=== REPORT: Leftover 'TRANG X' page numbers === File: /home/tuan-nguyen/.openclaw/workspace/013-tieu-su-cac-bac-alahan/ver-1/Gemini-3-Flash/merged-all-vi.md Total lines: 12714 Found: 31 leftover page number(s) Line 15: "(Trích Pháp thoại Vô minh và Cội rễ của Hành giả (Vipassanā-a-chay-khan), trang 115, của Ngài Đại trưởng lão Mahāsi Sayādaw vào năm 1320 Miến lịch.)" Page number: TRANG 115 Context: L13: “Điều đang được thuyết giảng này không phải là lời của riêng vị sư này (bản sư), cũng không phải chỉ là những gì được rút ra từ kinh nghiệm của một, hai, năm hay mười hành giả tâm đắc rồi đến trình pháp mà chúng tôi lấy đó làm bài giảng. Hiện nay, đã có rất nhiều người thực chứng; số lượng hành giả nhận ra sự thật này đã lên đến hàng trăm người rồi. Chính dựa trên sự thực chứng đúng như vậy mà giáo pháp này đang được truyền giảng.” L14: L15: (Trích Pháp thoại Vô minh và Cội rễ của Hành giả (Vipassanā-a-chay-khan), trang 115, của Ngài Đại trưởng lão Mahāsi Sayādaw vào năm 1320 Miến lịch.) L16: L17: “... Những người đã thực hành theo đúng sự chỉ dẫn, cảm thấy hài lòng với tuệ giác Minh sát (Vipassanā) đạt được và đã đắc chứng Pháp đặc biệt, Đạo Quả, số lượng ấy đã vượt quá một trăm ngàn người.” Line 21: "(Trích Các bài pháp truyền bá giáo pháp thế giới – Trang 33, 50.)" Page number: TRANG 33 Context: L19: Theo lời tuyên bố: “Này các tỳ-kheo, bất cứ ai (lược trích)... cho đến bậc Tam quả (Anāgāmī), dù chưa đạt đến đó thì quả vị Tu-đà-hoàn (Sotāpanna), quả vị A-na-hàm (Anāgāmitā)... lời xác nhận và giáo huấn đó là chắc chắn. Chính vì vậy, trong thời đại hiện nay, theo đúng như kinh điển Tứ Niệm Xứ (Satipaṭṭhāna) đã dạy, bắt đầu từ việc quan sát sự phồng và xẹp (của bụng), cho đến các cử động thân thể, các cảm thọ, các trạng thái tâm, và bất cứ bản chất pháp nào hiện khởi rõ rệt – bằng cách liên tục ghi nhận mỗi khi chúng xuất hiện, thì chỉ với khoảng một hoặc hai tháng nỗ lực thực hành, đã có rất nhiều người trực tiếp chứng ngộ Niết-bàn (Nibbāna).” L20: L21: (Trích Các bài pháp truyền bá giáo pháp thế giới – Trang 33, 50.) L22: L23: ## TRANG 3 Line 829: "(Vào khoảng năm 100 Phật lịch, dưới thời vua **Duttabaung**, người cùng thời với vua **Kālāsoka**, nhà vua đã chứng đắc quả Tu-đà-hoàn; Hoàng hậu, Thái tử và Công chúa cũng đều trở thành các bậc Trưởng lão, Trưởng lão ni A-la-hán. Chi tiết xin xem tại chương "Sasanā thời kỳ đầu tại Myanmar", trang 123, cuốn sách "Các bậc Thánh giả tiêu biểu thời kỳ Sri Lanka" do chúng tôi biên soạn)." Page number: TRANG 123 Context: L827: Dù lúc bắt đầu có ý định đúng đắn và sẵn sàng hy sinh mạng sống để tu tập, nhưng hiện nay vẫn có vô số người vì những sự cám dỗ không thể thấy trước dọc đường mà tách khỏi con đường **Majjhima-patipadā** (Trung Đạo). L828: L829: (Vào khoảng năm 100 Phật lịch, dưới thời vua **Duttabaung**, người cùng thời với vua **Kālāsoka**, nhà vua đã chứng đắc quả Tu-đà-hoàn; Hoàng hậu, Thái tử và Công chúa cũng đều trở thành các bậc Trưởng lão, Trưởng lão ni A-la-hán. Chi tiết xin xem tại chương "Sasanā thời kỳ đầu tại Myanmar", trang 123, cuốn sách "Các bậc Thánh giả tiêu biểu thời kỳ Sri Lanka" do chúng tôi biên soạn). L830: L831: ## TRANG 99 Line 1167: "Trong bộ "Visuddhi-dīpanī" (Biên soạn bởi ngài **Uttamārāma** thuộc hệ phái Aranyavasi vùng Chiang Mai và được hiệu đính bởi Ngài Kyapinn Sayadaw – bậc danh sư được ban danh hiệu “**Kavindābhi Sīrisaddhammadhaja Mahādhamma Rājādhirājaguru**”; ấn bản nhà in Myanmar Thandawsint, năm 1251 Miến lịch, trang 187) có ghi chép đôi chút về các bộ kinh sách Thiền định và những bậc Thánh giả biên soạn chúng vào thời Pagan." Page number: TRANG 187 Context: L1165: Mặc dù các minh chứng về giáo pháp thực hành (*Paṭipatti Sāsana*) thời Pagan không thể trình bày một cách chi tiết, nhưng rõ ràng là các pháp môn thiền định (*Kammaṭṭhāna*) đã phát triển và lan rộng rất mạnh mẽ. Có thể thấy rằng các pháp môn **Brahmavihāra** (Pháp hành Phạm trú/Tâm từ), **Buddhānussati** (Niệm Phật) và **Ānāpāna-kammaṭṭhāna** (Niệm hơi thở) được sử dụng vô cùng phổ biến. L1166: L1167: Trong bộ "Visuddhi-dīpanī" (Biên soạn bởi ngài **Uttamārāma** thuộc hệ phái Aranyavasi vùng Chiang Mai và được hiệu đính bởi Ngài Kyapinn Sayadaw – bậc danh sư được ban danh hiệu “**Kavindābhi Sīrisaddhammadhaja Mahādhamma Rājādhirājaguru**”; ấn bản nhà in Myanmar Thandawsint, năm 1251 Miến lịch, trang 187) có ghi chép đôi chút về các bộ kinh sách Thiền định và những bậc Thánh giả biên soạn chúng vào thời Pagan. L1168: L1169: Các danh mục được nhắc đến bao gồm: "**Mahanta Kammaṭṭhāna**" (Đại thiền tập), "**Naguṇ Kammaṭṭhāna**" (Thiền tập Nagun), "**Mahā Paṃsukū Kammaṭṭhāna**" (Thiền tập của bậc Đại Phấn Tảo Y), "**Mahā Maṅgala Thera Kammaṭṭhāna**" (Thiền tập của Trưởng lão Mahā Maṅgala), v.v. Ngoài ra còn có các đoạn trích đáng kính về nội dung kinh sách và những điểm đặc biệt của các vị tổ sư truyền thừa như sau: Line 1219: "Về hành trạng của hai vị này, trong bộ "Saccā-pāragū" (viết năm 1293 Miến lịch) của **Đại sư Kanni Sayadaw**, chương nói về "Bốn điều kiện cần thiết để thấy Niết-bàn", trang 406, có ghi lại cuộc vấn đáp giữa hai vị Đại sư này." Page number: TRANG 406 Context: L1217: Theo bộ "Visuddhi-dīpanī" đã dẫn, hai vị Trưởng lão **Naguṇ-krī** và **Naguṇ-ṅay** không chỉ là những vị thầy dạy Thiền khởi thủy truyền thừa qua nhiều thế hệ thời Pagan, mà còn được biết đến là những bậc Thánh giả (A-riya) cao thượng. L1218: L1219: Về hành trạng của hai vị này, trong bộ "Saccā-pāragū" (viết năm 1293 Miến lịch) của **Đại sư Kanni Sayadaw**, chương nói về "Bốn điều kiện cần thiết để thấy Niết-bàn", trang 406, có ghi lại cuộc vấn đáp giữa hai vị Đại sư này. L1220: L1221: ## TRANG 124 Line 1275: "Nền tôn giáo thời kỳ đó một lần nữa trở nên hỗn tạp với các yếu tố Đại thừa. Nhờ vào phước báu của đất nước Myanmar và uy đức của giáo pháp, một bậc xuất chúng đã xuất hiện để cứu vãn tình hình tương tự như ngài Shin Arahan trước đây. Vị đó chính là **Ngài Shin Dibba-cakka Rahantā-htway**. Đúng như tên gọi **Dibba-cakka** (Thiên nhãn), ngài là một vị Trưởng lão A-la-hán đắc Thần thông. Các bộ sử Phật giáo ghi rằng, theo lời thọ ký của Đức Phật và với sự trợ giúp của Thiên chủ Sakka (Đế Thích), ngài đã từ thành Vesālī (Tỳ-xá-ly) du hành sang đây. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng chi tiết này có phần mang tính huyền thoại hóa. Bởi vì vào thời kỳ đó, Vesālī không còn là nơi có thể xuất hiện bậc A-la-hán như ngài Shin Dibba-cakka nữa. Cuối thế kỷ 12, tình hình Phật giáo tại Ấn Độ vô cùng bi đát. Theo District Gazetteer của Mr. Morley (4, 26), năm 1193 là thời kỳ mà hàng ngàn tu sĩ đã phải đổ máu và Phật giáo hoàn toàn bị nhổ tận gốc rễ (theo Lịch sử Đức Phật của ngài U Nārada Me-gha-wa-ti, trang 49). Tuy nhiên, nếu xét theo văn phong truyền thống thì vẫn ghi là Vesālī thuộc Trung Ấn." Page number: TRANG 49 Context: L1273: Sau khi vương triều Bagan sụp đổ, tại các vùng như Myinsaing, tình hình trở nên loạn lạc như bó tre bị tháo lạt. Đạo Phật cũng theo đó mà suy vi. Đây là thời kỳ mà các tu sĩ tà đạo Ariyi (thuộc Đại thừa) vốn đang lẩn trốn nơi rừng sâu lại bắt đầu trỗi dậy. Vị vua Thihathu (Chủ nhân của một con ngựa trắng) đã xây dựng thành Panya (Pinya) vào năm 674 (Miến lịch). Vua có ba người con trai là Uzzana, Kyawswa và Athinhkaya Saw Yun. Người ta thấy rằng có rất nhiều tu sĩ Ariyi đã tìm đến nương tựa dưới trướng người con út Saw Yun như những thuộc hạ. Họ trở thành bạn nhậu của hoàng tử. Khi hoàng tử say khướt không thể đi lại, các tu sĩ Ariyi này đã dùng cáng khi هنگ hoàng tử về (Xem thêm trong các tài liệu phân tích về Thenu). L1274: L1275: Nền tôn giáo thời kỳ đó một lần nữa trở nên hỗn tạp với các yếu tố Đại thừa. Nhờ vào phước báu của đất nước Myanmar và uy đức của giáo pháp, một bậc xuất chúng đã xuất hiện để cứu vãn tình hình tương tự như ngài Shin Arahan trước đây. Vị đó chính là **Ngài Shin Dibba-cakka Rahantā-htway**. Đúng như tên gọi **Dibba-cakka** (Thiên nhãn), ngài là một vị Trưởng lão A-la-hán đắc Thần thông. Các bộ sử Phật giáo ghi rằng, theo lời thọ ký của Đức Phật và với sự trợ giúp của Thiên chủ Sakka (Đế Thích), ngài đã từ thành Vesālī (Tỳ-xá-ly) du hành sang đây. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng chi tiết này có phần mang tính huyền thoại hóa. Bởi vì vào thời kỳ đó, Vesālī không còn là nơi có thể xuất hiện bậc A-la-hán như ngài Shin Dibba-cakka nữa. Cuối thế kỷ 12, tình hình Phật giáo tại Ấn Độ vô cùng bi đát. Theo District Gazetteer của Mr. Morley (4, 26), năm 1193 là thời kỳ mà hàng ngàn tu sĩ đã phải đổ máu và Phật giáo hoàn toàn bị nhổ tận gốc rễ (theo Lịch sử Đức Phật của ngài U Nārada Me-gha-wa-ti, trang 49). Tuy nhiên, nếu xét theo văn phong truyền thống thì vẫn ghi là Vesālī thuộc Trung Ấn. L1276: L1277: Dù thế nào đi nữa, việc một vị A-la-hán tên là Shin Dibba-cakka đã hoằng dương giáo pháp vào thời kỳ đó là một sự thật hiển nhiên. Chúng tôi xin tóm tắt lại theo nội dung trong sách Vaṃsadīpanī như sau: Line 1604: "Liên quan đến vị Sa-di kiệt xuất Sumedha, ngày nay tại vùng Pa-khang-kyi vẫn còn những dấu tích lịch sử. Theo sách *Những điều cần biết về Pa-khang-kyi* (trang 140–141) của tác giả Pa-khang Kyaw:" Page number: TRANG 140 Context: L1602: **Bằng chứng tại Pa-khang** L1603: L1604: Liên quan đến vị Sa-di kiệt xuất Sumedha, ngày nay tại vùng Pa-khang-kyi vẫn còn những dấu tích lịch sử. Theo sách *Những điều cần biết về Pa-khang-kyi* (trang 140–141) của tác giả Pa-khang Kyaw: L1605: L1606: Nằm ngay sát hành lang phía Đông của đại tự viện Pa-khang là tu viện Kyauk-ka. Line 1656: "Tôi xin trích dẫn nguyên văn đoạn này từ tác phẩm nổi tiếng "Sīlavisodhanī" (trang 85-88) của Ngài Thiền sư Namaw đời thứ ba, hiệu là Đại đức **Vinandāsabha**, viết vào năm 1199:" Page number: TRANG 85-88 Context: L1654: Câu chuyện về việc Ngài Thiền sư Taung-phila trên đường trở về từ thánh tích dấu chân Phật đã đến thăm Ngài Thiền sư Shwe-u-min đã đi vào sử sách. Ngài Thiền sư Shwe-u-min bấy giờ thường sống ẩn dật tại thành Pakhangyi với duy nhất một người nam cư sĩ phụ tá (Kappiya). Phân đoạn gặp gỡ giữa Ngài Thiền sư Shwe-u-min đạo hạnh và Ngài Thiền sư Taung-phila vô cùng thú vị và đầy sự tịnh tín. (Chùa Shwe-u-min nằm ở phía bắc thành phố). L1655: L1656: Tôi xin trích dẫn nguyên văn đoạn này từ tác phẩm nổi tiếng "Sīlavisodhanī" (trang 85-88) của Ngài Thiền sư Namaw đời thứ ba, hiệu là Đại đức **Vinandāsabha**, viết vào năm 1199: L1657: L1658: [ Các vị Thiền sư trụ trì chùa Maṇiratana, chùa Pubbārāma và Ngài Thiền sư Shwe-u-min hiệu là **Jambudhaja** ở Pakhang đều là thầy của tất cả các bậc giáo thọ sư đương thời. Về mặt kinh điển, không ai vượt qua được các Ngài; kiến thức của các Ngài vô cùng sâu rộng và xác thực. Line 1794: "(Kinh Chuyển Pháp Luân, trang 122-3)" Page number: TRANG 122-3 Context: L1792: L1793: — Đại trưởng lão Mahāsi Sayadaw L1794: (Kinh Chuyển Pháp Luân, trang 122-3) L1795: L1796: --- Line 1829: "Khi một hành giả có niềm tin kiên cố và nắm bắt được một nguồn năng lượng tự nhiên nào đó, những nguồn lực vô biên cùng bản chất trong khắp các cõi giới sẽ tuôn chảy mãnh liệt như đê vỡ, giúp hành giả dẫm nát và tiêu diệt kẻ thù. Chính hành giả sẽ phải kinh ngạc trước thực tại đó. Chẳng phải Đức Phật toàn giác cũng đã từng sử dụng và phô diễn những nguồn năng lượng tự nhiên vô song và không giới hạn này đó sao? Điều đáng tiếc là chính các hành giả thường không nhận diện được đâu là kẻ thù, đâu là bạn đồng hành, rồi tự mãn rằng “ta đang làm việc tốt” mà sinh lòng cao ngạo, thiếu hiểu biết, thiếu đức tin và sống hờ hững. Chính lúc đó, trái tim của hành giả đã rơi vào tay kẻ thù. (*“Này các Tỳ-kheo, kẻ còn chấp ta là đang bị Ma vương trói buộc”* - Kinh Yavakālāpī, Tương Ưng Bộ 4, trang 410)." Page number: TRANG 410 Context: L1827: Do đó, đối với một hành giả, sự chướng ngại không chỉ đơn thuần là chuyện ma nhát quỷ nhương, mà nó giống như một ván cờ vây hay cờ tướng, đầy rẫy những cạm bẫy tinh vi đánh vào những chỗ sơ hở để từng bước thâm nhập. Tuy nhiên, dù vô minh có to lớn và dày đặc đến đâu, nó cũng không bao giờ có đủ sức mạnh bằng minh (vijjā). Dù các chướng ngại có nhiều đến mấy, dù những chiêu trò lừa mị có xảo quyệt đến đâu, ta cũng không cần phải bận tâm. Nếu có thể nhận được sự trợ giúp từ những nguồn năng lượng thuận tự nhiên, ta có thể dễ dàng nghiền nát và đập tan mọi trở lực để giành lấy chiến thắng. Chẳng phải một thành phố dù rộng lớn đến đâu cũng có thể bị thiêu rụi thành tro bụi chỉ trong chớp mắt bởi một que diêm nhỏ bé đó sao? L1828: L1829: Khi một hành giả có niềm tin kiên cố và nắm bắt được một nguồn năng lượng tự nhiên nào đó, những nguồn lực vô biên cùng bản chất trong khắp các cõi giới sẽ tuôn chảy mãnh liệt như đê vỡ, giúp hành giả dẫm nát và tiêu diệt kẻ thù. Chính hành giả sẽ phải kinh ngạc trước thực tại đó. Chẳng phải Đức Phật toàn giác cũng đã từng sử dụng và phô diễn những nguồn năng lượng tự nhiên vô song và không giới hạn này đó sao? Điều đáng tiếc là chính các hành giả thường không nhận diện được đâu là kẻ thù, đâu là bạn đồng hành, rồi tự mãn rằng “ta đang làm việc tốt” mà sinh lòng cao ngạo, thiếu hiểu biết, thiếu đức tin và sống hờ hững. Chính lúc đó, trái tim của hành giả đã rơi vào tay kẻ thù. (*“Này các Tỳ-kheo, kẻ còn chấp ta là đang bị Ma vương trói buộc”* - Kinh Yavakālāpī, Tương Ưng Bộ 4, trang 410). L1830: L1831: ### Giáo pháp đầy rẫy hiểm nguy Line 1851: "Sau khi Ngài thành Phật, những chướng ngại vẫn tiếp diễn không ngừng: từ những xung đột trong Tăng đoàn, sự xuất hiện của các vị Phật giả hiệu, cho đến những kẻ trà trộn vào giáo pháp để đánh cắp đạo lý rồi rêu rao rằng “chúng tôi cũng thuyết giảng và thực hành như thế”. Rồi những vụ vu khống bằng phụ nữ, sự đối đầu quan điểm của các đại phạm thiên chấp ngã như Baka, và cuối cùng là những âm mưu ám hại cho đến tận khi Ngài nhập Niết-bàn. Nếu đã như vậy, thì hành giả nào có thể thoát khỏi vòng vây của hắn? Không nên lầm tưởng rằng chỉ cần giữ chánh niệm trong hành thiền là đã đủ an toàn. (*“Bậc có chánh niệm luôn được bảo vệ tốt, nhưng không thể dễ dàng thoát khỏi kẻ thù”* - Kinh Maṇibhadra, Tương Ưng Bộ 1, trang 210)." Page number: TRANG 210 Context: L1849: Vào khoảnh khắc đó, các thế lực bản ngã đã huy động toàn bộ binh lực và khí giới mà họ có. Ma vương không hề chậm trễ, hắn đích thân ra tiền tuyến. Với đạo binh và khí giới vô biên, hắn hòng chiếm đoạt tòa Kim Cang. Không phải vì hắn muốn ngồi lên đó, mà vì hắn sợ Ngài thành Phật. (Một số học giả Pali ở châu Âu, do không thấu hiểu bản chất này, đã lầm tưởng rằng: “Ma vương không phải là một thực thể hữu hình, mà chỉ là một cách ẩn dụ cho những diễn biến trong tâm thức”). L1850: L1851: Sau khi Ngài thành Phật, những chướng ngại vẫn tiếp diễn không ngừng: từ những xung đột trong Tăng đoàn, sự xuất hiện của các vị Phật giả hiệu, cho đến những kẻ trà trộn vào giáo pháp để đánh cắp đạo lý rồi rêu rao rằng “chúng tôi cũng thuyết giảng và thực hành như thế”. Rồi những vụ vu khống bằng phụ nữ, sự đối đầu quan điểm của các đại phạm thiên chấp ngã như Baka, và cuối cùng là những âm mưu ám hại cho đến tận khi Ngài nhập Niết-bàn. Nếu đã như vậy, thì hành giả nào có thể thoát khỏi vòng vây của hắn? Không nên lầm tưởng rằng chỉ cần giữ chánh niệm trong hành thiền là đã đủ an toàn. (*“Bậc có chánh niệm luôn được bảo vệ tốt, nhưng không thể dễ dàng thoát khỏi kẻ thù”* - Kinh Maṇibhadra, Tương Ưng Bộ 1, trang 210). L1852: L1853: ## TRANG 162 Line 2077: "Câu chuyện về sự viên tịch kỳ lạ của hai anh em Ngài Sayadaw được ghi lại trong tác phẩm ‘Visuddhimagga Arathar’ (trang 129) của Ngài Nyaung Lay Pin Taw Ya Sayadaw U Ariya. Tuy nhiên, trong cuốn sách đó ghi vị sư khách là sư huynh của Ngài Taung Lay Lone Sayadaw. Dựa trên các tình tiết nghiên cứu trong ‘Dhammapiya Jetmon’, có nhiều khả năng đó chính là sư đệ Dhammapiya. Vì thế, tôi ghi lại ở đây là “sư đệ U Dhammapiya”." Page number: TRANG 129 Context: L2075: Vị sư khách ấy không ai khác chính là sư đệ của Ngài Taung Lay Lone Sayadaw — Ngài U Dhammapiya. L2076: L2077: Câu chuyện về sự viên tịch kỳ lạ của hai anh em Ngài Sayadaw được ghi lại trong tác phẩm ‘Visuddhimagga Arathar’ (trang 129) của Ngài Nyaung Lay Pin Taw Ya Sayadaw U Ariya. Tuy nhiên, trong cuốn sách đó ghi vị sư khách là sư huynh của Ngài Taung Lay Lone Sayadaw. Dựa trên các tình tiết nghiên cứu trong ‘Dhammapiya Jetmon’, có nhiều khả năng đó chính là sư đệ Dhammapiya. Vì thế, tôi ghi lại ở đây là “sư đệ U Dhammapiya”. L2078: L2079: ## TRANG 175 Line 2089: "Ngoài ra, trong nội dung của tập “Amatadvāra Shwebwe” (Tập 2, trang 66), chúng ta còn đọc được một lời giáo huấn đặc biệt mà Ngài đã để lại cho hậu thế. Lời huấn thị đó như sau:" Page number: TRANG 66 Context: L2087: Ở hầu hết các tập quán chiếu, Ngài thường tự tay dùng bút chì sắt khắc ghi những lời trên vào lá buối ở phần kết thúc. Theo đúng nguyện vọng đó, từ năm 1164 (lịch Myanmar), tức là khá lâu trước khi Ngài viên tịch, nhà in “Rammapura” ở thành phố Mawlamyine đã cho in ấn trọn bộ 12 tập quán chiếu đã hoàn thành, góp phần hiện thực hóa tâm nguyện của Ngài. Khi đó Ngài vẫn còn tại thế nên có thể đã được tận mắt chứng kiến điều này. L2088: L2089: Ngoài ra, trong nội dung của tập “Amatadvāra Shwebwe” (Tập 2, trang 66), chúng ta còn đọc được một lời giáo huấn đặc biệt mà Ngài đã để lại cho hậu thế. Lời huấn thị đó như sau: L2090: L2091: “Vào năm **Ekasaṭṭhi satasahassa** = (1161), Ngài Sayadaw xứ Catugiri đã để lại lời giáo huấn và nhắn nhủ cho những người thuộc thế hệ mai sau rằng: ‘Hãy luôn giữ chánh niệm (Sati) và nỗ lực tinh tấn (Viriya).’ Line 2481: "Vị ấy đã truyền cái tâm muốn thành Phật vào người thanh niên. Chàng thanh niên đó chính là tiền thân của Đức Phật Gotama chúng ta. (**Sotattakī Aṭṭhakathā**, trang 9-12)." Page number: TRANG 9-12 Context: L2479: Tiếp theo, xin được nói đôi chút về việc thay thế tâm trí theo hướng tốt đẹp. Thuở xưa, tại xứ Gandhāra có hai mẹ con người nghèo khổ. Người con trai được bổ nhiệm làm phó thuyền trưởng trên một con tàu đi từ Gandhāra đến Suvaṇṇabhūmi, và anh ta đã đưa mẹ đi cùng. Giữa đường gặp bão, con tàu bị đắm. Người con trai đã cõng mẹ trên lưng và bơi vượt biển. Ngoại trừ hai mẹ con, tất cả các hành khách khác đều tử nạn. Một vị Phạm thiên A-la-hán từ cõi Phạm thiên Akanittha, thấy rằng đã suốt một trăm ngàn đại kiếp không có đức Phật ra đời, con đường thiện hạnh bị đóng lại và các lâu đài ở cõi trời trở nên hiu quạnh, nên ngài đã quan sát xem có người nào đang phát nguyện thành Phật hay không. Lúc đó, chàng thanh niên tên là **Mātuposaka** (người nuôi dưỡng mẹ) đang cõng mẹ trên lưng bơi giữa biển khơi không thấy bờ bến. Vị Phạm thiên A-la-hán nhìn thấy cảnh đó và suy nghĩ: "Người này biết ơn nghĩa và có tinh thần tinh tấn lớn lao. Thật tốt nếu có thể khiến cho tâm nguyện muốn thành Phật nảy sinh trong người này". Nhờ vào thần thông của Phạm thiên, anh ta đã được cứu và phát nguyện thành Phật. L2480: L2481: Vị ấy đã truyền cái tâm muốn thành Phật vào người thanh niên. Chàng thanh niên đó chính là tiền thân của Đức Phật Gotama chúng ta. (**Sotattakī Aṭṭhakathā**, trang 9-12). L2482: L2483: Trong câu chuyện về **Thiên tử Dhamma** thuộc hệ Ekadasanipāta, **Thiên tử Dhamma** cùng với tùy tùng đã đi quanh Diêm-phù-đề (Jambudīpa) theo chiều bên phải để khuyến khích loài người làm việc thiện. Tương tự, **Thiên tử Adhamma** cũng đi theo chiều bên trái để khuyến khích làm việc ác. Vào thời kỳ sau của giáo pháp Đức Phật Kassapa, chính **Thiên chủ Sakka** đã hóa thân thành một con chó. Line 2544: "Đây là lời nhắc nhở rằng dù thiện nghiệp quá khứ (pubbe ca kata-puññatā) là yếu tố chính yếu, nhưng cần phải dùng Trí tuệ và Tấn lực của hiện tại để khơi dậy tiềm năng đó. (Xem thêm phần chú giải kinh Cakka, Tăng Chi Bộ Kinh, chương Bốn pháp). Tại trang 279 của bộ sưu tập đó, có một ghi chép rất hữu ích cho các nhà nghiên cứu: "Đại trưởng lão Thiền sư Thilone, danh hiệu Ashin Candimā Laṅkāra, sinh năm 1148 (Miến lịch) và viên tịch năm 1222. Ngài trụ thế 75 năm."" Page number: TRANG 279 Context: L2542: "Đối với những người lấy Tuệ và Tấn (Nghị lực) làm tiền đề, lại sẵn có hai loại Nghiệp (Thiện nghiệp quá khứ và hiện tại), họ sẽ nhanh chóng thọ hưởng các hạnh phúc và lợi ích ở cả thế gian lẫn xuất thế gian. Hãy ghi nhớ rằng: chỉ khi có Trí tuệ đồng hành và nỗ lực nuôi dưỡng lòng tinh tấn thì quả báu của thiện nghiệp Ba-la-mật mới có thể phát khởi mạnh mẽ." L2543: L2544: Đây là lời nhắc nhở rằng dù thiện nghiệp quá khứ (pubbe ca kata-puññatā) là yếu tố chính yếu, nhưng cần phải dùng Trí tuệ và Tấn lực của hiện tại để khơi dậy tiềm năng đó. (Xem thêm phần chú giải kinh Cakka, Tăng Chi Bộ Kinh, chương Bốn pháp). Tại trang 279 của bộ sưu tập đó, có một ghi chép rất hữu ích cho các nhà nghiên cứu: "Đại trưởng lão Thiền sư Thilone, danh hiệu Ashin Candimā Laṅkāra, sinh năm 1148 (Miến lịch) và viên tịch năm 1222. Ngài trụ thế 75 năm." L2545: L2546: ### Lễ cúng dường đức tính Nhẫn nhục (Khanti) Line 2648: "Liên quan đến sự việc đó, trong cuốn “Lịch sử Giáo hội Shwegyin” (trang 97) có ghi chú như sau:" Page number: TRANG 97 Context: L2646: Khi người ấy vừa đến nơi thì ngài đại sư đã tắm xong rồi. Sau khi xong việc, ngài liền bảo người hộ tông (kappiya) rằng: “Này thiện nam, khi ta còn sống, con không được nói chuyện này cho bất kỳ ai biết.” Ngài đã dùng lời lẽ ngăn cấm như vậy, rồi từ trên hư không ngài trở về chùa. Người hộ tông ấy mãi đến khi ngài viên tịch mới dám tiết lộ chuyện này. L2647: L2648: Liên quan đến sự việc đó, trong cuốn “Lịch sử Giáo hội Shwegyin” (trang 97) có ghi chú như sau: L2649: L2650: Ngài đại sư Thiloong không chỉ có thế gian hiệp thông (lokiya abhiññā), mà không ai dám khẳng định rằng ngài không phải là bậc Lục thông (chaḷabhiñña) cùng với lậu tận thông (āsavakkhaya). Đặc điểm của các bậc thiện tri thức là họ thường có phong thái vô cùng kín đáo và thận trọng. Line 3592: "Vị thiền sư lừng danh Mohnyin Sayadaw khi mới xuất gia tầm đạo, trước khi gặp Ngài Ledi Sayadaw, đã từng có ba tháng cầu học với Ngài Gu-Phyu Sayadaw. Trong tập **Mohnyin Therāpādāna (tử vi Trưởng lão)** (trang 82-83), đệ tử của Ngài là U Kovida đã ghi lại như sau:" Page number: TRANG 82-83 Context: L3590: ### Ngài Mohnyin Sayadaw từng cầu học L3591: L3592: Vị thiền sư lừng danh Mohnyin Sayadaw khi mới xuất gia tầm đạo, trước khi gặp Ngài Ledi Sayadaw, đã từng có ba tháng cầu học với Ngài Gu-Phyu Sayadaw. Trong tập **Mohnyin Therāpādāna (tử vi Trưởng lão)** (trang 82-83), đệ tử của Ngài là U Kovida đã ghi lại như sau: L3593: L3594: [ “Đức thầy (Ngài Gu-Phyu) không tiếp khách, không nói chuyện phiếm, Ngài ở một mình trong ngôi chùa vắng để nỗ lực hành thiền. Ban đêm, Ngài giăng một sợi dây thừng băng ngang qua tăng xá, luồn vào đó một ống tre. Ngài cầm ống tre đó để giữ thăng bằng rồi đi kinh hành không ngừng nghỉ. Đôi khi do quá buồn ngủ, Ngài va đầu vào vách tường nghe một tiếng 'đùng', khi đó Ngài chỉ thốt lên: 'Ôi khổ thay, khổ thay! Thùy miên (thina-middha) thật là lợi hại!', rồi lại tiếp tục bước đi. Ngài hành trì miên mật như vậy cho đến tận hừng đông. Do sự tinh tấn quá đỗi thiện lành đó, người dân cả vùng đều tôn xưng Ngài Gu-Phyu là bậc A-la-hán.” ] Line 5333: ""Những bậc có thần thông thế gian xảo quyệt thường phô diễn đủ loại biến hóa để thâu tóm người khác như chim đại bàng vồ lấy rồng. Vì họ chưa đắc Minh hạnh Thánh đạo thực thụ, vẫn bị sự điên đảo của tâm (*citta-vipallāsa*) che lấp nên mới phải gánh chịu như vậy. Do đó, hỡi các bậc thiện nam tín nữ, hãy nỗ lực để đạt đến Minh hạnh Thánh đạo chân chính của bậc Dự lưu (*Sotāpanna*) và các quả vị cao hơn để có thể phân biệt được thật giả." (Sách đã dẫn, trang 368.)" Page number: TRANG 368 Context: L5331: Thuyết ngã chấp thâm căn cố đế của thế gian và sự nguy hiểm của các vị trì chú theo tư tưởng Đại thừa thật đáng sợ thay. Hỡi những bậc thiện trí, hãy cẩn trọng! Chính vì thế, Thiền sư Seikkyi Sayadaw, tác giả cuốn "Ariyā-vījjā-magga-alaung-pya-kyan" (Sách Chiếu Sáng Con Đường Minh Hạnh Thánh Đạo), đã cảnh báo bằng trí tuệ thực chứng và lòng từ bi lớn lao: L5332: L5333: "Những bậc có thần thông thế gian xảo quyệt thường phô diễn đủ loại biến hóa để thâu tóm người khác như chim đại bàng vồ lấy rồng. Vì họ chưa đắc Minh hạnh Thánh đạo thực thụ, vẫn bị sự điên đảo của tâm (*citta-vipallāsa*) che lấp nên mới phải gánh chịu như vậy. Do đó, hỡi các bậc thiện nam tín nữ, hãy nỗ lực để đạt đến Minh hạnh Thánh đạo chân chính của bậc Dự lưu (*Sotāpanna*) và các quả vị cao hơn để có thể phân biệt được thật giả." (Sách đã dẫn, trang 368.) L5334: L5335: ## TRANG 356 Line 6238: "Trong thời gian đại trưởng lão Ledi Sayadaw (bậc ân sư tôn kính) lưu trú tại rặng núi Sagaing, ngài Mahāgandhārum đã đến đảnh lễ và đàm đạo. Cuộc đối thoại này đã được ngài Sayadaw chùa Thein-taung-se-gyi (hơn 70 tuổi) ghi chép lại trong tác phẩm "Ariyā-vijjā-magga Alin-pya-kyan" (1955), trang 369, với những nội dung vô cùng đáng chú ý:" Page number: TRANG 369 Context: L6236: ### Cuộc đàm đạo với đại trưởng lão Ledi Sayadaw L6237: L6238: Trong thời gian đại trưởng lão Ledi Sayadaw (bậc ân sư tôn kính) lưu trú tại rặng núi Sagaing, ngài Mahāgandhārum đã đến đảnh lễ và đàm đạo. Cuộc đối thoại này đã được ngài Sayadaw chùa Thein-taung-se-gyi (hơn 70 tuổi) ghi chép lại trong tác phẩm "Ariyā-vijjā-magga Alin-pya-kyan" (1955), trang 369, với những nội dung vô cùng đáng chú ý: L6239: L6240: **Gandhārum**: Bạch bậc Thầy, khi con hướng dẫn đề mục **Phật tùy niệm** (Buddhanussati), các đệ tử hành giả thường đắc được tướng (Nímitta) về đức Phật rất rõ ràng chỉ sau 4, 5 hoặc 7 ngày. Sau đó, khi con hướng dẫn quán chiếu sự sinh diệt của danh sắc, có những hành giả đã thấu đạt **10 tuệ quán** (Vipassanā-ñāṇa) chỉ trong vòng 7 đến 10 ngày. Trong khi đó, theo Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga), việc này được mô tả là cực kỳ khó khăn. Nhưng với những người đang thực hành hiện nay, con thấy sao mà dễ dàng quá, bạch Thầy. Line 6993: "[Trích từ chương "**Tóm lược phương pháp Định và Tuệ**" trong bộ **Pakiṇṇaka Dīpanī** tức **Moinankone Vinicchaya** quyển 2, trang 393 in năm 1295 (Miến lịch) và từ sách "**Hành trình tu tập của hội chúng**".]" Page number: TRANG 393 Context: L6991: "Đôi khi hơi thở ra vào dần trở nên vi tế và biến mất đến mức không thể tìm thấy. Khi ấy, không cần phải cố sức quá mức. Chỉ cần kiên trì chờ đợi: 'Nó sẽ đến', thì nó sẽ hiện khởi. Nếu cố gắng quá sức sẽ khiến thân tâm mệt mỏi và không đạt được định. **Sukhā samādhatthāya** — Thân tâm an lạc thì định mới phát sinh (**Sukhino cittaṃ samādhiyati**). Khi có định mới có **Như thật tri kiến** (Yathābhūtañāṇa). **Passambhayaṃ kāyasaṅkhāraṃ... sikkhati** — Chỉ cần rèn luyện để hơi thở thô trở nên vi tế. Việc cố gắng quá mức để hít thở nặng nề là không đúng với lời Phật dạy. Điều này cần phải lưu tâm. Cũng phải tránh những hành vi thô tháo đi ngược lại với việc **Hành thiền**." L6992: L6993: [Trích từ chương "**Tóm lược phương pháp Định và Tuệ**" trong bộ **Pakiṇṇaka Dīpanī** tức **Moinankone Vinicchaya** quyển 2, trang 393 in năm 1295 (Miến lịch) và từ sách "**Hành trình tu tập của hội chúng**".] L6994: L6995: Lời dạy của một vị Thầy vẹn toàn cả Pháp học (Pariyatti) và Pháp hành (Paṭipatti) thật đáng ghi nhớ. Có những người quan niệm rằng: "Vì là người phàm phu thô lậu nên phải thở thật mạnh thì mới dễ đắc định." Dù tạm thời có vẻ đúng, nhưng đối với những thiện nam tín nữ ít hiểu biết, việc chấp chặt vào đó đã dẫn đến những cảnh tượng khó coi. Line 7802: "**Trưởng lão Siggava** đã dẫn dắt Ngài Moggaliputta Tissa xuất gia và ngay lập tức thúc đẩy việc thực hành Pháp hành. Tuy nhiên, vì Ngài Tissa còn trọng trách tổ chức cuộc Kết tập Tam tạng lần thứ ba để phụng sự Giáo pháp, nên Trưởng lão chỉ hỗ trợ ngài đạt đến đạo quả Dự lưu (Sotāpanna), đủ để ngài không rời xa Giáo pháp và có tuệ giác định tĩnh chín muồi, chứ chưa đưa ngài đạt đến quả vị Alahan ngay. Thấy ngài đã nếm trải hương vị Pháp (Dhammarasa), sợ ngài sẽ sống an nhiên mà quên đi Phật sự, Trưởng lão chưa để ngài đạt đến cứu cánh cuối cùng. Sau đó, ngài được gửi đến **Trưởng lão Caṇḍavajjī** để học tập Pháp học. Ngay từ thời Sa-di, ngài đã trở thành bậc **Tam Tạng Pháp Sư** (Tipiṭakadhara). (Trích Chú giải Luật Tạng, tập Pārājika, trang 30-31)." Page number: TRANG 30-31 Context: L7800: Kể từ thời điểm đó, có thể nói trách nhiệm dạy bảo của vị Thiền sư chùa Taung Paw Gyi và Thiền sư chùa Alal Tawya đối với ngài đã hoàn tất. Hai vị Hòa thượng này giống như **Trưởng lão Siggava** và **Trưởng lão Caṇḍavajjī**, những người đã dành thời gian dìu dắt vị Bồ-tát tương lai **Moggaliputta Tissa** bước vào đường đạo. L7801: L7802: **Trưởng lão Siggava** đã dẫn dắt Ngài Moggaliputta Tissa xuất gia và ngay lập tức thúc đẩy việc thực hành Pháp hành. Tuy nhiên, vì Ngài Tissa còn trọng trách tổ chức cuộc Kết tập Tam tạng lần thứ ba để phụng sự Giáo pháp, nên Trưởng lão chỉ hỗ trợ ngài đạt đến đạo quả Dự lưu (Sotāpanna), đủ để ngài không rời xa Giáo pháp và có tuệ giác định tĩnh chín muồi, chứ chưa đưa ngài đạt đến quả vị Alahan ngay. Thấy ngài đã nếm trải hương vị Pháp (Dhammarasa), sợ ngài sẽ sống an nhiên mà quên đi Phật sự, Trưởng lão chưa để ngài đạt đến cứu cánh cuối cùng. Sau đó, ngài được gửi đến **Trưởng lão Caṇḍavajjī** để học tập Pháp học. Ngay từ thời Sa-di, ngài đã trở thành bậc **Tam Tạng Pháp Sư** (Tipiṭakadhara). (Trích Chú giải Luật Tạng, tập Pārājika, trang 30-31). L7803: L7804: Thực tế, hai vị Hòa thượng ở Taung Paw Gyi và Alal Tawya đều là những đệ tử thừa hưởng gia tài **Bất Phóng Dật** (Appamāda) từ **Ngài Thiền sư Thilon**, bậc thầy của vua Pagan và vua Mindon, một vị đã đắc sức mạnh tâm linh và thần thông (Jhāna Abhiññā). Vào thời đó, vị Thiền sư chùa Alal Tawya thậm chí còn được xưng tụng là bậc "A-na-hàm". Line 8371: "[Để tìm hiểu chi tiết về phương pháp thẩm tra một vị có phải là bậc Thánh hay không, xin mời xem thêm trong phần Chánh văn và Chú giải kinh *Chabbisodhana Sutta* thuộc *Uparipaṇṇāsa*; và các tài liệu như: *Vi-ṭṭh* (Chú giải Luật), tập 2, trang 11, phần *Pārājika* thứ tư; *Abhi-ṭṭh* (Chú giải A-tỳ-đàm), tập 2, trang 470; *Visuddhi-ṭṭh* (Chú giải Thanh Tịnh Đạo), tập 2, trang 270; *Sāratthaṭīkā*, tập 2, trang 282, cùng các tài liệu liên quan. Tuy nhiên, việc tự xét mình có phải là bậc Thánh hay không mới là điều quan trọng và cấp thiết hơn cả.]" Page number: TRANG 11 Context: L8369: Những điều này chỉ có thể nhận biết được sau một thời gian dài quan sát, với sự chú tâm hướng nội và bởi người có trí tuệ. Nếu thời gian quá ngắn, không có sự chú tâm hoặc thiếu trí tuệ thì không thể nào nhận biết được. (Đức Phật đã thuyết dạy điều này cho vua Kosala khi đức vua lầm tưởng các vị ngoại đạo là bậc A-la-hán. Trích *Kinh Bảy vị Kết tóc* - *Sattajaṭila Sutta*, chương *Sagāthāvagga*). L8370: L8371: [Để tìm hiểu chi tiết về phương pháp thẩm tra một vị có phải là bậc Thánh hay không, xin mời xem thêm trong phần Chánh văn và Chú giải kinh *Chabbisodhana Sutta* thuộc *Uparipaṇṇāsa*; và các tài liệu như: *Vi-ṭṭh* (Chú giải Luật), tập 2, trang 11, phần *Pārājika* thứ tư; *Abhi-ṭṭh* (Chú giải A-tỳ-đàm), tập 2, trang 470; *Visuddhi-ṭṭh* (Chú giải Thanh Tịnh Đạo), tập 2, trang 270; *Sāratthaṭīkā*, tập 2, trang 282, cùng các tài liệu liên quan. Tuy nhiên, việc tự xét mình có phải là bậc Thánh hay không mới là điều quan trọng và cấp thiết hơn cả.] L8372: L8373: ## TRANG 512 Line 8444: "Trong giai đoạn đầu đời, Ngài từng lập gia đình và có hai người con gái. Cả người vợ và hai con gái sau này đều đến cư ngụ tại cốc Mogok, khu vực Maggin-chaung, đồi Sagaing để xuất gia làm tu nữ. Họ luôn trì giữ các hạnh đầu đà như **Ekāsanik** (hạnh ăn một bữa) và **Pattapiṇḍik** (hạnh ăn trong bát), chuyên tâm hành thiền. Người ta thường gọi họ là "ba mẹ con bậc Dự lưu". Vào năm 1308 (ÂL), cụ bà Daw Paññā (người vợ cũ tại Mogok) đã qua đời ở tuổi 99. Đức Hòa thượng Abhi Shwe-hintha thời còn là tăng sinh cũng từng học kinh văn với Ngài và đã tận tụy phục vụ các tiểu tiết trong thời gian Ngài ẩn tu tại rừng. Trong tác phẩm "Hòa thượng Shwe-hintha và các mẩu chuyện văn học" (trang 39, 137) có ghi lại: "**Ekatowinowa-tayan** = Tất cả đã cùng nhau nương náu nơi Niết-bàn", đó là điều chúng ta nên tưởng niệm về những bậc cao đức này." Page number: TRANG 39 Context: L8442: Vì lợi ích của thế gian, lợi ích của giáo pháp, lợi ích cho bản thân và lợi ích cho tha nhân, Ngài đã không ngừng cống hiến cho đến khi viên tịch vào lúc 8 giờ tối Thứ Sáu, ngày 11 tháng Sau Trăng Tròn tháng Wazo, năm 1303 (ÂL). L8443: L8444: Trong giai đoạn đầu đời, Ngài từng lập gia đình và có hai người con gái. Cả người vợ và hai con gái sau này đều đến cư ngụ tại cốc Mogok, khu vực Maggin-chaung, đồi Sagaing để xuất gia làm tu nữ. Họ luôn trì giữ các hạnh đầu đà như **Ekāsanik** (hạnh ăn một bữa) và **Pattapiṇḍik** (hạnh ăn trong bát), chuyên tâm hành thiền. Người ta thường gọi họ là "ba mẹ con bậc Dự lưu". Vào năm 1308 (ÂL), cụ bà Daw Paññā (người vợ cũ tại Mogok) đã qua đời ở tuổi 99. Đức Hòa thượng Abhi Shwe-hintha thời còn là tăng sinh cũng từng học kinh văn với Ngài và đã tận tụy phục vụ các tiểu tiết trong thời gian Ngài ẩn tu tại rừng. Trong tác phẩm "Hòa thượng Shwe-hintha và các mẩu chuyện văn học" (trang 39, 137) có ghi lại: "**Ekatowinowa-tayan** = Tất cả đã cùng nhau nương náu nơi Niết-bàn", đó là điều chúng ta nên tưởng niệm về những bậc cao đức này. L8445: L8446: ## TRANG 516 Line 8803: "Lời phát biểu của ông **U San Thein** liên quan đến Ngài Thiền sư U Tiloka đã được đăng tải trên tạp chí tiếng Anh mang tên “The Open Door” (Cánh cửa mở), tập 1, số 3, trang 9, do “Hội Liên hữu Phật giáo” xuất bản. Hội này bao gồm các thành viên như Tổng thống **Sao Shwe Thaik**, hành giả **U Tin**, **U Tin** (Myaungmya), **U Sein Nyo Tun**, **U Tun Hla Aung**, và người Anh **U Ohn Khine** (**Mr. Maurice**, biên tập viên tạp chí *Dhammaduta* tiếng Anh). Nội dung như sau:" Page number: TRANG 9 Context: L8801: Ông **U San Thein** là một hành giả cư sĩ lỗi lạc, người từng giữ chức vụ Chủ tịch Phân ban Thực hành của Hội Phật giáo Quốc gia, chịu trách nhiệm lập danh sách và hỗ trợ có hệ thống các trung tâm thiền trên khắp Miến Điện. Ông đã tham gia hàng đầu vào công cuộc hoằng pháp của Chính phủ đồng thời với kỳ Kết tập Kinh điển lần thứ sáu. Ông là người đã thọ giáo với các bậc thầy tại Thaton Jetawun, Sunlun Gu, Webu Sayadaw và đặc biệt là Cụ Sayagyi Thetgyi. Ông cũng là người biên soạn và xuất bản hai lần cuốn thiền thư hiện đại mang tên “Yathabhuta Lambyunt” (Hướng dẫn thực tại). L8802: L8803: Lời phát biểu của ông **U San Thein** liên quan đến Ngài Thiền sư U Tiloka đã được đăng tải trên tạp chí tiếng Anh mang tên “The Open Door” (Cánh cửa mở), tập 1, số 3, trang 9, do “Hội Liên hữu Phật giáo” xuất bản. Hội này bao gồm các thành viên như Tổng thống **Sao Shwe Thaik**, hành giả **U Tin**, **U Tin** (Myaungmya), **U Sein Nyo Tun**, **U Tun Hla Aung**, và người Anh **U Ohn Khine** (**Mr. Maurice**, biên tập viên tạp chí *Dhammaduta* tiếng Anh). Nội dung như sau: L8804: L8805: Nhiều năm trước Thế chiến thứ hai, tại thị xã Nyaungdon xảy ra một trận dịch bệnh truyền nhiễm lớn. Người dân đã thỉnh cầu Đức ngài Ledi Sayadaw đến để tụng kinh Paritta và ban rải tâm từ bảo hộ. Khi đến nơi, theo thông lệ, mỗi đêm Ngài đều thuyết pháp và chỉ dẫn các biện pháp ngăn ngừa dịch bệnh. Line 9691: "Về **Túc mạng thông (Pubbenivāsa)**, những người tu tập không theo lộ trình của Giáo pháp chỉ nhìn thấy được khoảng bốn mươi kiếp quá trước một cách lờ mờ như người mù đi đường (Chú giải Luật tạng, tập 1, trang 130). Ánh sáng ấy chỉ bằng tầm con đom đóm (Thanh Tịnh Đạo, tập 2, trang 41). Tầm nhìn của họ luôn thay đổi, không vững chãi như cây cọc cắm trên đống trấu (Chú giải Trường Bộ Kinh, tập 1, trang 98). (Xem thêm Chú giải Phân Tích Đạo). Do đó, ngay cả khi một người đắc Thiên nhãn thông nói về quả báo của nghiệp, ta cũng không nên tin tưởng hoàn toàn (Kinh Đại Phân Biệt Nghiệp - Mahākammavibhaṅga Sutta)." Page number: TRANG 130 Context: L9689: xác voi mà không xem xét trước về bãi bùn lầy hay mặt biển mênh mông không lối thoát. Nếu thực sự đạt được "ngó sen" hay "xác voi" (thần thông thật) thì còn đỡ; đằng sau đó còn có bao nhiêu thứ "ngó sen, xác voi" giả tạo do ma vương lừa gạt, nhử mồi. Các bậc thiện tri thức hãy thật trọng cảnh giác! L9690: L9691: Về **Túc mạng thông (Pubbenivāsa)**, những người tu tập không theo lộ trình của Giáo pháp chỉ nhìn thấy được khoảng bốn mươi kiếp quá trước một cách lờ mờ như người mù đi đường (Chú giải Luật tạng, tập 1, trang 130). Ánh sáng ấy chỉ bằng tầm con đom đóm (Thanh Tịnh Đạo, tập 2, trang 41). Tầm nhìn của họ luôn thay đổi, không vững chãi như cây cọc cắm trên đống trấu (Chú giải Trường Bộ Kinh, tập 1, trang 98). (Xem thêm Chú giải Phân Tích Đạo). Do đó, ngay cả khi một người đắc Thiên nhãn thông nói về quả báo của nghiệp, ta cũng không nên tin tưởng hoàn toàn (Kinh Đại Phân Biệt Nghiệp - Mahākammavibhaṅga Sutta). L9692: L9693: Thuở xưa tại quốc độ Daṇḍakī, từ nhà vua trở xuống đã phạm lỗi với đạo sĩ Kisavaccha rồi cho rằng nhờ thế mà được thăng quan tiến chức, đất nước thái bình, mưa châu báu rơi xuống. Họ đã gạt bỏ luật nghiệp báo mà hành xử như vậy, để rồi cuối cùng cả vương quốc đều bị tiêu diệt (Tiền thân Sarabhaṅga - Bộ Cát-tá-li-sá). Line 9873: "Trong **“Chú giải Bộ Phân Tích Đạo”** (*Paṭisambhidāmagga Aṭṭhakathā*, Tập 1, trang 257 - phần Giải thích về Đạo trí), có một sự lý giải rất đặc biệt. Ở bậc **Nhất Lai** (*Sakadāgāmī*), “chuyện ấy” (những thô thiển của tham dâm và sân hận) không còn nữa." Page number: TRANG 257 Context: L9871: ## TRANG 589 L9872: L9873: Trong **“Chú giải Bộ Phân Tích Đạo”** (*Paṭisambhidāmagga Aṭṭhakathā*, Tập 1, trang 257 - phần Giải thích về Đạo trí), có một sự lý giải rất đặc biệt. Ở bậc **Nhất Lai** (*Sakadāgāmī*), “chuyện ấy” (những thô thiển của tham dâm và sân hận) không còn nữa. L9874: L9875: 3. **Bất Lai Đạo** (*Anāgāmi-magga*) diệt trừ tận gốc sân hận và nén chặt tham ái cho đến khi chúng trở nên yếu ớt. Line 9919: "Bàn thêm một chút về vấn đề này, sách **Mi-lan-đà Vấn Đạo** giải thích là do hình tướng cư sĩ quá yếu ớt (**Liṅgadubbala**), không đủ sức gánh đỡ phẩm hạnh và quả vị cao thượng đó, kèm theo nhiều ví dụ minh họa. Tuy nhiên, lời trong sách *Milindapañhā* có vẻ chưa chạm đến cái gốc của vấn đề. Theo quan điểm của chúng tôi, điểm mấu chốt nằm ở sự khác biệt quá lớn giữa năng lực của Pháp, giữa cái nóng phiền não và cái lạnh giải thoát. (Xem thêm *Sammohavinodanī Aṭṭhakathā*, trang 505...)" Page number: TRANG 505 Context: L9917: Trong sách **Mi-lan-đà Vấn Đạo** (*Milindapañhā*) có chép: “Nếu một người cư sĩ đắc quả A-la-hán, người đó phải xuất gia ngay trong ngày hôm đó; nếu không xuất gia được thì phải nhập **Niết-bàn** (viên tịch) ngay ngày hôm ấy.” Qua đó có thể thấy các bậc Thánh thanh tịnh, mát mẻ đến nhường nào, và đời sống cùng môi trường của kẻ phàm phu thiêu đốt đến mức nào. Sức nóng đó thực sự có thể gây chết người. L9918: L9919: Bàn thêm một chút về vấn đề này, sách **Mi-lan-đà Vấn Đạo** giải thích là do hình tướng cư sĩ quá yếu ớt (**Liṅgadubbala**), không đủ sức gánh đỡ phẩm hạnh và quả vị cao thượng đó, kèm theo nhiều ví dụ minh họa. Tuy nhiên, lời trong sách *Milindapañhā* có vẻ chưa chạm đến cái gốc của vấn đề. Theo quan điểm của chúng tôi, điểm mấu chốt nằm ở sự khác biệt quá lớn giữa năng lực của Pháp, giữa cái nóng phiền não và cái lạnh giải thoát. (Xem thêm *Sammohavinodanī Aṭṭhakathā*, trang 505...) L9920: L9921: Đời sống (uẩn) của một bậc **A-la-hán** đã hoàn toàn sạch bóng hơi nóng phiền não, tràn đầy trạng thái tịch tĩnh của pháp **Vô vi** (*Asaṅkhata*). Một vị đã có được một phần tư năng lực Vô vi (**Bậc Dự Lưu**) đã cảm thấy chán ghét y phục, đời sống và môi trường cư sĩ hết một phần tư rồi. Bản chất giới tính (phần tử) đã không còn đồng nhất nữa. Line 10962: "Về quan điểm đối với Thiền định (jhāna), tại trang 44 của cuốn sách đó có ghi:" Page number: TRANG 44 Context: L10960: "Khi các thiền sinh cầu vấn bậc Ân sư cách thức để chứng đạt An chỉ Định, các Ngài chỉ thuyết giảng theo phương pháp trong kinh điển. Còn về bí quyết cốt lõi (hatthamuṭṭhi) — cách thức đưa bốn đại vào bên trong nội thân — các Ngài không thị hiện, nên kẻ hèn này tuyệt nhiên không dám viết ra." L10961: L10962: Về quan điểm đối với Thiền định (jhāna), tại trang 44 của cuốn sách đó có ghi: L10963: L10964: "Dù muốn đạt được Thiền định, nhưng vì tâm niệm rằng đây không còn là thời kỳ (thời đại) thích hợp cho việc đó, nên hành giả nên nỗ lực đạt đến Cận định (upacāra samādhi) là đã đủ cơ sở để tiến lên tu tập tuệ Minh sát, v.v." Lại tại trang 45, tác giả nhận định: Line 10964: ""Dù muốn đạt được Thiền định, nhưng vì tâm niệm rằng đây không còn là thời kỳ (thời đại) thích hợp cho việc đó, nên hành giả nên nỗ lực đạt đến Cận định (upacāra samādhi) là đã đủ cơ sở để tiến lên tu tập tuệ Minh sát, v.v." Lại tại trang 45, tác giả nhận định:" Page number: TRANG 45 Context: L10962: Về quan điểm đối với Thiền định (jhāna), tại trang 44 của cuốn sách đó có ghi: L10963: L10964: "Dù muốn đạt được Thiền định, nhưng vì tâm niệm rằng đây không còn là thời kỳ (thời đại) thích hợp cho việc đó, nên hành giả nên nỗ lực đạt đến Cận định (upacāra samādhi) là đã đủ cơ sở để tiến lên tu tập tuệ Minh sát, v.v." Lại tại trang 45, tác giả nhận định: L10965: L10966: "Ngoại trừ chú giải Culla-vagga, trong quan điểm của bốn bộ Chú giải lớn khác vào thời kỳ thứ ba, vẫn còn thấp thoáng bóng dáng của Tam Minh (tevijjā). Tam Minh là loại Thắng trí (abhiññā) phát sinh ngay sau tầng Thiền thứ năm, cho nên vẫn còn hy vọng đạt được từ tầng Thiền thứ nhất trở đi. Dù là vậy, (hiện nay không còn vị thầy nào có thể thực chứng và chỉ dạy điều đó)." Line 11628: "*Lưu ý: Các đoạn chuyển trang 661-662 và 662-663 đã được xử lý mượt mà theo ngữ cảnh.*" Page number: TRANG 661-662 Context: L11626: L11627: --- L11628: *Lưu ý: Các đoạn chuyển trang 661-662 và 662-663 đã được xử lý mượt mà theo ngữ cảnh.* L11629: ## TRANG 664 L11630: Line 12460: "(Về việc các khớp xương liên kết với nhau, trong chú giải **Mahāparinibbāna Sutta**, phần giải thích từ **Nāgāpalokita** (trang 145) có nêu rõ: “Ở người bình thường thì các khớp xương rời nhau (hoặc đối đầu), ở bậc Độc Giác Phật thì các khớp xương móc vào nhau (như xích), còn ở bậc Chánh Đẳng Giác thì các khớp xương liên kết thành vòng (như khoen vòng).”)" Page number: TRANG 145 Context: L12458: Những sợi tóc của Ngài được các đệ tử lưu giữ khi Ngài còn sinh thời, sau khi Ngài nhập Niết-bàn, chúng cũng tự động cuộn lại thành hình tròn như những viên xá-lợi. Một điều kỳ diệu khác là sau khi hỏa táng, đôi nhãn cầu của Ngài vẫn còn nguyên vẹn, không bị lửa thiêu rụi, gắn liền với các đốt xương tay. Những viên xá-lợi này đã được tôn trí bên trong ngôi tháp “Maṅgalā Dhātu Dhamma Cetī” được xây dựng giữa hồ nước tại thị镇 In. (Gần ngã tư đường xe lửa và đường lộ Ratana Gu). L12459: L12460: (Về việc các khớp xương liên kết với nhau, trong chú giải **Mahāparinibbāna Sutta**, phần giải thích từ **Nāgāpalokita** (trang 145) có nêu rõ: “Ở người bình thường thì các khớp xương rời nhau (hoặc đối đầu), ở bậc Độc Giác Phật thì các khớp xương móc vào nhau (như xích), còn ở bậc Chánh Đẳng Giác thì các khớp xương liên kết thành vòng (như khoen vòng).”) L12461: L12462: Chính từ lúc đó, chư Tăng và Phật tử càng thêm thâm tín sâu sắc rằng Ngài quả thật là một bậc Thánh tăng, một bảo vật xuất thế (lokuttara) quý giá. Họ đã cùng nhau dâng cúng đủ loại trân bảo thế gian để trang nghiêm nơi thờ tự, nhưng dẫu có tán dương bao nhiêu cũng không xiết, dẫu có tưởng nhớ công đức bao nhiêu cũng không cùng. (Tiếp theo đây sẽ trình bày về Thiền sư Mying Phyu Zeetaw, người đã nỗ lực tu tập theo sự hướng dẫn của Thiền sư Mogok và đã hoàn tất phận sự của một vị Sa-môn.)