư bà đó khi về thăm làng vào tháng Tagu trước kỳ lễ Thingyan đã kể với con rằng: 'Từ nửa cuối tháng Tabaung cho đến sát rằm tháng Tagu, mỗi ngày vào đúng giờ thọ sới vật thực lúc bình minh, Ngài Sayadaw đều hiện thân đến chỗ bà'." Vào tháng Pyatho năm 1322, những lời Ngài giải đáp khi Maung Tun Ohn ở làng Oke-tan-dar thưa hỏi có lẽ là minh chứng cụ thể và xác thực nhất, giúp xóa tan mọi nghi ngờ trong chuyện này. Maung Tun Ohn: "Bạch Ngài, bà Daw Htar Khin ở Zin-kyite có kể với con rằng bà đã được tận mắt chiêm bái Ngài hiện thân đến nhà bà. Chúng con còn nói đùa rằng chúng con phải đến tận chùa mới được đảnh lễ Ngài đấy ạ." Sayadaw: "Nếu biết cách đặt tâm (tâm chú định) tốt thì có thể gặp được." Maung Tun Ohn: "Chúng con cũng luôn đặt tâm hướng về Ngài mà bạch Ngài." Sayadaw: "Có lẽ cách đặt tâm của các con không giống như thế đâu." (Ghi chú: Xin xem thêm ý nghĩa của việc Phi hành/Thiền định trong phần "Tinh hoa Phật pháp" mà Ngài đã viết ở phía trước). Những người mặc y án gọi là "Bậc đạt thông đạt thuật (Weizza)" đôi khi cũng thể hiện thần thông như vậy. Tuy nhiên, không nên quên rằng "Trong giáo pháp của Đức Thế Tôn, thần thông không phải là pháp yếu cốt lõi." Chưa từng nghe thấy bậc Weizza nào có thần thông lớn như Devadatta trong thế gian này, nhưng cũng chính vì thần thông đó mà ông ta phải đọa vào địa ngục Avici. Thần thông của những kẻ ngay cả ngũ giới còn không giữ trọn thì chỉ gây khổ lụy cho người tôn thờ. Thần thông mà thiếu đi sự kiểm soát của Bát Chánh Đạo sẽ làm hại cả mình lẫn người. Chỉ có giáo pháp cao thượng gồm Giới - Định - Tuệ của Bát Chánh Đạo - thứ phải trải qua bốn tăng kỳ và một trăm ngàn đại kiếp mới có thể đạt được, thấu triệt và hiển lộ - mới là thứ đem lại hạnh phúc đích thực và lâu bền cho chúng sinh. Hãy khắc ghi sâu sắc rằng đó chính là "Giáo huấn thần thông (Anusāsanī-pāṭihāriya)" - thần lực cao thượng và vô song nhất. ### Ngài có biết được tâm tư của người khác? U Wa-tha-wa, trụ trì chùa Kyar-taw-ya ở thị trấn Nyaung-lay-pin, đồng thời là cháu và là đệ tử của Ngài Sayadaw Thabeik-aing, có lần cùng với ba bốn vị thí chủ đi xe Jeep đến thăm Ngài... --- ## TRANG 658 #### 604 **Dhamma-cariya U Htay Hlaing** Vì đúng lúc Ngài Sư trưởng đi khất thực nên tỳ-kheo U Vāsava và các thí chủ phải đợi tại chùa. Khi Ngài Sư trưởng trở về, Ngài thọ thực và phán rằng: “Lúc đang đi khất thực, nghe tiếng xe máy nổ, ta đã thinh thích đoán rằng chắc là tỳ-kheo Vāsava đến rồi”. Lúc bấy giờ, một vị lãnh đạo hội đồng làng từ ngôi làng mà Ngài Sư trưởng thường đi khất thực cũng đến đảnh lễ Ngài. Vị ấy đứng gần bên, cung kính chiêm bái lúc Ngài đang thọ thực. (Tôi nhớ mang máng tên vị ấy là **U Ba San**, không được chắc chắn lắm). Vị này thường xuyên đến đảnh lễ Ngài như thế. Một lát sau, Ngài Sư trưởng bảo **U Ba San**: “Này, con về đi”. **U Ba San** chưa về ngay mà lùi lại phía sau một chút, tiếp tục thành kính chiêm bái. Dù Ngài lại bảo: “Con về đi chứ”, nhưng **U Ba San** chỉ đáp: “Bạch Ngài, vâng ạ”, rồi lại dời ra ngồi ở một chỗ xa hơn một chút để tiếp tục chiêm bái. Chỉ đến khi Ngài nhắc lại lần nữa: “Con vẫn chưa về sao?”, khi ấy **U Ba San** mới đảnh lễ rồi trở về nhà. Vừa về đến nhà, vị ấy thấy có những vị khách vì việc công vụ đã đợi mình suốt hai tiếng đồng hồ và đang định ra về. Công việc đó bắt buộc phải có chữ ký của **U Ba San** mới xong nên họ đã phải chờ đợi. Điều đáng kinh ngạc hơn nữa là, chỉ khoảng mười phút sau khi **U Ba San** rời khỏi chùa, toán quân phiến loạn đã ập vào trong chùa. Nếu chúng gặp được vị lãnh đạo làng là **U Ba San** ở đó, chắc chắn chúng sẽ không để yên. Sau đó, tỳ-kheo **U Vāsava** đã kể lại chuyện này khi từ chùa trở về và **U Ba San** mới được biết. “Hóa ra đó là lý do vì sao Ngài Sư trưởng lại xua đuổi tôi một cách quyết liệt, điều mà Ngài chưa từng làm trước đây”, **U Ba San** thầm nghĩ. Tỳ-kheo **U Vāsava** cũng nói thêm: “Ngài Sư trưởng có tuệ nhãn nhìn thấu cả hai phương diện vậy”. Ý nói Ngài thấy được cả mối nguy hiểm từ kẻ thù lẫn việc những vị khách đang khẩn cấp chờ đợi. Sau những tin tức như thế, số người tìm đến đảnh lễ Ngài Sư trưởng ngày càng đông đảo. Các thí chủ từ Yangon cũng đã nhiều lần thỉnh mời Ngài về Yangon. Về việc này, Ngài Sư trưởng đã phán như sau: “Nếu cứ thỉnh ta vào chốn nhân gian đông đúc như vậy thì ta không đi được. Nếu cứ hễ được thỉnh là đi thì lợi ích của ta sẽ bị suy giảm mất. Pháp (Dhamma) chính là sự hội đủ của bốn pháp: **Saddhā** (Tín), **Viriya** (Tấn), **Paññā** (Tuệ), **Samādhi** (Định). ## TRANG 659 #### 605 Chỉ khi bốn pháp này hòa hợp thống nhất thì mới chứng đắc được Pháp đặc biệt (Magga-Phala). Nếu không hòa hợp thì không thể đắc được. Hãy nhìn tôn giả **Ānanda** xem, việc ngài đi vào chốn nhân gian và nhận sự chiêm bái của mọi người liệu có dễ dàng tương xứng với bốn pháp này chăng?” Lời giáo huấn này là điều mà những hành giả (yogī) chưa hoàn tất phận sự cần phải lưu tâm. ### Những trải nghiệm thực tế đáng cung kính khác Về Ngài Sư trưởng Thabeit-aing, tôi xin được trình bày thêm những chuyện phi thường và đáng cung kính chưa từng có trong các sách vở, theo như đã được nghe từ các vị đại đệ tử của Ngài. Những nội dung dưới đây là những lời mà các vị liên quan trực tiếp đã thưa lại với tỳ-kheo **U Vāsava** (trú tại chùa Kyar-taw-gyi, thị trấn Nyaung-lay-pin), vị đại đệ tử của Ngài Sư trưởng; và sau đó tỳ-kheo **U Vāsava** đã thuật lại cho chúng tôi. Ngài Sư trưởng chùa Kyar-taw-gyi **U Vāsava** vốn chỉ được ở cùng Ngài Sư trưởng Thabeit-aing từ thời còn là Sa-di, sau đó hai thầy trò xa cách và tỳ-kheo U Vāsava không còn biết Ngài Sư trưởng cư ngụ tại thành phố hay làng mạc nào nữa. Thời gian trôi qua hơn năm mươi năm, tỳ-kheo đã hoàn toàn không còn tin tức gì. Mãi đến năm 1327 (Miến lịch), hai vị mới gặp lại nhau lần đầu tiên. Chuyện gặp lại diễn ra như sau: Vì những tin tức nhiệm mầu về Ngài Sư trưởng, các thiện nam tín nữ ở Nyaung-lay-pin đã nhiều lần đi đảnh lễ Ngài. Biết rõ tỳ-kheo **U Vāsava** đang ở Nyaung-lay-pin nên Ngài Sư trưởng đã nhiều lần hỏi các thí chủ rằng: “Các con ở Nyaung-lay-pin mà không biết vị tên là **U Vāsava** sao?”. Sau đó các thí chủ mới về thưa lại với tỳ-kheo **U Vāsava**. ### Gặp lại trong nỗi buồn vui lẫn lộn Tỳ-kheo **U Vāsava** khi ấy chưa từng nghe danh hiệu “Ngài Sư trưởng Thabeit-aing”, và khi hỏi về hình dáng thì trong lòng vẫn không thể xác định được, tâm trí còn nhiều phân vân. Do được hỏi nhiều lần, nên trong một lần từ Mawlamyine trở về, trên đường ghé vào khu rừng thiền ấy, tỳ-kheo đã hội ngộ Ngài ngay trên đường đi khất thực về. Tỳ-kheo vô cùng kinh ngạc khi nhận ra đó chính là vị sư **U Kittti**, người đã từng dạy pháp học cho mình từ thuở nhỏ. Khi tỳ-kheo đảnh lễ, Ngài Sư trưởng hỏi: “Ông là ai?” “Bạch Ngài, con là **Vāsava** ở Nyaung-lay-pin ạ.” “Ừ... ừ, ta biết ông mà”, Ngài phán rồi thọc tay vào túi nải đựng các cặp lồng canh bên trong y tăng-già-lê, lấy ra trao cho tỳ-kheo **U Vāsava** một lá thư. ## TRANG 660 #### 616 **Dhamma-cariya U Htay Hlaing** Tỳ-kheo **U Vāsava** lại càng thêm kinh ngạc, bởi lá thư ấy chính là một bản di chúc. Nội dung thư viết: “Toàn bộ vật dụng hiện có xin nhường lại cho con Vāsava; khi ta viên tịch thì không được để quá ba ngày, con Vāsava phải hoàn toàn chịu trách nhiệm lo liệu việc hỏa táng cho xong xuôi chỉ với một đống củi”. Đọc thư xong, tỳ-kheo **U Vāsava** không biết phải thưa lại thế nào, lòng tràn đầy cảm xúc buồn vui xen lẫn. Giữa lúc ấy, Ngài phán: “Thôi, ông hãy theo ta về chùa đã.” Thế là tỳ-kheo đi theo Ngài khi Ngài đang trên đường khất thực trở về. Khi về đến chùa, Ngài Sư trưởng cho tỳ-kheo thọ thực. Những người thường xuyên chứng kiến đều kinh ngạc vì mọi khi Ngài chỉ giữ lại vừa đủ một phần ăn cho mình, còn lại đều bố thí hết cho các chùa dọc đường, nhưng riêng ngày hôm đó Ngài lại chừa lại trong bát hai phần ăn. Ngôi chùa nơi Ngài cư ngụ là một dãy nhà ba gian, phía cuối có đường kinh hành. Ở gian phòng trong cùng chỉ có một chiếc chõng tre và một cái gối làm từ một đoạn tre lớn chẻ đôi. Tỳ-kheo **U Vāsava** quan sát kỹ bên trong ngôi chùa nhỏ và thấy có một chiếc quan tài bằng kính, một chiếc quan tài bằng gỗ, cùng một bức ảnh chân dung khổ lớn của Ngài Sư trưởng được lồng khung kính treo trên vách, điều này khiến lòng tỳ-kheo cảm thấy bất an. “Thôi, con Vāsava về đi”, Ngài phán, tỳ-kheo liền đảnh lễ Ngài. Vì vốn có lòng kính sợ từ nhỏ nên tỳ-kheo không dám thưa hỏi những điều còn thắc mắc trong lòng. Tỳ-kheo cũng biết Ngài thường khiển trách các thí chủ bằng giọng cương quyết: “Thôi, đi đi, đi đi, việc ai nấy làm”, nên khi định đứng dậy ra về, tỳ-kheo vẫn còn chút ngập ngừng. Lúc đó Ngài Sư trưởng hỏi: “Này con Vāsava, con còn muốn gì nữa không?” Vì lo lắng theo nội dung bức thư và việc nhìn thấy những chiếc quan tài rằng “lỡ Ngài viên tịch sớm thì sao”, nên tỳ-kheo đánh bạo thưa rằng: “Bạch Ngài, con muốn xin bức ảnh chân dung khổ lớn này để thờ phụng ạ.” Ngài Sư trưởng đích thân tháo bức ảnh xuống và ban tặng. “Còn lá thư và chữ ký của ta thì để con cất giữ. Không phải bây giờ, mà là để dùng khi hữu sự. Thôi, đi đi, đi đi”, nghe Ngài nói thế, tỳ-kheo mới yên tâm phần nào và trở về. (Đây chính là bức ảnh được in trong cuốn sách này. Nhờ sự giúp đỡ của biên tập viên **U Myo Myint** từ đường Campbell và vị đại đệ tử **U Aung Sein** của Ngài Sư trưởng, chúng tôi mới có cơ hội trình bày để quý độc giả được chiêm bái). Kể từ đó, tỳ-kheo **U Vāsava** chùa Kyar-taw-gyi cũng tùy theo duyên sự mà thường xuyên đến thăm Ngài Sư trưởng. Những tình tiết tiếp theo cho đến khi Ngài viên tịch sẽ được trình bày dưới đây đều là lời thuật lại của tỳ-kheo **U Vāsava**. “Vì bần tăng ở xa nên cũng chỉ biết được đôi chút thôi. Những điều bần tăng không biết còn nhiều lắm”, tỳ-kheo cũng đã nói thêm như vậy. ## TRANG 661 ### Cho phép đảnh lễ ba lần Ông **U Aye Maung** ở South Okkalapa (gần chùa Zali Taung) là một thí chủ thân cận của Ngài **U Vāsava**. Khi nghe tin về vị Thiền sư, ông đã đến tu viện Thabeit Aing để đảnh lễ. Vì lòng vô cùng kính tín, ông đã thầm nguyện trong tâm rằng: “Bạch Ngài, cầu xin Ngài cho con được đảnh lễ Ngài đủ ba lần rồi Ngài hãy nhập Niết-bàn.” Sau khi phát nguyện như vậy, ông trở về nhà. Lần sau, ông đưa vợ là bà **Daw Hla Myint** cùng gia đình đến đảnh lễ Ngài một lần nữa. Thiền sư hỏi thăm: “Anh có bao nhiêu người con?” Sau khi ông thưa xong, Ngài bảo: “Nào... nào... hãy đảnh lễ thêm một lần nữa đi.” Thế là cả gia đình cùng đảnh lễ Ngài thêm lần nữa. Sau đó Ngài phán: “Thôi, về đi.” Không lâu sau khi về đến Yangon, ông được tin Ngài đã viên tịch. Lúc suy ngẫm lại, ông mới nhận ra rằng dù chỉ đến viếng hai lần, nhưng Ngài đã tạo điều kiện cho ông được đảnh lễ đúng ba lần như tâm nguyện. ### Thuốc từ lòng từ bi, không phân biệt bệnh tật Một bà lão ở ngôi làng dưới chân núi Thabeit Aing bị đau bụng dữ dội, dù chạy chữa bằng nhiều loại thuốc vẫn không khỏi. Một ngày nọ, sau khi dâng vật thực đặt bát cho Ngài, bà nảy ra ý định nhặt một hòn đá nhỏ từ dấu chân nơi Ngài vừa bước qua rồi nuốt vào. Thật kỳ diệu, chứng đau bụng kinh niên của bà đã hoàn toàn biến mất. Con gái của ông **U Khin Maung** ở làng Kywe Chan bị mắc bệnh yếu xương (liệt bẩm sinh) từ khi mới chào đời. Gia đình đã mời đủ các thầy thuốc cả Đông y lẫn Tây y nhưng bệnh tình vẫn không hề thuyên giảm. Nhìn đứa con gái nhỏ nằm liệt giường, ông **U Khin Maung** vô cùng phiền muộn. Trong lúc túng quẫn, ông nảy ra một ý định và tìm đến thiền viện của Ngài, tay cầm theo một gói nhỏ. Gói đó chứa các loại lá và quả cây được giã thành bột, vừa là thuốc vừa là dinh dưỡng. Ông dự định dâng gói bột này lên Ngài rồi xin nhận lại để làm thuốc cho con. Lúc bấy giờ, trước mặt Ngài có rất đông các tín đồ từ phương xa đến như thường lệ, ông không thể tiến lại gần mà chỉ có thể đứng chiêm bái từ xa. Nghĩ rằng hôm nay chắc không có cơ hội dâng cúng như dự tính nên ông định từ bỏ. Đúng lúc đó, ông nghe tiếng Ngài vang lên: “Khin Maung, hãy mang vật anh muốn dâng lại đây cho Ta.” Nghe vậy, ông bàng hoàng đến gai người vì xúc động. Ông vui mừng khôn xiết mang gói bột đến dâng. ## TRANG 662 Khi ông đang dâng cúng, Ngài dặn thêm: “Ngày mai, anh hãy đến gặp vị hộ tăng (kappiya) để nhận lại gói này mang về.” **U Khin Maung** vui mừng đến mức bước đi như không chạm đất. Ông tự nhủ: “Con gái mình khỏi bệnh rồi.” Đúng như suy tưởng, ông lấy bột lá và quả cây đã được Ngài chú nguyện đem rắc một ít vào mỗi bữa ăn của con gái. Sau đó, xương cốt của đứa trẻ dần trở nên cứng cáp, em có thể đi lại được và hoàn toàn khỏe mạnh. ### Vì quá đạo hạnh mà phải "bỏ chạy" Ở thị trấn Nyaunglebin có một người Hoa tên là **U Tun Thein** (vẫn còn sống đến nay). Ông là người vô cùng kính tin Thiền sư. Ông từng xuất gia gieo duyên (duḷḷabha) và hành thiền theo sự chỉ dạy của Ngài suốt mười mùa hạ. Sau này, dù có duyên sự phải hoàn tục nhưng ông vẫn luôn nhất tâm hướng về thầy và việc tu tập. Một ngày nọ, ông quyết định đến tu viện Thabeit Aing để làm công quả (kappiya) trong thời gian rảnh. Sau khi đảnh lễ và nghe Ngài giáo giới ngắn gọn, theo lệ thường, Ngài bảo ông “Về đi” đến ba lần nhưng ông vẫn không về, cứ nài nỉ: “Bạch Ngài, con muốn ở lại thiền viện để hành thiền.” Cuối cùng Ngài cũng đành thôi. Ngài chỉ nói: “Việc của Ta thì Ta phải làm thôi,” rồi Ngài lên thiền thất nhỏ để trú trong thiền định. **U Tun Thein** ngồi thiền ở tầng dưới của thiền thất. Thế nhưng khi đêm còn chưa khuya, ông bỗng thấy buồn ngủ một cách kỳ lạ, không tài nào cưỡng lại được nên đã ngủ thiếp đi từ rất sớm. Đến khi thức dậy, ông ngửi thấy một mùi hôi thối nồng nặc không thể chịu nổi. Sáng sớm tinh sương, ông đành phải đảnh lễ Ngài rồi vội vàng trở về. Phẩm hạnh của các bậc thánh nhân thật khó lòng thấu hiểu hết. Trách nhiệm trong từng khoảnh khắc của các Ngài là vô cùng lớn lao. Mỗi lời Ngài thốt ra đều có nguyên do, người thường không dễ gì hiểu được. Thậm chí chỉ một ý nghĩ làm trái lời Ngài cũng là điều không nên. ### Sự cản trở đối với bổn phận (Pattarāya) Bậc Thinh văn đệ tử của Đức Phật có thể nhìn thấy và nghe thấy trong khắp cả ngàn thế giới (Giới luân hồi - Jāti-khetta). Các Ngài có thể du hành và hiện diện ở bất cứ đâu. Trong thế giới và cõi người này, ## TRANG 663 thì không cần phải bàn cãi. Các Ngài có thể cứu độ và giúp thoát khỏi khổ đau cho hàng trăm chúng sinh khốn khó trong phút chốc (nếu hội đủ nhân duyên). (Hãy rút ra bài học từ vị đạo sĩ tiền thân của Phạm thiên Baka, người chỉ bằng thần lực thế gian đã có thể cứu giúp chúng sinh mà không cần rời khỏi chỗ ngồi). Trong một quốc gia, có rất nhiều chúng sinh cần được giáo hóa và độ thoát bằng Chánh pháp. Cũng có vô số chúng sinh đang gặp nạn cần được cứu giúp. Trách nhiệm cao cả đó đè nặng lên vai những bậc có khả năng. Các Ngài phải thực hiện sứ mệnh đó suốt 24 giờ không nghỉ. Nếu chúng ta không tuân theo lời dạy, thậm chí là ý muốn của các bậc thánh nhân, hoặc vì những chuyện cá nhân nhỏ nhặt của mình mà làm mất thời gian của các Ngài, khiến cho một trách nhiệm lớn lao khác mà các Ngài đáng lẽ phải thực hiện ở nơi khác bị bỏ lỡ, thì đó chính là sự cản trở (Pattarāya) vô cùng nặng nề đối với bổn phận của bậc Thánh. Trách nhiệm và năng lực của bậc Thánh Thinh văn đầy đủ oai lực có tầm ảnh hưởng lên đến cả ngàn thế giới. Vì vậy, chúng ta nên cận y các Ngài với sự tỉnh giác và trí tuệ. (Ở đây, dù viết liên đới đến chuyện của ông **U Tun Thein**, nhưng xin các bạn đạo hữu hiểu cho rằng tôi không có ý ám chỉ cá nhân ông). ### Vị thí chủ không chớp mắt Có những câu chuyện đã trở nên quen thuộc về việc Thiền sư xuất hiện ở nhiều nơi xa xôi cùng một lúc để khất thực, hoặc việc những người lạ mặt nhận lời chuyển giúp vật phẩm cúng dường của ai đó đến cho Ngài. Tuy nhiên, liên quan đến việc người lạ chuyển đồ cúng dường, có một lời dạy rất kỳ lạ của Thiền sư đáng để ghi nhớ: Một ngày nọ, có vị thí chủ đến thiền viện dâng cúng thực phẩm và thưa rằng: “Trên đường đi, có một người cũng nhờ con chuyển giúp món đồ này để dâng lên Ngài.” Thiền sư hỏi: “Anh... anh có hỏi tên người đó không? Có nhìn mặt để sau này gặp lại còn nhận ra không?” Khi vị đó thưa là không nhớ, Ngài thường phán rằng: “Sau này hãy nhớ, phải nhìn thật kỹ khuôn mặt của những người như thế. Những người đó không bao giờ chớp mắt đâu.” Đối với những bậc vĩ nhân như Ngài, quả thực có rất nhiều vị thí chủ “không chớp mắt” như thế thường xuyên hộ trì. --- *Lưu ý: Các đoạn chuyển trang 661-662 và 662-663 đã được xử lý mượt mà theo ngữ cảnh.* ## TRANG 664 **Ngài Sayadaw** khi đi thường bước đi thoăn thoắt. Khi nói chuyện, Ngài cũng thường nói ngắn gọn, dứt khoát và mạnh mẽ. Có một lần, **ông U Kun Yin** cùng một nhóm người từ thị trấn Nyaunglebin đến thăm Ngài Sayadaw. Khi thấy Ngài đi khất thực về đến đầu làng, họ định đón và đi theo Ngài về chùa. Khi Ngài bảo: “Hãy ở lại đó,” vị trưởng đoàn là **ông U Kun Yin** thưa rằng: “Bạch Ngài, chúng con lặn lội từ tận Nyaunglebin đến đây,” rồi họ cứ thế bám đuôi đi theo Ngài trên con đường rừng. Khi đi được khoảng nửa quãng đường: “Này các thí chủ, hãy đứng yên tại đó,” Ngài quay lại quát với giọng dứt khoát, khiến họ chẳng hiểu chuyện gì, đành phải đứng khựng lại. Họ sợ hãi tự hỏi: “Phải chăng có hổ dữ phía trước?” Thấy mình đã trái lời ngăn cản mà cố tình đi theo, họ hối hận, chỉ biết đứng nhìn Ngài phía trước với đủ thứ suy nghĩ trong đầu. “Hả... Ngài Sayadaw không còn ở đó nữa. Chỉ còn mỗi chiếc y đứng sừng sững thôi,” một người kinh ngạc thốt lên. Quả thực, bóng dáng Ngài Sayadaw đứng phía trước dần biến mất, chỉ còn lại chiếc y cuộn tròn đứng sừng sững như đang mặc trên người. Họ không hiểu vì sao, chỉ biết đứng sững sờ, kinh ngạc đến lặng người. Mãi cho đến khi nghe tiếng gọi: “Nào... nào... hãy đi theo ta,” họ mới tiếp tục bước đi. Vì không dám bạch hỏi Ngài nên họ cũng chẳng rõ sự tình “như thế nào”. Dù thế nào đi nữa, phong thái và trách nhiệm của những bậc Thánh nhân (A-la-hán) vốn dĩ sâu mầu, huyền bí mà hàng phàm phu không thể hiểu thấu, và các Ngài cũng thấy không cần thiết phải cho biết. Qua đây cần ghi nhớ rằng: không phải bậc Thánh nhân có thần thông nào cũng đắc được thần thông như ý muốn. Trong chuyện chim đại bàng bắt rồng, dù có nhiều bậc Thánh nhân **đắc Lục thông** (Abhiññā) ở đó, nhưng cuối cùng một vị Tăng trẻ mới tu được tám hạ đã phải biến hóa ra ngọn núi lớn để cứu giúp. (**Thanh Tịnh Đạo I, 150**). Chỉ khi có được sự thuần thục (**Vasībhāva - Tự tại**) thì mới có thể thi triển thần thông trong nháy mắt như ý muốn. Điều này cho thấy Ngài Sayadaw đã đạt đến trình độ **Tự tại** vô cùng điêu luyện. #### Tránh né vì sợ, nhưng lại bị vây quanh Ngài Sayadaw thường cho phép đâm bái vào giờ thọ thực và một lúc vào buổi chiều. Đôi khi Ngài thuyết pháp khoảng một giờ. Ngài không thích việc người ta cứ thưa gửi, nói năng quá nhiều. ## TRANG 665 Bởi nghe danh Ngài có đại uy lực nên những người đến khẩn cầu không phải là ít. Từ những người cầu thi đỗ, người muốn trở nên giàu có, cho đến những người đang gặp tai ương, bệnh tật; không thiếu những người xem các bậc thiện tri thức như những thầy pháp, thầy bùa để nương nhờ. Vì không có nhiều cơ hội để nói chuyện trực tiếp, họ thường viết thư để dâng lên Ngài. Mỗi khi Ngài chấp nhận gặp, Ngài thường cầm các lá thư lên xem qua loa rồi đặt sang một bên, đôi khi xấp giấy ấy cao đến cả gang tay. Đôi khi, nếu thấy cần thiết, chính Ngài Sayadaw sẽ tự mình ra tay cứu giúp. Một ngày nọ, có hai vợ chồng từ Mawlamyine dâng thư lên Ngài. Người chồng vừa khóc vừa thưa: “Bạch Ngài, con gái chúng con đã bị quân phiến loạn bắt đi từ ngày... đến nay vẫn chưa tìm thấy. Xin Ngài cứu giúp con chúng con.” Theo thói quen, Ngài Sayadaw cầm lá thư lên xem qua loa rồi đặt sang bên cạnh, không phán bảo điều gì. Ngày hôm sau, nghe nói người phụ nữ đó đã từ trong rừng trở về. Khi được hỏi sự tình, cô kể rằng nhóm quân phiến loạn bất ngờ bị quân đội chính phủ bao vây, chúng hoảng loạn tháo chạy, cô cũng nhân cơ hội đó mà thoát ra được và đi đúng vào con đường dẫn về Mawlamyine. Trong một sự việc tương tự, hai cô gái trẻ bị quân phiến loạn bắt giữ đang ngồi khóc lóc, thì bỗng thấy Ngài Sayadaw hiện ra phía trước và bảo: “Đừng lo, đừng khóc nữa, sắp được tự do rồi,” nói đoạn Ngài biến mất, và quả nhiên ngay sau đó họ đã thoát nạn. (Như đã từng kể chuyện vị đạo sĩ – tiền thân của **Bāka Brahmā** – đã dùng thần thông biến ra quân đội để cứu dân làng **Gocara** khỏi đám cướp.) #### Ngồi yên mà làm việc không ngơi nghỉ Các bậc Thánh nhân không những không bao giờ nói: “Đó là do ta làm,” mà còn sợ người khác nhận ra nên thường ẩn mình sâu trong rừng núi. Các Ngài chỉ luôn hướng đến lợi ích của chúng sinh và giáo pháp, vì vậy chúng ta không nên làm phiền các Ngài bằng những việc cá nhân nhỏ nhặt. Dù trong khuôn khổ giới luật hay trong phạm vi vận hành của nghiệp lực (**Kammassakatā**) của chúng sinh, các Ngài vẫn làm việc suốt 24 giờ không nghỉ. (Dù **chúng sinh** không hề hay biết), ngoại trừ việc mang lại lợi ích và an vui cho số đông, các Ngài ## TRANG 666 không còn việc gì khác để làm. Các Ngài dành trọn thời gian để thực hiện tâm nguyện ấy. Chúng ta nên hiểu rằng: “Càng tĩnh lặng bao nhiêu, càng làm được nhiều việc bấy nhiêu.” Đa số hàng phàm phu không cảm nhận được nguồn năng lực của bậc Thánh nhân này, cứ ngỡ rằng phải nói năng, chạy tới chạy lui mới gọi là làm việc, nên đã: “Ngồi thiền chỉ là lãng phí thời gian. Việc xuất thế gian là từ bỏ việc đời để chỉ lo giải thoát cho riêng mình,” v.v. Đó là những lời nói sai lầm. Hãy tỉnh táo và cố gắng tìm hiểu cho đúng. #### Cứu giúp khi thấy có lợi ích **Ông U Tha Khin** ở làng Kywe Chan là một bậc trưởng thượng khá giàu có, vì không dám ở lại làng nên ông đã chuyển đến thị trấn Paung sinh sống. Một ngày nọ, khi từ thị trấn về thăm làng, ông đã bị quân phiến loạn bắt dọc đường. Đó là những kẻ đang rình rập để giết ông. Tên tướng cướp cùng hai đàn em dẫn ông vào rừng sâu, sau đó trói ông chặt vào gốc cây để không thể trốn thoát. Trong lúc kẻ thù đi nơi khác, **ông U Tha Khin** cố gắng niệm tưởng các ân đức Phật (Guṇadhamma), nhưng tâm ông không thể định tĩnh mà luôn bị nỗi sợ hãi cái chết bủa vây. Đột nhiên, gương mặt Ngài Sayadaw hiện lên trong tâm trí, ông hướng lòng về nơi Ngài đang ngụ và khẩn khoản: “Bạch Ngài Sayadaw, xin cứu con với,” ông vừa thốt lên lời cầu cứu thì ngay sau đó, Ngài Sayadaw đã xuất hiện trước mặt **ông U Tha Khin**. Trong khi ông còn đang bàng hoàng kinh ngạc: “Thí chủ hãy đi đi,” Ngài nói khiến ông không tin vào tai mình. Phải đến khi Ngài nhắc lại lần thứ ba, ông mới nhìn lại mình và thấy các dây trói đã tự động tuột ra, ông liền tháo chạy và thoát nạn. Ngày hôm sau khi đến chùa, thái độ của Ngài Sayadaw vẫn không có gì khác thường. **Ông U Tha Khin** vì quá đỗi vui mừng và biết ơn nên không thể không bạch thưa chuyện cũ... “Phải... chuyện như vậy cũng có thể xảy ra,” Ngài chỉ bình thản đáp lại như thế. Một lúc sau: “Ông có nhớ mặt tên tướng cướp đó không?” “Bạch Ngài, con nhớ ạ.” “Ừ... hắn ta sắp gặp tai nạn rồi,” Ngài chỉ phán một câu đầy vẻ trầm ngâm như vậy. ## TRANG 667 Chừng hai ba ngày sau, có một tiểu đội quân chính phủ đi càn quét trong rừng trở về. Họ dừng lại hỏi: "Ông Tha Khin, kẻ bắt cóc ông chính là tên này phải không?". Vừa nói, họ vừa đưa ra thủ cấp của tên tướng phiến quân vừa bị tiêu diệt. Khi nhìn kỹ, thấy đúng thật là hắn, ông Tha Khin càng thêm muôn phần kính ngưỡng bậc Thầy cứu mạng, dù có phải hy sinh tính mạng để cống hiến cho Ngài cũng cam lòng. ### Việc có vẻ thế tục nên không được hài lòng Vào một dịp nọ, khi Ngài U Vasava (Sư Thầy đệ tử) đến Yangon, Ngài đã có cuộc trò chuyện thân mật với vị trụ trì chùa Bahan Thon-tat và các vị Sayadaw từ Mawlamyine. Các vị Sayadaw nọ mới ngỏ lời với Ngài U Vasava rằng: "Này Ngài U Vasava, xin Ngài hãy dành chút thời gian thưa lại với vị Thầy của Ngài giúp chúng tôi. Phần chúng tôi thì chẳng biết mình có đang tạo đại ác nghiệp (vì chỉ trích) hay không, nhưng thật lòng không phải là chúng tôi muốn khinh mạn Ngài ấy, cũng chẳng dám có ý nghĩ bất kính nào. Chúng tôi chỉ e sợ rằng danh tiếng của Ngài ấy cũng như uy tín của Giáo pháp sẽ bị tổn giảm. Chuyện chẳng có gì khác ngoài việc mọi người đều nghe đồn rằng Ngài ấy thường làm cho người ta thi đậu, chữa khỏi bệnh, thoát khỏi tử nạn hay giúp tăng trưởng tài lộc... Những việc như thế chẳng phải mang màu sắc thế tục quá sao? Lẽ ra chỉ cần ban cho họ một đề mục thiền định nào đó là đủ rồi. Xin Ngài hãy thưa lại với Ngài ấy xem sao. Những điều chúng tôi nói đây chắc cũng không phải là quá đáng chứ?" Vốn là người ít nói và điềm đạm, Ngài U Vasava không bày tỏ sự đồng tình hay phản đối, chỉ đáp lại rằng khi có dịp thuận tiện sẽ xin trình lên. Khi trở về Thapeik Aing, nhận thấy những lời nhắc nhở của chư vị Sayadaw là điều đáng để thưa lên, Ngài đã bạch lại với Tôn sư. Ngài Thapeik Aing liền đáp: "Hèn gì, này Vasava, chẳng lẽ một bậc thiện tri thức lại không được phép trải tâm từ hay sao? Ta đâu có khởi ý muốn họ phải được cái này hay cái kia đâu. Ta chỉ thuần túy gửi tâm từ đến cho họ mà thôi." Nghe lời dạy đó, Ngài U Vasava trầm mặc suy ngẫm về bản thể khó thấu hiểu của các bậc thánh nhân và giữ sự im lặng. ### Năng lực của Tâm Từ Sức mạnh của năng lực tâm từ lớn lao đến mức nào là điều rất đáng để chúng ta suy ngẫm sâu sắc. Nếu trong địa hạt siêu thế (Lokuttara), năng lực của Pháp Vô Vi (Asankhata) là tối thượng, thì trong địa hạt hiệp thế (Lokiya), không có một sức mạnh nào có thể chế ngự được năng lực của tâm từ. Tâm ý của các bậc thiện tri thức vốn rất nhiệm mầu và khó hiểu thấu. Do đó, đối với những việc làm của các bậc cao nhân, hàng phàm phu không nên vội vàng dùng cái nhìn hạn hẹp của mình để can thiệp hay phê phán. Đó là một bài học đáng để ghi nhớ. ## TRANG 668 Nếu cảm thấy tâm ý của các Ngài không phù hợp với xu hướng của mình, chúng ta nên đặt tâm mình vào sự Khéo tác ý (Yoniso Manasikara) sao cho không gây phiền nhiễu, không gây khổ đau hay lợi dụng các Ngài; đồng thời cũng không để vụt mất cơ hội quý báu được gần gũi bậc minh sư. Nếu không biết cách giữ tâm, thì việc tiếp cận một bậc Thầy có khả năng hóa giải khổ đau cũng chỉ đem lại lợi ích ít ỏi. Hơn nữa, do sự thiếu tế nhị trong cách cư xử, chúng ta có thể khiến những người ít đức tin hoặc những người thích phê phán bị hiểu lầm, dẫn đến việc họ không chỉ đánh mất cơ hội lớn mà còn có nguy cơ rơi vào ác đạo. Hãy hết sức cẩn trọng. Ngài Sayadaw dường như có sự liên hệ và giao du rất nhiều với thế giới phi nhân và các cảnh giới khác. Ngài thường thuyết pháp và hóa độ cho họ. Chính vì vậy, đôi khi ngay tại thế giới loài người này, Ngài cũng thường hiển lộ thần lực một cách rõ rệt. ### Tỳ-kheo Chim và Tỳ-kheo Chuột Ngài Sayadaw cực kỳ tôn trọng giới luật (Vinaya). Ngài đã dành hơn bốn mươi năm cuộc đời ẩn mình để thực hành giáo pháp của bậc xuất gia. Mỗi khi có các vị Tỳ-kheo đến đảnh lễ, dù thân quen hay mới gặp, Ngài đều dạy rằng: "Làm một vị Tỳ-kheo thì phải thực hành như **loài chim**, đừng sống như **loài chuột**. Loài chim chỉ mang theo đôi cánh của chính mình làm trọng trách, nên lúc nào cũng nhẹ nhàng, muốn bay đi đâu, vào lúc nào cũng được. Còn loài chuột thì cứ đào hang cho thật sâu, gặp gì cũng cào cấu, tha lôi những thứ tìm được về tích trữ, dù là đồ tốt hay xấu, rồi cứ thế mà phí hoài cả một đời." Ngài thường giáo giới các vị tăng sĩ phải tôn trọng giới luật, không được đắm chìm trong lợi dưỡng, mà phải dốc lòng dốc sức vào phận sự chính của mình (hành trì Giáo pháp). Ngoài ra, Ngài còn dạy rằng đối với một hành giả thực thụ thì không có ai là hoàn toàn "khỏe mạnh" cả. Và cũng không nên vì lý do không khỏe mà bỏ phế công việc hành trì. Chừng nào còn phải gánh vác cái thân ngũ uẩn vốn luôn bị khổ vô thường (Sankhara Dukkha) bức bách, thì dù có vẻ như đang khỏe mạnh, thực chất chúng ta vẫn luôn là một "bệnh nhân" kinh niên. Bản thân Ngài Sayadaw Thapeik Aing cũng không thể nói là khỏe mạnh. Ngài vốn mắc bệnh đau bao tử kinh niên do gió (lên hơi). Mỗi khi đi khất thực về, Ngài vẫn chưa thể dùng bữa ngay được. Ngài phải đặt bát xuống, dùng một cây thiền trượng dài khoảng một sải tay, một đầu chống vào bụng, một đầu tựa vào khung cửa của thiền đường để ép bụng. Ngài phải làm như thế nhiều lần cho đến khi gió trong bụng thoát ra được bằng đường miệng; chỉ khi nào cảm thấy nhẹ nhõm thì Ngài mới có thể thọ nhận vật thực. Đôi khi Ngài còn bị những cơn sốt rét hành hạ, có lúc lại bộc phát chứng bệnh kiết lỵ. Vì sức khỏe không tốt nên Ngài luôn chuẩn bị sẵn hai chiếc hòm gỗ (loại hòm bỏ trống ngoài nghĩa trang) thu lượm được để làm vật dụng "phấn tảo" (pamsukula). ## TRANG 669 Những bộ y do thiện nam tín nữ đến cúng dường hoặc đặt theo hình thức "y phấn tảo" đều được Ngài bỏ vào trong hai chiếc hòm đó, lúc nào cũng có sẵn khoảng ba bốn mươi bộ. Đối với những bậc Thầy là con đời của đức Thế Tôn, những người có thể đánh đổi cả mạng sống để bảo trì giới luật, thì lợi dưỡng tự nhiên tìm đến mà không cần phải nhọc công tìm kiếm đến mức trở thành sự chướng ngại (**Palibodha**). Ngược lại, đối với những vị Tỳ-kheo không đủ tự tin vào giới hạnh của mình, vì giới lực yếu kém, họ buộc phải dùng đến những trò lạ lùng thần bí, hoặc làm những việc như chữa bệnh, coi bói theo kiểu Đại thừa để mưu sinh; họ dùng lợi lộc này để câu nhử lợi lộc kia, tâng bốc hoặc đe dọa thí chủ để có được đồ cúng, làm kẻ sai phái cho người thế tục, hoặc cố tỏ ra thân cận, thường xuyên lui tới nhà thí chủ để lộ diện... Cứ như thế, họ phải chạy theo lợi dưỡng đến mức khô cả cổ, mòn cả dép. Những người ấy, đừng nói đến việc tìm thấy lối thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi vốn luôn rộng mở, ngay cả cách tìm kiếm sự sống một cách dễ dàng trong vòng luân hồi này họ cũng chẳng thể thấy được. ### Môi giới loài Người và môi giới Chư Thiên Đối với những bậc thiện tri thức có giới hạnh, những câu chuyện về lợi dưỡng tự tìm đến là kể không xiết. Ngay cả việc khởi lên một ý muốn nhỏ như "ước gì có cái này cái kia" trong tâm, các Ngài cũng không dám khởi lên. Có một lần, hai cái vỏ gối mà Ngài thường dùng đã cũ rách, Ngài đang tự tay khâu vá lại. Trong tâm Ngài chợt thoáng qua ý nghĩ "nếu có cái mới thì tốt biết mấy". Ngay sáng hôm sau, có một bà lão đến cúng dường hai chiếc vỏ gối mới và thưa rằng: "Có một vị mặc đồ trắng tinh khiết đã hiện về trong giấc mơ của con để bảo con làm việc này". Một lần khác, khi Ngài định lấy bình thuốc ngâm mật ong mà Ngài vẫn thường dùng ra uống, thì thấy phần thuốc vẫn còn nhưng mật ong đã hết. Ngài buột miệng thốt ra: "Chà... mật ong cũng hết mất rồi". Ngày hôm sau, một người đàn ông mang đến cúng hai chai mật ong, cũng trình rằng vì được báo mộng. Đối với các bậc thiện tri thức, đôi khi sự nhiệt tình quá mức của những "người môi giới" hay "chư thiên môi giới" (những người làm trung gian hộ độ) cũng đem lại không ít phiền toái phụ thêm. Câu chuyện tương tự cũng từng xảy ra với Ngài Đại trưởng lão Sariputta (Xá-lợi-phất). Có lần Ngài bị đau bụng do gió nên không thể đi khất thực, Ngài Moggallana (Mục-kiền-liên) đã đi khất thực thay cho Ngài. Ngài Moggallana nghe nói món cháo sữa có thể chữa khỏi bệnh này nên đã khởi ý muốn có cháo sữa. Khi Ngài đi đến nhà một vị bá hộ, có một vị thiên đã nhập vào người con trai của vị bá hộ đó và bảo họ hãy dâng cúng cháo sữa. Khi biết được sự tình này (rằng món ăn có được do sự can thiệp), Ngài Sariputta đã dạy: "Dù cho ruột có lòi ra đi chăng nữa, ta cũng không dùng", và bảo Ngài Moggallana hãy đem đổ bỏ ngay lập tức. Những phần cháo sữa đổ trên mặt đất... ## TRANG 670 Ngay khi (tâm định) an trụ, chứng bệnh đau dạ dày đã đeo bám suốt 40 năm lập tức được tiêu trừ. (Theo Thanh Tịnh Đạo I, 40; trong At-tha-ka-tha ghi là 45 năm). Ngài Sayadaw Thabeik Aing tự cảm thấy xấu hổ: “Chư thiên đã biết rõ tâm ta rồi”, nên ngài nỗ lực hành thiền liên tục để phiền não không có cơ hội len lỏi vào tâm. Liên quan đến việc giữ gìn thu thúc lục căn, ngài còn dõng dạc tuyên bố: “Nếu có khi nào mắt các ngươi và mắt ta chạm nhau (do ta phóng tâm nhìn ngó), hãy đâm mù mắt ta bất cứ lúc nào.” Loại giới hạnh như vậy, há có điều gì mong muốn mà chẳng thành tựu sao? Tuy nhiên, đối với bậc thiện trí, không phải mọi thứ đạt được đều là điều cần thiết. ### Ăn cúi, ăn ngước, ăn nhìn thẳng, ăn nhìn góc Trong giáo pháp của Đức Thế Tôn, ngay cả ở tầng mức giới hạnh thấp nhất cũng đã đủ để làm nơi nương tựa vững chắc. Các hàng hậu học xuất gia ngày nay cần phải lưu tâm đến phong thái thu thúc của mình. Trên đời, cũng như có những người vì miếng cơm manh áo của bản thân và gia đình mà mưu sinh bất chính (gọi là "vừa khóc vừa ăn"), thì khi những người kém năng lực và đầy vị kỷ bước chân vào cửa đạo, sẽ nảy sinh những hạng tu sĩ xấu ác, nuôi mạng bằng các cách: ăn cúi (ngụm-sa), ăn ngước (mọt-sa), ăn nhìn thẳng (tu-yu-kyi-sa), và ăn nhìn góc (htaung-kyi-sa). Họ lôi kéo những người có quyền lực hoặc giàu sang nhưng thiếu trí tuệ, rồi chính những tu sĩ xấu ấy lại khoác lên mình dáng vẻ của bậc Thánh nhân để bước lên pháp tòa thụ nhận sự cúng dường. Một thời, sau khi Ngài Xá-lợi-phất (Sāriputtra) đi khất thực xong tại thành Vương Xá (Rājagaha), ngài tựa lưng vào tường một sala bên đường để thọ thực. Lúc bấy giờ, một nữ du sĩ (paribbājikā) trí thức tên là Sucimukhī đã đến hỏi rằng: “Bạch Ngài, Ngài thọ thực theo cách nhìn cúi xuống, hay nhìn ngước lên, hay nhìn bốn phương chính, hay nhìn bốn phương phụ (các góc)?” Ngài lần lượt đáp “Không phải” cho từng câu hỏi. Khi bà hỏi rõ lý do tại sao không phải, ngài đã giải thích từng điểm một: **1. Ăn cúi (Ngụm-sa):** Phán đoán long mạch, địa thế đất đai để chỉ dẫn việc canh tác, xem phong thủy mà nuôi mạng. **2. Ăn ngước (Mọt-sa):** Quan sát nhật nguyệt, tinh tú, thiên văn, xem bói toán mà nuôi mạng. **3. Ăn nhìn thẳng (Tu-yu-kyi-sa):** Làm kẻ sai phái cho các thí chủ, đi lại vận động lo toan việc đời cho họ rồi mới được cho ăn. **4. Ăn nhìn góc (Htaung-kyi-sa):** Sử dụng các thuật tà đạo trái nghịch với giáo pháp như xem tướng tay, chiêm tinh, dùng bùa chú, sên thắt dây chỉ, thờ phụng các vị "Bố Đạo, Bà Đạo" (thần linh). ## TRANG 671 ### Các bậc A-la-hán và những bậc đặc biệt Đi theo con đường của các đạo sĩ (wizzadhor), lập đàn cúng vái để nuôi mạng. Khi nữ du sĩ nghe rằng Ngài chỉ thọ thực những vật thực thu được bằng phương cách nuôi mạng chân chính, bà vô cùng hoan hỷ và đi khắp thành Vương Xá lớn tiếng kêu gọi: “Hãy cúng dường đến những đệ tử chân chính của Đức Cồ-đàm!” (Tương Ưng Xá-lợi-phất, Kinh Sucimukhī). ### Thần thông cơ bản quan trọng Đối với các thiện nam tín nữ (chúng sinh) đang gặp phải đủ loại khó khăn: người cần tài lộc được tài lộc, người cần trí tuệ được trí tuệ, người cần sức khỏe được sức khỏe, người gặp nạn được bình an... để xuất hiện một bậc Thánh nhân có thể bảo hộ vẹn toàn, đáp ứng mọi nguyện vọng của họ vào mọi lúc là điều không hề dễ dàng. Đó chính là bậc **Aggadakkhiṇeyya** (Bậc xứng đáng hưởng sự cúng dường tối thượng), là **Anuttaraṃ puññakkhettaṃ** (Phước điền vô thượng). Nếu một bậc như vậy xuất hiện, thì đúng như lời dạy “**Sadevake loke samarake**” (Trong thế gian cùng chư Thiên và Ma vương), ngài có thể đem lại sự an lạc và thịnh vượng cho toàn thế giới (lấy một ngàn thế giới làm phạm vi). Chúng ta có thể thấu hiểu rằng, các ngài có thể tác phúc cho chúng sinh chỉ bằng việc ngồi yên tĩnh, không cần rời khỏi chỗ. Việc các ngài có thể đem lại lợi ích đa dạng cho chúng sinh không phải nhờ vào thần thông biến hóa, độn thổ hay bay liệng trên không trung. Ngài Sayadaw Thabeik Aing đã trực tiếp khẳng định rằng, đó là nhờ vào năng lực của Giới (Sīla) và Tâm Từ (Mettā) – những loại "thần thông" mà ai cũng có thể rèn luyện được, nhưng lại có sức mạnh vượt trội gấp bội lần. Người đời thường chỉ mải mê nhìn vào việc “bay cao lặn sâu” mà lệch lạc trong cái nhìn về Pháp, vốn dựa trên nền tảng của **Anusāsanī Pāṭihāriya** (Giáo huấn thần thông) là Giới và Tâm Từ. Chúng ta cần phải suy xét và thực hành với lòng tin tưởng sâu sắc. ### Cảnh tượng những ngày cuối đời của Ngài Sayadaw Dù sức khỏe không tốt, nhưng có thể thấy rõ Ngài Sayadaw Thabeik Aing vẫn không quản ngày đêm tế độ chúng sinh. Vì muốn tạo phước cho các thí chủ, ngài vẫn thọ nhận các vật thực cúng dường, dù bản thân ngài chỉ có thể dùng một chút ít gọi là cho có. ## TRANG 672 Vào năm 1327 (Miến lịch), ngày mùng 1 sau rằm tháng Tabodwe, ngài lâm trọng bệnh, nghĩ rằng mình sắp viên tịch nên đã viết di chúc. Tuy nhiên, theo cái nhìn của người thường, không ai biết người được ủy thác lo việc tang lễ trong di chúc hiện ở phương nào. Đó là một người đệ tử đã xa cách hơn 50 năm, sự ngăn cách ấy còn xa hơn cả một kiếp người. Thế nhưng, nhờ năng lực Giới, Định, Tuệ của bậc thiện trí vô cùng to lớn, thật kỳ lạ là ngài đã gặp lại được người đệ tử ấy – nay cũng đã là một vị Hòa thượng, Ngài **U Vasava**. Trong năng lực của Pháp, không có sự phân biệt gần hay xa, mọi ước nguyện chân chính đều sẽ được tròn đủ. Năm 1331, ngày mùng 10 sau rằm tháng Tawthalin. Tuổi đời của Ngài Sayadaw đã chạm mốc 76. Ngài đã độc cư tu hành tại trú xứ Thabeik Aing Forest này suốt 44 năm ròng. Ngày qua ngày, thân tứ đại dần trở nên già yếu và suy tàn. Dù vốn dĩ ngài có một thân hình cao lớn, tráng kiện, nhưng khi bị cái già và bệnh tật hành hạ, ngài phải gánh chịu thân xác này một cách khó nhọc. Chính thân thể này không còn nghe theo mệnh lệnh của ngài mà quay lại phản nghịch. Đôi chân không bước đi theo ý muốn, đôi tay vốn trung thành ôm bát khất thực suốt bao năm qua giờ đây cũng không còn gánh vác nổi trách nhiệm. Khi thị giả xin ngài tạm nghỉ khất thực, ngài không chấp thuận. “Đến như Đức Phật cho đến lúc nhập Niết-bàn vẫn còn đi khất thực để tế độ chúng sinh, ta cũng phải đi. Ta đang đối mặt với đại nạn mà con không cứu được mẹ, mẹ không cứu được con (sinh lão bệnh tử), các ngươi đến chăm sóc liệu có hết được không?” Sáng ngày 11, thấy ngài không đi khất thực như thường lệ, các thí chủ hớt hải chạy về phía chùa. Họ vẫn còn e ngại vì sợ ngài sẽ đuổi đi như mọi khi. Liều mình nhìn vào trong chùa nhưng không thấy gì, cửa đã đóng chặt. Tim đập liên hồi, họ đánh liều gọi khẽ: “Bạch Ngài Sayadaw!” nhưng không có tiếng trả lời. Khẽ mở cửa nhìn vào, họ thấy Ngài Sayadaw đang ngồi trên giường tre, lưng tựa vào tường, một chân buông xuống, một chân co lên, hai tay ôm lấy đầu gối. Khi bước vào lay đầu gối hỏi thăm thì ngài không còn đáp lại nữa. Toàn thân ngài đã cứng đờ và lạnh ngắt như một khối băng. Một chiếc quan tài vốn thường để trong phòng nay cũng đã được đặt nằm ngang dưới chân ngài. Các thí chủ bàng hoàng, mắt hoa lên không biết phải làm sao. Một lúc sau, khi nhìn vào y của Ngài Sayadaw, họ thấy những vết máu... bản dịch Việt ---CONTENT_END--- ## TRANG 673 ### Những Vị Thánh Alahan và Bậc Đặc Biệt Mọi người đều kinh hãi. Họ suy đoán xem có phải do dã thú hay kẻ trộm gây ra không, nên đã kiểm tra vết thương nhưng không tìm thấy bất kỳ dấu vết nào. “Nhìn tư thế đặt đầu xuống chân giường như thế này, hẳn là Ngài biết mình sắp tịch vì bệnh nên đã tự sắp xếp tư thế cho mình,” mọi người nhận định như vậy khi quan sát xung quanh và thấy những vệt máu trên chõng tre. Họ cũng tìm thấy máu trong ống nhổ đặt ở một góc. Khi đi kiểm tra nơi thường đổ ống nhổ, họ thấy máu đọng lại thành vũng lớn đến mức không nỡ nhìn. Lúc bấy giờ, mọi người mới biết Ngài tịch vì bệnh kiết lỵ ra máu, căn bệnh vốn thường xuyên tái phát nơi Ngài. Hàng thiện tín nam nữ trong làng lập tức hội họp bàn bạc, rồi đánh điện tín và cử người đi đón Ngài Sayadaw **U Vāsava**. Trước khi Ngài **U Vāsava** đến, họ đã đặt nhục thân Ngài vào quan tài kính. Khi Ngài **U Vāsava** vừa đến, các cư sĩ thưa rằng đang có sự tranh luận chưa ngã ngũ về việc sẽ quàn nhục thân để cúng dường trong 7 ngày hay 15 ngày. Ngài **U Vāsava** bèn đưa ra tờ di chúc có chữ ký và bút tích của cố Hòa thượng. Trước di nguyện đó, không ai dám làm trái, và lễ trà tỳ đã được tổ chức trong vòng ba ngày với một đống củi đơn sơ. ### Ánh Sáng Giáo Pháp Tại nơi cúng dường cuối cùng trên đồi Thabeik Aing, sau khi quan sát cho đến khi nhục thân hóa thành tro và thu xếp mọi việc ổn thỏa, ba người được cắt cử ở lại trông nom chùa rừng vào ban đêm, số còn lại đều xuống núi. Lúc ấy, cơn mưa tháng Thawthalin bắt đầu rơi lác đác. Đoàn người đang vừa đi vừa trò chuyện đi xuống núi trong đêm tối không trăng thì bỗng nghe tiếng gọi thất thanh của một người trên chùa rừng, đồng thời nhìn thấy một luồng sáng kỳ lạ. Khi quay lại nhìn lên ngọn đồi, tại nơi trà tỳ, họ thấy một vầng sáng rực rỡ, xanh biếc, sáng hơn bóng đèn thủy ngân gấp nhiều lần, từ từ bay lên không trung về phía đảo Bilu. Mọi người vội vã chạy ngược lên đỉnh đồi. Khi vừa lên tới nơi, họ lại thấy vầng sáng xanh ấy từ phía đảo Bilu quay trở lại và hạ xuống ngay vị trí trà tỳ. Chứng kiến cảnh tượng hy hữu đó, ai nấy đều kinh ngạc, đồng loạt quỳ lạy khóc nức nở mãi không thôi. “Có lẽ Ngài đã trở về thăm hang động nhỏ trên đảo Bilu, nơi Ngài bắt đầu xuất gia tu tập,” ## TRANG 674 khi Ngài **U Vāsava** vừa dứt lời, vầng sáng lớn từ nơi trà tỳ vụt bay lên, rồi bay qua bay lại giữa ngọn đồi và đảo Bilu nhiều lần. Mọi người chứng kiến cảnh tượng ấy mà lòng vừa bùi ngùi thương tiếc, vừa hân hoan hỷ lạc. “Kìa... hãy đến xem chỗ này nữa!” Có tiếng ai đó gọi lớn. Mọi người chạy đến thì thấy tại những nơi có vết máu rơi hay nơi đổ ống nhổ, những tia sáng xanh trong suốt, lấp lánh như những sợi chỉ quang sai, cũng đang đồng loạt bay vút lên không trung. Ngay tại nơi trà tỳ, mọi người đã tôn trí xá-lợi xương và xây dựng một bảo tháp kỷ niệm mang tên Lwun Zedi (Tháp Tình Thương) cao 12 hắc tay để cầu nguyện. Tiếng chuông gió và tiếng thác nước dường như vẫn luôn vang vọng khúc ca tán dương công hạnh của Ngài. ### Tinh Hoa Pháp Bảo Ngài Thiền sư rừng Thabeik Aing đã soạn thảo một tác phẩm nhỏ tên là **Sīmākosalla**. Ngoài ra, Ngài còn soạn bộ **“Cūḷasotāpanna-bhāgana Dhātukammaṭṭhāna”** (Pháp hành Nguyên tố để đắc quả Dự lưu phần nhỏ), hay còn gọi là Yogi Nandi. Đây là một tác phẩm rất súc tích và ấn tượng được soạn từ khi Ngài còn trẻ. Theo lời thỉnh cầu của đại chúng, những bài pháp Ngài thường giảng dạy đã được biên soạn thành sách để ban tặng cho đời. Tác phẩm này cũng chính là câu trả lời cho câu hỏi: “Ngài đã tác ý vào pháp nào và hành trì như thế nào để đạt được thành tựu?” Bộ sách ấy phản ánh rõ nét trình độ **Pariyatti (Pháp học), Paṭipatti (Pháp hành)** và **Paṭivedha (Pháp thành)** của Ngài. Ngài đã trình bày việc phân tích các nguyên tố (Dhāt) và hơi thở (Ānāpāna) kèm theo các dẫn chứng từ kinh điển một cách dễ hiểu cho người bình dân. Đối với những điểm quan trọng cần biết về hành trì **Vipassanā (Thiền quán)**, tác phẩm này cung cấp khá đầy đủ. Ngài đã viết một cách minh bạch các ý nghĩa từ kinh điển cũng như những kiến giải sâu sắc có được từ kinh nghiệm hành trì tự thân. Sau đây xin trích dẫn một vài điểm từ tác phẩm đó: ### Tam Tướng (Lakkhaṇā-re) [ “Các bậc Dự lưu (**Sotāpanna**) và Nhất lai (**Sakadāgāmi**) thấu triệt hoàn toàn về khía cạnh Vô ngã (**Anatta**). Họ chưa thể thấu triệt trọn vẹn về khía cạnh Vô thường (**Anicca**) và Khổ (**Dukkha**). Các bậc Bất lai (**Anāgāmi**) thấu triệt hoàn toàn về khía cạnh Vô ngã (**Anatta**) và Vô thường (**Anicca**). Họ chưa thể thấu triệt trọn vẹn về khía cạnh Khổ (**Dukkha**). Bậc Alahan (**Arahat**) có khả năng thấu triệt trọn vẹn và tường tận cả ba tướng ấy.” ] ## TRANG 675 ### Chọn Một Pháp Phù Hợp Và Hành Trì Quyết Liệt Dù là pháp **Samatha (Thiền định)** hay **Vipassanā (Thiền quán)**, hành giả chỉ nên tìm chọn một pháp môn nào mình thấy tâm đắc nhất, thấy rõ ràng và minh bạch nhất với trí tuệ của mình, rồi dốc lòng hành trì pháp đó suốt đời. “Nên tránh tâm lý phân vân (**Dhammavitatka**) kiểu như: ‘Pháp kia chắc là tốt, pháp này chắc là hay; hay là mình hành pháp kia một chút, rồi thử pháp này một ít’. Kết cục là không nắm chắc được pháp nào, cả pháp kia lẫn pháp này đều lỡ cỡ, chỉ làm lãng phí thời gian trong sự hoài nghi. Tuy có thuyết nói rằng **Ānāpāna Kammaṭṭhāna (Đề mục Hơi thở)** phù hợp với người có tánh Tầm (Vitatka - hay suy nghĩ), nhưng thực tế nó lại càng phù hợp hơn với những người không có tánh Tầm. Tánh khí không phải là điều tiên quyết. Quan trọng nhất là tâm trí phải minh mẫn để pháp có thể hiện rõ, dễ thấy và dễ biết.” ### Tướng (Nimitta) Thật Và Giả “Tâm không an định trong thân mà phóng ra ngoài theo các cảnh, rồi suy diễn, tưởng tượng ra các hình ảnh — đó không phải là Nimitta (tướng) thật.” “Phải để cảnh tự tác động vào tâm để Nimitta hiện khởi.” “Ví như việc chụp ảnh: tâm phải vững vàng như tấm kính ảnh (phim), còn cảnh phải giống như ánh sáng và bóng đổ chiếu vào để lưu lại hình ảnh. Chỉ khi hiện khởi như vậy thì mới gọi là Nimitta thật.” ### Thần Thông Bay Trên Không “Mọi người thường mặc định rằng hễ đắc Thiền (Jhāna) là có thể bay lên trời. Nhưng chỉ với việc đắc các tầng Thiền từ **Sơ, Nhị, Tam đến Tứ thiền** thì chưa thể bay được. **Ngũ thiền** có hai loại: Ngũ thiền thông thường và Ngũ thiền đi kèm với năng lực Thắng trí (Abhiññā). Chỉ với bậc đắc Ngũ thiền có năng lực **Iddhividha Abhiññā (Thần túc thông)** thì mới có thể bay đến nơi mình muốn.” Có hai cách bay: Một là cơ thể trở nên nhẹ bẫng và bay đi cho mọi người nhìn thấy; hai là bay đi một cách nhanh chóng trong tích tắc, chỉ trong một **Sát-na tâm (Cittakkhaṇa)**, nhanh như chớp mắt mà người thường không kịp nhìn thấy. ## TRANG 676 ### Sai biệt mong manh dẫn đến sai lầm cả đời "Nếu chỉ chú tâm ghi nhận hơi thở ra, hơi thở vào mà không biết rõ đó là **Sắc** (rūpa), là **Danh** (nāma), không nhận ra đặc tính **Vô thường** (anicca), **Khổ** (dukkha), **Vô ngã** (anatta), thì đó mới chỉ là Định (samatha). Nếu biết rõ đó là **Sắc**, là đặc tính **Vô ngã**, rồi quán sát sự sinh diệt của Danh Sắc ấy bằng cách hướng tâm vào các **Tam tướng** (lakkhaṇā), thì khi ấy mới trở thành Tuệ quán (vipassanā). Nếu không hiểu rõ, sự sai biệt mong manh này có thể dẫn đến việc thực hành sai lệch suốt cả đời. Hơi thở ra và hơi thở vào, dù nói là phong đại (vāyo-dhātu), nhưng bao giờ cũng bao gồm cả địa đại, thủy đại và hỏa đại (paṭhavī, āpo, tejo-dhātu). Hơi thở ra và hơi thở vào thuộc về tứ đại là "**Sắc**"; tâm biết rõ hơi thở ra vào là "**Danh**". (Cũng có thể phân tích theo Ngũ uẩn: gió, thọ, tưởng, hành, thức). Nếu tâm tuệ không thể theo kịp (sự sinh - trụ - diệt), hãy nắm bắt một điểm lúc sinh khi hơi thở vào, nắm bắt một điểm lúc diệt khi hơi thở ra. Dù là sinh hay diệt, hễ nắm bắt được một điểm xác thực thì việc đạo quả (magga) có thể thành tựu. Đây là điểm trọng yếu, hãy ghi nhớ cho kỹ. Các pháp Danh Sắc không hề di chuyển từ nơi này sang nơi khác dù chỉ một sợi tóc. Chúng sinh lên và diệt đi ngay tại chính nơi đó. ### Dù nói là theo dõi Thọ (Vedanā) Trong tất cả các **Danh** pháp, **Thọ** (vedanā) là pháp hiện rõ nhất, dễ nhận biết nhất. Có rất nhiều bậc đã đắc quả và nhập Niết-bàn thông qua việc quán Thọ. Tuy nhiên, nếu chưa biết chắc thân mình là nhị nhân (dvi-hetu) hay tam nhân (ti-hetu) mà lại bắt chước Tỳ-kheo **Godhika** tự cắt cổ mình, thì kết quả cũng chỉ là cái chết vô ích mà thôi. Trong năm loại **Thọ**, **Khổ thọ** (dukkha-vedanā) là rõ ràng và dễ nhận biết nhất. Mỏi mệt ít thì hiện rõ ít, mỏi mệt nhiều thì hiện rõ nhiều. Đừng bao giờ khởi tâm mong cầu cho hết mỏi, hết tê, hết đau hay hết rung lắc. Chính vì khởi tâm như vậy nên Thọ mới bị che lấp. Nếu mỏi quá mức, có thể điều chỉnh tư thế. Bởi vì nếu mỏi quá độ, tâm dễ bị phóng dật và sinh ra đủ thứ vọng tưởng. Có người lại lầm tưởng những trạng thái (phóng dật) đó là tốt. Tuyệt đối không nên nghĩ như vậy. ## TRANG 677 Nếu một hành giả ngồi phía trước thực hành sai lệch, những người theo sau cũng dễ bị sai lạc theo. Khi các cảm giác đau mỏi, tê cứng, nhức nhối khởi lên, thân thể thường tự nhiên rung lắc, thậm chí có người còn nhảy dựng lên. Đó chẳng phải là điều tốt đẹp gì, đừng để tâm buông lỏng theo đó. Nếu kéo dài, hành giả có thể trở nên như người tâm thần. Thế nhưng, có người lại lầm tưởng trạng thái đó là định (samādhi). Nếu tâm tuệ có thể theo kịp, hãy hướng tâm quán sát các trạng thái ấy lan tỏa khắp toàn thân. Giống như những đám mây trôi lững lờ theo gió, hãy chú tâm quán sát sự thay đổi liên tục giữa cái mới và cái cũ, sự sinh và diệt nối tiếp nhau. Nếu làm được như vậy, không cần phải cố gắng gán ghép các đặc tính (Tam tướng) một cách khiên cưỡng, vì chúng đã hiện rõ ngay đó rồi. Ngày nay có rất nhiều kinh sách được viết ra. Tuy nhiên, trong lĩnh vực hành trì Vipassanā, những bộ sách trình bày một cách cụ thể, rõ ràng và chuẩn xác cách thức nắm bắt thực tại thì lại cực kỳ hiếm hoi. ## TRANG 678 # Ngài Thiền sư Ne Thamein U Kesara ## ( 1256 - 1333 ) Tại huyện Hmawbi, tỉnh Bago, bên bờ đông sông Hlaing Bawle, có một ngôi làng lớn tên là "Ne Thamein" với hơn bốn trăm hộ dân. Ngài Thiền sư **U Kesara**, bậc trụ trì tại tu viện Khemasivon (thường gọi là chùa Trên làng Ne Thamein), sinh vào thứ Hai, ngày 12 tháng Tagu năm 1256, là con của ông **U Kyar U** và bà **Daw Thay Thay**. Ngài từng theo học với Hòa thượng **U Paññā** tại chùa Trên làng Ne Thamein và sau đó cùng ngài đi đến Yenangyaung để tầm học giáo pháp. Khi Hòa thượng **U Paññā** viên tịch, ngài trở thành vị trụ trì của ngôi chùa này. Vào lúc 12 giờ 35 phút ngày 3 tháng Kason năm 1333, hưởng thọ 77 tuổi, 57 hạ lạp, sắc thân (cuti-kammaja-rūpa) của ngài đã tịch diệt. Ngài là một bậc thầy nổi tiếng trong vùng, được dân chúng tôn kính như một vị "A-la-hán". [ Một cuốn tiểu sử ngắn khoảng 31 trang do ông **U Aung Than**, thư ký Hiệp hội Từ thiện của làng, đã được ấn hành vào tháng 1 năm 1972. ] ### Đạo hạnh của Ngài Thiền sư Ngài là người rất ít nói, thường thích sống độc cư và có thể ngồi yên tại một chỗ trong suốt thời gian dài. Ngài có lòng bi mẫn vô biên đối với chúng sinh, luôn rộng lòng bố thí. Lối sống của ngài cực kỳ giản dị, ngài luôn thọ thực chay trường. Ngài dành trọn thời gian để hành trì và quán xét giáo pháp. Ngài cũng thường xuyên khuyến khích các thiện nam tín nữ nỗ lực hành thiền và mỗi khi trò chuyện, ngài chỉ luôn nói về Chánh pháp. Vào một ngày nọ, có khoảng bốn năm mươi chiếc thuyền từ trên sông Hlaing Bawle cùng nhau chèo tới trong không khí rộn ràng. Khi cập bến cảng cây Pying Ma, một đoàn người mặc y phục trang trọng, mang theo các lễ vật cúng dường, đã lặng lẽ xếp hàng đi thẳng tới chùa của ngài mà không hỏi han bất kỳ ai. Cả ngôi làng đều kinh ngạc trước sự kiện nhộn nhịp và đặc biệt như một lễ hội lớn này. Khi đoàn người đến chùa, các vị Tỳ-kheo phải vào tận liêu thất (phòng hành thiền) để thỉnh ngài. Ngài vốn rất ít khi rời khỏi phòng. Khi ngài bước ra, mọi người đặt các lễ vật trước mặt ngài và... ## TRANG 679 **Các Vị A-la-hán Và Những Bậc Phi Thường** “Các vị thầy dạy ở chùa của chúng con có nằm mộng thấy rằng Ngài là một bậc phi thường, một bậc cao thượng vĩ đại, nên đã bảo chúng con hãy đến đảnh lễ Ngài. Vì vậy, chúng con tìm đến đây để chiêm bái và đảnh lễ Ngài, bạch Ngài,” những người khách thưa trình như vậy. Khi đó, những vị đang tu học tại ngôi chùa địa phương lại càng thêm kinh ngạc. Riêng về phần Ngài, thái độ vẫn không hề thay đổi. Những người đến đảnh lễ như vậy vốn dĩ thường xuyên xuất hiện. Ngài chỉ thuyết giảng về giáo pháp Vipassanā (Minh sát) rồi cho họ ra về. ### Sự Bao Dung Và Nhẫn Nhịn Khi Ngài nhìn thấy đám thanh niên trong làng lén hái trộm xoài trong chùa bằng cách dùng xà-ông (payson) để đựng, Ngài liền lánh đi chỗ khác để người hái không nhìn thấy mình. Đối với các chú tiểu và vị Tỳ-khưu đang bất bình, Ngài ngăn cản rằng: “Họ vì muốn ăn nên mới hái, cứ để họ hái đi các con, đừng có quấy rầy họ.” Khi những cô gái trẻ đến gánh nước tiện tay ngắt hoa bừa bãi làm gãy cả cành lá, các chú tiểu lại bạch trình với Ngài, Ngài liền an ủi rằng: “Con gái thì vốn dĩ thích hoa mà, cứ để họ hái đi.” Khi các thiện nam tín nữ trong làng có dịp dọn dẹp căn phòng nghỉ (phòng hạnh phúc - kyat-thay-khan) vốn đã nhiều năm không được lau chùi, họ đã rùng mình kinh hãi khi thấy rệp đậu dày đặc từ gối, chăn cho đến màn (mùng). Khi thấy họ mang đồ ra phơi nắng, Ngài ngăn lại: “Thôi... cứ để yên đấy con, làm xáo trộn chỗ ở của các chúng sinh là điều không tốt đâu.” Trong suốt nhiều năm, Ngài dành trọn thời gian để hướng tâm vào giáo pháp và hiếm khi rời khỏi căn phòng nghỉ của mình. Có một lần Ngài lâm bệnh, các thiện nam trong làng thay phiên nhau đến chùa ngủ lại để chăm sóc Ngài vào ban đêm. Một đêm nọ, trong lúc những người canh giữ đang ngủ say, Ngài cảm thấy khát nước nên đã tự mình lết người đi một đoạn khoảng mười bộ đến chỗ bình nước để uống. Lúc Ngài đang run rẩy trở về giường thì những người hộ trì mới thức giấc và dìu Ngài nằm xuống. Ngài vốn không muốn làm phiền hay tăng thêm gánh nặng cho người khác vì bản thân mình. Một lần nọ, có trận cuồng phong lớn làm cây cối và nhà cửa đổ sập. Ngôi chùa lớn cũng nằm trên đường đi của gió nên rung chuyển dữ dội và bị nghiêng lệch. Mọi người đều tìm chỗ ẩn nấp hoặc chạy thoát thân. Riêng Ngài vẫn ngồi yên tại chỗ, không hề dao động, vẫn giữ phong thái ung dung và điềm tĩnh như bình thường. ## TRANG 680 ### Sự Rộng Rãi Và Lòng Tri Túc Bất cứ vật thực hay đồ dùng nào nhận được, Ngài không bao giờ giữ lại làm của dư thừa. Ngài không tích trữ cho ngày mai mà luôn tìm cơ hội để bố thí hết sạch. Việc làm phước thiện của Ngài chưa bao giờ gián đoạn. Có một lần, các thí chủ vô tình vào thăm phòng nơi Ngài đang nghỉ, họ thấy Ngài đang quấn y trùm đầu nằm giữa tiếng muỗi vo ve. Họ không biết chiếc màn (mùng) của Ngài đã biến mất từ lúc nào. Khi được hỏi về nguyên cớ, Ngài chỉ ôn tồn bảo: “Có một người không có màn để ngủ nên đã đến xin, ta đã tháo ra tặng cho người đó rồi.” Thế là các thí chủ phải lập tức may tấm màn mới để dâng cúng. Lại có lần Ngài lâm bệnh kéo dài, đến mức không còn bộ y dư nào để thay đổi, người ta phải đi gấp xuống Yangon để mua y về dâng cúng. Ngài thường không dùng điểm tâm buổi sáng. Đến giờ quy định, Ngài sẽ đi đến gian phòng bên cạnh nơi thường bày biện trà để dùng. Các đệ tử Tỳ-khưu thường chuẩn bị sẵn sàng để dâng lên Ngài. Tuy nhiên, đôi khi các vị Tỳ-khưu bận việc Phật sự phải đi xa, do sự sơ suất của các chú tiểu mà không ít ngày bình trà không được chuẩn bị. Ngài không hề lên tiếng quở trách hay ra lệnh cho bất kỳ ai. Đến giờ Ngài vẫn cứ theo lệ thường mà đi ra, nếu thấy không có ai dâng trà thì đến giờ Ngài lại lặng lẽ trở vào căn phòng nghỉ của mình. Vào những năm cuối đời khi tuổi cao sức yếu và bị bệnh tật dày vò, ông Ú Maung Kan – người phụ trách y tế chăm sóc Ngài suốt hai năm – đã kể lại: “Dù bệnh tình có tiến triển nặng đến đâu, khi được hỏi thăm, Ngài vẫn luôn mỉm cười gật đầu. Tôi chỉ còn cách nhìn sắc mặt và cử chỉ của Ngài mà điều trị thuốc thang thôi.” ### Phân Thân Để Đi Khất Thực? Có một lần, rất nhiều người từ làng In-ma-le-seik cách làng Ne-tha-mein khoảng tám dặm mang theo lễ vật đến đảnh lễ Ngài. Khi biết Ngài đang lâm bệnh không thể rời khỏi phòng, những người đến đảnh lễ đều vô cùng kinh ngạc. ## TRANG 681 **Các Vị A-la-hán Và Những Bậc Phi Thường** “Hồi sáng này Ngài vừa mới vào làng của chúng con để khất thực, chính con đã dâng sới vật thực vào bát của Ngài mà,” một người thí chủ thưa với vị Tỳ-khưu hộ trì khi chưa được diện kiến Ngài. Trong lúc vị Tỳ-khưu còn đang lúng túng chưa biết trả lời sao thì người đó nói tiếp: “Con còn hỏi chú tiểu đi theo sau Ngài rằng: ‘Tên con là gì? Cha con là ai?’ nữa mà.” “Vậy chú tiểu đó trả lời thế nào?” vị Tỳ-khưu hỏi. “Con cũng không rõ nữa. Chú ấy nói tên là Maung Pauk Sa, là con của anh Tin Phe và chị Tin Ngwe,” người đó khẳng định chắc chắn. Vị Tỳ-khưu sực nhớ ra liền gọi ngay chú tiểu Maung Pauk Sa đang chơi gần đó đến hỏi thì chú tiểu thưa rằng sáng nay chú không hề đi đâu cả. Mọi người đều mang lòng hoài nghi vì không ai tìm được câu trả lời. Họ cùng nhau tha thiết khẩn cầu vị Tỳ-khưu hộ trì cho phép được đảnh lễ Ngài. Cuối cùng, vị Tỳ-khưu phải vào phòng để dìu Ngài ra ngoài. Các thiện nam tín nữ khi đó đều có chung một suy nghĩ thuần thành: “Quả thực đúng như chúng ta dự đoán. Những lời đồn đại rằng Ngài là một vị A-la-hán chắc chắn là sự thật.” Với tâm thành kính, họ cùng nhau đảnh lễ Ngài. Ngài đã ban cho họ một vài lời giáo pháp ngắn ngủi. Ở những ngôi làng xa xôi khác, những tin đồn về việc Ngài xuất hiện đi khất thực như vậy cũng thường xuyên xảy ra. Khi các đệ tử gạn hỏi về việc này, Ngài chỉ đáp rằng: “**Tâm đã hướng về nơi đó.**” Câu trả lời này thật vô cùng thú vị. Điều đó cho thấy rõ ràng đây không phải là sự tác động của chư Thiên. Một tâm thức có năng lực Định (Samādhi) và Giới (Sīla) mạnh mẽ, chỉ cần một niệm hướng tâm là có thể đạt đến kết quả phi thường như vậy. Chúng ta nên suy xét điều này để nỗ lực tu tập tâm từ (Mettā) và các pháp hành thiền. ### Chỉ Người Trong Cuộc Mới Biết Hai ngày sau khi Ngài viên tịch, các chất thải sinh lý vẫn thoát ra tự nhiên như người bình thường khiến mọi người phải lau dọn. Ngài cũng đã di huấn rằng không được hỏa táng mà hãy đưa kim thân vào trong bảo tháp (gū). Trong cuốn tiểu sử có ghi lại rằng, kim thân của Ngài vẫn luôn mềm mại, tay chân có thể co duỗi cử động bất cứ lúc nào, và tóc của Ngài vẫn thường xuyên được cạo sạch. ## TRANG 682 “Mới sáng nay Ngài vừa vào làng chúng con khất thực, chính con đã dâng vật thực vào bát của Ngài xong đây ạ.” Một nam cư sĩ đã bạch với vị **Tỳ-khưu** (U-pa-zin) giữ cửa như vậy trước khi được vào đảnh lễ Ngài thiền sư. Trong lúc vị **Tỳ-khưu** còn chưa biết trả lời sao thì người cư sĩ đó lại tiếp tục: “Thậm chí con còn hỏi cậu tiểu đi theo sau Ngài thiền sư rằng tên là gì, con cái nhà ai nữa cơ.” “Thế cậu bé đó trả lời sao?” Vị **Tỳ-khưu** hỏi lại. “Con cũng chẳng rõ, nó bảo nó tên là Maung Pauk Si, con của chú Tin Phay và cô Tin Ngwe.” Nghe khách thuật lại rành mạch như vậy, vị **Tỳ-khưu** chợt nhớ ra điều gì đó, liền gọi ngay chú tiểu Maung Pauk Si đang chạy chơi gần đấy lại hỏi xem sáng nay có đi đâu không, chú tiểu thưa rằng sáng giờ chẳng đi đâu cả. Mọi người đều nảy sinh nghi vấn nhưng không ai tìm được câu trả lời. Họ cùng nhau tha thiết cầu xin vị **Tỳ-khưu** hộ tự cho phép được đảnh lễ Ngài thiền sư. Cuối cùng, vị **Tỳ-khưu** đành phải vào phòng đỡ Ngài thiền sư đi ra. Các hàng thiện nam tín nữ mục kích cảnh ấy đều suy đoán theo cách của người phàm phu: “Đúng như chúng ta nghĩ rồi. Chắc chắn những lời đồn Ngài là bậc A-la-hán là sự thật.” Với tâm niệm cung kính như vậy, họ đã đảnh lễ Ngài. Ngài thiền sư chỉ thuyết giảng ngắn gọn một vài câu Pháp thoại. Tại các ngôi làng xa xôi khác, những tin đồn về việc Ngài thường xuyên đi khất thực như vậy cũng hay xảy ra. Khi các đệ tử gặng hỏi thực hư, Ngài thiền sư chỉ đáp rằng: “Đó là do tâm hướng đến (ā-rum nyut khae thi - *hướng tâm*).” Câu trả lời này thật sự rất thú vị. Nó cho thấy đây không phải là do chư Thiên đánh thức hay thúc giục. Qua đó ta thấy rằng, một cái tâm có năng lực của **Giới** (**Sīla**) và **Định** (**Samādhi**), chỉ cần một sát-na hướng tâm thôi thì hiệu quả có thể đi xa đến dường nào; chúng ta nên suy xét điều này để tu tập **tâm Từ** (**Mettā-bhāvanā**) và các pháp môn khác. **Chỉ người biết mới biết được** Hai ngày sau khi Ngài thiền sư viên tịch, phân và nước tiểu vẫn thoát ra ngoài như một người đang sống bình thường, khiến các đệ tử phải lau dọn. Ngài cũng đã di huấn rằng không được hỏa thiêu mà hãy đưa kim quan vào trong tháp mộ (gū). Trong tập tiểu sử có ghi lại rằng, nhục thân của Ngài vẫn mềm mại, các khớp tay chân có thể co duỗi cử động bất cứ lúc nào, và tóc của Ngài vẫn phải được cạo định kỳ. ## TRANG 683 **THIỀN SƯ MOGOK - (1261 - 1324)** “Đức Phật dạy rằng, người có đầy đủ của cải vật chất, con cái đầy đàn thì cũng giống như ‘một con quạ ngậm được một miếng thịt’.” “Miếng thịt ấy con quạ này muốn ăn, con quạ kia cũng muốn ăn. Tất cả lũ quạ sẽ cùng xúm lại đuổi theo con quạ đang ngậm thịt để mổ, để mổ, để rỉa, để tranh giành. Lúc đầu nó có bị mổ không? Hay chỉ khi có miếng thịt mới bị mổ? Vốn dĩ chúng là bạn bè với nhau cả thôi. Nhưng giờ đây nó phải chịu đựng đến mức nào? Chịu đựng đau đớn cho đến khi miếng thịt rơi khỏi miệng mới thôi. Khi buông miếng thịt ra rồi thì chúng không mổ nữa, mà lại đuổi theo con quạ vừa giành được miếng thịt đó để tiếp tục mổ, tỉa.” **Thấu hiểu sự đời nên giảng dạy không khoan nhượng** “Việc dính mắc vào bản thân, dính mắc vào của cải, dính mắc vào vợ chồng con cái, nhà cửa... chính là đang ngậm miếng thịt trong miệng vậy. Thế nên khi chính phủ bảo: hãy đóng thuế nhà, hãy đóng thuế thu nhập, chẳng phải là ‘bị mổ’ rồi sao? Bọn trộm cướp cũng luôn rình rập, chỉ cần sơ hở là chúng giết người đoạt của; nếu không buông bỏ được thì phải mất mạng thôi. Đó là vì các vị đang ngậm chặt miếng thịt với cái chấp **Thân kiến** (**Sakkāya-diṭṭhi**) rằng ‘đây là của tôi’. Vì cho rằng ‘của tôi’ nên không thể đưa ra được. Chẳng phải là bắt đầu nghĩ cách lừa gạt chính phủ, đưa tiền hối lộ sao? Khi cửa tiệm lớn mạnh lên, bên này ghét, bên kia không ưa, rồi mổ, rồi rỉa, chẳng phải các vị đang phải chịu đựng đó sao? Tại sao phải chịu đựng như vậy? Do số đen, do không gặp thời, hay là do không chịu buông bỏ? Thời gian các vị đang sống hiện nay chính là đang u mê chấp nhận cái chết. Hàng xóm thì ghét bỏ. Những người mình quan tâm chăm sóc thì lại làm khổ mình, phản bội mình. Vết thương lòng cứ thế lớn dần lên. Các vị có nhận ra không? Cho vay nợ rồi phải chạy đôn chạy đáo đi đòi. Người bán hàng thì phải dòm chừng vì sợ người quen lén lút lấy đồ. Cuộc sống của các vị thật quá hỗn loạn. Thậm chí, ngay cả việc đi làm phước, nếu không cúng dường đúng mức độ tương xứng với đẳng cấp của mình thì cũng ‘bị mổ’ (bị dị nghị). Thậm chí khi đi viếng đám tang, người đáng ra phải giúp 10 đồng mà chỉ giúp 5 đồng thì người ta chẳng buồn ghi vào sổ. Lại tiếp tục bị mổ rỉa. Vậy có lúc nào các vị thoát khỏi cảnh bị mổ rỉa này không?” ## TRANG 684 Ngài thiền sư thường chỉ ra rất rõ ràng về tập quán **Thân kiến** (**Sakkāya-diṭṭhi**) của con người, cố gắng tháo gỡ những dính mắc ấy càng nhiều càng tốt. Ngài không kiêng nể bất kỳ ai, dù là người có địa vị cao sang đến đâu. Ngài luôn nói thẳng, nói thật, chỉ tận tay day tận trán. Trước khi bắt tay vào thực hành Thiền quán (Vipassanā), Ngài luôn ưu tiên gọt tỉa các tà kiến (**Diṭṭhi**) vốn đã bám sâu từ bao đời trong vòng luân hồi. Ngài quan niệm rằng chỉ có như vậy thì hành trình tu tập mới đạt được kết quả. Ngài nhận định: “Nếu không đoạn trừ các **Diṭṭhi** này mà đã tu tập **Vipassanā** thì chỉ là **Dubbalavipassanā** (Vipassanā yếu ớt), không thể đắc được **Đạo Quả** (**Magga-Phala**). Sở dĩ có sự chấp thủ vào **Diṭṭhi** đó là do không thấu hiểu **Thập Nhị Nhân Duyên** (**Paṭiccasamuppāda**).” Vì vậy, để đoạn trừ **Diṭṭhi**, Ngài tập trung thuyết giảng lặp đi lặp lại về **Thập Nhị Nhân Duyên** cho đến khi thấm nhuần vào tai người nghe. Chỉ với **Nghiệp tự hữu trí** (**Kammassakatā-ñāṇa**) thì chưa thể đoạn trừ được **Ngã kiến** (**Atta-diṭṭhi**), chỉ khi đạt đến trình độ của Tuệ giác (Ñāṇa) thì mới có thể đoạn trừ được; do đó Ngài luôn chú trọng làm sạch nội tâm trước khi thực hành. (Kinh **Sammādiṭṭhi-sutta** - Chánh Kiến). Theo phong cách của Ngài, một số đệ tử cũng viết và nói rằng: “Chỉ ghi nhận ‘đi, đứng’ thôi thì không thể đắc đạo. Phải hiểu rõ **Thập Nhị Nhân Duyên**, phải quán sát được sự Sanh - Diệt thì mới xong việc.” Tuy nhiên, chân lý của giáo pháp vốn rất tinh tế, không nên chấp thủ một cách cứng nhắc. Công việc hành thiền **Vipassanā** phải bắt đầu dựa trên Chế định (**Paññatti**). Trước hết phải bước lên những bậc thang của **Thiền chỉ** (**Samatha**). Phải bóc lớp vỏ trước thì mới lấy được phần thịt bên trong. Việc ghi nhận “đi, đứng” chính là quá trình bóc vỏ. Nếu bóc vỏ nhiều lần thì không thể không thấy được phần thịt. Thời đại ngày nay cũng là lúc chúng ta có thể dễ dàng tiếp cận được những lời giáo huấn và kiến thức để thấu triệt sự Sanh - Diệt của Danh - Sắc. Thậm chí các vị bậc học giả uyên bác cũng phải ngợi khen rằng: “Chỉ sau khi xem sách pháp bảo của Thiền sư Mogok, tôi mới thấu hiểu được giáo lý **Thập Nhị Nhân Duyên**.” Vào thời vua Milinda, tuy có rất nhiều vị **A-la-hán**, nhưng dường như chỉ có Tỳ-khưu Nāgasena là người có thể giải đáp các nghi vấn bằng những ẩn dụ, ví dụ và lý luận logic xác đáng nhất. Trong việc thuyết giảng giáo pháp thâm diệu, Ngài thiền sư chính là bậc “**Shin Kumāra Kassapa** của Myanmar thời đại này”; đừng nói đến việc tìm người siêu việt hơn Ngài, ngay cả người tương tự như Ngài cũng thật khó tìm thấy. **Thường kiến và Đoạn kiến** “**Thường kiến** (**Sassata-diṭṭhi**) và **Đoạn kiến** (**Uccheda-diṭṭhi**), trong tâm khảm của các vị, nếu không có cái này thì cũng sẽ có cái kia, hãy tự mình quán xét kỹ lưỡng xem. Những người có **Thường kiến** thì tin tưởng rằng có kiếp này, kiếp sau. Tin vào câu ‘Làm gì được nấy’, tin vào **Nghiệp** và **Quả của nghiệp**. Họ cũng làm các việc công đức. Tuy nhiên...” ## TRANG 685 Nếu bảo bây giờ hãy đi đến Niết-bàn ngay thì họ không thích. Họ chỉ muốn ẩn mình trong vòng luân hồi (bhava). Họ còn muốn hưởng thụ phước báu nhân thiên cùng với con cái, cháu chắt này. Quý vị đã nhận ra ai là người xúi giục đưa ra những lời nguyện này chưa? “Hà... chết ngày nào hay ngày đó, chết là hết (thế là yên), chẳng mong đợi kiếp này kiếp khác nữa.” Đây là tiếng nói xuất phát từ **Đoạn kiến (Uccheda-diṭṭhi)**. Còn có người thì biết rõ là có kiếp sau, kiếp khác; cũng tin vào nghiệp và quả của nghiệp, nhưng lại không làm việc phước thiện (kusal). Hoặc khi làm phước thì thường làm một cách tạp loạn (không thuần khiết). Thế nhưng, khi được gặp Phật, họ có thể từ bỏ tà kiến của mình rất nhanh chóng, không khó khăn như những người chấp vào không kiến. “Trong tâm quý vị đang có một cái gì đó đấy nhé. **Thường kiến (Sassata-diṭṭhi)** là cái gốc của sự tăng trưởng 'cái tôi' (ngã); **Đoạn kiến (Uccheda-diṭṭhi)** là cái gốc dẫn đến sự tăng trưởng của địa ngục. Quý vị phải đi theo con đường Trung đạo. Nếu thấy được sự sanh (phát khởi) thì đoạn trừ được **Đoạn kiến**. Nếu thấy được sự diệt thì đoạn trừ được **Thường kiến**. “**Xúc duyên Thọ (Phassa-paccayā Vedanā)**”. Va chạm, cầm nắm gọi là “**Xúc (Phassa)**”. Cảm thấy mềm mại, tốt lành gọi là “**Thọ (Vedanā)**”. Chẳng phải nhân và quả của nó đang vận hành đó sao? Ăn thấy ngon là “**Thọ**”, từ đó muốn mặc lại cái đó, muốn ăn lại cái đó là “**Ái (Taṇhā)**”. Khi biết rõ rằng do **Xúc** mà có **Thọ**, do **Thọ** mà có **Ái**, thì chẳng phải đã đoạn trừ được **Đoạn kiến** hay sao? “Khi **Xúc** diệt thì **Thọ** diệt. Khi cái chạm (xúc) chấm dứt thì cái đau cũng chấm dứt. Khi biết rõ sự đoạn diệt như vậy, chẳng phải đã đoạn trừ được **Thường kiến** hay sao? “Ngài Chanda vì vướng vào **Thường kiến** này nên dù đã thực hành quán chiếu **Vô thường (Anicca) - Khổ (Dukkha) - Vô ngã (Anatta)** suốt 45 năm mà vẫn không đắc Pháp, quý vị đã hiểu rõ chưa? Khi biết rằng cái gì đáng sanh thì sanh, cái gì đáng diệt thì diệt, thì đừng lo âu nữa, đó chính là lúc **Tuệ Minh Sát mạnh mẽ (Balava Vipassanā)** phát khởi.” Tại điểm này, có thể nói rằng Ngài Thiền sư thường thuyết giảng nhấn mạnh rằng: “Nếu hành thiền mà không rời bỏ được **Thân kiến (Sakkāya-diṭṭhi)**, **Thường kiến**, **Đoạn kiến**, nếu hành thiền khi chưa hiểu rõ **Thập Nhị Nhân Duyên (Paṭiccasamuppāda)**, thì dù có hành cả đời cũng không thể đắc được **Đạo quả Niết-bàn**.” Ngài cũng thuyết giảng rất kỹ về ý nghĩa của ba loại **Biến tri (Pariññā)**. Thật ra, không nên quá chấp chặt vào ví dụ về Ngài Trưởng lão Chanda, bởi vì trong Giáo pháp, Ngài Chanda chỉ là một ví dụ điển hình liên quan đến **Thường kiến**. Sự hiểu biết có được qua việc nghe pháp trước đó cũng chỉ mới dừng lại ở mức **Văn tuệ (Sutamaya-paññā)**; chân lý thực sự chỉ được đoạn trừ và chứng ngộ khi bắt tay vào thực hành. Không nên nhận định hay chấp thủ một cách cứng nhắc. Cần hiểu rằng dụng ý của Ngài Thiền sư khi thuyết như vậy là để các hành giả đoạn trừ sự dính mắc, ham thích trong ba mươi mốt cõi, từ đó khiến cho **Văn tuệ về sự nhàm chán (Sutamaya Saṃvega-ñāṇa)** và tuệ giác về nhân quả trở nên sắc bén, giúp việc hành thiền dễ dàng đạt được kết quả. ## TRANG 686 Ý nói là hành giả phải quán chiếu để thấy rõ những lỗi lầm, khiếm khuyết của bản thân, giữ cho “thân chung nhưng tâm rời” (sống giữa đời nhưng tâm không dính mắc), không để lại bất kỳ sự luyến tiếc hay ràng buộc nào, giữ tâm hoàn toàn giải thoát, tự tại. Khi nghe pháp mà tâm còn lo lắng về đôi dép, chiếc ô hay đứa trẻ, hoặc cảm thấy nản lòng vì sự bất tiện của những người xung quanh, thì việc nghe pháp sẽ không mang lại kết quả. Đây chỉ là bước “dọn dẹp vệ sinh trước khi làm việc” mà thôi. Chúng sanh vốn dĩ có tham, sân, si và ngã mạn rất lớn. Chính vì thế, trước khi truyền dạy một “**Đề mục hành thiền chính (Mūla-kammaṭṭhāna)**”, cần phải truyền dạy trước các đề mục như **Niệm Phật (Buddhānussati)**, **Tâm từ (Mettā)**, và **Niệm sự chết (Maraṇānussati)**. Đó chính là việc dọn dẹp rác rưởi trước để cỗ xe Bát Chánh Đạo có thể lăn bánh. Ngài Thiền sư vốn là người có tài hùng biện và năng lực thuyết giảng xuất chúng, nên ngay cả trước khi truyền dạy đề mục chính hay các đề mục chuẩn bị, Ngài đã có thể dùng lời thuyết pháp của mình để giúp hành giả tạm thời đoạn trừ được tham, sân, si và ngã mạn. Ngay khi hành giả bị cuốn hút vào lời thuyết giảng, Ngài liền dẫn dắt họ vào lộ trình thực hành **Kammaṭṭhāna**, giúp các hành giả đạt được những bước tiến rất xa. Đây chính là ý nghĩa của hạng người “phải được diễn giải chi tiết mới chứng đắc (Vipacitaññū)”. Các thế hệ sau nếu đọc được các cuốn sách pháp của Ngài cũng sẽ gặt hái được rất nhiều lợi lạc. Hãy cố gắng tìm đọc. Theo chú giải kinh **Đa Giới (Dhātuvibhaṅga Sutta)** trong bộ **Uparipaṇṇāsa**, vua Pukkusāti ở thành Takkasilā sau khi nghe tin tức về pháp **Niệm hơi thở (Ānāpāna)** từ vua Bimbisāra thành Rājagaha, dù chỉ qua sách vở kinh điển nhưng đã thử thực hành và đắc đến Đệ Tứ Thiền ngay giữa các cung phi của mình, và cuối cùng đắc quả **A-na-hàm (Anāgāmī)**. Chính việc mong muốn được đọc những dòng chữ này cũng đủ để tin rằng bản thân mình là người có ba-la-mật (pāramī). ### Bậc cao nhân xuất thế cùng với các điềm báo Thiền sư Mogok là một bậc hữu công ba-la-mật đặc biệt trong việc thuyết giảng. Ngay từ khi còn nhỏ, Ngài đã có khả năng diễn đạt và thuyết pháp vượt xa độ tuổi của mình. Ngài từng thay mặt vị sư trụ trì để truyền giới, hồi hướng và thuyết pháp cho các thiện nam tín nữ trong các ngày giới lễ. Bậc thánh tăng tương lai được sinh ra tại làng Uyin Taw, nằm bên kia sông Doke-hta-waddy, thuộc thị xã Myit Nge, huyện Mandalay. Ngôi làng này vốn là khu vườn thượng uyển trồng đủ loại cây trái từ thời vua Bodawpaya, được gọi là “**Mahāsīrinandavan**”. Ngài sinh vào Thứ Tư, ngày 11 sau trăng rằm tháng Nat-daw năm 1261 (Miến lịch), vào lúc 2 giờ 30 phút sáng. Phụ thân là ông U Aung Tun, mẫu thân là bà Daw Shwe Eik. Tên thuở nhỏ là ## TRANG 687 “Maung Hla Baw”, là người con thứ năm trong gia đình có tám người con. Ở các bậc vĩ nhân thường xuất hiện những sự kiện phi thường. Khi bà mẹ mang thai vị thánh tử này, bà đã nằm mộng thấy “một người mặc y trắng thanh khiết đi vào bào thai mẫu thân”. Do uy đức của thai nhi, người mẹ nảy sinh những mong muốn (nghén) rất đặc biệt: bà muốn giữ giới, muốn đọc và nghe kinh điển, muốn nghe pháp và thuyết pháp. Vì vậy, cho đến lúc sinh nở, người mẹ luôn giữ gìn cửu giới và dành thời gian cho kinh kệ, pháp bảo. Ngay từ thuở ấu thơ, vị thánh tăng tương lai đã có phong thái điềm tĩnh, nề nếp. Ngài không bao giờ gây gổ hay giận dữ. Năm 4 tuổi, Ngài được gửi vào học tại trường tiểu học làng Uyin Taw với hiệu trưởng là ông U San Ya. Sau khi tốt nghiệp lớp 4, vào năm 9 tuổi, Ngài xuất gia sa di với vị Thiền sư chùa Gway Pin Taw Ya. Pháp danh là “**Shin Vimala**”. Ngài nỗ lực học tập các kiến thức căn bản như **Ngữ pháp (Saddā)**, **Vi Diệu Pháp (Saṅgaha)** và hoàn thành xuất sắc các bổn phận của một đệ tử đối với thầy. Ngài thuyết giảng rất hay, đức độ sáng ngời nên mọi người thường gọi Ngài là “Sa di **Sīvalī**”. Với dung mạo ưu tú và sự vẹn toàn trong mọi việc, Ngài nhận được sự nâng đỡ đặc biệt từ vị thầy của mình. Một ngày nọ, khi sa di **Vimala** đang gấp y đặt trên giá treo y, chẳng bao lâu sau, một đàn ong bay đến đậu kín và làm tổ ngay trên chiếc y đó. Mọi người đều tiên đoán rằng: “Đây là vị sa di sau này sẽ vô cùng xuất chúng và nổi danh.” Năm 14 tuổi, do sự vòi vĩnh của người em họ là sa di Canda (nay là ông U Ba Yin) muốn sang bên kia sông hái ngô, sa di **Vimala** đã tự mình chèo thuyền đưa sa di Canda băng qua sông. Không ngờ, chiếc thuyền trôi vào một vùng xoáy nước cực kỳ nguy hiểm. Đó là vùng nước xoáy mà không một con thuyền lớn nhỏ nào dám băng qua. Các vị sa di nhỏ tuổi vì không biết nên đã đi vào đó. Những người dân ở hai bên bờ sông chứng kiến cảnh tượng đó, ai nấy đều hốt hoảng nghĩ rằng hai vị sa di cùng con thuyền nhỏ sẽ bị xoáy nhấn chìm. Họ la hét vang trời và chèo thuyền ra cứu mạng. Trước sự ngạc nhiên của những người cứu hộ, hai vị sa di vẫn thản nhiên chèo thuyền và đáp lại: “Thuyền của chúng tôi có sao đâu, vẫn êm ru mà.” Phải chăng vì đây là bậc sau này sẽ chèo lái đưa người vượt qua vòng xoáy luân hồi (saṃsāra) một cách dễ dàng, nên cái xoáy nước Doke-hta-waddy kia bỗng trở nên phẳng lặng trước con thuyền nhỏ? Sa di **Vimala** vẫn giữ phong thái uy nghi, lướt nhẹ mái chèo đưa thuyền cập bến bờ bên kia. Dù gặp phải những đại nạn nguy kịch đến tính mạng, nhưng nếu là bậc sẽ đắc được đặc biệt pháp trong kiếp này thì chắc chắn không có lệ phải chết. Đó chính là minh chứng cho năng lực ‘**Tuệ biến mãn thần lực (Ñāṇavipphāra-iddhi)**’ mà chúng tôi đã nhắc đi nhắc lại nhiều lần. ## TRANG 688 Như đã nói, những hiểm nguy như vậy thường là minh chứng cho việc một vị có mang trong mình **pháp Bất Tử** (**Amata-dhātu** – **chân tính Niết-bàn**) hay không. Này hành giả, dường như ông không phải là người có thể chết vì bất kỳ mối nguy hại nào. Hãy nỗ lực từ bỏ mạng sống (để tu hành). Dù ông không muốn từ bỏ mạng sống, thì một ngày nào đó, mạng sống cũng sẽ rời bỏ ông. ### Với đời là ‘Mật hòa cam’, với đạo là ‘Vi Diệu Pháp’ Thấy thầy tổ đã già yếu nên không có cơ hội dự các lớp học pháp (Sā-wā) đều đặn, Shin Vimala luôn lo lắng: “Cứ sống thế này thì mình sẽ chẳng bao giờ tinh thông kinh điển được.” Người chị ruột là **Ma Sucārī** cũng đang theo học với bậc Tam Tạng Thứ Nhất (Pa-hta-ma-kyaw) **Sayadaw U Ohn** – một vị lừng danh về Vi Diệu Pháp tại tu viện Mingalar, thành phố Amarapura. Nghe lời chị kể, **Shin Vimala** cũng nảy sinh ý định mãnh liệt muốn lên thành phố để học Vi Diệu Pháp. (**Daw Sucārī** hiện nay là Giáo sư lừng danh tại tu viện Leik-pyā-kan, thành phố Bago.) **Shin Vimala** đã xin phép cha mẹ và thầy tổ, nhưng cha mẹ ngài đã hai, ba lần từ chối. Vì vậy, ngài đã âm thầm rời đi Amarapura. Dù cha mẹ có đuổi theo gọi về, ngài cũng thuyết pháp rồi tiễn họ về. Người chị là nữ tu (thila-shin) cùng với **Daw Pon-nya**, **Daw Vicārī** đã đưa ngài đến gửi gắm nơi Đại trưởng lão **U Sujāta** tại tu viện Mingalar. Ngài ở tại chùa Makuta. Tu viện Mingalar không phải là một nơi tầm thường, mà là một vùng đất vô cùng linh thiêng (bhūmi-net-than). Khi thành phố Amarapura sắp được xây dựng, ngài **U Paw U** cùng bốn vị đại thần và hơn một trăm kiến trúc sư đã dừng chân tạm trú tại đây để chờ giờ lành (Mingalar). Đây cũng là nơi của tu viện rừng Kyet-thun-khin. Trong tập “**Sīlavisodhanī**” có ghi chép rằng Sayadaw Kyet-thun-khin là một bậc thầy lừng danh về thực hành (Paṭipatti). Có lẽ nào **Shin Vimala** lại trở về đúng nơi chốn cũ của mình chăng? Tại tu viện Mingalar, **Shin Vimala** nỗ lực học tập dưới sự chỉ dạy của bậc thầy lừng danh qua ba thời đại (Mindon, Thibaw và thời Anh thuộc) là **Sayadaw U Ohn** (1208–1287). Nhờ diện mạo (upadhi) đặc biệt, uy nghiêm và trí tuệ mẫn tiệp, **Shin Vimala** được thầy đặc biệt quan tâm. Tuy nhiên, vì danh tiếng ngài “thuyết pháp hay” tại các giảng đường (zayat) ngày càng lan rộng, lo ngại việc này ảnh hưởng đến việc học, các thầy đã phải ngăn cản và khuyên nhủ ngài không nên đi thuyết pháp. Ngay từ thời còn là Sa-di, ## TRANG 689 ngài đã tiếp nhận được một cách sâu sắc di sản Vi Diệu Pháp từ bậc Thầy **U Ohn**. ၆၃၅ Khi **Shin Vimala** tròn 20 tuổi, ông **U Win** và bà **Daw Saw** đã làm thí chủ hộ độ ngài thọ giới Tỳ-khưu. Đó là ngày mùng 8 tháng 8 năm 1281 (Miến lịch). Khi vị tân Tỳ-khưu **U Vimala** vừa rời khỏi giới đàn (Sīmā), vì y bị ướt đẫm mồ hôi nên ngài đã phơi y gần **chùa Makuta** (nay là vị trí **chùa Bon** phía bắc **tu viện Canki**). Chỉ trong vòng vài phút, một đàn ong bay đến đậu kín và kết tổ ngay trên tấm y. Đây là lần thứ hai y của ngài thu hút đàn ong. Trong các chúng sinh, loài ong là loài mang lại nguồn dinh dưỡng và dược liệu ngọt ngào, tinh khiết nhất cho con người. Năm 1283, người chị **Daw Sucārī** và người bạn học cùng quê Mogok là **Daw Vicārī** lại tiếp tục tổ chức lễ tái thọ giới (Sim-htat) cho ngài để tăng thêm phần phước báu. Lúc bấy giờ, Sayadaw **U Ohn** đã tin tưởng giao cho **U Vimala** thay mặt mình giảng dạy các lớp Vi Diệu Pháp ban đêm (Nya-wā). Ban ngày, ngài đi tàu hỏa đến Mandalay để tiếp tục tầm học. Những vị thầy mà ngài theo học gồm có **Sayadaw Khema Sivan**, Sayadaw **U Khanti** tại tu viện Phaya-gyi và **Sayadaw U Kyi**. Năm 1286, ngài trở thành vị giảng sư chính (Kyaung-htaing Sā-cha) tại ngôi trường Trung tâm **Piṭaka-taik** trong tu viện Mingalar. Trong hơn ba mươi năm, ngài chuyên tâm giảng dạy các lớp Vi Diệu Pháp ban đêm. Ngài giảng dạy ba bộ: **Mātika-Dhātukathā**, **Yamaka** (Song đối) và **Paṭṭhāna** (Vị chi) mỗi bộ ba lần một năm. Số lượng tăng sinh theo học lên đến ba, bốn trăm vị, khiến ngôi trường không đủ chỗ chứa, các vị phải ngồi dưới bóng cây xà cừ (me-ze) để ôn tụng và học bài. Danh tiếng về các lớp Vi Diệu Pháp ban đêm của Ngài **U Vimala** vang xa khắp cả nước. Người ta còn truyền tụng rằng: “Nếu chưa từng ở Taung-myo (Amarapura) thì chưa thể giỏi Vi Diệu Pháp”. Ngài cũng đã hoàn tất biên soạn bộ đại luận kinh điển “**Abhidhamma Ta-khon**” (Lá cờ Vi Diệu Pháp) mà thầy ngài – Sayadaw U Ohn – còn dang dở. Ngoài ra, ngài còn soạn các tác phẩm như “**Yamaka Mañjarī**” và “**Puthujjana Alin-pya**” (Ánh sáng soi đường cho phàm phu). Mật ngọt Vi Diệu Pháp của Ngài cho đến nay vẫn không sao uống cạn. ### Thay mặt Ngài Ledi lên pháp tòa Bên cạnh việc giảng dạy cho tăng sinh, vị giảng sư trẻ **U Vimala** còn dành thời gian thuyết pháp cho hàng cư sĩ. Suốt ba tháng an cư, ngài luân phiên thuyết pháp hàng ngày tại giảng đường Yè-laung gần tượng Phật Taung-min-gyi và các giảng đường lớn phía nam tượng Phật Aung-myay Shwe-bon. Nhiều thí chủ không chỉ thỏa mãn với việc nghe pháp thông thường mà còn tìm đến dự thính cả các lớp học chuyên sâu ban đêm dành cho chư Tăng. “Này U-pyin-sin (vị Sư), việc dạy học chỉ mới là tạo phước, việc thuyết pháp cũng chỉ là tạo phước mà thôi. Trước hết hãy tu tập để bản thân ## TRANG 690 tự mình thấu triệt và hoàn tất phận sự (giải thoát) đã.” Khi tình cờ nghe được lời giáo huấn này từ ngài **Aung-ching-ship-pà Sayadaw U Nāgavamsa**, trái tim Ngài bỗng thắt lại và một sự kinh cảm (Saṁvega) sâu sắc dâng trào. Kể từ đó, Ngài bắt đầu dành thời gian ban đêm để chuyên tâm hành thiền. Việc nhắc nhở một người đã sẵn có tâm hướng thiện thật dễ dàng làm sao. “**Aung-ching-ship-pà Sayadaw**” chính là Ngài **Ashin Nāgavamsa** (1248–1332) của tu viện Aung-ching-ship-pà bên bờ tây hồ Taung-tha-man, thành phố Amarapura. Ngài là bạn đồng tu với **Mogok Sayadaw**. Sau khi thông suốt các lớp Vi Diệu Pháp, ngài sống đời độc cư (ekacāra) trọn đời. Ngài sống rất thiểu dục tri túc. Trong ba canh đêm, ngài chỉ nằm nghỉ một canh. Khoảng 12 giờ rưỡi đêm ngài đã thức dậy rửa mặt. Ngay cả các bậc trưởng lão từ các tu viện **Maha Gandhayon**, **Mingalar**, **Tu-maung** cũng thường xuyên đến đảnh lễ ngài. Ngài dường như rất tinh thông về thiền Niệm hơi thở (Anāpānasati) và thiền Kasina. Đôi khi cả khuôn viên tu viện rực sáng. Có lời đồn ngài có thần thông bay liệng, là bậc A-la-hán, khiến thiện nam tín nữ kéo đến rất đông. Khi ấy, ngài đã thẳng thắn tuyên bố mình không phải A-la-hán và mời họ rời đi. Đó chính là một bậc cao nhân, một bậc xuất chúng sinh ra từ đôi vợ chồng U Soe và Daw Aye Ma tại làng Phaung-kar-lay, huyện Tada-U. Ngài **U Vimala** cũng nhận ra rằng những danh xưng như ‘thuyết pháp hay’, ‘dạy giỏi’ chỉ là cái tốt tạm thời, nên ngài đã bớt cả giờ ngủ để nỗ lực thực hiện công việc quan trọng nhất đời mình. Ngài cũng tìm đến các thiền viện ở Monywa và Mandalay để tu tập. Ngài luôn giữ thói quen đi kinh hành vào mỗi buổi sáng và buổi chiều. Từ năm 1286, theo lời thỉnh mời của người chị **Daw Sucārī** và bạn học **Daw Mi-la-thee**, vào bốn tháng mùa đông, ngài thường đến giảng dạy tại **Mogok Kyaung** ở Min-kun. Nhờ sự hiện diện của ngài, tu viện và các giảng đường nơi đây ngày càng trở nên hưng thịnh. Thời bấy giờ, tại vùng Hạ Miến, các đại pháp hội Vi Diệu Pháp đang rất thịnh hành. Những vị pháp sư lừng danh như **Ledi Sayadaw** và các đại đệ tử như **Ledi U Paduma**, **The-kya-taung U Tiloka** thường thay phiên nhau đăng tòa thuyết pháp. Năm 1291, khi hội ban tổ chức đến tu viện **Zambūpati** ở vùng đồi Sagaing để thỉnh mời Ngài **Ledi U Paduma** cho pháp hội Vi Diệu Pháp thường niên tại chùa Pyi-lone-chan-thar, thị trấn Nyaung-lay-pin, ngài đã phán rằng: “Chân ta nay đã đau yếu (tê liệt) rồi. Tuy nhiên, ta đã tìm được một vị Sư trẻ rất xứng hợp với pháp hội Vi Diệu Pháp của các ông. Vị ấy mới chỉ được mười tuổi hạ mà thôi.” Nói rồi, ngài giới thiệu Ngài Mogok Sayadaw. Kể từ năm 1292, vào ngày mùng 8 tháng Tabodwe hàng năm, ngài đều lên đường để thuyết giảng tại pháp hội này. ## TRANG 691 637 “Sư vốn chỉ chuyên tâm truyền dạy kinh điển (giảng dạy giáo khoa), chưa bao giờ thuyết giảng tại một đại rạp (đại lễ) như thế này,” Ngài khởi đầu buổi thuyết giảng một cách khiêm cung, thế nhưng thính chúng đã nhanh chóng bị cuốn hút, say mê vào dòng mật ngọt pháp bảo **Vi Diệu Pháp** (Abhidhamma) của Ngài. #### Công việc của một giảng sư Pháp và lễ hội chùa (Trong kinh Mahāgosinga, thuộc Trung Bộ Kinh) – Ngài Ānanda đã từng trình bày quan điểm của mình rằng: “Chỉ có vị tỷ-kheo có khả năng thảo luận và thuyết giảng về **Vi Diệu Pháp** mới có thể làm cho giáo pháp (Sāsana) trở nên rực rỡ, trang nghiêm như khu rừng tùng (gosinga) lộng lẫy.” Vị Luận sư (Bậc chú giải) cũng khẳng định rằng chỉ có giảng sư nào có khả năng thuyết giảng được bản chất thực thụ (sabhāva) của **Vi Diệu Pháp** mới xứng danh là “bậc giảng sư mang lại vinh quang cho giáo pháp.” (Bộ Atthasālinī-30. Ở đây, **Vi Diệu Pháp** có nghĩa là sự thấu đạt bằng tâm thực chứng; chứ không phải là kiểu **Vi Diệu Pháp** thuộc về tưởng tri, chỉ ghi nhớ các con số: 89 hoặc 121 tâm, 52 tâm sở, 28 sắc pháp). Thời thế nay, ngay cả những vị tu hành hay hát xướng cũng lạm bàn thuyết giảng về **Đạo quả (Magga-Phala)** và **các tầng tuệ giác (Ñāṇa-စဉ်)**. Có một lần, Đức Trưởng lão **Mahāsi Sayadaw** khả kính khi đến thuyết pháp tại thị trấn Nyaunglaybin, Ngài quan sát thấy ngôi giảng đường (zayat), đặc biệt là pháp tòa (pallaṅka) được trang hoàng vô cùng lộng lẫy, nguy nga. Trong khi thuyết pháp, Ngài đã để lại một lời giáo giới cảnh tỉnh sâu sắc mà sau này qua lời kể lại, ai cũng thấy đáng ghi tâm: “À… thị trấn của quý vị là nơi phát xuất và trụ trì của nhiều bậc thúc liễm tu hành (Sāsanā-pyu), thiện nam tín nữ lại rất quan tâm ủng hộ Phật sự nên pháp tòa này thật là trang nghiêm, tráng lệ. Sư chỉ xin lưu ý một điều: đừng để những vị tu hành hay hát xướng bước lên ngồi trên những pháp tòa thiêng liêng như thế này.” Điều này đòi hỏi hàng cư sĩ cũng cần phải có một đôi mắt và đôi tai biết phân định sâu sắc. Xưa kia, lễ hội chùa Pyilōnchantha tại Nyaunglaybin thường được tổ chức hàng năm với các màn kịch nghệ và múa rối. Tuy nhiên, từ năm 1281 (Miến lịch), Đức Trưởng lão **Ledi Sayadaw** đã phán rằng: “Mỗi năm một lần đi tìm địa ngục qua các lễ hội chùa ở cõi người – thôi đừng làm thế nữa các con ạ, hãy cúng dường các buổi diễn kịch đó cho ta (thế bằng pháp hội).” Từ lời dạy ấy, đại pháp hội **Vi Diệu Pháp** đã được hình thành. Thực chất, pháp tòa đó chính là pháp tòa của Đức Trưởng lão **Ledi Sayadaw**. Tại vùng đất Nyaunglaybin vốn đầy truyền thống lịch sử như vậy, lời giáo giới bất ngờ của Đức Trưởng lão **Mahāsi Sayadaw** giống như việc ‘viền thêm vàng cho chiếc bát quý’. Bậc Đạo sư đã tiếp nối di sản **Vi Diệu Pháp** và di sản **Hành đạo** (Paṭipatti) của Đức Trưởng lão **Ledi Sayadaw**... ## TRANG 692 ... nhận lấy trọng trách và không hay biết mình đã trở thành một bậc giảng sư Pháp danh tiếng lừng lẫy khắp cả nước. Kể từ thời điểm đó, Ngài giống như bậc đã tự mình uống thỏa thuê mật ngọt hoa pháp vốn được dệt nên bởi sắc màu rực rỡ của **Tam Tạng** (Tipiṭaka) và ngũ bộ **Nikāya** (Vanappagumbe), rồi Ngài lại đem bày ra kho mật ngọt của **Vi Diệu Pháp** cho vô vàn chúng sinh hưởng dùng không bao giờ cạn. #### Ngài Mogok Sayadaw và Tuệ kiến (Ñāṇa-aññā) Từ năm 1294 (Miến lịch), theo lời thỉnh mời của các thí chủ Mogok là ông U Lယ် và bà Daw Thine Chon, hàng năm Ngài đều quang lâm về đây để thuyết pháp. Thính chúng nghe pháp ngày một đông đảo, ngay cả những người ngoại quốc như người Punjabi, người Gujarati cũng tham gia vào các khóa hành thiền **Minh sát** (Vipassanā). Năm 1316, bà Daw Ōn và bà Daw Phōn đã xây dựng và cúng dường một trú xứ đặt tên là ‘Tu viện Mingala’ (Mingala Tike). Trước đó, các buổi pháp hội thường phải tổ chức tại các ngôi chùa cạnh nghĩa trang. Từ năm 1303, trong suốt thời kỳ Chiến tranh thế giới thứ hai, Ngài lưu trú tại Mogok. Dù ở bất cứ thành phố nào, Ngài cũng đều lập một thời khóa biểu nghiêm ngặt để tu tập và sinh hoạt. Thời gian thực hành nghi lễ, thời gian hành thiền, thời gian thuyết pháp, thời gian giảng dạy kinh điển (sách chi), thời gian kinh hành, thời gian thọ thực đều được thực hiện một cách chính xác tuyệt đối – đây là một điểm vô cùng đặc biệt ở Ngài. Trong chiến tranh, sau khi trú ngụ một thời gian ngắn tại ngôi chùa nghĩa trang ở Mogok, để đảm bảo an toàn hơn trước hiểm họa lửa đạn, theo lời thỉnh mời của ông U Lယ်, ông U Bo Lōn và bà Daw Gyi, Ngài đã dời đến lưu trú tại làng Bawbadann, cách thành phố khoảng 4 dặm. Ngôi làng Bawbadann là một ngôi làng nhỏ trên núi, nằm ở độ cao hơn bốn ngàn feet. Nơi đây có những hang đá tự nhiên, trở thành một cơ hội thuận lợi hiếm có cho Ngài. Các thí chủ cúng dường vật thực như bà Daw Ōn, bà Daw Phōn cũng chuyển về ngôi làng này để được nghe pháp, trình pháp (tọa thiền) và hộ độ Ngài. Mọi chuyển biến diễn ra như thể “chư thiên sắp đặt, có hồ nước sẵn lại có sen sẵn vậy”. Trong khi lửa khói của Thế chiến thứ hai khiến người ta phải chết chóc, đói khát, cướp bóc, lâm vào cảnh không cơm ăn áo mặc – một thời kỳ vô cùng đen tối (Vipatti-kāla) – thì đối với bậc Đạo sư, đó lại là lúc Ngài đạt được sự viên mãn (Sampatti). Đối với những ai biết trân trọng thời gian và giá trị của đời sống, thì thời đại nào cũng luôn tốt đẹp. Nơi nào mình đang sống theo nghiệp quả cũng đều có thể là cửa ngõ của Niết-bàn. Hang đá tự nhiên gần làng Bawbadann chính là nơi chốn thiêng liêng giúp Ngài chứng đắc được những thắng pháp (Pháp đặc thù). Đối với một bậc Đạo sư vốn thường bận bịu với việc giảng dạy (sách chi), thuyết giảng, quản lý tăng đoàn nên việc hành thiền **Minh sát** chưa được chuyên biệt, thì Chiến tranh thế giới thứ hai giống như một người... ## TRANG 693 ... cầm gươm đứng canh giữ để Ngài có thể tĩnh lặng nhập định và hành đạo. 639 Nếu không có Chiến tranh thế giới thứ hai xảy ra, có lẽ việc hoàn tất phận sự của một vị sa-môn (Rahan-kissa) của Ngài đã không thể kết thúc sớm đến thế. Ngài đã lưu trú tại thành phố Mogok suốt 11 năm và từ đó được gọi danh hiệu là “**Mogok Sayadaw**”. Người ta tin rằng ngay cả trước khi chiến tranh xảy ra, Ngài đã hoàn tất phần lớn những phận sự cần thiết về Pháp. Từ khi mới được 5, 6 hạ lạp, khi đang là một vị trụ trì kiêm giảng sư (sách chi), Ngài đã bắt đầu nỗ lực hành thiền theo thời khóa biểu hàng ngày. Vì không biết điều này, nên có những người đã nghĩ rằng: “Một vị sư giảng dạy kinh điển (sách chi) mà lại đi thuyết pháp, chắc là để tìm kế sinh nhai (kiếm lợi dưỡng) thôi.” Lại nữa, từ khi Ngài chuyển từ thuyết giảng **Vi Diệu Pháp** sang thuyết giảng chuyên sâu về **Minh sát** (Vipassanā) – trong khi một số vị giảng sư khác cũng bắt đầu thuyết giảng về **các tầng tuệ giác Minh sát** với phong thái hoa mỹ như diễn viên kịch – người ta lại cho rằng Ngài chỉ đang “thuyết giảng Minh sát cho hợp thời đại”. Họ đã không thể nhìn thấy lộ trình mà Ngài đã đi qua, vốn dựa trên nền tảng chủng tính Ba-la-mật (Pāramī-bīja) và sự nỗ lực thực hành không ngừng nghỉ. Người không biết thì ngay cả việc mình không biết họ cũng chẳng hay. Không chỉ dừng lại ở đó – “Cha mẹ, ông bà của các con chưa từng được nghe những giáo pháp (Minh sát thực chứng) này. Họ chết đi khi chỉ dừng lại ở mức độ là người thí chủ xây chùa, xây tu viện mà thôi. Hãy cố gắng mà lắng nghe (để thực hành),” Ngài đã từng thuyết giảng như vậy. Mục đích chính của Ngài là khuyến tấn, thúc đẩy vì thấy rằng giáo pháp **Hành đạo** (Paṭipatti) đang hưng thịnh trở lại. Tuy nhiên, những người thiên về **Pháp học** (Pariyatti) lại không hài lòng. Không biết ai đã xì xào, kiện cáo hay chất vấn, và vấn đề này dường như đã được đưa lên cơ quan phân xử (Vinicchaya). Tôi không nhớ rõ chi tiết, nhưng thật là tổn thất lớn khi lại đi tranh chấp với những bậc thiện tri thức cao thượng như vậy. Thực chất, Ngài là người có trí tuệ thấu đáo về nhân quả (vượt trội hơn người khác). Ngài đã có thể thâm nhập và thông suốt thấu đáo (phran-phran-kwe) về **Vi Diệu Pháp**, các lớp dạy về đêm (Nyā-wā) và bộ **Vị Trí** (Paṭṭhāna). Xưa kia tại đảo quốc Sri Lanka, có vị Trưởng lão tên là **Mahāgati Gadhiya Tissadatta**. Vị ấy là một bậc tinh thông **Vi Diệu Pháp**, trong khi đang trên chuyến tàu hành hương đến cội Đại Bồ Đề, Ngài đã suy tư rằng: “Giữa bộ **Vị Trí** (Paṭṭhāna) và đại dương, cái nào sâu rộng và huyền vi hơn?” Trong khi đang quán chiếu sâu sắc như vậy, Ngài đã đắc quả Alahan ngay trên tàu. (Lời tựa Atthasālinī-12). Chúng tôi cũng tin rằng Đạo quả của Đức Trưởng lão (Mogok Sayadaw) cũng đã thành tựu theo cách tương tự như vậy. Một bậc Đạo sư vốn luôn ghi nhớ các pháp giáo lý **Vi Diệu Pháp** (**tā** - thọ trì), thường xuyên đọc tụng thuyết giảng và truyền dạy (**vacasā paricita** - đọc tụng thuần thục), và luôn luôn tư duy quán chiếu thấu đáo trong tâm (**manasānupekkhita**), thì làm sao lại không thể (**diṭṭhiyā suppaṭividdhā**) thấu đạt sự sanh diệt (tuệ giác) và chứng đắc quả vị Thánh nhân cho được? (Trong Phẩm Có Kệ - Tương Ưng Bộ Kinh), vị tỷ-kheo trẻ Sāyaka cũng đã đắc quả trong khi đang đọc tụng kinh điển... ### Giấc mơ và tâm nguyện cúng dường bảo tháp Mahā Ceti Trong khoảng thời gian sau chiến tranh, vào một đêm nọ, Ngài Thiền sư đã nằm mộng thấy mình "từ hư không bay đến đảo quốc Sri Lanka để đảnh lễ bảo tháp Mahā Ceti, sau đó đã dọn dẹp vệ sinh và trùng tu ngôi bảo tháp vĩ đại ấy để làm công tác hoằng pháp." Không lâu sau, Ngài nhận được lá thư thỉnh cầu từ các thành viên Ban quản trị Mahā Bodhi tại Sri Lanka. Nội dung thư là nhờ Ngài thuyết giảng và kêu gọi hàng đệ tử thí chủ giàu có cùng phát tâm cúng dường viên kim cương (ṣain phū to: - bửu đỉnh) để đặt lên đỉnh tháp. Nhờ đó, một viên kim cương bảo ngọc vô giá đã được dâng cúng và tôn trí lên bảo tháp. Vào năm 1307 (P.E), Ngài cũng đã vận động các hàng đệ tử thí chủ ở Nyaung Lay Pin, Amarapura, Mandalay và đặc biệt là Mogok để thực hiện đại lễ cúng dường bửu đỉnh kim cương lên bảo tháp Botahtaung tại Yangon. Kể từ thời điểm đó, người ta tin rằng Ngài đã đạt đến đỉnh cao của năng lực hoằng pháp, hoàn thiện trọn vẹn các phẩm hạnh đúng như giấc mơ đã thấy. Từ năm 1314 (P.E), khi Ngài Thiền sư từ Mogok trở về Amarapura, Ngài đã tạm dừng các công tác nuôi dưỡng tăng chúng và dạy học Pháp học (Pariyatti) để tập trung hoàn toàn vào việc thuyết giảng và hướng dẫn hành thiền, nhằm phát triển Pháp hành (Paṭipatti). Ngài đã khai mở một đạo tràng lớn mang tên "Thiền viện Mingalar Maggin" (Maṅgalā Maggaṅ Yeikthā). Hàng thí chủ đã cùng nhau thi đua xây dựng các am thất, tự viện cho các hành giả đến tu tập. Số lượng hành giả từ khắp nơi đổ về vô cùng đông đảo. Trong mỗi buổi thuyết pháp, xe cộ lớn nhỏ nối đuôi nhau, thính chúng vây quanh đông nghịt khiến cho khung cảnh hàng ngày nơi đây nhộn nhịp hân hoan không khác gì những ngày đại lễ Phật giáo. ## TRANG 695 ### Hành giả không thể dối gạt về trình độ tu tiến Vào năm 1316 (P.E), do sức khỏe đột ngột suy yếu, Ngài đã đến nghỉ tại một ngôi nhà trong khu vườn của ông U Chit Swe và bà Daw Ma Ma tại khu Shwe Lan, Mandalay để các bác sĩ điều trị. Khi sức khỏe dần hồi phục vào năm 1317 (P.E), Ngài bắt đầu thuyết pháp ngay tại địa điểm này. Hàng năm, từ tháng Nat-taw (tháng 9) đến tháng Ta-baung (tháng 12 Âm lịch Miến Điện), Ngài thuyết giảng hàng đêm. Thính chúng đến nghe đông đến mức không tưởng, buộc lòng phải có lực lượng cảnh sát túc trực để giữ gìn trật tự và điều tiết giao thông. Pháp thoại của Ngài vô cùng rõ ràng, đến mức ngay cả những người không biết chữ cũng có thể thấu hiểu. Khi hướng dẫn thiền (Kammaṭṭhāna), sau khi yêu cầu hành giả thực hành các đề mục căn bản như Niệm Phật, Tâm từ, Niệm sự chết, Ngài sẽ hướng dẫn Tứ Niệm Xứ, Niệm hơi thở tùy theo căn cơ (Chariya) của mỗi người. Trong quá trình hướng dẫn hành thiền, thấy một số hành giả có thói quen báo cáo phóng đại hoặc dối gạt về kinh nghiệm tu tập, Ngài đã dạy cho một thí chủ rằng: "Một số thiện nam tín nữ nói chắc nịch rằng ta có Thiên nhãn thông (Dibba-cakkhu). Sự thật là, nhờ vào sức mạnh của định (Samādhi), người ta có cách để biết được một người đã hành thiền đến đâu và những trạng thái tâm lý nào đang khởi lên. (Ngài bắt đầu giải thích về bản chất của sáu giới - dhātu). Sắc Ý căn (**Hadaya-vatthu**) nương tựa vào máu trong sắc thân (tâm tạng), và sắc **Hadaya-vatthu** này chính là trú xứ của Ý thức giới (**Manoviññāṇa-dhātu**), của tâm và các tâm sở. Khi hành thiền đạt được định tâm tốt, máu trong tâm tạng sẽ trở nên trong suốt và sáng rạng tùy theo cấp độ tu tập. Sắc diện của người đó cũng sẽ thay đổi. Giữa những người cùng thực hành thiền với nhau, chỉ cần nhìn sơ qua là có thể thấy được hào quang phát ra từ thân thể của người kia. Vào ban đêm, hào quang này lại càng hiển lộ rõ rệt hơn. Dù các con có làm gì ở thế gian đi nữa, về phía các bậc xuất gia (Tu sĩ), các ngài đều biết hết cả." Ngài đã thuyết giảng phương pháp này dựa trên bản chất của các yếu tố vi diệu pháp (Abhidhamma). Tuy nhiên, Ngài có thể nhìn thấu rõ đến mức độ nào thì không ai có thể khẳng định chắc chắn được. Vào tháng Tagu năm 1322 (P.E), Ngài bị mắc chứng bệnh tiểu đường làm ảnh hưởng đến huyết mạch, khiến gương mặt bị lệch nhẹ một thời gian. Tuy vậy, Ngài vẫn duy trì sức khỏe bằng cách đi kinh hành đều đặn, uống thuốc giải độc phát tán mỗi khi cảm thấy khó chịu trong người. Vào ban đêm, Ngài hầu như không nằm ngủ mà luôn ở trong tư thế tọa thiền. Chính điểm này đã phần nào hé lộ về "Pháp chứng đạt" (Paṭivedha) của Ngài. Thính chúng tại các điểm thuyết pháp của Ngài vẫn luôn vô cùng đông đảo. Tiếng trống Pháp của Ngài càng vang xa thì âm thanh lại càng dõng dạc thanh tao. ## TRANG 696 ### Rồng rắn lạ thường Vào ngày mồng 7 tháng Waxing của tháng Waso năm 1324 (8-7-1962), Ngài đã vinh dự được nhận danh hiệu cao quý "Aggamahāpaṇḍita" (Bậc Đại Hiền Triết Cao Thượng) tại giảng đường Pharyin Dharma thuộc Thiền viện Sāsanā. Khi Ngài khởi hành đi Yangon để nhận danh hiệu này, hàng đệ tử thí chủ tại Nyaung Lay Pin đã ra tận nơi đón rước và thỉnh nguyện Ngài hãy ghé lại thuyết giảng như ngày xưa. Ngài đã giáo giới rằng: "Nếu danh sắc (nāma-rūpa) của ta chưa tan rã và các duyên hội đủ, ta sẽ đến ban phước báu ấy. Hãy tinh tấn thực hành để sớm đạt đến sự giác ngộ, vì cái thân này đang lao nhanh về phía cái chết rồi." Dọc theo tuyến đường sắt, tại các thị trấn, dù không thông báo trước nhưng mọi người đều tề tựu đông đảo để chờ đón và đệ lễ Ngài, khiến các đệ tử đi cùng không khỏi kinh ngạc. Trong thời gian lưu lại Yangon, Ngài vẫn tiếp tục thuyết giảng ban phát giáo pháp như trước đây. Ông U Than Dine và ông U Tun Yin là những người tận tâm hỗ trợ nhiều nhất. Nhờ có những vị này mà giáo pháp của Ngài mới được lan tỏa rộng rãi. Ngài Thiền sư duy trì việc đi bộ đều đặn. Ngay cả khi đang đi, Ngài cũng không lãng phí thời gian mà luôn tranh thủ nhắc nhở, thuyết giáo cho những người thân cận. Một ngày nọ, khi đi bộ cùng ông Myan-အောင် U Tin và ông U Mya ở Hinthada, Ngài đã cảnh báo ông U Mya rằng: "Hãy nỗ lực vượt qua các thọ (vedanā), cái chết sắp dẫn đầu con rồi đó, ta đang nói vào điều cốt yếu đấy." Tuy nhiên, trong mùa hạ năm đó, khi đi xe đến gần bảo tháp Pa-htoe-taw-gyi để đi kinh hành, Ngài đã nói với ông U Saw Maung đi cùng rằng: "Vừa từ Yangon trở về mới được một tháng, mà ông U Mya đã mất rồi." Trước đó, ông U Mya còn thưa rằng: "Người bị bệnh hen suyễn như con khó chết lắm." Những ẩn ý của các bậc thánh nhân, dù có ở gần bên cũng chưa chắc đã thấu hiểu được. Ngài đã nói thẳng thừng nhưng người ta vẫn không cảm nhận được. Hãy làm sao để mắt thấy, tai nghe được sự thật. Ngài đã bảo ông U Saw Maung khi đang đi bộ rằng: "Này Maung Saw Maung, hãy ghi nhớ thật kỹ lời của các bậc thiện tri thức. Các ngài chẳng bao giờ nói điều gì vô ích đâu. Các thí chủ ở Yangon đã đến gặp ta quá muộn màng." Khi ông U Saw Maung hỏi: "Sang năm Ngài có đi Yangon nữa không?" thì Ngài đáp: "Điều đó thì hãy để cái thân xác này của ta trả lời." Vào đầu tháng Taw-tha-lin năm đó, Ngài nói với người em họ là ông U Ba Toke rằng đoạn đường Zay-gaung gần thiền viện đang hơi bị hư hỏng... ## TRANG 697 “Này Maung Ba Tote, ta muốn thấy con đường này được tu sửa thật tốt đẹp thêm lần nữa trước khi đi, hãy mau chóng chú tâm sửa sang đi.” Sư trưởng thường dạy những lời lạ lùng như thế. Một đêm nọ, trong khi năm người đệ tử đang hộ độ lễ bái: “Này Maung Hla Bu, có một con rắn trong phòng của ta, con hãy bắt nó rồi đem thả ở nơi an toàn.” Khi nghe lời Sư dạy, họ tìm khắp cửa phòng nhưng chẳng thấy đâu. Lúc bấy giờ, vị Sư trưởng lại dạy: “Con không thấy con rắn này sao? Nó ở ngay cái vòng tay nắm cửa đó.” Cả năm người đệ tử đang hộ độ đều không ai nhìn thấy con rắn ấy cả. Đến khi ông U Hla Bu đến nhìn sát vào vòng tay nắm cửa thì mới thấy con rắn đang phồng mang. Thấy toàn thân nó đỏ rực, ngay cả ông U Hla Bu (người vốn giỏi về thuốc thang trị độc) cũng phải giật mình kinh hãi. Đó chính là loài rắn thần (Hgwe Pyada), một loài cực kỳ quý hiếm và có nọc độc khủng khiếp. Ông U Hla Bu phải bắt nó bỏ vào một chiếc hũ rồi mới đem đi thả. Về sau ngẫm lại, cánh cửa vốn rất trơn láng, họ không thể hiểu nổi bằng cách nào mà con rắn có thể leo lên được. Thực chất, con rắn đó chính là một vị Long vương. Có lẽ vua Rồng đã thay mặt Ma vương đến để thỉnh mời Ngài (về cõi trời). ### Thuyết pháp về việc thoát khỏi nghi thức cúng dường người chết (Pháp Tháp-bát-tuất-lộ) Cũng trong tháng Tawthalin, Ngài gọi người hộ độ thân cận là ông U Kyaw Thein (người viết tiểu sử này) và bảo: “Này Maung Kyaw Thein, con có việc gì thì cứ đến đây ở lại.” Ngài ra lệnh cho ông phải đốc thúc hoàn thành sớm các công trình đang xây dựng trong chùa. Ngài đi kiểm tra một vòng quanh chùa, điều mà trước đây Ngài chưa từng làm. “Ta muốn thấy tất cả những công trình này được hoàn thiện và sắp đặt ngăn nắp trước khi ta đi,” Ngài dạy như thế nên mọi người đều ra sức làm việc. Lúc ấy, Sư trưởng vẫn còn rất khỏe mạnh, hồng hào. Mọi người cứ ngỡ Ngài sắp đi Yangon. Vào ngày rằm tháng Thadingyut, khi thuyết pháp Ngài dạy rằng: “Hãy ghi nhớ rằng, khi tháng Thadingyut qua đi cũng chính là lúc cái chết đang cận kề.” “Với những người đã thấu đạt chân lý (Saccā), liệu có còn cần đến nghi thức cúng dường thực phẩm sau khi chết (Soon-thut) nữa không? Hãy tự làm cho mình thấu hiểu; nếu đã hiểu rồi thì hãy dặn dò người nhà rằng: ‘Khi tôi chết, đừng có làm lễ cúng dường thực phẩm cho người chết nữa. Đừng để đến lúc chết rồi mới phải chịu hổ thẹn’.” Ngài chỉ ra sự đáng sợ của cái chết và gọi đó là “Pháp hãy nhớ để thoát khỏi nghi thức cúng dường người chết”. ## TRANG 698 “Giả sử như không thể tránh khỏi việc phải đặt xác chết (asubha) này trên ngôi chùa này, thì từ cái xác này sẽ còn gì thoát ra nữa? Chỉ có đại tiện thoát ra, tiểu tiện thoát ra. Cử động cũng là bất tịnh (asubha), ngồi yên cũng là bất tịnh. Khổ đế (Dukkha Sacca) đã hiển lộ chưa?” Ngài đã thuyết như vậy trong bài pháp ngày rằm. (Ý Ngài muốn dặn rằng: “Khi ta chết, đừng làm lễ cúng dường người chết, cũng đừng để lâu ngày.”) Vị Sư trưởng vẫn thuyết pháp một cách đầy nhiệt tâm. Vào ngày mùng 2 sau ngày rằm, Ngài dành ưu tiên đặc biệt để thuyết giảng cho các vị (cựu Bộ trưởng) gồm ông Myaungmya U Tin, U Aung Zan Wai và U Than Maung (biệt danh Kyar Pyan), Ngài dạy: “Các vị cũng đã già rồi, Bần tăng cũng đã già rồi. Sau này, Giáo pháp (Sāsana) này sẽ không còn nữa, sẽ mất đi. Nếu hỏi tại sao nó biến mất, thì vì đã đến lúc nó phải mất vậy. Chuyến tàu đã sắp khởi hành rồi. Chỉ còn kịp lúc để bám theo thôi.” (Cụm từ “Giáo pháp này” ở đây là Ngài đang ẩn dụ nói về chính bản thân mình). Đến ngày mùng 4 là lễ xuất gia và dâng y Kaṭhina, nên từ ngày mùng 3, Ngài đã làm lễ hồi hướng và thuyết pháp rất tận lực. Đêm hôm đó, Ngài bảo những người hộ độ: “Ngày mai hễ có việc gì ở nhà cũng đừng có ai vắng mặt tại chùa.” Khi nghe lời này, những người đệ tử thân cận như ông U Hla Bu càng thêm phần bối rối và lo âu. ### Tiếng nói và ánh sáng kỳ lạ Nhóm ông U Hla Bu là những người ngủ ngay phía ngoài căn phòng nơi Sư trưởng nghỉ ngơi. Vào khoảng 12 giờ đêm ngày mùng 1 sau ngày rằm, họ nghe thấy tiếng Sư trưởng đang trò chuyện với ai đó nhưng nghe không rõ lời. Trong lúc đang lắng tai nghe, họ vô cùng kinh ngạc khi thấy những luồng ánh sáng rực rỡ phát ra từ trong phòng của Ngài. Vì vậy, ông U Hla Bu dặn những người hộ độ đêm sau phải chú tâm canh trực và đừng ngủ quên. Vào khoảng 12 giờ đêm hôm sau, họ lại nghe thấy tiếng trò chuyện và nhìn thấy ánh sáng rực rỡ y như đêm trước. “Bạch Thầy, Thầy đang trò chuyện với ai vậy ạ? Lúc nãy chúng con còn thấy cả ánh sáng rực rỡ nữa,” họ bạch hỏi. Sư trưởng chỉ dạy: “Này Hla Bu, con biết rồi mà.” Khi họ nhìn vào phòng, vẫn thấy Sư trưởng đang ngồi thiền như thường lệ. Nhóm của ông U Hla Bu ai nấy đều vô cùng hoang mang, không thể lý giải nổi. Vào ngày mùng 4, ông U Chit Hla và phu nhân từ thành phố Mogok đã đến dự lễ xuất gia và dâng y Kaṭhina, khiến các nhà nghỉ (zayat) trong khuôn viên chùa đều chật kín khách. Đêm ngày mùng 3, các vị khách cùng một số người dân trong thành phố cũng nhìn thấy một quả cầu lửa lớn... ## TRANG 699 ...rơi xuống ngôi chùa của Ngài, rồi ngay sau đó một luồng ánh sáng rực rỡ lại vụt bay lên. Ông U Hla Bu lại bạch hỏi Sư trưởng lần nữa, nhưng Ngài chỉ đáp: “Này Hla Bu, con đã biết rõ rồi mà còn hỏi đi hỏi lại mãi. Thời gian không còn bao nhiêu nữa đâu.” Dù trong lòng vẫn còn nhiều thắc mắc nhưng ông U Hla Bu không dám hỏi thêm, đành lủi thủi đi ra khỏi phòng. Sư trưởng sắp xả bỏ thân xác này rồi. Dường như chư Thiên và Phạm thiên cũng đang vân tập về để đảnh lễ và nghe pháp lần cuối. ### Ngày cuối cùng của vị Sư trưởng Đây chính là ngày cuối cùng của Ngài. Thứ Tư, ngày mùng 4 sau ngày rằm tháng Thadingyut năm 1324 (Miến lịch). Vì có lễ xuất gia và dâng y Kaṭhina nên hôm nay là ngày náo nhiệt nhất tại tu viện Mangala với sự hiện diện của đông đảo chư Tăng và Phật tử. Mọi người đang tất bật nấu nướng, chuẩn bị cho buổi lễ. Sư trưởng đã làm lễ hồi hướng trước từ ngày hôm qua và đã thuyết pháp suốt một giờ đồng hồ. Lúc 5 giờ sáng, hai nữ thí chủ là Daw Tin Hla và Daw Kumara pha ngũ cốc (Quaker Oats) đem vào chùa dâng Ngài. “Này Tin Hla, hãy sửa soạn giường chiếu cho ta,” Ngài sai bảo vào một thời điểm lạ lùng chưa từng thấy, khiến cô thí chủ vô cùng kinh ngạc. Cô chỉ nghĩ rằng vì đông người ồn ào và mệt mỏi nên Ngài muốn nghỉ ngơi. “Tin Hla, các con còn trẻ, các con đang phải bơi lội giữa đại dương bao la không thấy bờ. Hãy nỗ lực để có thể chịu đựng được những biến động của cuộc đời (Loka-dhamma). Trong khi đang trôi dạt, nếu may mắn gặp được cái cây bên bờ, các con sẽ bám chặt vào đó để nương tựa, nhưng nếu cái cây đó là một cây đại thụ già cỗi đã bị sóng đánh bật gốc thì nó sẽ đổ ập xuống đè lên các con thôi.” Sau khi dạy như thế, Ngài bảo cô gọi chồng cô là ông U Kyaw Thein, người hộ độ thân cận, đến gặp Ngài. Khi người hộ độ nhỏ đến nơi... “Ái chà... về chuyện chi dùng, ăn uống thì ai nấy cũng đều có đủ theo phước phần của mình rồi, vậy là đủ rồi. Các con tìm kiếm tiền tài thực chất là tìm cái để phung phí mà thôi. Đừng có luyến ái vào tài sản vật chất của mình, hãy dùng trí tuệ mà từ bỏ, sóng gió cuộc đời sẽ ập đến đấy. Dù ta không còn ở đây, nhưng vẫn còn những băng đĩa ghi âm bài pháp của ta. Hãy nỗ lực mà lắng nghe.” Ngài dạy những lời tuy khó hiểu nhưng không ai dám hỏi lại. Diện mạo và giọng nói của Ngài vẫn bình thường như trước, khiến không ai nghĩ rằng có chuyện gì sắp xảy ra. Sau đó, ông trở về kể lại sự việc cho ông U Thar Saing (người hộ độ kỳ cựu đã theo hầu Ngài từ lâu)... ## TRANG 700 Khi được bạch kể lại, Ngài chỉ đưa ra lời nhận xét: “Vậy là thiền sư sắp đi Yangon rồi đó.” Quả thực, Ngài sắp sửa khởi hành về cõi Yangon (về nơi an nghỉ cuối cùng). Sau khi thọ dụng món ngũ cốc (Quaker Oats), Ngài thay y và ngự đến dự lễ cúng dường vật phẩm Katina. Tại tu viện Maṅgalā, gia đình ông U Chit Hla và bà Daw Thaung từ Mogok đã chuẩn bị cúng dường ngọ trai cho hai trăm vị Tăng nhân dịp lễ xuất gia của con trai và lễ Katina, bắt đầu từ 6 giờ sáng. Ngài không thọ thực, mà chỉ ngồi im lặng bên cạnh các vị Đại Trưởng lão trong trạng thái định tĩnh hướng về Giáo Pháp. Sau khi chư Tăng thọ thực xong, đích thân Ngài đã đi đến từng vị Đại Trưởng lão để dâng cúng các lễ vật. Khi các vị Trưởng lão cao hạ chuẩn bị ra về, Ngài đã từ trên lầu bước xuống, dìu từng vị một ra tận xe với thái độ cung kính, hân hoan. Ngài cứ đi đi lại lại, niềm nở tiễn biệt từng vị cho đến khi tất cả đã rời đi. Khi buổi lễ kết thúc, Ngài gọi người đệ tử lớn là U Hla Bu rồi đi về phía hành thiền viện. Ngài phán: “Chà... cái thân ngũ uẩn này của ta giờ nặng nề quá rồi.” U Hla Bu không hiểu ý nghĩa thâm sâu của lời nói ấy nên đã thưa hỏi lại. Ngài chỉ mỉm cười và phán: “Con thật là đứa khờ khạo quá đi.” Sau đó, Ngài truyền bảo bà Daw Tin Hla đến dâng cà phê. Khi bà đến, vừa thọ dụng cà phê, Ngài vừa hỏi: “Này Tin Hla, dạo gần đây con có nằm mộng thấy điều gì lạ lùng không?” Bà bạch rằng: “Con thấy Ngài đang hành thiền bên cạnh một bảo tháp lớn trong thiền viện. Bỗng nhiên từ bảo tháp bốc lên một làn khói, rồi từ phần đai tròn, bảo tháp bắt đầu sụp đổ dần xuống. Dù bảo tháp đổ sập lên người Ngài, nhưng Ngài vẫn bình an vô sự, không hề hấn gì.” Ngài phán: “Hơ... giấc mộng của con thật là chuẩn xác. **Pubba-nimitta** (điềm báo trước) thường hiển hiện như vậy đó. Hãy nỗ lực hành thiền thật tinh tấn để có được sức chịu đựng giống như ta.” Nói đoạn, Ngài bảo: “Chờ ta một lát,” rồi đi vào trong phòng. Lát sau, Ngài trở ra, tay cầm bộ y vừa thay (gồm y nội, y vai trái và y tăng-già-lê (saṅghāṭi)). Ngài trao cho bà: “Đây, con hãy mang bộ y này về tăng xá, giữ gìn cẩn thận, đừng giặt giũ gì cả.” Bà Daw Tin Hla lòng đầy hoang mang, chẳng dám thưa hỏi điều gì, lẳng lặng nhận lấy bộ y mang về xá của mình. Vào lúc 11 giờ 30 phút ngày hôm đó, Ngài thọ dụng cà phê và súp. Ngài còn cho phép chụp ảnh lưu niệm lúc đang thọ thực cùng ba vị thiền sư khác. Ngài vẫn tiếp tục ban những lời giáo huấn. Những lời Ngài nói lúc bấy giờ đều khiến người nghe kinh ngạc, nên các thiện tín đã tha thiết xin được thỉnh bác sĩ đến. Ngài phán: ## TRANG 701 “Không có gì đáng ngại đâu. Ngày hôm qua do hóng gió quạt nên hơi lạnh thấm vào người một chút thôi. Nếu muốn thỉnh bác sĩ thì hãy thỉnh vào lúc một giờ rưỡi.” Ngài vẫn điềm nhiên ban lời giáo huấn. Sắc diện và giọng nói của Ngài vẫn bình thường như bao ngày. “Gánh nặng thân xác này thật quá nặng nề. Nào... này U Than Maung, hãy giúp ta thụt tháo (đi vệ sinh) một chút.” Nói rồi, Ngài tự mình đi vào nhà vệ sinh. Chư Tăng và các hàng cư sĩ Phật tử đều tập trung đông đủ trên tịnh xá của Ngài. Bác sĩ Sony và bác sĩ Saw Mya Aung cũng đã đến nơi. Ngài phán: “Nào, nếu còn thuốc gì cần tiêm thì hãy tiêm nhanh lên. Thời gian không còn nhiều nữa đâu. Mà thuốc men của các ông cũng chẳng giúp gì được nữa rồi.” Lúc đó đã là một giờ trưa. Giữa lúc chư Tăng và Phật tử đang lo lắng, thành kính phủ phục chung quanh với gương mặt đau sầu, Ngài phán: “Này Maung Chit Swe, lần này thì không được nữa rồi. Này Tin Ngွေ lớn, mắt ta đã bắt đầu mờ dần. Nào, tất cả chư Tỳ-khưu và các thiện nam tín nữ, hãy quán chiếu để vượt qua những thọ khổ mà bất cứ ai có thân này cũng phải gánh chịu. Hãy nhìn tận mắt sự khổ bạt ngàn của gánh nặng thân xác (khandha-bhāra) ngay tại nơi đây. Đừng sống trong sự phóng dật và lơ là (appamāda).” Sau khi ban lời giáo huấn, Ngài tĩnh tọa, an trú tâm trong Pháp khoảng 15 phút. Vào lúc một giờ hai mươi phút, Ngài đã kết thúc lộ trình của thân xác (khandha-jāt), hơi thở hoàn toàn đình chỉ, Ngài đã an nhiên thị tịch. ### Những chuyện hy hữu về nhãn xá-lợi và xá-lợi tóc Mặc dù Ngài đã báo trước về sự kiện này từ ba bốn tháng trước, nhưng vì thấy Ngài vẫn khỏe mạnh bình thường nên không ai nghĩ đến. Tất cả những người có mặt đều đành lòng chấp nhận trong nước mắt, đảnh lễ tiễn biệt Ngài. Tại thiền viện Maṅgalā, thay vì tiếng chuông trống thuyết pháp thường nhật, nay chỉ còn lại tiếng khóc thương vang vọng khắp nơi. Lễ tang được tổ chức trọng thể trong suốt bảy ngày, bắt đầu từ ngày 9 tháng Pyatho năm 1324 (Âm lịch Myanmar). Có lẽ hiếm có một tang lễ nào lại đông đảo và trang nghiêm đến thế. Trong kỳ lễ tang đó, tại rạp của ông U Kyaw Thein và bà Daw Tin Hla, người ta thấy vô số đàn ong bay đến đậu lại thành tổ giữa đám đông. Đó cũng chính là ngày đến lượt kim quan của Ngài được tôn trí tại rạp này. Chỉ trong vòng hai phút trước khi kim quan được di dời đến, đàn ong đã kết thành tổ xong xuôi. Đây là dấu hiệu tâm linh lớn lao lần thứ ba liên quan giữa Ngài và loài ong. Vào ngày rằm, khi thực hiện lễ trà tỳ (hỏa thiêu), có gần hai trăm ngàn người đến dự. Trong lúc hỏa thiêu trên bệ gạch được canh phòng cẩn mật, người ta đã nhìn thấy những viên xá-lợi (dhātu) hình tròn xuất hiện. ## TRANG 702 Một số viên xá-lợi kết lại thành chuỗi, bám chặt vào các phần xương lớn. Có những mảnh nửa là xương, nửa đã biến thành xá-lợi. Xá-lợi có hai màu: màu trắng đục như sữa và màu vàng rực rỡ. Khi các mảnh xương được các gia đình thỉnh về thờ tự tại nhà, người ta lại thấy chúng tiếp tục biến thành những viên xá-lợi tròn trịa. Tại nhà của ông U Thaung (chủ công ty thuốc lá Sin), người ta kể rằng từ mảnh xương đã hóa thành xá-lợi và còn tỏa ra những luồng hào quang rực rỡ. Những sợi tóc của Ngài được các đệ tử lưu giữ khi Ngài còn sinh thời, sau khi Ngài nhập Niết-bàn, chúng cũng tự động cuộn lại thành hình tròn như những viên xá-lợi. Một điều kỳ diệu khác là sau khi hỏa táng, đôi nhãn cầu của Ngài vẫn còn nguyên vẹn, không bị lửa thiêu rụi, gắn liền với các đốt xương tay. Những viên xá-lợi này đã được tôn trí bên trong ngôi tháp “Maṅgalā Dhātu Dhamma Cetī” được xây dựng giữa hồ nước tại thị镇 In. (Gần ngã tư đường xe lửa và đường lộ Ratana Gu). (Về việc các khớp xương liên kết với nhau, trong chú giải **Mahāparinibbāna Sutta**, phần giải thích từ **Nāgāpalokita** (trang 145) có nêu rõ: “Ở người bình thường thì các khớp xương rời nhau (hoặc đối đầu), ở bậc Độc Giác Phật thì các khớp xương móc vào nhau (như xích), còn ở bậc Chánh Đẳng Giác thì các khớp xương liên kết thành vòng (như khoen vòng).”) Chính từ lúc đó, chư Tăng và Phật tử càng thêm thâm tín sâu sắc rằng Ngài quả thật là một bậc Thánh tăng, một bảo vật xuất thế (lokuttara) quý giá. Họ đã cùng nhau dâng cúng đủ loại trân bảo thế gian để trang nghiêm nơi thờ tự, nhưng dẫu có tán dương bao nhiêu cũng không xiết, dẫu có tưởng nhớ công đức bao nhiêu cũng không cùng. (Tiếp theo đây sẽ trình bày về Thiền sư Mying Phyu Zeetaw, người đã nỗ lực tu tập theo sự hướng dẫn của Thiền sư Mogok và đã hoàn tất phận sự của một vị Sa-môn.) ## TRANG 703 ### Thiền sư Kathitwaing U Revata - (1265 – 1327) “Hãy ghi nhớ thật kỹ rằng: Việc dùng tâm mình hằng quan sát không ngừng những gì đang khởi sinh trên thân mình, đó gọi là công việc **Vipassanā** (Minh sát).” Hỏi: Nói rằng phải dùng thân để quán chiếu, vậy có thể dùng thân để thực hiện công việc **Vipassanā** được không? Đáp: Thưa được. Hỏi: Nếu miệng cứ đọc tụng **Nicca** (Thường), **Dukkha** (Khổ), **Anatta** (Vô ngã) và lần tràng hạt thì có phải là công việc **Vipassanā** không? Đáp: Thưa chưa phải. Hỏi: Thân là ám chỉ nơi nào? Đáp: Nơi nào khi chạm vào bằng đầu kim hay mũi dùi hoặc bất kỳ vật gì mà ta có cảm giác biết được, nơi đó gọi là thân. Hỏi: Vậy có bao nhiêu loại (cảm giác) khởi sinh từ thân? Đáp: Thưa có năm loại. Hỏi: Đó là những gì? Đáp: Thưa là nóng, lạnh, chuyển động (rung động), khổ và lạc. Thiền sư Kathitwaing đã tóm gọn phương pháp thực hành **Vipassanā** như trên để thuyết giảng và hướng dẫn hành thiền. Ngài đã mở các khóa thiền mười ngày, mỗi ngày thuyết giảng và hướng dẫn ít nhất hai lần, mỗi lần tối thiểu hai tiếng đồng hồ, bền bỉ suốt khoảng hai mươi năm. Mỗi khi bước lên pháp tòa, Ngài ngồi tĩnh tại như tượng đá và thuyết pháp liên tục suốt hai giờ đồng hồ. Lời giảng của Ngài không hề đụng chạm hay đả kích ai, ngôn từ sử dụng luôn nhã nhặn và tinh tế. Ngài chưa bao giờ cảm thấy tự mãn hay dừng lại trong việc thuyết giảng và hướng dẫn hành thiền. ### Pháp hành Satipaṭṭhāna rộng mở và tự do Pháp hành mà Ngài hướng dẫn rất rõ ràng, đến mức những người bình dân nhất cũng không thể không làm được. Tuy nhiên, dưới góc nhìn giáo điển, dường như vẫn còn thiếu sót điều gì đó. Thật khó để nói rằng nó bao quát được cả bốn niềm tin **Satipaṭṭhāna** (Tứ Niệm Xứ), nhưng cũng không dễ để nói rằng nó không bao quát. Đối với những người mới bắt đầu hành thiền, để giúp mức độ **Samādhi** (Định) dễ dàng tăng trưởng, nếu có một đề mục chính (trụ cốt) để quán chiếu thì... ## TRANG 704 ...sẽ phù hợp hơn. Hiện nay, những vị nhờ quán chiếu **Dukkha-vedanā** (Thọ khổ) mà thăng tiến hoặc đạt kết quả (theo căn tánh riêng của họ), khi hướng dẫn thiền thường dạy rằng: "Hãy theo dõi **Vedanā** (Thọ), theo dõi **Vedanā**". Điều này khiến nhiều người không biết gì, khi vừa ngồi xuống một giờ đồng hồ là chỉ chăm chăm chờ đợi các cảm thọ khổ như tê, nhức khởi sinh. Khi chúng khởi lên, họ lại dồn sức quan sát với mong muốn thoát khỏi thọ khổ đó, nên thường không đạt được **Samādhi**. **“Sukhaṃ samādhatthāya”** = Chỉ khi thân tâm an lạc thì **Samādhi** mới dễ dàng đạt được. Giống như người đi đường dài dưới nắng gắt được nghỉ dưới bóng cây, họ cảm thấy hạnh phúc khi tạm thoát khỏi cái khổ cực độ và coi đó là “Pháp đặc biệt”. Ý muốn nói là, dù bản thân vị thầy đã thăng tiến nhờ quán **Dukkha-vedanā**, nhưng chưa chắc đã phù hợp với căn tánh của người khác. Tuy nhiên, các hành giả thường hiểu một cách máy móc rằng “hành thiền là chỉ được ghi nhớ cái này thôi”, vì vậy nên chỉ dẫn cho họ đầy đủ các phương cách quán chiếu để họ biết rằng “cũng có thể quán chiếu như thế này, thế kia nữa”. Trong kinh điển có dạy **“Sukha-paṭisaṃvedī”**, nghĩa là cũng phải ghi nhớ (quán) các thọ lạc. Xem xét các trường hợp chứng quả A-la-hán, không phải ai cũng chỉ tập trung quán khổ mà thành. **“Vedanaṃ vikkhambhitvā”** = Có những vị tạm gác lại thọ khổ (hoặc xả ly thọ khổ) để tiếp tục quán chiếu các đề mục nguyên thủy như hơi thở ra vào (đề mục chính, cốt lõi). Điều quan trọng hơn việc vượt qua thọ là phải “biết đúng về thọ”. Việc nhẫn nại quan sát thọ khổ đến mức tối đa mà mình có thể chịu đựng được theo tinh thần **Adhivāsana-khantī** (Khâm nhẫn thượng yếu) là một truyền thống. Tuy nhiên, để tránh việc giới hạn hạn hẹp rằng “hành thiền chỉ có bấy nhiêu thôi”, ta nên mở rộng các lối thực hành **Satipaṭṭhāna** một cách tự do, đầy đủ để hành giả có thể tìm được lối quán chiếu phù hợp nhất với căn tánh của mình. Dù có mở ra bao nhiêu lối đi chăng nữa, hành giả cũng sẽ chỉ đi trên con đường duy nhất mà họ cảm thấy ưa thích, phù hợp và dễ nhận biết nhất. Vì vậy, mong rằng các vị thầy hãy hướng dẫn một cách tự do và rộng mở. Pháp **Satipaṭṭhāna** mà Đức Phật chỉ dạy vốn rất đa dạng, tự do và vô cùng chuẩn xác để lựa chọn. (Nếu ai còn bác bỏ điều này và cho rằng “**Vipassanā** vốn quá rộng lớn” thì họ chỉ là người tụt lại phía sau). ## TRANG 705 ### Hai mươi năm Pariyatti (Pháp học) Thiền sư sinh vào lúc 12 giờ trưa thứ Tư, ngày 10 tết tháng Tabaung năm 1265 (năm Miến lịch), tại làng Abya Ale Su, huyện Waw, tỉnh Bago. Thân phụ là U Pho Kan, thân mẫu là Daw Sein Yint. Tên thuở nhỏ là Maung Shwe Ba, pháp danh là U Revata. Lên tám tuổi, Ngài xuất gia **Sāmaṇera** (Sa-di) với Ngài U Kalyāṇa tại chùa Abya Atet Su. Trong đời sa-di, Ngài đã học các giáo khoa cơ bản tại chùa Mayancho gần Kyaikto, và tại chùa Innwa thuộc khu Tu viện Thayetataw, Yangon với Ngài U Kosalla (vị đạt danh hiệu Pathamakyaw). Sau khi thọ giới Tỳ-kheo vào năm 1285, Ngài tiếp tục học **Pariyatti** tại Tu viện Mahā-visutārāma ở Pakokku, khu Shwe-yay-saung, Bon-kyaw và Tu viện Phayagyi ở Mandalay (với Ngài U Nārada, U Indāsabha) và đã thi đỗ kỳ thi Pathamagyi. Từ hạ thứ 6, Ngài bắt đầu giảng dạy kinh điển tại chùa Kyaungtu gần Waw và chùa Đại học Prome. Từ hạ thứ 12 đến hạ thứ 22, suốt mười năm ròng, Ngài là thiền sư giáo thọ (Sā-cha Sayadaw) tại chùa Abya Atet Su. ### Hai mươi năm Paṭipatti (Pháp hành) Vào hạ thứ 22, do tác động của Thế chiến thứ hai, ngôi chùa Abya Atet Su bị hỏa hoạn thiêu rụi. Với chỉ một bình bát và ba tấm y, Ngài chuyển đến chùa Phakkaleik và nỗ lực chuyên tâm vào công việc **Paṭipatti**. Đến hạ thứ 23, vì bổn phận chăm sóc cha mẹ và những người thân thuộc, Ngài chuyển về chùa Kathitwaing, vừa tu tập tự độ vừa độ tha. Ngài tiếp tục Phật sự cho đến khi viên tịch vào hạ thứ 42. Trong sự nghiệp hoằng dương **Paṭipatti** của Ngài, về phía hàng cư sĩ hộ pháp có các vị như U Maung Kywe, Daw Mya Nyunt ở Kyon-yo-tan (Bago); U Ba Nyunt, Daw Sein Nyunt, U Shwe Aye, Daw Ngwe Shin ở làng Abya Ale Su; và đặc biệt là nữ thí chủ Daw Cho Cho từ Nyaunglebin. Các hành giả từ khắp nơi đã cùng nhau xây dựng nên trung tâm thiền **Paṭipatti** Kathitwaing rộng 12 mẫu Anh với hơn bốn mươi dãy nhà khang trang. Hiện nay, danh tiếng “Phương pháp thiền Kathitwaing” đã trở nên phổ biến rộng rãi. Thiền sư đã phân chia cuộc đời mình giữa hai giai đoạn **Pariyatti** và **Paṭipatti**, nỗ lực tinh tấn không ngừng trong việc phụng sự giáo pháp. Ngài viên tịch vào lúc 11 giờ 50 phút sáng thứ Bảy, ngày 9 sau trăng tròn tháng Pyatho năm 1327, hưởng thọ 62 tuổi. Trước khi Ngài viên tịch, trong khi các thí chủ từ Bago và Yangon đang vây quanh chăm sóc, Ngài U Tejosāra... ## TRANG 706 Trước những lời thỉnh cầu của các đệ tử, trong đó có nguyên Bộ trưởng Tài chính Myaungmya U Tin, rằng Ngài nên giảm bớt việc giảng dạy và tiếp khách vì sức khỏe, ông U Tin đã thỉnh ý các vị tỳ-kheo đệ tử của Ngài rằng: “Thưa các sư, các sư nghĩ Ngài đang mắc bệnh gì? Chẳng phải bệnh tật gì đâu — đó là 'bệnh bi mẫn' (karuṇā), bệnh bi mẫn đó. Nếu các sư muốn phụng sự Giáo pháp lâu dài, hãy hết sức cẩn trọng và giữ gìn lòng bi mẫn của mình.” Ông đã thỉnh cầu như vậy vì nhận thấy không thể khuyên Ngài giảm bớt tâm nguyện độ sinh. (Chi tiết xin xem trong cuốn “Tiểu sử và các bài Pháp của Ngài Kathitwaing Sayadaw” do Ashin Tejosāra biên soạn.) Để đánh giá Ngài Kathitwaing Sayadaw đã thành tựu đến mức độ nào trong phương diện Thực hành (Paṭipatti), đó không phải là việc của chúng tôi, và chúng tôi cũng không dám lạm bàn. Tuy nhiên, những gì Ngài đã làm đã mang lại lợi ích to lớn cho bản thân Ngài và cho Giáo pháp. Thật vậy — khi nào chưa thể tự tuyên bố rằng: “**Katà karaṇīyaṃ nàparaṃ itthattāya** = Việc cần làm đã làm xong, không còn trở lui trạng thái này nữa”, thì chúng ta vẫn phải dốc lòng tinh tấn vào công việc trọng yếu nhất, luôn khắc ghi và hành trì theo lời dạy: “**Attadattha paratthena, bahunàpi na hàpaye** = Đừng vì lợi ích của người khác, dù nhiều đến đâu, mà lãng quên lợi ích của chính mình (tức mục tiêu giải thoát).” ### Ý nghĩa duy nhất của đời người Nếu tính toán theo tuổi thọ của chúng ta, có rất nhiều cơ hội tốt đẹp ngay trong tầm tay mà nếu biết nắm bắt thì đã đạt được, nhưng phần lớn chúng ta lại để nó vụt mất, gần ngay trước mắt mà xa tận chân trời. Tuy nhiên, những cơ hội hiện tại chưa hẳn đã qua đi, dù chỉ còn trong gang tấc, vẫn đang hiện hữu chờ đợi chúng ta. Chư Phật tuần tự xuất hiện thế gian rồi tuần tự nhập Niết-bàn. Còn những hữu tình (như loài rồng Kāla) vẫn đang đắm chìm trong giấc ngủ của riêng mình, tự mãn với những gì mình có. Thời gian thật là cao quý. Kiếp sống hiện tại thật đáng giá biết bao. Còn ai có thể có được Ba-la-mật lớn hơn chúng ta nữa đây? Lệnh bà Mahāpajāpatī Gotamī từng tán thán rằng: “Ngay cả những bé gái bảy tuổi cũng có thể hiểu và thực hành được giáo pháp của Đức Thế Tôn, nên bất cứ ai được nghe Pháp đều là những người thiện duyên, đại phúc đức.” (Trích Gotamī Therī Apadāna). Dù các bậc Thánh nhân cao thượng vẫn còn hiện diện trên đời, các Ngài cũng chỉ có thể chỉ dạy con đường; chỉ khi tự mình thực hành, chúng ta mới có được kết quả cho chính mình. Và chúng ta sẽ nhận được thành quả tương xứng với nỗ lực mà chúng ta bỏ ra. ## TRANG 707 Pháp mà ngay cả bé gái bảy tuổi cũng có thể đạt được, thì có gì là khó khăn đâu? Tuy nhiên, nói vậy không có nghĩa là nó dễ dàng. Cái “không dễ dàng” ở đây không phải vì giáo pháp quá cao siêu đến mức không thể hiểu nổi, mà vì chính hành giả chưa thực sự khao khát đạt đến. Sở dĩ chưa khao khát là vì chưa thấu hiểu được ý nghĩa của cuộc đời. Do đó, “không dễ dàng” không phải là thước đo của giáo pháp, mà là thước đo định mức của chính hành giả. Qua các thời đại, con đường đã được khai phá sẵn rồi. Không cần phải vất vả tìm kiếm điện năng, chỉ cần biết cách nhấn công tắc mà thôi. Chúng ta không nên chần chừ thêm nữa trong việc đưa ra quyết định. Mỗi người đều có quyền tự quyết định sự tu tập của chính mình. Đó cũng chính là một cơ hội lớn. Điều gì là cốt lõi, là giá trị quan trọng nhất và là đáp án duy nhất cho kiếp người cực kỳ khó đắc này? Phải chăng là sức khỏe, kinh tế, xã hội, quyền lực, địa vị, danh tiếng hay sự hưởng thụ hưởng lạc...? Một đời người sẽ kéo dài được bao lâu? Nếu chưa tìm ra được đáp án duy nhất đó, chúng ta sẽ mãi không có ngày thoát khỏi dòng sông khổ đau (Dukkha Gangā) này. Ai cũng muốn hạnh phúc. Nhưng tất cả những gì chúng ta làm để có được hạnh phúc đều chỉ dẫn đến kết quả là khổ đau. Vậy hạnh phúc đích thực là gì? “**Santi-sukha**” (An lạc của sự tịch tịnh) mới là hạnh phúc vô song. Ai cũng muốn sống trong sự bình an. Muốn được nghỉ ngơi (hưu trí). Nhưng hễ chúng ta làm gì để được nghỉ ngơi, thì ngọn lửa (phiền não) lại bùng lên. Sự tịch tĩnh là gì? “Niết-bàn là sự tịch tĩnh tối thượng.” Tôi xin tạm dừng bút tại đây. **Nibbānappaccayo hotu.** (Nguyện đây là duyên lành dẫn dắt đến Niết-bàn) Htay Hlaing Rằm tháng Tazaungmon, 1937 (âm lịch Myanmar). ## TRANG 708 ### Bia ký về lịch sử Phật giáo Thực hành của Đại trưởng lão Ledi Sayadaw tôn kính Những phán quyết và lời giáo huấn liên quan đến thực hành của Ngài Ledi Sayadaw là những tấm gương sáng cho hậu thế noi theo. Đặc biệt, việc một người tự nhận hoặc tuyên bố rằng: “Tôi đã chứng đắc quả Tu-đà-hoàn”, v.v... là một vấn đề nổi cộm trong lịch sử Phật giáo Thực hành. Liên quan đến vấn đề này, tôi xin trích dẫn từ phần phụ lục của cuốn “Ánh sáng con đường Minh triết của bậc Thánh” (Ariyā Vijjāmagga Alin-pya), ghi chép của Ngài Thaim Taung Sayadaw — một đệ tử xuất sắc thông thạo cả Pháp học lẫn Pháp hành, về những lời dạy của Ngài Ledi Sayadaw. Chuyện xảy ra khi Ngài Ledi Sayadaw đang cư ngụ tại tu viện Thaim Taung, vùng Thae Taw. Khi đó, Ngài U Ādicca (Sayadaw chùa Ye Lal ở Meiktila), Ngài U Kavī (Sunlun Sayadaw) cùng người bạn đồng tu U Vicāra và thư ký U Ba San của ngài Sunlun đã đến đảnh lễ Ngài. Lúc đó, ông U Ba San đã bạch với Ngài như sau: “Kính bạch Ngài, con đã thực hành các phương pháp quán đề mục Kasina theo cuốn sách Paṇḍita Vedanīya của Ngài Thegyi Taung U Tiloka. Con đã đạt được Uggaha-nimitta (học tướng) và Paṭibhāga-nimitta (tợ tướng) rất rõ ràng, đắc được định Appanā-jhāna (An chỉ định). Sau đó, con chuyển sang tu tập Minh sát (Vipassanā) theo phương pháp Quán Thọ trong cuốn Anatta-dīpanī của Ngài. Con thấy rõ trong tuệ giác của mình rằng sắc thân này đang sinh diệt liên tục, nổ lốp bốp như những hạt mè đang được rang trong chảo. Tiếp đó, con tiến triển theo các tầng tuệ minh sát, nhìn thấy rõ bản chất vô thường của danh và sắc,” v.v... Ông đã trình bày chi tiết cho đến tận lúc tâm lộ đức đạo và lộ đức quả khởi sinh. Ngài Ledi Sayadaw nghe xong liền khẽ gọi “Sa-thu” (Lành thay) ba lần. #### Đừng nói bằng sự tưởng tượng Sau đó, Ngài Ledi Sayadaw phán rằng: “Này, các đệ tử của ta, sau này đừng ai nói với bất kỳ ai rằng mình đã đắc Đạo, đắc Quả cả. Người ta trình báo rằng dọc theo dòng sông Irrawaddy, tại các thành phố như Pyay, Shwedaung, Nyaungdon, các bậc Thánh Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm đang xuất hiện rất nhiều. Đơn thỉnh cầu gửi đến ta để thẩm định cũng nhiều vô kể. Đừng vội vàng kết luận chắc chắn rằng ai đó đã là bậc Tu-đà-hoàn hay A-la-hán. Bởi vì tính chất của các tùy miên phiền não (anusaya) là vô cùng...” ## TRANG 709 Vì phiền não vốn vi tế, nên việc nhận biết chúng đã được đoạn tận bởi Đạo trí (Magga) hay chưa là một điều cực kỳ khó khăn. Một hành giả dù có đầy đủ ba-la-mật, nỗ lực tinh tấn đến mức từ bỏ cả mạng sống, và trí tuệ đã thấu triệt được bản chất thực sự của Danh-Sắc (Rupa-Nama), thì đôi khi họ vẫn có thể cảm nghiệm được sự an tịnh do Danh-Sắc tạm thời tịch diệt. Khi ấy, các phiền não ở tầng bậc *Vītikkama* (thô) và *Pariyuṭṭhāna* (trung) của hành giả không biểu hiện ra những hành vi thô tháo mà lặng lẽ ẩn tàng. Trong tình huống này, vị thầy có thể lầm tưởng hành giả đã thực sự chứng đắc Đạo Quả và đưa ra phán đoán sai lầm. Nếu vị thầy đối chiếu với kinh điển và thấy có vẻ tương hợp, vị ấy có thể tán thán "Lành thay" (Sādhu) ba lần, rồi khuyên bảo hành giả giữ quân bình Ngũ Lực (Bala) để tiếp tục tiến bước trên con đường tu tập. **Cả Thầy và Trò Đều Có Lỗi** Ví như cây đại Bồ-đề sum suê cành lá khiến người chiêm bái cảm thấy hân hoan. Nếu ai đó bẻ gãy những mầm non thì cây sẽ trở nên suy yếu và không thể sớm xanh tốt trở lại. Cũng vậy, hành giả giống như cây đại Bồ-đề đang vươn cao những mầm mống Đạo Quả. Người nào đưa ra phán quyết sai lầm, xem những trạng thái chưa phải Đạo Quả là Đạo Quả, thì chẳng khác nào người bẻ gãy những mầm non Đạo Quả trên cây Bồ-đề ấy. Về phần người đệ tử, khi ấy có thể tự mãn rằng: "Ta đã chứng đắc quả vị Tu-đà-hoàn" rồi dừng lại nghỉ ngơi, không tiếp tục nỗ lực. Dù đã chứng quả vị Tu-đà-hoàn như Ngài Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc) hay bà Visākhā thì các hạt giống phiền não ngũ ngầm (*Anusaya*) và ái dục vẫn có thể trỗi dậy. Một người vốn có khả năng chứng đắc Đạo Quả thực sự ngay trong kiếp này, nhưng vì vị thầy phán quyết quá sớm khiến họ an tâm mà dừng việc tu tập, dẫn đến đại họa cho đệ tử. Vị thầy thì phạm lỗi "bẻ mầm Đạo Quả". Cả hai đều chịu tổn thất lớn lao. "Ngay cả sau khi đã phán quyết rằng một người thực sự là bậc **Thánh (Ariya)**, vẫn cần phải theo dõi ít nhất bảy năm để xem các phiền não ngủ ngầm (**Anusaya**) có trỗi dậy hay không, và xem ba nghiệp (thân, khẩu, ý) có còn xao động hay không. Hãy hết sức cẩn trọng!" – Ngài dạy như thế. Đây chính là "bản văn thạch chú" mà tất cả các tông phái trong truyền thống Pháp hành (*Paṭipatti*) tại Myanmar cần phải ghi khắc và tuân thủ mãi mãi. ## TRANG 710 Ngày 6 tháng Kế Thăng (Tawthalin) năm 1353 (17/09/1992). Bản thảo này đã được bổ sung và biên tập lại để chuẩn bị dàn trang vi tính. Xin hãy trân trọng giữ gìn bản thảo này. (Cầu chúc tất cả chúng sinh được an lạc... Chia phước, chia phước, chia phước...) ## TRANG 711 Dành cho chuyến du hành tâm linh đến châu Âu, đây là tác phẩm **Cách Sống Đời An Lạc** của Ngài Cố vấn Tuyên úy Vùng núi Sayadaw U Uttamasāra, do cư sĩ Dhammācariya U Htay Hlaing đặc biệt biên soạn. Tác phẩm gồm 5 chương bao gồm: **Kamma-niyāma** (Định luật nghiệp báo), Uy lực của Tâm Từ (Mettā), Năng lực của các bài kinh hộ trì (Paritta), Lớp học về cách đối diện cái chết, và chương về **Thiền định và Thiền quán (Samatha-Vipassanā)**. Nội dung chứa đựng những câu chuyện thực tế ở hiện tại, các phương pháp thực hành tự thân và những sự kiện kỳ diệu trong đời. Chuyện về việc dùng Tâm Từ để hóa giải cuộc tranh giành chức vụ tại đại sứ quán, hay những vụ kiện tụng gay gắt giữa chủ nhà và người thuê nhà đã thành công tốt đẹp như thế nào. Câu chuyện hai lần gặp gỡ các vị minh sư (*Wizzadhar*) và sáu lần được vị Đại thần hộ sơn đến thăm. Sự kỳ diệu của nước hộ trì (nước chú) sôi sùng sục khiến lửa không thể bén tới, việc chữa khỏi nhiều loại bệnh nan y như ung thư, và hào quang chói lọi của **Thiền định (Samatha)** tỏa rạng từ đỉnh núi Chin cùng những trải nghiệm sâu sắc về **Thiền định và Thiền quán**. Lời tựa của người biên soạn – Dhammācariya U Htay Hlaing, cùng những phân tích về các hiện tượng lạ và những lời đồn thổi. Tác phẩm **Người Lữ Hành Tâm Từ** (Phần 1 và Phần 2) của Sayadaw U Uttamasāra do Dhammācariya U Htay Hlaing biên soạn. Những ghi chép thực tế của Ngài Sayadaw U Uttamasāra cùng lời giới thiệu đặc biệt và những trải nghiệm hành trình của người biên soạn, cách nhìn nhận thế giới xung quanh, thái độ sống để mang lại lợi ích, những câu chuyện có thật, những bức ảnh lịch sử và những điều kỳ bí về đại ngàn Mahāmyaing. Lịch sử hoằng pháp và tình hình tôn giáo tại vùng Assam, Manipur; các cộng đồng Phật giáo vùng Kosambī; những sai lầm trong việc tạc tạo tôn tượng Đức Phật; lịch sử chuỗi hạt (**Mālā**); lịch sử truyền giáo vùng núi và lịch sử người Chin... ngoài ra còn bao gồm những phương thuốc dân gian hiệu nghiệm mà không y văn nào có được... và nhiều nội dung khác. ## TRANG 712 **Bậc Thánh Mẫu Mực Thời Kỳ Ceylon (Sri Lanka)** Cuốn sách này là tập đầu tiên của bộ "Những Bậc A-la-hán Đặc Biệt", trình bày các chuỗi lịch sử cùng với những minh chứng khảo cổ thực tế, hình ảnh và bản đồ về thời kỳ đầu của Giáo pháp tại Myanmar qua các vùng Hanlin, Beikthano và Sri Ksetra. Nội dung bao gồm nhiều phân tích lịch sử và giáo lý quan trọng như: Lịch sử Ngài Đại trưởng lão Buddhaghosa và các bản Chú giải; mối quan hệ giữa Ceylon và Myanmar; những bậc đặc biệt tại Ceylon và kinh nghiệm tu chứng của các ngài; lịch sử đầy đủ của Giáo hội Ceylon; khẳng định Thuyết Theravāda không phải là Tiểu thừa (Hinayana); Ngài Upagutta vốn thuộc Đại thừa (Mahayana); những phân tích về quan điểm Đức Phật Gotama là người Miến Điện, v.v. **Người Sẽ Nắm Giữ Thế Giới** Sau 12 năm vắng bóng, cuốn sách này đã được chính thức tái bản theo đúng nguyên tác. Tác phẩm đi sâu vào những bí mật và sấm truyền của các bậc có thần thông (Vijja Gandhari), tiểu sử của các vị Tỳ-kheo có khả năng thi triển thiền định phi hành, đồng thời nhận định tình hình thế giới hiện nay dưới nhiều góc độ như khoa học, tâm lý học và Tạng Diệu Pháp (Abhidhamma). Cuốn sách tập hợp những tầm nhìn về tương lai thế giới từ các bậc có khả năng thấu thị khắp nơi, lời tiên đoán của các nhà khoa học lỗi lạc và lời huyền ký của các bậc Thánh A-la-hán cao thượng. Một cuốn sách hội tụ tri thức phong phú đáng để chiêm nghiệm. Những năm trước, người ta phải tìm mua với giá đến 2000 Kyat mỗi cuốn, nhưng nay chỉ còn 35 Kyat. ## TRANG 713 Các tác phẩm đã xuất bản của **Dhamma-cariya U Htay Hlaing** **Ân Đức Tam Bảo (Những câu chuyện thực tế)** Dành cho những bậc cha mẹ mong muốn truyền lại di sản Phật giáo chân chính và thuần khiết cho con cái. Sách trình bày các pháp tu thực hành từ cấp độ căn bản nhất của tôn giáo đến các khóa tu thiền định (Samatha) và thiền quán (Vipassana). Sách bao gồm khoảng 40 câu chuyện thực tế đầy cảm hứng về năng lực của bố thí (dana), trì giới (sila), lòng từ (metta) và sự thật (sacca). Có thể coi đây là cuốn sách lớn về sự hưng thịnh và hạnh phúc cho mọi người qua những phần như "Tầm nhìn rộng mở về nguyện ước", trên 500 trang. **Cư sĩ Anāgāmī Sayagyi Thet Gyi** Cuốn sách viết về pháp tu Niệm hơi thở (Anapanasati) một cách rõ ràng nhất để bất kỳ ai biết đọc cũng có thể hiểu được. Sách gồm ba phần lớn: Cuộc đời, Pháp hành và Ân đức của ngài. Sách trình bày những ghi chép thực tế về việc các vị giáo sư, tiến sĩ nước ngoài đã thay đổi một cách phi thường như thế nào thông qua phương pháp hành thiền của Sayagyi Thet Gyi. Các bức ảnh lịch sử được in trang trọng trên giấy bóng kính cao cấp. **Thuyết Phục Hồi Phạm Trú (Giải thích về Tâm Từ)** Trình bày những năng lực đặc biệt của Tâm Từ xuất hiện trong năm bộ Nikāyā, đồng thời phân tích đối chiếu với khoa học và tâm lý học. Sách nêu lên cách ứng dụng Tâm Từ trong thực tế của nhiều bậc đặc biệt, cùng những câu chuyện về Tâm Từ từ thời sơ khai đến nay. Cách lan tỏa năng lượng từ ái, phương pháp thiết lập thiền định Tâm Từ và chuyển từ thiền Tâm Từ sang thiền quán... Đây là cuốn sách rõ ràng, sâu sắc và dễ hiểu nhất về Tâm Từ. ## TRANG 714 **Bạn Đồng Hành** Từng tập trong loạt sách "Bạn đồng hành" sẽ lần lượt được ra mắt. "Bạn đồng hành" sẽ chỉ dẫn cho độc giả con đường đi thẳng và ngắn nhất để đạt tới đích đến mong muốn. Trên lộ trình ấy vốn có nhiều khó khăn trong tăm tối, nhiều lối rẽ có thể dẫn đến vực thẳm. Sách sẽ giúp loại bỏ và làm sạch những tạp chất độc hại đã thâm nhập vào Giáo pháp Theravāda thuần túy. Trên con đường cần đi, sách sẽ chỉ tuyển chọn và hướng dẫn những điểm cốt yếu quan trọng nhất mà hành giả bắt buộc phải mang theo. Trong bối cảnh có quá nhiều tài liệu được viết và giảng giải ở khắp nơi, dù đều là những điều tốt đẹp từ Tam Tạng nhưng đọc không xuể, nghe không chán, trong khi tuổi thọ thì ngắn ngủi mà việc dư thừa lại quá nhiều. Giữa những khó khăn đó, thay vì lãng phí thời gian vào những kiến thức bất tận, chúng tôi chỉ tuyển chọn và dẫn dắt những điều cần tránh, những việc cần làm để thực hành ngay lập tức. ## TRANG 715 # Ghi Chép Lịch Sử Giáo Pháp Myanmar ### Đạo luật Pháp (Dhammata) (Tập 1, Tập 2, Tập 3) Những câu chuyện người thật việc thật về những bậc anh hùng trong hạnh bố thí (dāna), anh hùng trong giới hạnh (sīla), anh hùng trong thiền định (bhāvanā); những sự mầu nhiệm của tâm từ (mettā), những nạn tai từ bão tố, trộm cướp, sát nhân, bùa chú, và các loài phi nhân (amanussa), cùng những câu chuyện kinh nghiệm thực tế về ân đức Phật (Buddhaguṇa). Ký sự những chuyến du hành hoằng pháp (Dhammadūta) tại Hoa Kỳ và Ấn Độ; những tin tức về sự thành công trong công cuộc truyền bá giáo pháp ra thế giới của Thiền viện Mahāsi. Vị giáo sư cúng dường toàn bộ tài sản; thầy trò mỗi ngày tụng niệm cúng dường Tam Tạng Kinh Điển (Piṭaka); vị bác sĩ chuẩn bị phẫu thuật với tâm niệm thiết lập Tứ Niệm Xứ (Satipaṭṭhāna); các bậc Thánh Alahan từ thị trấn Banmauk và làng Hanlin. Những hình ảnh về việc người dân Ấn Độ hàng trăm ngàn người đã quy y theo Phật giáo dưới sự hướng dẫn của Ngài Sayadaw U Candramaṇi — người đã cống hối trọn đời hoằng pháp tại Ấn Độ, thiết lập từ các trường tiểu học đến các trường cao đẳng và đại học. Những vị như Anagarika Dharmapala, Đại tá Olcott của Hải quân Hoa Kỳ, và Tiến sĩ Luật học Ambedkar — những người đã hy sinh mạng sống để khôi phục lại sự rạng rỡ của Giáo pháp tại Trung vùng Ấn Độ (Majjhimadesa), nơi Đức Phật đã đản sinh. Ngài Sayadaw "Payin Twin" — người nhận danh hiệu Rajaguru, đầy đủ thần thông (iddhipāda), đã hoằng pháp theo truyền thống Nguyên thủy (Theravāda) tại Manipur và Assam. Ngài Sayadaw vùng Rakhine — Ashin Saramedha, người nhận ba danh hiệu Rajaguru, đã khôi phục lại Phật giáo Nguyên thủy tại Bangladesh. Cách mà Phật giáo Nguyên thủy được thiết lập tại Nepal bởi dòng dõi quý tộc Sakya với sự hy sinh cả mạng sống; những sự kiện đặc biệt đáng ghi vào lịch sử Giáo pháp đã được ghi chép chi tiết. Ấn phẩm Tiếng nói của Đức Phật (Buddha Ashan Sarpe) Hộp thư số 1323 Bưu điện Trung tâm, Yangon. Điện thoại: 65211. ## TRANG 716 ### CÁC BẬC ALAHAN VÀ NHỮNG BẬC ĐẶC BIỆT (Cuốn thứ hai) Trong khi viết tập "Các Bậc Alahan Và Những Bậc Đặc Biệt", chúng tôi vẫn tiếp tục ghi chép về những bậc đặc biệt còn tại thế mà trước đây đã tạm để lại, cũng như những vị mà lúc đó chúng tôi chưa được biết đến. Tập thứ hai (khổ lớn) của bộ sách "Các Bậc Alahan Và Những Bậc Đặc Biệt" — Phần thứ tư: Thời Hiện Đại và Phần Bổ Sung — sẽ tiếp tục được xuất bản. Quý vị sẽ được đọc những câu chuyện đáng tôn kính và đầy cảm hứng về các bậc Alahan đặc biệt trong thời đại ngày nay như: Ngài Sayadaw Webu, Mahāsi, Taungpulu, Kanti, Shwe-u-daung Taung, Sagaing-Saryay, Salin-Kanle, Myaing-Zeetaw, Banmauk-Wet-thukkhan, Hanlin-gyi, Ava-Tada-oo, động phía Bắc Kyaukpadaung, Ngài Sayadaw hang Bagan Kyat, Ngài Sayadaw Tawku, và các vị khác. Quý vị cũng sẽ được chiêm bái hình ảnh và xá lợi của các bậc đại trưởng lão: Webu, Saryay, Kanle, Zeetaw, Tada-oo, Thaton Jetawun, và Ngài Sayadaw Mogok. Chúng tôi cũng tha thiết kính thỉnh những vị đã từng có cơ hội gần gũi, thân cận với các bậc thánh nhân kể trên gửi về cho chúng tôi những tư liệu, ý kiến đóng góp và hình ảnh.