# NGÀI PINNÈ-KWIN SAYADAW U KALYĀṆA (1188 - 1270)

Khi Ngài Pinnè-kwin Sayadaw U Kalyāṇa cùng vị Sayadaw đời thứ hai và thứ ba viên tịch, kim thân của cả ba vị đều không bị hư nát hay phát mùi, mà vẫn giữ nguyên vẹn cho đến tận ngày nay.

Tiểu sử của vị Sayadaw đời thứ nhất, Ngài U Kalyāṇa, đã được một người tên là Maung Kyaw Din biên soạn cách đây khoảng 80 năm. Do được viết theo lối văn vần biền ngẫu nên một số ý nghĩa còn chưa được rõ ràng. Trên bìa sách có in hình của vị Sayadaw đời thứ hai là Ngài U Vāyama. Cuốn sách chỉ vỏn vẹn 18 trang. Các vị hộ độ chùa (kyaung daka) được nhắc đến là Bo Pan Ya và U Par.

Ngài sinh vào thứ Hai, ngày 13 tháng Hai (tháng Wazo thứ hai) năm 1188 tại thị trấn Shwedaung, là con của bà Daw Rit, tên thuở nhỏ là Maung Chein. Sau khi thông thạo các kinh điển pháp học, Ngài từ Shwedaung đến lưu trú tại làng Pinnè-kwin. Ngài cũng đã đón mẹ già về để tận hiếu phụng dưỡng.

Pinnè-kwin thuộc huyện Okepho (Ingapu), nằm gần dãy núi Arkan (Phía Tây), thuộc cụm sáu làng Kwin-kauk. Sau khi trú tại chùa làng được 7 hạ, đến hạ thứ 12, Ngài bắt đầu du phương hành đạo tại 15 trú xứ rừng núi (dhutaṅga) trên dãy núi phía Tây, bao gồm các đỉnh núi cao nhất như núi Thit-say, núi Kabyo (Kan-pyo), núi Yan-kin, núi Kywema-thanar, núi Ko-kwe, núi Ko-maung, núi Sai, v.v. Tại mỗi nơi trong số 15 trú xứ này, Ngài đều cho xây dựng các bảo tháp kỷ niệm.

## Thần lực của Pháp và những chuyện kỳ diệu

Vì Ngài lưu trú tại những vùng núi rừng hẻo lánh, xa dấu chân người, nên đã nhiều lần phải đối mặt với các loài thú dữ như voi rừng, hổ dữ, những loài đại xà có thể quấn chết cả trâu bò, cũng như nhiều hạng phi nhân như Thiên nhân đọa lạc (Vemānika Peta), ngạ quỷ (Peta). Những cuộc chạm trán này đều được ghi chép tỉ mỉ từng sự kiện một theo lối thơ vần trong bản tiểu sử.

Đây là minh chứng hùng hồn cho thấy oai lực của lòng Từ (Mettā) còn đáng tin cậy và mạnh mẽ hơn cả những thần thông biến hóa như độn thổ hay phi hành.

Những chuyện kỳ đặc được nghe kể lại qua lời của ông U Ohn Myint (con trai của ông U Lu Hla – người từng được diện kiến Ngài) cũng nhiều vô số kể.

### Bậc A-la-hán và các bậc cao nhân

Xin lược thuật một vài chuyện phi thường về Ngài:

(1) Khi Ngài trú tại núi Kywematat-nar, rất đông người đã đến đảnh lễ Ngài. Một ngày nọ, có một nữ thiện tín đến tắm ở hồ nước tự nhiên (Nāt-ye-kan - hồ nước Thiên), ngay sau đó hồ nước bỗng cạn khô. Bà trình sự việc lên thiền sư, và chỉ trong vòng vài giờ đồng hồ, nước lại phun ra đầy hồ như cũ.

(2) Khi Ngài ngụ tại núi Kampyo, vào lúc quá nửa đêm, người dân sống ở khu vực xung quanh thường nghe thấy tiếng nhạc trời du dương vang lừng trên không trung.

(3) Tại núi Yankin, trong khi sửa chữa một ngôi bảo tháp cổ bằng cách xây trùm lên một lớp mới, chiếc lọng (hti) cũ bám chặt đến mức sức người không sao tháo xuống được. Khi mọi người đang định bỏ cuộc thì bất ngờ một trận động đất xảy ra, làm chiếc lọng rụng xuống đất mà vẫn nguyên vẹn không hề hỏng hóc.

(4) Cũng tại núi này, có khoảng ba bốn mươi người đến dâng vật thực. Mỗi khi họ đến, hầu như không ai tìm thấy Ngài trong tăng phòng. Nhưng hễ đến giờ dùng bữa, khi nghe tiếng chuông (khốc) báo hiệu, Ngài lại xuất hiện ngay trước mặt họ.

(5) Tại hang Nankathu, Ngài thường chỉ ở cùng một người hộ tăng (kappi-ya). Có những chúng sinh giống như Naga hay rắn lớn xuất hiện, Ngài thường ban lệnh: “Thiện nam tiến lên, thiện nữ lùi lại”, và chúng đều tuân theo để Ngài thuyết Pháp. Ngài cũng thuyết Pháp cho các loài chúng sinh huyền bí (būta) khác. Một lần nọ, khi tìm thấy các kho báu, do người hộ tăng nảy sinh tâm bất thiện nên cửa hang bỗng đóng sầm lại, khiến Ngài phải quở trách người hộ tăng đó... v.v.

Năm 1270 (Miến lịch), Ngài chuyển về ngôi chùa trong làng. Khoảng hai năm sau, vào tuổi 82, Ngài đã viên tịch. Lễ trà tỳ được tổ chức vô cùng trang nghiêm. Khi sắp hỏa táng, nhục thân của Ngài vẫn tươi nhuận như người đang nằm ngủ tự nhiên mà không qua bất kỳ sự bảo quản nào, nên đại chúng đã đưa Ngài vào tháp tôn thờ. Hiện nay tại núi Kampyo, Phật tử từ bốn phương vẫn thường xuyên đến đảnh lễ. Tương truyền nhục thân Ngài không hề bị khô héo, ngay cả tóc và lông vẫn còn nguyên vẹn.


# Thiền Sư Gu-Phyu Taw-Ya Ở Yesagyo
### (1191 – 1281)

Ngài sinh năm 1190 (Miến lịch) tại làng Thazi, cách thị trấn Yesagyo khoảng ba dặm về phía Tây Bắc. Thân phụ là ông U Htat, thân mẫu là bà Daw Ngo. Thuở nhỏ tên là Maung Kyaw Ywe, Pháp danh là Ashin Medhā. Ngài học pháp tại làng Kyauk-khat, sau đó tiếp tục cầu học với Thiền sư Yesagyo **U Varasambodhi**, các bậc Trưởng lão tại chùa Bhākarā và chùa Nannyaung ở kinh đô Inwa. Ngài đặc biệt nổi danh về trì giữ Luật tạng, được xem là bậc chuẩn mực cho đời sau. Ngài được tương truyền đã thuyết giảng bộ **Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga)** và Tam Tạng Kinh điển tới 52 lượt.

Suốt 72 hạ lạp trong tổng số 91 năm cuộc đời, Ngài luôn trì giữ trọn vẹn 13 hạnh đầu đà (dhutaṅga), đặc biệt là hạnh trì bình khất thực. Chỉ đến 11 ngày cuối đời trước khi viên tịch, Ngài mới thôi đi khất thực. Trong những vật thực khất thực được, nếu có loại gạo trắng ngon, Ngài đều dành cúng dường lên chư Tăng; còn phần mình, Ngài chỉ dùng loại gạo đỏ, gạo thô. Ngài không mang dép, không che lọng, không dùng quạt, chỉ cầm một chiếc lá thốt nốt được tỉa sơ qua cho vừa vặn.

### Ngài Mohnyin Sayadaw từng cầu học

Vị thiền sư lừng danh Mohnyin Sayadaw khi mới xuất gia tầm đạo, trước khi gặp Ngài Ledi Sayadaw, đã từng có ba tháng cầu học với Ngài Gu-Phyu Sayadaw. Trong tập **Mohnyin Therāpādāna (tử vi Trưởng lão)** (trang 82-83), đệ tử của Ngài là U Kovida đã ghi lại như sau:

[ “Đức thầy (Ngài Gu-Phyu) không tiếp khách, không nói chuyện phiếm, Ngài ở một mình trong ngôi chùa vắng để nỗ lực hành thiền. Ban đêm, Ngài giăng một sợi dây thừng băng ngang qua tăng xá, luồn vào đó một ống tre. Ngài cầm ống tre đó để giữ thăng bằng rồi đi kinh hành không ngừng nghỉ. Đôi khi do quá buồn ngủ, Ngài va đầu vào vách tường nghe một tiếng 'đùng', khi đó Ngài chỉ thốt lên: 'Ôi khổ thay, khổ thay! Thùy miên (thina-middha) thật là lợi hại!', rồi lại tiếp tục bước đi. Ngài hành trì miên mật như vậy cho đến tận hừng đông. Do sự tinh tấn quá đỗi thiện lành đó, người dân cả vùng đều tôn xưng Ngài Gu-Phyu là bậc A-la-hán.” ]

Những ghi chép từ các cuộc vấn đáp của Ngài Shwe Hintha Sayadaw ở Sagaing về vị thiền sư này cũng vô cùng thú vị. Quý vị có thể tham khảo thêm trong bộ “Lịch sử Giáo hội Shwegyin Nikāya”.


### Bậc A-la-hán và các bậc cao nhân

### Đến Trưởng lão U Sīla cũng phải kính nể

Ngay cả Trưởng lão U Sīla, người lừng danh ở vùng Hạ Miến là bậc A-la-hán, cũng từng có lời tán thán rằng: “Ngài Gu-Phyu còn cao thượng hơn cả chúng ta nữa”. Lời này dường như ám chỉ đến sự nghiêm cẩn tuyệt đối của Ngài trong trì giữ Luật tạng.

Thời kỳ của Ngài Gu-Phyu Sayadaw cũng là lúc khoa học kỹ thuật bắt đầu phát triển, các loại phương tiện, thực phẩm, trang phục đang dần thay đổi theo xu hướng hiện đại. Các bậc Trưởng lão thời đó thường không bận tâm nghiên cứu xem vật dụng này làm từ gì hay cấu tạo thế nào, mà giữ lập trường rằng: “Cái gì mới lạ, kỳ dị thì tốt nhất là không dùng để tránh vi phạm giới luật”. Vì thế, trong một số trường hợp, dù vật dụng đó là hợp lẽ (kappiya) theo Luật tạng, các Ngài vẫn chấp nhận chịu khổ hạnh không dùng tới, khiến người ngoài nhìn vào có cảm tưởng các Ngài quá cứng nhắc.

Dù thế nào chăng nữa, “Luật tạng là mạng mạch của giáo pháp”, tấm gương của các Ngài thật xứng đáng cho hậu thế kính ngưỡng và noi theo. Đây cũng là điều nhắc nhở cho chư vị tăng sĩ thời nay, khi mà các sản phẩm khoa học công nghệ đang phát triển không ngừng.

Vào thời điểm đó, có ba vị Trưởng lão là **U Sīla**, **Sayadaw Khin Mon** ở thành Alon và Ngài Gu-Phyu đều không muốn đi xe lửa khi phương tiện này mới xuất hiện. Ngài Gu-Phyu hỏi Ngài Khin Mon: “Theo kinh điển, việc đi xe lửa thời nay là nên hay không nên, ông hãy trả lời xem?”. Rồi Ngài tụng đọc lại các đoạn Luật tạng Pāḷi về sáu loại phương tiện mà người không có bệnh (gilāna) không nên sử dụng là: kiệu, xe, xe bò, võng, cáng, cán tay.

- Ngài hỏi tiếp: “Vậy các loại xe lửa chạy ngược xuôi giữa Mandalay và Yangon hiện nay thì có hợp lẽ không, ông thấy thế nào?”.
- Ngài Khin Mon hỏi ngược lại: “Muốn biết thế nào thì ông hãy mô tả cách thức vận hành của cái xe lửa đó tôi xem?”.
- Ngài Gu-Phyu đáp: “Tôi có bao giờ thấy nó đâu mà biết kể!”.
- Ngài Khin Mon cười nói: “Nếu cả hai ta đều chưa từng thấy nó thì làm sao có thể đưa ra quyết định hợp lẽ hay không được?”.
- Ngài Gu-Phyu kết luận: “Vậy thì không đi là chắc chắn không có lỗi rồi!”. Cuộc thảo luận về việc đi xe lửa khép lại như thế.

Cuộc gặp gỡ và đối thoại giữa Trưởng lão **U Sīla** và Ngài Gu-Phyu Sayadaw cũng được ghi lại trong cuốn **U Sīla Atth-uppatti (Tiểu sử Ngài U Sīla)**. Qua những lời đối đáp và phong thái ứng xử của các Ngài, ta có thể thấy rõ trái tim thuần khiết của những bậc thiện tri thức. Khi Ngài U Sīla đến Bago và trú tại chùa Leikpyakan, thì Trưởng lão Pakhan từ rừng Gu Phyoo ở Pakokku, vùng Yesagyo, Thượng Miến đã đi thuyền từ Yangon đến Bago thăm Đại Đức.


Vị ấy lớn hơn ngài một hai hạ lạp, và giữa hai vị vốn đã có sự tôn kính lẫn nhau qua các tin tức từ trước. Khi gặp, Ngài Pakhan Sayadaw đã quở trách ngài: "Nghe nói ông đã bắt đầu đi xe lửa rồi. Có thật vậy không?"

"Con bắt đầu đi từ dịp đi cung thỉnh kiết giới Sīmā ở Ouktwin. Xin Ngài từ bi dạy bảo. Con xin thành tâm thọ giáo," Ngài cung kính chắp tay nhận lỗi.

"Nếu lâm bệnh, sức khỏe yếu kém thì không thể trách được. Riêng ta thì vẫn còn khỏe mạnh," vị Trưởng lão phán bảo.

Khi đó, thái độ nhận lỗi của Hòa thượng (**U Sīla**) tĩnh lặng như một pho tượng A-la-hán được tôn trí cạnh đức Phật, khiến những người chứng kiến không ai nỡ rời mắt. Mọi người cũng hết lời tán thán đức hạnh trì giới và định lực vô biên của Ngài Pakhan Sayadaw khi đã thẳng thắn quở trách Đức Hòa thượng. Lúc Ngài Pakhan Sayadaw ra về, Đức Hòa thượng đã gửi cúng dường y bát và rất nhiều vật phẩm thực phẩm, chất đầy cả một cỗ xe.

Ngài viên tịch vào năm 1281 (Âm lịch Myanmar), thọ 91 tuổi. Ngài đã biên soạn hai tác phẩm để lại cho đời. Khoảng 50 năm trước, nhà in Guṇavatī ở Mandalay đã ấn hành một lần, và năm 1322 lại được nhà in Sudhammavatī tái bản. Lần thứ hai là do Ngài **U Visuddha** ở chùa Shwe Kyet Yet, Yangon (cháu của Ngài Gu Phyu Sayadaw) ấn tống, và trong bản in đó người ta còn được chiêm bái di ảnh của ngài.

Hai tác phẩm đó có tên là "Diṭṭhiviccheda Pakāsanī" và "Dhātubhedavinicchaya".


### Ngài Migadāyon Sayadaw ở Pathein
( 1194 - 1238 )

Câu chuyện về Ngài Migadāyon Sayadaw (pháp danh **U Sumanācāra**) ở thành phố Pathein khiến người đời vô cùng khởi tâm tịnh tín vì sau hơn 30 năm viên tịch, nhục thân của ngài vẫn còn được tìm thấy một cách nhiệm mầu.

Ngài quê ở thành phố Amarapura, xuất thân từ dòng dõi Bà-la-môn. Ngài được cho là có dòng máu Manipur (Kathe), cùng huyết thống với Ngài Shan Kalay Kyun Sayadaw và vị Nữ tu nổi tiếng Daw Kin. Ngài sinh vào sáng sớm ngày thứ Sáu, mùng 10 tháng Nayon năm 1194.

Ngài đã theo học thông suốt Tam Tạng kinh điển với đức Tăng thống đời thứ hai (**Ashin Ñeyyadhamma**) và Ngài Shan Kalay Kyun Sayadaw.

Ngài đã đi hoằng pháp tại các vùng Tanintharyi, Ye, Myeik, Dawei, sau đó qua Yangon, Letpadan, Hinthada và cuối cùng dừng chân tại Pathein. Có lẽ ngài đến Pathein vào khoảng năm 1238.

### Ngài Phyo Kwin Sayadaw

Khi mới đến Pathein, ngài độc cư tu tập tại khu vực gần hồ nước ba tầng (hiện nay thuộc khuôn viên chùa Migadāyon). Thuộc thời đó, nơi đây vẫn còn là rừng sâu hẻo lánh, dấu chân voi hổ dày đặc. Ngài phải đi khất thực tận vùng Ah Thae Gyi Kone.

Một ngày nọ, có một vị thí chủ phát rẫy gần tịnh thất mini của ngài, đã gom rác lại phơi khô để đốt. Sáng sớm hôm đó, ngài đang ngồi hành thiền định tĩnh bên cạnh đống rác ấy. Vị thí chủ châm lửa đốt rồi quay đi, đến khi nhìn lại thì thấy ngọn lửa đã bùng lên bao vây lấy ngài. Dù nỗ lực dập lửa nhưng không thành, vị ấy phải liều mình xông vào bế ngài đặt ra chỗ an toàn. Vị thí chủ vô cùng lo sợ, không ngừng dập đầu xin lỗi.

Ngài phán bảo: "Này thí chủ, ta không sao cả. Ta kham nhẫn được. Đó là do con không biết mà làm thôi," lúc đó vị ấy mới an lòng.


### Di dời vì sự náo động của dân chúng

Cứ như thế, ngài trú ngụ tại khu vực đó để tu tập định và tuệ (Samatha và Vipassanā). Tại mỗi khu phố, ngài chỉ đi khất thực trong ba ngày, đồng thời nghiêm trì các khổ hạnh (dhutaṅga) như hạnh đầu đà ở nghĩa trang.

Do những giấc mơ về việc "có một vị A-la-hán đi khất thực" và những lời đồn thổi, số người đến cúng dường và chiêm bái đông đảo đến mức làm gián đoạn việc tu tập. Ngài phải liên tục di dời từ nơi này sang nơi khác như Thit Nyo Kone, Myo Chaung, Ta Kone Gyi, Koe Thaung, Yay Twin Kone, Yay Kyaw Gyi ở phía đông Pathein.

Dần dần, ngài bắt đầu thuyết giảng giáo pháp và giáo giới ngắn gọn. Đến năm 1242, ông U Kala và vợ chồng ông buôn chuyến U Yan Saik - bà Daw Chin Ma ở khu vực Ah Thae Gyi đã xây dựng ngôi chùa kính (Hman Kyaung) cúng dường, nên ngài rời nơi tu hành biệt lập để về trú trì tại chùa Migadāyon hiện nay. Thí chủ U Yan Saik mỗi ngày đều đi bộ hơn hai ba dặm từ nhà đến chùa, vì ông không biết chán khi được chiêm bái hào quang phát ra từ thân của ngài khi đang hành thiền.

Việc buôn bán và gia sự đều được giao cho bà Daw Chin Ma. Bà nhận thấy việc kinh doanh vô cùng thuận lợi: gạo bán mãi không hết, các hũ dầu luôn tràn đầy, từ đó bà càng thâm tín vào quả báo hiện tiền (**Diṭṭhadhamma vedaniya kamma**). Năm 1243, họ còn xây thêm một tòa tàng kinh các. Trong lễ khánh thành, Ngài Okpo Sayadaw đã cùng đoàn tùy tùng đến chứng minh và lưu lại tu học suốt một mùa An cư.

### Vẻ đẹp của Chánh niệm — Nhìn đâu cũng thấy trang nghiêm

Theo thời gian, bốn oai nghi đi, đứng, nằm, ngồi của ngài đều toát ra vẻ thanh tịnh khiến người ta phát tâm tịnh tín.

Ngài luôn giữ mắt nhìn xuống, không nói lời vô ích. Ngay cả với thị giả thân cận, ngài cũng chưa bao giờ để lộ các phần bên trong của y, luôn đắp y cực kỳ trang nghiêm và kín đáo ngay cả ở nơi khuất vắng. Khi dùng bữa, từ việc lấy cơm, ăn, nuốt cho đến cầm muỗng bát, tất cả đều nhẹ nhàng, thanh thoát. Nhờ đó, bất cứ ai được chiêm bái ngài đều cảm nhận được chất liệu an lạc, tĩnh tại thấm đẫm vào lòng, nhìn mãi không thấy chán.


“Từ tâm ý khởi lên suy nghĩ, cho đến mọi cử động, xúc chạm hay tạo tác thuộc về thân hành, tất cả đều được quán sát, ghi nhận liên tục; đó gọi là thực hành giáo pháp. Trạng thái tỉnh giác và ghi nhận đó (**Sambajañña Satipaṭṭhāna**) luôn hiện hữu một cách tự nhiên nơi tâm của các bậc Thánh giả cao thượng (Ariya).” Tuy lời dạy này chưa được thấu hiểu tường tận bởi nhiều người, nhưng lòng kính ngưỡng vẫn thôi thúc họ, thậm chí có những người nảy sinh ý định nhìn trộm qua khe cửa vào tận phòng riêng của thiền sư chỉ để được chiêm ngưỡng ngài cho thỏa lòng.

Thời Đức Phật, bà đại thí chủ **Visākhā** sở hữu vẻ đẹp kiều diễm đến mức khó có thể phân biệt bà với các con gái và cháu gái của mình. Người đời khi nhìn thấy bà, nếu lúc bà đang cúi xuống thì họ e sợ rằng bà sẽ ngước lên; còn khi bà đang ngước lên, họ lại tiếc nuối nếu bà cúi xuống. Bởi lẽ, bất cứ tư thế hay cử chỉ nào họ nhìn thấy ở bà cũng đều khiến họ muốn tận hưởng vẻ đẹp ấy mãi mà không muốn thay đổi. Thực chất, vẻ đẹp của bà **Visākhā** không phải chỉ là vẻ đẹp tự nhiên thông thường. Có một vẻ đẹp không bao giờ phai nhạt, luôn tỏa sáng rạng ngời, đó chính là vẻ đẹp của các bậc Thánh, vẻ đẹp của sự thực hành **Satipaṭṭhāna** (Tứ Niệm Xứ). (Những ai mong muốn xinh đẹp, hãy tinh tấn hành thiền!)

“Đức Phật **Gotama** ngay cả khi thọ thực cũng không bao giờ ăn một cách vô ý. Trong mỗi miếng ăn, Ngài đều thọ dụng với tám mục đích rõ ràng.” Những chi tiết tỉ mỉ về oai nghi của Đức Thế Tôn như thế đã được thanh niên **Uttara** quan sát và kể lại cho thầy mình là vị Bà-la-môn **Brahmāyu**. Tương tự như vậy, có không ít người lặn lội đến cúng dường thiền sư chỉ vì lòng thành kính sau khi được chứng kiến phong thái thọ thực trang nghiêm (vẻ đẹp thoát tục) của ngài.

Khi thiền sư tuổi tác đã cao, ngài bàn giao bốn mươi vị đệ tử Tăng cho vị trụ trì **U Sudassana** quản lý; còn phần mình, ngài dành trọn thời gian an trú trong sự thực hành **Appamāda Satipaṭṭhāna** (Tứ Niệm Xứ với tâm không phóng dật).

Khi ngài ngoài tám mươi tuổi, cơ quan thính giác (thần kinh tai) bị suy giảm, mọi việc trình thưa đều phải dùng thư viết tay. Khi trai phạn đã chuẩn bị xong, chính Ngài **U Sudassana** phải vào tận phòng để thỉnh ngài. Khi bước ra khỏi phòng, y bát của ngài luôn được quấn chỉnh tề, ngay ngắn, tấm y tăng-già-lê (du-gu-t) vắt trên vai trái; khi ngồi xuống, ngài cũng ngồi một cách nhẹ nhàng, từ tốn. Lúc trở vào phòng, ngài cũng bước đi thong thả và an tĩnh như vậy.

### Giấc mơ và sự lễ kính của Thiền sư Manle (Màn-lề)

Vào năm 1268 (Miến lịch), khi ấy ngài đã bảy mươi tuổi, ngài thường xuyên ẩn tu và quán chiếu trong ngôi nhà gạch một tầng do hai vị thí chủ **U Tha** và Daw Saw đặc biệt xây cúng dường. Cho đến khoảng năm tám mươi tuổi, ngài vẫn thường đi đến nghĩa trang vào ban đêm.


Vào năm 1281 (Miến lịch), **Thiền sư Manle** đã đến Pathein. Khi ấy, việc lắp đặt đèn điện tại đại bảo tháp Shwemokhtaw đã gây ra tranh luận giữa vị Trưởng lão U Paduma ở Pathein và những người khác về việc có phù hợp với Luật tạng (Vinaya) hay không; ngài (Manle) đến để phân xử. Ngài đã cư ngụ ngay trên sân chùa, vừa thuyết pháp cho hàng đệ tử, vừa dập tắt được sự tranh chấp ấy.

Một đêm nọ, **Thiền sư Manle** nằm mộng thấy một giấc mơ lạ kỳ. Ngài thấy một vị thiền sư có phong thái vô cùng trang nghiêm và thanh thoát đang đi kinh hành ngay trên trán của mình. Theo điềm báo của giấc mơ, ngài bắt đầu tìm hỏi về những bậc cao đức đặc biệt, và khi nghe danh tiếng của Thiền sư Migadayon, lòng ngài khởi lên niềm kính tin sâu sắc, bèn mang các phẩm vật đến đảnh lễ. Ngài Migadayon cũng đáp lễ bằng cách tặng lại các phẩm vật cúng dường, sau đó hai vị cùng đàm đạo về Phật sự rồi ngài (Manle) ra về.

Khi vừa đến cổng tu viện, vì cảm thấy việc chiêm bái thiền sư vẫn chưa đủ thỏa lòng, ngài Manle đã quay trở lại một lần nữa. Do đang trong chuyến hành trình nên ngài cảm thấy các vật phẩm cúng dường chưa thực sự xứng đáng với sự cao thượng của vị thiền sư, lòng ngài vẫn chưa thấy an tâm. Bất chợt, ngài nảy ra ý định và thưa thỉnh xin được cúng dường tấm y đại bào bằng nhung vô cùng quý giá mà ngài đang khoác trên mình.

“Thiền sư Manle là bậc đại phước đức, một bậc thiện trí thức xuất chúng. Do đó, tấm y quý giá mà ngài ấy cúng dường, ta không xứng đáng được khoác lên. Hãy đem tấm y này đắp lên kim thân Phật nhập Niết-bàn đang ngự trong tòa Sima (giới đường) lớn,” thiền sư (Migadayon) phán bảo. Theo lời ngài, các vị thí chủ gần đó đã mang tấm y đi thành kính dâng lên kim thân Đức Phật.

### Đời tư của vị Tăng thống (Sāsanāpaing)

Thiền sư Migadayon cũng là bậc uyên thông về Pháp học (Pariyatti). Ngài đã soạn thảo nhiều bộ luận như: **Dasasīlavinicchaya**, **Vandanādivinicchayakathā**, **Sakkāyadiṭṭhikathā**, **Ovādakathā Cātān**, **Yathāvinayavapanāyika** (tập 1, 2)... trong khoảng năm 1271 (Miến lịch).

Sau khi Ngài Okpho Sayadaw và Ngài Letpadan Mahābodhiwan Sayadaw – những vị Tăng thống (Sāsanāpaing) đời thứ nhất và thứ hai của giáo hội Dwara – lần lượt viên tịch vào năm 1260 và 1275, thiền sư đã được suy tôn làm vị Tăng thống đời thứ ba từ năm 1275. Tuy nhiên, thiền sư vẫn luôn giữ vững tôn chỉ xem việc hành trì **Satipaṭṭhāna Ānāpāna** (Niệm hơi thở và Tứ Niệm Xứ) là phận sự cốt lõi, là công hạnh của giáo pháp đúng theo ý nguyện của Đức Thế Tôn, và ngài đã miên mật thực hành cho đến trọn đời.



Không có sự sở hữu nào cao quý bằng việc làm chủ được chính mình. Nếu một người chưa thể làm chủ được ngay cả chính bản thân (hay nói cách khác là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý của mình) mà lại muốn làm chủ hay cai quản những chúng sinh và vật chất khác, thì đó là một trạng thái đáng sợ nhất của kiếp sống.

“**Sarī** (Sa + Īra = Pavattana) **Sayaṃvasi** = Tự chủ theo ý mình, tự cai quản chính mình, có khả năng điều phục bản thân” là điều vô cùng quan trọng ở thế gian này. Phần lớn mọi người vì không làm chủ được (tâm của) chính mình, nên khi nhìn thấy gì thì tâm chạy theo cái thấy, nghe thấy gì thì tâm trôi dạt theo cái nghe. Nếu không dễ dàng tiếp xúc với một đối tượng nào đó, họ cũng cảm thấy bận rộn ngay cả khi đang ngồi yên để tìm kiếm và suy tính về các đối tượng ấy.

Vì cứ mải chạy theo mỗi khi thấy hay nghe, họ không thể dùng những gì thấy nghe được làm thức ăn cho tâm (không thể quán sát ghi nhận), mà trái lại bị các đối tượng tác động, đánh đập tùy theo sự tốt xấu của chúng, khiến họ luôn bị chìm nổi giữa những đợt sóng của bát phong (thế gian pháp).

### Kim thân kỳ lạ

Thiền sư là bậc cao niên, nhờ trí tuệ dự tri được thời khắc cuối cùng, nên từ khoảng năm 1279 (Miến lịch), ngài đã cho xây dựng một bảo tháp gạch theo đúng ý nguyện. Ngài cũng hạn chế lời nói đến mức tối đa và thường an trú một mình.

Vào năm 1282, cây Lin-lun (một loại cây linh thiêng) được mang về từ Tích Lan và ba cây Pauk lớn trước ngôi nhà gạch của thí chủ **U Tha** bỗng nhiên khô héo cành lá rồi tự chết đi. Khi ấy, thiền sư đã dặn dò:

“Khi ta qua đời, đừng hỏa táng kim thân, cũng đừng tổ chức lễ hội linh đình, hãy đặt ta vào trong bảo tháp gạch này.” Vào ngày 12 tháng Tư nhuận năm 1283 (Miến lịch), khi ngài 89 tuổi, ngài đã xả bỏ báo thân, tịch diệt trong sự tỉnh giác (**Appamāda**), mà không hề phải chịu đựng bất kỳ sự đau đớn hay bệnh tật nặng nề nào.

Kim thân của ngài vẫn hồng hào, rạng rỡ như người đang sống, nên cho đến tận tháng Tabaung năm đó, thiên hạ vẫn kéo đến đảnh lễ rất đông. Vì quá đỗi kính ngưỡng, họ đã dát vàng lên cả gương mặt và phần đầu của kim thân ngài. Do có sự việc kẻ xấu muốn lấy trộm kim thân, nên cuối cùng vào ngày 12 tháng Tà-băng (Tabaung), lễ trà tỳ (an táng) cuối cùng đã được tổ chức. Kim thân được đặt vào trong ba lớp quan tài: quan tài gỗ tếch, quan tài đồng và quan tài kính, rồi đưa vào trong bảo tháp. Vị thí chủ tu viện là **U Tha** đã xây dựng thêm một ngôi tháp gạch kiên cố bao quanh để không ai có thể xâm phạm, và phía trên được xây thành một ngôi bảo tháp (Ceti).

Các bậc Thánh giả cao thượng đã dùng chính thân mình để thực hành thực tế, làm gương đi đầu trong việc chứng minh ân đức **Thiết thực hiện tại** (*Sandiṭṭhiko*) và **Không thời gian** (*Akāliko*) của giáo pháp Đức Thế Tôn. Các Ngài không chỉ tự mình đạt được an lạc, trở thành bậc **Ứng cúng** (*Aggadakkhiṇeyyo*) tối thượng, mà còn giúp cho đông đảo chúng sinh có được sự an vui, lợi ích trong hiện tại cũng như trong vòng luân hồi.

Ông U Alice – Bà Daw Sein cùng các con tại thành phố Pathein, vốn là những người theo Thiên Chúa giáo gốc, cũng đã trở thành Phật tử ngay từ khi ngài Trưởng lão còn tại thế. Họ đã y giáo phụng hành theo lời dạy của ngài để phụng sự giáo pháp. Nhờ tuân giữ những lời chỉ dạy của ngài mà việc làm ăn kinh doanh của họ ngày càng phát triển, giàu có rõ rệt, cũng giống như trường hợp của ông U Yan Saik và bà Daw Chin Ma. Sau khi ngài Trưởng lão viên tịch, vào năm 1940, họ đã xây dựng và cúng dường một ngôi chùa lớn hai tầng. [Về chuyện các thí chủ xây chùa đã trở nên giàu có lạ thường, không hề bị hao hụt tài sản do việc cúng dường, xin xem thêm trong cuốn "Ân Đức Tam Bảo" do chúng tôi biên soạn.]

Vào tháng Tabodwe năm 1318 (âm lịch), tức 35 năm sau khi kim thân ngài được nhập tháp, ngài U Jineyya – vị trụ trì đời thứ tư của chùa Migadayon – vì một duyên sự đã cho khai quật các ngôi mộ. Khi khai quật, người ta phát hiện ra rằng không chỉ có kim thân của vị trụ trì đời thứ nhất, mà cả kim thân của vị trụ trì đời thứ hai (ngài U Sudassana) và đời thứ ba (ngài U Kusala) cũng được an táng chung trong các quan tài riêng biệt. Vì hai quan tài sau đã bị hư hỏng, mục nát nên được đem thả trôi sông. Riêng kim thân của ngài Trưởng lão trụ trì đời thứ nhất của chùa Migadayon thì lại hiện ra với những điều đặc biệt kỳ diệu đến khó tin:

2. Lớp quan tài ngoài bằng gỗ teak đã bị mối ăn sạch, nhưng khi chúng xâm nhập vào lớp quan tài đồng thiếc bên trong, người ta thấy mối chỉ làm tổ ngay bên cạnh kim thân của ngài Trưởng lão mà thôi.

3. Dù nằm dưới lòng đất suốt 35 năm dài, nhưng những tấm y đắp trên kim thân vẫn không hề bị mục nát hay hư hỏng. Mối cũng không hề đụng đến.

Mặc dù có tổ mối ngay bên cạnh kim thân, nhưng y áo cũng như thân thể của ngài không hề bị tổn hại hay khiếm khuyết, các phần thân thể vẫn còn nguyên vẹn. Lớp vàng lá được dát lên trước khi nhập tháp cũng vẫn giữ nguyên màu sắc, không hề bị xỉn màu.


4. Khi tháp gạch – nơi tôn trí kim thân – được phá bỏ để khai quật, một mùi hương thơm ngát tỏa ra ngào ngạt.

Vì kim thân của ngài không hề có mùi hôi, không bị khô héo hay hư hoại, trông như thể ngài vẫn đang nằm nghỉ một cách bình thản, nên người dân ở Pathein đã gọi đó là "Kim thân A-la-hán tái hiện", và cho đến nay họ vẫn đến đảnh lễ với lòng tịnh tín sâu sắc. [Chi tiết đầy đủ hơn xin tham khảo cuốn tiểu sử do ngài U Ācikkhana, thiền sư hướng dẫn phương pháp Tứ Niệm Xứ tại thành phố Pathein, biên soạn.]


# Trưởng lão U Sīla (1194 - 1269)

Trong lịch sử các bậc tu hành theo **Pháp hành** (*Paṭipatti*) tại Myanmar, tiểu sử của Trưởng lão U Sīla vô cùng cao quý và đặc biệt. Không chỉ tu tập cho riêng mình, ngài còn khuyến khích các vị Tỳ-kheo có cùng quan kiến và giới hạnh thực hành lối sống ẩn dật nơi núi rừng, từ đó khai sáng và thành lập sơn môn Forest Sect (Tăng đoàn Lâm cư) ở vùng Hạ Miến. Ngài cũng đã thành lập các học viện Phật giáo lớn. Tự mình thực hành lối sống lâm cư mẫu mực, cuộc đời ngài đầy rẫy những điều kỳ diệu, đáng để soi rọi và đảnh lễ, giống như các bậc Thánh giả trong **Trưởng Lão Tăng Kệ** (*Therāpadāna*) thời Đức Phật.

Tiểu sử của Trưởng lão U Sīla cũng rất khác biệt so với những bản tiểu sử thông thường. Đây không phải là tác phẩm được viết dựa trên quan điểm chủ quan của một soạn giả duy nhất. Thay vào đó, nó được tập hợp từ những thông tin được gửi về từ chư Tăng, Ni và Phật tử khắp nơi – những người đã từng quen biết hoặc được diện kiến ngài Trưởng lão. Tên và địa chỉ của người cung cấp thông tin đều được ghi chú rõ ràng kèm theo sự kiện. Không phải mọi thông tin gửi về đều được đưa vào; soạn giả đã kiểm chứng kỹ lưỡng nhiều lần, chỉ khi thấy hợp lý mới ghi chép lại. Soạn giả không ai khác chính là ngài Trưởng lão Nyaung Lay Pin Taw Ya (ngài U Ariya) – bậc **Đại tăng Chính trực bậc nhất** (*Aggamahāpaṇḍita*) lừng danh trong giáo pháp.

Xét cả 3 yếu tố chính: nội dung viết, người viết và phương pháp viết, bản tiểu sử này đều vô cùng vững chắc và đáng tin cậy. Có thể nói rằng "Một bản tiểu sử như thế này chưa từng có tại Myanmar".

Ngày nay, khi viết về lịch sử giáo phái hay tiểu sử của thầy mình, nhiều người thường có xu hướng chỉ đề cao "giáo phái của ta, thầy của ta", đó là điều rất đáng hổ thẹn. Những bản lịch sử giáo pháp và tiểu sử được viết một cách khách quan để tránh bị bậc trí giả chê cười là rất hiếm hoi. Thực ra, trong sự nghiệp phụng sự giáo pháp cao thượng và duy nhất này, không nên có sự phân biệt giữa "giáo phái của ta" hay "thầy của ta".

### Thời niên thiếu và giai đoạn học Pháp hành

Trưởng lão U Sīla sinh ra tại ngôi làng Ah Tet Zine Gaine, cách thành phố Bago khoảng hai dặm về phía Bắc. Ngài sinh vào sáng thứ Sáu, lúc 8 giờ, ngày mùng 8 tháng Natdaw năm 1194 (âm lịch). Thân phụ là ông U Tun Aung, thân mẫu là bà Daw Cho. Anh chị em gồm có ông U Shwe Thar,


Bà mẫu thân Daw Cho, trong thời gian mang thai bậc hữu học (Bodhisatta), đã phát khởi ước muốn được gìn giữ giới hạnh (Sīla) mỗi ngày và chỉ muốn dùng các loại thực phẩm thuần chay. Bà đã thực hành đúng như những gì mình mong muốn. Đúng như câu nói: "Cái gai sắc nhọn ngay từ khi mới nhú", bậc hữu học ngay từ thuở nhỏ đã biết giữ gìn oai nghi tề chỉnh, biết hổ thẹn và ghê sợ tội lỗi. Cậu bé không hề kén chọn thức ăn, nếu có món gì ngon đều biết chia sẻ cho bè bạn. Ai xin món gì, cậu cũng rộng rãi cho đi mà không hề giấu giếm. Cậu chưa từng mắng nhiếc hay đánh đập ai, và thường thích chơi trò làm tu sĩ. Đối với bạn bè, cậu luôn có lòng nhẫn nhịn bao dung.

Năm 10 tuổi, cậu đến học tại chùa của ngài U Hmu ở làng Kaw Pyin, gần bảo tháp Kyaik Dayya, phía tây bắc Pegu (Bago). Đến năm 12 tuổi, cậu được xuất gia Sa-di với pháp danh là **Shin Sīlasāra**. Vào tháng Tabodwe năm 1213 (theo lịch Myanmar), tại giới đàn (Sīmā) trên đồi tháp Kyaik Dayyone, làng Tanga, cậu đã thọ đại giới Tỳ-kheo với ngài trụ trì làng Pila Khat làm Thầy tế độ (Upajjhāya). Sau hai hạ lạp, ngài đến cầu học Pháp học (Pariyatti) tại trú xứ của ngài Bhone Gyi Pone (pháp danh **U Candālaṅkāra**) và ở đó cho đến khi được năm hạ. Chùa của ngài Bhone Gyi Pone khi ấy là một tu viện lớn với nhiều dãy liêu cốc bao quanh, tọa lạc tại góc đông bắc gần chợ lớn Pegu ngày nay, thường được gọi là chùa Htaung Kyaung. Ngay từ thời đó, ngài đã nổi tiếng là bậc khéo thuyết giảng và có lập trường kiên định.

Năm 1218, khi được năm hạ, ngài đến học tại chùa của ngài U Medhāvī tại vùng Puzundaung Taung Lon Pyan, Yangon (nay là tu viện Kyaikhtiyo). Sau một mùa an cư, ngài trở về Pegu và học thêm một năm với ngài U Vaṇṇa tại chùa rừng Kalyāṇī, vị vốn là người cùng làng. (Thời bấy giờ, các khu vực như Kalyāṇī, Hinghakone vẫn còn là nơi hoang vu, có voi hổ ẩn náu. Ngay cả tượng Phật nằm Shwethalyoung khi ấy cũng bị đất vùi lấp thành một gò cao, đến mức xe bò có thể đi ngang qua bên trên. Mãi đến năm 1243 mới được khai quật và tôn trí lại).

Năm 1220, khi được bảy hạ, ngài cùng hai vị pháp lữ đến học tại tu viện Ye Ngon, Ariyavaṃsa trên dặm đồi Sagaing trong một mùa an cư. Sau đó, ngài lại đến học tại tu viện Salin ở ngoại ô phía đông Mandalay thêm một năm nữa. Như vậy, bậc Trưởng lão đã dành trọn thời gian từ hạ thứ tám đến hạ thứ chín để chuyên tâm nghiên cứu Pháp học (Pariyatti), trước khi chính thức bước vào con đường tu hạnh đầu đà (Dhutanga) nơi rừng sâu. Dù cư ngụ tại bất cứ núi rừng nào, ngài vẫn song song thiết lập các trường Phật học lớn để hộ trì giáo pháp (Sāsana). Riêng phần mình, ngài nguyện trọn đời là bậc tu sĩ ẩn dật nơi rừng núi (Araññavāsī), một hành giả (Yogī) tiêu dao chốn lâm tuyền.


### Thọ hạnh nghĩa địa và dấn thân vào rừng sâu

Năm 1222, khi được chín hạ, phần vì lao lực do nghiên cứu kinh điển, phần vì quả báo từ ba-la-mật (Pāramī) quá khứ thúc giục, sức khỏe ngài suy giảm nên phải quay về quê nhà. Khi sức khỏe dần bình phục, ngài lần lượt chuyển đến trú ngụ tại làng La Ka Mut phía tây Pegu, làng Nyaung Pin phía nam chợ, và làng Kone Tan ở Kyaik Patine. Những nơi ngài dừng chân không phải là chùa chiền, mà chính là các bãi tha ma (nghĩa địa) của các làng đó. Vì những nơi này chưa đủ sự tĩnh lặng để gọi là tu viện rừng, nên ngài thường chọn những khu rừng cách xa làng mạc khoảng năm phà-lông (tương đương 500 tầm) để tịnh tu.

Các vị pháp lữ cùng học ngày trước là ngài U Vaṇṇa (ở Kalyāṇī) và ngài U Sumana (người làng Nyaung Pin) cũng lần lượt vào rừng Kalyāṇī và vùng Shwe Natha phía đông để tu tập. Ngài U Ācara, vị đồng hành từ Mandalay về, cũng cùng ngài U Vaṇṇa vào rừng, sau đó chuyển đến vùng Krakhat Waing.

Bậc Trưởng lão và ngài U Vaṇṇa khi ấy đã cùng nhau khích lệ ngài Bhone Gyi Pone – vị giáo thọ trưởng của tu viện Htaung Kyaung, một bậc có uy tín lớn và đông đảo đệ tử – cùng dấn thân vào con đường tu rừng. Ngài Bhone Gyi Pone vốn là bậc có sẵn đức tin và lòng tinh tấn (Saddhā-Viriya), lại là bậc thầy cũ của các ngài. Thời bấy giờ, các vị tu sĩ trẻ tu rừng không khỏi đau lòng khi thấy một số vị Tăng sĩ mải mê chạy theo những việc phi pháp như nuôi bò, nuôi xe, xem bói, chữa bệnh, tích trữ tiền bạc – những lối sống không như pháp, tà mạng và làm hỏng đức tin của cư sĩ (**Anesana, Micchājīva, Kuladūsana**). Với ý định cải thiện tình trạng này từ "ngọn đầu đàn", các ngài đã từng bước thuyết phục và dẫn dắt vị thầy của mình. Ngài Bhone Gyi Pone dần nhận ra những thói quen xấu của hàng Tỳ-kheo cư ngụ tại thôn làng (Gāmavāsī), thấy rõ sự dẫn dắt nguy hại của lưới ái dục, và hiện trạng những người không có giới hạnh (Alajjī, Dussīla) ngày càng đông đảo do chỉ biết bắt chước những thói hư tật xấu của nhau.

Ngài tự suy xét: "Ta cai quản đông đảo tăng chúng, làm vị đứng đầu giáo khu, nhưng nếu chỉ bấy nhiêu thôi thì chưa đủ. Đó chỉ mới là chút công đức tầm thường, chức vị giáo thọ trưởng chưa thể đảm bảo an toàn trước hiểm họa của các cõi khổ (Apāya)". Từ đó, tâm nguyện xuất thế của ngài ngày một lớn mạnh.

### Trả ơn thầy bằng cách thiêu hủy đồ vật phi pháp

Trong thời gian đó, Trưởng lão U Sīla cũng dùng nhiều phương cách để dẫn dắt vị thầy cũ của mình mà không làm tổn thương lòng tôn kính. Một ngày nọ, ngài khoác y mang bát từ trong rừng tìm đến tu viện của ngài Bhone Gyi Pone.


Ngài nhớ lại thuở còn nhỏ, khi chưa am tường luật tạng (Vinaya) và còn ở với ngài Bhone Gyi Pone đến hạ thứ năm, mỗi khi thầy có Phật sự cần đi xa, chính ngài thường là người đánh xe bò. Nhờ bản tính cẩn thận, làm việc gì cũng chu đáo khiến người lớn an tâm, ngài thường được thầy khen ngợi: "Vị Tỳ-kheo trẻ này đánh xe bò vừa nhanh lại vừa giúp sức cho bò được thảnh thơi". Vì thế, hễ có việc đi xa là ngài **U Sīla** lại được giao nhiệm vụ đánh xe. Nhưng chính những thói quen đó đã thôi thúc ngài **U Sīla**, sau khi đã tinh thông luật tạng, quyết định rời khỏi tu viện Htaung Kyaung. Vừa đi vừa hồi tưởng những chuyện cũ, ngài đã đến tu viện của ngài Bhone Gyi Pone. Tuy nhiên, ngài không bước vào trong viện mà dừng chân tại một nhà nghỉ (Zayat) bên ngoài. Ngài trải tấm da ngồi, vừa tu tập các đề mục thiền định (Kammaṭṭhāna) như tâm từ (Mettā), vừa suy xét cách để thưa chuyện với thầy. Ngài ở đó suốt hai ngày với quyết tâm rằng: "Nếu một vị Tỳ-kheo không có giới hạnh có thể làm hư hỏng hàng ngàn người khác, thì một vị Tỳ-kheo có giới hạnh cũng phải có khả năng dẫn dắt hàng ngàn người trở nên tốt đẹp".

Việc ngài không vào trong tu viện là vì hầu hết các ngôi chùa đó thường có những phần xây dựng liên quan đến việc Tăng sĩ trực tiếp điều hành hoặc chỉ đạo làm những việc không phù hợp với giới luật (Payoga). Những vị Tỳ-kheo tôn trọng luật tạng thường không lưu trú tại những ngôi chùa như vậy, thậm chí không đảnh lễ các ngôi tháp nếu chúng được xây dựng phi pháp. Những ngôi chùa, tự viện không đúng pháp thì dù là bậc tu hành cũng không nên thọ dụng, vì hễ chạm vào là phạm tội (Āpatti). Những người thí chủ thiếu trí tuệ khi cúng dường những nơi như vậy cũng bị tổn giảm phước báu. Những người không hiểu rõ lý lẽ này thường lầm tưởng rằng các ngài đang "làm cao" hoặc quá khắt khe.

Biết ngài U Sīla đang ở nhà nghỉ, ngài Bhone Gyi Pone đích thân đi ra gặp.

"Này đại đức, tại sao về đến đây mà không lên chùa lại ở chỗ này? Ông thấy tôi có lỗi lầm gì sao?" Ngài Bhone Gyi Pone hỏi.

"Bạch thầy, thầy là bậc ân sư vĩ đại của con. Nhờ ơn thầy mà con mới thông suốt các kinh điển luật tạng. Vì thấy có những điều chưa phù hợp với luật tạng nên con muốn báo đáp ân đức của thầy, hiện con đang chờ đợi cơ hội thích hợp để trình thưa." Ngài U Sīla bạch lại. Nghe vậy, ngài Bhone Gyi Pone không những không giận mà còn tỏ lòng hoan hỷ. Ngài phán rằng: "Này đại đức, tôi có rất nhiều đệ tử nhưng tôi chỉ tin cậy mỗi ông. Nếu có điều gì không đúng, xin hãy sửa chữa giúp tôi, đừng bỏ mặc tôi. Tôi cho ông toàn quyền quyết định mọi việc."

Được lời như cởi tấm lòng, ngài U Sīla bạch: "Nếu thầy đã cho phép, xin thầy cho con được dọn dẹp tất cả những thứ không phù hợp với đời sống tu hành, từ xe cộ đến thuyền bè".

Vì người thầy đã hoàn toàn đồng ý, ngài đã thu gom toàn bộ những đồ vật không hợp đạo hạnh đó rồi đổ dầu hỏa và đốt trước Đức Phật.

Ngài Bhone Gyi Pone cũng thuyên chuyển mọi việc để vào rừng ẩn tu giống như các đệ tử của mình. Ngài không hề e ngại chuyện "trẻ dạy già", mà với tấm lòng luôn noi theo gương hạnh của vị Sa-di thưa thỉnh Ngài **Sāriputtra** rằng y của Ngài bị chùng xuống, Ngài đã hoan hỷ chấp nhận. Việc này đã trở thành một giai thoại lưu truyền trong Giáo pháp. (**Evaṃ saṃvarā hi tassa bhagavato parisā yadidaṃ aññamaññavacaneena, aññamaññavuṭṭhāpaneena** - Luật tạng: *Gia quyến của Đức Thế Tôn là như vậy, ấy là nhờ sự nhắc nhở lẫn nhau, sự thức tỉnh lẫn nhau.*)

### Vị Tỳ-kheo sống bằng cách giao du với thế tục

Điều đặc biệt nhất trong việc xuất gia vào rừng của Ngài Bhone Gyi Pone chính là việc Ngài thực hiện nghi thức **Pabbājanīyakamma** (Tăng sự cư xuất) hay còn gọi là tự trục xuất mình. Tội lỗi này không phải do Tăng chúng cáo giác hay ép buộc, mà chính Ngài tự xem mình là người có lỗi và yêu cầu thực hiện nghiệp này. Cốt lõi của **Pabbājanīyakamma** là khi một vị Tỳ-kheo vì mục đích tìm cầu lợi dưỡng từ thí chủ mà thực hiện các hành vi như tặng trái cây, thuyết pháp nịnh hót, coi bói, chữa bệnh... bằng 21 cách tà mạng (**Anesana** - tà mạng, **Kuladūsana** - làm hư hỏng các gia đình). Nếu vị nào dùng các phương cách này để có được vật dụng, thì không chỉ vị đó mà không một vị Tỳ-kheo nào khác được phép thọ dụng, phải vứt bỏ những vật dụng đó. Các Tỳ-kheo khi thấy hoặc nghe biết phải có trách nhiệm răn bảo để vị ấy không tái phạm. Nếu răn bảo đến ba lần mà vẫn không sửa đổi thì phải thực hiện **Pabbājanīyakamma** (trục xuất). Sau đó, vị ấy không được phép thọ nhận cúng dường tại ngôi chùa đó, với những vật dụng đó và ngay cả tại ngôi làng của vị thí chủ đó nữa. Đây là một hình thức tìm cầu lợi dưỡng phi pháp rất nghiêm trọng.

Bởi vì nếu những vị Tỳ-kheo xấu này trà trộn với thế tục, dùng đủ mọi cách để có được vật dụng, thì những vị Tỳ-kheo chân chính nếu chẳng may thọ dụng (nếu đó là tì-hỷ hay vật dụng) đều sẽ phạm tội. Các thí chủ khi đó cũng không còn lòng tin để cúng dường cho những vị Tỳ-kheo đức hạnh không dùng các thủ đoạn đó, dẫn đến một mối nguy hại lớn cho Giáo pháp. Phước báu của thí chủ cũng không được viên mãn. Do đó, một giới luật đã được ban hành để trục xuất những loại Tỳ-kheo giao du thế tục, tìm cầu lợi dưỡng và làm hư hoại đức tin của người cư sĩ.

Ngài Bhone Gyi Pone thực tế không hề phạm phải những lỗi lầm này. Những gì Ngài cảm thấy không thanh tịnh, Ngài đã từ bỏ ngay từ khi còn ở chùa. Tuy nhiên, Ngài Bhone Gyi Pone đã tự nhận lỗi về mình và thỉnh cầu Tăng chúng thực hiện nghiệp này đối với Ngài.

Ngài nói: "Nếu có ai hỏi tại sao một vị Giáo trưởng (Gaing Oke Gyi) lại bị phạt **Pabbājanīyakamma**, hãy cứ để họ nói rằng đó là do tội **Kuladūsana** (làm hư hại đức tin thí chủ)". Ngài đã chấp nhận hy sinh danh dự cá nhân vì tương lai của Giáo pháp, để hàng hậu học lấy đó làm gương mà tránh né.


Ngài muốn dạy cho con cháu đời sau bài học rằng: không nên luyến ái vật chất thế gian, niềm an lạc đích thực chỉ có ở chốn rừng sâu. Việc Ngài tự gánh chịu hình phạt nặng nề hơn cả lỗi lầm thực tế, tự đặt mình vào vị trí kẻ sai lầm để hoằng dương Giáo pháp là một điều vô cùng hy hữu. Một số người khi phạm lỗi thường có tâm không ngay thật, cố tìm cách cắt xén, bóp méo lời Phật dạy để che đậy lỗi lầm của mình. Giống như câu "lấy lá thốt nốt che sét đánh", khi những lời dạy trong Pāḷi không còn đủ sức che đậy lỗi lầm, họ thậm chí còn làm sai lệch cả kinh điển bằng sự gian trá của mình. Cuối cùng, từ một người "tuyên bố không lỗi" (**Anavajjavādī**), họ bước lên chiếc thang dây của sự gian trá (**Keerāṭiyapakkha**) để rồi rơi vào hầm bẫy của tà kiến, phủ nhận cả địa ngục và thiên đàng.

### Cảnh Ngài Bhone Gyi Pone rời chùa vào rừng

Ngài Bhone Gyi Pone, dù không có lỗi cũng tự nhận có lỗi để làm cho Giáo pháp được thanh tịnh, quả thật là bậc thiện tri thức có đức tin và trí tuệ chân chính. Việc bộc lộ và thú nhận lỗi lầm là tướng trạng của bậc thiện trí, giúp cho Giáo pháp thanh tịnh và bản thân hành giả đạt được pháp thượng nhân.

Trong khi Ngài Bhone Gyi Pone đang "tẩy rửa" hết những thói quen và hơi hướm của một vị Tỳ-kheo trú làng (**Gāmavāsī**), các đệ tử Tăng Ni và thí chủ đã đưa ra đủ mọi lý do để ngăn cản Ngài vào rừng. Họ tìm cách phá vỡ ý định của Ngài.

Ngài điềm tĩnh an ủi họ: "Các đệ tử đừng ngăn cản ta nữa. Ta đã nuôi dưỡng đồ chúng và hoàn thành trách nhiệm hoằng pháp (Pariyatti) rồi. Nay ta đã gần 67 tuổi, cái chết đã cận kề. Không phải vì ta không thương các con, nhưng nếu đã gặp được Giáo pháp giải thoát (**Niyyānika**) mà không chứng đắc được đạo quả nào thì thật uổng phí một đời." Nói rồi, Ngài thong thả bước xuống khỏi ngôi đại tự. Giống như con cá thoát khỏi lưới, như ngọn lửa đang bùng cháy mãnh liệt không gì ngăn cản nổi, Ngài tiến bước giữa hàng ngũ đồ chúng. Ngay tại cổng chùa, Ngài đã nhặt được một chiếc bình bát, một cây gậy và bộ **Ticīvarika** (tam y) do ai đó đặt làm đồ phấn tảo (paṃsukūla).

Giống như vị hoàng đế nhận được ngũ đại bảo vật trong lễ đăng quang, Ngài đã thay bộ y phấn tảo vừa nhặt được ngay tại cửa chùa. Trong khi các đệ tử và thí chủ nhìn Ngài với đôi mắt đẫm lệ, khóc lóc van xin, Ngài đã gọi hai vị đệ tử cũng là những người bạn đồng hành thiện lành (kalyāṇamitta) là U Wunna và U Sīla đi cùng và...


... tiến vào rừng **Kalyāṇī**. (Ngài Bhone Gyi Pone sinh năm 1159, vào rừng năm 1226. Khi đó trưởng lão U Sīla đã được 13 hạ lạp. Ngài U Wunna lớn hơn Ngài U Sīla 4 tuổi.)

Kể từ đó, "Tông phái Taw Ya" (Tông phái Ngụ rừng) trở nên nổi tiếng ở vùng Hạ Myanmar. Các bậc trưởng lão cũng tùy duyên mà thuyết pháp khuyến tấn mọi người.

Ngài Bhone Gyi Pone trú tại ngôi chùa có sàn tứ trụ cây sơn ở phía nam tự viện **Kalyāṇī**, còn trưởng lão U Sīla trú tại một ngôi chùa nhỏ phía tây đó. Sau mùa an cư, Ngài Bhone Gyi Pone dời đến Shwe Hintha Kone, và vào năm 1228, trưởng lão U Sīla cũng theo Ngài đến đó an cư. Khi đó, nơi đây vẫn là vùng rừng rậm hoang vu, nơi trú ngụ của voi và hổ.

Ngày qua ngày, Tông phái Taw Ya càng thêm lớn mạnh. Ngài Bhone Gyi Pone được tôn làm vị lãnh đạo (Nāyaka). Theo sự vận động của Ngài U Wunna, từ tháng Tazaungmon năm 1233, các kỳ thi Luật tạng đã được tổ chức tại Kyakhat Wine; và từ năm 1253, các lễ Pavāraṇa (Tự tứ) lớn bắt đầu được cử hành. Tại Thượng Myanmar, các vị Tỳ-kheo trẻ cũng noi theo gương hạnh này (**Diṭṭhānugati**), giữ gìn giới luật trang nghiêm và nề nếp cho đến tận ngày nay.

### Các thói quen của Trưởng lão

Trưởng lão U Sīla sau khi theo thầy an cư được hai năm, những năm sau đó Ngài thường đi độc hành khắp nơi trong rừng sâu để thực hành hạnh **Araññakaṅga** (hạnh đầu đà ngụ rừng). Ngài đi khắp vùng xung quanh Bago, đến Kyaikhto, Thaton, Mawlamyine, Mudon, đảo Bilu... đến mức không thể cố định nơi an cư. Đi đến đâu, Ngài cũng chỉ dựng chòi lá tạm để trú ngụ, không có nơi ở cố định. Ngài không dùng chăn, nếu lạnh thì dùng tấm da thú trải ra để đắp.

Thân hình trưởng lão cao khoảng 5 bộ rưỡi (1m67), hơi gầy. Da dẻ Ngài trắng vàng, tỏa ra vẻ sáng rực rỡ. Đối với các Phật sự, khi được thỉnh mời Ngài đều lân mẫn quang lâm. Tâm Ngài rất kiên định và ngay thẳng. Ngài luôn khiêm tốn che giấu công phu tu tập (**Paṭipatti**). Ngài luôn mong muốn các trường Phật học lớn được phát triển. Khi đi đường, đôi khi Ngài có thị giả (Kappiya) hoặc người hộ tùng đi cùng. Trên đường đất Ngài chỉ đi bộ, và hễ đến đâu người ta cũng trải vải xuống đường nên chân Ngài không chạm đất. Dù có trải vải, nhưng chỉ khi thí chủ thưa rằng: "Xin Ngài hãy vì sự chứng đắc của Đạo, Quả, Niết-bàn mà lân mẫn cho chúng con được cúng dường", thì Ngài mới bước lên. Tuy nhiên, Ngài tuyệt đối không dẫm lên tóc mà người dân trải xuống. Tại những nơi Ngài quang lâm vì Phật sự, người dân kéo đến đón tiếp đông như trẩy hội. Sau tuổi 70, Ngài di chuyển bằng cáng hoặc tàu hỏa.

Vì mọi người đều biết Ngài luôn nghiêm trì hạnh đầu đà Panthukula (hạnh đầu đà mặc y phấn tảo – nhặt vải bỏ hoang, vải liệm để may y), nên một số người đã đem các tấm vải y đặt ở nghĩa trang hoặc bên vệ đường rồi cung thỉnh: “Bạch Đức thầy, xin thỉnh Ngài đến quán niệm xác chết (Asubha) ạ.” Lại có người đem đặt vải ở lối đi vào nhà vệ sinh rồi thỉnh: “Xin thỉnh Ngài đến để chúng con được chiêm bái, đảnh lễ ạ.”

Thế là một ngày Ngài phải thay y mới đến năm, sáu bận.


Sau một thời gian, ngài phán rằng: "Ta chẳng đau bụng mà cứ phải đi vào nhà vệ sinh (vì người ta cúng dường y mới liên tục), chẳng có đám ma mà cứ phải đi xem tử thi suốt (ám chỉ việc phải tiếp khách hằng ngày)."

Khi không có vật thực, ngài chỉ dùng nước để tri túc. Ngài cũng chỉ thọ thực tại một chỗ, dùng một bát (theo hạnh đầu đà *Ekāsanika*). Vì hay bị đau răng nên ngài luôn dùng đồ chay. Do có bệnh trĩ và hen suyễn mạn tính, nước cơm được cho là phù hợp nên các hộ giả (*kappiya*) thường tìm để dâng cúng. Họ cũng cho thêm một ít muối Tân-đà (*sindhava*) vào để ngài dùng.

Ngài thường khuyến khích các vị Tỳ-kheo trẻ nên học Pháp (Pháp học - *Pariyatti*) và khuyên các vị Tỳ-kheo lớn tuổi nên vào rừng tu tập (Pháp hành - *Paṭipatti*). Bất cứ nơi nào ngài đến, các thiện nam tín nữ thường kéo đến từng đợt, nán lại để cung thỉnh ngài truyền ngũ giới. Ngài thường ban phước ngắn gọn rồi bảo: "Nào, hãy niệm Namo Tassa..." rồi hướng dẫn họ tụng. Xong xuôi, ngài thường xua tay bảo: "Thôi, đi đi, đi đi." Ngài không trò chuyện thân mật với ai. Nếu có người già hoặc người ngoại quốc đi cùng, ngài mới thuyết một đoạn Pháp ngắn. Những người hiểu rõ tập quán của ngài thường đưa người già và người ngoại quốc lên phía trước. Khi thuyết Pháp, ngài dạy rất ngắn gọn, súc tích để họ không bao giờ quên những giáo lý căn bản về lòng tôn kính Tam Bảo: "Đừng sát sinh, đừng hại cả đến trứng chấy, vì sẽ đọa địa ngục", v.v... Đôi khi ngài cũng truyền dạy về: **Rūpakkhandhā aniccā** (Sắc uẩn là vô thường), v.v. Một vị Hòa thượng từng theo hầu ngài trong ba năm kể lại rằng: "Pháp mà Ngài thường hành cũng không khác mấy so với những gì chúng tôi biết, chỉ khác ở chỗ Ngài có sự tinh tấn phi thường và lòng chân thực, thẳng thắn tuyệt đối."

Nơi nào Ngài U Sīla đến, vật dụng cúng dường và lợi lộc phát sinh nhiều đến mức đáng kinh ngạc. Ngài có được bao nhiêu đều đem cúng dường hết cho chư Tăng. Còn phần mình, ngài chỉ giữ lại một bình bát và ba tấm y (*ticīvara*), cứ thế mà chu du hết khu rừng này đến khu rừng khác.


### Đối mặt với các loại hiểm nguy

Suốt cuộc hành trình tu tập, Ngài thường xuyên đi sâu vào những khu rừng rậm để thực hành hạnh đầu đà trú xứ rừng rậm (*Araññavāsī*). Hầu như không có khu rừng hay ngọn núi nào mà Ngài chưa từng đặt chân đến. Trong những khu rừng già âm u, thú dữ vô cùng nhiều và hiểm nguy luôn rình rập. Tuy nhiên, những điều mà người bình thường coi là đại họa thì đối với Ngài lại giống như những người bạn. Trong kinh **Bahu-dhātuka Sutta** (*Kinh Đa Giới, thuộc Trung Bộ*), có dạy rằng: "Tai ương không phát sinh từ bậc thiện trí, nó chỉ phát sinh từ kẻ ác. Do đó, bậc thiện trí không có tai ương."


### Chuyện về hổ

Vào năm 1288 (Miến lịch), khi Ngài trú tại tịnh thất nhỏ bốn cột tại rừng Pin-inn, phía Tây Nam bảo tháp Kyaik Day-ya, nơi đây vốn là địa bàn của loài hổ. Dưới sàn tịnh thất và dọc theo con đường đi đến nhà vệ sinh, tiếng hổ gầm vang mỗi đêm. Nhưng đối với Ngài, chúng chẳng khác nào loài mèo hay trâu bò hiền lành.

Một lần nọ, Ngài nghỉ đêm tại một nhà nghỉ ở nghĩa trang làng Kamm-myint, thượng nguồn sông Bago. Ở làng đó có một con hổ dữ thường xuyên vồ chết trâu bò mỗi đêm. Dân làng vô cùng lo lắng cho Ngài nhưng ban đêm không ai dám ra ngoài để báo tin. Đến sáng sớm, họ đi xem với ý nghĩ chắc Ngài đã "làm mồi cho hổ", nhưng nửa đường thì gặp Ngài đang đi khất thực. Họ vô cùng mừng rỡ cung thỉnh Ngài về làng dâng vật thực. Khi đi theo Ngài trở về sau buổi khất thực, họ kinh hãi thấy Ngài đi ngang qua con hổ dữ chỉ cách chừng ba gang tay (khoảng 1.5 mét).

Hồi Ngài ở rừng Day-sun-par, có hộ giả U Akā cùng theo hầu. Vào mùa đông, vị hộ giả này thường đi kiếm củi vào ban ngày để đốt lửa sưởi ấm và cũng để đuổi hổ vào ban đêm. Một con hổ lớn lững lững tiến thẳng về phía đống lửa. Ngài đang ở trên tịnh thất sàn cao, vị hộ giả tuy sợ hãi không dám kêu cứu nhưng cũng không dám bỏ chạy. Ông vừa run vừa tụng kinh bên đống lửa. Con hổ lớn cứ thế tiến đến và nằm phục ngay cạnh đống lửa. Một lúc sau, thấy con hổ nằm lim dim ngay sát đống lửa, vị hộ giả khởi lên ý nghĩ: "Hay là mình dùng xẻng xúc than hồng đổ vào miệng nó cho rồi?" Ngay khoảnh khắc đó, con hổ liền gầm lên dữ dội.

### Tâm niệm

Ngài từ trên tịnh thất nói vọng xuống với giọng nghiêm nghị: "Này hộ giả, sao ông lại khởi ác niệm muốn hại nó? Hãy làm đúng phận sự của mình đi, hãy xin lỗi nó và rải tâm từ." Sau khi vị hộ giả xin lỗi và rải tâm từ, con hổ lớn mới nằm yên trở lại. (Ở các khu rừng vùng Kawkareik, người ta cũng thường thấy hổ đến nằm ngủ ngay dưới chân cầu thang tịnh thất của Ngài).

### Chuyện về voi

Khoảng năm 1250 (Miến lịch), Ngài trú tại tịnh thất làng Thet-ngal-kyin, cách Kyaik-ko khoảng 3 dặm. Khi ba người dân làng đến rừng Maung-taung để thỉnh Ngài về, cách làng khoảng một dặm, họ chạm trán một con voi rừng hung dữ từng dẫm chết nhiều người. Thấy voi, ba người dân làng hoảng sợ bỏ chạy, một người trèo tót lên cây. Riêng Ngài vẫn đứng yên, không tiến cũng không lùi. Con voi đang lao điên cuồng về phía Ngài, nhưng khi đến gần, nó bỗng dưng quỳ rạp xuống. Ngài vẫn điềm nhiên không chút lay chuyển. Con voi rừng quỳ đó, nước mắt chảy dài, nó cúi đầu rồi lẳng lặng quay đi.

Tương tự vào khoảng năm 1257 (Miến lịch), khi trú tại các tịnh thất ở rừng In-sine-maung (Kyaik-hto), Myae-ni-kone (Thaton), và núi Khayar, Ngài thường gặp voi rừng trên đường khất thực, nhưng lũ voi luôn tự động nhường đường cho Ngài. Thậm chí khi một đàn voi rừng đi vào khuôn viên tịnh thất, Ngài chỉ nói: "Các ngươi đừng quấy rầy nơi này", chúng liền rời đi như thể hiểu được tiếng người.

Một lần khác, khi đang ở tịnh thất làng Kawk-ka-dut, Ngài đi bộ một mình trong đêm đến tịnh thất Phaya-thone-su (phía Đông thị xã Kyaik-hto) để làm lễ thọ giới cho một vị Tỳ-kheo. Giữa đường có một trạm nghỉ chân nơi các bác tài xe bò đang dừng nghỉ. Một người muốn theo Ngài đến Kyaik-hto nên xin được đeo bát đi theo. Trên con đường xuyên rừng dưới ánh trăng, từ xa đã thấy một đàn voi rừng đang tiến lại.

Người đi cùng nài nỉ: "Bạch Ngài, xin hãy quay lại!", nhưng Ngài không đổi ý. Người đó đành trao trả bình bát cho Ngài rồi bỏ chạy thục mạng. Khi ngoảnh lại nhìn, anh ta thấy bóng dáng Ngài chìm nghỉm giữa đàn voi mà không hề nao núng. Về đến chỗ đoàn xe bò, anh ta hốt hoảng báo tin: "Tầm này chắc chẳng còn tìm thấy mảnh xác nào của vị sư kia nữa". Mọi người hỏi thăm rồi bảo: "Chắc đó là Ngài U Sīla rồi. Vị này voi không dẫm, hổ không ăn thịt đâu." Sáng hôm sau, người đó vội vã lên núi Phaya-thone-su thăm hỏi và xin sám hối vì những ác niệm và sự thất kính của mình.

Trong số rất nhiều lần Ngài đối mặt với voi rừng, sự kiện xảy ra khi Ngài trú tại tịnh thất làng Moe-paw trên đường lên núi Kyaiktiyoo là kinh ngạc nhất. Khi đó, Ngài đang từ làng Moe-paw đi về phía núi Thet-ngal theo đường Kyaiktiyoo, và thầy Paung Hlaing ở Bago cũng đeo bát đi theo làm người hộ tăng trên đường.

Trên đường đi, những người đi lễ Phật trở về và dân làng lân cận đã vây quanh can ngăn rằng:

“Bạch Ngài đại đức, xin đừng đi con đường này. Có một con voi rừng hung dữ tên là Kyawt Hmu đang lảng vãng. Hễ thấy người là nó đuổi theo giày xéo cho đến chết. Cách đây không lâu, nó đã giẫm chết bốn người Shan; hồn ma của họ hiện đang cưỡi trên lưng con Kyawt Hmu đó. Xin Ngài đừng đi vào!”

Gặp ba người Punjabi và một sĩ quan quân đội Anh cầm súng trên tay, họ cũng nói những lời tương tự để ngăn cản. Nhưng Ngài đại đức vẫn thản nhiên bước tiếp. Chẳng bao lâu sau, Ngài chạm trán trực diện với con voi dữ Kyawt Hmu. Vì Pho Ka Lay là người có lòng tin và hiểu rõ về Ngài nên không mấy hoảng hốt, chỉ tập trung quan sát Ngài. Về phần Ngài đại đức, diện mạo không có gì thay đổi, vẫn ung dung bước về phía trước.

Con voi đang lao đến điên cuồng, nhưng ngay khi đến gần Ngài, nó bỗng cúi gục đầu, buông vòi xuống đất và rống lên. Lúc đó, người ta thấy bốn hình bóng giống như người, đội mũ đỏ, từ trên lưng voi nhảy xuống và chạy mất. Sau đó, con voi tránh đường và đi vào rừng sâu. Mọi người không ngớt lời ca ngợi: “Đức hạnh và lòng từ bi của Ngài đại đức thật vô cùng linh hiển!”

### Bò, rắn, muỗi, kiến, ong

Thời gian Ngài trú tại núi Seik Phu, một ngày nọ, Ngài vào chùa Mezaí trong thị trấn để lo Phật sự. Trên đường trở về, khi đến một cây cầu gạch hẹp, Ngài chạm trán với một con bò đực hung hăng đang lao tới. Vị trụ trì chùa Mezaí đi tiễn Ngài vô cùng lo ngại. Tuy nhiên, Ngài đại đức vẫn giữ phong thái điềm tĩnh, bước đi như thường. Khi đến gần, con bò đực dữ tợn bỗng tránh sang một bên rồi chạy mất.

Khi ở tại dãy đồi Kyaik Pa Taing, bên trong hang động có một con rắn lớn dài khoảng 15 trượng, vòng thân chừng ba gang tay đang nằm. Ngài chỉ nói: “Cần phải sống không gây phiền hà cho nhau,” như hiểu được lời Ngài, con rắn lẳng lặng bò ra ngoài.

Lúc ở rừng Kaw San tại làng Kyaik Ka Tha, vùng Kyaikhto, có một con rắn lớn dài khoảng 12 trượng, trên mình có chín đốm tròn bò lên lò sưởi của am lá. Trong khi các thí chủ đang hoảng sợ, Ngài đại đức quang lâm và bảo: “Nơi đây là nơi các bậc thiện trí làm việc phước lành. Không nên gây nhiễu loạn.” Ngay sau lời nói đó, con rắn bò xuống khiến mọi người vô cùng kinh ngạc.


### Các bậc A-la-hán và những bậc đặc biệt

Hơn nữa, tại thiền viện Shwe Kyin có rất nhiều muỗi, kiến, mạt và các loại côn trùng gây ngứa. Mặc dù Ngài đại đức ngồi lễ Phật hay thiền quán suốt một, hai giờ đồng hồ nhưng không hề lay chuyển một chút nào. Những người thọ giới bát quan trai ở lại đêm tại chùa thường nói với nhau rằng: “Muỗi không cắn Ngài,” hoặc “Chắc chắn là có cắn, nhưng nhờ định lực nên Ngài vẫn bất động.” Họ vừa xua muỗi bằng khăn vừa bàn luận như vậy.

Tương tự, khi Ngài đến vùng Pyapon để thiết lập tự viện và kiết giới sima, có một mảnh đất mà chủ đất không thuận tình nên không thể khất thực hay mua lại được. Nhưng khi Ngài vừa đến, chủ đất tự nhiên lại đến cúng dường. Sau khi kiết giới xong, mảnh đất vốn đầy kiến và các loại côn trùng gây hại bỗng nhiên tất cả sinh vật ấy đều rời đi hết, điều này đã trở thành một câu chuyện truyền tụng đầy kinh ngạc.

Tại thiền viện rừng núi Seik Phu, khi một đàn ong lớn đang làm tổ bay lượn rộn ràng khiến các thí chủ không dám lại gần. Ngài chỉ nói: “Các ngươi không nên làm phiền những người đến đảnh lễ.” Ngay lập tức, đàn ong trở về tổ và nằm yên tĩnh.

### Hang động bị sụp

Khi Ngài đang trú tại một hang động lớn ở khu vực Sima Kone, một ngày nọ, một cậu bé chăn bò bỗng thấy hang động đổ sụp xuống. Cậu liền chạy vào làng báo tin. Cả làng rúng động. Dân làng vừa chạy đến vừa than khóc trong đau xót: “Ngài đại đức chắc chắn đã viên tịch rồi!” Nhưng khi đến nơi, họ thấy Ngài đang ngồi điềm tĩnh dưới một gốc cây gần hang động. Lúc đó lòng họ mới nhẹ nhõm. Khi họ bạch lại sự việc, Ngài bảo:

“Ừ... hang đổ rồi, đúng như các con thấy. Lúc đó ta đang ở trong hang, bỗng nghe thấy tiếng kêu ‘Cứu con với Ngài ơi, cứu con với Ngài ơi’ vang lên liên tục từ bên ngoài. Ta liền bước ra vòng quanh hang để xem thử nhưng không thấy ai cả. Ngay lúc ta đang quan sát thì hang động đổ sụp xuống.”

### Các loài phi nhân và chư Thiên

Kinh nghiệm tu hành trong rừng của Ngài đại đức U Sīla về những chuyện kỳ lạ có lẽ kể không bao giờ hết. Ngay cả những gì các vị có duyên gặp gỡ ghi chép lại được cũng đã rất nhiều và vô cùng đặc biệt. Với các bậc thánh nhân, những điều mà người phàm cho là kỳ bí thì đối với các Ngài chẳng có gì lạ lẫm. Các Ngài cũng không muốn phô diễn, vì điều đó là dư thừa, thậm chí các Ngài còn không muốn nhắc đến trong lời nói.



Dù không nhìn thấy sức mạnh của giới hạnh (Sīla), lòng từ (Mettā), lời chân thật (Sacca) và sự nhẫn nhục (Khanti), nhưng chúng ta cần nhận thức rằng những điều tưởng chừng không thể trong mắt con người lại có thể xảy ra một cách dễ dàng. Ý muốn của một người có pháp bảo trong tâm thì muốn gì được nấy, phát nguyện là thành tựu. Đó chính là thần thông vậy.

Trong những cuộc tiếp xúc với loài vật, chúng ta thấy chúng lắng nghe lời nói như thể hiểu được ngôn ngữ loài người. Qua các câu chuyện tiền thân (Jātaka) như Vessantara, Suvaṇṇasāma, chúng ta đã được nghe và đọc về sự thuần hóa của loài vật với con người, sự giúp đỡ lẫn nhau bằng tâm từ, và cuối cùng là việc con người và loài vật trò chuyện với nhau.

Ngày nay, phương pháp “truyền tâm thuật” (telepathy) đang được các nước duy vật luyện tập và sử dụng. Các loài vật cũng giao tiếp với nhau bằng phương pháp này. Giữa người với người, dù cách xa hàng vạn dặm vẫn có thể giao tiếp được. Những khả năng này vẫn luôn tồn tại trong thế gian. (Hãy xem cách truyền tâm thuật của bà-la-môn Bāvarī trong Sutta Nipāta). Những điều cần biết là vô cùng tận. Những gì chúng ta thấy và biết chỉ là một phần rất nhỏ. Do đó, đối với đạo hạnh của các bậc thiện trí, nếu trí tuệ chúng ta chưa thấu triệt thì khoan vội bác bỏ. Dù chưa thể chấp nhận, cũng cần cẩn trọng để lời nói không phạm vào những điều quá hạn hẹp, tránh ác nghiệp do lời nói gây ra.

Trong kinh nghiệm của Ngài đại đức, những trở ngại kỳ lạ không chỉ là thú dữ mà còn bao gồm cả những loài phi nhân (nānābhāva) như ma quỷ, thần giữ của, thầnh cây..., những loài dạ-xoa (yakkha), ngạ quỷ (peta) và chư Thiên. Sau đây sẽ trình bày về những chuyện đó.

Theo lời kể của dân làng Kan Myint, khi Ngài ở tại thiền viện rừng Kan Myint, vào ban đêm thường thấy các loài ngạ quỷ bồng bế con cái đến nghe Ngài thuyết pháp. Cần hiểu rằng các bậc tu hành chân chính không chỉ mang lại lợi lạc cho con người mà còn giáo hóa, răn dạy cả các loài phi nhân và chư Thiên có duyên hệ thuộc.

### Xưa và nay

Tại đây, niềm tin (Saddhā) vào các bản kinh trong Yakkha Saṃyutta (Tương Ưng Dạ-xoa) và Petavatthu (Ngạ Quỷ Sự) càng trở nên mạnh mẽ hơn. Ngài đại đức như một minh chứng sống động rằng những sự kiện kỳ diệu thời Đức Phật, vốn bị người phàm ngày nay dùng lý trí bác bỏ, thực sự là những sự thật hiển nhiên.

### Các Bậc Alahan và Những Nhân Vật Đặc Biệt

Ngài đã dùng chính bản thân mình để minh chứng cho điều đó.

Tôi chợt nhớ đến câu chuyện về hai mẹ con nữ Ngạ quỷ (Peta) vào thời Đức Phật. Một nữ Ngạ quỷ nọ, tay bế con gái nhỏ tên là **Uttara**, tay dắt con trai lớn tên là **Punabbasu**, đi lang thang quanh chùa Jetavana (Kỳ Viên) để tìm thức ăn thừa, đờm dãi hay chất nhầy để ăn qua bữa. Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn đang thuyết Pháp cho các vị Tỳ-kheo. Nữ Ngạ quỷ trông thấy đám đông các vị Tỳ-kheo, ngỡ rằng đang có buổi phân phát thức ăn nên đi đến gần. Vì giọng của các vị Phật thường không vang ra ngoài phạm vi hội chúng, nên bà không nghĩ đó là một buổi thuyết Pháp. Chỉ khi đến thật gần, bà mới nhận ra Ngài đang thuyết Pháp.

Nhờ có thiện duyên Ba-la-mật từ trước, tiếng Pháp của Đức Phật đã cuốn hút bà mãnh liệt. Bà dỗ dành các con: "Này các con, hãy giữ im lặng nhé. Mẹ con mình nghe được những lời này là đã muộn màng lắm rồi đó con. Ở đời này, chồng và con là những người thương yêu nhất, nhưng Giáo Pháp còn đáng yêu hơn cả những người thân yêu nhất thế gian kia. Hãy giữ im lặng nào."

"Vâng thưa mẹ, con cũng thấy nghe rất hay. Con không làm ồn đâu, em gái cũng không nghịch ngợm, em đang ngồi yên đây mẹ. Mẹ hãy cố gắng ghi nhớ lời dạy nhé," người con trai lớn **Punabbasu** cũng lên tiếng khích lệ. Cả mấy mẹ con đều đã bị "giăng bẫy" bởi lưới Pháp.

Khi buổi thuyết Pháp kết thúc (vì đều là những bậc có trí tuệ bẩm sinh - Ti-het), hai mẹ con đã đắc quả Tu-đà-hoàn (Sotāpanna). Riêng cô con gái nhỏ **Uttara** vì còn quá bé nên chưa hiểu hết ý nghĩa, tuy chưa đắc Pháp nhưng nhờ đó mà có được một lâu đài (vimāna) ngay tại chùa Jetavana để thường xuyên được đảnh lễ Đức Phật. (**Saṃyutta Nikāya, Sagāthāvagga, Punabbasu Sutta**).

Cũng như các nhà chú giải đã dùng những câu chuyện về các bậc Thánh thời Tích Lan để minh chứng cho giáo huấn của Đức Phật, những sự việc xảy ra với Ngài cũng góp phần củng cố niềm tin vào những lời dạy vốn khó tin của Đức Thế Tôn.

### Hãy Cùng Rút Ra Bài Học

Vùng Myoung Taung ở Kyaikto vốn nổi tiếng là rừng thiêng nước độc. Vì thường xuyên nghe thấy tiếng gõ mõ vang lên nên người dân còn gọi là núi Mõ (Myoung Tee Taung). Không ai dám ở, cũng không ai dám bén mảng tới.

Tuy nhiên, chính vì rừng rậm không người qua lại nên nơi đây lại vô cùng thanh tịnh, yên tĩnh. Đây trở thành nơi lý tưởng cho Ngài **U Sīla**. Tại ngọn núi này, Ngài không hề gặp phải bất kỳ hiểm nguy hay chướng ngại nào.

Chuyện kể rằng, khi Trưởng lão **Visākha** từ thành Pāṭaliputra đến tu tập tại núi Cittalapata ở đảo Tích Lan, theo thông lệ cứ mỗi bốn tháng lại di chuyển đến một nơi ở mới. Khi tròn bốn tháng tại núi Cittalapata, ngài có ý định rời đi thì trong lúc đang nằm nghỉ:



"Bạch Ngài, nếu Ngài rời đi, giữa chúng con sẽ nảy sinh bất hòa, tranh chấp và oán ghét lẫn nhau. Xin Ngài đừng đi," một vị Thần cây (Rukkhaso) đã khóc lóc van xin, nhờ đó ngài đã ở lại cho đến khi nhập Diệt độ, như được chép trong "**Thanh Tịnh Đạo**" (Visuddhimagga). Nơi ở của những bậc thiện tri thức chắc chắn sẽ mang lại sự an lạc.

Người được chư Thiên yêu mến sẽ luôn gặp những điều tốt lành.

(**Devatānukampito poso, sadā bhadrāni passati. - Mahāvagga**).

Tu tập Tâm Từ (Mettā) được gọi là pháp thiền định dễ đạt định lực. Đó cũng được gọi là liều thuốc yêu mến dành cho muôn loài, và cũng là mật ngôn bảo vệ (Paritta) khỏi những hiểm nguy.

Trong chú giải "**Kinh Tập**" (Suttanipāta Aṭṭhakathā) có ghi lại rằng, những vị thần rừng vốn hay hăm dọa và hãm hại các bậc tu hành trong rừng khi chưa tu tập tâm từ, nhưng khi các vị Tỳ-kheo tỏa lòng từ bi, các vị thần ấy lại quay sang phục vụ như quét dọn, thu xếp chỗ ngồi, bóp chân, đun nước nóng... Cần lưu ý rằng không có pháp hành thiền nào khác được thuyết giảng có công năng và lợi ích vi diệu như Tâm Từ này. Mọi người nên dùng mắt tuệ để nhìn nhận và học tập theo oai lực của Ngài **U Sīla**.

### Mưu Chước Của Ma Vương, Kẻ Thiếu Hiểu Biết Gây Họa

Trong thời gian ngài trú tại tịnh xá Tat Kalay, làng Kali, phía bắc Bago, có những vị hộ tăng (kappiya) đi theo để phục vụ các công việc lớn nhỏ. Trong đó, ông hộ tăng **U Kyar Phyu** là người có tính khí nóng nảy, hấp tấp. Một đêm nọ, khi Ngài đang ngồi thiền tĩnh lặng dưới gốc cây, **U Kyar Phyu** tưởng đó là một người bạn hộ tăng khác, anh ta gọi nhưng không thấy trả lời nên đã dùng nắm đấm đánh vào đầu. Thấy người đó không động đậy, anh ta sờ thử thì chạm phải nút thắt dây lưng (khāpān), nhận ra đó là Ngài nên định bỏ chạy. Những người bạn đi cùng bảo:

"Dù có chạy thì tội cũng không hết đâu ông hộ tăng ơi, hãy vào đảnh lễ sám hối với Ngài đi." Anh ta bèn vào đảnh lễ. Sau đó, vì phát tâm đại tàm quý, **U Kyar Phyu** đã phát nguyện xuất gia.

Vào khoảng năm 1262 (Miến lịch), trong một lần Ngài cùng ba vị Tỳ-kheo đệ tử đi bộ thực hiện công việc trên đường Kandawgyi ở Yangon. Vì đường vắng, một chiếc xe ngựa chạy rất ẩu lao tới, sợ bị va chạm nên chính Ngài đã phải lánh sang bên nhường đường. Khi chiếc xe ấy vừa đi qua khoảng hai độ dài cây sào thì bỗng nghe tiếng "rầm"


### Các Bậc Alahan và Những Nhân Vật Đặc Biệt

nghe thấy tiếng động, mọi người ngoảnh lại thì thấy chiếc xe đã bị lật nhào, người đánh xe người Ấn Độ nằm lăn lóc dưới đất.

Hồi Ngài còn ở tịnh xá Taik Kular, núi Kelāsa, có vài vị sư trong làng vì lòng đố kỵ, tị hiềm đã thuê một kẻ say rượu hãm hại Ngài. Kẻ say rượu đó đã đứng đón đầu trên đường Ngài đi khất thực, rồi dùng đầu lao mạnh vào húc Ngài. Chính nhờ lòng từ và giới đức của Ngài mà mặt đất đã thay Ngài gánh chịu cú húc đó. Kẻ say rượu vì lao quá mạnh nên đã ngã lăn ra ngay tại chỗ.

Ở một vùng phía Đông, có một vị sư nọ vì ra lệnh cấm dân làng: "Không được dâng sới cho Ngài," nên sau đó vị sư này đã mắc một căn bệnh kỳ lạ, hễ cứ nhìn thấy mâm cơm là lại hét lên sợ hãi, rồi qua đời vì căn bệnh đó.

Đúng như những gì được thuyết trong "**Kinh Ma Hăm Dọa**" (Māratajjanīya Sutta) thuộc Trung Bộ Kinh, việc bị Ma vương nhập vào mà không hay biết, rồi đi đối đầu với những bậc hiền thiện là một điều vô cùng đau đớn và đáng sợ.

Trong phần giải thích kinh này về **Māra** (Ma vương) có những điều rất đáng ghi nhớ. **Māra** không chỉ nhập vào người mà còn có thể tạo ra những ảo giác về hình ảnh và âm thanh sai lệch giữa hành giả và kẻ thù.

Ví dụ, Ma vương có thể tạo ra hình ảnh mập mờ như có một người phụ nữ bên cạnh vị Tỳ-kheo đang ngồi thiền, hay làm như vị đó đang làm điều gì bất chính dù thực chất họ đang quán chiếu đề mục. Khi đó, những kẻ thiếu trí sẽ tin vào những mưu chước mà mình tận mắt chứng kiến, dẫn đến việc đối đầu với hành giả và phải chịu cảnh đọa địa ngục. Để tránh điều này, chính các bậc hành giả cũng cần phải thấu hiểu và thận trọng trước những hiện tượng đó.

Vào khoảng năm 1255, khi Ngài đến Thaton, Ngài đã không có cơm ăn suốt ba ngày. Do sự kích động của một số vị sư địa phương rằng: "Kẻ từ rừng vào sẽ mang họa cho làng," các bậc kỳ lão trong làng đã ra lệnh: "Ai dâng sới cho Ngài sẽ bị phạt năm kyat." Suốt ba ngày, vì sợ các vị sư và các kỳ lão nên không ai dám dâng sới.

Sáng hôm sau, chủ trại **Ko Waing** trên đường từ trại về nói với vợ: "Em ơi, anh thấy Đại đức ngồi dưới gốc cây trong trại mình. Trông ngài thanh tịnh làm sao. Nghe nói ngài đã ba ngày không thọ thực. Anh thấy ngài ra suối gần trại, lọc nước rồi rót vào bát mà uống. Ngày mai mình đi cúng dường đi, dẫu có phạt năm đồng cũng được." Nhiều người cũng lén lút cúng dường. Chẳng bao lâu, cả thành phố xôn xao đổ xô cúng dường đến nỗi phải dùng xe chở đến chùa.


Theo sự khuyến tấn của Ngài Trưởng lão, họ cũng đã thành lập một học viện tăng sinh (Sār saṅ' tuik') gọi là Dhammikārāma. Khi số lượng tăng chúng lên đến khoảng ba bốn mươi vị, do có những kẻ xúi giục việc không cúng dường vật thực nên chư Tăng đã có một thời kỳ gặp khó khăn về khất thực. Nhưng hiện nay nơi đây đã trở nên đông đúc và phát triển. Tại khu vườn của ông U Waing, vào khoảng năm 1260 (Miến lịch), ông U Baleik và bà Daw Phwa Sone đã mua lại khu vườn và xây dựng ngôi chùa cúng dường đến **Ngài U Zānuttara**. Đó chính là chùa Taung Waing Gyi Taw Ya.

### Đạn không nổ, máy ngừng chạy, sức mạnh ấy từ đâu?

Có một lần, khi Ngài Trưởng lão đang ngồi thiền định yên lặng trong bụi rậm tại Kyaik De Yan, một thợ săn tên là U Kaw từ làng Shwe Hlay vì lầm tưởng Ngài là một con thú nên đã dùng súng bắn. Ông nổ súng ba lần nhưng lửa không bắt (đạn không nổ). Sau đó, ông chĩa súng lên trời bắn thử thì đạn lại nổ phát ra như thường. Ông tự hỏi: “Tại sao con thú trong bụi rậm nghe tiếng súng mà không chạy?” nên đã tiến lại gần xem xét. Khi thấy đó là một vị Trưởng lão, ông vô cùng kinh hãi, run rẩy và xin lỗi Ngài.

Ngài phán rằng: “Người biết nhận lỗi và sám hối là tốt. Đó là nhân duyên cho sự tiến hóa về sau. Ta khước từ sự sân hận (ta kham - nhẫn nhục/tha thứ)”. Những lời này khiến ông U Kaw cảm thấy hân hoan như vừa được tưới nước tiên. Ông thưa: “Kể từ nay cho đến trọn đời, con xin tránh xa điều ác này”, rồi trở về nhà. Không lâu sau đó ông đi tu làm đạo sĩ (rathaid - hermit), về sau cũng xuất gia tì-khưu giống như Ngài Trưởng lão, hành trì các pháp đầu đà (dhutaṅ') và trú ngụ nơi rừng núi. Năm 1263, ông đã vào an cư tại khu rừng Kyauk Ta Lone dưới chân núi Taik Kula.

Năm 1244 (thời kỳ sụp đổ vương triều), các vị sư như Myan Chaung Pongyi ở Sittoung, Kyauk Kalat Pongyi đã lãnh đạo quân đội khởi nghĩa chống lại chính quyền Anh. Trong cuộc tấn công chiếm Shwe Kyin, do sự thiện chiến của quân đội Punjabi, vị chỉ huy dũng cảm Ko Bar Gyi đã tử trận và quân đội phải tan rã rút chạy. Quân đội Punjabi đuổi theo truy quét.

Một ngày nọ, trong khi Ngài Trưởng lão đang thiền định trong một khu rừng, lính Punjabi cho rằng Ngài là người bên phe đối phương nên đã bao vây và nổ súng từ bốn phía. Súng không phát hỏa, họ nhận ra đây là một vị tu sĩ nên đã tiến đến xin lỗi và đảnh lễ. Họ áp sát đầu vào chân Ngài và làm lễ chào (salaam).

Năm 1262, vào tháng Tazaungmon, trong kỳ thi giáo lý (Sā pran' pvai) tại rừng Nyaung Lay Pin và việc kiết giới Sima tại làng của người Shan, Ngài đã đi chu du qua các làng Pyuntaza, Daiku, Okkan. Trên đường đi, khi gặp một đoàn tàu hỏa chạy tới, đoàn tàu đột ngột dừng lại khiến mọi người xôn xao. Viên quản lý máy tàu và hành khách cũng đua nhau đến cúng dường Ngài Trưởng lão.


Ngay cả khi tàu đã rời đi, họ vẫn thò người ra cửa sổ, cúi đầu, gọi to để cung kính đảnh lễ. Một sự việc tương tự cũng đã từng xảy ra khi Ngài đi từ Thingangyun sang phía Dala và Kun Chan Kone.

Vào khoảng năm 1244, khi Ngài đang trú tại chùa rừng Seik Kalay ở Shwe Kyin, Ngài phải đi khất thực tại làng Wan Ahnhim. Một ngày nọ, trong khi đi khất thực, chân Ngài bị vướng vào bẫy chim thú, Ngài liền đứng yên tại chỗ không bước tới trước. Người đặt bẫy nhìn thấy thì lo sợ không dám lại gần, cứ lẩn quẩn theo dõi từ xa. Ngài Trưởng lão vẫn đứng yên như thế. Người thợ săn vô cùng lo lắng, không dám lại gần để gỡ bẫy. Sau một lúc lâu, anh ta phải nhờ một người khác gỡ giúp. Ngài Trưởng lão hỏi người mới đến:

“Này thí chủ, đây có phải là bẫy của ông không?” 

Người đó trả lời: “Thưa không phải ạ”.

Ngài phán: “Đừng tự tiện gỡ bẫy của người khác”.

Bản thân Ngài theo giới luật (Vinaya) cũng không được phép tự gỡ, và Ngài cũng không cho phép người không liên quan gỡ. Thế rồi người kia quay sang bảo chủ nhân cái bẫy:

“Anh thật là rắc rối, sắp quá ngọ rồi, nếu vị sư này không được thọ thực mà qua đời thì anh sẽ phải đọa địa ngục Avici (A-tì)”. Nghe vậy, người chủ bẫy buồn bã khóc lóc chạy đến gỡ bẫy. Anh ta thưa: “Từ nay về sau con sẽ không làm như vậy nữa, xin Ngài từ bi tha thứ”, rồi đem cái bẫy đó cúng dường cho Ngài và đảnh lễ xin lỗi. Ngày hôm đó, Ngài Trưởng lão đã bị quá giờ ngọ và lỡ mất một bữa thực.

Chư Phật và các bậc thánh nhân, trong những trường hợp bị Mara (Ma Vương) quấy phá làm cho lỡ bữa thực, thường vẫn giữ tâm hân hoan như các vị Phạm thiên thọ hưởng **Pīti-bhakkha** (hỷ thực) – nuôi dưỡng thân tâm bằng hỷ lạc của giáo pháp.

[ Theo giới luật (Vinaya), nếu gỡ bẫy khiến con thú bị sập bẫy thóat ra thì phải bồi thường giá trị con thú (bhaṇḍā-sāra). Nếu gỡ ra rồi lại đặt lại thì không thoát khỏi tội sát sinh (pāṇātipāta). ]

### Tố chất không thể tử vong (Amata-dhātu)

Dù Ngài Trưởng lão đã nhiều lần đối mặt với những nguy hiểm cận kề cái chết như đoàn tàu hỏa, súng đạn, hay thú dữ, nhưng mạng sống vẫn không hề hấn gì. Giống như các bậc thánh giả trong quá khứ như **Udaya Sāmaṇera** (Sa-di Uttara) từng bị ném lên giàn hỏa thiêu, **Thoerubbha** (Ngài Dabba) ở trong bụng mẹ khi thi hài bị đốt, hay **Thoerabākula** (Ngài Bākula) ở trong bụng cá; những người chắc chắn sẽ đắc pháp cao thượng trong đời này thì không có lệ tử vong bất đắc kỳ tử. Điều này được gọi là **Ñāṇavipphāra-iddhi** (Tuệ biến mãn thần thông). Những người có phước nghiệp đặc biệt trong quá khứ, hay những chúng sinh mang trong mình tố chất không chết (Amataa) thì sẽ không chết trước khi hoàn thành đạo quả.


Cần lưu ý rằng lực thu hút của yếu tố bất tử vô vi (Asaṅkhata Amata-dhātā) – tức là Niết-bàn – vĩ đại đến nhường nào.

### Sự thất bại của kẻ đối đầu với bậc có đại quyền năng

Về những kẻ vì lòng đố kỵ, ích kỷ mà chống đối Ngài Trưởng lão, có những điều rất đáng ghi nhớ. Đối đầu làm kẻ thù với bậc cao thượng hơn mình là điều vô cùng đáng sợ. Bậc ấy càng có đức hạnh cao dày, càng có lòng nhẫn nhục bao nhiêu thì kẻ chống đối càng bị nhấn chìm và tổn thương bấy nhiêu. Những hạt bụi tung vào gió ngược sẽ chỉ bay ngược lại trú vào mũi, miệng, mắt của chính người ném. Họ có thể gặp phải nhiều loại suy vong như chịu sự đau đớn (Thập hình phạt - Daṇḍa 10 pā). Ở đời gọi đó là “bị trừng phạt bởi nước ngâm” (ciim re saṅ' - quả báo nhãn tiền). Trong bài kinh **Upāli-sutta thuộc Majjhima Pannāsa** (Trung Bộ Kinh), khi nói về sức mạnh của ý nghiệp, có dẫn chứng về việc người dân xúc phạm **đạo sĩ Kisavaccha** khiến cho vương quốc Daṇḍakī bị mưa vũ khí, mưa tro nóng bao phủ và trở thành rừng rậm hoang vu.

Trong câu chuyện về vị Thiên tử Dhamma ở chương **Ekādasanipāta**, Thiên tử Dhamma cùng tùy tùng bay nhiễu quanh Diêm-phù-đề theo chiều bên phải để khuyến tấn loài người làm việc thiện. Thiên tử Adhamma cũng làm tương tự nhưng bay theo chiều bên trái để khuyến khích điều ác. Khi hai cỗ xe gặp nhau trên không trung, cả hai đã tranh cãi xem ai phải nhường đường cho ai. Cuối cùng, Thiên tử Dhamma đã nhẫn nhục nhường đường trước, thế nhưng khi cỗ xe của Ngài vừa tránh ra thì Thiên tử Adhamma liền rơi khỏi xe và đọa ngay xuống địa Ngục Avici. Sức mạnh của lòng nhẫn nhục vô hình (**Adhivāsana-khanti**) thật là vĩ đại thay!

Một lần nọ, có một người Bà-la-môn nổi giận với Đức Thế Tôn vì cho rằng Ngài đã độ cho anh trai mình xuất gia, ông ta đã đến chửi rủa và đe dọa Ngài. Tên ông là **Akkosaka Bhāradvāja**. Khi đó Đức Thế Tôn hỏi:

“Này Bà-la-môn, ví như có khách đến nhà ông, ông bày biện đồ ăn thức uống tiếp đãi, nếu người khách không ăn, không nhận thì những thứ đó thuộc về ai?”

Ông trả lời: “Thì vẫn thuộc về gia đình chúng tôi thôi”.

“Này Bà-la-môn, cũng vậy, nay Ta không chấp nhận những lời chửi rủa đe dọa của ông. Những thứ đó hãy còn lại với chính ông thôi”. 

Nghe vậy, ông ta lầm tưởng Đức Thế Tôn đang nguyền rủa mình nên vô cùng hoảng sợ. Vì **Bhāradvāja** vốn biết những vị có thần lực thế gian thường dùng mật chú, thiền định hoặc lời nguyền (jhai t' chā) để khiến kẻ khác gặp họa, nên ông ta mới kinh sợ như vậy. Sau đó, ông nhận lỗi và xin xuất gia. (**Saṅ'gāthāvagga, Akkosaka-sutta**).


Một câu chuyện khác kể về một đạo hữu của chúng tôi, Ngài **Vāyāma** ở Magwe Pepinsan. Khi Ngài còn là một pháp sư trẻ (Sāmanera), có một vị tỳ-kheo bạn vì muốn trêu chọc nên đã bảo rằng: “Có người này người nọ muốn gặp sư, họ nhắn sư hãy đến ngay bây giờ.” Dưới cái nắng gay gắt, Ngài phải đi bộ quãng đường dài khoảng một dặm. Khi đến nơi mà không thấy ai, Ngài Vāyāma trở về trong lòng tức giận. Tuy nhiên, Ngài đã lập tức nhiếp phục tâm mình, khởi lòng nhẫn nhục và chịu đựng. Ngay ngày hôm sau, vị tỳ-kheo trêu chọc kia bỗng dưng bị đau mắt dữ dội, đau đến mức không thể nhắm mắt ngủ được. Vị ấy bèn đến cầu khẩn: “Ngài Vāyāma có biết pháp thuật gì không? Chuyện hôm qua con lỡ làm xin Ngài hãy từ bi hỷ xả cho.” Sau khi lời xin lỗi được nói ra, chứng đau mắt ấy bỗng nhiên tan biến một cách rõ rệt.

Qua câu chuyện này, chúng ta có thể hình dung được phần nào về nghiệp **Ari-upavāda** (phỉ báng bậc Thánh). Khi giới, định, và tuệ của một vị càng cao dày bao nhiêu, thì những kẻ xúc phạm họ sẽ phải gánh chịu khổ đau tương ứng, giống như bị một lời nguyền vậy. Các bậc chân tu thường trừng phạt kẻ xấu bằng lòng từ bi và sự nhẫn nhục. Họ không đáp trả cái ác, và chính sự không tiếp nhận điều ác ấy là một hình phạt còn nặng nề hơn đối với kẻ xấu. Ngọn lửa xuất phát từ các bậc Thánh tỳ-kheo — những bậc xứng đáng được cúng dường (**Dakkhiṇeyyaggi**) — sẽ thiêu rụi kẻ gây hấn mà không gì có thể dập tắt được. Hỡi những người thiện tâm, hãy luôn ghi nhớ điều này.

### Sự ra đi của Mẫu thân

Mẫu thân của Ngài Đại đức là bà Daw Cho, bà sống tại tu viện Kapkalay cùng với Ngài dưới hình thức một tu nữ (Sayalay), luôn tận tụy chăm sóc và giữ gìn giới hạnh. Dù Ngài Đại đức có di chuyển từ nơi này sang nơi khác, mẫu thân Ngài vẫn ở lại tu viện Kapkalay để hành trì pháp môn định tâm.

Vào năm 1241 (Miến lịch), khi Ngài Đại đức đang an cư tại tu viện Shwekyin, một nhóm cướp hung tợn đã đột nhập vào tu viện Kapkalay nơi mẫu thân Ngài đang ở. Bọn chúng nghe tin đồn rằng bà Daw Thuza, người làng Okkan, có gởi mẹ Ngài ba ngàn Kyat và hai mươi lăm chỉ vàng nên đã đến để cướp. Đám cướp tra hỏi và đòi số tài sản đó. Vị tu nữ già nói: “Này các con, thực sự không có chuyện đó đâu.” Thực tế thông tin đó hoàn toàn là bịa đặt, nhưng lũ cướp không tin. Cho rằng vị tu nữ nói dối, chúng đã liên tục đánh đập bà một cách dã man. Trong giây phút ấy, vị tu nữ định thần nghĩ rằng: “Đây hẳn là nghiệp quả kiếp trước của ta nay đã đến lúc phải trả,” và bà quyết tâm: “Ta là mẹ của một bậc Đại sư, ta sẽ mạnh mẽ đối diện.” Bà kiên định nhất tâm niệm rằng:

“Con xin quy y Phật — bậc Đạo sư của con trai con, Ngài U Sīla. Con trai con và Đức Phật... Con trai con và Đức Phật... Con trai...” Tiếng nói của mẫu thân Ngài nhỏ dần dưới những đòn roi hung bạo của lũ cướp, bà cứ thế niệm tên con và tên Phật cho đến khi trút hơi thở cuối cùng.

Khi ấy, người ta phải tức tốc đến phía Nam núi Shwekyin, nơi tu viện Seikkalay, để thỉnh Ngài Đại đức trở về.



Đích thân Ngài Đại đức đã tiến hành hỏa táng mẫu thân và dùng đống tro tàn ấy để quán chiếu **Hạnh tu bất tịnh** (Asubha Bhāvanā). Khi ngọn lửa còn chưa kịp tắt hẳn, Ngài đã rời nơi hỏa táng để trở về Shwekyin. 

Định luật về nghiệp quả quả thật vô cùng huyền diệu. Xung quanh những bậc vĩ nhân, những sự kiện xảy ra thường không theo lẽ thường, dù là tốt hay xấu đều vượt xa mức bình thường. Đây là kiếp sống để thanh toán dứt điểm mọi nợ nần, nên bất kỳ ai có duyên sự liên hệ với các bậc phi thường này đều phải diễn tròn vai trong kịch bản nghiệp báo của mình. Chúng ta nên lưu tâm và cũng không nên lơ là trước những giá trị tâm linh vô hình. Chớ nên lầm tưởng rằng xung quanh các bậc thánh thiện thì chỉ toàn những chuyện tốt đẹp xảy ra.

Ở điểm này, hành giả cần đặc biệt lưu ý: Phải sống sao cho xứng đáng với môi trường xung quanh và công việc mình đang làm. Không được lơ là, thiếu cảnh giác. Theo bổn phận của một hành giả, hãy hiến dâng thân mạng này cho Đức Phật, sám hối mọi lỗi lầm, tu tập lòng từ ái, nhẫn nhục và hồi hướng công đức. Những phận sự hàng ngày tuyệt đối không được bỏ sót.

### Khả năng thấu thị tâm người khác

Người ta tin rằng Ngài Đại đức đã chứng đắc được thần thông biết được tâm ý người khác (**Paracittavijānana** - Tha tâm thông), dựa trên những trải nghiệm thực tế của những người trong cuộc sau đây.

Một lần, Ngài U Guṇa ở chùa Mahā Ceti ở Bago cùng đệ tử là Ngài U Gandhamā đến đảnh lễ Ngài Đại đức. Ngài Đại đức có thói quen là không để vị tỳ-kheo nào ra về mà không tặng cho một món vật dụng gì đó. Ngài luôn hào phóng cúng dường đến mức có lời dị nghị rằng người ta đến thăm Ngài chỉ vì muốn nhận quà. Chính vì sợ bị hiểu lầm như vậy nên dù sư phụ bảo đi cùng, Ngài U Gandhamā vẫn không muốn đi. Ngài cảm thấy xấu hổ nếu phải mang về những bộ y hay vật dụng mà Ngài Đại đức ban cho. Suốt dọc đường đi, Ngài thầm nguyện trong lòng: “Xin Ngài Đại đức đừng tặng cho con bất cứ thứ gì cả.”

Khi hai thầy trò đến nơi, Ngài Đại đức chỉ giảng giải sâu sắc về các đạo hạnh tu tập, tuyệt nhiên không tặng bất cứ vật gì rồi bảo: “Thôi, các vị về đi.” Ngài U Gandhamā vô cùng mãn nguyện vì ý nguyện của mình đã thành hiện thực. Tuy nhiên, trong lòng Ngài bắt đầu dấy lên một sự nghi ngờ: “Liệu có phải Ngài Đại đức đã biết được tâm tư của mình hay không?”

Về sau, khi Ngài U Gandhamā đang ở Wanpataw, Ngài Đại đức cùng các đệ tử từ Kyaikhto cũng vừa đến đó. Thấy Ngài Đại đức vừa trải qua hành trình mệt mỏi, Ngài U Gandhamā nảy ra ý định muốn phục vụ, xoa bóp cho Ngài. Vì vẫn còn sự nghi ngại từ lần trước, Ngài muốn thử kiểm chứng thêm lần nữa. Ngài thầm nghĩ:



“Cầu mong Ngài cho phép con được phục vụ Ngài một cách dễ dàng. Xin Ngài đừng hỏi con là ai hay từ đâu đến.” Khi Ngài bước vào, Ngài Đại đức đang duỗi chân và cho phép Ngài phục vụ một cách rất tự nhiên. Ngài hoàn toàn không hỏi han bất cứ điều gì. Sau khoảng hai giờ, Ngài bảo: “Được rồi, Sư đi nghỉ đi.” Ngài U Gandhamā (sau này là trụ trì chùa Mahā Ceti) đã hoàn toàn rũ bỏ sự nghi ngờ và tin chắc rằng Ngài Đại đức thực sự có thần thông. Trong lòng Ngài tràn ngập niềm hân hoan.

### Sự hối hận của một vị Hòa thượng vốn không mấy ấn tượng

Vào một thời điểm khác, có một vị Hòa thượng trụ trì một ngôi chùa lớn ở thành phố Bago thường nghe được những lời đồn thổi về sự linh ứng của Ngài Đại đức. Vị này cho rằng việc Ngài Đại đức đi đến đâu cũng nhận được vật phẩm cúng dường nhiều đến mức phải chở bằng xe bò chẳng qua là do những người thân cận khéo léo quảng bá và dàn dựng mà thôi.

Một buổi sáng nọ, vào lúc ba giờ, nghe tiếng gõ cửa chùa, vị Hòa thượng mở cửa và vô cùng kinh ngạc khi thấy đó chính là Ngài Đại đức Shwekyin. Trong khi vị Hòa thượng đang sắp xếp chỗ ngồi và phục vụ, Ngài Đại đức đã giảng giải một cách vô cùng sâu sắc về việc phải nỗ lực tu tập đạo đức khiến vị Hòa thượng không thể rời mắt. Tuy nhiên, trong thâm tâm, vì biết Ngài Đại đức có thói quen đi khất thực, vị Hòa thượng băn khoăn rằng không có đủ thời gian để thông báo cho các thí chủ dậy sớm chuẩn bị vật phẩm cúng dường cho kịp lúc. Vì tâm trí quá lo lắng về việc chuẩn bị bữa cơm sáng (Lāu-hsam) cho chu đáo, vị Hòa thượng không thể ghi nhớ được những gì Ngài Đại đức đang thuyết giảng.

Vị ấy nhủ thầm: “Cũng đành chịu thôi, chờ đến rạng đông khi Ngài đi khất thực, ta sẽ sai một đứa trẻ nhà chùa đi mua một thùng bánh ở đâu đó rồi dâng lên vậy.” Vị Hòa thượng chỉ mải mê tính toán việc chuẩn bị vật phẩm cúng dường trong đầu. Đúng lúc rạng đông, Ngài Đại đức đứng dậy quàng y mang bát và nói:

“Thôi, bấy nhiêu đó là đủ rồi, giờ tôi phải đi khất thực đây.” Nói rồi Ngài bước đi. Vị Hòa thượng trụ trì đi theo sau để mở cổng chùa. Ngài bỗng sững sờ, kinh ngạc đến mức không thể nào quên được trong suốt cuộc đời mình: Không biết từ bao giờ, rất nhiều người đã xếp hàng dài chờ sẵn để đặt bát cúng dường. Ngay lập tức, vị Hòa thượng nhận ra sự sai lầm trong suy nghĩ trước đây của mình; từ sự hân hoan, lòng vị ấy bỗng trĩu nặng một nỗi hối hận.

Đúng như những gì Đức Thế Tôn đã dạy trong kinh **Ākaṅkheyya Sutta**, chúng ta nên lưu tâm về “sức hút của giới đức” đối với các vật phẩm cúng dường.

Trong số những người đang dâng cơm cúng dường ấy, người ta thấy có cả vị thí chủ lớn của chùa là ông U Hman cũng có mặt...

Khi được hỏi, **U Hman** thưa rằng:

“Con cũng không biết Ngài là bậc cao tăng, nhưng đêm qua con nằm mộng thấy có tiếng bảo hãy đi đặt bát ở đó, sẽ có một vị Alahan ngự đến. Dù giấc mộng có đúng hay sai thì việc đặt bát cúng dường cũng tạo nên công đức, vì vậy mà con đã đến đây, thưa Ngài.” 

Ngài Thiền sư nghe vậy càng thêm kinh ngạc. Khi hỏi những người khác, Ngài được biết họ cũng như **U Hman**, hoặc là nằm mộng thấy, hoặc nghe hàng xóm kể lại mà cứ thế đi đến dù chẳng hề biết rõ sự tình. Đám đông tụ tập đông đúc như một lễ đặt bát lớn. Vị trụ trì chùa ấy chính là **Ngài Thiền sư Shwe Aung Yo**.

Sau này, Ngài Thiền sư trụ trì ấy sinh lòng hối hận sâu sắc vì những hiểu lầm trước đây. Mỗi khi thuyết pháp hay giảng dạy cho chư Tăng, Ngài thường nhắc lại chuyện này như một bài học. Không lâu sau đó, Ngài cũng phát nguyện vào rừng tu tập.

Đối với những bậc thánh nhân đức hạnh như Ngài Thiền sư, việc thấu suốt mọi chuyện trong thế gian như nhìn lòng bàn tay là điều không đáng nghi ngờ. Tuy nhiên, đừng lầm tưởng rằng hễ biết điều gì là các Ngài đều nói ra. Chỉ khi thấy rõ cơ duyên và lợi ích cho việc thúc liễm thân tâm của hàng đệ tử hậu học như trường hợp của **Ngài Thiền sư Shwe Aung Yo**, các Ngài mới thường hé lộ đôi chút để thức tỉnh.

### Thiền mục jaggery (Đường thốt nốt)

Khi Ngài Thiền sư trú tại am thất **Kyait Kwe Taung** trên đảo Bilu, có nhiều người đến đảnh lễ. Ngài bảo với **Ko Pho**, một người Ấn Độ từ làng Mayam:

“Thí chủ này đã 60 tuổi rồi mà còn lười giữ giới Bát quan, ngay cả nhà mình cũng chẳng buồn quét tước, đến khi nước dâng cao thì phải nhờ nước 'quét' giùm nhà cửa.” 

Mọi người đều kinh ngạc tự hỏi: “Làm sao Ngài biết được ông ấy xây nhà ở vùng trũng như thế?”

Dân làng Ywalut cũng thỉnh mời Ngài rời từ **Kyait Kwe Taung** sang trú tại **Kyait Doe Taung**. Khi vừa lên đến đỉnh núi, mọi người đều mệt lả và khát nước, nhưng xung quanh không thấy nguồn nước nào, mà họ cũng quên mang theo nước dự phòng. Lúc ấy Ngài bảo: “Các thí chủ hãy xuống dưới gốc cây kia mà lấy nước.” Mọi người làm theo và quả nhiên tìm thấy mạch nước suối. Họ lại một lần nữa sửng sốt: “Ngài chưa từng đến đây, sao lại biết rõ có nước ở đó?”

Việc này là do Ngài dùng thần lực tạo ra nước, hay là do Ngài có năng lực thấu thị nhìn xuyên suốt thấy được mạch nước có sẵn, điều đó thật khó định luận.

Câu chuyện mắt thấy tai nghe của vị Sa-di lớn tuổi **U Pandita** ở Kanyutkwin còn đáng kinh ngạc hơn nữa.


Khi Ngài cư ngụ tại núi **Maung Tee** ở Kyaikhto, **U Sanda** và đạo sĩ **U Pandi** (khi đó ông ấy vẫn còn là đạo sĩ) cùng theo hầu cận Ngài. Đạo sĩ vốn là người có tính hay lo xa, chuẩn bị mọi thứ chu đáo theo kiểu người xưa “cần là có ngay”. Một ngày nọ, khi ông đến hầu Ngài Thiền sư, Ngài liền hỏi:

“Này đạo sĩ, sao con lại đem đường thốt nốt cất giấu kỹ trên xà nhà như thế?”

Nghĩ rằng Ngài đã thấu suốt rồi thì có giấu cũng bằng thừa, đạo sĩ tiến tới bạch rằng:

“Bạch Ngài, con cất đó để khi cần là có dùng ngay ạ.”

“Ừ... khi con ngồi thiền, tâm con cứ lo lắng không biết chuột hay sóc có ăn mất túi đường của mình không, thế là việc hành thiền của con trở thành 'thiền đường thốt nốt' mất rồi. Đừng giữ nó nữa.”

Ngài vừa dứt lời, vị đạo sĩ chỉ biết cười trừ đầy kinh ngạc.

Một lần khác, **U Pandi** bị bệnh, ông định đi tìm **Thầy Thúy (Saya Htun)** ở làng Htap Kay để chữa trị, nhưng vì nể ngại Ngài Thiền sư nên không dám đi. Bệnh tình không thuyên giảm, cuối cùng ông quyết định phải đi. Khi ông vừa định đến đảnh lễ xin phép, Ngài đã nói đón đầu:

“Này đạo sĩ, con đừng có nể ngại ta làm gì. Ngày nào con muốn đi tìm Thầy Thúy ở làng Htap Kay thì cứ việc đi.”

Đạo sĩ **U Pandi** nghe vậy chỉ còn biết ngỡ ngàng quay về chuẩn bị khởi hành.

### Chỉ trọng tu tập, không giỏi kinh văn – Một sự hiểu lầm

Trong thời gian Ngài trú tại thiền lâm **Maha Thaung** phía trên đầm nước cạnh núi **Kyauk Lon Gyi** ở Shwegyin, một số thí chủ từ Pyinmana muốn đến đảnh lễ Ngài. Các ông **U Thar Htoo** và những người bạn ở Shwegyin đã dẫn đường. Họ tình cờ gặp Ngài trên đường đi khất thực về từ làng Kan Bay Ai. Các thí chủ cung kính nhận lấy bình bát và theo Ngài về am thất. Khi về đến nơi, Ngài đã ban lời giáo huấn cho họ như sau:

“Này các thí chủ, khi muốn xây dựng những cung điện, đền đài nguy nga tráng lệ và phức tạp, nếu chỉ có tài nghệ mà không có dụng cụ như đục, bào thì liệu có làm được không? Ngược lại nếu có đầy đủ dụng cụ mà không có kiến thức, tay nghề không tinh xảo thì có xây được không?”

“Bạch Ngài, không thể được ạ.”

“Đúng vậy, phải có cả dụng cụ lẫn tài nghệ tinh thông thì mới có thể thành tựu được đúng không?”

“Thưa vâng, đúng như vậy ạ.”

“Cũng như vậy, trong công trình của Giáo pháp, cả Đức tin (Saddha) và Trí tuệ (Panna) đều phải song hành mới có thể thực hiện được. Thiếu một trong hai đều không xong. Do đó, trong mọi Phật sự công đức, hãy cố gắng tu tập cho trọn vẹn cả Đức tin và Trí tuệ.”


Sau khi nghe pháp xong, các thí chủ đảnh lễ ra về. Trên đường đi, một vị thí chủ từ Pyinmana vừa mừng vừa tủi nói rằng:

“Không thể không tin Ngài Thiền sư là bậc Thánh đã đắc thần thông. Bài pháp Ngài vừa giảng chính là để răn dạy tôi đấy.”

Mọi người đều chú ý và hỏi thăm sự tình. Ông giải thích:

“Từ lúc đi theo sau Ngài, trong lòng tôi cứ mải suy nghĩ rằng: 'Chà... Ngài Thiền sư này tuy giới hạnh và sự tu tập (Patipatti) thật đầy đủ, nhưng về mặt kinh điển Pháp học (Pariyatti) thì có lẽ không mấy hiển đạt. Thật hiếm có bậc vẹn toàn cả đôi bề.' Tôi cứ suy nghĩ như thế suốt dọc đường, Ngài biết rõ tâm niệm ấy nên đã cố ý dùng ví dụ đó để răn dạy tôi.”

Ở điểm này, tôi xin phép trình bày đôi chút về việc thấu thị tâm tư người khác để chúng ta cùng lưu ý.

Việc biết được ý nghĩ của người khác gọi là “**Tha tâm thông**” (Paracittavijanana Abhinna). Tuy nhiên, không phải chỉ khi đắc thần thông này mới biết được. Nếu lực định (Samadhi) mạnh mẽ, người ta cũng có thể thấu cảm được ở mức độ nhất định, nhưng điều đó thường không hoàn toàn thanh tịnh, rõ ràng hay chuẩn xác. Ngoài ra, người ta cũng có thể biết được thông qua các phương pháp hỗ trợ khác không liên quan đến sự tu hành thanh tịnh (**Brahmacariya**). Do đó, cứ hễ biết được tâm niệm người khác thì chưa chắc đã phải là bậc Thánh. Không những thế, ngay cả việc có đầy đủ giới hạnh hay chưa cũng chưa thể khẳng định được.

Vì Ngài vừa là bậc xuất gia, lại có những năng lực đặc biệt này, nên những người thiếu trí tuệ, vốn chỉ hay sùng bái những điều thần bí, thường không thể phân biệt được đâu là bậc Thánh thật sự và đâu là những vị đạo sĩ (phái xuất thế) có bản ngã lớn.

### Việc thiết lập các trường Phật học lớn

Ngài Thiền sư cũng đã đứng ra thiết lập và hỗ trợ để hình thành nên các trường Phật học (**Pariyatti**) lớn tại khắp các thành phố ở vùng Hạ Miến. Đó là bởi Ngài thấu hiểu sâu sắc công đức và ơn ích to lớn của Pháp học.

Về phần mình, Ngài vẫn thích thú với nếp sống lâm viên, nay rừng này mai rừng khác, di chuyển từ gốc cây này sang gốc cây kia, vui hưởng đời sống độc cư trọn đời. Ngài tự mình thân chứng (**Sanditthika**) niềm an lạc của Pháp hành (**Patipatti**) và hằng mong muốn niềm an lạc chân thực ấy được gìn giữ, lan tỏa và hưng thịnh cho thế hệ mai sau. Mà thứ có thể bảo tồn và duy trì được những quả vị giải thoát chân thực ấy thì không gì khác ngoài Pháp học (**Pariyatti**).

Cũng giống như việc phải có bờ đê thì nước mới giữ lại được, và có nước thì hoa sen mới có thể sinh trưởng tốt tươi. Ba trụ cột của Giáo pháp là Pháp học (**Pariyat**), Pháp hành (**Patipat**) và Pháp thành (**Patividha**) cũng tương tự như ví dụ ấy vậy. Do đó ngài đã thiết lập những trường học giáo học (pariyatti) lớn.

Ngài cũng đã thực hiện nghi thức kiết giới Sīmā cho rất nhiều ngôi đại giới đàn. Thậm chí, ngay trong lúc đang tiến hành nghi thức kiết giới Sīmā, sắc nghiệp tái sinh (*cuti-kammaja-rūpa*) của Ngài đã chấm dứt (Ngài viên tịch). Suốt đời, Ngài luôn khuyến khích và thúc liễm các vị Tỳ-kheo trẻ chuyên tâm kinh điển, đồng thời không ngừng hỗ trợ và khích lệ các vị trưởng lão tinh tấn hành thiền.

Lời dạy của một số vị thầy thiền và hành giả thời nay cho rằng "không cần học rộng, học rộng khó đắc pháp" thật sự cách xa với chân lý như trời với vực, như thiên giới với địa ngục *Avīci*. Chính vì vậy, các bậc Trưởng lão hoằng pháp thuở xưa như Ngài Sīlavuddhi, Ngài Caṇḍavajjī, Ngài Rohaṇa và nhiều vị khác đã luôn chăm sóc và nuôi dưỡng các vị Sa-di nhỏ tuổi – những vị như Ngài Moggaliputta, Ngài Nāgasena, Ngài Arahaṃ vốn là những bậc Thánh tương lai. Các Ngài đã che chở các vị ấy như nuôi dưỡng những vị hoàng thái tử kế vị ngai vàng, nuôi lớn các vị ấy bằng dòng sữa tri thức kinh điển (*pariyatti*).

Thực tế, những bậc A-la-hán vĩ đại thường xuất thân từ những vị Sa-di nhỏ tuổi. Muốn có lõi gỗ quý thì phải biết giữ gìn từ lớp vỏ, muốn ăn trái ngọt thì nhất định phải bắt đầu từ việc gieo trồng cây xanh.

### Giáo pháp lan tỏa tại Mawlamyine

Năm 1249 (Miến lịch), Trưởng lão U Sīla lần đầu tiên đặt chân đến vùng Mawlamyine. Ban đầu, Ngài trú tại một khu rừng lớn gần nghĩa trang phía bắc làng Tayoke Hla, vùng Hpa-an. Sau đó, dân làng đã phát tâm xây dựng và cúng dường một ngôi chùa tre. Danh tiếng đức hạnh của Ngài tỏa ngát khắp vùng, khiến Phật tử khắp nơi tìm đến thỉnh cầu Ngài giúp đỡ các Phật sự.

Ít lâu sau, khi đang trú tại một ngôi chùa rừng ở vùng Taungwaingyi, Ngài đã đến chùa Mahāmyaing ở Mawlamyine để gặp vị trụ trì là Ngài U Sāgara, nhờ vị này làm thầy tế độ cho một đệ tử của Ngài chuẩn bị thọ giới Tỳ-kheo. Ngài U Sāgara vốn đã biết Trưởng lão U Sīla là đệ tử của ngài Makkhara Sayādaw – một vị giáo thọ nổi tiếng trong hệ phái rừng Tawya. Đêm trước đó, Ngài U Sāgara đã nằm mộng thấy "một thớt voi trắng đi vào từ hướng đông của chùa". Vào ngày làm lễ thọ giới, khi thầy trò Trưởng lão đi khất thực trên con đường rừng, dù nơi đó vốn thưa thớt bóng người, nhưng dân chúng đã vân tập đông đảo, dâng cúng đầy đủ các loại vật phẩm và vật thực ngon lành, đến mức người ta phải dùng những đòn gánh lớn nhỏ để chuyển đồ cúng dường về chùa Mahāmyaing. Ngay cả những món ăn đã chuẩn bị sẵn cho buổi lễ cũng trở nên dư thừa.

Đây chính là những hạt giống đầu tiên của hệ phái rừng Tawya được gieo xuống vùng Mawlamyine. Một lần nọ, thí chủ U Thā Nyo cùng các cư sĩ khác ở Mawlamyine đã thỉnh Ngài đến và cúng dường ngôi đại tự viện Panbetan. Tuy nhiên, một nhóm Tăng chúng thuộc hệ phái Shwegyin đã

---

kiện cáo sự việc này. Họ lên án rằng: "Vị sư này đang cưỡng chiếm chùa. Ngài đi đến đâu là nơi đó xảy ra tranh chấp", cùng nhiều lời cáo buộc khác nhằm gây khó dễ. (Đây là điểm cần lưu ý về nghiệp quả can thiệp). Ban đầu, chư Tăng tại địa phương do Trưởng lão Vajirārāma và Trưởng lão Minkhin dẫn đầu đã triệu tập Ngài để đối chất. Thí chủ U Thā Nyo thưa rằng: "Thay mặt Ngài, con xin đứng ra chịu sự thẩm vấn", nhưng các vị ấy bác bỏ: "Chúng tôi không kiện ông". Phía đối đầu có những thí chủ quyền thế như ông chủ chùa U Zina và vị triệu phú U Moe. Vào ngày xét xử, lo ngại sẽ xảy ra náo loạn, ông U Moe đã mời cả viên công sứ người Anh, "Mr. Pratt", cùng đội cảnh sát đến bảo vệ, đồng thời dựng một rạp lớn để tiếp đón. Trưởng lão U Sīla cũng từ chùa Taung Taungwaing đi đến nơi theo lệnh triệu tập. Vừa thấy Ngài bước vào, viên công sứ Anh – dường như đã biết danh Ngài từ trước – liền đứng dậy cung kính chào, khiến mọi người vô cùng kinh ngạc. Trưởng lão không nói lời nào, chỉ đi thẳng vào giữa hội chúng Tăng-già. Ngài đảnh lễ Tam Bảo, rồi cung kính chắp tay thưa với các bậc Trưởng lão về lý do mình có mặt theo lệnh triệu tập. Thấy dáng vẻ khiêm cung và tôn kính của Ngài, một số cư sĩ tại đó lại nảy sinh lòng thương hại, cho rằng: "Vị sư này chắc đang vô cùng sợ hãi nên mới lễ lạy như thế". (Các bậc giáo thọ am tường kinh điển và những thí chủ chỉ biết nương tựa vào lối tu ấy nên lưu tâm về điểm này).

Một vị Trưởng lão trong hội đồng lên tiếng: "Việc Tỳ-kheo U Sīla nhận cúng dường ngôi đại tự viện Panbetan này từ các thí chủ là điều không phù hợp. Chúng tôi muốn Ngài từ bỏ ngôi chùa này".
Trưởng lão U Sīla đáp: "Bạch hóa các Ngài, người nhận cúng dường ngôi chùa này không phải là tôi, mà là Tỳ-kheo U Mālā ở Mudon".

Trưởng lão Vajirārāma nói: "Tỳ-kheo U Sīla và vị sư ở Mudon cùng một tư tưởng, Ngài không nên dùng cách này để thoái thác".

(Lúc ấy có người dẫn điển tích rằng): "Trong truyện tiền thân *Siṅghapuppha*, dù người thợ săn có hái đi bao nhiêu gương sen và hoa sen đi nữa cũng không bị kết tội là kẻ trộm. Nhưng vị ẩn sĩ Bồ-tát, người chỉ đứng dưới gió để ngửi hương sen, lại bị vị thiên nữ giữ cây cáo buộc là kẻ trộm hương. Nếu là người khác nhận cúng dường ngôi chùa này thì có lẽ đã không bị chỉ trích. Nhưng với một vị như Trưởng lão U Sīla, người vốn đã từ bỏ và đem cúng dường lại tất cả mọi lợi lộc, nếu Ngài không thể từ bỏ ngôi chùa này thì e là không thỏa đáng".

Trưởng lão U Sīla chất vấn lại: "Các Ngài là những vị luật sư (*vinayadhara*) có trách nhiệm phân xử vụ việc này, nhưng các Ngài lại đến ngôi chùa của bên nguyên đơn, thọ thực các món vật thực do bên nguyên chuẩn bị, và ngay cả trước khi bắt đầu thẩm vấn hay xem xét, các Ngài

---



đã dùng cụm từ 'chùa của bên nguyên đơn' để gọi tên nơi này. Nếu các Ngài tiếp tục xét xử và đưa ra quyết định như thế, liệu có đúng với tinh thần của Giáo Pháp và Giới Luật hay không?".

Trước lời lẽ ấy, các vị Trưởng lão trong hội đồng hoàn toàn im lặng, không thể nói thêm lời nào. Trưởng lão U Sīla liền đảnh lễ Phật rồi đứng dậy rời đi. Viên công sứ Mr. Pratt cũng cung kính tiễn Ngài và nói với hội chúng rằng: "Đây là một vị sư vô cùng đức hạnh". Sau đó, vị này kể lại những sự kiện đã diễn ra khi gặp Ngài tại trạm dừng chân ở Kyaikto rồi mới ra về. Bốn năm ngày sau, phu nhân của viên công sứ đã đến dâng cúng các bộ y song (*dvicīvara*) và vật thực cho Trưởng lão cùng chư Tăng đi cùng.

Sau đó, vụ việc được đưa ra tòa án xét xử lại. Tòa phán quyết rằng đây là chùa thuộc về Tăng chúng (*saṅghika*), nên việc Ngài cư trú là không có lỗi. Từ ngôi chùa này, công cuộc hoằng pháp của hệ phái rừng Tawya tại Mawlamyine chính thức bắt đầu. Với sự hiện diện của khoảng ba mươi đến bốn mươi vị Tăng, nơi đây đã trở thành một học viện lớn, hằng năm đều tổ chức các kỳ thi sát hạch Giới luật (*Vinaya*).

Các kỳ thi tương tự cũng được tổ chức tại Kyaikto và Thaton (việc thiết lập học viện tại Thaton đã được trình bày ở phần trước). Trong quá trình hoằng pháp, việc Trưởng lão chú trọng thiết lập các học viện chuyên sâu về Giới luật không phải chỉ vì lợi ích trước mắt, mà dường như Ngài đã nhìn thấu nhu cầu lâu dài của giáo pháp trong tương lai. Có lần, tại giới đàn Kyaikkaw Seik, khi thấy một người tên là U Po Yin ở Kyaikto thường hay có tâm chỉ trích các vị Tỳ-kheo mỗi khi thấy họ có chút thiếu sót, Trưởng lão đã gọi: "Này Po Yin, lại đây", rồi dẫn ông ta vào trong giới đàn.

Tại đó, Ngài dạy rằng: "Này Po Yin, sau khi ta không còn nữa, giáo pháp mà ta đã dày công xây dựng này sẽ không giữ được như hiện trạng đâu". Lời giáo huấn này chẳng khác nào một lời tiên tri về vận mệnh tương lai của giáo pháp.

Ngài còn dạy thêm: "Nếu tâm con được sửa đổi và có lòng tin kính thì đó là phước báu của con, bằng không thì thôi, đừng có nói năng này nọ".

### Hệ phái rừng Nyaunglebin

Ngôi chùa rừng Nyaunglebin cũng được thành lập vào năm 1256 (Miến lịch) theo chỉ thị của Trưởng lão. Ban đầu, có 11 vị Tăng cùng Trưởng lão U Soma (người làng Khin-U Monhla, từ chùa rừng Khway) đến đây trú ngụ. Chính Trưởng lão U Sīla đã thực hiện nghi thức kiết giới Sīmā tại đây và cho tổ chức các kỳ thi sát hạch Giới luật. Về sau, nơi đây đã sản sinh ra nhiều bậc cao tăng lỗi lạc cho giáo pháp như Đại Trưởng lão Aggamahāpaṇḍita U Ariya (vị được chính Trưởng lão U Sīla làm thầy tế độ) và Đại Trưởng lão Aggamahāpaṇḍita Medinī U Āḷāra.


Tu viện Nyaung Lay Bin Tawya không chỉ đào tạo nên các bậc thày về **Duyên khởi (Paṭiccasamuppāda)**, mà còn trở thành một trung tâm truyền giáo lớn, gieo hạt giống giáo pháp cho đông đảo quần chúng nhân chúng.

### Tu viện Kyaikkasan

Tu viện Kyaikkasan tại Yangon được thành lập vào năm 1262 (lịch Miến). Trưởng ban quản trị chùa Kyaikkasan là **U Tha Shi**, sau khi bàn bạc với chủ tu viện Pyi Gyi Mandine là **U Po Nyein** và **U Po Sin** ở Sitsan, đã mua đất và xây dựng tu viện. Sau khi hoàn thành, họ đã dâng cúng lên Ngài với tâm nguyện lập một trường Phật học (Sadaik). Ngài thọ nhận rồi bàn giao lại cho **Ngài Visuddhārāma Sayadaw** ở Mandalay. Sau một hạ, theo tâm nguyện của Ngài, tu viện được giao lại cho Ngài **U Uttama** ở Kyaik Padein Theinkon quản lý. Tăng chúng tại đây có khoảng 190 vị. **Ngài Sayadaw U Uttama** cùng với chư Tăng thường xuyên đi điều hành kỳ thi Luật tạng (Vinaya) tại Bago và phân xử các vụ việc trong giáo đoàn.

### Tu viện Shwe Hintha Tawya, Nyaungdon

Vào năm 1262, khi các thí chủ ở Nyaungdon thỉnh mời Ngài, Ngài phán rằng: "Phải làm sao để mang lại lợi ích lâu dài cho giáo pháp mới tốt". Vì vậy, họ đã chuẩn bị đất để xây dựng trường Phật học và đất để kết giới Sīmā. Nơi đây về sau trở thành tu viện trường Phật học lớn mang tên **Shwe Hintha Tawya**. Ban đầu, tu viện được giao cho Sayadaw **U Sāsana** ở Kyaung Daw Yar. Thời kỳ đầu, chư Tăng trú ngụ trong những lán trại nhỏ bằng tre. Khi tổ chức lễ kết giới Sīmā, nhờ nhân duyên hội đủ, có sự tham dự của các bậc trưởng lão lãnh đạo giáo hội như **Ngài Mahā Visuddhārāma Sayadaw**. Ngôi Sīmā ấy – vốn được ví như nhịp cầu của các thắng sự Luật tạng và là mạch sống của giáo pháp – đã được thành tựu viên mãn. Các kỳ thi Luật tạng cũng được tổ chức tại đây. Với quân số từ một đến hai trăm Tăng chúng, nơi đây cho đến nay vẫn đứng hàng đầu trong các trường Phật học Pháp học (Pariyatti) tại Myanmar.

Tại thị trấn Phyu, hai tu viện **Shwe kyin Taung (Nam)** và **Myauk (Bắc)** cũng được thành lập dưới sự chỉ dạy của Ngài. Nhờ uy đức của Ngài, số lượng các ngôi Sīmā và tu viện thiền lâm (Tawya) mọc lên rất nhiều.

Qua những sự kiện này, chúng ta có thể hình dung được quy mô của nền Phật giáo Pháp học vốn đã bắt đầu đặt nền móng tại vùng Hạ Myanmar thời bấy giờ.


### Lợi lộc dồi dào

Bất cứ nơi nào **Ngài Thayaung Sayadaw (U Sīla)** đi qua, tứ vật dụng và vật thực dâng cúng nhiều đến mức phải dùng xe bò để chở. Tất cả những vật dụng dư thừa, Ngài đều đem cúng dường lại cho chư Tăng. Tại những nơi Ngài sắp đến, người dân chen chúc nhau vì ai cũng muốn là người đầu tiên được dâng đặt bát. Có lần, khi Ngài đến tu viện Thaungoo Myo Daunt, vì thấy mọi người tranh giành thứ tự trước sau, Ngài đã dạy rằng:

"Nếu muốn được nhiều phước báu, hãy nghe lời ta: Hãy cúng dường đến chư Tăng." Sau đó Ngài bảo họ xếp hàng trên sân chùa để đặt bát cúng dường đến toàn thể chư Tăng cùng đi với Ngài.

Một lần khác, Ngài cùng với chư vị Sayadaw như **Kon Yaik Sayadaw**, **Mahā Myaing Sayadaw**, **Thet Nge Taung Sayadaw** đi đến Kyon-doe bằng thuyền lớn. Đêm đó, vì còn cách Kyon-doe khá xa, Ngài bảo dừng thuyền nghỉ lại giữa đường. Các người chèo thuyền chỉ biết nghe lệnh mà nghỉ, nhưng trong lòng đầy lo lắng suốt đêm vì nơi đây là rừng rậm hoang vu, không có bóng người, sợ sáng ra không có vật thực dâng cúng. Tuy nhiên, khi bình minh vừa hé rạng, họ vô cùng kinh ngạc khi thấy dân làng từ những căn lều rải rác trong rẫy ồn ào kéo đến dâng vật thực.

Trên đường đi Kyaiktiyo, sau khi gặp người quản tượng, Ngài tiếp tục cuộc hành trình và sáng hôm sau đến một khu rừng rậm. Nơi này vẫn còn cách xa **Thet Nge Taung**, không thấy bóng dáng lều rẫy nào. Cư sĩ hộ độ **U Po Lay** thấy giờ thọ trai đã cận kề mà không có hy vọng gì tìm được vật thực nên rất lo lắng. Bỗng nhiên, trên một gốc cây mục bên đường, ông phát hiện một gói vật thực còn bốc hơi nóng được đặt theo cách dâng cúng Pamsukūla (vô chủ). Bữa thọ trai chay tịnh gồm chuối, cơm dừa và bánh trái khiến họ vui mừng và kinh ngạc không thôi.

Khi Ngài đang lưu trú tại **Shwe kyin Tawya**, ông **U Shwe Hnit** và những người khác từ Kyaikto đã dùng thuyền chèo lớn đến thỉnh Ngài. Sau hai ngày xuôi dòng, thuyền đến một vùng rừng núi hoang vu hẻo lánh ở thượng nguồn sông Sittaung. Lúc đó vào khoảng 3 giờ sáng, Ngài bảo dừng thuyền rồi lên một ngôi giảng đường (Zayat) cũ đi kinh hành. Trong đêm tối, có một người tiến đến hỏi: "Ai đó?", khi nghe đáp: "Là Ngài Sayadaw", người đó lập tức rời đi.

Chỉ một lát sau, cả vùng Sittaung rực sáng ánh đèn, rất đông người kéo đến dâng vật thực. Lượng vật thực nhiều đến nỗi chất gần đầy một chiếc thuyền lớn mang về đến tận Kyaikto. Lợi lộc dồi dào đôi khi cũng là một sự cản trở đối với cả bậc A-la-hán, vì nó có thể làm giảm thời gian hành đạo (**Lābhasakkāra Saṃyutta**). Sự tấn công của danh lợi cũng nguy hại như sự tấn công của tai ương.


### Những đức hạnh ẩn mật

Những chuyện nêu trên chỉ là một phần nhỏ trong những sự kiện diễn ra tại những nơi hoang vắng, không người. Còn tại những địa điểm Ngài đến chính thức, vật thực được dâng cúng nhiều đến mức phải dùng nhiều xe bò để chở, tạo nên những đại lễ đặt bát vô cùng trang nghiêm. Ngài đều đem tất cả dâng cúng lại cho chư Tăng. Một số người không hiểu rõ tâm hạnh của Ngài, khi thấy Ngài nhận những lợi lộc dồi dào hay sử dụng những vật dụng sang trọng (thực chất là để tế độ đức tin của hàng cư sĩ), đã nảy sinh tâm **tật đố (issā)** và **bỏ rít (macchariya)** mà phạm lỗi lầm. Hỡi các bậc thiện trí, hãy hết sức cẩn trọng; lợi lộc chính là con dao hai lưỡi.

Có lần, một thí chủ dâng cúng nước dừa từ vườn nhà, Ngài bảo: "Hãy đặt tạm ở kia một lát". Vị đó bạch: "Để lâu sẽ mất ngon" rồi khẩn thiết dâng ngay, buộc Ngài phải dùng. Vị thí chủ rất hoan hỷ vì dâng cúng được nước dừa của mình. Nhưng đến chiều, vị ấy lại cảm thấy hối hận.

Lý do là vì mỗi ngày Ngài chỉ dùng vật thực một lần, một chỗ duy nhất, gọi là hạnh **Nhất tọa thực (Ekāsanikanga dhutaṅga)**. Có rất nhiều giới hạnh ẩn mật của Ngài mà người đời không hề hay biết.

Xưa kia, tại thành Verañjā, do sự khuấy đảo của Ma vương (**āvaṭanī māyā**) khiến vị Bà-la-môn thỉnh mời đức Thế Tôn bị quên lãng suốt mùa an cư, Ngài và chư Tăng đã phải thọ dụng lúa mạch của ngựa. Ngài Sayadaw và những bậc thánh nhân như vậy cũng có khi không có vật thực suốt ba bốn ngày, chỉ dùng nước lọc để duy trì mạng sống, chuyện đó không phải là hiếm. Đức hạnh tu tập của bậc thiện trí là điều người phàm khó lòng thấu triệt. Dù nhận được lợi lộc dồi dào, vật thực tinh khiết mỹ vị, hay khi hoàn toàn không có gì, các Ngài vẫn không hề dao động.

"**Iṭṭhāniṭṭhesu tādi-no** = Đối với cảnh lạc hay cảnh khổ, tâm các Ngài vẫn luôn bất biến (tādi)".

Vì vậy, đôi khi thấy các Ngài thọ nhận sự cúng dường long trọng, xa hoa để khích lệ đức tin cho chúng sinh, chúng ta chớ nên khởi tâm ác ý kẻo mang đại tội. Những năng lực của **Giới - Định - Tuệ** là những thắng lực siêu việt, vượt ngoài logic và tầm trí hiểu của người thường.

### Hành trình Parinibbāna và các Xá-lợi

Hạ lạp năm 1268 (Ấn lịch), Ngài an cư tại Kwam-thae Taw-ya trên đảo Bilu. Có mười nơi từ vùng đồng bằng châu thổ đã thỉnh Ngài đến để làm lễ kết giới Sīmā. Trước khi lên tàu tại Yangon, trong lúc Ngài tạm nghỉ tại tu viện Bagan Taung ở Mawlamyine, Ngài Đại đức **U Ñāṇuttara** từ Kyundo Taw-ya cũng đến thỉnh Ngài kết giới Sīmā. Trong khi Ngài đang tịnh dưỡng một mình trong phòng, Đại đức **U Ñāṇuttara** đã vào xoa bóp tay chân để hầu cận Ngài. Thấy Ngài chỉ còn da bọc xương, vị đại đức không khỏi xót xa tâm can.

Ngài truyền dạy rằng: "Máu thịt của lão đã khô héo cả rồi. Những người thỉnh lão có lẽ tưởng lão còn khỏe, nhưng không đâu **U Ñāṇuttara** à, lão chẳng còn khỏe nữa. Nếu phải tịch, lão cũng chẳng muốn tịch ở nơi phố thị xóm làng, mà chỉ muốn tịch giữa chốn rừng sâu mà thôi." Nghe những lời ấy, tâm vị đại đức lại càng thêm sầu muộn.

Nhưng rồi Ngài nói lời an ủi: "**U Ñāṇuttara** hãy cứ chuẩn bị đầy đủ cho việc kết giới Sīmā đi, có lẽ lão sẽ về kịp mà." Lời ấy khiến vị đại đức vững tâm hơn đôi chút, nhưng câu nói "Chẳng muốn tịch nơi phố thị" cứ vang vọng mãi trong tai không dứt.

Ngày hôm sau, Ngài cùng các đệ tử lên tàu đi Yangon. Do người giữ vé sơ suất không lấy vé, Ngài phải ở trên boong tàu. Khi định xuống, cầu tàu đã được rút lên nên Ngài đành phải tùy nghi theo tàu mà đi. Lúc này Ngài đã 75 tuổi, căn bệnh lỵ ra máu lại càng trầm trọng, Ma vương không ngừng quấy nhiễu gây khổ não. Đến Yangon, Ngài đổi sang tàu đi Pantanaw rồi lần lượt thực hiện lễ kết giới Sīmā tại các làng We-htaung, Daw-wa, In-ma và các Sīmā ở Seik-gyi, Kha-ywe-kha-pho. Tiết trời tháng Tagu (tháng 4) nóng bức khắc nghiệt, thân tứ đại của Ngài chỉ còn thoi thóp chút hơi tàn.

Sau đó, Ngài ghé vào tu viện Shwe Hintha Taw-ya ở Nyaung-don rồi từ Danubyu khởi hành đi dự lễ kết giới Sīmā tại Zalun. Suốt dọc hành trình, Ngài không ngơi nghỉ mà luôn tế độ chúng sinh. Các phái đoàn đón rước từ Zalun đã tề tựu đông đủ. Do chiếc tàu thủy thường chạy quanh đảo bị hỏng nên Ngài phải đợi ở Danubyu. Căn bệnh lỵ ra máu liên tục hành hạ, Ngài không còn dùng được chút vật thực nào nữa. Một người xoa bóp thốt lên:

"Máu thịt của Ngài đã cạn kiệt, chạm vào đâu cũng chỉ thấy toàn xương, các đại trong thân đã hoại cả rồi." Tuy vậy, gương mặt Ngài vẫn luôn rạng rỡ và an nhiên.

Đến 2 giờ sáng ngày mùng 3 sau trăng tròn tháng Kason năm 1269, Ngài cập bến Zalun. Nghe tiếng còi tàu, cả thành phố đổ xô ra đón rước. Đoàn kịch của ông Pu Zin đang biểu diễn cũng phải dừng lại. Vì chiếc tàu thường lệ chưa sửa xong nên một chiếc tàu khác được điều đến thay thế, và kỳ lạ thay, tên của chiếc tàu đó lại là "Nibbāna" (Niết-bàn). Khi đến tu viện ở nghĩa trang thành phố Zalun, Ngài lập tức thực hiện việc kết giới Sīmā ngay trong ngày mà không chút chậm trễ.


Suốt ngày hôm ấy, Ngài cho phép đại chúng chiêm bái, nhưng đến đêm, chứng lỵ ra máu lại tái phát dữ dội vô số lần. Ngài từ chối mọi loại thuốc men. Thấy y phục bị vấy bẩn, các đệ tử định thay y mới nhưng Ngài nắm chặt không buông. Chỉ khi đệ tử bạch rằng: "Bạch Ngài, đây cũng là y Pāṃsukūla (y phấn tảo) và đã được đóng dấu Bindu (điểm dấu tịnh) rồi ạ" thì Ngài mới đồng ý cho thay. Đến 7 giờ sáng thứ Hai, ngày mùng 4, ở tuổi 75, với đầy đủ **Sati-Sampajañña** (Chánh niệm và Tỉnh giác), Ngài đã hoàn toàn buông bỏ gánh nặng ngũ uẩn. Các bậc thiện tri thức luôn dùng tấm thân này cho giáo pháp và chúng sinh cho đến tận phút cuối cùng.

Thấu triệt sự an lạc vĩnh cửu vô song của **Asaṅkhata Nibbāna-dhātu** (Vô vi Niết-bàn giới), các bậc Thánh A-la-hán vô cùng hoan hỷ khi bước vào **Parinibbāna** (Bát-niết-bàn).

Đúng như tâm nguyện "Chẳng muốn tịch nơi phố thị", Ngài đã nhập **Parinibbāna** tại khu rừng nghĩa trang. Những vị Tăng và cư sĩ không hiểu rõ sự khác biệt giữa việc nhập **Parinibbāna** và cái chết thông thường của con người, giữa việc đạt được giới an tịnh vĩnh cửu và sự tái sinh khổ não bất định, đã khóc thương nức nở với tất cả niềm tôn kính.

Các bậc thiện nam, chư Thiên và Phạm thiên thấu hiểu sự thật đã biểu lộ những dấu hiệu hoan hỷ khác nhau. Khắp vùng đất Zalun rung chuyển bởi một trận động kinh, đất mẹ đại địa vang rền tiếng lành "Sādhu" (Lành thay). Các loài cây trái trái mùa đồng loạt đua nhau đâm chồi nảy lộc, rộ nở hoa trái để cúng dường.

Những sự kiện tưởng chừng "không thể, chỉ là phóng đại" trong kinh điển Pipiṭaka, nay khiến các bậc trí giả thiện tri thức càng thêm tin tưởng, thấy rằng "những gì ghi chép lại vẫn còn là ít".

Vì Ngài xả bỏ gánh nặng ngũ uẩn tại thị trấn nhỏ Zalun nên các thí chủ ở Yangon cho rằng nơi đây không xứng tầm với đức độ của Ngài. Họ đã thuê nguyên một chuyến tàu đến để đòi rước kim thân Ngài về. Cuối cùng, theo lệnh của các bậc Trưởng lão, họ còn định huy động cả quân đội và cảnh sát để gây áp lực.

Giống như thuở Đức Thế Tôn nhập **Parinibbāna**, người dân Zalun và vùng Malla (ý chỉ người dân địa phương) cũng sục sôi đau thương và phẫn nộ, quyết "đổi mạng" để giữ lại kim thân. Các Tăng ni và cư sĩ từ vùng phía Đông nơi Ngài từng trụ ngụ cũng đưa ra những lý lẽ riêng để thỉnh Ngài về. Nhưng người dân Zalun nhất quyết không nhượng bộ. Họ tuyên bố: "Dù có tan thành tro bụi cũng không để một chút gì bay sang phía Đông!", cả chư Tăng lẫn cư sĩ đều để cho cái ngã xen vào tâm cảm hoài thương, khiến cả nước đành phải bỏ cuộc. Trong một đại lễ công đức mà ác nghiệp lại nảy sinh.


Vì sợ kim thân bị đánh tráo hoặc lấy trộm, người dân đã làm một chiếc quan tài bằng đồng và treo lên cao ngoài tầm với của mọi người, luôn có bốn người túc trực canh giữ. Em gái của Ngài và người dân từ nhiều nơi đến bên kim thân vừa khóc vừa buông lời trách móc, oán than người dân Zalun, nhưng họ vẫn thản nhiên: "Muốn khóc sao cũng được, miễn không mất kim thân là được rồi."

Lễ trà-tỳ được tổ chức vào tháng Tabodwe (tháng 11 Ấn lịch) năm ấy. Việc xây dựng và cúng dường không thiếu một thứ gì, không khí đông đúc nhộn nhịp như ong vỡ tổ. Người dân Zalun đã có cơ hội bày tỏ lòng thành tín một cách trọn vẹn nhất. Tại khu vực trà-tỳ, những bức họa tái hiện cuộc đời của Ngài được trưng bày khiến ai nấy đều không cầm được nước mắt. Suốt ngày đêm, các đội văn nghệ địa phương không ngừng ca hát, khóc kể về cuộc đời Ngài, khiến ngay cả các bậc Trưởng lão cũng phải cúi đầu rơi lệ. Đến lúc này, mọi người mới thấu hiểu hết ân đức sâu dày của Ngài.

Bốn phía quanh kim thân, những ngọn nến được thắp sáng; dù gió thổi từ bốn phương hội tụ nhưng ngọn lửa vẫn như nghiêng mình cúi đầu hướng về phía kim thân mà rực cháy. Trên quan tài đồng, nhiều người cùng nhìn thấy rõ rệt hình ảnh một vị sư bưng bát khất thực bước đi, phía sau có một vị Thiên nhân che lọng hộ tống. Không chỉ một người mà rất nhiều người đã chứng kiến cảnh tượng ấy.

Trong suốt buổi lễ, không hề xảy ra xích mích hay mất mát đồ đạc gì; hoa đốn-na (Dona) và nước thơm bán không kịp cho người mua. Ban đầu lễ trà-tỳ định diễn ra vào ngày mùng 2 sau trăng tròn tháng Tabodwe, nhưng do đại chúng quá say sưa theo dõi các đội văn nghệ ca diễn nên thời gian trôi qua, đến 8 giờ sáng ngày hôm sau lễ trà-tỳ mới thực hiện được. Kim thân Ngài không hề có mùi tử khí. Sau khi hỏa thiêu, lượng gỗ trầm hương và gỗ than-kha (thanaka) dùng để cúng dường vẫn còn dư lại tới năm xe bò.

Khi tro cốt được đặt vào thùng sắt và cho phép đại chúng thỉnh về, ngay lập tức mọi người tranh nhau lấy, đến nỗi than và các hàng rào tre cũng hết sạch, mặt đất nơi đó bị đào thành một cái hố lớn. Những người thỉnh được tro cốt đem về đặt vào lọ nước thơm để thờ phụng, thấy từ tro bụi hiện ra những viên nhỏ li ti (Xá-lợi) lung linh ẩn hiện.

Ban tổ chức lễ tang đã cất giữ tro cốt vào các rương sắt, khóa nhiều lớp và canh giữ vô cùng nghiêm ngặt, thậm chí sẵn sàng đổi cả tính mạng để bảo vệ. Khi mở ra xem, mọi người kinh ngạc phát hiện tro trong bát bạc không còn là tro nữa mà đã biến thành những viên Xá-lợi tròn trịa. Lúc bấy giờ, ngay cả những người từng gần gũi Ngài nhưng vốn chưa từng nghĩ Ngài là bậc cao thượng như thế, đã cảm thấy hối hận khôn nguôi vì sự hời hợt của mình khi xưa.

Dù lễ tang đã kết thúc, nhưng tại nơi trà-tỳ vẫn rộ lên tin đồn về "những quầng sáng lớn bay lên không trung", khiến suốt cả mùa hè nơi đây vẫn tấp nập như có hội lớn. Các buổi lễ đặt bát cúng dường quy tụ hơn một ngàn xe bò, còn đông đúc hơn cả lúc diễn ra lễ tang chính thức.

Lại phải tôn thờ Xá-lợi đúng thật và xây tháp cát để cúng dường. Từ tháp ấy, người ta lại thấy những vầng hào quang lớn bay vút rực rỡ. Khi lấy cát từ gần tháp treo vào nước, lại thấy những hạt nhỏ màu ngọc trai cỡ hạt thầu dầu nổi lên hụp xuống trong bình. Cứ như thế, việc cúng dường, đãi đằng và những người thỉnh Xá-lợi đông đúc đến mức làm tắc nghẽn cả đường xe bò vào tháng Kason, Nayon (tháng 5, 6 dương lịch); mãi đến khi vụ mùa bắt đầu thì người mới thưa dần.

Tại nơi đó, các bậc hữu duyên đã xây dựng và tôn thờ một bảo tháp thờ di cốt (Xá-lợi xương) cao 30 khuỷu tay (thăn-daung).

(Để biết thêm chi tiết, xin xem trong cuốn Tiểu sử Thiền sư U Thila xuất bản lần thứ hai tại nhà in Hanthawaddy năm 1959.)

### Chuyện về Ngài qua lời kể trong nước mắt

Liên quan đến Thiền sư U Thila, dưới đây là những điều ghi chép lại theo lời kể của bà Daw Hla Thin, 68 tuổi, là cháu của Ngài (cháu ngoại của bà Daw Hla Thu, tức bà O, em gái của Ngài) vào ngày 17 tháng 1 năm 1977. Bà Daw Hla Thin hiện sống ở phía Tây chợ thị trấn Kyaukse.

Phu quân của bà Phwa Thuzar (em gái Ngài) là ông U Shwe Lan; phu quân của bà Daw O (tức Phwa Hla Thu) là ông U Shwe Nu; còn người được gọi là 'Saya Pho Kaung' trong tiểu sử của Ngài chính là ông U Shwe Phu, cậu ruột của mẹ bà Daw Hla Thin. Ông U Shwe Phu làm thầy thuốc và thọ đến 90 tuổi. Các cháu thường gọi ông là "Saya Apho Kaung" (Ông tiên thầy thuốc).

Bà Daw Hla Thin từ nhỏ đã sống với bà ngoại Daw Hla Thu (bà O), nên mỗi khi có dịp, bà Hla Thu lại kể chuyện về người anh làm sư của mình, và mỗi lần kể bà đều rơi lệ.

Khi mẹ Daw Cho mang thai Ngài, bà chỉ ăn chuối và đường thốt nốt để dưỡng thai. Ngay từ thời thơ ấu, Ngài đã luôn biết nghĩ cho người khác và rất sợ điều bất thiện. Theo thói quen của trẻ em thôn quê, khi chăn bò hay nhặt rơm, chúng thường hay thọc tay vào hang bắt cá lóc; nhưng cậu bé Maung Shwe Tha (tức Thiền sư tương lai) vì không dám làm điều ác nên chỉ ở lại trông bò và gom rơm thay cho chúng bạn. Khi thấy các em gái là Ma Thu Zar, Ma Hla Thu và Ma Hla Aung đang mút mía, nếu cậu xin-

Các em liền bảo: "Nếu anh chịu để tụi em lấy cây mía gõ vào đầu thì mới cho." Để các em vui lòng, cậu bé liền đưa đầu ra cho các em gõ rồi mới nhận mía.

Maung Shwe Tha là con trai cả nên thường giúp mẹ Daw Cho từ việc nấu cơm, gánh nước đến giã gạo. Một ngày nọ, khi Maung Shwe Tha đang giã gạo,


Cô em gái Ma Hla Thu cứ vòi vĩnh đòi anh phải bế, thế là anh vừa phải địu em trên lưng vừa phải giã gạo. Lúc về già, bà Phwa Hla Thu kể lại những chuyện nũng nịu thái quá với anh mình thuở nhỏ mà không cầm được nước mắt. Nhưng bà cũng không thể không kể lại.

Người em gái lớn Ma Thu Zar, khi Ngài mới đi vào rừng xuất gia, đã lặn lội khắp rừng tìm Ngài để cúng dường đường thốt nốt và nến. Ngài bảo: "Đừng có theo ta nữa," khiến Ma Thu Zar phải khóc lóc trở về. Khi Ngài đang ở trong khuôn viên chùa Kusinara tại làng Phaya Kalay Oat Kan, bà Ma Hla Thu đi dâng cơm, nghe thấy Ngài đang nói chuyện một mình. Bà lén nhìn thì thấy trước mặt Ngài có một con rắn lớn đang nằm phủ phục.

Khi Ngài bảo: "Này thí chủ She (Rắn), hãy đi đến nơi nào an toàn đi," bà thấy con rắn liền quay đầu bò đi mất.

Nơi Ngài đi ngang qua đầu tàu hỏa khiến tàu dừng lại được cho là đoạn giữa Phaya Kalay và Wanbe In.

Liên quan đến vụ mẫu thân Daw Cho bị bọn cướp sát hại, người ta đã dựng chuyện bắt giữ Pho Par Tu và Pho Shwe Nu. Họ phải đi tàu thủy xuống Yangon để thẩm vấn. Pho Shwe Nu dù đang bị sốt rét vẫn thường xuyên phải đi hầu tòa. Quan tòa thường cho tiền, dỗ dành và hỏi cô bé Ma Hla Thu rằng:

"Có phải cha mày và anh mày (vị sư) đã giết bà Daw Cho không?" Mỗi lần bị hỏi, Ma Hla Thu đều trả lời: "Không phải." Cuối cùng, vụ án phải bãi bỏ. Tuy nhiên, trong số những kẻ đánh chết mẫu thân có một người làng Wanbe In, và tất cả bọn chúng sau đó đều phải chết vì ác nghiệp (chết bất đắc kỳ tử).

Khi mẫu thân qua đời, Ma Thu Zar và các chị em khác gào khóc thảm thiết, Ngài liền bảo các em:

"Nữ thí chủ ấy là một người can trường (ý nói đã trả xong nghiệp), các cô đừng có hú lên như tiếng chó tru như vậy." Ngài muốn ám chỉ đó là nợ nghiệp trong vòng luân hồi.

Khi Ngài viên tịch, lễ tang ban đầu không mấy đông đúc. Nhưng từ khi một người Hoa bị tàn tật đến đảnh lễ và khỏi bệnh một cách kỳ diệu, người đến dự mỗi ngày một đông thêm. Một phú thương người Hoa ở thị trấn Zalun theo như điềm báo trong giấc mơ đã cúng dường một khu đất để làm nơi hỏa táng kim thân, và tương truyền tại chính khu đất đó, người ta đã đào được những hũ vàng.

Đây là tất cả những chuyện về Ngài mà tôi ghi nhớ được từ lời kể trong nước mắt của bà Daw O (tức cụ bà Hla Thu), người đã thọ 90 tuổi.

(Bức ảnh Thiền sư U Thila in trong cuốn sách này là do bà Daw Hla Thin ở Kyaukse cung cấp. Ảnh được lấy từ chùa Kyaikkasan, được cho là chụp khi Ngài ngoài 60 tuổi.)



HẾT PHẦN THỨ HAI.

**MỘT... KHOẢNG THỜI GIAN**
**HAI... LOẠI CÔNG VIỆC**
**LỢI ÍCH... VÔ NGẦN**

...

Liệu chúng ta có thể né tránh hay trốn chạy khỏi việc đối diện với Danh và Sắc được chăng? Hai luồng hơi thở ra và vào vốn dĩ luôn hiện hữu từ khi mới sinh cho đến lúc chết. Theo lời dạy của đức Phật, việc giữ tâm trên Danh và Sắc (thân và tâm) liệu có mệt nhọc không, có tốn tiền không, có phải đi thuê đi mượn của ai không? Có tốn thời gian không, và người khác có biết được không? Việc duy trì đó chính là **Vīriya** (Cần), và sống đúng theo sự duy trì đó chính là **Vīriyiddhipāda** (Cần Thần Túc); giữ ngay bây giờ, sống ngay bây giờ, thì an lạc ngay trong hiện tại. Khi sự an lạc này thâm nhập, hành giả sẽ tự mình biết rõ về sự Tinh tấn (Vīriya) đó, không cần phải đi hỏi ai khác. Liệu nó có thể không tiến bộ ngày qua ngày chăng? Không có một người, một vị Thiên hay vị Phạm thiên nào có thể ngăn cản được. Liệu có ai có thể dùng quyền lực để cưỡng đoạt lấy sự an lạc từ bậc thiện trí này chăng? Thật là cao quý thay!

Liệu có chuyện chỉ thành tựu trong oai nghi này mà không thành tựu trong oai nghi kia chăng? Liệu có cần phải chọn lựa nơi chốn chăng? Trong khi đang ở một mình, hay khi đang ở nơi sân tháp, nơi cội Bồ-đề, hay ngay cả khi đang sống cùng con cái, cháu chắt... đều có thể thực hành được cả.

Này... vì gánh nặng uẩn thân vẫn còn đó, nên chúng ta vẫn phải làm những công việc mà mình đã dự định. Thế nhưng đức Phật không gọi đó là "Công việc" thực sự. Đây (việc hành thiền) mới chính là Công việc. Trong khi làm những việc đời như thế, liệu ta có thể vừa làm vừa hành (thiền) được chăng? Trong cùng một lúc, cả hai công việc đều được hoàn thành. Chẳng phải khi vừa hành vừa làm thì công việc lại càng dễ thành đạt và mang lại nhiều lợi ích hơn sao?

Khi đã hiểu rõ sự an lạc này rồi, người ta sẽ luôn giữ gìn pháp hành liên tục, không để phí hoài ngay cả những lúc rảnh rỗi hay nghỉ ngơi.

### Cố Đại Trưởng Lão Thiền Sư Webu Sayadaw
(Ghi chép từ lời giáo huấn Ngài thường ban dạy)

# PHẦN THỨ BA

## Chương — Từ thời Anh thuộc đến thời hiện đại


### Lời tạ ơn nhân duyên hội đủ

Trong việc biên soạn về cuộc đời của “Các bậc Alahan lỗi lạc” trong lịch sử thiền tập (Pàtipatti) của Miến Điện, nhờ vào tâm nguyện chân thành, lòng nhiệt thành ủng hộ của độc giả, cùng sự khích lệ mạnh mẽ của cả giới tu hành lẫn cư sĩ, dù sức khỏe không tốt nhưng tôi đã nỗ lực biên soạn và nay có thể trình bày Phần thứ ba này.

Tôi rất vui mừng khi có thể đáp lại thâm ân này theo cách như vậy. Hy vọng quý vị sẽ nhận được sự hài lòng xứng đáng.

Khi trình bày về tiểu sử của các bậc Thánh (Ariya) cao thượng, tôi đã trình bày đúng sự thật theo những gì đã được đọc và nghe, không che giấu cũng không thêu dệt. Tôi cũng mong muốn độc giả tự dùng trí tuệ của chính mình để nhận định.

Trong việc trình bày này, không chỉ nhằm mục đích để quý vị tùy hỷ và khởi tâm trong sạch (pasāda), mà mục đích chính là để mỗi hành giả (yogi) có thể soi rọi vào cuộc đời mình, từ đó rút ra “bài học thực tiễn” để tu tập. Vì vậy, mong quý vị đừng bận tâm đến tông phái hay chấp trước vào cá nhân, mà hãy nhìn nhận và quán xét theo tinh thần của Pháp (Dhamma).

Vẫn còn nhiều bậc đặc biệt mà chúng tôi chưa biết đến nên còn sót lại, và ngay cả trong những vị đã được nêu tên, chắc hẳn vẫn còn nhiều chi tiết quan trọng đáng ghi nhớ chưa được đề cập hết.

Việc tìm kiếm và thu thập tư liệu về các bậc thiện tri thức cao thượng — điều đáng lẽ phải được hệ thống thành sách từ lâu — thực sự không hề dễ dàng. Dù đã có được nhiều tiểu sử, nhưng vì ở đây chúng tôi chỉ cần những “hạnh kiểm thanh tịnh, cao quý,” nên không thể đưa vào mọi câu chuyện ly kỳ truyền miệng nếu chúng không phục vụ mục đích này.

Thông thường, mọi người có thể nghĩ rằng: “Chỉ cần thu thập tiểu sử rồi viết sao cho hay là xong,” nhưng trong thực tế không nên làm như vậy. Bởi vì trên đời này có rất nhiều điều kỳ lạ và đáng kinh ngạc.

Dù thế nào đi nữa, với những gì thực sự có trong các tiểu sử liên quan, tôi không hề thêu dệt mà đã dốc hết sức mình để làm sáng tỏ những bản chất ẩn khuất nhằm tạo thành những nguyên tắc thực hành. Nếu các hành giả có thể soi rọi vào cuộc đời mình, phân biệt rõ ràng những gì nên tránh, những gì nên làm, và xem đây như một người bạn đồng hành, một điểm tựa trong lúc tu tập, thì nỗ lực trình bày này của tôi đã mãn nguyện.

Phần thứ ba này được khởi soạn tại quê nhà, trong lúc tôi đang chăm sóc người mẹ già 83 tuổi đang lâm bệnh. Khi tập sách này chuẩn bị hoàn tất vào năm 1337 (Miến lịch), vào ngày 12 tháng sau trăng tròn Thadingyut, mẹ tôi đã qua đời.



Ngoài ra, bậc thầy về Pháp học (Pariyatti) của tác giả, vị đã nâng đỡ tôi trong vai trò thư ký từ khi tôi mới 26 tuổi cho đến nay — bậc ân sư **Abhidhaja Mahā Raṭṭhaguru**, Ngài Masoeyein Sayadaw vĩ đại, thọ 96 tuổi — cũng đã viên tịch cùng ngày với mẹ tôi.

Khi các tập sách đã viết xong (cho đến hết Phần thứ hai) được đọc cho các bậc ân sư nghe, mẹ tôi đã khen ngợi: “Con trai mẹ thật giỏi chữ nghĩa,” còn Ngài Sayadaw thì khích lệ: “Con viết như vậy thì mọi người sẽ hiểu được.” Cách đây không lâu, Ngài Sayadaw còn giao phó: “Ta rất tôn kính kinh **Mogharāja Sutta**, con hãy dịch và viết cả ý nghĩa của kinh đó nữa nhé, ta sẽ thưởng cho con ba trăm (kyat), để người khác cũng có thể đọc được.”

Những bậc ân sư từng lắng nghe và khích lệ nay đã đồng loạt ra đi trong cùng một ngày.

Phần thứ ba đến đây là hoàn tất.

Hai bậc ân sư vô vàn kính yêu mà tôi đã gặp gỡ trong một khoảnh khắc của cả đời người này, xin được dùng tập sách này để đền đáp thâm ân và dâng lên cúng dường các Ngài.

# Sayadaw U Kyi

(U Kitti thuộc Tu viện Rừng Thဲpon Ceti, Pakokku)

(1204 - 1288)

Tại vùng Pakokku thuở nọ, có một vị Trưởng lão tu hạnh đầu đà (Aranyavasi) tên là Sayadaw U Kyi, người nổi danh khắp nơi là bậc ‘**A-la-hán**’. Pháp danh của Ngài là **U Kitti**, và Ngài cũng thường được gọi là **Ngài Trưởng lão Thဲpon Ceti**. Cho đến tận ngày nay, những câu chuyện về sự mầu nhiệm và ân đức của Ngài vẫn còn lan tỏa khắp vùng Pakokku.

Tu viện Rừng Thဲpon Ceti nơi Ngài cư ngụ nằm ở phía bắc làng Myit-kaing, thuộc thị xã Pakokku. Trên những rặng đồi vùng ấy, các trú xứ tu hành thường được gọi kèm theo tên núi như **Mya-sein-taung**, **Hman-si-taung**, v.v... Cảnh trí nơi đây tương tự như các hang động trên dãy núi Sagaing. Ngọn núi Thဲpon Ceti của Ngài là một chốn cô tịch, thanh bình và mát mẻ, đặc biệt thích hợp cho những hành giả tu tập thiền định (Bhavana). Dù là nơi rừng núi biệt lập, nhưng vào những ngày lễ lớn, chốn này lại trở nên đông đúc bởi thiện nam tín nữ từ thị xã tìm đến để thọ giới, nghe pháp và hành thiền.

Quê hương của Ngài là thị xã Nyaung-U. Phụ thân Ngài là chủ thuyền **U Pe Khwe**, và mẫu thân là **Daw Min Bu**. Ngài hạ sinh vào khoảng hơn 2 giờ sáng, đêm ngày mồng 5 sau trăng tròn tháng Thadingyut, năm 1204 (Thiết kỷ). Ngài là con cả trong gia đình 5 anh em, tên thuở nhỏ là **Maung Kyi**. Ngay cả khi đã trở thành một vị Đại Trưởng lão, mọi người vẫn thường gọi Ngài bằng cái tên ấy. Đúng như câu nói: “Tên gọi đi trước, thực chất theo sau”, Ngài quả thực là một ngôi sao sáng (Kyi/Star) rạng ngời trong lịch sử Phật giáo thực hành (Patipatti) của Myanmar.

Năm 12 tuổi, Ngài đến tu học với vị Trưởng lão **U Sumana** (thường gọi là **Khin-gyi Toe**) tại Tu viện Patho, thị xã Pakokku. Tu viện Patho nằm ở phía tây nam của bảo tháp Shwe-gu-gyi nổi tiếng. Năm 15 tuổi, Ngài xuất gia Sa-di với pháp danh là **Shin Kitti**. Vào ngày mồng 10 tháng Nayon năm 1223, Ngài thọ cụ túc giới để trở thành một vị Tỳ-khưu cao quý tại giới đàn (Khandha Sima) của tu viện này, dưới sự dẫn dắt của thầy tế độ là Ngài **U Sumana**. Từ khi còn là tiểu tăng cho đến khi được 2 hạ lạp, Ngài chuyên tâm học tập Pháp học (Pariyatti) dưới chân vị bổn sư. Vào năm hạ thứ 3, Ngài lên đường đến Mandalay để tầm sư học đạo. Tại Mandalay, Ngài theo học tại **Tu viện Sankyaung** danh tiếng ở phía bắc kinh thành, nơi quy tụ khoảng một ngàn tăng sĩ thời bấy giờ. Ngôi đại tu viện này do Ngài Trưởng lão **U Sudassana**, vị được ban tặng danh hiệu Rajaguru (Quốc sư) hai lần, trụ trì. Tại đây, Ngài là bạn đồng môn thân thiết với Ngài **U Nyana**, người mà sau này được biết đến là vị Đại Trưởng lão Ledi Sayadaw lừng danh.


### Không ngủ, không nằm mà vẫn trường thọ, khỏe mạnh

Sau khi hoàn tất việc học tập Pháp học (Pariyatti) tại Mandalay, Ngài trở về trụ trì tại tu viện Patho và đảm nhiệm việc giảng dạy Tam tạng Kinh điển. Cho đến năm hạ thứ 9, trong khi vẫn duy trì việc giảng dạy Pháp học tại tu viện Patho, Ngài đồng thời nỗ lực thực hành thiền Minh sát (Vipassana). Khi được 10 hạ lạp, Ngài quyết định vào tu tập tại Tu viện Rừng Thဲpon Ceti. Trong suốt 78 năm trường, Ngài kiên trì trú ngụ nơi rừng thẳm và luôn duy trì việc trì bình khất thực hàng ngày. Điểm đặc biệt nhất ở Ngài chính là việc thọ trì **Hạnh Đầu đà Ngồi (Nisajjika-dhutanga)** suốt đời. Ngay cả những vị đệ tử thân cận nhất cũng khẳng định rằng: “Chưa bao giờ nhìn thấy Ngài nằm xuống dù chỉ một lần”. Ngài cũng thọ trì các hạnh đầu đà khác tùy theo thời điểm thích hợp.

Trong mười ba hạnh đầu đà, **Hạnh Đầu đà Ngồi** đòi hỏi hành giả phải nỗ lực tinh tấn ở mức cao độ nhất. Mười hai hạnh còn lại chủ yếu liên quan đến các vấn đề về trú xứ, y phục và vật thực. Thọ trì hạnh ngồi là để dồn hết sự tinh tấn nhằm đoạn trừ tận gốc sự **si mê (Moha)** và **hôn trầm, thụy miên (Thina-middha)**. Nếu hành giả vô tình ngủ quên trong tư thế ngồi thì hạnh đầu đà vẫn không bị đứt. Hành giả cũng có thể ngồi tựa lưng vào vật gì đó không cao quá một khuỷu tay; đây được gọi là mức độ nhẹ của hạnh đầu đà ngồi. Trong sinh hoạt, hành giả chỉ được luân chuyển qua ba oai nghi: đi, đứng và ngồi. Dù không ngủ được, tuyệt đối không bao giờ được nằm xuống.

Trong bốn oai nghi, tư thế ngồi là tư thế thuận lợi và phù hợp nhất cho việc hành thiền. Đây không phải là hành động hành hạ thân xác, mà chính là sự khổ hạnh để tiêu diệt phiền não (Kilesa). Một khi đã thuần thục thì không có gì là khó khăn. Nếu chịu học thì sẽ biết, nếu chịu tu tập thì sẽ đạt được sự cao quý.

Thực chất, việc ngủ nghỉ cũng giống như hành động đang mời gọi **hôn trầm (Thina)**, **thụy miên (Middha)** và **si mê (Moha)** kéo đến. Hôn trầm - thụy miên là một trong các pháp ngăn che (Nivarana - Triền cái), như một bức tường thành cao lớn chắn đứng con đường dẫn đến Niết-bàn. Si mê cũng tương tự như vậy.

Đúng như đức Phật đã dạy: “**Seyyasukkham, passasukkham, middhasukham**” (Hạnh phúc trong việc ngủ, hạnh phúc trong việc nằm, hạnh phúc trong sự lười biếng), việc chìm đắm trong giấc ngủ và sự ngủ gật đối với phàm phu chỉ là một loại ma thuật của Ma vương (Mara), khiến họ mê muội mà lầm tưởng đó là sự hưởng thụ. Thậm chí người đời còn cố chấp bào chữa rằng phải ngủ thì mới có sức lực, mới khỏe mạnh. Hơn nữa, việc nằm duỗi người trên giường chính là sự hưởng thụ **Xúc trần (Photthabba)** trong năm món dục lạc; đó là một cách thụ hưởng xúc chạm tinh vi (tận dụng lạc thú), như đã được giải thích trong (**Kinh Sakkapanha - Đế Thích Sở Vấn**).

Do đó, dù việc ngủ nghỉ có vẻ như là một công việc rất bổ ích và mang lại nhiều sức lực, nhưng đối với các hành giả, nó không mang lại bất kỳ lợi ích nào mà chỉ toàn là tai hại trên mọi phương diện. Nếu nói rằng ‘phải ngủ mới khỏe mạnh’ thì quả thật không hợp lý. Chẳng phải đã có các bậc Thánh A-la-hán như **Ngài Mahakassapa (Đại Ca-diếp)** hay **Ngài Bakula** đã minh chứng đó sao? Dù trải qua hàng bao nhiêu năm không ngủ (hoặc dù không say giấc nhưng cũng chẳng hề nằm sấp hay nằm ngửa), các Ngài vẫn sống thọ đến 120 tuổi, 160 tuổi trong trạng thái hoàn toàn khỏe mạnh cho đến khi nhập Diệt độ. (**Chú giải Kinh Sakkapanha**).

**Ngài Sariputta (Xá-lợi-phất)** và **Ngài Moggallana (Mục-kiền-liên)** cũng không hề nằm lưng xuống đất suốt 30 năm ròng rã vì các Ngài thọ trì **Hạnh Đầu đà Ngồi (Nisajjika-dhutanga)**. Tương tự như vậy, **Ngài Mahakassapa** kể từ khi xuất gia cho đến khi 120 tuổi, **Ngài Anuruddha (A-na-luật)** trong 50 năm, **Ngài Bhaddiya** trong 30 năm, **Ngài Sona** trong 18 năm, **Ngài Rathapala** trong 12 năm, **Ngài Ananda** trong 15 năm, **Ngài Rahula (La-hầu-la)** trong 12 năm, **Ngài Bakula** từ lúc 80 tuổi cho đến khi 160 tuổi, và **Ngài Nalaka** cho đến tận lúc nhập Diệt độ, tất cả đều không hề nằm lưng xuống đất. Các bậc Trưởng lão ấy đều sống rất trường thọ với một cơ thể khỏe mạnh.

Pháp tu đầu đà ngồi chính là người bạn đồng hành tốt nhất của các hành giả. Đó là thứ vũ khí tối tân nhất trong cuộc chiến chống lại Ma vương. Nhờ sự kham nhẫn ấy, các Ngài đã chứng đắc Niết-bàn.


### Rắn độc, voi dữ và những điều không lạ lẫm

Cũng như việc Ngài Sayadaw luôn thọ trì **Hạnh Đầu đà Ngồi**, Ngài thường đặc biệt thuyết giảng về sự vững chãi của Giới luật và các pháp **Kham nhẫn (Khanti)**, **Từ ái (Metta)**. Lời thuyết giảng của Ngài rất dứt khoát, dễ hiểu, đầy lòng kiên nhẫn và luôn tôn trọng Chánh pháp. Có lần, một số người thân cận đã bạch hỏi Ngài về những sự kiện mầu nhiệm của Ngài mà dân chúng vẫn thường đồn đại.

Chuyện là, Ngài Sayadaw thường xuyên đi từ ngọn núi Thဲpon Ceti đến tu viện Patho vào những lúc đêm hôm không thuận tiện. Vùng đất ấy vốn là nơi có rất nhiều các loài rắn cực độc như rắn lục, rắn hổ mang. Ngài thường xuyên chạm mặt với những loài rắn độc này, nhất là vào khoảng thời gian cuối hè đầu mưa. Có khi Ngài còn giẫm phải rắn độc khi chúng đang cuộn tròn. Vào mùa giao phối, rắn bò ra đông nghẹt như thể dàn trận khiến kẻ thù không lối thoát, Ngài gặp chúng vây quanh thành bầy không sao tránh khỏi.

Lại có lần, Ngài gặp phải một con voi dữ đang trong cơn động đực của công ty Bombay Burmah. Con voi hung hăng lao thẳng về phía Ngài như muốn giẫm nát, nhưng khi đến gần, Ngài chẳng hề tỏ thái độ hay cử chỉ gì, vậy mà con voi lại tự động né sang một bên rồi bỏ chạy mất. Mọi người mới đem chuyện đó ra thưa hỏi Ngài. Đặc biệt, vì đây là vùng có rất nhiều rắn rết, nên họ cũng tranh thủ dò hỏi xem Ngài có thuật thôi miên rắn, phù ấn hay câu chú trị rắn nào không.

Ngài cười bảo: “À, người ta hay nói cho câu chú thì lại thành ra bài hát ấy mà, câu chú đơn giản lắm.”


**“Sẽ có lúc các con thực sự đạt được, nhưng lúc đó các con lại không dám tin đâu”**, ngài phán như vậy. Các đệ tử khát khao thưa rằng: “Bạch Ngài, chúng con sẽ làm theo những gì Ngài dạy, bảo học lời nào chúng con sẽ học lời nạp.” Họ cùng nhau đoan hứa. Ngài thường dạy: “Những bài kệ, những pháp hành thực tế của ta vốn rất giản đơn. Các con không cần phải học thuộc lòng quá nhiều. Chính vì nó quá mộc mạc nên ít người ưa chuộng. Nhưng nếu thực sự thực hành, nó sẽ mang lại thần lực phi thường.”

Ngài thường thuyết về tích truyện **Ma-gha (Magha)** không chết dù bị voi giẫm; truyện voi **Na-la-ghi-ri (Nālāgiri)**; chuyện nàng **Ut-ta-ra (Uttarā)** không bị bỏng dù bị xối dầu sôi; hay chuyện cô kỹ nữ hạng thấp **Ban-dhu-ma-ti (Bandhumatī)** nhờ thực hành hạnh chân thật (Sacca) mà khiến nước sông chảy ngược (**Di Lan Đà Vấn Đạo - Milindapañha**). Ngài cũng kể về vị đạo sĩ đã tu hành sáu mươi năm nhưng lòng không thuần tịnh, người mẹ dù ghét chồng nhưng vì danh dự dòng tộc mà chung sống, và người cha dù không muốn bố thí nhưng cũng vì truyền thống gia đình mà thực hiện; cả ba người khi đứng trước đứa con bị rắn độc cắn đã cùng thực hiện pháp chân thật (Sacca-kiriya) dựa trên sự thật của chính mình. Ngoài ra, Ngài còn nhắc đến hạnh nhẫn nhục của **đạo sĩ Khantivādī** và **Trưởng lão Puṇṇa** khi đi hoằng pháp; hay chuyện Thiên chủ **Sakka** và các **A-tu-la (Asura)** (trích từ **Tương Ưng Thiên Tử - Sakkasaṃyutta**), để nhấn mạnh rằng: Một người có trí tuệ, quyền lực, tài sản và sức mạnh vượt trội mà có thể nhẫn nhịn trước kẻ yếu thế hơn mình, đó mới thực sự là sức mạnh của hạnh Nhẫn (Khantī).

“Chư Phật thuở xưa không chế định nhiều điều luật và học giới như Đức Phật của chúng ta, cũng không để lại **Tam Tạng (Tipiṭaka)** đồ sộ. Vào mỗi ngày rằm và ba mươi, suốt cả cuộc đời, các Ngài chỉ thuyết ba bài kệ bắt đầu bằng: **“Khantī paramaṃ tapo titikkhā”** (Nhẫn nhục là khổ hạnh tối cao). Các Ngài dạy rằng: Dù gặp chuyện gì cũng phải nhẫn nhịn như đất vậy. Tuyệt đối không được làm gì gây tổn hại hay thương đau cho người khác. Với những việc ác nghiệp, dù rất muốn làm cũng phải nghiến răng cam chịu mà tránh xa. Với những việc thiện lành, dù không muốn làm cũng phải nhẫn nại mà thực hiện. Hãy ăn uống tiết độ, thiết lập định tính ở nơi thanh tịnh để giữ tâm hồn trong sạch. **Etaṃ buddhānasāsanaṃ** – Đây chính là lời giáo huấn của chư Phật mười phương. Tóm gọn lại Tam Tạng cũng chỉ có bấy nhiêu thôi. Khi hành trì những pháp cốt lõi mộc mạc này, hành giả sẽ đạt được lợi lạc và thần lực to lớn tương ứng với mức độ tu tập. Ngoài ra không còn gì khác nữa.” Ngài đã dạy như thế.

### Phá vỡ quy luật tự nhiên

Vì giáo pháp quá đỗi giản đơn, những người chỉ muốn tìm đường tắt, muốn “trèo cao hái quả chín ngay” thường thở dài ngao ngán. Tuy nhiên, cũng có rất nhiều người nhận ra rằng nếu không dựa trên những nền tảng cơ bản như Giới (Sīla), Tâm từ (Mettā), Chân thật (Sacca) và Nhẫn nhục (Khantī) thì việc ngồi thiền định (Kammaṭṭhāna) sẽ chẳng thể đi đến đâu, từ đó họ bắt đầu nỗ lực thực hành theo.

Câu nói: “Có nhẫn nhục mới mong đắc thành Niết-bàn” chính là để dùng trong ngữ cảnh này.


### Ăn, ở và ngủ nghỉ
Trong mọi việc, đặc biệt là chuyện ăn uống, đều phải biết nhẫn nhục. Ngay từ sáng sớm, hành giả nên lập tâm niệm: “Hôm nay, ta sẽ thực hành hạnh nhẫn nhục,” và cứ thế rèn luyện qua từng ngày một.

Giới (Sīla), Chân thật (Sacca) và Tâm từ (Mettā) cũng cần được rèn luyện quyết liệt bằng cách phát nguyện (Adhiṭṭhāna) một cách kiên định. Giống như cán rìu sau bao ngày cầm nắm sẽ hằn lên dấu vết của những ngón tay, công hạnh cũng sẽ âm thầm bồi đắp vào tâm khảm mà ta không hề hay biết. Chính Đức Thế Tôn cũng đã từng phải nghiến răng, hạ quyết tâm cao độ để tìm ra con đường giải thoát.

**“Sabbaguṇānaṃ adhivāsanabhūmi”** – Nhẫn nhục và sự chịu thua trong mọi tình huống chính là nơi hội tụ của mọi công đức lành (**Trích Chuyện Hạnh Tạng - Cariyāpiṭaka**).

Chỉ có những đạo luật tự nhiên vĩ đại như Nhẫn nhục (Khantī) mới có thể xoay chuyển hay phá vỡ các quy luật vật lý thông thường. Nó có thể khiến lửa không thể thiêu đốt, nước không thể nhấn chìm, đao kiếm không thể cắt đứt, vật nhọn không thể đâm xuyên, thuốc độc không thể gây chết người, và súng đạn không thể phát hỏa. Nó làm thay đổi những quy luật vốn được xem là hiển nhiên của thế gian này.

Tuy thần lực và lợi lạc to lớn là vậy, nhưng việc thực hành lại không hề tốn kém tiền bạc, không làm gián đoạn công việc và cũng chẳng hề khó khăn. Điều khó khăn duy nhất thường chỉ là ở khâu đặt trọn niềm tin ban đầu.

Thậm chí ngay cả các vị pháp sư, nhà tâm lý, các đạo sĩ Sadhu hay Fakir – những người không hề có mục đích thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi (**Saṃsāravaṭṭa dukkhatao**) và không giữ giới hạnh hay tâm từ – nhưng nhờ vào năng lực của trí hữu hạn, định thuật hay những loại định lực đặc biệt nào đó, họ vẫn có thể biểu diễn những khả năng phá vỡ một vài quy luật tự nhiên của thế giới.

Những hành giả đang nỗ lực tu tập với niềm tin và sự tinh tấn (Viriya) sắt đá, dựa trên một nền tảng đúng đắn, đều tin rẳng không có gì là không thể đạt được. Số lượng hành giả như vậy ngày càng tăng lên chính là một nét đặc sắc của việc hành trì giáo pháp (Paṭipatti Sāsana) trong thời đại ngày nay.

Đối với Thiền sư U Kyi, Ngài không chỉ đối mặt với thú dữ mà còn chạm trán với cả những kẻ ác tâm. Có một lần khi đang đi bát, chân Ngài mặc vào một cái bẫy sóc đặt trong một rẫy bắp bên sườn đồi. Thiền sư không cố bước tiếp mà đứng yên tại chỗ. Một người dân đi ngang qua thấy vậy định tháo giúp, nhưng vì đó không phải bẫy của mình nên Ngài không cho phép tháo. Sau đó, họ phải đi tìm đúng chủ nhân của chiếc bẫy đến để mở ra.

### Chuyện Thiền sư bị bắt cóc

Trong cuộc chiến thoát khỏi “lưới ma” (**Mārapāsa**), Ngài luôn tuân thủ nghiêm ngặt các quy tắc căn bản của Luật tạng (Vinaya), lấy Giới hạnh làm nền tảng.

Vào một buổi nọ, có năm sáu tên cướp rụt rè tiến vào trong khuôn viên thiền viện rừng. Chúng mang theo một chiếc kiệu (võng khiêng). Đây là những kẻ có mưu đồ rất lớn. Lúc đó vào buổi chiều tối, khi quanh cảnh đã vắng lặng, Thiền sư đang tĩnh tọa hành thiền một mình dưới một gốc cây.


Khi đó, một tên trong nhóm đã tiến đến, đưa ra một lý do nghe có vẻ thuyết phục để đánh lừa lòng tin của Ngài và thỉnh Ngài lên kiệu. Ngài phán: “Được rồi, các con muốn thỉnh ta đi đâu thì đi,” rồi bước lên kiệu. Những tên cướp mừng rỡ vì nghĩ rằng mưu kế đã thành công, chúng cùng nhau khiêng kiệu đi.

Nguyên do là vì Thiền sư được giới nhà giàu và các đại gia khắp vùng Pakokku tôn kính và hộ độ hết lòng như mạng sống. Đám cướp tính toán chắc chắn rằng: “Nếu bắt cóc được vị sư này, muốn bao nhiêu vàng bạc mà chẳng được.” Bốn tên cướp hăng hái khiêng đi, mồ hôi nhễ nhại nhưng không thấy mệt. Sau hơn một giờ đồng hồ, cảm thấy đã đến được địa điểm bí mật và an toàn đã chuẩn bị từ trước, chúng đặt kiệu xuống đất. Sau khi đặt kiệu xuống, chúng nhìn quanh bốn phía đông tây nam bắc xem tình hình có thực sự ổn thỏa như tính toán hay không. Tuy nhiên, chúng bàng hoàng nhận ra rằng dù đã ra sức khiêng hì hục suốt hơn một tiếng đồng hồ đến vã cả mồ hôi, nhưng rốt cuộc chúng vẫn chưa ra khỏi khuôn viên thiền viện rừng của Ngài. Chúng chỉ loanh quanh luẩn quẩn ngay tại chỗ mà không hề hay biết. Quá khiếp sợ, bọn cướp thở dài, lau mồ hôi rồi quỳ xuống tạ lỗi với Ngài và tháo chạy tán loạn.

**“Evaṃ acintiyā buddhā, buddhadhammā acintiyā”** (**Trích kinh Apadāna**) – Đúng như lời dạy: Bản chất tự nhiên mà Đức Thế Tôn đã thấu suốt là điều không thể chạm tới bằng trí tưởng tượng, không thể đo lường bằng suy luận tâm thường.

Chính vì thế, những sự kiện xảy ra xung quanh các bậc đại nhân đã tin tưởng và thực hành giáo pháp chân thực thường trở thành những “huyền thoại” đối với những người bình thường – vốn chỉ tin vào những gì mắt thấy tai nghe hoặc những hiểu biết hạn hẹp của mình.

**“Acintiye pasannānaṃ, vipāko hoti acintiyo”** (**Trích kinh Itivuttaka, Aggappasāda Sutta**) – Với những ai tin tưởng và thực hành trong những điều bất khả tư nghị (Acintiyya), thì quả báo và lợi lạc mà họ nhận được cũng là điều bất khả tư nghị, vượt ngoài mọi sự hình dung.

Không chỉ đối với những bậc Thiền sư có đạo hạnh thâm sâu như vậy, mà ngay cả với những người cư sĩ tại gia (Upāsaka) còn thụ hưởng dục lạc, nếu rơi vào hoàn cảnh ngặt nghèo, giáo pháp vẫn luôn hiển bày thần lực khó tin nếu họ có đủ niềm tin và sự hành trì tương ứng.

Người ta kể rằng ở vùng Chatthin, vùng thượng Miến Điện, có lệ trước khi đi ngủ, mọi người thường đọc 24 Duyên của Kinh Vị Biến (**Patthāna**) – bắt đầu từ **“Hetupaccayo”** – để lập “vòng hộ trì” bao quanh nhà. (Họ chia 24 duyên cho 8 hướng, mỗi hướng đọc 3 duyên theo chiều kim đồng hồ, bắt đầu từ hướng Đông; 3 x 8 = 24). Có một đêm nọ, một tên trộm đột nhập vào nhà, gom góp đồ đạc thành các gói lớn nhỏ. Nhưng khi định thoát ra, hắn không tài nào tìm được cửa ra mà cứ đi vòng quanh luẩn quẩn trong sân nhà suốt cả đêm. Đến sáng ra thì bị gia chủ bắt gọn.

Chuyện này cũng tương tự như tích truyện về cậu bé **Akāsa**, con trai của một người tiều phu vào thời Đức Phật, đêm nọ không vào được trong thành nên ngủ ngoài thành, bị quỷ bắt định ăn thịt, cậu bé buột miệng niệm "**Namō Buddhassa** = Con đảnh lễ Đức Phật" — chỉ vậy thôi mà quỷ đã sợ hãi bỏ chạy (theo Chuyện Pháp Cú). Há rằng việc ấy vẫn đáng không tin sao? Giữa tu tập xưa và nay khác biệt đến thế nào?


### Từ khổ cực mới có được an lạc

Những sự việc vừa nêu trên chỉ là những chuyện phổ biến nhiều người biết đến. Trong hơn bốn mươi năm vào rừng tu tập, chắc hẳn còn rất nhiều hiểm nguy và những điều mầu nhiệm khó tin khác nữa. Những nỗi khổ, hiểm nguy và điều mầu nhiệm ấy đối với các hành giả hành trì hạnh đầu đà ở rừng (araññavāsī) không còn là chuyện lạ. Đời sống vốn dĩ tràn đầy khổ đau. Con đường đi ngược dòng đời thường gặp phải những nỗi khổ dồn dập hơn. Tuy nhiên, cái khổ của con đường xuôi dòng chỉ khiến cái khổ tiếp tục nảy sinh, vòng xoáy khổ đau không bao giờ chấm dứt cho đến tận nẻo ác đạo. Còn cái khổ của con đường ngược dòng lại chỉ làm nảy sinh và tăng trưởng hạnh phúc.

“Thấy cái khổ lớn thì hãy nhẫn nại chịu đựng cái khổ nhỏ; nhìn thấy hạnh phúc lớn thì phải dứt khoát từ bỏ những hạnh phúc nhỏ nhoi.” (Ngài Cố đại trưởng lão Mahāgandhayon Sayadaw, Sagaing.)

Có chịu đau mới được hưởng an nhàn. Trong việc bắc cầu từ khổ đau đến hạnh phúc, cần phải có một cây cầu vững chãi làm nơi nương tựa. Cây cầu đó chính là đức tính "Nhẫn nhục trì giữ" (**adhivāsanakhantī**) của mỗi người: “Dù sai hay đúng, dù xấu hay tốt, đó là nghiệp báo của ta, không ai làm mà là do chính ta tạo nên. Kẻ gây nghiệp là người mới, kẻ chịu nghiệp là người cũ; bất cứ điều gì ập đến, ta xin dấn thân cam chịu.”

Vì lẽ đó, ngay cả các đạo sư thế gian của Mật tông Tây Tạng cũng cho rằng: “Từ sự đau đớn của thân xác mới phát triển được trí tuệ và tâm thức”. Ngày nay, vị Lạt-ma Tây Tạng nổi tiếng là Tiến sĩ Rampa, người được cho là có thể xem được hồ sơ Akashic (một dạng Túc mạng minh), có Thiên nhãn thông và có thể du hành bằng tâm thức như bay trên không trung. Cuộc đời ông đã được tôi luyện và nhiều lần chạm cửa tử thần. Ông ví mình như viên linh đan được nung nhiều lửa, như vàng được hỏa thiêu kỹ, như tảng đá được mài giũa nhiều.

Lại nữa, vào năm 1943 tại thành phố Hague, Hà Lan, có một người tên là Peter Hurkos bị chấn thương đầu nghiêm trọng dẫn đến hôn mê. Khi tỉnh lại, chỉ cần ông tập trung chú ý vào một điều gì đó là có thể nhìn thấy quá khứ và tương lai. Ông đã hợp tác với tổ chức thám tử thế giới để phá nhiều vụ án. Chỉ cần nhìn vào một vật dụng liên quan, ông có thể nói chính xác về hành tung, quá khứ và tương lai của chủ nhân vật đó.


Ngay cả những bậc có thần thông thế gian còn nhận ra giá trị của khổ đau và có thể hiển thị thần lực ở mức độ nhất định.

“**Nayidaṃ sithilamārabbha**.” (Theo kinh Nava, thiên Tương ưng Nhân duyên) – Sự giải thoát khỏi mọi khổ đau để đạt đến đại an lạc vĩnh cửu không thể đạt được bằng sự nỗ lực lỏng lẻo, hời hợt.

Hiện nay, cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đang giáng những đòn mạnh mẽ, chính là để thúc giục chúng ta mở toang cánh cửa Niết-bàn, con đường duy nhất của sự thực hành đưa đến an lạc tuyệt đối.

Nếu là những người có nền tảng ba-la-mật để đắc đạo quả trong kiếp này nhưng còn mải mê vui chơi quên mình, nếu không có người khuyên dạy dỗ dành như hoàng hậu Khemā, thì thế gian sẽ giáng những đòn đau đớn như trường hợp của bà Kisāgotamī hay Paṭācārā để đưa họ về đúng lộ trình. Giống như những học sinh có trí thông minh nhưng lười học bị thầy giáo đánh phạt vậy. Được thế gian "đánh" để tỉnh ngộ như thế vẫn còn là điều may mắn. Nếu không, họ sẽ mãi luân hồi từ nỗi khổ này sang nỗi khổ khác trong vòng sinh tử không dứt.

### Bình thường hay bất thường?

Vì vậy, tại trú xứ của hành giả, hễ gặp thêm một nấc khổ đau thì nên hiểu rằng mình sắp tiến thêm một nấc hạnh phúc.

Cái khổ thông thường là khi biết rõ thực phẩm không thích hợp nên phải tiết chế dẫn đến quá đói; hoặc cái khổ do nghiệp bất thiện xưa cũ tạo ra như việc không biết mà ăn nhầm, hay việc có ai đó cứ liên tục mang đến những thứ không hợp một cách dễ dàng khiến mình ăn phải mà không kịp đề phòng. Nếu chú ý thì sẽ nhận ra đó là nghịch cảnh; và thực tế việc hành trì sẽ giúp ta phân biệt được mức độ của sự cản trở đó. Dù là khổ đau hay hiểm họa nào cũng không lớn bằng nỗi khổ chốn ác đạo. Tất cả đều có thể vượt qua bằng sự nhẫn nại.

Có thể nói trong đội quân của Ma vương có hai loại: bình thường và bất thường. Ví dụ, việc nhìn thấy lợi lộc hay đối tượng khác giới (phụ nữ) mà nảy sinh lòng ham muốn đơn thuần là tâm tính vốn có của chúng sinh từ luân hồi vô thủy đến nay. Con người phải nỗ lực để vượt qua dục lạc đó. Đôi khi, những đối tượng ấy không xuất hiện một cách bình thường, mà được sắp đặt tinh vi theo từng bước để cưỡng ép mình phải tiếp nhận. Điều này có xảy ra, nhưng khó nhận biết và khó tránh khỏi. Cả hai loại này đều thuộc về đội quân đầu tiên của Ma vương là ‘Dục lạc’ (Kāma).

Các đội quân Ma khác như lười biếng, buồn ngủ, tự cao, ham danh tiếng... và những trở ngại khiến không thể vào thiền như bận rộn công việc, bệnh tật, v.v., cũng đều có hai loại: bình thường hay bất thường. Việc phân biệt rõ ràng hai loại này là cần thiết. Dù tinh vi đến mức nào, điều quan trọng nhất vẫn là nỗ lực hành trì để vượt qua. Tuy nhiên, chỉ khi có hiểu biết đúng đắn thì mới có thể vượt qua một cách dễ dàng.



Ngài Sayadaw U Kyi cũng đã kinh nghiệm và vượt qua mọi nỗi khổ đau đa dạng như vậy một cách thiết thực (sandhiṭṭhika) như các đại đệ tử thời Đức Phật:

“**So’maṃ lokaṃ pabhāseti, abbhā muttoiva candimā**.” (Giống như vầng trăng khi thoát khởi khỏi những tầng mây đen tối của hiểm nguy và chướng ngại, có thể soi sáng khắp thế gian), Ngài đã dùng ánh sáng giáo pháp thanh tịnh để xua tan màn đêm u tối, đem lại ánh sáng cho cuộc đời.

### Chiến thắng lợi dưỡng

Khi Ngài Sayadaw U Kyi trở nên nổi tiếng là một vị A-ra-hán, những người muốn đến cúng dường đông như trảy hội. Vì Ngài thọ hạnh đầu đà đắp y phấn tảo (paṃsukūla) nên rất nhiều người mang y đến đặt dọc đường cho Ngài nhặt. Số lượng y nhiều đến mức Ngài không thể dùng hết để thay đổi, nên Ngài chỉ cho phép các vị tỳ-kheo và sa-di đi theo đảnh lễ được nhặt lấy. Đối với các công trình xây dựng, Ngài cũng chỉ cho phép xây dựng những gì cần thiết. Tuyệt đối không nhận những thứ dư thừa.

Các bậc thiện trí thức vốn có rất ít ham muốn. Chính vì ít ham muốn mà họ trở thành bậc thiện trí thức.

Vì vậy, tại ngọn đồi Thè-pon-se-di chỉ có một ngôi bảo tháp, một ngôi nhà gạch nhỏ làm tăng xá, một hồ nước và một hang động nơi Ngài nhập thiền. Từ đồi Thè-pon-se-di nhìn ra, phía Đông là đồi Mhan-si và dòng sông Ayeyarwady; phía Đông Nam là thành phố Pakokku, Bagan Nyaung-U, núi Popa, núi Tant-kyi... tạo nên một khung cảnh vô cùng thanh bình. Vùng xung quanh đồi Thè-pon-se-di vốn là vùng đất thấp của biển và sông xưa kia nên địa hình nhấp nhô không bằng phẳng, trông như những con sóng.

Trên đường vào thị trấn có một nghĩa trang lớn, vốn là một nơi tu tập lý tưởng của Ngài. Từ hồi còn ở Pho-tho-taik, Ngài thường xuyên đến nghĩa trang này vào ban đêm cùng với một người bạn đạo tên là U Kevala. Ông U Kevala này thường sợ quá mà bỏ chạy trước khi trời sáng.

Khi Ngài đi bát, vì số người muốn cúng dường quá đông nên phải chia theo khu vực luân phiên. Dù vậy, lượng vật phẩm vẫn nhiều đến mức không thể tự mang hết, phải có người mang thúng lớn thúng nhỏ đi theo. Ngài chỉ giữ lại phần đủ dùng cho một người, còn lại đem bố thí hết. Về phương diện bốn món vật dụng, Ngài thực sự là một tấm gương đáng để noi theo. Những vật dụng như chùa chiền, y áo, vật thực, thuốc men nếu dư thừa quá mức cần thiết đối với các bậc thiện trí chỉ là gánh nặng nề, làm chậm bước đường. 

Mỗi khi ngài đi khất thực, người muốn cúng dường đông đến mức ngài phải nhận theo khu phố luân phiên. Nhưng cũng không đủ người mang — phải dùng gàu to gàu nhỏ đi theo. Ngài chỉ chừa lại một phần, còn lại cúng dường hết. Thật đáng noi gương: bốn vật dụng (y phục, thất, ẩm thực, dược phẩm) dư thừa đối với các bậc tu hành chỉ là gánh nặng nề, làm chậm bước đường. 

Khi Ngài thiền sư đi khất thực, những người vui mừng nhất là các vị Sa-di nhỏ. Các chú thường dò hỏi xem Ngài sẽ đi khất thực ở khu vực nào. Vừa thấy bóng dáng Ngài, các chú liền chạy đến. Để Ngài nhìn thấy, các chú thường đi vượt lên trước một chút rồi cứ ngoái đầu nhìn lại; khi đó, Ngài sẽ vẫy tay gọi lại và sớt đầy một bát cơm cùng với ba, bốn món thức ăn đủ cho một vị dùng. Việc nhận những phần vật phẩm cúng dường dư dật rồi lần lượt chia sẻ lại cho các Sa-di và Tỳ-khưu trẻ trong khắp thành phố cũng là một nỗi vất vả không hề nhỏ.

Có một lần đi khất thực, Ngài không chỉ nhận được vật thực mà còn được cúng dường cả một chiếc xe hiệu "Ford". Nguyên do là có một người Hoa thuộc công ty may mặc áo lót, trong lúc con gái nhỏ đang lâm trọng bệnh, ông đã nằm mơ thấy mình sớt bát cúng dường cho một vị sư và sau đó người con được khỏe lại, việc kinh doanh phát đạt. Sáng sớm hôm sau, khi Ngài đi khất thực ngang qua trước cửa nhà, ông nhận ra đây chính là vị sư trong giấc mơ của mình. Với lòng hân hoan tột độ, gia đình đã sớt bát cúng dường. Sau đó con gái ông bình phục, việc làm ăn cũng tiến triển tốt, nên ngay khi những chiếc xe hơi đầu tiên xuất hiện, ông đã cúng dường một chiếc xe hiệu Ford. Vì lòng thành đức tin của thí chủ, Ngài đã nhận sự cúng dường ấy nhưng không hề sử dụng. (Người ta kể rằng chỉ sau khi Ngài viên tịch, chiếc xe đó mới được dùng làm xe tang để di chuyển kim quan của Ngài).

### Sự kính trọng từ Ngài Ye-za-gyo Sayadaw

Ngài Ye-za-gyo Sayadaw (U Gandhasāra), vị sơ tổ khai sáng tu viện Mahāvisutārāma, là người có ý chí rất lớn trong việc học tập và giảng dạy Pháp học (Pariyatti). Ngài tận tụy truyền dạy giáo lý cho đến tận những giờ phút cuối đời trước khi viên tịch. Ngay cả khi đi chiêm bái Shwe Settaw, Ngài vẫn trải bản kinh trên thuyền để giảng dạy. Ngài quả là một bậc anh hùng trong Pháp học.

Ban đầu, Ngài Ye-za-gyo thường gọi Ngài U Kyi sau lưng là "Quạ rừng" (Taw Kyee Kan) vì không mấy ấn tượng. Tuy nhiên, về sau Ngài lại nói rằng: "Này thầy Kyi, đừng bỏ mặc chúng tôi nhé", với thái độ thân thiết và vô cùng kính trọng. Hai vị thường xuyên thảo luận về Pháp học và Pháp hành, cùng nhau gieo rắc hạt giống giáo pháp dọc theo bờ Tây sông Ayeyarwady vốn rất hẻo lánh lúc bấy giờ.

Ngài luôn thực hành đầu đà Pāṃsukūla (mặc y phấn tảo) và Te-cīvarika (hạnh ba y), chỉ sống với đúng ba tấm y. Dù có chấy trên y và rệp trên giường, Ngài cũng không cho phép quét dọn hay xua đuổi chúng. Ngài sống một cuộc đời cực kỳ thanh bạch, giản dị và thiểu dục trong việc ăn, ở, mặc. Những dấu hiệu cho thấy Ngài có sự kết nối trực tiếp với thực tại Vô vi Niết-bàn (Asaṅkhata Nibbāna)


hiện rõ mồn một. Việc Ngài có thể vượt qua các chướng ngại về Lợi dưỡng (Lābha), Sự cúng dường (Sakkāra) và Danh tiếng (Siloka) bằng một tâm hồn hoàn toàn thanh tịnh là điều rất hiển nhiên. Nếu không phải là đức hạnh chân thật thì không ai có thể giả vờ trong thời gian dài như vậy được. Phần lớn mọi người, chưa nói đến sự cúng dường hay danh tiếng, ngay cả việc vượt qua "sa mạc" của lợi dưỡng cũng không làm được, mà thường bị lún sâu và chìm đắm trong đó.

### Sự kinh cảm từ Ấn Độ và Ceylon (Sri Lanka)

Năm 1255 (Miến lịch), Ngài U Kyi đã lên đường đi chiêm bái thánh tích tại Ấn Độ. Ngài đã đến bái phướm những nơi như vườn Lộc Uyển—nơi Đức Phật chuyển pháp luân lần đầu tiên. Đến năm 1258, Ngài cũng sang đảo quốc Ceylon để chiêm bái Đại Bảo Tháp (Mahā Cetiya) và Xá-lợi Răng Phật (Dāṭhādhātu). Khi từ Ấn Độ trở về, Ngài đã mang theo một cây Bồ-đề con và trồng tại tu viện Puthu ở Pakokku để tôn thờ. Đặc biệt, chuyến đi Ấn Độ đã để lại trong Ngài một sự kinh cảm (Saṃvega) sâu sắc về giáo pháp. Ngài thường xuyên nhắc nhở các đệ tử và thí chủ đi cùng rằng: "Hãy cố gắng giữ gìn giới luật. Hãy thực hành rải tâm từ và chia sẻ phước báu."

Tại những thánh tích quan trọng của Phật giáo ở Ấn Độ, từ cội Bồ-đề, Tòa Kim Cang cho đến các địa danh chính, Ngài chỉ thấy toàn là những pho tượng không đúng pháp và các tu sĩ Ấn giáo. Sự thay đổi quá lớn này khiến người bình thường cũng phải than thở rằng: "Thà chiêm bái bằng sự hình dung trong kinh sách còn tốt hơn."

Việc chỉ còn thấy những tàn tích le lói của giáo pháp ngay tại quê hương nơi Phật giáo khởi nguồn đã khiến các đoàn chiêm bái vô cùng cảm thán. Một số người lật lại quá khứ, nói năng đầy vẻ sân hận và buồn rầu rằng: "Tôn giáo này đã dùng sự bất công để chèn ép, tôn giáo kia đã dùng gươm giáo để hủy diệt."

Khi nghe một số đệ tử trong đoàn kể lại những câu chuyện đau lòng về việc các tu viện Phật giáo bị đốt phá và nhiều vị tăng sĩ bị sát hại trong quá khứ, Ngài đã dạy rằng:

"Này các con... chúng ta nỗ lực đi đến đây là để tích lũy phước báu, đừng để ác nghiệp đi theo. Giáo pháp biến mất tại đất nước Ấn Độ vĩ đại này không phải do tôn giáo khác hay kẻ thù nào cả, mà chính vì những người thừa tự của Đức Thế Tôn đã thiếu đi sức mạnh của 'giáo pháp tự thân'. Đó là do sự thiếu hụt về Giới (Sīla) và Tâm từ (Mettā). Việc tìm lỗi ở người khác là không đúng đắn. Trong các bản kinh Tương Ưng (Saṃyutta) và Tăng Chi (Aṅguttara), Đức Phật đã dạy rất chi tiết về việc giáo pháp sẽ suy đồi như thế nào trong tương lai. Tóm lại, không phải do ai khác, 'ai làm nấy chịu'.


Như người ta thường nói, vì chính mình làm hỏng giáo pháp nên Ma vương mới có cơ hội. Hãy nỗ lực giữ giới, rải tâm từ và chia sẻ phước báu, đừng để giáo pháp trong chính bản thân mình bị hủy hoại."

Chính Ngài cũng thực hành thiền Minh Sát (Vipassanā) tại mọi địa danh lịch sử gắn liền với sự đản sinh, thành đạo và chuyển pháp luân của Đức Phật (Avijahita Saṃvejanīya).

Lời giáo huấn của Ngài vô cùng giá trị. Từ đó, những người trong đoàn chiêm bái bắt đầu thực hành rải tâm từ, nhờ vậy họ có thể đi chiêm bái một cách an lạc. Họ đã có thể quán xét được đặc tính Vô thường (Anicca) và nhận ra rằng: Giới, Định, Tuệ—tức là 'giáo pháp nội tâm' của mỗi người mới là điều cốt yếu. Thật đúng đắn làm sao!

### Những nguyên nhân khiến giáo pháp bị mai một theo lời Phật dạy

(1) Khi Đức Thế Tôn còn tại thế, Ngài Kimila đã từng thỉnh vấn Đức Phật về tương lai của giáo pháp:

"Bạch Thế Tôn, vì những nguyên nhân nào mà sau khi Ngài nhập Niết-bàn, giáo pháp không thể tồn tại lâu dài?" Khi đó, Đức Phật đã dạy:

"Do sự không tôn trọng, không cung kính đối với Phật, Pháp, Tăng; không tôn trọng giới hạnh và các pháp Thiền định, Minh sát; không tôn trọng lẫn nhau; và không tôn kính trong việc thực hành Pháp đón tiếp (Paṭisanthāra — sự đối đãi phù hợp bằng pháp và vật chất)." Đó là những lý do khiến giáo pháp bị mai một (Được thuyết rõ trong các kinh Kimila thuộc Tăng Chi Bộ, chương Năm pháp, Sáu pháp, Bảy pháp).

(2) Trong ba bài kinh Saddhammasammosa thuộc chương Năm pháp, Đức Phật cũng dạy rằng giáo pháp bị lu mờ là do: "Không học hỏi, nghe và thọ trì giáo pháp một cách sâu rộng và cung kính; không suy xét và thực hành; việc giảng dạy và học tập bị sai lệch; tranh cãi lẫn nhau và sự chia rẽ trong Tăng đoàn."

(3) Cũng trong chương Năm pháp đó, có bốn bài kinh về Những hiểm họa trong tương lai (Anāgatabhaya Sutta), nội dung chính yếu là:

"Chư Tỳ-kheo không muốn sống trong rừng sâu hiểm nghèo, những người truyền giới liên tục không thực hành thiền, rời xa thiền định, không còn hiểu biết về **giáo pháp (Dhamma)** và **luật (Vinaya)**, chỉ thích nghe và giảng những bài pháp mới lạ thời thượng, lo làm sư nổi tiếng, hạ thấp tiêu chuẩn giới luật rồi làm qua loa, tham cầu vật dụng hảo hạng, tự mình đi khất thực và thọ thực, buông bỏ các hạnh đầu-đà (dhutaṅga) tốt đẹp — rồi ăn mặc sinh hoạt như người tại gia, giao tiếp lẫn lộn với nữ giới, v.v."

(4) Ngoài ra, trong bộ **Nidāna-vagga Saṃyutta** thuộc Tạng Luật, có lời huyền ký dự ngôn rất rõ ràng về tình trạng giáo pháp trong tương lai. Qua **Kinh Āṇi**, Đức Thế Tôn đã thuyết về tình trạng của Pháp bảo, và qua **Kinh Kaliṅgara**, Ngài đã chỉ ra tình trạng của hàng tăng lữ trong thời vị lai. Ý nghĩa của **Kinh Āṇi** là:

(5) Thuở xưa, các vị hoàng tử xứ Dasāra có một chiếc trống báu gọi là **Āṇaka**. Tiếng trống ấy có thể vang xa đến mười hai do mục (yojana). Theo thời gian, chiếc trống bị nứt và người ta cứ liên tục vá đi đắp lại nhiều lần. Cuối cùng, phần thân trống nguyên bản không còn nữa mà chỉ toàn là những mảnh vá víu. Kết quả là tiếng trống không còn vang xa mười hai do mục như trước, mà ngay cả ở trong cùng một nhà nghỉ (sala), người ta cũng chỉ nghe thấy tiếng kêu trầm đục, yếu ớt.

Tương tự như ví dụ đó, vào thời vị lai, người ta sẽ không còn tâm mến mộ lắng nghe, ghi nhớ hay học hỏi giáo pháp nguyên bản của Đức Phật và các bậc thánh đệ tử. Thay vào đó, họ chỉ chú trọng lắng nghe và tìm học những lời lẽ thế gian bóng bẩy, những văn bản bị thêm thắt, cắt xén, bóp méo ý nghĩa theo ý riêng, hay những bài kinh tân thời, những tư tưởng giáo lý mới lạ và kỳ xảo. Khi ấy, cũng như chiếc trống **Āṇaka**, những phần giáo pháp giả tạo, vay mượn và rỗng tuếch sẽ lan rộng, còn giáo pháp chân thực sẽ bị tiêu trầm. (Xem **Kinh Āṇi**, **Nidāna-457**; và **Tika Nipāta**, **Tiền thân Kakkaṭa-310**.)

Về tình trạng hàng tăng lữ thời vị lai, trong **Kinh Kaliṅgara** có dạy rằng:

“Này các vị hoàng tử xứ Licchavī, khi các vị còn nỗ lực rèn luyện, lấy khúc gỗ làm gối kê đầu, thì vua Ajātasattu (A-xà-thế) không có cơ hội hại được. Nhưng thời gian sau, các vị ấy sẽ trở nên mềm yếu tay chân, ngủ trên giường nệm êm ái, kê đầu trên gối bông cho đến khi mặt trời mọc.” Khi ấy, vua Ajātasattu sẽ có cơ hội thực hiện tâm đồ.

“Cũng vậy, hiện nay các vị Tỳ-kheo đang tinh tấn, không phóng dật, có chánh niệm, lấy khúc gỗ làm gối nên Ma vương không tìm được sơ hở. Nhưng trong tương lai, các vị Tỳ-kheo sẽ có tay chân mềm yếu, ngủ nghỉ nơi giường nệm êm ấm, kê gối bông mịn màng cho đến khi nắng lên. Lúc đó, Ma vương sẽ có cơ hội xâm nhập.” Qua đây, Đức Phật muốn dạy rằng khi các vị Tỳ-kheo yếu kém về định, niệm và tinh tấn, thì chẳng khác nào đang đưa tay mời gọi quân đoàn Ma vương đến, và đó chính là nguyên nhân dẫn đến sự diệt vong của giáo pháp.



(6) Cũng trong bộ **Nidāna-vagga Saṃyutta (422)**, Đức Thế Tôn đã thuyết về sự suy tàn của giáo pháp do sự nguy hại của pháp giả mạo (tương tự pháp), điều này càng đáng để ghi nhớ hơn. Bản kinh này có tên là **Kinh Saddhammapatirūpaka** (Kinh Diệu pháp tương tự). Ngài Mahākassapa (Đại Ca-diếp) đã bạch hỏi Đức Thế Tôn và Ngài đã thuyết dạy như sau:

Ngài Mahākassapa bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn, thuở trước giới bổn (Vinaya) tuy ít nhưng các bậc chứng đắc thánh quả lại rất nhiều. Ngày nay giới bổn đã trở nên nhiều hơn, nhưng tại sao số người đắc đạo quả lại ít đi như vậy?”

Đức Thế Tôn đáp:
“Này Kassapa, khi tuổi thọ con người ngắn lại và giáo pháp sắp tàn thì chuyện đó là điều tất yếu. Giống như vàng thật chưa biến mất chừng nào vàng giả chưa xuất hiện (giá trị không giảm), giáo pháp chân thực cũng không bị mất đi cho đến khi pháp giả mạo xuất hiện. Thật vậy, ngay cả những đại tố như đất, nước, gió, lửa – những nguồn năng lượng lớn lao nhất có thể hủy diệt cả thế gian cho đến tầng trời **Vehapphala** (Quảng Quả) – cũng không thể làm cho giáo pháp này suy tàn hay biến mất. (Hàng ngoại đạo dị giáo lại càng không thể làm được. Chú giải 1).

Kẻ rỗng tuếch sẽ hủy hoại giáo pháp này (như gỉ sắt ăn mòn sắt. Chú giải) chính là những người đang ở ngay trong giáo đoàn này. Sự suy tàn của giáo pháp không phải do giới luật quá nhiều (giống như con thuyền chở đầy hàng hóa bị chìm vì quá tải), mà chính vì sự thiếu tôn kính và phục tùng đối với Tam Bảo, đối với Giới, và đối với Định pháp, nên tuổi thọ của giáo pháp bị rút ngắn và dẫn đến tiêu vong.”

Đó là ý nghĩa tóm lược của bản kinh trên.

Bậc thầy Chú giải đã giải thích thêm rằng các tác phẩm giả mạo như **Zimmē Paṇṇāsa** (Chiêm Mai Bản Sinh), **Lalitavistara** (Phổ Diệu Kinh) v.v... là nguyên nhân làm tiêu vong phần Pháp học (Pariyatti). Đồng thời, mười thứ phiền não của Minh sát (Vipassanupakkilesa) như hỷ (pīti), khinh an (passaddhi) v.v... nếu bị lầm tưởng là Đạo, Quả, Niết-bàn trong quá trình hành thiền, thì sẽ là nguyên nhân làm tiêu vong phần Pháp hành (Paṭipatti) chân thực.

Đây là những dẫn chứng được trích lục từ Tam Tạng.


Trong phần **Phussa Theragāthā** (Trưởng lão tăng kệ) thuộc Tạng Kinh, Ngài Trưởng lão **Phussa** cũng đã thuyết tóm lược về những nguyên nhân khiến giáo pháp suy tàn. Ngài Mân-lည် (Mānlal) Sayadaw cũng đã từng dùng bản dịch diễn nghĩa này để đánh thức tâm thức của hàng hành giả Việt Nam (đối với phần Pháp hành).

Đức Thế Tôn đã nhiều lần thuyết dạy rằng sự thiếu tôn kính đối với Tam Bảo là nguyên nhân lớn lao dẫn đến sự suy tàn giáo pháp. Chúng ta cần chú ý trong việc tôn thờ, sử dụng hình tượng Phật tại các bảo tháp, điện thờ; trong cách nghe pháp (kể cả nghe qua máy ghi âm), thảo luận pháp; trong việc gìn giữ và nâng niu kinh sách; cũng như trong các cử chỉ, lời nói khi gặp gỡ tiếp xúc với chư Tăng. Cần đặc biệt cẩn trọng để việc thờ phụng không trở thành hành động phá hoại ngầm. Hãy luôn quán xét rằng nếu đang đứng trước bậc Đạo Sư lúc Ngài còn tại thế thì mình nên hành xử như thế nào, rồi theo đó mà thực hành. Ở đây không dẫn lại lời giải thích của các bậc thầy Chú giải nữa.

### LỜI CẢNH TỈNH CHO NHỮNG NGƯỜI MUỐN HOẰNG PHÁP THEO LỐI TÂN THỜ

Nếu tóm lược những lời dạy về nguyên nhân suy tàn giáo pháp ở nhiều nơi, ta thấy rằng kẻ phá hoại giáo pháp không nằm ở thế giới bên ngoài hay ở các tôn giáo khác. Đừng vội chỉ tay về phía họ. “Dòi sinh ra từ trong thịt, gỉ sắt ăn mòn sắt”, chúng ta phải thấy rằng người phá hoại giáo pháp chính là những đứa con của Đức Phật – hàng Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di và chính bản thân chúng ta. Hãy đứng trước tấm gương giáo pháp chân thực này để nhận diện ra “tội đồ”.

Trải qua nhiều thời đại, người ta đã lầm lạc khi đổ lỗi cho ngoại đạo, cho các trường học thế gian, hay cho khoa học v.v... Từ việc tìm sai nguyên nhân đó, họ lại tiếp tục gánh lấy nỗi ưu phiền (domanassa).

Để cứu vãn giáo pháp đang suy giảm, họ lại nỗ lực dốc sức học tập các ngôn ngữ thế gian (bā-santara) để chạy theo thời đại. Họ không dùng con thuyền giáo pháp của chính mình để theo kịp dòng chảy, mà lại để bản thân mình lún sâu đến ngang hông giữa dòng đời đầy rẫy những quan điểm tà vầy.

Lấy cớ là “không có học tăng tham dự”, họ mượn danh nghĩa giáo dục tân thời để cố gắng cứu vớt người khác. Nhưng do dựa dẫm sai lầm vào các “đội cứu trợ”, họ lại vô tình dấn thân vào những gánh nặng xã hội. Từ chỗ tìm sai nguyên nhân, trong khi định cứu vớt người khác thì chính mình lại lún sâu đến tận cổ. Dù vậy, họ vẫn không nhận ra để lùi bước, lòng bi mẫn muốn hoằng pháp cứ tiếp tục thúc đẩy họ tiến tới, và rồi họ lại lôi kéo thêm những người khác cùng đi theo con đường đó.


**Đức Thế Tôn** muốn dạy rằng: “Việc các hàng môn đồ của Phật không thể sống đúng hạnh nguyện của bậc xuất gia… chính là sự rỉ sét của Giáo pháp, dẫn đến sự suy tàn và biến mất của Đạo.” Ngài muốn mọi người hiểu rõ điều này. Tuy nhiên, đây chưa phải là cốt lõi. Chừng nào Chánh pháp đích thực còn tồn tại (hay nói cách khác, chừng nào Tượng pháp chưa xuất hiện), thì Giáo pháp vẫn sẽ vững bền. Điều đáng sợ nhất chính là những giáo pháp giả tạo, vay mượn.

Bởi vì việc học tập Giáo pháp (Pariyatti) không được chu toàn, không có nền tảng vững chắc, hoặc không được đem ra đối chiếu kiểm chứng, người ta đã lầm tưởng những món trang sức giả là đồ thật, rồi đem ra phô trương, mặc khoác một cách tự đắc. Trong các buổi lễ hội, họ đua nhau diện các món đồ ấy, so tài cao thấp qua giá trị vật chất của chúng. Dù thiếu thước đo chuẩn mực, những người thợ vàng giỏi tay nghề đến kinh ngạc đã không ngừng chế tác những món trang sức giả ở hậu trường để cung cấp cho người đời. Khi đồ giả tràn lan, người ta thậm chí không còn muốn chấp nhận phán quyết của thước đo chuẩn (việc học tập giáo lý), không còn tin vào sự thật nữa. Ngay cả những “bậc thầy” ấy cũng tuyên bố dõng dạc: “Chính tay tôi đã dày công tôi luyện, đây đích thực là vàng ròng.” Trong số những pháp giả mạo ấy, nếu chỉ là những hiện tượng hỷ lạc (**Pīti**) hay khinh an (**Passaddhi**) – tức là những chướng ngại của tuệ quán (**Vipassanūpakkilesa**) thì vẫn còn có thể chấp nhận được. Nhưng có những dòng phái mang danh **Phật giáo** như Đại thừa hay Kim Cang thừa lại là những sự giả mạo quá sai biệt, ví như đồng thau chỉ được mạ vàng mà thôi.

### Tấm thân nơi giòi bọ vui vầy

Một ngày nọ, sau khi đi trì bình khất thực và đang trở về, Thiền sư **U Kyi** được đại diện từ một buổi lễ tại chùa Công ty chặn đường thỉnh mời ngài đến dự để làm lễ hồi hướng nước truyền. Theo kế hoạch đã định của hội chúng, ngài đã hoan hỷ nhận lời.

Sau khi thực hiện lễ hồi hướng nước và chia sẻ phước báu, lúc Thiền sư đứng dậy chuẩn bị rời đi, mọi người nhìn thấy tại nơi ngài vừa ngồi có những con giòi đang lúc nhúc bò ra. Lúc ấy, họ mới nhận ra rằng: “Dường như ngài đang có một vết thương nặng.” Khi thưa hỏi kỹ càng, họ phát hiện ở phần mông của ngài, không biết từ lúc nào, đã có những con giòi tụ lại thành đám. Dù các đệ tử khẩn thiết thỉnh cầu được chữa trị bằng thuốc men, ngài đều từ chối.

Ngài chỉ phán rằng: “Tấm thân này vốn dĩ là ngôi nhà lớn cho các loài sâu giòi trú ngụ mà thôi.” Nhờ sự kham nhẫn ấy, vết thương dường như sau đó đã tự lành.


### An nhiên tịch diệt trong tư thế ngồi

Thiền sư **U Kyi** cho đến năm 78 tuổi vẫn kiên trì hạnh độc cư, không bao giờ từ bỏ nếp sống khất thực của các bậc thánh nhân thuở trước. Ngài lấy làm hãnh diện về thói quen trì bình dù trời mưa hay nắng gắt. Khi ngài 84 tuổi, tuổi già và bệnh tật bủa vây, nhận thấy không còn phù hợp để ngài đơn độc tu tập giữa rừng sâu, đệ tử của ngài là **U Nandiya** (hiện là Thiền sư viện Patho) đã thỉnh ngài về tịnh dưỡng tại chùa Patho. Ngài luôn giữ gìn hạnh **Tam y** (**Ticīvarika**) và hạnh **Đầu đà ngồi** (**Nisajja dhutaṅga**).

Theo thời gian, sự tàn phá của **vàng bạc (già) và bệnh tật** càng nặng nề, ở tuổi 84, thân hình ngài chỉ còn da bọc xương, gân cốt hiện rõ mồn một. Dù đã dùng đủ loại thuốc men nhưng bệnh tình không hề thuyên giảm. Dù cơn đau có dữ dội đến đâu, ngài cũng không hề nằm nghỉ. Trên chiếc giường thấp, ngài luôn luôn ngồi tĩnh tại. Một số đệ tử xót thương, nghĩ rằng nếu ngài nằm nghỉ thì sẽ bớt đau đớn nên đã khẩn khoản thỉnh ngài nằm. Nhưng ngài chỉ lắc đầu chối từ.

Theo pháp **Quán Thọ** (**Vedanānupassanā**), ngài thường lặp đi lặp lại việc thuyết giảng về gương của các bậc thiện tri thức thuở trước, những người đã kham nhẫn tuyệt vời trước các **Lạc thọ** (**Sukha-vedanā**) và **Khổ thọ** (**Dukkha-vedanā**). Ngài dạy rằng việc ngồi theo hạnh **Nisajja dhutaṅga** chẳng những không khổ mà còn mang lại sự an lạc sâu sắc và khả năng chịu đựng khổ đau. Khi đã năm ngày không thể dùng vật thực, ngài bèn yêu cầu chuyển chiếc giường của mình ra khỏi bóng mát của ngôi chùa. Theo **Luật tạng** (**Vinaya**), ngài không muốn gây ra những sự nghi ngại về quyền sở hữu hay phạm vi của ngôi chùa. Điều này cũng có thể là sự thực hành hạnh **Lộ địa** (**Abbhokāsika dhutaṅga**) – sống ở ngoài trời. Trong những ngày đó, ngài hoàn toàn giữ sự im lặng. Ngài chỉ ngồi tĩnh tại trên giường, an trú trong đối tượng của thiền định.

Khi xưa, **Đức Thế Tôn** đã dùng định lực để kham nhẫn cơn đau nơi ngón chân do tảng đá của **Devadatta** gây ra, khiến tất cả chư Thiên và Phạm Thiên đều hết lời tán thán Ngài là bậc Đại Anh Hùng. Cũng vậy, tất cả những ai tận mắt chứng kiến hay nghe kể về sự kham nhẫn trước đau đớn của Thiền sư đều không khỏi kinh ngạc.

Người phàm phu khi gặp phải đau đớn kịch liệt thường nghĩ rằng: “Phải có người ở bên cạnh mới có sức, phải rên rỉ mới thấy nhẹ người, phải nằm nghỉ ngơi hay phải có thức ăn vào bụng mới chịu nổi.” Những quan niệm và cách hành xử ấy hoàn toàn trái ngược với giáo pháp của Đức Phật.

Ý nguyện của Phật là: Thân càng không khỏe, càng phải nỗ lực hành thiền. Do đó, khi **Đức Thế Tôn** ở tại ngôi làng nhỏ Beluva vùng ngoại ô Vesali, mặc dù bị bệnh nặng đến mức gần kề cái chết, Ngài đã suốt mười tháng trời thực hành **Tuệ quán** (**Vipassanā**) và dùng định lực (Thâm nhập Thiền Định) để nhiếp phục cơn đau.


Việc hành thiền có thể ngăn chặn ngay cả cái chết, có thể giúp kéo dài tuổi thọ đến hàng trăm ngàn năm (như đã dạy trong bài kinh **Cetiya Sutta**, bộ **Maha-vagga**).

Nếu không thể dùng Giáo pháp để kham nhẫn và đoạn trừ các cảm thọ đau đớn, thì **Sân tùy miên** (**Paṭighānusaya**) sẽ phát sinh. Để thoát khỏi nỗi khổ ấy, người ta thường dùng các đối tượng như hình sắc, âm thanh để thay thế và xoa dịu, nhưng điều đó lại khiến cho **Tham dục tùy miên** (**Kāmarāgānusaya**) càng thêm tăng trưởng. Điều này ví như một cái gai đã đâm vào da thịt, người ta lại dùng một cái gai khác để khều nó ra, nhưng rốt cuộc lại khiến cái gai thứ hai đâm sâu thêm vào nữa (như đã dạy trong bài kinh **Salla Sutta**, bộ **Tương Ưng Thọ**).

Dù bệnh tình ngày càng trầm trọng, Thiền sư **U Kyi** vẫn duy trì tư thế ngồi để quán sát các cảm thọ. Suốt năm ngày không có hạt cơm vào bụng, ngài chỉ tập trung cao độ vào việc hành thiền. Vào lúc 2 giờ sáng, ngày mùng 6 tháng Wazo thứ nhất, năm 1288 (Miến lịch), cũng giống như các bậc đại trưởng lão **Mahākassapa** và **Bākula**, ngài đã an nhiên tịch diệt (đoạn lìa Nghiệp báo thân) trong tư thế ngồi ngay trên giường. Tang lễ của ngài đã được tổ chức vô cùng trang nghiêm với sự tham gia của một trăm cỗ xe linh xa.

### Định kiến và Chánh kiến

Những gì người phàm phu cho là Khổ, thì các bậc Thánh nhân lại thấy là Lạc; và những gì người thế gian coi là Lạc, thì các bậc Thánh lại thấu thị đó chính là Khổ.

Quan niệm về Khổ - Lạc của cả thế gian này hoàn toàn trái ngược với cái nhìn sắc sảo của các bậc thánh nhân (Kinh **Rūpārāma**, bộ **Tương Ưng Sáu Xứ**).

### Hai bậc đạo hạnh đắc Thiền và Thần thông trên núi Dezunpa

(Trình bày theo lời giảng của cư sĩ Anāgāmi Sayagyi Thet.)

Vào một đêm Rằm tháng Tạng-hỗng (Tazaungmon) độ lúc canh đầu. Từ trên không trung, có hai vị Tỳ-khưu sử dụng thần thông chuyển di thánh thể đáp xuống sân đại bảo tháp Mahācetiya tại Pegu. Sau khi lễ bái bảo tháp, hai Ngài cùng nhau rảo bước về phía giới đàn Kalyāṇī.

Xét về độ tuổi, cả hai vị đều đã ngoài năm mươi, xấp xỉ bằng nhau. Lúc bấy giờ mặt trời vừa khuất dạng, ánh trăng đang độ sáng ngời, hai vị cùng tiến bước vào trong giới đàn Kalyāṇī. Một lát sau, các Ngài trở ra. Theo truyền thống giới luật của bậc xuất gia, hai Ngài đến đây để thực hiện nghi thức Uposatha (Bố-tát). Khi đến đồi Shwethalyaung, hai Ngài lại theo đường hư không, bay thẳng về hướng chính Bắc. Dưới ánh trăng thanh của đêm Rằm tháng Tazaungmon, bất cứ ai hữu duyên chiêm bái được cảnh tượng ấy đều xem đó là một đại phúc lành **Dassanānuttariya** (Kiến vô thượng) – một hình ảnh không thể nào quên trong suốt cuộc đời.

Khi về đến núi Dezunpa, hai vị Tỳ-khưu đáp xuống hai ngọn núi riêng biệt. Dù đã hẹn nhau cùng đi nhưng hai Ngài ít khi trò chuyện, mỗi người đều giữ tâm chánh niệm vào đề mục hành trì của mình. Dẫu đã đắc Thần thông (Abhiññā) nhưng vì chưa chứng đạt các tầng thánh quả, hai Ngài tận dụng mọi thời gian, không ngủ không nghỉ để hành thiền quán tưởng. Vì công phu tu tập cốt yếu chưa hoàn tất, các Ngài luôn ẩn giấu thần lực của mình một cách đặc biệt. Hai vị luôn khắc ghi trong tâm rằng: Thần thông đạt được trong thân phận phàm phu (Puthujjana) vốn còn đầy rẫy tham, sân, mạn, có thể quay lại làm hại chính chủ nhân của nó.

Thật vậy! Việc Tỳ-khưu Devadatta đọa vào địa ngục Avīci (A-tỳ), thần thông chính là một trong những nguyên nhân tác động. (Vinaya, Cūḷavagga-366; Itivuttaka-253). Thế nên, hai Ngài càng nỗ lực tinh tấn, xả thân cầu đạo hơn cả những hành giả thông thường. Những người thiếu tốn căn lành ba-la-mật và kiến thức Pháp học (Pariyatti), nếu có được dù chỉ một phần trăm thần lực của các Ngài, hẳn đã tự xưng là bậc thầy đại đạo; nhưng với hai vị đại đức này, việc có được thần thông chỉ khiến các Ngài thêm kinh sợ và nỗ lực tìm kiếm con đường thoát ly thế gian thật sự, không quản ngày đêm.

Dưới sự nỗ lực không ngừng nghỉ khi cùng nhau tu tập—

“Này Hiền giả... Sau khi đắc Thần thông, để chứng đạt Đạo và Quả, chúng ta đã cùng thảo luận và nỗ lực tinh tấn không lùi bước suốt hơn một năm ròng. Kể từ hôm nay, chúng ta hãy tạm chia tay, Hiền giả hãy ở lại ngọn núi này, còn tôi sẽ chuyển sang ngọn núi phía bên kia. Chỉ khi có việc thật sự quan trọng, nếu là ban ngày thì đánh mõ, nếu là ban đêm thì thắp lửa để ra hiệu.” Khi vị Trưởng lão dạy như vậy—



“Lành thay bạch Ngài, đã được gặp giáo pháp này, lại có kiến thức Pháp học mà vẫn còn mang thân phận phàm phu để rồi phải trở thành những vị Phạm thiên sống thọ khôn cùng thì thật là điều đáng sợ.” Vị Tỳ-khưu nhỏ tuổi hơn cung kính đáp lời. Sau khi giao ước như vậy, hai Ngài ở tại hai ngọn núi khác nhau trong dãy Dezunpa để tu hành. Suốt hai ba tháng ròng, ngoại trừ những khi cùng hành lễ Bố-tát, hai Ngài không hề ra hiệu hay thảo luận gì thêm.

### Vị Thiên nữ hộ pháp thiện lành

Vào khoảng quá nửa đêm nọ, trên ngọn núi nơi vị Trưởng lão cư ngụ, một mùi hương thơm ngát tỏa khắp cả vùng. Lúc ấy, vị Trưởng lão đang thực hành pháp đầu đà **Abbhokāsika** (ở ngoài trời), Ngài đang đi kinh hành và nỗ lực hành trì trên một bãi đất trống nơi đỉnh núi. Bỗng nhiên, có một vị Đại Thiên, thân tướng hào quang rực rỡ, đứng cung kính chắp tay đảnh lễ vị Trưởng lão và thưa rằng:

“Bạch Ngài, vì ngưỡng mộ đức tin (Saddhā) và sự tinh tấn (Viriya) rộng lớn của Ngài nên con tìm đến đây. Hiện nay, dẫu Ngài thông tuệ kinh điển, đầy đủ đức tin và sự tinh tấn, nhưng công phu thực hành (Paṭipatti) vẫn chưa trọn vẹn. Nếu nương nhờ được bậc thiện tri thức, Ngài đã có đủ nền tảng để sớm chứng đạt Pháp đặc biệt. Nếu cứ tiếp tục nỗ lực như thế này, việc chứng đắc như mục tiêu các Ngài mong đợi là điều không dễ dàng. Ngài cần phải đi đến một nơi khác.”

Vị Trưởng lão vẫn giữ phong thái uy nghiêm lắng nghe, nhưng khi thấy những lời lẽ thưa thỉnh ngày càng mang tính quyết đoán, Ngài liền hỏi với giọng khá cứng rắn: “Ngươi là ai?”. “Con chính là vị đại thiên hộ trì núi Dezunpa này,” vị ấy thưa. “Sao vậy, ngươi không muốn ta ở trên ngọn núi của ngươi nữa hay sao?” vị Trưởng lão hỏi tiếp.

“Bạch Ngài, không phải vậy, chẳng phải con vẫn luôn hộ trì các Ngài đó sao? Dẫu các Ngài đã buông xả được sự kiêu mạn về thần thông và học vấn, nhưng các Ngài có nhận ra rằng những mầm mống ngã mạn vi tế (Mānānusaya) vẫn đang âm thầm ngăn trở hay không?” Khi vị thiên nghe vậy, vị Trưởng lão thở dài một tiếng rồi im lặng, vị thiên thủ hộ núi liền tiếp tục thưa:

“Việc tìm được bậc minh sư là điều quan trọng nhất trong công phu này. Xin Ngài hãy vững tin mà khởi hành đến địa điểm con chỉ dẫn.”

“Được rồi, vậy ta phải đi đâu?”


“Vì lợi ích của Ngài, hôm nay xin Ngài hãy đi về hướng chính Nam. Có một ngôi làng tên là Pyawbwe-gyi thuộc vùng Dala, huyện Twante. Ở đó có một vị cư sĩ hướng dẫn thiền tập. Xin Ngài đừng xem thường. Các Ngài cũng hãy dùng thần thông của mình mà quán xét vị ấy.” Nói đoạn, vị thiên liền biến mất.

Vị thiền sư ấy không ai khác chính là Sayagyi Thet, người thường được tôn xưng là bậc Anāgāmi (A-na-hàm). Ông là đệ tử của các bậc danh đức như Ngài Đại trưởng lão Ledi Sayadaw, Ngài Sayadaw núi Thayjet và Ngài Sayadaw Inma-gyi núi Theim. Chính Ngài Ledi Sayadaw đã trực tiếp trao truyền pháp hành, kiểm chứng tâm đắc và vì rất hài lòng nên đã đặc biệt khuyến khích và tán dương ông đảm nhiệm vai trò thiền sư chỉ dạy giáo pháp. Ông là một bậc phi thường đã trực tiếp hướng dẫn thiền cho hơn sáu ngàn đệ tử gồm cả tăng mẫu lẫn cư sĩ. (Xin mời quý vị đọc chi tiết hơn trong cuốn sách về “Sayagyi Thet-gyi” để tăng trưởng lòng tín tâm).

Sau khi vị thiên thủ hộ núi biến mất, vị Trưởng lão suy ngẫm một lát rồi nảy ra một ý định, Ngài liền đốt lửa. Theo lời hẹn “nếu có việc đặc biệt thì báo cho nhau biết”, Ngài định ra hiệu cho vị Tỳ-khưu ở ngọn núi bên kia. Tuy nhiên, vị Tỳ-khưu ấy lại không để ý đến ánh lửa từ phía núi đối diện. Cùng lúc đó, khi Ngài đang thực hành pháp đầu đà Rukkhamūla (ở dưới gốc cây) trên đỉnh núi và đang trú tâm hành thiền, Ngài cũng gặp phải chuyện có người đến trò chuyện với mình dù không nhìn thấy hình dáng. Không có điều gì khác lạ, vị ấy chỉ khuyên Ngài nên tiếp tục nỗ lực hành trì theo phương pháp cũ. “Bạch Ngài, xin đừng thay đổi ý định. Hãy đi, nhất định phải đi. Con là vị thiên thủ hộ vẫn luôn giúp đỡ và bảo vệ các Ngài.” Nói đoạn, tiếng nói liền biến mất. (Trong kinh Tương Ưng Thiên Tử - Devatā Saṃyutta và các kinh khác, có rất nhiều tích truyện về việc chư Thiên hỗ trợ hành giả).

Lời lẽ của vị Thiên khi thì mềm mỏng, lúc lại cương quyết khiến vị Tỳ-khưu trẻ trăn trở khôn nguôi. Những lời cảnh tỉnh về các phiền não vi tế như Ngã mạn tùy miên (Mānānusaya) đang ngăn trở công phu khiến Ngài không khỏi giật mình kinh hãi. Vị Tỳ-khưu trẻ gật đầu đồng ý một mình, rồi đứng dậy đốt lửa để ra hiệu cho vị Trưởng lão. Nhưng vị Trưởng lão cũng không nhìn thấy ánh lửa hiệu ấy.

Lý do là vì vị Trưởng lão không đợi vị Tỳ-khưu trẻ đến nữa, do thấy việc quá khẩn cấp nên Ngài đã khoác y mang bát, đeo tấm da thú lên vai và tự mình xuống núi để sang báo tin. Vị Tỳ-khưu trẻ sau khi đốt lửa ra hiệu, cũng theo trách nhiệm của mình mà xuống núi để thưa chuyện với vị Trưởng lão. Lúc này bình minh đã ló rạng. Đang giữa mùa đông nên khắp dãy Yoma chìm trong sương mù dày đặc. Mang theo những ý định riêng tư, hai Ngài cùng bước đi và tình cờ gặp nhau tại một bãi đất bằng phẳng dưới chân núi giữa làn sương mịt mù.

Khi vừa gặp nhau, cả hai đều vô cùng kinh ngạc. Hai Ngài trải tấm da thú xuống một bãi đất trống, cùng ngồi xuống và bắt đầu thảo luận về những sự việc đã xảy ra.




“Vào thời Đức Phật còn tại thế, Trưởng lão **Poṭṭhila** sở hữu kiến thức Pháp học (Pariyatti) uyên bác nhưng lại vướng vào tâm kiêu mạn. Ngài đã phải cầu pháp và thọ nhận sự chỉ dạy từ một sa-di trẻ tuổi, sau đó mới chứng đắc quả vị A-la-hán. Thưa hiền giả, chính Trưởng lão **Mahānāga** sau khi đắc các Thắng trí (Abhiññā), vì lầm tưởng việc tu tập của mình đã hoàn tất, nên người đệ tử phải dùng phương cách khéo léo để thuyết Pháp nhắc nhở ngài. Chúng ta hiện nay cũng đang rơi vào tình trạng tương tự. Trước đây, ngay cả ý nghĩ đi thọ giáo với một cư sĩ chúng ta cũng chưa từng mảy may nghĩ tới. Tuy nhiên, vị thầy mà chúng ta sắp đến đây thật sự là người xứng đáng để chúng ta nương tựa. Ưn đức của vị Thần núi hộ trì thật to lớn thay! Nào, thưa hiền giả, chúng ta cùng khởi hành thôi.” Nói đoạn, vị Trưởng lão dùng thần lực phi hành theo dãy núi Alal từ hướng Bắc để tiến về phương Nam.

Sau khi tạm ghé vào lễ bái tại Bảo tháp Shwedagon, các ngài tiến đến làng Dalapyawbhwaygyi, quàng y bát rồi đi dọc theo con đường làng. Khi đứng dừng chân trước một ngôi nhà, các ngài hỏi thăm: “Này thí chủ, nhà của thầy Saya Thet là nhà nào vậy?” Thật trùng hợp, ngôi nhà đó chính là tư gia của cụ Cư sĩ. Vừa lúc ấy, cụ Saya Thet từ phòng thờ Phật bước xuống, tình cờ gặp mặt các ngài. Cụ liền cung đón bằng những lời thăm hỏi ân cần: “Bạch các Ngài, các Ngài từ đâu đến đây ạ?” Sau những lời chào hỏi xã giao, cụ thỉnh mời các Ngài lưu lại tu học tùy ý và xin được phép hộ độ tứ vật dụng. Cụ cũng thỉnh các Ngài đến nghỉ ngơi tại ngôi đình thuyết Pháp ở giữa làng để hồi phục sức khỏe sau chuyến đi hành trình dài. Cụ nhờ ông Ba Thein dẫn hai vị Trưởng lão đến ngôi đình đó. Lúc ấy mới khoảng 8 giờ sáng. Theo thường lệ, đến 10 giờ, cụ Saya Thet mới đến ngôi đình nơi các hành giả đang tập trung để kiểm tra việc hành thiền và thuyết Pháp.

### Giá trị của Thiền Định và Khổ Đế

Vào lúc 10 giờ 30 phút sáng hôm ấy, cụ Saya Thet bước đến ngôi đình. Khoảng ba mươi hành giả nam nữ đang ngồi thành hàng trước phòng thờ Phật và bệ cao dành cho chư Tăng. Có khoảng mười vị Tăng đang ngồi trên bệ cao. Cụ Saya Thet ngồi bên dưới bệ cao, ngay phía trước các hành giả, rồi lần lượt thẩm vấn việc hành thiền của từng người. Cụ ban lời giáo giới ngắn gọn. Sau đó, cụ hướng về phía bệ cao nơi hai vị Trưởng lão vùng Deisunpa đang tọa thiền, chắp tay thưa rằng:

“Bạch hai Ngài vừa từ Deisunpa đến đây, các Ngài có được an lạc và thích nghi với nơi này không ạ? Kính xin các Ngài tiếp tục duy trì việc tu tập thiền quán niệm hơi thở (Ānāpana) thêm ba ngày nữa. Đồng thời, cũng kính xin các Ngài từ bi chỉ dạy thêm cho các hành giả ở đây nếu thấy cần thiết.” Sau khi thưa lời như vậy, cụ Saya Thet trở về nhà. Đến ngày thứ tư, cụ bắt đầu hướng dẫn các Ngài chuyển sang thực hành Thiền Minh Sát (Vipassanā).

Đúng 10 giờ 30 phút sáng, cụ Saya Thet có mặt tại trú xứ hành thiền. Cụ ngồi vào vị trí cũ, đảnh lễ Phật và chư Tăng theo truyền thống rồi bắt đầu kiểm tra việc thực hành của các hành giả.



“Ngày hôm nay có hai Ngài và năm hành giả cư sĩ sẽ bắt đầu chuyển sang Thiền Minh Sát. Phần lớn các hành giả ở đây, sau khi thực hành Thiền Định (Samatha) khoảng ba ngày để thiết lập định lực, thường đạt được **Học tướng (Uggaha-nimitta)** và **Quang tướng (Paṭibhāga-nimitta)**, do đó cần phải chuyển sang Minh Sát. Nếu không chuyển sang Minh Sát, một số hành giả không chỉ thấy ánh sáng mà còn có thể nói chuyện hoặc nhìn thấy rõ ràng các chư thiên, thần giữ của, ngạ quỷ, quỷ dạ-xoa, hay các bậc phù thủy, đạo sĩ (Weizza/Zawgyi). Họ có thể nhận được sự trợ giúp, hoặc có được những khả năng nghe hoặc thấy không thanh tịnh. Lâu dần, họ nảy sinh tâm mong cầu đạt được điều này điều nọ, dẫn đến mất đi đề mục thiền định hơi thở (**Ānāpana**) ban đầu và rơi vào trạng thái tâm trí hoảng loạn. Chính vì vậy, tôi phải hướng dẫn các vị chuyển sang Minh Sát. Tuy nhiên, đối với những bậc đi theo con đường Thắng trí (Abhiññā), khi gặp những hạng chúng sinh thuộc về thế gian (tục đế) như vậy, họ không hề khởi tâm đắm nhiễm hay ưa thích, mà chỉ tập trung tiếp tục quán chiếu Pháp của mình. Này thầy Tha Oo và các vị, mọi người đã hiểu ý tôi chưa?” Cụ Saya Thet gọi đích danh và nhắc nhở các hành giả cư sĩ.

Trên thực tế, cụ Saya Thet đã thấu thị rằng ông Tha Oo đang có mối liên hệ mật thiết với một vị phù thủy (Weizza) đã đạt được thuật xuất thế. Ông Tha Oo nghe vậy liền giật mình kinh hãi. Cụ Saya Thet tiếp tục giảng giải: “Đặc biệt là các Ngài thông thạo Pháp học hẳn đã thấu hiểu điều này. Những lời tôi đang thuyết đây là dành cho các thí chủ hành giả, kính mong các Ngài từ bi lắng nghe. Nếu tôi có điều gì sai sót, kính xin các Ngài chỉ giáo và sửa đổi cho ạ.

Đừng nói chi đến những khả năng thấy nghe không thanh tịnh có được từ năng lực **Thiền Định**. Ngay cả những thần lực Thắng trí thuộc về Sắc giới và Vô sắc giới, các bậc Thánh thiện tri thức cũng không bao giờ đặt nặng hay xem trọng. Thần lực (thần thông) thực chất cũng chỉ là Khổ đế (Dukkha Sacca) mà thôi. Xưa kia, Đức Phật từng quở trách và ví Ngài **Piṇḍola** – vị đã thị diễn thần thông – với một hạng người không thanh sạch. Ngài cũng ban hành giới luật rằng nếu vị tỷ-kheo nào thị diễn thần thông hóa hiện sẽ phạm tội Tác ác (Dukkaṭa). Thần lực thuộc về Thắng trí cực kỳ khó đắc nhưng lại rất dễ bị mất đi và rất khó để gìn giữ.

Thời nay, đối với những người không nằm trong giáo pháp (ngoại đạo), những kẻ không có cơ hội đạt được 'Pháp Thắng Trí' (tức là sự chứng ngộ Tứ Diệu Đế hay chứng đắc quả vị Thánh), thì thần lực chỉ càng khiến họ chịu nhiều đau khổ và kéo dài vòng sinh tử luân hồi. Vì vẫn còn là hạng phàm phu, họ thường dùng thần lực để tranh tài cao thấp, cậy thế thần thông mà buông lời nguyền rủa hay gây khổ đau cho chúng sinh khác một cách vô cùng vô tận.

Ngay cả Bồ-tát khi còn là đạo sĩ **Nārada**, cũng từng vì lỡ chân dẫm lên tóc búi của đạo sĩ **Devīla** mà nảy sinh tâm sân hận, kiêu mạn, dẫn đến việc buông lời nguyền rủa lẫn nhau. Vậy nên, những kẻ sở hữu thần lực thế gian hay thuật phù thủy vốn chẳng giữ nổi năm giới thì sự tình sẽ còn tồi tệ đến mức nào. Điều này đã được nêu rõ trong các câu chuyện Bổn sanh. Và thực tế ngày nay vẫn đang diễn ra như vậy.”

“Cũng giống như kẻ có học khinh miệt người không chữ nghĩa, kẻ giàu có ức hiếp người nghèo khổ, kẻ có quyền thế đàn áp người yếu thế; mỗi người đều dùng thứ 'quyền năng' nhỏ nhoi của mình để hành hạ kẻ khác.



Vì lẽ đó, các bậc thiện tri thức luôn có tâm ghê tởm đối với những điều này. Các Ngài dạy rằng thần lực chính là một trong những chướng ngại lớn lao đối với việc thực hành Thiền Minh Sát.”

“Ngay cả khi đạt đến đỉnh cao của các loại thần thông thế gian là **Thắng trí (Abhiññā)**, nếu không được kiểm soát và điều phục bởi 'Pháp Thắng Trí' (tức là quả vị Thánh), thì chúng cũng không bền vững mà chỉ khiến hành giả bị cuốn vào vòng xoáy của Khổ đế. Tuy nhiên, hạng người thường tình thì vẫn luôn xem trọng và ngưỡng mộ những điều ấy.”

### Ý định thâu phục bằng thần lực

“Vào thời Đức Phật, tại thành **Nāḷā**, có vị đại trưởng giả **Kevaṭṭa** sở hữu tài sản lên đến bốn mươi mươi triệu (koṭi). Vì lòng quá mực kính tin giáo pháp, ông muốn dân chúng phát khởi niềm tin mạnh mẽ hơn nữa nên đã bạch thỉnh Đức Phật cho phép một vị tỷ-kheo nào đó thực hiện thần thông để thị uy. Đức Thế Tôn khi ấy đã giữ im lặng, tỏ ý không chấp thuận. Sau ba lần ông trưởng giả khẩn cầu, Ngài không thể làm ngơ được nữa nên đã thuyết về ba loại Thần thông (Pāṭihāriya) cùng với lợi ích và tác hại của chúng.”

Mặc dù cụ Saya Thet đang hướng mặt về phía các hành giả cư sĩ, nhưng cụ vẫn thỉnh thoảng quay sang nhìn hai vị Trưởng lão vùng Deisunpa.

“Chư Tăng các Ngài hẳn là những người am tường hơn ai hết. Con vốn chẳng có kiến thức Pháp học gì cả. Con chỉ xin được chia sẻ lại những lời giáo giới mà bậc thầy ân sư là Ngài Đại trưởng lão Ledi Sayadaw đã truyền dạy lại mà thôi.” Cụ Saya Thet vừa nói khéo vừa tiếp tục bài giảng. Cách thuyết Pháp của cụ hôm nay vô cùng đặc biệt khiến các hành giả cũ đều chăm chú lắng nghe với sự quan tâm sâu sắc.

“Ba loại Thần thông đó là:

1. **Biến hóa thần thông (Iddhi-pāṭihāriya)**: Nghĩa là hóa hiện ra nhiều hình tướng khác nhau. Đức Phật dạy rằng: 'Này ông trưởng giả, nếu thị diễn thần lực như vậy, những người có lòng tin sẽ càng thêm kính tín, nhưng những kẻ không có lòng tin sẽ phỉ báng rằng: Đây chẳng qua là thuật phù thủy Gandhārī mà thôi'. Những bậc thầy phù thủy cũng có thể thị diễn thần thông tương tự, khiến dân chúng nảy sinh tâm hoài nghi, lẫn lộn giữa chánh và tà, từ đó làm tổn hại đến những giáo pháp cao thượng thanh tịnh dẫn đến sự thoát khổ.

2. Loại tiếp theo là **Tha tâm thần thông (Ādesanā-pāṭihāriya)**: Là năng lực thấu thị và nói đúng tâm tư, ý định của người khác. Nếu thị diễn năng lực này, vì trong thế gian cũng tồn tại những thuật thôi miên hay bói toán (gọi là Maṇikā) có khả năng tương tự, nên Đức Phật không cho phép vì sợ rằng uy đức của giáo pháp sẽ bị giảm sút và bị đánh đồng với những thứ tầm thường đó.

3. Loại cuối cùng là **Giáo hóa thần thông (Anusāsanī-pāṭihāriya)**: Nghĩa là khuyến tấn mọi người hãy chỉ nên nương tựa vào sức mạnh đích thực của Giáo pháp là Giới, Định, Tuệ.

"Chỉ có năng lực của Giới, Định và Tuệ này vừa đạt được tất cả những gì cần thiết cho thế gian, vừa đúng là con đường thoát khổ — nên ngài gọi đó là tốt nhất."

### Chuyển sang Vipassanā tại làng Tan Phò Pè (Tန်ဖိုးပယ်)

“Nếu là người cư sĩ có ngũ giới, bát giới (ājīvaṭṭhamaka sīla), nếu là bậc xuất gia có tứ thanh tịnh giới (catupārisuddhi sīla) thì sẽ đem lại lợi ích và năng lực to lớn đến mức nào, đức Thế Tôn đã nhìn thấy rõ bằng Nhất Thiết Chủng Trí. Vì vậy, ngày hôm nay khi chuyển sang thực hành Vipassanā, chúng ta cần quán xét rằng: trong thế gian này, những thứ mà phàm phu bản tính vốn hay đắm say chấp chước như thần lực của học thuật, thần lực của tiền bạc, thần lực của quyền uy hay thần lực của thần thông (abhiññā), tất cả chúng đều chỉ là Khổ Đế (Dukkha Sacca) mà thôi, đúng như câu nói: ‘Ở cõi Phạm thiên thì sáng rực rỡ, nhưng ở máng lợn thì nhớp nhúa’.

“Cần phải có niềm tin sâu sắc rằng: ‘Ta sẽ thấy được bốn Thánh Đế đúng như thật và chắc chắn sẽ đạt được hạnh phúc Niết-bàn chân thực’. Với tâm niệm sắp thoát khỏi mọi nỗi khổ, hãy hạ bản ngã (māna) xuống. Hãy giữ cho tâm thật mềm mại. Mọi cử chỉ của thân và lời nói đều phải trở nên nhẹ nhàng, tinh tế.

“Hãy thực hiện các bước chuẩn bị (parikamma) như thường lệ, rồi tại đầu mũi, hãy quan sát luồng hơi thở ra vào đang sanh diệt liên tục, thấy rõ bản chất vô thường (anicca) của nó. Nếu có thể quán chiếu thấy rõ sự sanh rồi diệt, diệt rồi lại sanh như vậy, thì pháp hành Ānāpāna (Niệm hơi thở) sẽ chuyển từ định (Samatha) sang tuệ (Vipassanā).

“Có một số người vội vàng chỉ trích rằng: ‘Ôi, Ānāpāna chỉ là định thôi mà’. Không phải vậy đâu. Đó là một đề mục thiền (kammaṭṭhāna) toàn diện. Đó là con đường xưa mà chư Phật đều đi qua. Trong kinh Ānāpānassati, đức Phật dạy trực tiếp rằng Ānāpāna chính là Vipassanā qua các cụm từ: ‘**Aniccānupassī** = phải quán thấy rõ bản chất không bền vững (vô thường). **Virāgānupassī** = phải quán để ly tham đắm’. Bậc ân sư Ledi Sayadaw vĩ đại cũng đã viết rõ rằng: trước tiên hãy thiết lập Ānāpāna như một pháp định, rồi từ sơ thiền, nhị thiền hay tam thiền, có thể vượt bước để chuyển sang hành Vipassanā ngay trên chính đề mục Ānāpāna này.

“Tuy nhiên, theo lời chỉ dạy của các bậc ân sư, sau khi quán chiếu để thấy rõ bản chất vô thường, khổ, vô ngã của hơi thở ra vào trong khoảng mười đến mười lăm phút, hãy đặt tâm tại đỉnh đầu, tập trung quán sát. Tại vùng diện tích khoảng bằng đồng xu, hãy bắt giữ cho được đặc tính của các sắc pháp (rūpa-dhātu) như: Tejo-dhātu (Hỏa đại) với tính nóng hoặc lạnh, Paṭhavī-dhātu (Địa đại) với tính cứng hoặc mềm. Quý vị sẽ thấy bằng mắt tuệ sự chuyển động rung động (lhup-lhup), lăn tăn (ru-ywa-ywa), tan rã (hpwa-hpwa) hay nổ lách tách (hpyit-hpyit), rồi dần dần lan rộng ra khắp toàn thân, thấy rõ sự sanh - diệt - diệt tận - tan biến. Sắc pháp không đi đâu cả, và danh pháp (nāma) cũng không được chạy trước đón đầu.


Cần phải theo sát và ghi nhận sự lan tỏa dần dần đó. Khi xúc trần (phoṭṭhabba-dhātu) và thân căn (kāya-pasāda) tiếp xúc với nhau, danh pháp (tâm ghi nhận) sẽ luôn biết rõ sự sanh diệt đó. Cả sắc pháp bị chạm và danh pháp hay biết đều sanh rồi diệt ngay tại đó, không hề xê dịch dù chỉ bằng một đầu kim. Ngay trong hơi thở ra vào, nếu muốn ghi nhận các đại hiển (Paṭhavī...) cũng có thể ghi nhận được.” (Quay sang phía chư Tăng, cụ hỏi:) “Bạch chư Đại đức, thực hành ghi nhận như vậy có thấy rõ không ạ?” Hai vị trưởng lão vùng Day-sun-par trả lời cụ rằng các ngài đã thấy rõ ngay lúc này.

“Lành thay! Tôi rất hoan hỷ khi nghe được điều này. Bạch chư Tăng, theo như trong các bộ luận Abhidhamma (A-tỳ-đàm), không nhất thiết phải biết hết tất cả các loại sắc pháp. Giáo lý Abhidhamma thuộc về phạm vi của Nhất Thiết Chủng Trí và bậc **Paṭisambhidāpatta** (đạt được Tuệ Phân Tích). Chỉ cần mắt tuệ nhìn thấy rõ ràng bản chất vô thường, khổ, vô ngã của một đơn vị sắc, một đơn vị danh, là có thể đạt đến trạng thái an tịnh của Niết-bàn vô vi (Asankhata). Bậc ân sư Ledi Sayadaw vĩ đại cũng đã dạy và viết đúng như thế.

“Đặc biệt, điều quan trọng cần lưu ý là hãy tạm gác lại những kiến thức pháp học (pariyatti), những hiểu biết do suy tư (cintāmaya) hay do nghe (sutamaya) đã học được từ nơi khác hay lúc khác. Thực hành theo cách này, những người dù không biết chữ, chỉ sau một đến hai tuần đều thấy kết quả rất hài lòng.

“Vì vậy, tôi không ngớt lòng thành kính trước Nhất Thiết Chủng Trí, bởi trong kinh Đại Niệm Xứ (Mahāsatipaṭṭhāna Sutta), Ngài đã mạnh dạn cam kết về thời gian đạt quả vị. Khi tất cả hành giả làm việc, giống như người bắn súng hay bắn cung phải nhe một mắt để nhắm, thì tâm phải đặt vào duy nhất một cảnh này thôi. Hãy cắt đứt mọi sự quyến luyến, không màng đến thân mạng, nỗ lực hết mình để hành trì.”

Bài pháp buổi sáng kết thúc. Mọi người đồng thanh “Sādhu”.

### Ba loại phước báu, Ba giai đoạn giáo pháp, Năm loại đoạn trừ

Sau ba bốn ngày chuyển sang hành Vipassanā, cụ cư sĩ kiểm tra việc hành thiền và thuyết giảng với vẻ hân hoan, phấn chấn. Có lúc cụ vừa giảng vừa vỗ tay cổ vũ. Cụ cũng chắp tay hướng về phía nơi bậc ân sư Ledi Sayadaw đang hiện diện (trong tâm tưởng).

“Hôm nay tôi sẽ giảng cho các hành giả về Giới, Định, Tuệ. Bạch chư Đại đức, nếu tôi có nói gì sai, xin các ngài sửa dạy cho. Giới, Định, Tuệ ở đây chính là nói về ba loại phước báu: Dục giới thiện (Kāmāvacara kusala), Đáo đại thiện (Mahaggata kusala) và Siêu thế thiện (Lokuttara kusala). Cần phải biết sự khác biệt giữa cái thô và cái tinh tế để thấy rõ giá trị của chính mình.


“Khởi đầu của Giáo hóa Thần thông (Anusāsanī Pāṭihāriya)

1. Khi thiết lập được Giới giáo pháp (Sīla Sāsanā), thì các phiền não (kilesa) trong tương lai đã bị đẩy lùi một phần đáng kể. Thân và khẩu đã được thu thúc. Hố sâu của các hành vi vi phạm (vītikkama) đã được lấp bằng ‘**Tadanga-pahāna**’ (Đoạn trừ từng phần). Đây chính là Dục giới thiện.

2. Với thiền định (jhāna-samādhi), còn được gọi là Sắc giới và Vô sắc giới thiện, thì không chỉ các hành vi vi phạm bên ngoài mà ngay cả những phiền não sắp khởi lên trong tâm (pariyuṭṭhāna - triền cái) cũng không được phép xâm nhập. Đó là việc dùng nắp đậy khổng lồ của ‘**Vikkhambhana-pahāna**’ (Đoạn trừ bằng cách đè nén) để lấp hố sâu của phiền não khởi phát. Khi thiết lập được Định giáo pháp (Samādhi Sāsanā), chứng đắc các thiền định và thần thông, nếu mệnh chung khi đó sẽ sanh về cõi Sắc và Vô sắc làm các vị Phạm thiên phàm phu. Tuy nhiên, năng lực của Đáo đại thiện này không tận gốc, chỉ là đẩy lùi tạm thời nên không bền vững. Khi gặp cảnh nghịch lòng, thì không chỉ hố sâu của ý nghiệp (pariyuṭṭhāna) mà cả hố sâu của thân nghiệp, khẩu nghiệp (vītikkama) cũng sẽ bị phiền não tràn ngập trở lại như cũ. Hãy nhìn gương các vị tu sĩ tu tập thiền định nhưng rồi lại hoàn tục kết hôn.

3. Như vậy, ngay cả thần lực của định (samādhi) xây dựng trên nền tảng giới trong giáo pháp này còn dễ bị thoái thất như thế, thì những loại năng lực định thế gian (lokāyata) có được bằng một kỹ thuật nào đó (sippa) mà thiếu đi giới hạnh và lòng từ thực thụ, sẽ gây ra biết bao đau khổ cho chúng sanh. Giống như trái tre làm chết cây tre, thứ thần lực đó có thể sát hại chính người sở hữu nó. Vì vậy, không nên hài lòng chỉ với Đáo đại thiện của Định giáo pháp này; mối nguy hiểm vẫn còn rất lớn.

4. Trong lúc gặp gỡ được Giáo pháp như hiện nay, phải hướng tới tu tập Siêu thế thiện mới có thể yên tâm cho vòng luân hồi (samsāra). Đây chính là Tuệ giáo pháp (Paññā Sāsanā). Chỉ có Đạo tuệ (Magga-paññā) này mới có thể lấp hố sâu của phiền não ngủ ngầm (anusaya-kilesa) đã tích lũy từ vô lượng kiếp bằng ‘**Samuccheda-pahāna**’ (Sát trừ tuyệt căn), không còn đường quay trở lại.

5. Quả tuệ (Phala-paññā) lại tiếp tục làm an tịnh, dập tắt các phiền não bằng ‘**Paṭippassaddhi-pahāna**’ (Đoạn trừ bằng cách an tịnh hóa), khiến cho ngay cả hơi hướm của phiền não ngủ ngầm cũng không thể thoát ra.

“Khi đó, vì đã đạt đến Thánh vị, chứng đắc các Đạo Quả, nên hạnh phúc Niết-bàn tối thượng cũng bao phủ lấy hành giả bằng ‘**Nissaraṇa-pahāna**’ (Đoạn trừ bằng cách giải thoát hoàn toàn), khiến cho phiền não chẳng bao giờ có thể đến gần vị đó được nữa. Đó là một hạnh phúc vô song, vô cùng an lạc. Vì thế nên Đức Thế Tôn trong kinh **Pháp Cú (Dhammapada)** đã dạy rằng: đừng vội tự mãn với giới hạnh, cũng đừng vội dừng chân nghỉ ngơi chỉ với định lực (samādhi).


### Không cần chi tiết hóa theo danh tự kinh điển

Quay sang phía chư Tăng, ngài cung kính chắp tay thưa: "Bạch các bậc Hiền giả, có đúng như vậy không?" Ngài khuyến tấn hành giả phải quán chiếu để đạt đến bản chất Vô thường (Anicca), Khổ (Dukkha), Vô ngã (Anatta) của từng trạng thái Sắc pháp và Danh pháp, rồi tạm dừng lời một lát.

"Khi tu tập thiền Chỉ (Samatha), sự thành tựu năm thiền chi được gọi là Sơ thiền. Thầy có dạy rằng phải chú ý để hiện khởi **Tầm (Vitakka)**, **Tứ (Vicāra)**, **Hỷ (Pīti)**, **Lạc (Sukha)**, **Nhất tâm (Ekaggatā)** không? (Các hành giả đáp: Dạ không). Đúng vậy – đó là tên gọi do các bậc thầy thông thạo kinh điển đặt cho thôi. Ngay cả năm Triền cái cũng không cần phải học thuộc lòng, vì trong khi quán chiếu, chúng sẽ tự động lìa xa. Phận sự của hành giả chỉ là theo sát hơi thở ra vào không để rời lạt, đúng không nào? Từ Sơ thiền chuyển sang Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền là quá trình tự tiến triển. Đó không phải là thứ có thể đạt được bằng cách học thuộc lòng trước.

“Trong phần thiền Quán (Vipassanā) hiện nay cũng tương tự như vậy. Đừng lầm tưởng rằng phải thông suốt, phải thuộc lòng tất cả những chi tiết thuộc về Pháp học (Pariyatti) hay Phân tích đạo (Paṭisambhidā) như năm uẩn (khandha), mười hai xứ (āyatana), mười tám giới (dhātu), năm mươi ba danh pháp (nāma-tepaññāsa), hai mươi tám sắc pháp (rūpa-aṭṭhavīsa) thì mới đạt được tuệ Quán. Chỉ cần làm chủ được một Sắc pháp, một Danh pháp thì mười bậc Tuệ giác (ñāṇa) sẽ tự hiển lộ. Không phải là ta phải 'làm' cho tuệ này xong rồi mới đến tuệ kia. Giống như mặt trời mọc rồi tất yếu phải lặn ở phương Tây, hay như đi tàu hỏa từ Yangon đến Mandalay, dù biết hay không biết các nhà ga trung gian, bạn vẫn sẽ tự nhiên gặp và vượt qua chúng. Nếu chưa đến mà lại cố dùng tâm suy diễn để đạt đến, thì đó không phải là tuệ do Tu hành (Bhāvanā-maya); trái lại, nếu không buông bỏ những kiến thức Pháp học đã nghe, đã biết, chúng sẽ giống như một sợi dây kéo ghì trí tuệ hành trì của ta lại.

Những tên gọi như Tuệ này Tuệ nọ là do các bậc Hiền giả thông thạo Pháp học đặt danh tự; còn hành giả chỉ việc đi đúng lộ trình, lên đúng chuyến tàu và đừng để lỡ chuyến. Khi định lực đã thành hình, trí tuệ Thấy biết như thật (Yathābhūta-ñāṇa) sẽ tự đến mà không cần mong cầu, mong đợi hay chờ chắt; chân lý Tứ Thánh Đế sẽ tự hiện bày, các bậc Tuệ giác sẽ tự tiến triển. Một khi nền tảng Giới hạnh (Sīla) đã vững chắc thì **Bất hối (Avippaṭisāra)**, **Hân hoan (Pāmojja)**, **Hỷ (Pīti)**, **Khinh an (Passaddhi)**, **Lạc (Sukha)**, **Định (Samādhi)**, **Như thực tri kiến tuệ (Yathābhūta-ñāṇa)**, **Yểm ly tuệ (Nibbidā-ñāṇa)**, **Giải thoát tuệ (Vimutti-ñāṇa)** sẽ tự động tuôn chảy liên tục như được khơi mở dòng kênh vậy.

“Trong các kinh thuộc **Tăng Chi Bộ (Aṅguttara Nikāya)** như **Kinh Ce-ta-na-ka-ra-ni-ya (Cetanākaraṇīya Sutta)**, **Kinh Ba-va-na (Bhāvanā Sutta)**,


Đức Phật đã dạy đúng như vậy. Do đó, sau khi đã thiết lập vững chắc nền tảng Giới giáo (Sīla-sāsanā) và các thiện nghiệp cõi Dục (kāmāvacara-kusala), tôi tha thiết khuyến tấn các quý vị hãy nỗ lực quán chiếu không ngừng nghỉ để đạt đến thiện nghiệp Đạo tuệ (Magga-kusala) – cứu cánh an toàn nhất.” (Tất cả đồng thanh sa-thủ).

### Cúng dường pháp bảo bằng ngọc Ý Thuận

Sau khi hai vị trưởng lão từ vùng Desunpa lưu lại chỗ Thiền sư được khoảng mười ngày, vào một buổi chiều nọ, họ đặc biệt mời ngài đến tại chánh điện (Dhamma-yone) để tỏ lòng tri ân. Theo lời dặn của hai vị, Thiền sư mang theo một khay nhỏ phủ nhung đen, lót một nắm bông gòn lớn, cùng một người đệ tử đến chánh điện. Sau khi đảnh lễ Phật và chư Tăng, ngài ngồi xuống, vị trưởng lão trẻ lên tiếng:

“Thưa Thiền sư, xin ngài đừng ngại. Ơn đức của ngài thật to lớn. Ngày mai chúng tôi xin phép được trở về, nên hôm nay mời ngài đến đây để đáp đền thâm ân trước khi từ biệt. Nào... mời Thiền sư hãy xem hai viên hồng ngọc này.” Nói rồi vị ấy lấy từ trong bát hai viên đá đặt vào tay Thiền sư. Kích cỡ chúng khoảng chừng trứng chim sẻ hay viên bi. Thiền sư vừa cầm xem vừa hỏi:

“Những viên đá này các ngài lấy từ đâu vậy?”

“Chúng tôi mượn tạm từ núi Hồng Ngọc (Pattamyar Taung) theo lời nguyện để đem cho ngài xem,” vị ấy đáp và đặt viên lớn hơn lên khay bông. Khối bông gòn dày cả gang tay bỗng rực lên một sắc đỏ rạng rỡ. Khi đặt viên thứ hai lên, ánh quang tỏa ra chỉ bằng phân nửa viên đầu. Thiền sư không hề thay đổi sắc mặt, vẫn điềm tĩnh mỉm cười quan sát. Sau đó, khi bỏ viên ngọc vào ly nước, cả ly nước bừng lên ánh đỏ rực rỡ; viên thứ hai cũng chỉ tỏa sáng phân nửa mức đó.

“Thưa Thiền sư, viên thứ nhất này là ngọc Ma-no-ma-ya (Ý Thuận); viên ngọc này có thần lực hễ mong cầu điều gì sẽ được như nguyện, dùng để hộ trì Phật pháp mãi không cạn. Nếu giữ viên này, cần phải dâng một bộ lễ vật cúng dường gồm ba mâm; còn viên thứ hai có đặc tính giữ cho tài sản không bị giảm sút hay hư hỏng và bảo vệ khỏi mọi hiểm họa, khi giữ viên này cần ít nhất một mâm cúng dường. Để cúng dường cho ba-la-m mật trí tuệ của ngài, chúng tôi xin được đáp đền thâm ân này, xin Thiền sư hãy nhận lấy một viên tùy ý thích.”

Thiền sư suy nghĩ trong chốc lát rồi với gương mặt rạng rỡ, hoan hỷ:
“Được các ngài ưu ái đền ơn thế này, lại được thấy vật báu chưa từng thấy, tôi đã lấy làm mãn nguyện lắm rồi bạch các ngài. Xin cho phép tôi không nhận, mong các ngài lượng thứ. Tôi không muốn những nỗi khổ thế gian vốn đã rộng lớn lại càng thêm lan rộng. Sau khi các bậc Hiền giả trở về, tôi chỉ mong được hoan hỷ thấy các ngài nỗ lực hết mình với đề mục Thiền định cho đến khi hoàn tất phận sự của một vị Sa-môn (Rahan-kicca), đó chính là cách đền ơn tốt nhất đối với tôi rồi.” Nói đoạn ngài trở về nhà.



### Cuộc chia tay cuối cùng của những người ở những cảnh giới khác nhau

Sáng sớm hôm sau, sau khi thọ bát, hai vị trưởng lão khoác y bát, dáng vẻ uy nghiêm điềm tĩnh rời khỏi chánh điện. Vị trẻ hơn hướng về phía Bắc, còn vị lớn tuổi hơn rẽ về hướng Đông Bắc của vùng Pyawbwe. Có ba bốn hành giả là đệ tử của Thiền sư đi theo tiễn chân. Sau khi đi được khoảng năm mảnh ruộng, hai vị bảo họ quay về. Khi các hành giả đi tiễn quay đầu nhìn lại những bóng dáng đang băng qua những cánh đồng gốc rạ khô cằn, họ không còn thấy các ngài đâu nữa.

Vị trưởng lão lớn tuổi đi đến làng Nwasu ở phía Đông Bắc Pyawbwe. Dân làng Nwasu từ ba ngày trước đã xôn xao về những giấc mơ thấy "có vị A-la-hán sắp đến". Họ đã chuẩn bị sẵn sàng để dâng cúng vật phẩm. Khi thấy vị trưởng lão xuất hiện, dân làng vui mừng khôn xiết.

Một thí chủ thưa: "Bạch ngài, ngài từ đâu đến ạ?" Ngài đáp: "Ta từ trung tâm thiền Pyawbwe đến." Thí chủ lại hỏi: "Vậy ngài trụ xứ ở chùa nào, vùng nào ạ?"

Ngài ôn tồn:
"Ta không có chùa chiền hay trụ xứ nhất định nào cả. Nơi nào thích hợp thì ta tạm dừng chân thôi."

Nghe vậy, dân làng bèn cùng nhau cung thỉnh ngài ở lại làng Nwasu để giáo hóa. Vì trong làng lúc đó chưa có ngôi chùa nào, nên làng này và vị thầy này quả thật có duyên lành sâu nặng. Họ liền phát quang một khoảnh đất bên bờ hồ của làng và dựng ngay một ngôi chùa nhỏ để ngài có nơi cư ngụ. Trong suốt ba năm, dân làng đã nhận được sự giáo giới của ngài. Sau đó, tại chính ngôi chùa nhỏ này, ngài đã xả bỏ báo thân.

Khi hỏa thiêu kim thân, xá lợi của ngài lưu lại rất nhiều. Điều này đúng như những gì mọi người đã dự đoán và kính tin, nên họ vừa thành tâm thương tiếc vừa hoan hỷ xây một ngôi bảo tháp ngay tại bờ hồ đó để thờ phụng.

Trong lịch sử Phật giáo hành trì (Patipatti Sasana) của Myanmar, những bậc Thánh tăng A-la-hán dứt sạch lậu hoặc (Khinasava), đắc chứng Thiền định và Thần thông (Jhana Abhinna), sống ẩn mình ít ai biết đến như bậc Thánh giả này vốn chưa từng đứt đoạn qua các thế hệ. Các Ngài đã thị hiện và trở thành minh chứng sống động, làm hiển lộ các công đức _Sanditthiko_ (Thiết thực hiện tiền) và _Akaliko_ (Không có thời gian) của Giáo pháp.

Vì lẽ đó, chúng ta chớ nên đổ lỗi cho nghịch cảnh thời đại hay việc thiếu ba-la-mật mà buông xuôi, sống trong tâm lý "Appakka" (thờ ơ, thiếu tinh tấn, không lo nghĩ); tuyệt đối không nên bỏ lỡ cơ hội lớn lao (được gặp Chánh pháp) này!


*Ghi chú: Trong câu chuyện về hai vị trưởng lão, cần lưu ý rằng vị trưởng lão trẻ hơn đang trong tiến trình thực hành Minh sát (Vipassanā) thì do một sự vướng mắc hoặc lôi kéo nào đó mà đã thối lui về đời sống thế tục. Công việc đoạn tận luân hồi, dù được thực hiện ở nơi hẻo lánh đến đâu, cũng dễ bị những nghiệp cũ tác động. Ngay cả khi hai người cùng tu tập, một người cũng có thể bị lôi kéo ra ngoài và trở thành kẻ thù cận kề cho người còn lại. Hãy hết sức cẩn trọng và tỉnh giác.*


## CHƯƠNG — NGÀI THIỀN SƯ LEDI SAYADAW
### (1208 - 1285 PHẬT LỊCH / 1846 - 1923 DL)

Khi viết về lịch sử thực hành Pháp (*Paṭipatti*) tại Myanmar, nếu không đề cập đến Ngài Ledi Sayadaw thì đó không thể là một bản sử liệu hoàn chỉnh. Nếu cách đây hơn một trăm năm, không có sự xuất hiện của "Ledi Sayadaw", thì lịch sử Phật giáo Myanmar ngày nay có lẽ đã không được hưng thịnh như thế này. Sự nghiệp thực hành Pháp của Ngài vô cùng phi thường và đáng kinh ngạc. Khi đọc xong tiểu sử này, ngay cả những người vốn chỉ am tường về giáo lý mặt chữ (*Pariyatti*) cũng sẽ khởi tâm hối tiếc vì đã không thực hành sớm hơn.

### Hạt giống của bậc Thánh Ledi

Bậc tiền thân của Ngài Ledi Sayadaw đản sinh tại làng Saing-pyin-gyi, phía nam thị trấn Di-pe-yin, vào sáng sớm thứ Ba, ngày 13 tháng Chạp (tháng Nat-taw) năm 1208 Phật lịch. Ngài là người con trai đầu lòng quý giá của ông U Tun Tha và bà Daw Kyone. Về sau, gia đình có thêm 5 người con nữa là U Tet Sar, U Tet Pwar (U Kumāra), U Tet Htwar (U Kittī) và cô Daw Ma Lay. Tên thuở nhỏ của Ngài là Maung Tet Khaung. Cái tên này được đặt dựa trên những điềm báo xuất hiện lúc Ngài chào đời.

Vào khoảnh khắc Ngài đản sinh, từ chân cột chính ở đầu giường, một luồng ánh sáng rực rỡ đa sắc như dòng sữa chảy tuôn trào, xuyên thấu qua mái nhà và vút thẳng lên không trung. Cả ngôi nhà chìm ngập trong những vệt sáng lung linh giao thoa. Vì vậy, cậu bé được đặt tên là "Maung Tet Khaung" (nghĩa là "Vươn tới đỉnh cao"). Lúc đó, dù không phải mùa, trời bỗng vang sấm ầm vang và đổ mưa lớn. Tại đống tre buộc sẵn dưới gốc cây me sau nhà, một tiếng nổ lớn vang lên và một cây tre trong bó đó bay thẳng lên trời.

Điều kỳ lạ hơn nữa là khi chuyển dạ, chỉ có một mình người mẹ ở nhà. Trong lúc bà đang lịm đi vì nỗi đau khổ đặc thù của người phụ nữ khi sinh nở (*āveṇika dukkha*), có một vị thiện sĩ mặc y phục trắng tinh khiết đã hiện ra bên cạnh để chăm sóc cho cả mẹ lẫn con. Chỉ đến khi nghe tiếng trẻ con khóc, người thân mới chạy đến thì vị thiện sĩ kia mới biến mất. Đối với những bậc có đại phước đức, những sự kiện khó tin như vậy vốn là chuyện thường tình. Từ nhỏ, cậu bé đã mang những tướng mạo thanh tú, điềm đạm và bộc lộ sự thông tuệ vượt xa lứa tuổi của mình.



### Sự lôi kéo vị Sa-di hoàn tục

Năm 8 tuổi, cậu được gửi đến theo học với Ngài Trưởng lão U Nandadhaja tại chùa Phayauk-pin và xuất gia Sa-di vào năm 15 tuổi. Nhờ trí tuệ nhạy bén bẩm sinh, cậu được ban pháp danh là Shin Ñāṇadhaja. Trong đời sống tu sĩ, vị Sa-di trẻ đã học thông suốt toàn bộ hệ thống kinh điển (*Piṭaka*), nên rất được thầy mình yêu mến và tin cậy. Tuy nhiên, Sa-di Ñāṇa cảm thấy nhàm chán với việc học vì cho rằng mình đã học hết rồi, "không còn gì mới lạ để khám phá nữa". Vì vậy, năm 18 tuổi, cậu quyết định hoàn tục. Thầy tổ và cha mẹ vô cùng luyến tiếc, người cha vì quá đau lòng đã bắt cậu ra đồng làm lúa để cậu tự mình nếm trải nỗi khổ cực của đời trần thế. Nhưng khi thấy cậu Maung Tet Khaung làm việc rất nhanh nhẹn, thạo việc từ đắp bờ đến cày ruộng, người cha không những không giận được mà còn thầm khen ngợi.

Người đã giỏi thì làm việc gì cũng giỏi, kẻ đã kém thì dù việc gì cũng khó thành.

Trưởng lão chùa Phayauk-pin vì không đành lòng mất đi một người đệ tử tài năng, nên đã cùng với Trưởng lão U Dhammasāra ở chùa Myin-tin trong làng bàn bạc. Mỗi khi nghĩ đến diện mạo, trí thông minh và việc Maung Tet Khaung đi làm ruộng, các Ngài lại không khỏi đau xót. Hai vị Trưởng lão bèn gọi cậu thanh niên hoàn tục đến chùa để khuyên nhủ. Maung Tet Khaung nhiều lần từ chối và xin lỗi vì không muốn đắp y trở lại, khiến cả hai vị đều vô cùng trăn trở.

Trưởng lão chùa Myin-tin suy nghĩ một hồi rồi nói:

"Nếu con đã quá chán nản như vậy thì chúng ta cũng không muốn cưỡng ép. Tuy nhiên, với tướng mạo và trí tuệ của con, làm công việc đồng áng này thì thật không xứng. Con vốn là người có thiên hướng học thuật, nếu con học Chiêm tinh học (Vệ-đà) thì chắc chắn sẽ không mất nhiều thời gian để thông thạo đâu. Dùng trí tuệ để mưu sinh thì vẫn tốt hơn. Ở làng Ye-twet có vị bạn của ta là Ngài U Gandhamā, người tinh thông cả Tam Tạng lẫn Chiêm tinh học không ai bằng." Nghe vậy, Maung Tet Khaung — vốn đã nếm trải sự cực nhọc của nghề nông trong suốt một mùa mưa — liền đồng ý học một môn chuyên môn để mưu sinh dễ dàng hơn. Cậu cũng cảm thấy rất hứng thú vì sắp được học điều mới lạ.

Nhận thấy tâm ý của cậu, Trưởng lão chùa Myin-tin đã dùng phương tiện thiện xảo để dẫn dắt cậu trở lại với giáo pháp, giống như cách mà Ngài Trưởng lão Chandavajjī đã dùng để tiếp độ thanh niên **Moggaliputtatissa**:

"Được rồi, có một điều này. Sư U Gandhamā sẽ không truyền dạy kiến thức cho người phàm tục đâu. Nếu con muốn học chiêm tinh, con buộc phải đắp y tu hành. Còn sau này thế nào thì tùy con quyết định."

Bằng những lời phủ dụ, thuyết phục như vậy, ngài đã hoàn toàn thu nhận Maung Tet Khaung vào hàng ngũ tăng già.

Chỉ trong vòng tám tháng, Ngài Ñāṇa đã tinh thông giáo khoa Chiêm tinh một cách xuất sắc. Khi trở về chùa Phayapinn, qua những lời khuyên dạy dần dà của Thầy, Ngài đã từ bỏ ý định hoàn tục sau khi học xong Chiêm tinh. Tuy nhiên, lúc bấy giờ Ngài vẫn chưa thực sự thâm nhập hỷ lạc trong giáo pháp, thường tiêu khiển thời gian qua các bài thơ Chiêm tinh và các thể thơ Ratu. Bài thơ nổi tiếng “Mahos kyay say khann sho laik ratu” mang phong cách cung đình chính là thi phẩm đã giúp Ngài Ñāṇa “níu giữ” thời gian trong nếp sống xuất gia. Cuối cùng, vào ngày mồng 7 tháng Kasone năm 1228 (Miến lịch), Ngài Ñāṇa đã chính thức thọ cụ túc giới.

### Danh tiếng trong việc học và dạy Pháp

Khi vừa trở thành Tỳ-kheo, Ngài **U Ñāṇadhaja** đã quyết tâm lên Mandalay để tầm học giáo pháp, nhưng năm đó xảy ra cuộc biến động Myingun nên Ngài phải nhập hạ tại địa phương. Trong thời gian này, Ngài có cơ duyên nghiên cứu các bộ sớ giải Nissaya bằng tiếng Miến từ năm chiếc tủ lớn tại chùa và các bản thủ bản (lá buông) từ các chùa lân cận. Đến ngày mồng 5 tháng Nayon năm 1229, sau khi xin phép cha mẹ và bổn sư, Ngài lên đường đến kinh đô Mandalay để học đạo.

Với hai xấp lá buông buộc vào gậy, một bộ y dư và đôi bát trên vai, Ngài đi bộ vượt qua những chặng đường dài. Từ Alon Monywa đến Chaung-U, rồi vượt qua dãy núi Nwaykhway, Ngài đi bộ đến núi Sagaing. Ngài hoàn toàn không giữ tiền bạc (Nawakamma). Từ Sagaing đến Mandalay, Ngài phải đi nhờ thuyền.

So với các học tăng ngày nay, điều kiện thật khác biệt biết bao. Chính vì sự học khó khăn như thế nên thành quả đạt được vô cùng xứng đáng và sâu sắc. Suốt thời gian sau đó, Ngài đã hoằng dương giáo pháp một cách rộng rãi.

Tại kinh đô Mandalay với hơn bốn trăm tu viện, Ngài đã đến tu viện Mingala San (thường gọi là **Mahā Jodikārāma**) ở phía Bắc thành đúng vào dịp an cư năm đó. Phải trải qua kỳ khảo hạch tụng thuộc lòng **Dve Mātika** mới được phép lưu trú. Ngài được sắp xếp ở tại chùa Khayepin. Tại đây, vì vị trí ở gần đài nước – nơi tăng chúng thường xuyên qua lại – nên chỗ ở luôn ẩm ướt, Ngài phải luôn giữ tâm nhẫn nại. Nhận thấy pháp danh của Ngài quá “cao sang”, Ngài Hòa thượng trụ trì đã đổi lại thành “**Ñāṇābhivaṃsa**”. Ngài Hòa thượng tu viện trưởng San Kyaung bảo Ngài hãy học các lớp giảng giải (Laik-wa) với mình, và gửi Ngài đến học các lớp phân tích (So-wa) với đệ tử đắc lực của mình là Ngài U Paṇḍicca thành Salin.


Sự nghiệp của Ngài **U Ñāṇa** thăng hoa đúng vào thời điểm diễn ra kỳ Kết tập Tam tạng lần thứ năm. Tại triều đình, trước sự chứng kiến của vua chúa, hoàng hậu và tứ chúng, Ngài đã một mình trùng tuyên thuộc lòng bộ **Kathāvatthu** thuộc Tạng Diệu Pháp (Abhidhamma). Kể từ đó, danh tiếng của Ngài bắt đầu lan xa. Năm 1239 (tương đương hạ lạp thứ 10), Ngài không còn là học tăng nữa mà trở thành một vị giảng sư trẻ (Cā-khya Sayadaw). Các vị giảng sư bấy giờ được nhà vua cúng dường gạo theo ba cấp bậc: hạng nhất 5 thúng, hạng nhì 4 thúng và hạng ba 3 thúng. Ngài **U Ñāṇa** không dừng lại ở bậc giảng sư hạng nhì hay hạng ba mà đã thăng tiến vượt bậc lên hàng Giảng sư bậc nhất (Pathama Cā-taw-khya).

### Quan điểm của Ngài U Ñāṇa về Phạn ngữ (Sanskrit)

Khi mới bắt đầu sự nghiệp giảng sư, Ngài **U Ñāṇa** từng khởi tâm: “Nếu mình thông thạo Phạn ngữ như các vị đại thần Yaw Min Gyi thì thật tốt,” nên đã tìm tòi thu thập các sách Phạn văn. Đặt những cuốn sách đó ở đầu giường và suy ngẫm, Ngài chợt nhận ra:

“Hừm... Phạn ngữ vốn là ngôn ngữ của Bà-la-môn. Đọc những sách này chỉ thấy nói về thế gian và học thuyết Ngã (Attavāda). Trong vô số kiếp luân hồi, mình đã từng làm đệ tử Bà-la-môn và học Phạn ngữ quá nhiều rồi. Chính vì chấp nhận thuyết Ngã mà phải trôi lăn mãi trong vòng sinh tử. Kiếp này nhờ phước duyên may mắn được học kinh điển Vô ngã (Anattavāda), trở thành đệ tử Phật, thì việc ở trong giáo pháp và tuân thủ, rèn luyện theo đúng lời dạy của Ngài mới là điều chân chánh nhất.” Với quyết tâm sắt đá, Ngài đã hạ quyết định dứt khoát và đem vứt bỏ tất cả số sách Phạn ngữ ấy.

(Dựa trên việc Ngài từng bảo Ledi Paṇḍita học Phạn ngữ sau này, có người có thể cho rằng lời nói này chỉ là cái cớ để che giấu việc Ngài không biết Phạn ngữ. Nhưng không phải vậy. Nếu Ngài muốn học, chỉ trong vài tháng là Ngài có thể tinh thông. Ngài vốn hiểu rõ căn tánh và sở thích của Ledi Paṇḍita).

Những dự định và hành động của bậc đại đức đầy phước báu – người sẽ đội vương miện của thành tựu tâm linh – thì kẻ phàm phu khó lòng thấu hiểu được. Giữa văn học Phạn ngữ và văn học Pāḷi/Phật giáo tuy có vẻ có một chút tương đồng bề mặt về mặt học thuật, nhưng thực chất là hai con đường hoàn toàn trái ngược nhau. Nếu không chỉ nhìn vào kiến thức bề ngoài mà quán chiếu sâu vào cốt tủy bên trong, ta sẽ thấy sự khác biệt này liên quan đến cả hành trình luân hồi. Do đó, quyết định của Ngài **U Ñāṇa** đối với Phạn ngữ chỉ có thể giải thích rằng: “Vì đó là tiền thân của Ngài Ledi – bậc sẽ hoằng pháp cho toàn thế giới.”


Trong thời gian giảng dạy, với ý định viết một bản sớ giải mới cho Thắng Pháp Tập Yếu (Abhidhammatthasaṅgaha) để thay thế cho bộ “**Ṭīkā-kyaw**” (Sớ giải cũ) và soạn một bộ sách ngữ pháp, Ngài đã bắt đầu ghi chép các tài liệu trong khi dạy học. Ngài thường xuyên nghiên cứu các bản thủ bản lá buông từ tạng thư đình. Trong một lần ghé thăm tu viện Thit-seint, khi đang tìm tòi trong mớ sách vở cũ, Ngài đã tìm thấy bản thảo bộ **Padarūpasiddhi** về ngữ pháp. Cảm thấy vô cùng tâm đắc, Ngài đã thử nghiệm đưa bộ này vào giảng dạy thay cho bộ ngữ pháp Kaccāyana truyền thống. Nhờ phương pháp giúp học viên dễ nắm bắt ngữ pháp này mà cho đến ngày nay, hậu thế vẫn còn thọ nhận ân đức của Ngài. Thuở ban đầu, Ngài còn phải dùng cả dù, giày và y phục để khuyến khích học tăng đến học. Những lúc rảnh rỗi, Ngài thường thảo luận về cách viết văn và tìm tòi phương pháp mới với các học giả như Yaw Atwin Wun U Po Hlaing và nhà trí thức hoàn tục U Phar.

Với kiến thức uyên thâm và niềm đam mê viết lách, vào hạ lạp thứ 14, khi trí tuệ bắt đầu tỏa sáng, một cơ duyên viết sách đã đến với Ngài. Chuyện là Ngài Hòa thượng trụ trì tu viện San Kyaung đã soạn hai mươi câu hỏi hóc búa về Mười pháp Ba-la-mật bằng tiếng Pāḷi và thông báo: “Chỉ những bậc trí giả mới giải được.” Ngài **U Ñāṇa** nghĩ rằng: “Những câu hỏi này chính là dành cho mình,” nên với đầy đủ các trích dẫn và bằng chứng từ kinh điển, Ngài đã hân hoan viết nên tác phẩm đầu tay mang tên “Lời giải Ba-la-mật”.

Sau khi hoàn thành, Ngài mang đến trình cho thầy dạy trực tiếp của mình là Hòa thượng U Paṇḍicca thành Salin. Vị Thầy đã phải búng tay tán thưởng: “Con học từ khi nào mà có thể viết được những ý nghĩa sâu sắc và xuất sắc đến thế này?” Sau đó, tác phẩm “**Pāramī Dīpanī**” (Ba-la-mật Minh giải) đã được chép lên lá buông, kẻ lề vàng trang trọng để Ngài mang đến kính dâng lên vị ra đề là Hòa thượng tu viện trưởng San Kyaung. Nhưng khi đến nơi, mọi chuyện lại không như Ngài mong đợi.

“Văn chương của ông thì có ích gì? Ta hỏi không phải dành cho hạng người như ông, mà là dành cho các bậc Hòa thượng danh tiếng lẫy lừng khắp bốn phương cơ. Cái đề bài này mà tầm cỡ của ông dám chạm tới sao?” Hòa thượng trụ trì đã mắng nhiếc phủ đầu khiến Ngài **U Ñāṇa** vô cùng bàng hoàng và mất mặt.

Mặc dù xấp lá buông **Pāramī Dīpanī** bị quăng ném tung tóe, Ngài **U Ñāṇa** vẫn không thốt ra một lời nào, chỉ im lặng đảnh lễ rồi ra về. Kể từ đó, Ngài không bao giờ nhìn lại tác phẩm ấy nữa và để nó dần vào quên lãng. May mắn thay, một vị đệ tử của Ngài U Nāga – một người bạn cùng tu biết rõ giá trị của nó – đã trân trọng cất giữ. (Chỉ sau khi tu viện Ledi được thành lập, tác phẩm ấy mới được trả về). Đó chính là thử thách đầu đời dành cho bậc xuất chúng – người sau này sẽ đánh thức và thúc đẩy phong trào thực hành thiền định (Paṭipatti) tại Myanmar. Không rõ ý định thực sự của vị Hòa thượng trụ trì là gì, nhưng đối với Ngài **U Ñāṇa**, lúc bấy giờ Ngài đã phải chịu một cú sốc tinh thần không nhỏ.

Việc Ngài **U Ñāṇa** bị chỉ trích như vậy thông thường dễ khiến người ta nghĩ là chuyện bình thường ở đời, hoặc cũng có thể coi đó là một cách "vừa đập vừa xoa" để khích tướng, kích thích lòng tự trọng. 


Tuy nhiên, dường như không hẳn chỉ có vậy. Các nhân duyên vốn dĩ kỳ diệu. Một công trình được thực hiện với tất cả sự trân trọng, vừa mới bước chân vào thế giới của các bậc trí tuệ, ánh sáng tuệ giác vừa mới lóe rạng, thì lại gặp phải sự chỉ trích gay gắt nhất từ bậc tối cao nhất trong giáo hội. Vì vậy, thật khó để thấu hiểu. Ngài **U Ñāṇa** (U Nya Na) chính là bậc anh kiệt sẽ đắc chứng đặc biệt pháp ngay trong kiếp này và hoằng pháp khắp thế giới. Những bậc có nhãn quan đều nhìn thấy rõ điều đó.

Phải chăng vì sợ rằng ngài sẽ chìm đắm cả đời trong công việc viết lách? Hay sợ rằng khi viết những tác phẩm như “**Pāramī Dīpanī**” (Minh giải Ba-la-mật), “**Uttamapurisa Dīpanī**” (Minh giải bậc Thượng nhân), và bản thân thường xuyên thực hành như các vị Bồ-tát, ngài sẽ khởi tâm Bồ-tát rồi phát nguyện thành Phật mà làm chậm trễ thời gian (đắc quả)? Hay đây là đòn phủ đầu làm thối chí một bậc vô ngã anh kiệt để xem ngài xuất chúng đến mức nào? Thật khó nói. Pháp tánh vốn thâm sâu. Sự việc ấy, dù xấu hay tốt, đối với bậc có thiện nghiệp Ba-la-mật thì đều trở thành tốt, và chắc chắn sẽ càng tốt hơn nữa.

Vào năm 1244 (Phật lịch/Miến lịch), đã xảy ra những nhân duyên khiến ngài **U Ñāṇa** phải rời khỏi kinh đô Mandalay. Lý do là vua Thibaw lên ngôi được bốn năm, nội tình cung đình và quốc sự đang bất ổn. Trong thời gian đó, một trận hỏa hoạn bắt đầu từ khu vực Āṇācuittan đã thiêu rụi cả tòa án, nhà cửa của các quan thượng thư, đại thần. Tu viện San-kyaung (Sàn-kyောင်း) vĩ đại với 46 dãy nhà cũng hoàn toàn trở thành tro bụi. Chư Tăng và các vị trưởng lão cũng lần lượt dời về quê quán của mình. Vị thầy dạy pháp của ngài **U Ñāṇa** là ngài **U Paṇḍicca** (U Pan-đít-xa) cũng đưa các đệ tử xuống thuyền xuôi dòng về thành phố Salin. (Sau này khi Ngài **Ledi Sayadaw** khoảng 30 hạ lạp, chính Ngài đã tự tay khiêng linh cữu và làm lễ hỏa táng khi ngài **U Paṇḍicca** viên tịch).

Điều mà ngài **U Ñāṇa** tiếc nuối nhất là toàn bộ các bản ghi chép kinh điển (Parabaik) từ năm bộ Nikaya mà ngài đã tích lũy trong suốt mười sáu hạ lạp đều đã bị hỏa hoạn thiêu rụi. Dự định lớn lao về việc viết các bộ đại chú giải về Ngữ pháp và Vi diệu pháp cũng theo đó mà tan biến. Tuy nhiên, Ba-la-mật của ngài **U Ñāṇa** thì lửa không thể nào thiêu rụi được.

### Trở về Monywa và vào rừng ẩn tu

Trong thời gian đó, vị trụ trì tu viện Pyathat (Pyat-thát) ở phía đông chùa Shwezigon, thành phố Monywa là ngài **U Ñāṇavaṃsa** (**U San Chein**) đã đến Mandalay để thỉnh bậc thầy của mình là ngài **U Ñāṇadhaja** (U Nya-na-đa-za). Ngài **U Ñāṇa** cũng đảnh lễ vị trưởng lão tu viện San-kyaung, rồi cùng với hơn mười vị Tăng đệ tử, vào ngày 14 tháng Giêng (Tabodwe) năm đó, đã nghẹn ngào từ biệt tu viện San-kyaung giờ chỉ còn là đống tro tàn.


Trong suốt 16 năm học đạo và giảng dạy, ngài chưa từng một lần trở về quê hương. Suốt 16 năm ấy, những công hạnh Ba-la-mật như gánh nước nhà vệ sinh, rửa sạch các dụng cụ, chuẩn bị nước rửa mặt, nước rửa chân, nước uống, nước dùng cho chư Tăng tại tu viện San-kyaung chính là món quà lớn lao mà ngài không bao giờ quên trong suốt cuộc đời.

Ngài tạm trú tại tu viện Pyathat do ngài **U Ñāṇavaṃsa** dâng cúng, sau đó trở về làng Saing-pyin để gặp gỡ thầy tổ và cha mẹ, họ hàng. Sau vài ngày, ngài quay lại thành phố Monywa. Vì đã quá chán ngán việc sống tại các ngôi chùa trong làng, ngài chọn một bìa rừng cách thành phố Monywa năm trăm tầm (ta) về phía Bắc, dựng một túp lều tre nhỏ để nhập hạ vào năm 1245.

Sau khi mãn hạ, ông **U Waing**, một thương nhân giỏi về Vi diệu pháp (Abhidhamma) từ khu Nyaung-ta-pin, đã xây dựng một ngôi chùa ở phía nam khu Hle-ku và thỉnh ngài về trú ngụ. Bốn mươi vị tăng sinh cũng theo sát bước chân ngài không rời. Ngài dành toàn bộ thời gian cho việc giảng dạy giáo pháp Pariyatti và viết sách. Phụ thân của ngài là cụ ông **U Tun Tha** cũng đến ở cùng với tư cách là một cư sĩ giữ giới (thì-tín).

Năm 1247 là năm mà cả đất nước Myanmar lâm vào cảnh loạn lạc, mất chủ quyền, khắp nơi bất ổn. Giữa lúc ấy, phụ thân ngài đột ngột qua đời. Ước nguyện xuất thế (vào rừng tu) càng trở nên mãnh liệt trong ngài. Dù đi đến đâu, để chư Tăng có thể an tâm hành trì Phật sự, ngài vẫn duy trì các công việc như dọn dẹp vệ sinh, quét dọn, gánh nước. Tại sân chùa Shwezigon và chùa Sutaung-pyei, ngài hàng ngày vẫn thực hiện việc lấp các hố sâu, quét dọn sân chùa, không để công hạnh hộ trì tự viện (cetiyangaṇa-vatta) bị khiếm khuyết.

Khi thực dân Anh cai trị, theo phong tục phương Tây, họ mở các lò mổ tại các thành phố lớn và công khai giết mổ. Ngài **U Ñāṇa**, giữa lúc bận rộn với việc thuyết pháp, giảng kinh và các thời khóa miên mật, đã bắt đầu vận động "Phong trào tránh ăn thịt bò", bắt đầu từ các vị Tăng trẻ trong tu viện. Ngài đã viết các bức thư "**Nwa Metta Sa**" (Thư tâm từ về loài bò) để kêu gọi khắp toàn quốc.

Ngày 8 tháng Giêng nhuận (Tabodwe) năm 1248. Tâm nguyện mà ngài **U Ñāṇa** đã ấp ủ và nỗ lực trong nhiều năm cuối cùng đã trở thành hiện thực vào ngày hôm nay. Chiều tối hôm đó, ngài nói với ba bốn vị cư sĩ giữ giới rằng mình đi dạo, rồi đi bộ về phía bìa rừng đông bắc thành phố Monywa. Khu rừng đó vốn là vùng đất hoang sơ không canh tác được (phún-số-to). Chỉ có các loại cây gai như táo rừng, thol-tì, zi, khan, tha-naung, ta-zaung mọc trên mảnh đất khô cằn.


Nơi đây đầy rẫy các loại cây gai như lưỡi cọp và rắn độc. Người ta gọi đó là **rừng Ledi** (Ledi-taw). Ở phía đông nam rừng Ledi là **rừng Oh-ta-long**, nơi bậc xuất thế đạo sư **U Vāyaminda** (U Wa-ya-minda) từng sinh sống.

Ngài **U Ñāṇa** đi dạo quanh vòng rừng Ledi, nhận thấy đây là nơi thích hợp để độc cư nên đã đưa ra quyết định ẩn tu tại đây. Dưới gốc một cây xương rồng (ta-zaung) lớn cành lá sum suê, ngài bảo các cư sĩ đi cùng dọn dẹp sạch sẽ phần gốc rồi ngồi nghỉ mệt...

“Này các con... các con hãy về đi, hôm nay ta đến đây không chỉ để đi dạo. Đây là lúc ta xuất thế vào rừng. Hãy về báo lại cho thí chủ ngôi chùa và các vị sư trẻ biết,” ngài phán lời như vậy khiến các vị cư sĩ đều sửng sốt.

“Bạch ngài, khu rừng này là nơi thường xảy ra án mạng, nơi giết mổ bò, lại đầy rẫy ma quỷ và thú dữ, rừng rậm đến mức không ai dám canh tác. Việc ngài ở lại đây một mình là không nên, bạch ngài,” các cư sĩ thưa thỉnh.

“Được rồi, không sao đâu, ta đã có vũ khí của mình. Trời sắp tối rồi, các con hãy về đi,” mặc dù ngài xua tay bảo về nhưng các vị cư sĩ vẫn không nỡ rời xa. Sau khi ngài giảng giải rằng ngài phải nỗ lực bao nhiêu năm mới có thể vào rừng tu được và không nên ngăn cản, ngài phán thêm:

“Này các con... trong thời buổi loạn lạc này, đừng có tham đắm vào tự thân quá nhiều, đây là lúc cần phải nỗ lực thực hành pháp. Chỉ cần ăn để không chết là đủ rồi. Hãy cố gắng giữ gìn giới hạnh như ngày hôm nay. Thật ra, nếu giới hạnh được thanh tịnh thì mọi mong cầu đều sẽ thành tựu. Đức Phật trực tiếp dạy rằng: nếu chư Tăng muốn có đủ bốn món vật dụng, nếu người đời muốn có tài lộc sung túc thì hãy vun bồi chính giới hạnh này. Không chỉ vậy, từ việc ngăn ngừa hiểm nguy cho đến việc đưa tới Niết-bàn, tất cả đều nhờ vào giới. Trong bộ **Cariyāpiṭaka** (Hạnh tạng) có giải thích rằng: giới hạnh còn có khả năng mang lại điều mong cầu hơn cả ngọc Cửu minh và cây Như ý (padesā). Vì vậy, nếu biết được lợi ích thì chút khổ cực này có đáng là bao đâu so với những thành quả nhận được. Đây là cây Như ý của cuộc đời đấy, các con hãy cố gắng lên. Thôi... đi đi, về đi.” Các cư sĩ giữ giới chỉ biết thở dài rồi ra về.

### Tấm gương cho các bậc tu rừng

Ngài **U Ñāṇa** trải tấm da thú dưới gốc cây xương rồng, một mình tĩnh tại với niềm hỷ lạc tràn đầy. Mặt trời cũng đã khuất bóng.

Vì đang là tháng Tabodwe (khoảng tháng Giêng, tháng Hai Dương lịch), gió chướng phương Bắc thổi về mang theo những làn sương mù và hạt tuyết lẩn khuất, nên hễ mặt trời vừa lặn là cái lạnh bắt đầu bủa vây. Sayadaw U Nyana ngoài ba tấm y cà sa ra thì không có gì khác để chống chọi với giá rét. Ngài cũng chẳng có một am thất che mưa nắng. Thế nhưng, chính niềm hỷ lạc trong Chánh pháp (pháp pīti) đã giúp ngài chế ngự được sự khắc nghiệt của thời tiết.


Ngay khi mặt trời lặn, Ngài cử hành khóa lễ bái Tam Bảo, tụng kinh Paritta, hồi hướng công đức và trải tâm từ. Đêm càng về khuya, thỉnh thoảng Ngài nghe thấy những âm thanh mơ hồ đến dựng tóc gáy và ngửi thấy những mùi hôi thối nồng nặc. Khi đó, Ngài hướng tâm đến chư Thiên giữ rừng, chư Thiên giữ núi và kết thân (mettā) với các hàng phi nhân (amanussa) như dạ-xoa, ngạ quỷ.

Đầu tiên, Ngài hướng mặt về phương Đông và tuyên cáo:

“Này các hàng dạ-xoa, ngạ quỷ ở phương Đông, ta đến khu rừng này để phụng sự giáo pháp và lợi lạc cho chúng sinh với tâm thế như cha mẹ, như thân quyến của các ngươi. Các ngươi cũng hãy xem ta như cha mẹ, như thân quyến mà đừng gây bất kỳ sự nhiễu loạn nào, hãy chung sống trong thanh bình.” Ngài lần lượt thực hiện việc kết thân và ban lời tuyên cáo tương tự cho ba phương còn lại. Sau khi kết thân, Ngài miên mật tu tập tâm từ và thiền quán. Kể từ đó, mọi nỗi sợ hãi và kinh hoàng hoàn toàn biến mất.

Sáng hôm sau khi trời vừa rạng diện, ông hộ pháp **U Waing** cùng vài nam cư sĩ tìm đến. Ngài **Nāṇa** vẫn đang ngồi an nhiên tự tại dưới gốc cây đại thụ Tazaung. Ông **U Waing** tha thiết thỉnh cầu Ngài trở về chùa cũ:

“Khu rừng này quá hung dữ và nguy hiểm, bạch Ngài, Ngài nên đi cùng với các vị Sư khác thì tốt hơn.”

Ngài đáp: “Này Maung Waing, nơi này không dữ bằng khu rừng Hlay-ku (ở Monywa) của các con đâu. Dù nơi đây có dữ đến đâu, nếu ta biết lắng nghe lời dạy của Đức Phật thì sẽ không có kẻ thù nào cả, cũng chẳng cần bạn đồng hành. Vũ khí tốt nhất của một vị tỳ-khèo ở rừng là giữ gìn giới hạnh trang nghiêm và tu tập tâm từ; khi đó, việc ăn ở hay hiểm nguy đều không còn đáng ngại.

Trong kinh **Saṃyutta Nikāya** (Tương Ưng Bộ), Đức Thế Tôn đã ví người tu tập tâm từ giống như một ngọn giáo hai lưỡi cực kỳ sắc bén. Kẻ nào muốn bẻ gãy, uốn cong hay cuộn lấy ngọn giáo ấy thì chỉ làm cho chính mình bị thương. Vì vậy, không một hàng phi nhân nào dám đụng đến người đang an trú trong tâm từ. Chúng biết rõ rằng nếu xúc phạm, chính chúng sẽ chuốc lấy khổ đau. Việc làm cho tâm trí người ấy rối loạn là điều không thể. Theo kinh **“Satti Sutta”** (Kinh Ngọn Giáo), tâm từ không chỉ là lá chắn mà còn là một loại vũ khí phản công dũng mãnh. 11 lợi ích của tâm từ không chỉ để thuyết giảng cho hay, nếu thực sự tin tưởng và thực hành thì không một loài ma quỷ, vũ khí hay chất độc nào có thể làm hại được.”


“Này Maung Waing, thay vì chỉ phân tích các pháp (Abhidhamma) trên bàn luận, trong thời buổi loạn lạc này, con nên tự phân tích ngay trong chính thân tâm mình. Thôi, đã đến giờ đi bát, các con hãy về đi. Năm ngoái đã thỉnh, đã cúng dường một lần rồi. Nếu giờ lại theo về thì vị sư này sẽ trở thành gánh nặng mất.” Nói đoạn, Ngài khéo léo từ chối và bảo họ về. Ông **U Waing** cùng các cư sĩ đành rút lui, nhưng họ đã lên kế hoạch xây dựng ngay trong ngày một am thất nhỏ để Ngài cư ngụ.

### Hai mươi năm không gián đoạn phận sự với tăng đoàn

Rừng Ledi thời bấy giờ nổi tiếng là nơi có nhiều hiện tượng kỳ bí và đáng sợ, nên chính Ngài **Nāṇadhaja** (Trưởng lão **Ledi Sayadaw**) thỉnh thoảng vẫn thực hiện nghi thức “cúng thí trong rừng”. Sau này, người ta vẫn truyền tai nhau rằng khi chó hú vào ban đêm là lúc các hàng phi nhân đang đòi ăn, nên người ta thường đem thức ăn và các món mặn đựng trong lá chuối sạch ra cúng lúc hoàng hôn. Họ tin rằng phi nhân sẽ nhập vào một con chó nào đó để thọ hưởng vật thực.

Các vị tăng trẻ ở Hlay-ku vì nặng lòng kính trọng thầy và muốn cầu học giáo pháp, nên mặc cho rừng thiêng nước độc, họ vẫn tìm đến nương tựa Ngài từ ba đến bốn vị. Các thí chủ cũng dần dần xây dựng những ngôi chùa lớn, tịnh xá lớn cúng dường. Từ đó, chùa Ledi trở thành một đại tu viện tự bao giờ không hay, và Ngài lại một lần nữa bị ràng buộc vào gông cùm của **Ganthadhura** (Pháp học). Số lượng tăng chúng bấy giờ đã lên đến gần một trăm vị.

**Ledi Sayadaw** là bậc xuất trần trong việc thực hành các phận sự (**Vatta-paṭipatta**) đối với Tam Bảo. Khi sống cùng tăng đoàn, Ngài không chỉ dạy học, viết sách và thuyết pháp. Ngài còn tự mình đi khất thực khắp thành phố để nuôi dưỡng tăng chúng, quét dọn, gánh nước, thậm chí rửa cả bát đĩa sau khi chư tăng thọ thực xong – đó là những hành động thực sự phi thường.

Cứ 4 giờ sáng, Ngài đã gánh nước từ giếng đổ đầy các lu hũ và dọn dẹp khu vệ sinh. Khi các vị tăng trẻ biết chuyện, họ không dám dùng nước đó để tắm rửa hay súc miệng, Ngài lại phải từ tốn an ủi: “Cứ dùng đi, không sao cả.” Không chỉ thực hiện phận sự trong nội viện, Ngài còn đến các ngôi chùa lớn trong thành phố Monywa, nơi có các vị đại Trưởng lão và đông đảo tăng chúng cư ngụ để đổ đầy nước vệ sinh, rửa tăm xỉa răng, gánh nước và quét dọn trước khi đi khất thực.

Nhiều vị trụ trì vì cảm thấy ái ngại nên đã can ngăn:


“Bạch Ngài Ledi, xin Ngài đừng làm thế nữa, như vậy là quá đủ rồi.”
Ngài khiêm cung thưa lại: “Nếu các Ngài có lòng thương tưởng con, xin hãy cho phép con thực hiện. Suốt vòng luân hồi, đôi tay và đôi chân này đã từng làm nô lệ cho vợ con, nô lệ cho dục vọng. Nay xin hãy để con được làm nô lệ cho Tăng đoàn, nô lệ cho Giáo pháp.” Và Ngài vẫn bền bỉ thực hiện những phận sự ấy. Ngài đã trì giữ **Cetiyangana-vatta** (phận sự tại bảo tháp) và **Sangha-vatta** (phận sự với Tăng đoàn) một cách tinh tấn suốt ròng rã hai mươi năm. Đó quả là nghị lực phi thường của một bậc Đại Bồ-tát (Alaug-daw-gyi).

Để thực hiện những việc này, mỗi ngày Ngài đều mang theo chổi, hũ nước cùng với bình bát khi đi khất thực. Ngài thường tự răn mình: “Phải bắt cái xác thân đi mượn này làm việc cho xứng đáng mới được!” Ngài luôn nhắc nhở rằng: Chỉ khi hoàn tất các phận sự (**Cariya**) thì mới có được **Sīla** (Giới), **Samādhi** (Định), **Paññā** (Tuệ); có hành trì (**Caraṇa**) thì mới đạt đến **Vijjā** (Minh). Phận sự (**Caraṇa**) chính là chân tay và đôi cánh trên con đường đi đến Niết-bàn. Nếu chỉ có mắt nhìn (**Vijjā**) mà không có tay chân (**Caraṇa**) thì không thể đi đến đích hay đạt được kết quả gì.

Có một lần, trong chùa Ledi có một vị tỳ-khèo mắc bệnh truyền nhiễm (dịch tả), một số vị tăng khác đã lánh đi nơi khác, số còn lại không ai dám đến gần. Khi Ngài biết chuyện, Ngài bảo: “Những vị Sa-di, Tỳ-khèo nào sợ hãi thì cứ việc đi. Vị tỳ-khèo lâm bệnh này để ta chăm sóc.” Nói rồi, Ngài tự tay đem những tấm y bám đầy uế khí ra giếng để giặt giũ. Mùi hôi thối của bệnh dịch rất nồng nặc, và mặc dù Ngài đã từng chăm sóc người bệnh từ thời còn là tăng sinh, nhưng lúc ấy tâm nhàm chán và ghê tởm vẫn khởi lên.

Ngay lúc đó, Ngài tự quở trách tâm mình: “Hỡi cái tâm hèn mọn, nhà ngươi định lừa dối ta sao!” Ngài liền lấy những uế khí bám trên chăn y bôi khắp cơ thể mình như một cách để thử thách và trui rèn ý chí. Sau hành động quyết liệt đó, tâm ghê tởm hoàn toàn tan biến. Ngay chính Đức Thế Tôn khi xưa cũng từng tự tay chăm sóc và tắm rửa cho các vị tỳ-khèo lâm bệnh.

Trong kinh **Vinaya Mahāvagga** (Luật Tạng, Đại Phẩm - Vi 3, 417), Đức Phật đã tán thán: “Người nào chăm sóc cho tỳ-khèo bệnh, người ấy cũng như đang chăm sóc cho chính Ta vậy.” Đây quả là một hạnh nguyện mà người bình thường khó lòng thực hiện được.

### Quyết định về vấn đề thịt bò

Ngài cực kỳ ghê tởm việc uống rượu, cờ bạc và chơi xổ số. Đúng như lời Đức Thế Tôn dạy trong kinh **Parābhava Sutta** (Kinh Bại Vong): “Đắm chìm trong phụ nữ, rượu chè và cờ bạc là con đường dẫn đến sự bại vong”, Ngài đã viết nhiều bức thư tâm từ để giáo huấn dân chúng. Ngài cũng đặt ưu tiên hàng đầu cho việc kêu gọi không ăn thịt bò.


Dựa trên kinh điển Sutta Nipāta [Kinh Tập], ngài cũng chỉ ra lịch sử từ thời sơ khai của địa cầu về việc con người bắt đầu giết mổ và ăn thịt trâu bò — vốn được xem như cha mẹ — dẫn đến sự xuất hiện của nhiều loại bệnh tật. Ngài cũng đã nhiều lần in ấn và phổ biến các tác phẩm như “Nwa Metta Sa” (Thư tâm từ gửi loài bò) và “Gonamaṃsa Dīpanī” (Minh sát về thịt bò). Khắp cả nước, hàng ngàn người đã phát nguyện từ bỏ việc ăn thịt trâu bò. Tuy nhiên, cũng không thiếu những kẻ viết lách, thuyết giảng chống đối, cho rằng "phải ăn thịt bò". **U Paduma ở Pathein**, người từng tìm cách đối địch với ngài Mānlai Sayādaw, chính là thủ lĩnh của phe đối lập này. Khi ngài Sayādaw đến thành phố Pathein để thuyết giảng, các đệ tử của **U Paduma** đã tìm đến và thưa rằng:

“Nếu ngài nhận sự cúng dường thịt bò, điều đó cũng đồng nghĩa với việc ngài cho phép ăn thịt các chúng sinh khác. Như vậy, tâm từ của ngài Sayādaw có công bằng hay không?”

Ngài liền đáp: “À... đúng vậy các con ạ. Như các con đã biết, ta vừa phải viết sách, vừa dạy học, lại phải đi khắp nơi để giúp ngăn chặn các đại dịch và thuyết pháp; giữa bao nhiêu việc như thế, ta chỉ đủ sức cứu lấy một con bò nhỏ mà thôi. Còn về phần dê, heo, gà... thì vẫn còn các bậc thầy của các con lo liệu đó thôi, các con cứ thưa với họ, như thế cũng tốt mà.” Ngài biết rõ đây chính là luận điệu của **U Paduma**.

Có một lần, ngài Sayādaw thuyết pháp ban đêm tại chợ Thurè ở phía bắc Mandalay, dân chúng đi xe bò đến nghe rất đông. Một người đánh xe bò đứng ở phía ngoài rìa hội chúng nói giọng thiếu hiểu biết: “Ăn thịt bò thì có sao đâu. Chính Đức Phật còn không cấm, sao ngài Ledi Sayādaw lại bày ra pháp lạ lùng này để giảng chứ?” Ngay lập tức, con bò của chính anh ta đang nằm nghỉ bên cạnh bỗng dưng lồng lên húc, làm anh ta gãy xương sườn phải đưa đi bệnh viện. Đây không phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên. Chư thiên luôn hộ trì giáo pháp. Bản thân con bò đã tự mình phán quyết về "pháp của loài bò".

### Thực hành Thiền định và Soạn thảo Kinh điển

Giữa những công việc vô cùng băn khoăn mà người bình thường không dám nghĩ tới như giữ gìn giới luật tinh nghiêm (caraṇa vatta), trách nhiệm về pháp học (pariyatti) và thuyết giảng, ngài Sayādaw vẫn miệt mài nỗ lực soạn thảo kinh điển. Cho đến nay, số lượng tác phẩm bao gồm các bộ Dīpanī đã lên tới 101 tập. Phần lớn các bản thảo đều được viết vào ban đêm dưới ánh nến và đèn dầu. Tinh thần tinh tấn và đức tin của ngài thật đáng để chúng ta noi theo. Vị Tỳ-kheo U Revata là người trợ giúp ngài trong việc viết lách. Sư phải gọt sẵn một hai trăm cây bút chì và cắt giấy xếp thành từng xấp. Những gì ngài viết vào ban đêm, Sư Revata sẽ sao chép lại thành bản sạch vào sáng hôm sau.


Một đêm nọ, khi đang viết dở đến khoảng hai giờ sáng thì hết dầu hỏa nên phải dừng lại. Sáng ra, ngài gọi người hộ thọ (kappiya) đến và bảo:

“Cách làm của các con cứ như cái đèn leo lét trong nhà góa phụ, làm việc mà cứ như trẻ con chơi đồ hàng vậy. Hãy đi tìm thợ thiếc, làm cho ta một cái đèn dầu bằng thùng thiếc lớn, kích thước bốn cạnh, bấc đèn phải dùng được một hai tháng. Đổ đầy dầu hỏa rồi đặt ở đầu giường của ta, như vậy thì sẽ không còn trở ngại gì nữa.” Ngài đã chỉ bảo như thế và họ đã làm theo. Đến khi ngài tuổi cao sức yếu, đôi mắt bị bệnh cũng là điều dễ hiểu.

Khi viết sách, ngài không cần tra cứu kinh điển, cũng không để sách bên cạnh; bởi kiến thức đã được ngài nghiên cứu nằm lòng đến mức không cần xem lại. Chỉ riêng với trí tuệ về Pháp học (Pariyatti) thôi đã viết không xuể, đằng này ngài lại còn chuyên tâm vào Pháp hành (Paṭipatti), khiến cho tuệ giác của ngài càng thêm tỏa sáng rực rỡ.

Ngài thường dạy rằng: “Nếu ta ngồi viết bên cạnh tủ sách, thì những lời trích dẫn Pāḷi sẽ mang âm hưởng của thư viện, của tủ sách, khiến những người bình dân khó lòng hiểu được. Vì chúng ta viết ở trong rừng, trong núi, nên những trang sách này mang hơi thở của núi rừng, dân dã, giúp cho hạng người bình dân nơi thôn dã cũng có thể hiểu được. Khi viết trong lúc đang nỗ lực hành thiền (**Kammaṭṭhāna**), người đọc sách của ta cũng sẽ cảm nhận được hương vị như thể chính mình đang thực hành thiền định vậy.” 

Thật đúng như thế. Trong các tác phẩm của ngài Sayādaw, có những chỗ dù Đức Phật không trực tiếp thuyết, cũng không có trong các bản chú giải, thậm chí ngài còn dũng cảm đưa ra những nhận định đi ngược lại với các bộ Aṭṭhakathā (Chú giải) và Ṭīkā (Phụ chú giải) hiện có. Ngài có thể thâm nhập và thấu suốt cho đến tận những hạt vi trần (kalāpa) nhỏ nhất trong vũ trụ vô biên. (Xem thêm bộ **Niyāma Dīpanī**, v.v.)

Trí tuệ ấy không gì khác ngoài năng lực của định lực tu tập (Paṭipatti samādhi) không vướng chút bụi bặm phiền não (Kilesarībhāva, Apparajikkha-jāti). Với nền tảng Pháp học (Pariyatti) lưu loát cộng với sự tôi luyện sắc bén của Pháp hành (Paṭipatti), trí tuệ của ngài Sayādaw đã viết nên những tác phẩm bất tận, mà mỗi dòng chữ đều vô cùng uyên thâm. Tuy nhiên, nếu nói một cách khách quan, thì chính việc này lại biểu hiện một dấu hiệu khiếm khuyết (**Hānabhāgiya**) đối với Tuệ chứng ngộ (**Paṭivedha ñāṇa**) của ngài. Đó chính là sự chướng ngại lớn từ công việc biên soạn (Gantha palibodha). Viết sách là tốt, nhưng không phải là điều tốt nhất. Ngài đã dành tới một phần tư cuộc đời mình cho việc soạn thảo kinh điển.

### Từ Mahābodhi đến rừng Sāpagaṃ

Vào ngày mùng 3 sau trăng tròn tháng Tabodwe năm 1257 (ME), ngài Sayādaw cùng các đệ tử khởi hành đi chiêm bái cội Bồ-đề (Mahābodhi) tại Ấn Độ. Trên chuyến xe lửa từ Mandalay đi Yangon, ngài đã viết xong bài thơ **Paṭiccasamuppāda Laṅkā** (Kệ Duyên Khởi) gồm 13 khổ. Trong hành trình năm ngày bốn đêm trên tàu thủy, vừa đi chiêm bái các thánh tích lịch sử bất biến (avijahita) của Đức Thế Tôn, ngài vừa viết xong bộ luận lớn “**Paṭiccasamuppāda Dīpanī**” (Minh Sát Duyên Khởi). Việc soạn thảo bộ luận về **Duyên Khởi** trên đường đến vùng đất Bồ-đề thật vô cùng tương hợp. Chẳng phải tại nơi thành đạo này, Đức Thế Tôn đã suy xét và quán chiếu về mười hai nhân duyên đó sao? Tại thánh địa Mahābodhi, ngài cũng đã phóng sinh các loài động vật trên cạn để cúng dường và tri ân trí tuệ Đại bi của Đức Phật. Trên đường từ Mahābodhi trở về, ngài không quay lại Monywa mà dừng chân an cư kiết hạ tại rừng Sāpagaṃ thuộc dãy rừng lớn Twante Dala.



Dường như ngài suy niệm rằng tại vùng Trung Ấn (Majjhima Desa), nơi Đức Phật đản sinh, giáo pháp đã bị tận diệt, nên chỉ khi đắc được các tầng Thiền định và Thần thông (Jhāna Abhiññā) thì công cuộc hoằng pháp mới thực sự có thành tựu.

Tại rừng Sāpagaṃ, bắt đầu từ tháng Tagu, ngài bắt đầu nỗ lực tu tập Thiền chỉ (Samatha). Đầu tiên ngài chọn **O dāta Kasiṇa** (Kasiṇa màu trắng), ngài đặt một vòng tròn màu trắng phía trước và định tâm quán chiếu "Trắng - Trắng", rồi dần dần mở rộng đối tượng Kasiṇa trong tâm. Ban đầu bằng quả me rừng, sau đó bằng một quả **Gon-nyin** (hạt của loại cây leo lớn), rồi hai quả... cứ thế ngài quảng bá và phát triển cho đến khi hiện ra **Paṭibhāga-nimitta** (Tương tự tướng) trong ngần và thanh khiết như mặt biển bao la. Tuy nhiên, do vòng Kasiṇa quá rộng lớn nên tâm chưa đạt được sự tĩnh lặng và làm chủ hoàn toàn.

Khi đó:

“Kinh điển dạy rằng **Paṭibhāga-nimitta** phải tĩnh lặng và kiên cố. Nhưng hiện tại nó không tĩnh mà lại dao động. Có lẽ đây không phải là **Paṭibhāga** thật, mà chỉ là một sự ảo giác của đối tượng (ārammaṇa)” — ngài đã hiểu lầm như vậy. Và chính từ sự hiểu lầm đó, ngài đã nỗ lực đè nén và tiêu hủy cái ấn tướng ấy. Nhưng không dễ gì tiêu hủy được. Ngài phải thắp rất nhiều đèn suốt cả đêm, quán chiếu thay thế bằng ánh sáng thì ấn tướng đó mới tan biến. Ngài từng dạy rằng: “Nếu dạo ấy không tiêu hủy ấn tướng đó mà cứ tiếp tục tiến lên thì đã có thể chứng đắc **Appanā** (Định an chỉ) rồi.”

Sau đó, ngài tiếp tục thiết lập pháp hành Thiền Anapanasati (Niệm hơi thở). Trong suốt một mùa hạ, ngài nỗ lực quán chiếu hơi thở, không ai có thể lường trước được ngài đã tiến xa đến mức nào. Trong thời gian ở rừng Sāpagaṃ, ngài đã viết và trao cho người đệ tử lớn là **Ledi Waṇṇita** (nay là cư sĩ U Hla Tin ở thành phố Thaton) bài thơ Tè-hạt sau đây:

“Giữa thời mạt pháp, chúng sinh náo nhiệt sinh ra, hãy thử tìm khắp cõi Diêm-phù xem có bậc trượng phu nào như ta chăng? Ta dựng ngọn cờ tinh tấn, đánh vang tiếng vang vô tiền khoáng hậu. Công hạnh hành giả đa đoan, nhưng tuệ giác mới lạ vẫn nảy nở. Với năng lực của tuệ sư tử (Kesari), ta sẽ đi trọn con đường Thiền định, làm chủ trọn vẹn Ngũ tự tại (Vasī). Ở cõi trời dưới Phạm thiên, ta sẽ cắm ngọn cờ thần thông rực rỡ và an hưởng sự thanh cao nổi tiếng. Ta không hề chán nản mà luôn hân hoan, trong ngày chiến thắng của đức Maitreya (Di-lặc), ta sẽ nguyện làm vị tướng tiên phong quả cảm.”

Những lời trong bài thơ này chính là tiếng rống của sư tử (Sīhanāda).


...có vẻ như ngài đã đắc Thiền và Thần thông (Abhiññā)." Tuy nhiên, việc kết thúc bằng ý nghĩ "phải đợi đến thời Đức Phật Metteyya (Di-lặc)" khiến người đọc không khỏi hụt hẫng.

Thực chất, quan điểm về vị Phật tương lai không phải là bản tâm của ngài Ledi Sayadaw. Nó cũng không nhất quán với các tác phẩm khác của ngài. Ý nghĩ kết thúc đó chắc hẳn chỉ là một ảo giác đánh lừa tâm trí. Tháng Tabaung năm đó, theo lời thỉnh cầu của thiền sư Abhidhamma Thae Gyi từ Monywa, ngài đã quay trở lại Monywa một lần nữa. Trong suốt hai năm 1259-1260 (Miến lịch), ngài nhập hạ tại một đường kinh hành dài sáu mươi rưỡi (khoảng 27m) bên trong tu viện Ledi. Tại đây, ngài đã biên soạn các bộ kinh *Lakkhaṇa Dīpanī* và *Puṇṇovāda Dīpanī*.

### Chư tăng Monywa phản đối ngài Ledi

Năm 1259 (Miến lịch), chư tăng tại Monywa đã phản đối kịch liệt ngài Ledi Sayadaw liên quan đến văn bia tại tháp Su Taung Pyi, gây nên một sự chấn động (ukkotheyya) khắp thành phố.

Nguyên nhân là do tháp Su Taung Pyi ở Monywa bị đổ nát từ năm 1254 nhưng không có ai tu sửa. Ngài Ledi Sayadaw đã cùng các vị hộ pháp (ban quản trị) dẫn dắt việc trùng tu thành công. Khi khắc bia kỷ niệm, ngài đã dùng danh hiệu "Piṭaka Pāragū" (Bậc thông suốt Tam Tạng) để chỉ mình, khiến chư tăng trong thành phố phản đối. Họ cho rằng ngài không thể là bậc "Piṭaka Pāragū". Thậm chí có tiếng vang đòi đập bỏ bia đá ném xuống sông Chindwin. Thầy chia rẽ, trò cũng chia rẽ theo. Hai bên không ai nhường ai. Phía ủng hộ ngài Ledi cũng rất kiên quyết, cho rằng ngài thực sự am tường nên việc ghi "Piṭaka Pāragū" là đúng đắn. Ngay cả lời khuyên can của chính Sayadaw họ cũng không nghe theo.

"Để xem có đúng là Piṭaka Pāragū thật không, sẽ cho bêu rếu trước mặt tứ chúng tì-kheo và cư sĩ," họ đe dọa và tuyên bố sẽ chất vấn ngài về những vấn đề nan giải trong Tam Tạng kinh điển. Ngài Ledi tự mình đứng ra dàn xếp và chấp nhận đương đầu: "Được thôi... nếu họ muốn hỏi thì ta sẽ trả lời."

Ngày 5 tháng sau rằm Kason năm 1259, một buổi lễ cúng dường được tổ chức tại một rạp lớn ở Monywa, cung thỉnh chư tăng cả hai phía. Có hơn tám mươi vị tì-kheo và rất đông cư sĩ tham dự. Phía đối lập còn bí mật sắp xếp kế hoạch nếu không thắng được bằng lý lẽ thì sẽ dùng áp lực đám đông để lấn lướt. Ngài Ledi Sayadaw (đúng như câu: *Nābhāsamānaṃ jānanti, missaṃ bālehi paṇḍitaṃ* - Người trí khi không nói thì lẫn giữa kẻ ngu, chỉ khi nói mới nhận biết được) đã ngồi giữa tăng chúng với phong thái uy nghiêm, đĩnh đạc, không chút sợ hãi, sẵn sàng đối mặt với mọi tình huống.

Hai vị tì-kheo lãnh đạo phe đối lập là U Pale Gyi và U Ottama cùng các đệ tử của mình...


...ngồi vây quanh với vẻ ra oai nhưng lại không dám tiến tới, dáng vẻ đầy bồn chồn. Ngài Ledi Sayadaw cất giọng điềm tĩnh, dõng dạc và chân thành: "Thưa chư vị Trưởng lão cùng quý nam nữ cư sĩ, nghe nói có người muốn chất vấn về những điểm khó trong Tam Tạng, vậy ai có điều gì muốn hỏi, xin cứ tự nhiên." Lời thách thức này khiến hội chúng nín thở, người nọ nhìn người kia. Những vị tu sĩ đối lập ban đầu thì giận dữ hăng hái, nay chuyển sang lo sợ, muốn lui không được mà tiến cũng chẳng xong, chỉ ngồi im bất động.

Đúng lúc đó, một vị đại trưởng lão cao niên, đức độ bất ngờ xuyên qua đám đông đi vào rạp lễ và tiến lên pháp tòa. Hội chúng ai nấy đều dõi theo vị trưởng lão này với những suy nghĩ riêng. Vị trưởng lão (không rõ danh tính nhưng phong thái vô cùng đặc biệt) không ngồi xuống mà đứng thẳng, chỉ tay và hỏi lớn: "Này, vị nào đang ngồi kia giữa tăng chúng với vẻ hiên ngang và định tĩnh như thế?" Hội chúng sững sờ. Ngài Ledi Sayadaw thấy vị trưởng lão cao niên xuất hiện liền rời chỗ ngồi ban đầu và chắp tay cung kính.

Vị trưởng lão ấy nói tiếp:

"Thôi nào chư vị, ngọn cờ chiến thắng giữa tăng chúng đã được cắm xuống rồi. Những vị định chất vấn hãy mau quay về tự viện của mình mà nỗ lực tu tập hai bổn phận (Pháp học và Pháp hành). Còn vị 'Piṭaka Pāragū' này, vì ngài đã đạt đến bờ bên kia của giáo pháp nên hãy tiếp tục giảng dạy cho đệ tử mình cũng đạt được như vậy." Sau lời tuyên bố dứt khoát đó, chư tăng chắp tay và giải tán. Giống như hang sư tử bị lũ gấu dùng bùn bôi bẩn, nhưng sau đó ánh hào quang lại càng tỏa sáng hơn. (Hãy lưu ý đến pháp nhẫn nhục).

Sự thật là vào năm 1273, ngài đã được dâng tặng danh hiệu "Agga Mahā Paṇḍita" (Bậc Đại Trí giả) và năm 1283 là danh hiệu "D.Litt. Piṭakattaya Pāragū" (Bậc Thông suốt Tam Tạng). Tuy nhiên, ngài đã không tự mình đi nhận những danh hiệu cao quý này.

Giống như những viên sỏi nhỏ lăn từ đỉnh núi dọc theo khe suối, dòng sông, trải qua bao va chạm mới trở nên trơn nhẵn, tròn trịa; đời người cũng vậy, khi gặp phải những trở ngại, đối nghịch, dù có thể gây đau đớn khó lòng cam chịu, nhưng chính từ trong gian khó đó, những phẩm chất vô song sẽ được trui rèn và thăng tiến không ngừng.

### Cuộc chiến Luận giải (Tīkā)

Sự việc bị chỉ trích liên quan đến văn bia chỉ là một chuyện nhỏ đối với ngài Ledi Sayadaw. Điều đó giống như việc lấy gậy chọc vào con hổ mang, chỉ làm khơi dậy...


...nguồn năng lượng tiềm tàng của ngài.

Vào tháng Tazaungmon năm 1259, ngài đã hoàn thành việc biên soạn bộ đại luận giải *Paramattha Dīpanī* (Minh giải Nghĩa Thắng Nghĩa) – một bản sớ giải cho bộ *Abhidhammattha Saṅgaha* (Thắng Pháp Tập Yếu). Ước nguyện âm ỉ từ sau vụ cháy tu viện San Kyaung cuối cùng đã thành hiện thực.

Ngay từ lời mở đầu, ngài đã phê phán các bộ luận giải nổi tiếng như *Tīkā-kyaw* và *Maṇi Mañjū* một cách hết sức sắc bén, ví chúng như "những túi trấu". Ngài sử dụng nhiều cụm từ như "Taṃ na sundaraṃ" (Điều này không đúng, sai lầm) để chỉ ra các lỗi sai. Điều này đã gây nên một làn sóng chấn động mạnh mẽ trong giới học giả khắp đất nước Miến Điện.

Xuyên suốt lịch sử truyền thừa, bộ *Tīkā-kyaw* luôn được tôn xưng và nâng niu như một viên ngọc quý (Tīkā-hla Tīkā-kyaw). Vì vậy, khi nó bị phê phán, nhiều người đã vô cùng phẫn nộ. Hàng loạt các bộ luận bằng tiếng Pali nhằm bảo vệ *Tīkā-kyaw* và phản bác ngài Ledi đã ra đời. Một số người viết vì tự ái, tham gia vào cuộc chiến học thuật nhưng rồi bỏ dở giữa chừng. Một số khác đến thỉnh ý các vị đại sư lỗi lạc bấy giờ là các ngài Sayadaw chùa Visuddhārāma để nhờ họ phản bác ngài Ledi, nhưng lại nhận được sự ủng hộ dành cho ngài Ledi nên đành thất vọng trở về. Chư tăng tại Yangon thậm chí còn tổ chức một đại hội phản đối bộ luận của Ledi. Họ dự định bắt ngài Ledi phải giải trình từng cáo buộc đối với *Tīkā-kyaw* trước hội chúng.

Chỉ đến khi vị đại sư thông suốt Thắng Pháp là Sayadaw Myo Pyin Gyi đứng ra phân xử một cách công tâm, mọi chuyện mới lắng xuống. Ngài phán rằng: "Chúng ta chỉ tìm thấy khoảng 60-70 lỗi sai trong *Tīkā-kyaw*, nhưng vị tu sĩ ở rừng Ledi này đã tìm thấy hơn 230 lỗi." Các lỗi sai vốn được kế thừa từ đời này sang đời khác mà không ai kiểm chứng, nay khi bộ luận của ngài Ledi ra đời, ngay cả các học giả cũng phải bàng hoàng. Cuối cùng, cuộc chiến luận giải chấm dứt, và bộ luận của ngài Ledi được xưng tụng là "Tīkā-maw" (Bộ luận đỉnh cao). Thật là một sự thấu triệt sâu sắc. Thật là một sự dũng cảm khi dám nói thẳng cái sai.

Về phương diện Ngữ pháp, ngài cũng biên soạn bộ *Nirutti Dīpanī* bằng tiếng Pali. Kể từ đó, dù là Thắng Pháp hay Ngữ pháp, dù là văn viết hay thuyết pháp, ngài không còn đối thủ, trở thành bậc đại trí giả (kavi) dẫn đầu trong giáo giới.

### Hỷ lạc Thiền định (Jyān Pīti) không chạm đất

Khi Ngài đến thị xã Pathein để thuyết pháp, một nữ đệ tử của ông U Paduma danh tiếng đã bê một tráp trà (lá trà muối) đến gặp Ngài và thưa rằng:

"Bạch Ngài, con xin phép được hỏi về những điểm chưa rõ ràng trong bộ đại luận giải (Tika) do Ngài biên soạn ạ."

Nghe vậy, Ngài liền đuổi đi: "Này... cô kia, bộ đại luận của ta mà cô cũng đòi chất vấn sao, thật không biết lượng sức mình, đi ngay đi, đồ ngu muội."

Trên mỗi chặng đường Ngài đi qua, những kẻ tìm cách tiếp cận để soi mói, xỉa xói, cư xử thô lỗ và không biết kính trên nhường dưới như vậy quả thực rất nhiều.


Vào năm 1260 (Phật lịch), theo lời cung thỉnh của đại đệ tử là Ngài U Tiloka ở núi Thekkyetaung, Thiền sư Ledi đã khởi hành đến Kyaikhto. (Về lý do cung thỉnh, tôi sẽ viết chi tiết trong chương về Thiền sư Thekkyetaung). Tại núi Thekkyetaung, Ngài lưu lại khoảng hai tháng vào tiết tháng Tazaungmon và Nattaw. Ngài cũng ban những lời pháp nhắc nhở liên quan đến lộ trình thực hành cho vị đại đệ tử U Tiloka. Trong thời gian lưu tại đây, Ngài không ở trong các giảng đường lớn mà chỉ trú trong một am lá nhỏ, dành toàn bộ thời gian để hành thiền quán tưởng.

Một buổi chiều nọ, người hộ tăng Maung Son mang nước quả đến cúng dường tại am lá nơi Thiền sư Ledi đang trú ngụ. Trước khi vào am, anh ta liếc nhìn vào bên trong thì đôi chân bỗng khựng lại. Sau một hồi đứng ngẩn ngơ vì kinh ngạc, khi sực tỉnh, anh không vào cúng dường nữa mà quay trở ra, tìm gặp Thiền sư U Tiloka để trình báo sự việc.

Ngài U Nandamala (người dịch bộ **Thanh Tịnh Đạo**), Ngài U Visuddha, Ngài U Javana cùng các vị đại đệ tử khác cũng lặng lẽ cùng nhau tiến về phía am lá nhỏ ấy. Một lát sau, khi Ngài U Tiloka ra hiệu bằng ánh mắt, tất cả đều nhẹ nhàng lui ra, không để phát ra tiếng bước chân.

Nguyên nhân là bên trong am lá, trong khi đang thiền định, Thiền sư Ledi không hiện ra như hình dáng thông thường mà Ngài đang ngồi kiết già, mắt khép hờ và lơ lửng trên không trung cao khoảng hai thước (hơn 1 mét); dù đứng từ xa họ cũng nhìn thấy rõ ràng.

Đúng như lời người hộ tăng kể lại, tận mắt chứng kiến sự việc, Thiền sư U Tiloka đã gọi tất cả các đệ tử có mặt lại và căn dặn: “Khi Ngài còn tại thế, tuyệt đối không ai được kể lại chuyện này. Chính Ngài đã nghiêm cấm điều đó.” Có lẽ Ngài đã cố ý nhập định thị hiện thần thông như vậy để giáo hóa vị đệ tử có tâm tính mãnh liệt như thiền sư núi Thekkyetaung chăng? ([Có lẽ hiện nay cũng có nhiều hành giả bay bổng trên không trung nhờ vào Cần-sách-hỷ - Ubbeṇgā-pīti]).

Vào ngày mùng 4 tháng Chạp (Nattaw), Ngài lên đường đến thị trấn Bilin để chiêm bái bảo tháp Kusinayon. Khi Ngài nghỉ đêm tại đó, có ba bốn vị đạo sĩ (rishi) đang tu tập tại bảo tháp đã đến đảnh lễ và thưa chuyện, đàm đạo cùng Ngài.

Khi đó, vị đạo sĩ trưởng đoàn bạch rằng:


“Bạch Ngài, được diện kiến Ngài là niềm hoan hỷ cực kỳ lớn lao đối với con. Con đã xuất gia làm đạo sĩ được mười năm. Nhìn thấy chúng sinh vì đạo đức suy đồi mà phải gánh chịu các tai ương khổ nạn, vì lòng xót thương nên hiện con đã hoàn thành 108 ngày ăn chay (kiêng thịt) và đang thực hiện 45 ngày ăn thực phẩm không nấu nướng (mi-lut-sar). Hàng ngày, con giữ vững tâm nguyện tu tập Giới (Sīla), Chân đế (Saccā), Từ ái (Mettā) và thực hành thiền Anapanasati (Niệm hơi thở). Khi Ngài đến đây, xin Ngài hãy ban lời giáo huấn cho các đệ tử chúng con.”

### Tu hành đúng nhưng sai mục tiêu

Này—Tốt lắm. Cứu giúp chúng sinh không phải là làm điều gì quá đặc biệt. Trước hết phải tự mình leo lên bờ, tự cứu mình thoát khỏi dòng nước rồi mới có thể cứu được kẻ đang chìm. Tự mình nỗ lực tu tập chính là đang cứu giúp chúng sinh vậy. Tuy nhiên, điều quan trọng là phương pháp và nền tảng phải đúng đắn. Những pháp như Giới (Sīla), Chân đế (Saccā)... mà đạo sĩ nói tới chính là những pháp Ba-la-mật (Pāramī) nền tảng rất tốt. Tuy tên gọi giống nhau, nhưng để đạt được thực chất chân chính thì không hề dễ dàng.

“Cho dù có đạt được thực chất đi chăng nữa, nếu **Tâm nguyện (Paṇidhāna)** không đúng thì cũng không mang lại nhiều lợi ích. Paṇidhāna tức là đích đến mà mình nhắm tới. Chỉ khi hướng về Niết-bàn thì mới được gọi là **Chánh tâm nguyện (Sammā-paṇidhāna)**, khi đó những khổ cực đã chịu, nhân duyên gặp gỡ Giáo pháp mới thực sự xứng đáng. Dù nói là vì chúng sinh và mang dáng dấp của những điều cao thượng, nhưng nếu đó chỉ là các pháp Giới, Chân đế, Từ ái, tâm nguyện hay các câu chú khiến mình dính mắc vào những thiền định đặc biệt trong cõi thế gian (với tâm ưa thích luân hồi - Vaṭṭābhirata), làm dài thêm sự trói buộc, thì điều đó khác xa với định nghĩa về Ba-la-mật - con đường thoát khỏi luân hồi. Này đạo sĩ, chúng chỉ giống nhau ở cái tên mà thôi. Nó cũng giống như việc người ta hô vang tên vũ khí Kim Cang (Vajra) nhưng chỉ để sử dụng như một loại bùa chú.

Việc tu hạnh kiêng thịt hay không ăn thức ăn nấu nướng không phải là giáo pháp trong đạo Phật. Tất cả các pháp từ Giới đến Định đều là “**Sở hành (Caraṇa)**”. Nếu Caraṇa này không đúng thì không thể đắc được Minh sát tuệ (Vijjā). Thậm chí đối với những người nỗ lực thực hành thiền định với Caraṇa Ba-la-mật đúng đắn, nếu chỉ dừng lại ở mức độ mong muốn Niết-bàn thôi thì vẫn không thể đạt được. Đức Phật dạy rằng phải là “**Pahitatto**” = phải luôn có cái tâm hướng thẳng (phóng mình) về phía Niết-bàn. Phải xác quyết rằng: ‘Trong đời này, chỉ có công việc này mà thôi’, như đóng một chiếc cọc cố định, đó mới gọi là Pahitatto.

“Cũng giống như một người đam mê luyện kim chuyển hóa (đát-lông), khi đi, khi ăn, khi ngủ, tâm trí họ luôn đặt vào việc đó. Nếu nền tảng Caraṇa không vững chắc, đích đến nhắm tới không phải Sammā-paṇidhāna, và tâm Pahitatto không kiên định, thì dù có tu hành khổ hạnh khắc khổ qua hàng trăm, hàng ngàn năm cũng không thể chạm tới Đạo quả (Paṭivedha). Việc khắc khổ trong ăn mặc, ở theo truyền thống Giáo pháp mà không màng thân mạng cũng chỉ là đoạn trừ phiền não tạm thời (tadaṇga-pahāna), chứ không phải là hành động có thể vượt ra khỏi sự chấp thủ (upādāna). Giống như việc phát quang bụi rậm trong rừng để nó lại mọc lên tươi tốt hơn, việc đó cũng chỉ làm cho bụi rậm chấp thủ của kiếp sau thêm phần rậm rạp mà thôi,” Ngài dạy.


### Vì sao phải biên soạn Vijjāmagga Dīpanī (Cẩm nang đường về Minh Tuệ)

Vị đạo sĩ, người đang lắng nghe những lời dạy của Ngài với sự quan tâm đặc biệt, thưa rằng: “Bạch Ngài, con hoàn toàn thấu hiểu và tâm đắc với ý chỉ của Ngài. Thú thật với Ngài, con hằng ngưỡng mộ những vị Minh sư (Vijjā) đạt được quả vị Thánh và có thể kéo dài tuổi thọ đến hàng ngàn năm để cứu độ chúng sinh.”

Ngài Ledi dạy:

“Ừ, phương pháp kéo dài tuổi thọ đến hàng ngàn năm thì bên ngoài Giáo pháp cũng có thể có. Trong Giáo pháp cũng có pháp Thần túc (Iddhipāda), nhưng những bậc Thánh (Ariya) đã thấu triệt Tứ Thánh Đế luôn thấy rằng sống thêm một ngày là phải chịu thêm một ngày khổ đau, nên các Ngài thường rất hoan hỷ khi nhập Niết-bàn. Các Ngài không lấy sự thọ mạng làm đích đến. Một sợi tóc nằm trên lòng bàn tay thì khó nhận ra, nhưng khi lọt vào mắt thì thấy rất rõ; cái nhìn của kẻ phàm phu và bậc Thánh về **Khổ trong các hành (Saṇkhāra dukkha)** cũng khác biệt xa nhau như thế.

Hệ tư tưởng muốn sống thọ, hay tư tưởng kéo dài thời gian đến tận thời Đức Phật Metteyya (Di-lặc) đều là không đúng. “Thánh Minh sư” (Ariya Vijjā) tuy thuật ngữ có vẻ giống, nhưng không phải là con đường của các đạo sĩ luyện đan (Vijjā Zawgyi). Đừng lầm tưởng đó là Ngài Pilindavaccha; đừng để bị đánh lừa.

Những người được gọi là “Bậc Minh sư” thoát ly nhờ vào bùa chú, linh dược, hay đát-lông mà dám nói là để trở thành bậc Thánh thì đó là những lời hết sức phi lý. Vậy mà họ lại tự coi mình là bậc Thánh. Có lẽ chính họ cũng tin mình là bậc Thánh, họ cũng biết giảng dạy về **Thiền quán (Kammaṭṭhāna)**. Nhưng họ chỉ ham thích ở mức độ Thiền định (Samatha) mà thôi. Bản thân họ sợ thoát khỏi luân hồi, mà họ cũng chẳng muốn người khác thoát ly.

Thực chất, này đạo sĩ, họ đang mượn danh nghĩa để làm mờ nhạt đi giáo pháp Vô ngã (Anatta) của Đức Thế Tôn, hòng lôi kéo chúng sinh theo sở thích của họ. Con đường “Minh sư” đó thực chất là Đại Ngã luận (Atta-vāda).

Ariya Vijjā (Thánh Minh Tuệ) chỉ dùng để chỉ Đạo Tuệ và Quả Tuệ. Nó phải dựa trên nền tảng của Giới hạnh chân chính mới đạt được. Dù ở góc độ thị hiện thần thông có vẻ tương tự, nhưng ngay từ nền tảng đã hoàn toàn khác biệt. Nếu cứ ôm giữ sự chấp thủ vào cái Tôi (Attavādupādāna) mà hành theo con đường sai lạc Loke-yata (mở rộng luân hồi) để kéo dài tuổi thọ và thị hiện thần thông, thì sự hiểu biết về Giáo pháp (Pariyatti) càng ít bao nhiêu thì...


# Chương XI (Tiếp theo): Bậc A-la-hán và những vĩ nhân

Ngài [Thiền sư Ledi Sayadaw] đã thuyết giảng rằng: "Họ đang tìm kiếm sự nương tựa sai lầm."

Ngài giải thích một cách cởi mở về việc một số bậc có thần thông thế gian (*lokāyata*) thường tạo ra bệnh tật hay hiểm họa trước, sau đó mới đóng vai người cứu chuộc để lôi kéo người khác. Ngài cũng làm rõ sự khác biệt giữa minh hạnh thế gian (*lokī vījjā*) và minh hạnh xuất thế (*ariyā vījjā*). Ngài khuyên bảo rằng khi đã đến được núi ngọc báu (đạo quả), đừng nhặt nhầm những hòn đá kê lò (tà thuật), đồng thời Ngài thuyết về sáu loại thanh tịnh đạo (*ajjava-dhātu*). (Sau đó không lâu, Ngài cũng viết và ban tặng tác phẩm "Vījjā-magga-dīpanī" - Minh Hạnh Đạo Diễn Giải).

Kể từ đó, các đạo sĩ ẩn sĩ cũng thoát khỏi những ảo ảnh đánh lừa, những điềm báo giấc mơ sai lệch và sự điên đảo (*vipallāsa*), để quay trở lại bước đi trên con đường Đại Đạo (Bát Chánh Đạo).

### Những bậc có thần thông cao cường cũng phải hối tiếc

Ngay cả hiện nay, những người thiếu hiểu biết, dù được gặp gỡ Giáo Pháp cao quý vốn cực kỳ khó gặp, lại giống như Devadatta (Đề-bà-đạt-đa), vì chút thần thông tầm thường mà phải bỏ dở hành trình giữa chừng, chuốc lấy khổ đau. (**Oramattakena visesādhigamena antarā vosānaṃ āpādi.** -- Tiểu Phẩm, Chuyện Devadatta-466.)

Một số bậc thành tựu thuật xuất hồn (*ထွက်ရပ်ပေါက်*) thường nói bóng gió để người khác ngưỡng mộ thần thông của mình rằng: "Đừng nương tựa vào thần thông, nó không giúp được gì đâu", nhưng cuối cùng lại lôi kéo người ta về phía giáo thuyết của họ. Tuy nhiên, có nhiều bậc thành tựu chân chính, cương trực và có kiến thức sâu rộng đã chia sẻ với lòng từ bi và hối tiếc rằng:

"Đừng ngưỡng mộ chúng tôi. Chúng tôi đã sai lầm khi đi theo con đường Gandhari (thần chú) với ý nghĩ rằng cứu độ người khác sẽ đắc thánh quả Niết-bàn. Giờ đây chúng tôi phải ở nơi họ bảo ở, đi nơi họ bảo đi, làm việc họ sai bảo (phục vụ những bậc có thần thông lớn hơn). Các con đừng đi vào vết xe đổ đó." Những lời này thường xuyên được nghe thấy, thật đáng trân trọng thay.

Thuyết ngã chấp thâm căn cố đế của thế gian và sự nguy hiểm của các vị trì chú theo tư tưởng Đại thừa thật đáng sợ thay. Hỡi những bậc thiện trí, hãy cẩn trọng! Chính vì thế, Thiền sư Seikkyi Sayadaw, tác giả cuốn "Ariyā-vījjā-magga-alaung-pya-kyan" (Sách Chiếu Sáng Con Đường Minh Hạnh Thánh Đạo), đã cảnh báo bằng trí tuệ thực chứng và lòng từ bi lớn lao:

"Những bậc có thần thông thế gian xảo quyệt thường phô diễn đủ loại biến hóa để thâu tóm người khác như chim đại bàng vồ lấy rồng. Vì họ chưa đắc Minh hạnh Thánh đạo thực thụ, vẫn bị sự điên đảo của tâm (*citta-vipallāsa*) che lấp nên mới phải gánh chịu như vậy. Do đó, hỡi các bậc thiện nam tín nữ, hãy nỗ lực để đạt đến Minh hạnh Thánh đạo chân chính của bậc Dự lưu (*Sotāpanna*) và các quả vị cao hơn để có thể phân biệt được thật giả." (Sách đã dẫn, trang 368.)


### Voi rừng, hổ dữ và rắn độc

Sau đó, Thiền sư cùng với Ledi Paṇḍita và U Tiloka khởi hành đi núi Kyaiktiyo (Chùa Đá Vàng). Giữa đường, một con voi rừng hung dữ chạy xông thẳng từ phía trước tới. Hai người đệ tử sợ hãi leo lên cây trốn, còn Thiền sư vẫn bất động, chỉ chuyên tâm rải tâm từ (*mettā*). (Xem chi tiết ở chương về U Tiloka).

Sau khi trở về từ Kyaikto, vào năm 1261 (Miến lịch), Ngài nhập hạ tại chùa làng Lezin, phía Đông Nam thị trấn Monywa. Tại đây, Ngài đã viết tác phẩm "Nibbāna-dīpanī" (Niết-bàn Diễn Giải).

Năm 1262 (Miến lịch), Ngài nhập hạ tại rừng Wet-ye, còn gọi là đại ngàn Mahāmyaing, phía Bắc làng Maung Daung Gyi. Đó là do Ngài Kyaung Pan Sayadaw, một đệ tử lâu năm, thỉnh mời. Ngài Kyaung Pan đã ở trong khu rừng này khoảng chín năm. Vì sức khỏe yếu, Ngài Kyaung Pan chỉ có thể đi khất thực mỗi tuần một lần; Ledi Sayadaw là người đi khất thực để nuôi dưỡng cả hai. Ngài cũng thuyết giảng những lời giáo huấn liên quan đến việc hành trì.

Khu rừng này là một nhánh của dãy Himalaya, đầy rẫy thú dữ. Những cây In, cây Teak cao bằng hai, ba thân cây thốt nốt phủ bóng âm u khắp rừng. Những bụi cây Kyaung Pan nhỏ đan xen dày đặc như những lùm bụi.

Thiền sư và vị đệ tử (người sau này trở thành Ngài U Indaka) khi thì ở trong hốc những cây Teak lớn, khi thì ở trong bụi cây Kyaung Pan. Đôi khi tiếng phì phò của những con rắn độc to bằng thân cây thốt nốt, hay tiếng hú của chó rừng, tiếng gầm của báo hoa mai phát ra khiến người nghe phải rùng mình. Thiền sư vẫn kiên trì thực hành thiền Anapanasati (Niệm hơi thở).

**Na tveva supituṃ hoti,**
**Ratti nakkhatta mālinī.**
**Paṭijaggitu mevesā,**
**Ratti hoti vijānataṃ.**

(Trưởng Lão Tăng Kệ, Chú giải, 1-205.)

*Nakkhattamālinī*: Trong đêm tối tĩnh lặng, an bình và tuyệt đẹp với ngàn tinh tú rạng ngời như những đóa hoa. *Ratti*: Đêm trường ấy. *Supituṃ*: Để chìm sâu vào giấc ngủ do sự chi phối của hôn thụy (*thīna-middha*) và si mê (*moha*). *Na tveva hoti*: Tuyệt đối không phải dùng cho việc đó. *Esā ratti*: Đêm trường tĩnh lặng và đẹp đẽ ấy. *Vijānataṃ*: Đối với những bậc hành giả trí tuệ, đã nhận được lời dạy của Đức Phật, hiểu rõ giá trị của cuộc sống và quy luật nhân quả. *Paṭijaggituṃ*: Chỉ để tỉnh thức, tinh tấn nỗ lực không ngừng (*sammappadhāna*) nhằm tu tập và phát triển định (*samatha*) và tuệ (*vipassanā*). *Hoti*: Thật vậy, đêm trường chính là để dành cho sự nghiệp ấy.


(Kinh Mahāniddesa 294 và Chú giải 358 có dạy rằng: Chia một ngày đêm thành 6 phần, chỉ trừ một phần canh giữa để nghỉ ngơi, còn lại 5 phần phải nỗ lực không ngủ. Khi buồn ngủ, nên đọc những bài kệ mang tính quyết tâm như của các bậc tiền bối này).

Đặc biệt trong thời gian ở rừng, Ngài thấy rõ rất nhiều tác hại của việc ngủ nghỉ quá mức. Ngài nhận thấy: "Đêm thanh tĩnh với ngàn tinh tú là cơ hội vàng để bậc trí tuệ quán chiếu giáo pháp." Ngài đã thực hành hạnh đầu đà không nằm (*nesajjika-dhutaṅga*), nỗ lực thức trắng để tu tập.

Thiền sư đã nỗ lực cực kỳ tinh tấn suốt cả mùa an cư không ngủ, nên đến gần kỳ mãn hạ, Ngài bị cơn sốt hành hạ, cơ thể trở nên gầy rộc và yếu ớt. Thực phẩm cũng rất khan hiếm. Khi nghe tin, các đệ tử lớn tại tu viện Ledi đã phải lặn lội vào rừng để thỉnh Ngài trở về.

### Trở thành giảng sư Pháp nhờ những lời đồn thổi

Khi trở về tu viện Ledi, trong lúc tĩnh dưỡng phục hồi sức khỏe, Ngài vẫn tiếp tục tự mình thiền định nơi thanh vắng. Tuy nhiên, ban ngày lượng người đến đảnh lễ đông hơn thường lệ, khiến Ngài dù đã tạm dừng việc giảng dạy kinh điển vẫn không có thời gian rảnh rỗi, vì phải tiếp chuyện và thuyết Pháp cho họ.

Thiền sư không nhận ra lý do tại sao lượng người đến mỗi ngày một đông như vậy. Đó là do những lời đồn thổi bắt đầu lan truyền rộng rãi:

"Ngôi chùa nơi Thiền sư ở tỏa sáng rực rỡ suốt đêm."
"Khi Ngài đi kinh hành, chân không hề chạm đất."
"Thiền sư đã đắc Thiền định (*Jhāna*)."

Nhiều người còn khẳng định chắc chắn danh tính những ai đã tận mắt chứng kiến những điều đó.

Chính vì những tin đồn này mà không chỉ các thí chủ thân cận, mà cả người dân từ bốn phương cũng lũ lượt kéo đến chiêm bái.


Tin đồn đó từ đâu mà ra?

Vào lúc đó, tùy theo tình cảnh, Ngài chỉ thuyết giảng về giáo pháp Thiền Minh Sát (Vipassanā). Ngài cũng thường xuyên thuyết giảng về đại bổn sanh **Bhisajātaka**.

**Bhisajātaka** (Bản sanh Ngó Sen) là câu chuyện về công tử của vị trưởng giả thành Bārāṇasī tên là **Mahākañcana**, người đã cùng sáu người em trai và một người em gái vào rừng xuất gia làm đạo sĩ. Một người bạn và những người giúp việc - cả các cặp vợ chồng cũng đi cùng. Họ thay phiên nhau đi tìm những gốc sen (ngó sen) và các loại hoa quả, rồi chia phần ra để sinh sống. Thiên chủ Sakka (Đế Thích) vì muốn thử lòng tu hành và giới hạnh của họ, nên đã giấu kín phần ngó sen của vị đạo sĩ anh cả suốt ba ngày liền.

Mọi người nghi ngờ có ai đó đã lấy trộm để ăn, nên mỗi người lần lượt thề độc rằng:

"Nếu tôi trộm lấy gốc sen này, xin cho tôi có vợ con, hầu cận, tài sản cực kỳ giàu sang phú quý." Một người khác thề: "Xin cho tôi trở thành vị quốc vương thống trị đất đai non sông." Có người lại thề: "Xin cho tôi trở thành vị Chánh cung Hoàng hậu." Lại có người thề: "Xin cho tôi nhận được chức vị quốc sư (Purohita) cai quản việc nước." Người khác lại thề: "Xin cho tôi trở thành một vị đạo sĩ có danh tiếng, được dân chúng ngưỡng mộ và có nhiều lợi lộc tại một ngôi làng gần thành phố."

Bởi lẽ họ coi sự hưởng thụ thế gian, quyền lực, chức quyền và lợi lộc là những thứ gây ra khổ đau, đáng sợ hơn cả một "cái chết xấu xí", nên họ đã lập những lời thề như vậy.

Vị đại thọ thần (Rukkhaso) sống gần hồ sen và am thất thì thề rằng:

"Nếu tôi trộm lấy gốc sen, xin cho tôi được cai quản một ngôi chùa lớn ở một vùng trù phú và bận rộn với các việc xây dựng (navakamma)."

Dựa trên việc Ngài thiền sư thường xuyên thuyết giảng bản sanh kinh này, người ta hiểu rằng Ngài đang bày tỏ sự nhàm chán đối với việc phải sống giữa đám đông và bận rộn với việc học thuật (Pariyatti). Ngài nhận thấy cái lỗi của việc trở thành một bậc thầy giảng dạy giỏi hay một nhà biên soạn giỏi. Nhiều lần Ngài đã tìm cách lánh vào rừng sâu nhưng không thành. Không những không được, mà kể từ thời gian này, Ngài lại trở thành một bậc thầy thuyết pháp lỗi lạc từ khi nào không hay. Không chỉ vì những tin đồn, mà cả những người thực lòng muốn nghe pháp cũng bắt đầu tụ về đông đúc.

Ngài đã không thể tránh khỏi việc gặp phải những ngã rẽ gây ra sự suy giảm (**hānabhāgiya**) trong công việc thực hành (Paṭipatti). Đối với các hành giả, những sự việc và trạng thái đó thường diễn ra theo một chuỗi mắt xích được sắp đặt tinh vi nên rất khó nhận biết; và dù có biết đi chăng nữa thì cũng cực kỳ khó vượt qua.


Sở dĩ như vậy là vì những sự việc đó thường được đặt trên nền tảng hướng tới lợi ích của Giáo pháp và đại đa số chúng sinh, hơn nữa nó lại phù hợp với năng lực, bản tính tự nhiên của bản thân và là loại công việc mà mình ưa thích. Do đó, dù biết rõ đó là điều gây chướng ngại (palibodha), là sự suy giảm (**hānabhāgiya**), nhưng người ta vẫn cứ dấn thân vào.

### Sự hỗ trợ (hoặc sự quấy nhiễu) của những bậc có thần thông

Vào hạ năm 1263-64 (Miến lịch), Ngài nhập hạ tại núi Shwe Taung Oo, nằm ở bờ sông Chindwin (Thallāvatī), phía tây thị trấn Alon. Vị đồ đệ **Ledi Paṇḍita**, người đã theo Ngài được ba năm hạ, cũng đi theo nhập hạ. Ngài Thiền sư dành cho **Ledi Paṇḍita** một tình cảm thương mến sâu nặng như con ruột.

**Ledi Paṇḍita** và vị hộ tăng (kappiya) trú ngụ ở chân núi, còn Ngài Thiền sư thì trú trong một hang đá lớn trên đỉnh núi. Vùng đó đồ ăn thức uống vô cùng khan hiếm. Không hề có cơm gạo. Họ chỉ được dùng cơm kê hoặc cơm cỏ lúa (lu-san). Sau khi đi bát về, Ngài Thiền sư dùng bữa ngay tại chân núi, đoạn đem phần còn lại rải cho các loài vật ăn một cách hoan hỷ.

**Ledi Paṇḍita** vì không ăn nổi loại cơm đó nên phải gom góp các nhu yếu phẩm từ các thí chủ trong thành phố, từ gạo, dầu cho đến các thứ khác. Ngài Thiền sư vốn thường tán dương và thuyết giảng về hạnh tri túc, giản dị cho "người con trai" của mình, nên vị đồ đệ phải giấu kín những thứ đó không để Ngài biết.

Một ngày nọ, Ngài Thiền sư phát hiện ra, liền quở trách: "Này hiền giả nhỏ, con không giống một vị tăng ở rừng chút nào, con quá chiều chuộng cái lưỡi của mình rồi." Nói đoạn, Ngài dùng gậy chọc vào lều chứa lương thực dùng cho bếp núc và hất tung mọi thứ ra.

Chính vì Ledi Paṇḍita có thiên hướng mạnh về học thuật (Pariyatti) mà còn xa rời nền tảng thực hành (Paṭipatti), nên Ngài Thiền sư vì lòng bi mẫn mà đã khởi lên sự phẫn nộ đầy lòng thương. Ngài còn viết bài thơ "Tê dắt đi đâu" để giáo huấn. Trong thời gian ở đó, Ngài cũng răn dạy hai cư sĩ là U Tun Oo và U Tun Hla từ thị trấn Alon - những người giỏi luận bàn về thực tại (Paramattha) nhưng mỗi khi được bảo thực hành thiền (Kammaṭṭhāna) thì lại tìm cách thoái thác.

Trong hang đá trên núi đó, Ngài đã nỗ lực thực hành thiền mãnh liệt suốt bốn, năm tháng. Ngài ở lại đó tổng cộng hai năm và biên soạn các tác phẩm **Dhamma Dīpanī**, **Āhāra Dīpanī**, và **Anatta Dīpanī**. Trong thời gian này, Ngài vẫn thực hành thiền Anāpāna (Sổ tức), và mức độ thành tựu của Ngài đã được thể hiện rõ nét qua chính những tác phẩm Dīpanī này.


Trong lúc đang nỗ lực thực hành mãnh liệt tại đây, một cơn sốt nặng đã ập đến khiến Ngài nằm một mình trong hang đá lớn, lúc tỉnh lúc mê. Ngài không thể xuống chân núi để báo tin. Mấy ngày trước Ngài vẫn cố gắng gượng dậy đi bát, nhưng hôm đó thì không thể đi nổi nữa. Ngài nằm chịu trận, xoay xở suốt một ngày một đêm. Trong lúc nửa tỉnh nửa mê, Ngài cảm giác như có ai đó cho mình uống thuốc, khi vừa tỉnh dậy, Ngài cố gắng mở mắt nhìn quanh hang đá thì thấy ở một góc cua có một vị mặc đồ trắng đang đứng yên lặng nhìn mình như một pho tượng đá trắng. Do đang trong tình trạng lờ đờ nên Ngài không kịp hỏi han gì, rồi mắt lại nhắm nghiền lại.

Sáng hôm sau, các thí chủ từ làng đi bát tìm đến chùa rừng, thỉnh Ngài về làng để chữa bệnh. Ngài truyền rằng: "Hãy đưa ta đến thị trấn Monywa là được." Họ bèn dùng ghế dựa làm cáng khiêng Ngài đến chùa của U San Chain (**U Ñāṇavaṃsa**) ở thị trấn Alon. Ngay khi vừa được đặt lên ghế, Ngài bỗng trở lại bình thường như người khỏe mạnh, khiến mọi người vô cùng kinh ngạc. Tuy nhiên, sau đó Ngài lại lịm đi, suốt quãng đường leo núi xuống đèo dài một dặm, Ngài không hề hay biết gì, cứ như đang ngủ mê khiến ai cũng lấy làm lạ không hiểu nổi. Khi về đến Alon và đặt cáng xuống, Ngài lại tỉnh dậy như một người bình thường. Khi được bạch lại sự tình, Ngài phán: "Hèn chi... đêm qua dường như có một người mặc đồ trắng đi theo."

Đối với những bậc hành giả (yogāvacara) lớn như vậy, không một nguyên cớ nào có thể làm giảm sút tinh thần của các Ngài. Tuy nhiên, đôi khi thể xác lại trở nên suy nhược, và vào những lúc như vậy, các chướng ngại như ảo tượng hay giấc mơ thường có cơ hội len lỏi vào. Cần phải đặc biệt cẩn trọng trong việc ăn uống và sinh hoạt. Thông qua những sự sắp đặt tinh vi, các yếu tố vật chất có thể thâm nhập và khiến cho cái thân không đau trở nên đau đớn.

Ngay trong đêm Ngài Thiền sư trở về tự viện Ledi ở Monywa, Ngài đã thấy một giấc mơ lạ thường. Trong mơ, Ngài ngồi trên đỉnh núi Yugandhara, lưng tựa vào núi Meru (Sumeru), nhìn thấy toàn bộ tam thiên đại thiên thế giới xanh tươi rạng rỡ. Ở một ngọn núi phía đông, bên trong một hang bảo tháp rực rỡ ánh sáng, có đủ loài chim đang vui đùa bay nhảy. Ngài hỏi những con chim đó rằng:

"Tại sao các ngươi lại vào trong cái hang rực lửa như thế này? Các ngươi không thấy nóng sao?"

Chúng trả lời: "Chúng tôi vào trong hang của Ngài là để được mát mẻ và an lạc." Một lát sau, Ngài mơ thấy chính thân thể mình biến thành núi Meru hùng vĩ. Ngài giải mã giấc mơ rằng: "Mình sẽ phải đi khắp đất nước để hoằng dương Giáo pháp."

Trong kinh **Mahāsupina Sutta** thuộc **Pañcaṅguttara Pāḷi** (Tăng Chi Bộ), có ghi chép rằng trước khi thành đạo, Bồ-tát đã mơ thấy mình lấy mặt đất làm giường, lấy núi Meru làm gối nằm ngủ, v.v.


Giấc mộng này rất giống với đại mộng tiền triệu của một vị sắp đắc quả Phật. Đây là điều thường xảy ra đối với những bậc vĩ nhân.

Vào đêm thứ ba, một người hộ tăng (kappiya) cũng đến bạch rằng: “Con nằm mộng thấy trong vũng nước trong lòng bàn tay Ngài, những chú cá đang tung tăng bơi lội, rồi vũng nước ấy bỗng trở nên rộng lớn mênh mông.” Khi sức khỏe đã bình phục, Ngài liền trở về ngọn núi đó.

### Một sợi dây luyến ái (hay là Ledi Pandita)

**Năm 1265 (ÂL)**, Ngài an cư kiết hạ tại tịnh xá rừng Letpadaung, nằm bên bờ sông Thallawadi, phía tây thị trấn Monywa. Ngài trú ngụ trong một thiền đường kinh hành dài sáu mươi cubit (khoảng 30m). Ledi Pandita cùng một vài đệ tử cũng đi theo Ngài. Ngài Sayadaw dành lòng thương mến rất lớn cho Ledi Pandita. Tuy nhiên, vị này lại là người chú trọng vào lý thuyết (anu-thamama), hay chìu chuộng và nuông chiều thân xác. Cá tính của vị này hoàn toàn không tương đồng với Ngài Sayadaw.

Ngài thường xuyên thuyết giảng rằng: “Thân xác này giống như một cục độc lớn, đầy rẫy lỗi lầm, là nơi trú ngụ của bệnh tật; cần phải tận dụng nó trước khi già và đau. Nếu cứ thương hại con bò thuê thì khi đến giờ chủ lấy lại, ta sẽ chỉ còn biết hối hận và đau khổ vô bờ.”

Một ngày nọ, khi đang đi khất thực, Ngài vừa đi phía trước vừa thuyết pháp dạy dỗ đệ tử Pandita. Do mải mê giảng dạy, Ngài đã đi nhầm đường. Ledi Pandita ở phía sau bạch rằng: "Bạch Ngài, Ngài đi nhầm đường rồi ạ... đi đường này cơ." Ngài liền quở trách:

"Hừ... ngươi không chịu lắng nghe lời ta giảng. Đi nhầm con đường này thì chẳng có tai hại gì cả. Nhưng nếu ngươi không nghe lời ta mà đi sai đường (lối sống), thì suốt cả vòng luân hồi này, ngươi sẽ không cách nào thoát ra khỏi hố thẳm đâu, biết chưa!"

Xưa kia, mặc dù Hoàng tử Nanda đã xuất gia, nhưng ông vẫn mặc y rực rỡ, cạo đầu bóng loáng và còn tô vẽ mí mắt rồi đến gặp Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn đã từng than rằng: "Ôi... đến bao giờ ta mới thấy được một Nanda tu hạnh đầu đà (dhutanga) mặc y phấn tảo (pamsukula) đây?"

Với người mà thời cơ chưa đến, ngoài lòng bi mẫn ra thì không còn gì khác để trao. Không thể cho một đứa trẻ còn đang bú mớm ăn cơm trộn thịt.

Ngài Sayadaw Ledi cũng vì quá thương Pandita mà lòng nặng trĩu khi thuyết pháp. Ngài chỉ làm lỡ dở công việc của chính mình, còn vị đệ tử kia thì chẳng hề thấy an lạc trong rừng như ý nguyện của Ngài. Cuối cùng, vị ấy phải bỏ mình trong "khu rừng dục vọng". Thật ra, những người đó tuy giỏi về kinh điển và nổi tiếng khắp cả nước, nhưng lại không nhận được di sản pháp bảo cốt lõi của Ngài Sayadaw. Họ dành cả đời mình để đền đáp ân đức bằng những lời tán tụng hồng danh.



Trong năm đó, Ngài Sayadaw đã viết liên tục các bộ luận: **Paramattha Sankhip** (Tóm lược Thắng pháp), **Catusacca Dipani** (Minh giải Tứ đế), **Nirutti Dipani** (Minh giải Ngữ pháp), **Kammatthana Dipani** (Minh giải Các đề mục thiền định), và **Sammaditthi Dipani** (Minh giải Chánh kiến). Chúng tôi, những đệ tử giỏi chữ nghĩa của Ngài, do rời xa các trung tâm hành trì nên không được chiêm bái những đức hạnh nội tâm của Ngài. Chúng tôi chỉ có thể suy lường qua các bộ Dipani này mà thôi.

### Bài pháp khiến tể tướng Kinwun Mingyi rơi lệ

Vào cuối **năm 1265**, ông U Khin Maung Gyi — thị trưởng Patheingyi, con nuôi của tể tướng Kinwun Mingyi — cùng với bốn năm người khác từ Mandalay đến đảnh lễ và nghe pháp từ Ngài Sayadaw. Sau bốn năm ngày, khi họ chuẩn bị trở về Mandalay, Ngài Sayadaw đã viết một bài thơ Samvega (Cảm hứng tâm linh) theo thể "Lay-cho" để gửi tặng tể tướng với lời nhắn: "Hãy dâng món quà này lên thân phụ của con."

Bài thơ ấy bắt đầu bằng câu: "Chẳng thể bừng tỉnh khỏi cơn mê muội, chốn tịnh lạc ở ngay hướng hữu bên kia, vì không thể quên được lúc hợp thời, nên lại phải trôi lăn hết trong khúc quanh này, vòng quay luân hồi chẳng có điểm dừng."

Vào ngày 11 sau trăng rằm tháng Tabaung năm đó, theo lời thỉnh mời trang trọng của tể tướng Kinwun Mingyi, Ngài Sayadaw đã rời núi Letpadaung để đến Mandalay. Một rạp thuyết pháp lớn đã được dựng lên trong khuôn viên dinh thự của vị tể tướng bên trong hoàng cung, và một đại lễ thuyết pháp kéo dài ba ngày ba đêm đã được tổ chức. Ngài trú ngụ ngay tại gian phòng chính của ngôi nhà, ban ngày thì giải đáp các câu hỏi, ban đêm thì thuyết giảng. Các quan đại thần, quý tộc và những bậc trí giả đều tề tựu đông đủ.

Ngài đã thuyết giảng về pháp hành dựa trên hơi thở (Anapana) để thấu triệt bản chất các đại (dhatu) và phá trừ ngã chấp (atta-ditthi). Vào một đêm nọ, tể tướng Kinwun Mingyi đã đến bên Ngài và bật khóc nức nở, nước mắt tuôn rơi. Tể tướng bạch rằng:

“Bạch Ngài, những pháp hành thiền định Thắng pháp sâu sắc như thế này, cố quốc vương kính yêu của chúng con đã không có cơ duyên được lắng nghe trước khi băng hà. Con ước chi ngài ấy có thể nghe được. Vì thương nhớ ngài mà lòng con không sao ngăn được xúc động. Dù đã xây dựng bao nhiêu nhà nghỉ chân, điện thờ, hang động, chùa chiền, lâu đài, ấn hành Tam Tạng và thực hiện đủ loại công đức với danh nghĩa bậc hộ pháp, nhưng ngài ấy vẫn chưa từng được lắng nghe những giáo lý như thế này, thật đáng tiếc thay.”

Do sự thỉnh cầu của mọi người về việc biên soạn một tài liệu hướng dẫn về cách thực hành thiền hơi thở theo đúng lời dạy, Ngài đã viết bộ **Anapana Dipani**.


**(Bài kệ tóm tắt Pháp Anapana):**
**Giai đoạn đầu: chánh niệm vững vàng, hiểu rõ hơi thở dài và ngắn.**
**Giai đoạn tiếp theo: thấu tỏ toàn thân hơi thở, và cuối cùng đạt đến sự an tịnh.**

Ngài cũng đưa vào bài kệ này để tóm gọn phương pháp thực hành trong kinh **Anapanasati Sutta**. Tuy nhiên, về mặt quan điểm liên quan đến bốn nhóm (catukka), trong khi cả nước đều đi theo Ngài Sayadaw, thì cũng nên tham khảo thêm các bộ luận như **Satipatthana Sutta Nissaya** của thiền sư Mahasi.

Trong thời gian lưu lại Mandalay, Ngài cũng nhận lời thỉnh mời của thiền sư U Pandava (bạn đồng môn) để thuyết pháp tại tu viện Chan-tha-gyi cho hơn mười ngàn vị tăng ni và cư sĩ trong suốt năm đêm liên tiếp.

### Viết lách bền bỉ và chu du thuyết pháp

Sự kiện một bậc nhân sĩ có tầm ảnh hưởng lớn như tể tướng Kinwun Mingyi ở Mandalay thỉnh Ngài thuyết pháp chính là cách để mở đường cho những lời giảng dạy của Ngài được cả nước chấp nhận. Đó chính là sự khai mở luồng sinh khí cho giáo pháp.

Dù các mối nhân duyên vô hình vô cùng rộng lớn và giáo lý thì thâm sâu, nhưng kể từ thời điểm đó, Ngài bắt đầu đi du phương thuyết pháp khắp nơi.

Vào **năm 1266**, bắt đầu từ tháng Kason (tháng 2 theo lịch Miến), Ngài Sayadaw trú ngụ tại khu rừng Engyinmyaing, phía bắc thị trấn Pyinmana. Người dân đã xây dựng dâng cúng một thiền đường kinh hành lớn dài sáu mươi cubit. Có thể nói rằng trong năm đó, tại tịnh xá này, Ngài đã viết được nhiều bộ luận nhất.

Đó là các bộ: **Bhavana Dipani** (Minh giải về Tu tiến), **Bodhipakkhiya Dipani** (Minh giải về Bồ-đề phần), **Anapana Dipani**, **Somanassupekkha Dipani** (Minh giải về Hỷ và Xả), cùng với **Nirutti Dipani Nissaya** và **Sadda Sankhip**. Sự kiên trì và tập trung vào việc viết lách của Ngài đến mức khó có thể tin được.

Một ngày nọ, khi đang tắm trong nhà tắm gần lối kinh hành, Ngài vừa tắm vừa suy ngẫm về nội dung đang viết dở. Bỗng nhiên một ý tưởng lóe lên, Ngài liền bước ra, thân mình còn ướt sũng, không kịp thay y mà cứ thế tiếp tục viết. Mãi cho đến khi cảm thấy quá lạnh, Ngài mới sực tỉnh. Lúc ấy, không một đệ tử nào dám vào nhắc nhở. Các đệ tử mới nhờ ông U Myo — một thầy thuốc từ khu Tawng-lone-pyan, Yangon, đang tạm trú tại đó với tư cách là một hành giả — vào bạch giúp. Thấy Ngài Sayadaw đang mải mê viết lách với mảnh y ướt sũng trên người, ông U Myo vào trình bạch, Ngài mới phán rằng:

“Này con, nếu ta cứ chìu chuộng cái thân xác này thì những ý nghĩa giáo pháp vừa nảy ra sẽ tan biến mất. Thân xác này vốn chẳng có phước báu bằng một chữ trong dòng chữ ta đang viết đâu.” Phán xong, Ngài viết cho xong đoạn văn rồi mới đi tắm lại.

Chính nhờ ý chí nghị lực, định lực và tuệ giác phi thường như thế mà mỗi khi có dịp đối chiếu, giới học giả khắp thế giới đều đặt các tác phẩm của Ngài ngang hàng với các bộ Chú giải (Atthakatha) để làm tài liệu tham chiếu và trích dẫn. Còn về phương diện thực hành giáo pháp, phần lớn hành giả từ khắp mọi nơi cũng đều tìm đến để xin lời chỉ dạy và phán quyết của Ngài.

### Vị Ứng Cúng Cao Thượng Không Nhận Cúng Dường

Chuyện xảy ra khi Ngài Thiền sư đang nhập hạ tại khu rừng thiền In-gyin-myaing, Pyinmana. Vào một ngày nọ, dân chúng vùng Pyinmana cùng nhau tổ chức một buổi lễ đặt bát cúng dường Sa di và Tăng đoàn (Saṅghadāna). Để chư Tăng có thể đi thăng hàng trang nghiêm và dân chúng có thể đứng hai bên dâng cúng một cách trật tự, ban tổ chức đã dựng sẵn một lối đi dài gọi là "Rè-laung" (lối đi phục vụ lễ đặt bát) với cổng vào và cổng ra riêng biệt. Hai bên lối đi được rào bằng phên tre mắt cáo, dọc lối đi được trải chiếu phên mây và vải vóc sạch sẽ.

Trong đoàn Tăng hơn hai trăm vị, Ngài Thiền sư là người đi đầu tiên dẫn đoàn vào thọ nhận sự cúng dường. Theo lệ thường, đoàn sẽ đi vào từ một cổng và đi ra ở cổng phía đối diện. Tuy nhiên, khi chỉ còn cách cổng ra khoảng mười lăm bộ (hơn 4 mét), Ngài không bước tiếp ra lối cổng đó mà bất ngờ quay người đi ngược lại đúng con đường vừa mới đi vào. Chư Tăng đi sau dù không hiểu chuyện gì nhưng cũng không ai dám hỏi, chỉ lẳng lặng quay bước theo Ngài.

Người dân đang đợi sẵn ở hai bên cổng ra cảm thấy vô cùng kinh ngạc và buồn bã khi thấy Ngài không đi đến chỗ mình để thọ nhận vật phẩm. Lúc ấy, Ngài chỉ ôn tồn bảo:

“Còn số vật phẩm cúng dường của các cận sự nam nữ còn lại, hãy chia ra rồi nhờ các hộ tông (kappiya) chuyển về chùa sau.”

Cả chư Tăng và dân chúng lúc đó đều không khỏi hoang mang, khó hiểu. Chỉ đến khi buổi lễ kết thúc, mọi người bắt đầu thu dọn chiếu phên và vải trải đường, lúc đó họ mới vỡ lẽ và không ngớt lời tán dương đức hạnh của Ngài trong niềm hoan hỷ cực độ.

Nguyên do là tại vị trí gần cổng ra, ngay bên dưới lớp chiếu được trải từ chiều tối hôm trước, người ta phát hiện một con rắn lục hổ mang (snake) cực lớn cỡ bắp tay người. Nếu Ngài Thiền sư không dùng tuệ giác soi xét mà cứ bước đi theo lệ thường, con rắn có thể đã bị chư Tăng dẫm phải dẫn đến cái chết, hoặc nếu nó chưa chết thì sẽ quay lại tấn công khiến ai đó gặp tai nạn nguy hiểm. Khi ấy, buổi lễ cúng dường cũng sẽ trở nên mất mát và đau thương.


### Đức Hạnh Giới Hạnh, Định Lực và Lợi Lộc Cúng Dường

Trong thời gian Ngài ở tại rừng thiền In-gyin-myaing, có một người tên là U Tun Hlaing thường nằm mơ thấy một vị Trưởng lão mà ông hằng tôn kính vừa mới viên tịch. Vị Trưởng lão ấy hiện thân trong hình hài một ngạ quỷ (peta) và than rằng: “Ta không có cái ăn, không có cái mặc, hãy làm phước rồi hồi hướng cho ta với.” Vì việc này xảy ra nhiều lần nên U Tun Hlaing đã đến dâng y cho Ngài Thiền sư và xin Ngài hồi hướng công đức.

Ngài Thiền sư bảo:

“Này con Tun Hlaing, với giới hạnh của Ta bấy nhiêu đây, Ta có thể cứu giúp được vị ấy.”

Quả đúng như vậy, không lâu sau, vị Trưởng lão ngạ quỷ kia đã hiện đến trong giấc mơ của U Tun Hlaing với trang phục của thiên nhân (devatā) và nói những lời hoan hỷ tri ân. U Tun Hlaing chính là ông nội của bà Daw Yin My, người ở tu viện Kaba Aye Masoeyein.

Từ năm 1266 (Miến lịch), Ngài Thiền sư bắt đầu đi du hành thuyết pháp khắp vùng Thượng và Hạ Miến Điện. Vì bộ luận *Paramattha Saṅkhitta* đã được Ngài soạn xong từ năm 1265 nên tại mỗi nơi đi qua, Ngài đều thành lập các hội đoàn "Saṅkhitta" cho các hội viên. Đây chính là việc Ngài đã gieo mầm hạt giống Vi Diệu Pháp (Abhidhamma) trên khắp cả nước. Tính đến năm 1288, số lượng hội viên đã vượt quá ba trăm nghìn người. Giống như việc Ngài soạn bộ *Ṭīkā-kyaw* (Chú giải mới), bộ *Nirutti-dīpanī* (Luận giải về ngôn ngữ học) hay việc vận động người dân không ăn thịt bò thường bị một số người phản đối, thì hội đoàn Saṅkhitta cũng từng bị gièm pha, nhạo báng. Thật đáng thương cho những người ấy vì họ đã tự chuốc lấy tổn thất lớn.

Bất cứ nơi nào Ngài Thiền sư đặt chân đến, dân chúng đều đón tiếp và cúng dường Ngài hết lòng như đón tiếp một vị Thánh Tăng (Arahant). Có rất nhiều lời đồn đại vang xa khi Ngài đi khất thực như: “Chân Ngài không chạm đất, Ngài đi bằng thần thông (jhāna)”, hay khi Ngài đi bằng hai toa tàu thì người ta lại thấy như “có ba toa tàu cùng chuyển động”... Những lời đồn như vậy rất nhiều.

Một điều kỳ diệu khiến người bình thường khó có thể hình dung được, đó là tất cả vật phẩm nhận được sau các buổi thuyết pháp, Ngài đều đem cúng dường lại cho chư Tăng tại địa phương đó. Có một lần, khi từ vùng Hạ Miến trở về tu viện Ledi, Ngài cho đánh khánh tập trung chư Tăng lại.

Khi chư Tăng tề tựu đông đủ, Ngài dạy:

“Này, đừng nghĩ rằng sau khi Ta đi thuyết pháp về, Ta gọi các ông đến để chia vật phẩm. Nhớ lại hồi Ta còn trẻ ở Mandalay, các vị giảng sư khi từ Hạ Miến trở về thường liệt kê danh sách nào là gạo được bao nhiêu, mắm muối cá khô được bao nhiêu, rồi y áo, dù, dép, thảm vải có bao nhiêu... rồi cứ thế ăn uống, hưởng thụ suốt cả tháng trời. Thật là lãng phí thời gian biết bao! Này các sư trẻ, Ta gọi các ông đến là để chuẩn bị cho buổi học Pháp vào ngày mai đấy.”


Có một lần khác, khi Ngài tạm lưu trú và thuyết pháp tại tu viện Masoeyein ở Mandalay, các vật phẩm cúng dường từ các khu phố đổ về được xếp thành đống lớn trên một tòa nhà lớn. Riêng số y áo đã chất đầy hai gian phòng lớn, cao bằng đầu người. Vị Hòa thượng trẻ quản lý tu viện lúc đó là U Suriya (nay là Ngài Masoeyein Sayadaw vĩ đại, bậc Abhidhaja Mahā Raṭṭha Guru, thọ 96 tuổi) đã phải lập danh sách để trông coi. Ông cứ chờ đợi mãi lời dặn dò của Ngài Thiền sư về việc phân chia số vật phẩm này trước khi Ngài quay về Monywa. Vì số lượng và giá trị vật phẩm quá lớn nên ông cảm thấy rất áp lực khi phải giữ gìn. Cho đến tận ngày rời đi, Ngài Thiền sư vẫn không nói một lời nào, và vị Hòa thượng cũng không dám hỏi. Cuối cùng, vì muốn nghe lời chỉ dạy, U Suriya đã theo Ngài ra tới tận ga tàu khi Ngài chuẩn bị về Monywa. Lúc này ông mới dám thưa hỏi. Ngài Thiền sư nghe xong liền đáp một cách nhẹ nhàng như thể đó là việc không có gì quan trọng:

“Ồ, vị Masoeyein trẻ tuổi này thật là... Đừng vì những chuyện ấy mà làm phiền Ta. Cứ tùy nghi sắp xếp rồi phân phát hết cho các vị đang tu học (pariyatti) là được.”

Ngài Hòa thượng Masoeyein sau này thường kể lại với lòng tôn kính sâu sắc rằng, khi ấy số vật phẩm đã được chia đều cho hàng ngàn vị sư trong tu viện và hầu hết các vị giảng sư trong khắp thành phố đều được thọ nhận.

**Upaṭṭhāpenti parisaṃ,**
**Dhammato no ca kammato.**
**Dhammaṃ paresaṃ desenti,**
**Atthato no ca lābhato.**

(**Trích Pārā-pariya Thera-gāthā**)

**Parisaṃ**: Đối với hàng đệ tử và đồ chúng gồm cả xuất gia lẫn tại gia. **Dhammato**: Chỉ vì mục đích giúp họ tăng trưởng trí tuệ và tích lũy công đức qua việc nghe Pháp. **Upaṭṭhāpenti**: Nên Ngài mới cho phép họ đến gần gũi và phụng sự. **No ca kammato**: Chứ không phải để họ đến hầu hạ hay làm các công việc riêng cho bản thân Ngài.

**Atthato**: Chỉ vì mục đích mang lại lợi ích cao thượng (lợi ích xuất thế gian). **Paresaṃ**: Đối với người khác (chúng sinh). **Dhammaṃ**: Giáo Pháp. **Desenti**: Ngài giảng dạy, viết lách và thuyết giảng. **No ca lābhato**: Chứ không phải vì mục đích cầu danh tiếng, sự cung kính hay lợi lộc cúng dường.

(Bài kệ này trích từ kinh văn nhưng được diễn giải theo cách đảo ngược ý nghĩa để nhấn mạnh).


# Các Bậc Alahan và Những Nhân Vật Đặc Biệt

### Phía Trước Hoằng Pháp, Phía Sau Tan Rã

Khi Ngài Ledi Sayadaw đi du hành thuyết pháp, các đại đệ tử có ngoại hình trang nghiêm, hùng biện giỏi và uyên bác như Ledi Pandita, Ledi Vāyāma (Sayagyi Myo), Ledi Kitti (Sayagyi Sein), Ledi Waṇṇita (U Hla Tin), v.v., thường xuyên đi theo hộ tống. Tuy nhiên, không lâu sau, các đại đệ tử này lần lượt hoàn tục. Liên quan đến việc này, Ngài Mahā Visuddhārāma Sayadaw đã gửi một bài kệ đến Ngài Ledi Sayadaw. Ý nghĩa của bài kệ đó như sau:

“Giống như con tê giác có sức mạnh to lớn, dùng chiếc sừng duy nhất và vững chãi của mình để hất tung mọi vật cản phía trước rồi quăng ra sau, khiến cho bầy con đi theo sau bị trúng phải mà tử nạn; Ngài Ledi với trí tuệ lực (ñāṇabala) vĩ đại cũng vậy, Ngài đã vô tình làm hại các đệ tử của mình.”

Khi đọc bức thư này, Ngài Sayadaw phán với các đệ tử rằng: “Nếu khi còn đang dạy học mà nhận được lời giáo huấn của Ngài Mahā Visuddhārāma Sayadaw, có lẽ Ta đã không đi du hành thuyết pháp. Nhưng giờ đây sự đã rồi. Dù chỉ còn lại một mình, Ta vẫn phải tiếp tục tiến bước. Trong chiến trận, việc các vị tướng lãnh hy sinh là điều khó tránh khỏi.”

Ngài Manle Sayadaw khi nghe tin Ngài Ledi đi thuyết pháp cũng thường nói: “À, lại một con tê giác lớn xuất trận rồi. Không biết bao nhiêu đứa con sẽ phải bỏ mạng đây.” Ngài Ledi đáp lại rằng: “Việc một vài đứa con tử nạn không quan trọng, điều quan trọng là phải khai hoang rừng rậm. Việc một vài đệ tử hoàn tục không đáng bận tâm, điều quan trọng là giúp cho hàng ngàn, hàng vạn người đạt được ánh sáng trí tuệ.”

Đây là bài học cho thấy rằng bên cạnh những bậc thiện tri thức luôn chiến đấu với Ma vương, nếu chỉ có sức đề kháng tầm thường thì khó lòng trụ vững.

Để làm rõ điểm này, cũng nên thuật lại đôi chút về đoạn kết bí ẩn của vị tu sĩ trẻ Ledi Pandita.

Có thời gian, Ledi Pandita đến ở tại Bahan, Yangon để giám sát việc in ấn các tác phẩm của Ngài Sayadaw. Khi đó, một thanh niên da đỏ (lu-ni) không rõ lai lịch xuất hiện và đến ở cùng. Anh ta rất thân thiết và tận tình giúp đỡ. Ledi Pandita cũng không hỏi han kỹ về lai lịch của anh ta. Thỉnh thoảng, người thanh niên này lại mất tích bí ẩn nhiều ngày, khi trở về thường mang theo những món đồ cổ quý giá. Cuối cùng, người thanh niên biến mất và mang về những bức thư tình từ một người phụ nữ lớn tuổi (Ma Ma Gyi) ở Pyinmana. Ledi Pandita đã gửi thư trả lời cho người phụ nữ đó qua anh ta. Cứ như vậy, vị đệ tử mà Ngài Sayadaw tin cậy nhất đã bị sa bẫy. Khi Ledi Pandita hẹn gặp người phụ nữ và hoàn tục tại Mandalay, người thanh niên da đỏ đó lại đột ngột xuất hiện một lần nữa, sau đó thì không bao giờ thấy đâu nữa. Về việc này, tác giả cuốn "Ledi Gandhavan" ca ngợi rằng đó là sự hộ trì của chư Thiên (Nát). Tuy nhiên, người ta lại không nhìn thấy những hiểm họa huyền bí ẩn sau công hạnh tu tập.



### Dùng Sự Thật Cầu Mưa

Vào hạ năm 1268 (Miến lịch), Ngài cư ngụ tại rừng Vipassanā Kone, thành phố Pyay. Lúc bấy giờ ở vùng Henzada, cơn mưa cuối mùa không đến, gây nên thảm họa khiến nhiều mẫu ruộng sắp bị hư hại. Một quan chức người Anh tại Irrawaddy tên là "Maxwell" đã thỉnh mời Ngài đến để lập đàn thuyết pháp.

Ngay từ khi nhận lời thỉnh mời, hằng ngày Ngài đã quán xét công hạnh cúng dường nước (Nibaddhavatta) bền bỉ hơn 20 năm của mình để thực hiện lời nguyện chân ngôn (Sacca), đồng thời rải tâm từ đến các vị chư Thiên cai quản mưa (Mưa thần). Khi Ngài ngự thuyền đến, dân chúng đứng kín dọc bờ sông để cung đón. Khi thuyền sắp cập bến, mây đen bỗng kéo đến và mưa đổ xuống tầm tã suốt khoảng một giờ đồng hồ. Thuyền phải neo lại giữa dòng để chờ đợi. Mọi người đều vô cùng kinh ngạc và vui mừng khôn xiết. Ngài phán rằng: “Đó là nhờ năng lực của công hạnh cúng dường nước suốt hơn 20 năm qua đấy.”

Kể từ đó, đối với những vùng hạn hán, Ngài đã viết các bài "Mưa Hộ Kinh (Mိုးပရိတ် - Moe Paritta), Mưa Yết Ma (Mိုးကမ္မဝါ - Moe Kammavā), Chiếu chỉ cầu mưa" và dùng năng lực Giới hạnh, Tâm từ, Sự thật và Định lực của mình để làm mưa rơi xuống cứu độ chúng sinh. Năng lực của các bậc thiện tri thức có thể phá vỡ cả những quy luật tự nhiên của thế giới đến mức người bình thường khó lòng tin nổi.

Giống như không có tài sản nào mà Giới hạnh không thể mang lại, cũng không có hiểm họa nào mà đức Nhẫn nhục và Tâm từ không thể chiến thắng. Hơn thế nữa, không có việc gì mà năng lực của Sự Thật (Sacca) không thể thực hiện hay thành tựu được.

Ngay cả bằng chân ngôn của loài vật cũng có thể làm mưa rơi xuống, có thể dập tắt lửa đang cháy hay làm dừng dòng nước đang chảy. Sự thật chính là quy luật của thế giới, là bản chất thực tại tuyệt đối. Nếu nhìn bằng con mắt trí tuệ, yếu tố con người không phải là chính yếu, mà sự chân thật mới là chính yếu.

Chúng sinh khi chưa gặp cảnh khốn cùng thường hay cùn nhụt ý chí, sống buông thả và chỉ biết hưởng thụ. Họ lầm tưởng rằng mắt, tai, mũi, lưỡi và thân xác này là nơi nương tựa duy nhất. Nói cách khác, họ chỉ nương tựa vào vật chất (Rūpa). Họ không tin rằng có những nguồn năng lực to lớn và dễ dàng đạt được hơn cả sức mạnh của hàng vạn người cộng lại. Thậm chí đôi khi ngay cả những bậc hành giả dũng mãnh cũng quên mất những món vũ khí tuyệt vời này.



### Sự Hối Hận của Vị Sayadaw Từng Có Ý Coi Thường

Trong hành trình du hành thuyết pháp khắp nơi, tại buổi pháp thoại ở thành phố Taungdwingyi năm 1277 (Miến lịch) đã có một sự kiện đặc biệt xảy ra. Người dân Taungdwingyi đã dùng kiệu khiêng Ngài từ Migyaunggyi đi suốt quãng đường 35 dặm. Đó không phải là đức tin và sự tinh tấn tầm thường. Chính vì vậy, Ngài đã đặc biệt thuyết giảng suốt bảy đêm tại đó. Sau 4-5 ngày thuyết pháp, vị phương trượng chùa Bo Kone đã đến nơi Ngài ngụ và bày tỏ lời tri ân, sám hối:

“Bạch Ngài, con là trụ trì chùa Bo Kone ở Mandalay. Mặc dù Ngài đã thuyết pháp khắp bốn phương ở Mandalay nhưng con chưa bao giờ đi nghe pháp. Vì nghĩ Ngài cũng giống như bao người khác, con từng coi thường và nghĩ rằng: 'Kiểu như Ledi thì chúng ta cũng giảng được vậy, cứ xem sách theo lời Phật dạy mà giảng thôi, Ledi chắc cũng chẳng giảng gì khác ngoài kinh sách đâu'. Đến hôm nay, vì nghe thiên hạ bàn tán quá nhiều nên con mới đi nghe thử, và con đã hoàn toàn sai lầm. Xin Ngài từ bi hỷ xả cho những lỗi lầm xúc phạm của con.”

Khi đó, Ngài Ledi Sayadaw phán rằng:

“Này sư Bo Kone, tôi và chúng sinh thường rất hay tự mãn với chút hiểu biết của mình. Ngày mà mình nhận ra lỗi lầm của bản thân chính là ngày bắt đầu của sự tiến bộ và thành đạt. Những bài pháp tôi giảng ở Taungdwingyi này là giảng chung cho đại đa số quần chúng. Còn bây giờ, đối với riêng sư Bo Kone, tôi sẽ giảng một bài pháp đặc biệt.”

Nói đoạn, Ngài thuyết giảng liên tiếp trong ba đêm về chiều sâu khác biệt giữa trí tuệ học thuật (Pariyatti) và trí tuệ thực hành (Paṭipatti) để sư Bo Kone được thấu suốt.

“Bản thân tôi thời trẻ cũng từng rất tự mãn về mình. Tuy chúng ta luôn lấy những gì được nhận biết qua mắt, tai, mũi, lưỡi, thân làm tiêu chuẩn phán đoán đúng sai, nhưng những nhận thức đó thực ra rất nông cạn. Chúng ta thậm chí không biết nổi một phần trăm của sự thật. Thời còn là giảng sư (Sā-cha-bhone-gyi), câu 'Namotassa' mà tôi hiểu theo ý nghĩa con chữ thực ra rất nực cười khi đem ra áp dụng dưới gốc cây rừng. Khi đó, sự hiểu biết về ý nghĩa không phải để thực hành, mà chỉ đủ để giảng dạy và truyền thụ thôi. Nó giống như việc chỉ biết nói rằng muối là một thứ có vị mặn, nhưng hoàn toàn không biết gì về cái mặn nóng, mặn lạnh, mặn ngọt, mặn đắng, mặn nhạt hay mặn đậm đà cả.”

“Này sư Bo Kone, nói một cách dân dã thì một người tâm trí không minh mẫn không những không thể tìm kiếm kiến thức hay tài sản, mà ngay cả những kiến thức và tài sản đã có sẵn cũng trở nên vô dụng đối với bản thân họ cũng như người khác.”

“Trong thế gian này, những người không làm chủ được chân tay hay lời nói thì không thể hoàn thành công việc cần đến chân tay hay lời nói một cách có hiệu quả. Những người không làm chủ được tâm mình cũng y như thế. Họ không thể thành tựu lợi ích trong những công việc thuộc về tâm. Ngay cả việc chú tâm vào đức hạnh của Phật cho đến khi kết thúc một bài kinh **Itipi so** (Ân đức Phật), họ cũng không làm được. Nếu không thể định tâm, thì dù có thông suốt Tam Tạng đi nữa, lợi ích cũng chẳng trọn vẹn. Chẳng phải người không làm chủ được tâm mình thì gọi là người điên sao? Phải... người điên vì không làm chủ được tâm nên ngay cả một bát cơm cũng không thể ăn cho xong. Họ vừa muốn ăn lại vừa muốn phá nát bát cơm rồi đứng dậy bỏ đi. Chỉ khi bước vào công việc hành thiền — vốn là công việc của tâm — thì những người như Ngài Bo Kone và chúng tôi đây mới nhận ra mình cũng giống như người điên không tự ăn nổi bát cơm của mình vậy.

Nói cách khác, người không làm chủ được tâm giống như một người lái thuyền không điều khiển được bánh lái. Một người lái thuyền chở đầy hàng hóa nặng nề đến mức có thể chìm bất cứ lúc nào, khi xuôi dòng mà không giữ được bánh lái thì đành phải để mặc cho dòng nước dữ cuốn trôi. Ban đêm, dọc theo bờ bến chẳng nhìn thấy gì, cũng giống như trong vòng luân hồi phải đối mặt với những đại kiếp ‘Không’ (Suñña Kappa) vắng bóng chư Phật. Khi là ban ngày, dù nhìn thấy bến bờ xinh đẹp dọc lối đi nhưng vì không làm chủ được bánh lái nên chẳng thể ghé vào, đành vừa nhìn vừa ngưỡng mộ, vừa tán dương mà vẫn phải trôi dạt ra đại dương. Cũng vậy, dù gặp được giáo pháp (Sāsana) với bến đỗ an lành, nhưng nếu không tu tập Định (Samatha) và Tuệ (Vipassanā) thì không thể cập bến Đạo Quả Niết-bàn. Họ chỉ dừng lại ở mức độ là những thí chủ xây chùa, những vị Tăng bình thường, vị Tăng học rộng hay vị Tăng có danh hiệu cao quý, rồi cứ thế phiêu dạt, trôi nổi mãi trong cõi luân hồi của các đại kiếp ‘Không’.” Qua đó, Ngài chỉ rõ những **Ādīnava** (hiểm họa, lỗi lầm) của kiếp sống. Những đêm sau, Ngài thuyết về pháp **Nissaraṇa** (sự xuất ly), hướng dẫn về định và tuệ.

Dù giữa lý thuyết và thực hành dường như có sự khác biệt về cảm nhận, nhưng thực chất chúng là một. Khi xem xét các bản kinh Pāli, Ngài giảng giải sâu sắc và thấm thía như nước thấm vào cát, khiến người nghe vô cùng hoan hỷ và tôn kính. Trong lúc hai vị cùng nhau đàm luận trong am thất, Ngài trưởng lão Bo Kone nghe mà lòng rúng động, da gà nổi lên từng cơn.

“Trưởng lão Ledi thực sự là một bậc Thánh (Ariya)!” Trí tuệ bừng sáng như ánh chớp, Ngài vừa sợ hãi đến mức muốn bỏ chạy, vừa hối tiếc rằng: “Sao mình lại gặp Ngài muộn màng đến thế!”

Liên quan đến lộ trình thực hành, Ngài Ledi trước tiên hướng dẫn phải ghi nhớ hơi thở ra vào không được buông lơi, rồi giảng dạy phương pháp tu tập thiền quán từ các bước chuẩn bị cơ bản (Parikamma). Ngài cũng chỉ dẫn chi tiết cách quán chiếu bốn đại (Dhatu) và sáu loại thức (Viññāṇa).

Ngài cũng chỉ rõ rằng các tác phẩm như **Ānāpāna Dīpanī**, **Bhāvanā Dīpanī** là những người bạn đồng hành, những bậc thầy tốt luôn cận kề chỉ dẫn trong quá trình hành thiền.


Trưởng lão Bo Kone sau khi nghe pháp riêng trong ba đêm, đã cung kính đảnh lễ dưới chân Ngài Ledi, bày tỏ lòng sám hối, sự nương tựa và lòng biết ơn sâu sắc rồi trở về chùa. Vừa về đến nơi, Ngài lập tức chuẩn bị một bình bát, ba tấm y cà-sa, từ bỏ ngôi chùa cùng các đệ tử và thí chủ của mình, ngay trong đêm đó lặng lẽ xuất gia vào rừng tu tập.

### Công cuộc cứu giúp trong đại nạn dịch bệnh

Vào năm 1270 (Miến lịch), Ngài Ledi an cư tại núi Aung Lan, thuộc vùng núi Kyaik Than Lan, thành phố Mawlamyine. Khi đó, tại vùng Thượng Miến Điện, bệnh dịch tả và dịch hạch bắt đầu bùng phát lẻ tẻ, vì vậy Ngài đã soạn cuốn “**Rogantara Dīpanī**” (Minh sát về dịch bệnh).

Không nỡ nhìn thấy chúng sinh đau khổ vì thiếu thốn giới hạnh và định lực, Ngài tha thiết muốn cứu độ trong khả năng của mình. Vốn là người luôn giúp đỡ bệnh nhân từ thuở nhỏ, nay Ngài viết ra các bài kinh Phật như “Kammavā (Nghi thức tụng đọc) cầu an, Sắc lệnh Phật gia, Cakra Paritta...” với niềm tin hộ trì chúng sinh vượt qua các đại nạn.

Tuy nhiên, thay vì chỉ dựa hoàn toàn vào những “vũ khí” tối thượng như sự thật (Sacca) và các bài kinh hộ trì (Paritta), Ngài đã chấp nhận cả những hình thức như phù ấn (Inn-aing) hay bùa chú. Thực tế, những điều này vốn trái ngược với đức tin ban đầu của Ngài và không phù hợp với tâm ý thanh tịnh thường nhật. Thời điểm đó, một số thiền sư Vipassanā đã bắt đầu giảm bớt lòng tin nơi Ngài. Nhưng vì Ngài là bậc đa tài xuất chúng nên không ai dám phản bác. (Xem phần về Trưởng lão **Nibbinda**).

Bản chất của các thế lực chướng ngại (Ma vương) rất tinh vi và khó nhận biết. Chúng thường dàn xếp các thế trận đan xen, ràng buộc khiến người ta không thể tránh khỏi. Những trạng thái này ngay cả nhiều hành giả cũng không dễ phân biệt. Đối với những người không thực hành, thật khó để tin hay diễn tả điều này. Do đó, dù có giỏi giáo lý (Pariyatti) hay nỗ lực quên mình đến đâu, nếu không vượt qua được cửa ải này thì cũng không thể về đích. Đế chế của Ma vương vô cùng rộng lớn. Nhưng chính nhờ những chướng ngại và khó khăn ấy mà giới, định, tuệ của Ngài càng thêm tăng trưởng, và số lượng chúng sinh được Ngài độ hóa cũng ngày càng đông đảo hơn. Ngài hẳn đã nhìn thấy rõ điều này: Đối với một bậc chân tu, chướng ngại chỉ giống như những viên đá kê chân để bước cao hơn mà thôi.


Trong khi Ngài đang soạn cuốn **Rogantara Dīpanī**, có một vị đạo sĩ từ biên giới Thái Lan tìm đến. Nghe danh Ngài đang viết về cách chữa trị dịch bệnh, vị đạo sĩ muốn hiến tặng một phù ấn (Inn) rất linh nghiệm. Phù ấn này do bảy người mặc đồ trắng (chư thiên hoặc bậc đạo hạnh) hiện về báo mộng cho vị đạo sĩ khi làng của ông đang xảy ra dịch hạch. Vị đạo sĩ thưa rằng nếu mang phù ấn này theo người hoặc ngâm nước uống thì bệnh sẽ khỏi ngay lập tức. Trong phù ấn đó, chữ Ph-ra-tha-ma (Sanskrit) hay Pa-hta-ma (Pāli) với ký tự 'Pa' (ပ) được đặt trang trọng ở chính giữa.

Khi Ngài ở tại tu viện ở Prome (Pyay), Ngài cũng thấy một giấc mơ: “Một đêm nọ, tất cả cây đại thụ ở thành phố Pyay đều bốc cháy và đích thân Ngài phải đi dập lửa”. Chẳng bao lâu sau, đại dịch hạch tràn xuống thành phố Pyay. Giữa lúc cả thành phố đang hoang mang, một người thợ rèn tìm đến hiến tặng kiến thức. Người này kể rằng trong mơ, thần đất (Bhilu) và một vị mặc đồ trắng đã truyền cho bài chú 13 vòng phép (Cakra) để chữa bệnh và đang rất nổi danh. Kể từ thời điểm đó, Ngài tạm dừng các buổi thuyết pháp lớn để không quản mỏi mệt đi khắp các vùng miền, trực tiếp phòng chống dịch hạch và dịch tả. (Ngài đã hoạt động tích cực từ năm 1272 đến 1274 Miến lịch).

Năm 1275, khi dịch hạch bùng phát ở Sagaing, Ngài yêu cầu đọc các bản Sắc lệnh, Kammavā, Paritta, đồng thời cho người đánh súng, gõ thanh sắt, thùng sắt, mõ kêu rộn rã. Ngài cũng ban phát chỉ ngũ sắc, cát đã được chú nguyện và cho dùng ná bắn đi. Ngài còn phân phát cả bùa đeo tay. Nhờ vậy, dịch bệnh thuyên giảm. Tuy nhiên, sau đó người ta lại nằm mơ thấy “Một đoàn quân lớn đang tiến về phía Bắc dọc theo đường ray xe lửa”. Nghe ngóng tin tức thì quả nhiên các thị trấn, làng mạc dọc đường ray xe lửa lần lượt bùng phát dịch bệnh y như trong giấc mơ.

Ngài phải du hành đến tận Shwebo. Trước khi đến, Ngài cho đánh chuông thông báo khắp thành phố: “Trưởng lão Ledi sẽ đến để đuổi dịch bệnh đi. Dân chúng hãy giữ tâm bình thản, tĩnh lặng”. Khi ấy, các loài phi nhân (Amanussa) báo mộng rằng: “Trưởng lão Ledi đến rồi, chúng ta không thể ở lại đây được nữa” rồi bỏ đi. Chỉ nhờ việc thông tin như vậy mà dịch bệnh chấm dứt, dân chúng vô cùng kính ngưỡng và tán dương Ngài. Trách nhiệm của Ngài vì thế càng trở nên nặng nề hơn.

Đại dịch cứ như trò đuổi bắt, lúc ẩn lúc hiện. Ngài phải theo sát dấu vết như lần theo luồng khói để trấn áp. Sau đó vào năm 1274, dịch bệnh lan rộng ở Mandalay, Meiktila, Myingyan... đến mức chư Tăng cũng phải bỏ chạy, khiến các thành phố lớn lâm vào cảnh giáo pháp tiêu điều, lòng người hoảng loạn. Khi ấy, Ngài lại càng thương xót cho chúng sinh.


 Dù không được thỉnh mời từ thành phố này sang thành phố khác, Ngài vẫn vân du không ngừng nghỉ. Riêng tại thành phố Mandalay, vào những tháng thường xảy ra dịch bệnh, Ngài cố ý ở lại canh chừng để bảo vệ dân chúng. Từ trên pháp tòa, Ngài cất giọng vang rền: “Các con có nghe tiếng chó sủa không? Hãy lắng nghe đi. Mưa giông, mưa đá sẽ đổ xuống. Nếu ai nằm mộng thấy điều gì lạ, hãy đến thưa với Ta. Bất kể thành phố hay làng mạc nào có người ngã bệnh, hãy lập tức đến thỉnh Ta ngay!” Ngài dõng dạc tuyên bố và mời gọi như thế. Tại mỗi thành phố Ngài đặt chân đến, bệnh tật đều được tiêu trừ một cách kỳ diệu. Sự chữa lành đó không chỉ đến từ giới đức và định lực của Ngài, mà còn nhờ vào phước báu Ba-la-mật hộ trì bệnh nhân (*Nibaddha-gilāna-vatta*) — một thiện nghiệp mà Ngài đã thực hiện không mệt mỏi, không ghê tởm, chăm sóc người bệnh như con đẻ ngay từ khi Ngài còn trẻ.

Về việc tụng đọc kinh an lành (*Paritta*) và kinh Yết-ma (*Kammavācā*) để ngăn chặn tai ương, Ngài thường dạy rằng:

“Khi tụng để cầu phúc lành, cần tụng giọng dịu dàng, dễ nghe. Nhưng khi tụng để ngăn chặn và xua đuổi nguy hiểm, tuyệt đối không được tụng với giọng rên rỉ, yếu ớt. Phải tụng một cách quyết liệt, mạnh mẽ, với giọng uy lực như đang khiển trách. Thậm chí đối với kinh Yết-ma, không được dùng bản chép trên giấy thường. Phải cầm bản kinh sơn son thếp vàng, chữ viết bằng hạt me mà tụng. Có thế thì bọn ma quỷ, ác sâm mới kinh hãi chạy trốn.”

Trong những buổi lễ như vậy, điều Ngài không hài lòng nhất là việc các vị sư có ăn thịt bò tham gia tụng đọc.

Ngài nói: “Này, cái miệng vừa ăn thịt bò xong mà lại tụng *‘Suṇātu me bhante saṅgho’* (Bạch Đại đức Tăng, xin hãy nghe tôi). Mùi thịt bò nồng nặc xông xa cả dặm, lũ quỷ dữ cứ theo làn khói mùi thịt bò đó mà tìm đến thôi.” Thật là một lời dạy đáng ghi nhớ.

Ngài đã thành công vang dội trong việc ngăn chặn và xua đuổi các đại dịch, khiến người dân hết lòng nương tựa. Ngài luôn giữ vững tâm nguyện, giới hạnh, lòng bi mẫn, định lực và sự tinh tấn giống như Ngài Trưởng lão Ānanda, vị đã cứu độ kinh thành Vesālī khỏi ba tai ương bằng cách tụng kinh Ratanasutta suốt đêm. Ngài Ledi Sayadaw hễ làm là thành tựu, và vì sự hiệu nghiệm đó mà Ngài luôn xả thân cứu giúp.

Có thể nói Ngài như đang chơi trò đuổi bắt với các cơn đại dịch. Công việc cứu độ chúng sinh là vô cùng cao quý, nhưng cũng rất khó thực hiện. Loại công việc này tuy đối với các hành giả chưa hoàn tất phận sự sa-môn là cao thượng, nhưng cũng tiềm ẩn nguy cơ. Nó có thể trở thành công việc thuộc về phần thoái đọa (*Hānabhāgiya*).

Điều này cũng giống như một người có được phương thuốc trị bệnh hủi (phong cùi) thần hiệu, tự mình điều chế và uống thì mới khỏi được một nửa, nhưng vì lòng bi mẫn thôi thúc quá mạnh, lại thấy có nhiều bệnh nhân và bản thân cũng có sẵn tiền bạc, nên đứng ra làm thầy thuốc chữa bệnh hủi. Nếu nói như vậy thì có lẽ không sai biệt so với ý chỉ của Đức Phật. Trong lộ trình tu tập thực hành (*Paṭipatti*), thật khó để nhìn ra và tránh khỏi những mắt xích trách nhiệm phụ trội thường phát sinh như vậy. Những hành giả muốn làm một vị thầy lớn thường lấy làm hài lòng với những việc đó.



Đế quốc của Ma vương vốn rộng lớn và đầy mưu chước. Hắn có thể giăng bẫy bằng cách tung ra những mồi nhử tinh vi. Một con ngựa dù chạy nhanh nhưng nếu bị buộc thêm chì vào chân thì cũng phải chậm lại. Công việc cứu độ, nếu có khả năng mà không làm thì không tròn lòng bi mẫn; nhưng nếu làm thì công việc chính yếu (Pháp hành thiền) sẽ bị ảnh hưởng, đó quả là một thế kẹt khó toàn diện.

Các vị Phật không màng đến những vấn đề mang tính chất cạm bẫy như vậy, các Ngài luôn an nhiên đứng vững trên con đường chân lý Trung đạo (*Majjhima-paṭipadā*) bằng sự im lặng thánh thiện. Này các bậc thiện tri thức, hãy suy xét và thực hành với sự dẫn dắt của trí tuệ.

Tại đây, những dấu hiệu, điềm chiêm bao, cho đến những lá bùa, chú thuật, linh phù... chẳng phải là những manh mối cho thấy sự ràng buộc của các nghiệp duyên hay sao? Việc bị quật ngã sau khi đã được tôn vinh lên cao thường đau đớn hơn nhiều so với việc bị dẫm đạp khi đang ngồi dưới đất.

Có lẽ chúng ta chỉ có thể tự an ủi rằng: Vì nhìn thấy việc thực hiện những Phật sự đó sẽ giúp danh tiếng vang xa hơn, từ đó dẫn dắt được nhiều chúng sinh hữu duyên đạt đến giải thoát, nên dù biết đó là sự chướng ngại, Ngài vẫn dũng mãnh dấn thân thực hiện.

### Đền ơn Đức Phật

Từ năm 1279 (Miến lịch), Ngài bắt đầu tạm ngừng việc vân du thuyết pháp khắp các vùng. Ngài nhận thấy đó cũng là một loại chướng ngại (*Palibodha*). Tuy nhiên trên thực tế, thật khó để tránh khỏi hoàn toàn. Với tính cách của Ngài, bất kể công việc gì Ngài cũng thực hiện với sự kiên trì, tận tụy và quyết tâm cao độ.

Tôi còn nhớ một lời Ngài từng dạy vị Thủ khoa (*Paṭhamakyaw*) U Paññāsīha (U Gyi Pe) liên quan đến một công việc nọ:

“Này con, Maung Paññāsīha. Khi định làm một việc gì, bản thân con phải suy xét thật kỹ trước, rồi tham vấn với những bậc có tầm nhìn xa trông rộng, vì mình dễ lầm lẫn lắm. Này, suy xét và tham vấn xong chưa? Nếu xong rồi thì hãy làm đi. Đã làm thì đừng có suy tính kiểu ‘chết rồi, sai rồi’ nữa. Đừng bận tâm đến ai nói gì, cứ dấn tới mà làm. Có sai thì cứ làm, càng làm càng sai, sai mặc kệ sai, cứ làm đi. Tiếp tục làm đi con. Chính trong khi làm, con sẽ tìm thấy cái đúng.”

Lấy phương châm “Muốn làm thì cứ làm, không được thối lui; chuyện gì đến cứ đến, đừng có nản lòng”, lời giáo huấn của Ngài thật đanh thép và sắc bén. Bản thân Ngài cũng luôn hành động theo đúng tôn chỉ này trong mọi việc. Một khi đã quyết định làm, Ngài không bao giờ lùi bước. Quả là một bậc đại trượng phu. Ngay cả trong cách nói năng:



“Này Maung Waṇṇita, khi nói hay viết, không được dùng những lời lẽ yếu ớt, rên rỉ, rỗng tuếch không có thực chất. Phải nói, phải viết một cách chắc chắn, tròn đầy và súc tích.” Ngài đã dạy như vậy.

Với tinh thần quyết liệt đó, những gì Ngài thực hiện đã có tầm ảnh hưởng lan rộng khắp thế giới. Danh tiếng của Ngài vang xa khắp năm châu. Tuy nhiên, nếu xét từ góc độ thực hành (*Paṭipatti*), Ngài cũng thấu thị rằng một số công việc có thể trở thành chướng ngại (*Palibodha*) và gây ra những tì vết cho tuệ quán (*Vipassanupatti-lesa* - những uế nhiễm của Vipassanā).

Vào năm 1279, Ngài an cư tại chùa Ledi. Sau khi mãn hạ, Ngài nói với các đệ tử và thí chủ thân cận:

“Này các đệ tử, suốt hai mươi năm ròng, ta đã vân du khắp vùng Thượng và Hạ Miến Điện để thuyết pháp, vì lòng thương tưởng muốn chúng sinh thấu hiểu được ánh sáng của Danh và Sắc. Ta đã hy sinh lợi ích cá nhân để thực hiện công việc thuyết pháp đầy chướng ngại này. Nay ta vẫn còn tâm nguyện muốn đền đáp ân đức của Đức Thế Tôn, nên ta sẽ vào rừng Kyee-pin-gyi tĩnh mịch để tu tập. Chỉ có Maung Waṇṇita và một người hộ tông đi theo ta mà thôi.”

Nói đoạn, vào ngày cuối tháng Thadingyut (tháng 7 Miến lịch), Ngài rời chùa Ledi và đi vào khu rừng phía đông thị trấn Alon.

Bắt đầu từ ngày mùng 1 tháng Tazaungmon cho đến ngày cuối tháng Tabaung, tổng cộng là năm tháng tròn. Công việc đền ơn này bao gồm việc tụng niệm cúng dường đại kinh Quy y (*Mahā-saraṇagam*) gồm 483 câu, trải dài trên 34 trang giấy khổ lớn, thực hiện liên tục không ngừng nghỉ, không ngủ nghê (đã có sách hướng dẫn phương pháp đền ơn này).

Đó là bản văn xoay quanh Tam Bảo kết hợp với các đức tính của Tứ Thánh Đế và Niết-bàn. Ví dụ: *“Catusacca paṭivedha pariyantaṃ Buddhaṃ saraṇaṃ gacchāmi”* (mở đầu)... *“Sabbavipākavaṭṭa dukkhakkhaya nibbānadhatu sacchīkaraṇa pariyantaṃ Saṅghaṃ saraṇaṃ gacchāmi”* (kết thúc).

Trong suốt năm tháng tụng niệm cúng dường không ngủ đó, mỗi ngày Ngài tụng được 14.400 biến. Tổng cộng sau năm tháng, số lần tụng niệm đạt đến 2.116.800 biến. Thật là một bậc có sự tinh tấn vô song.

Dẫu nói rằng thời gian tụng niệm không ngủ là năm tháng, nhưng kể từ khi khởi ý nguyện đền ơn này, không biết Ngài đã mất bao nhiêu thời gian để suy tư, trăn trở và chấp bút viết nên bản đại kinh Quy y đó. Khi đặt một quá trình trì tụng cúng dường kiên trì, bền bỉ và hết lòng trong một thời gian dài đến thế vào trong bối cảnh của việc thực hành giáo pháp (patipatti), chúng ta hẳn sẽ đồng ý rằng không thể dùng lối tư duy thông thường để lý giải. Còn khi đi tìm câu trả lời cho việc này, góc nhìn của mỗi người chắc chắn sẽ không giống nhau.


Những người có đức tin mạnh mẽ (saddhā), khi càng thực hành thiền định (kammaṭṭhāna), họ càng thấy rõ ân đức của Đức Phật. Ngay cả các bậc Đại Trưởng lão trong tạng Apadāna Pāḷi cũng thường xuyên ca ngợi ân đức Phật. Khi tu tập hơi thở (ānāpāna), họ sẽ tuần tự thấu thị một loạt các pháp Bồ-đề phần (bodhipakkhiya) như bốn Niệm xứ (satipaṭṭhāna/tứ niệm xứ). Khi đó, họ không khỏi tán dương trí Tuệ Giác Ngộ (sabbaññuta ñāṇa/nhất thiết chủng trí) vô thượng.

Trong các bộ *Visuddhimagga* (Thanh Tịnh Đạo) và *Sammohavinodanī Aṭṭhakathā* (Chú giải Phân Biệt Lập Đạo), có chỉ dạy rằng từ việc tụng niệm có thể dẫn đến sự tư duy (tiệm quán), và từ sự tư duy có thể dẫn đến việc chứng đắc Tam Pháp Ấn (lakkhaṇāye). Việc tụng niệm không hề vô ích. Do đó, trong *Saggāthāvagga Saṃyutta* (Tương Ưng Bộ - Chương Có Kệ), có vị Trưởng lão tụng kinh (Sajjhāyaka) đã đắc quả A-la-hán trong khi quán xét sự diệt đi của âm thanh mình vừa tụng. Có thể nhìn nhận theo hướng tích cực như vậy; tuy nhiên, việc tụng niệm vẫn không mang lại lợi ích to lớn bằng việc thực hành thiền quán (bhāvanā).

Theo quan điểm của những hành giả đang trực tiếp thực hành, họ cho rằng việc dành toàn bộ thời gian để điều phục thân và tâm này vào việc tụng niệm là một sự trì hoãn hoặc chuyển hướng đối tượng, làm chậm bước tiến đến sự chứng ngộ (paṭivedha) của Thiền sư hoặc các lợi ích to lớn khác của Giáo pháp.

Điều này được ví như một người khi đang hành thiền, bỗng khởi tâm đức tin nên đứng dậy nấu một thúng gạo để dâng cúng thực phẩm lên Đức Phật.

### Phật giáo là điều thế giới biết đến về Miến Điện

Trong tiểu sử của Thiền sư (Ledi Sayadaw), chương về hoằng pháp nước ngoài là một chương vô cùng đặc biệt và xuất sắc. Không chỉ người dân Miến Điện mà ngay cả người ngoại quốc cũng được nương nhờ ân đức của Ngài.

"Hiệp hội Hoằng pháp Phật giáo nước ngoài" được thành lập từ ngày 15 tháng Nayon năm 1275 (Lịch Miến Điện). Với trung tâm tại Mandalay, hiệp hội đã thành lập được hơn 20 chi nhánh tại các thành phố khác nhau. Số vốn ban đầu khoảng 100.000 Kyat. Các tờ báo cũng như cả nước đều hết lòng ủng hộ.

Vào thời điểm đó, tại Nga và các nước châu Âu đã có rất nhiều người nghiên cứu và tinh thông văn học Pāḷi. Họ đã bắt đầu nghiên cứu từ hơn một trăm năm trước. Ngay từ năm 1850, tại thành phố Saint Petersburg của Nga (nay là Leningrad), các giáo sư đã chủ trì việc biên soạn từ điển Pāḷi - Nga. Tại châu Âu, năm 1875, từ điển Pāḷi - Anh của Childers cũng đã được xuất bản.


**Bản dịch Pháp cú (Dhammapada)** sang tiếng Latinh (1855), **Chú giải Bổn sanh (Jātaka Aṭṭhakathā Pāḷi)** (6 tập bằng chữ La-mã, 1877), **Luật tạng (Vinaya Pāḷi)** gồm 5 bộ (1879), v.v. đã được nghiên cứu và xuất bản tại châu Âu ngay cả trước khi Miến Điện có các bản in sách Pāḷi tương ứng. Vào năm 1881, các học giả Pāḷi đã cùng nhau thành lập Hiệp hội Văn bản Pāḷi (Pali Text Society - PTS) tại London. Hiệp hội Hoằng pháp Phật giáo Anh quốc và Ireland cũng được thành lập vào năm 1907, bắt đầu thảo luận về Phật giáo thông qua các tập san và tạp chí.

Người châu Âu không chỉ tiếp cận Phật giáo từ góc độ tôn giáo, mà còn nghiên cứu Pāḷi như một ngôn ngữ văn học thượng cổ của thế giới. Từ bộ *Mahāvaṃsa* (Đại Thống Sử) hay các sắc dụ trên đá của vua Asoka, họ đã dày công nghiên cứu văn học Pāḷi như cách đọc minh văn hay chạm khắc đá, tỉ mẩn dò dẫm cho đến khi đạt được thành tựu là biên soạn nên những bộ từ điển Pāḷi danh tiếng thế giới. Từ việc nghiên cứu như một nền văn học cổ, họ đã nếm trải được những tinh hoa vô giá của Phật giáo, từ đó càng thôi thúc mong muốn tìm hiểu sâu hơn.

Họ tin tưởng và chấp nhận rằng đây là tôn giáo và văn học mang lại hạnh phúc thực sự cho đời sống con người; tuy nhiên, họ vẫn chưa đạt đến mức độ có thể vận dụng và dịch thuật các bản văn, kinh điển Pāḷi của Đức Phật một cách hoàn toàn chuẩn xác và tinh tế.

Thời điểm đó trùng hợp với lúc ánh sáng của các bộ *Dīpanī* (Cẩm nang/Minh giải) khác nhau của Ngài Ledi Sayadaw đang tỏa sáng rực rỡ tại Miến Điện. Họ đã tin tưởng và trông cậy nơi Ngài như một bậc vĩ nhân có khả năng giải mã những thuật ngữ khó và sâu sắc trong văn học Pāḷi của Phật giáo. Họ đã gửi thư từ tới tấp để yêu cầu Ngài giải thích các thuật ngữ Pāḷi, những điểm hóc búa trong Phật giáo và đặc biệt là những điểm chưa thông suốt trong Vi Diệu Pháp (Abhidhamma). Những lời giải đáp nhận được đều được họ đăng tải trên các tập san, tạp chí. Danh tiếng của Ngài đã lan rộng khắp thế giới.

Ngài cũng đã viết các tác phẩm bằng tiếng Pāḷi như: **Yamaka Paccaya** (Y-mạch giải), **Niyāma Dīpanī** (Quy luật minh giải) cùng bản sớ giải tì-ca (ṭīkā), bản sớ giải cho **Mūlapariyāya Sutta**, **London Pāḷi Devī Pucchā** (Giải đáp các câu hỏi từ PTS London), **Sāsana Sampatti Dīpanī**, **Sāsana Vipatti Dīpanī**, **Paṭṭhāna Desa Dīpanī**, v.v. (Nên tìm kiếm và công bố 2 bản sớ giải tì-ca).

Ngài U Ñāṇa của chùa Masoeyein đã đứng ra dịch sang tiếng Anh các bộ Dīpanī phù hợp với người châu Âu. Những bộ Dīpanī của Thiền sư (Ledi Sayadaw) thực chất chính là những bộ Đại Chú Giải của Miến Điện.



Quan điểm của Ngài Ledi Sayadaw về khoa học thật đáng kinh ngạc, dù thời đó khoa học chỉ mới bắt đầu phát triển. Ngài cho rằng những giáo lý cực kỳ sâu sắc và vi tế của Abhidhamma rất phù hợp với các nhà khoa học có tầm nhìn rộng mở. (Hãy xem các lời giáo huấn về hoằng pháp nước ngoài của Ngài).

Khi đó, Hiệp hội Pāḷi Anh quốc chuẩn bị biên soạn một bộ từ điển Pāḷi. Bộ từ điển Pāḷi - Nga bắt đầu từ năm 1850 cũng vì nhiều lý do mà đến năm 1918 vẫn chưa hoàn thành. Bản thân Hiệp hội Văn bản Pāḷi cũng lập kế hoạch thu thập các thuật ngữ để viết một bộ từ điển. Họ đã yêu cầu Hiệp hội Hoằng pháp nước ngoài do Ngài Ledi Sayadaw đứng đầu giúp đỡ soạn thảo một bộ từ điển Pāḷi lớn.

Vì vậy, để có thể thực hiện trọng trách lớn lao này, Ngài đã cầu trợ đức tới chùa Masoeyein ở Mandalay, nơi có nhiều vị Giáo thọ sư (Nāyaka) giảng dạy nhất. Ngôi chùa đó là nơi tốt nhất về phương diện giảng dạy và kỷ luật. Các vị Trưởng lão lãnh đạo ở đó còn tinh thông cả tiếng Sanskrit (Phạn) và tiếng Anh để phục vụ công việc.

Có một lần, khi đang lưu trú tại chùa Masoeyein để bàn thảo về việc biên soạn từ điển, ở tầng dưới của ngôi chùa, vị giáo thọ sư trẻ tuổi U Suriya (nay là bậc Abhidhaja Mahā Raṭṭha Guru duy nhất, 96 tuổi) và một vị tỳ-khưu pháp sư (Dhammakathika) là đệ tử của Ngài Ledi Sayadaw đang trò chuyện cùng nhau. Ngài U Suriya nói: "Bạch Đại đức, nghe nói quý Ngài thuyết pháp hay lắm. Xin hãy thuyết cho con một thời pháp để con sinh lòng chán ghét sinh tử (saṃvega)." Vị tỳ-khưu pháp sư nói:

"Ngài thông thạo các kinh điển Abhidhamma đến mức này mà lại không biết sợ hãi hiểm họa luân hồi sao?"

Ngài U Suriya đáp: "Vì không sợ nên con mới ở như thế này đây, thưa Ngài." Vị kia bảo: "Vậy thì phải thuyết cho biết sợ mới được," rồi thuyết giảng về những điều đáng kinh sợ trong khoảng 15 phút.

"Thế nào... thưa Ngài, Ngài đã thấy sợ chưa?" Vị kia hỏi. Ngài U Suriya đáp: "Dạ chưa, con vẫn chưa thấy sợ ạ." Thế là vị pháp sư lại thuyết tiếp thêm nửa giờ nữa.

"Con chẳng thấy làm sao cả ạ," Ngài U Suriya vẫn đáp như vậy khiến vị pháp sư đành phải kết thúc buổi thuyết pháp trong sự hụt hẫng.

Sau đó, vị pháp sư đi trình lại với Ngài Ledi Sayadaw. Ngài Ledi Sayadaw liền gọi Ngài U Suriya đến và nói:

"Vị Giáo thọ sư trẻ của chùa Masoeyein à... Vị pháp sư này quả thật không biết đến tâm tính của người nghe (veneyyajjhāsaya) rồi. Này U Suriya, với lứa tuổi và kiến thức này thì xin đừng để lòng kinh sợ (saṃvega) khởi lên vội, ta xin con đấy...

“Tại hạ và các vị vẫn còn rất nhiều Phật sự cần chung tay gánh vác để xiển dương giáo pháp Pariyatti. Nếu đã ngoài năm mươi mà tâm chưa khởi sinh sự kinh cảm (saṁvega) thì ta sẽ thuyết giảng cho. Bây giờ, hãy nỗ lực hoàn thành bộ đại từ điển Pāḷi này đi đã,” Ngài dạy như thế.

Bộ đại từ điển Pāḷi này được khởi soạn từ năm 1278 (Miến lịch) với sự hỗ trợ của hơn ba trăm đệ tử thông tường cổ ngữ, chia làm bốn phần. Trong quá trình thực hiện, dự án đã đối mặt với muôn vàn khó khăn. Sau hành trình ròng rã hai mươi năm, đến năm 1298, bộ từ điển đã thành hình với 1134 trang, gồm bốn tập đại thư. Về sau, do nhiều duyên sự khác nhau, công trình vĩ đại này đã phải tạm dừng. (Hiện nay, phần việc còn dang dở đang được Hội Phật giáo tiếp tục triển khai, và chắc chắn trong tương lai gần, một bộ đại từ điển Pāḷi hoàn chỉnh sẽ sớm ra đời tại Myanmar.)

Nhờ ân đức của Ngài mà Hội Pāḷi Text Society tại Anh quốc cũng đã hoàn thành bộ Từ điển Pāḷi-Anh (1921-25). Các công trình như Concordance to the Pāḷi Tipiṭaka hay Critical Pāḷi Dictionary (1952) cũng đã và đang tiếp tục được xuất bản.

Thực tế mà nói, các công trình từ điển Pāḷi đang được thực hiện trên khắp thế giới ngày nay không sai khi gọi là di sản mà Ngài đã gieo mầm. Thậm chí cho đến tận bây giờ, Hội Pāḷi Text Society ở Anh vẫn đang thỉnh cầu sự trợ giúp từ các bậc trưởng lão uyên thâm tại Myanmar để chuyển ngữ các bản Chú giải (Aṭṭhakathā) sang tiếng Anh. Những ai tại Myanmar cho rằng “chỉ khi đọc Phật pháp bằng tiếng Anh mới hiểu thấu” thật sự cần phải suy ngẫm lại nguồn cội của vấn đề này.

..

Ngay cả cặp vợ chồng học giả Pāḷi lừng danh Âu châu là Rhys Davids (được mệnh danh là các vị thiên nữ Pāḷi của London) thì niềm tin và cách tiếp cận Phật giáo của họ cũng chưa thực sự kiên định, các tác phẩm của họ đôi khi vẫn còn sự chông chênh. Họ đã dành cả cuộc đời để cố gắng uốn nắn, khiên cưỡng đưa giáo lý Vô ngã (Anatta) vào cái khuôn đúc của cái Ngã trường tồn (Atta) vốn hoàn toàn đối nghịch.

### Bậc Đại Nhân với Thần Lực Tùy Tâm

Liên quan đến việc thực hành (Paṭipatti), các bậc xuất gia thường giữ vô cùng kín đáo. Đó chính là đức hạnh thiểu dục (appicchatā). Hơn nữa, giới luật cũng rất nghiêm khắc trong vấn đề này. Đôi khi, mọi người chỉ biết được đôi chút thông qua các thị giả thân cận. (Về khả năng thấu thị tâm người khác, xin xem ở chương về Ngài Nibbinda Sayadaw. Về khả năng viết lách trong đêm tối không cần đèn, xin xem ở chương về Ngài Thegyut Taung Sayadaw.) Những người đệ tử có đủ khả năng nhận diện được thực lực của bậc Thầy cũng rất hiếm; và những người thành thật, ngay thẳng, không thêu dệt theo đức tin cá nhân lại càng hiếm hơn nữa.



Ở đây, chúng ta có thể được biết và khởi tâm tịnh tín về một phần năng lực tu chứng của Ngài thông qua lời kể của cư sĩ Sayagyi U Thet (thường gọi là Pyawbwe Sayagyi). Ông là người đã từng theo Ngài lặn lội khắp các cánh rừng để hành thiền suốt mười năm ròng. Chắc chắn rằng lời kể của ông không hề có sự thêu dệt hay phóng đại, bởi ông vốn nổi danh là một bậc thánh quả A-na-hàm (Anāgāmī). Chính Ngài Sayadaw đã từng bảo các vị Tăng trong chùa đến học đạo với cư sĩ U Thet. Ông là vị đại đệ tử được Ngài đặc biệt tin cậy và quý trọng.

Có một lần, khi ông đến đảnh lễ Ngài...

“Bạch Thầy, trong số các đệ tử của Thầy, con là người kém cỏi nhất về học thuật kinh điển (Pariyatti). Theo lời dạy dạy của Thầy, công cuộc hoằng pháp hướng dẫn thiền định (Kammaṭṭhāna) là một Phật sự vô cùng tinh tế và đại sự. Do đó, khi nào con có điều chi cần thưa hỏi, xin Thầy hãy hoan hỷ lân mẫn quang lâm chứng dự, làm nơi nương tựa và ban lời giáo huấn cho con,” ông thưa như vậy.

Ngài liền ban lời khích lệ: “Ngay cả đến lúc ta nhập Niết-bàn, ta cũng sẽ không bỏ mặc con đâu.” (Ý nghĩa của những lời đối thoại này vô cùng sâu sắc, chỉ có Ngài và cư sĩ U Thet là thấu hiểu trọn vẹn.)

Ngày nay, có rất nhiều trung tâm thiền đang giảng dạy theo phương pháp của cư sĩ Sayagyi U Thet, như: Thiền viện Hanthawaddy (Yangon), Naung-na-sar-gi Reiktha, Thiền viện Ledi Mu, Thiền viện của Sayagyi U Ba Khin (Inya Myaing), và Thiền viện Mahabodhi (Mandalay), v.v.

Trong số rất nhiều câu chuyện về Ngài được lưu truyền qua cư sĩ U Thet, tôi xin được trích dẫn hai điểm tiêu biểu.

Một ngày nọ, Sayagyi U Thet đã kể cho các thiền sinh của mình là Daw Phwar Yin (chị của U Ba Soe) và người cháu là U San Aye (hiện vẫn còn sống) về việc Ma vương thường đánh lừa hành giả như thế nào thông qua trải nghiệm thực tế của chính ông. Khi đó, vị tên là U Ba Soe mỗi khi vào thiền đều gặp các chướng ngại như tiêu chảy, phát sốt, chóng mặt; cuối cùng chỉ khi vừa đi vệ sinh vừa niệm mới có thể hành trì được. Câu chuyện được kể để ám chỉ trường hợp đó, và trong đó có một tình tiết liên quan đến Ngài Ledi Sayadaw vô cùng hy hữu, gần như khó tin.

Một lần nọ, theo lời thỉnh mời của ông chủ đồn điền cao su U Boe Thin ở thị trấn Shwegyin, cư sĩ U Thet đã đến hướng dẫn thiền nhiều ngày tại một giảng đường ở đó. Lúc bấy giờ, Ngài Ledi Sayadaw đang cư ngụ tại Monywa. Trong thời gian này, Sayagyi U Thet gặp rất nhiều sự quấy nhiễu từ các hạng thiên ma, thổ thần (nat). Tuy nhiên, Ma vương không bao giờ có thể thắng được bậc Giác Ngộ. Một buổi chiều nọ, Sayagyi đi bộ ra ngoại thành, càng đi ông càng bị lạc đường.


Càng đi cảnh vật càng hoang vu, rừng rậm bủa vây, khiến ông không thể đi tiếp mà phải ngồi xuống dưới một gốc cây đa. Mặt trời đã sắp lặn, không bóng người qua lại, đường về cũng chẳng rõ.

“À, đây chắc chắn là tác quái của bọn thuộc hạ Ma vương rồi. Chẳng lẽ ta không phải là người cầu giải thoát, mà lại là kẻ tham cầu thần lực để luân hồi sao? Thôi thì cứ lấy chuỗi ra mà niệm Phật thôi,” nghĩ vậy, ông rút xâu chuỗi trong túi ra và định tâm niệm danh hiệu Phật (Guṇadhore).

Chẳng bao lâu sau, ông chợt thấy một người phụ nữ đi kiếm củi ở gần đó nên rất đỗi vui mừng. “Nếu mình cứ chỉ chú tâm vào sự sinh diệt của danh sắc thì e rằng chẳng thể tìm đường về lại am được,” ông thầm nghĩ và mỉm cười cho cái ý định nhất thời của mình. Ông hỏi đường người phụ nữ và đi cùng bà ta. Một lát sau khi bà rẽ lối khác, ông còn phải thuê xe ngựa đi thêm một quãng dài nữa mới về tới nơi. “Chà, Ma vương này thật khéo bày trò, thay vì cho một người nam dẫn đường thì lại cho một người nữ đi cùng vào lúc hoàng hôn thế này,” ông vừa nghĩ vừa mỉm cười.

Tại giảng đường của U Boe Thin, dù trước đó đã gặp không ít sự quấy nhiễu và khó khăn nhưng ông đều vượt qua được. Tuy nhiên, việc bị lạc đường hôm nay khiến ông cảm thấy vô cùng áy náy. Đêm đó, sau khi dâng đèn cúng Phật và làm lễ bái, ông hướng về phương trời nơi Ngài Ledi Sayadaw đang ngự và đảnh lễ thưa rằng:

“Bạch Thầy kính mến, chuyện xảy ra với con hôm nay thật sự khiến con cảm thấy khó lòng kham nhẫn. Con đã lầm lỡ nương tựa vào sự nhận biết của nhãn thức và tưởng tri. Dù nhờ chút định tâm mà tìm được lối thoát, nhưng trong lòng vẫn chưa thấy thông suốt. Cúi xin Ngài ban lời giáo huấn để sau này con không còn gặp phải tình cảnh tương tự nữa.”

Ngay lập tức, Ngài Sayadaw bước vào phòng thờ Phật và ngồi xuống chỗ đã trải sẵn. “Này cư sĩ U Thet, mỗi khi gặp bất kỳ khó khăn hay tâm khởi sinh sự nghi ngại, điều đầu tiên cần làm là hãy tập trung rải tâm từ (Mettā) thật mạnh mẽ. Sau đó, cứ tiếp tục quán chiếu sự sinh diệt của danh sắc (Rūpa-Nāma) như lộ trình vốn có,” dạy xong, Ngài liền rời đi.

### Trí Tuệ Như Sư Tử, Thành Tựu Lộ Trình Thiền Định

Sự việc được kể lại sau đây cũng là một câu chuyện vô cùng hy hữu. Lúc bấy giờ, Sayadaw đã bước vào tuổi già sức yếu, lại thêm chịu ảnh hưởng nặng nề từ việc lao tâm khổ tứ biên soạn kinh sách nên đôi mắt bị đổ bệnh nghiêm trọng. Sayadaw đã đến vùng Bahan ở Yangon để lưu trú và điều trị mắt. Khi đó, Sayagyi U Thet từ làng Pyawbwe-gyi ở Dala cũng lặn lội đến để đảnh lễ và thăm viếng Sayadaw.

"À, nhóm Sayagyi U Thet đấy hử? Quý hóa quá. Đừng về vội nhé. Tiện dịp các đệ tử giỏi đều tụ hội đông đủ ở đây, mà cũng lâu rồi ta chưa cúng dường hoa sai, vật phẩm lên đại tháp Shwedagon. Sayagyi U Thet vẫn nán lại được chứ?" — Sayadaw phán như vậy, rồi bảo người viết thư báo tin về nhà để cụ yên tâm ở lại chờ đợi.

Khoảng thời gian chờ đợi kéo dài tới hai mươi ngày. Nguyên do là để dâng cúng vật phẩm, các đệ tử lớn phải đặt thợ đúc đồng làm một chiếc mâm đồng khổng lồ có đường kính rộng tới chín cubit (khoảng hơn 4 mét). Họ cũng phải may một chiếc lọng lớn chín tầng, rộng chín cubit, làm bằng lụa trắng và có đính các dải tua rua xung quanh.


Khi mọi thứ đã hoàn tất, trên chiếc mâm đồng lớn, họ chuẩn bị vật thực cùng với chín loại món ăn chay, chín loại trái cây, chín loại bánh và chín loại mứt; trên chiếc lọng chín tầng, mỗi tầng cũng được kết một loại hoa. Sau khi tất cả đã được sắp xếp xong xuôi, họ đến đảnh lễ trình báo lên Ngài Thiền sư.

Vào một buổi sáng lúc bốn giờ rưỡi, Ngài Thiền sư cùng với khoảng mười lăm đệ tử mang theo các món đồ lễ đi lên đỉnh đồi Shwedagon. Khi đến sân bảo tháp, tại một không gian trống trải không có mái che hay vật cản ở chân bảo tháp, các đệ tử vây quanh chiếc mâm đồng lớn, ngồi xuống và cùng nhau nâng giữ nó. Chiếc lọng chín tầng cũng được đặt lên trên mâm.

"Này các con, đây là một đại thí vô cùng nan đắc. Các con phải có tâm hân hoan với những công đức mà mình đã dày công chuẩn bị. Hãy hướng tâm một cách thanh tịnh, sâu sắc và nhiệt thành lên ân đức của Đức Thế Tôn. Các đệ tử đang giữ mâm cũng hãy giữ thật nhẹ nhàng, khi mâm nhấc bổng lên thì hãy thả lỏng tay và nương theo đó mà nâng lên. Giống như khi người ta thả đèn trời vậy," Ngài dặn dò như thế rồi tự mình dùng hai tay chạm vào chiếc mâm, nhất tâm hướng về Đức Phật. Tất cả đều im lặng.

Khoảng nửa giờ sau, khi ánh bình minh vừa ló dạng, các tua rua lụa trên lọng bắt đầu lấp lánh và tung bay một cách oai hùng. Chiếc mâm đồng đặt trên lòng bàn tay cũng từ từ nhấc bổng lên, khiến mọi người phải nương tay theo để đỡ. Những người khiêng mâm đang ngồi cũng phải đứng dậy để giữ. Họ giơ tay cao hết mức có thể, và rồi chiếc mâm đồng chín tạng cùng chiếc lọng chín tầng từ từ bay vút lên bầu trời bao la. Chiếc lọng lụa lấp lánh dưới ánh rạng đông trông đẹp đẽ và thanh khiết như một bảo tháp bạc. Tất cả mọi người đều ngỡ ngàng, dõi mắt nhìn theo cho đến khi mất hút. Chỉ đến khi không còn nhìn thấy gì nữa, họ mới rời khỏi sân tháp Shwedagon để đi xuống.

Về phần Ngài Thiền sư, Ngài đã đọc bài thơ *Tey-htat* (thể thơ bốn đoạn) cho cư sĩ Saya Thet Gyi và các đệ tử đi cùng nghe: "Vào thời cuối của giáo pháp, chúng sinh ra đời nối tiếp nhau... Nhờ năng lực của trí tuệ mãnh sư, con đường thiền định đã hoàn tất, làm chủ trọn vẹn năm pháp tự tại (*vasībhava*)." Những tình tiết này được ghi lại đúng theo lời kể của cư sĩ Saya Thet Gyi.


Các bậc Thánh nhân thực hành theo đúng giáo pháp bất khả tư nghì của Đức Phật bất khả tư nghì, nên năng lực Giới, Định, Tuệ của các Ngài cũng là bất khả tư nghì. Kẻ ăn xin không thể nào hình dung nổi sự uy nghiêm và phước báu của một vị Chuyển Luân Thánh Vương. Người thấy rõ thì thấy cả người thấy và người không thấy. Người không thấy thì chẳng thể thấy được dù là người thấy hay người không thấy. (**Trích kệ ngôn của Trưởng lão Vappa.**)

### Chư thiên thỉnh mời – Đất rung chuyển – Chuyến hành trình cuối cùng

Ngài Thiền sư chỉ ở lại hạ tại trú xứ Ledi (Monyway) khoảng 13 hạ theo kiểu đi rồi lại về. Những hạ còn lại, Ngài lưu trú tại các địa điểm rừng núi đã nêu và các nơi như: thị trấn Myingyan, Minhla (Phan-tan Taw-ya), Thapaung, chùa Nyaung-kon ở Yangon, Kyaik-waing, Ledi San-kyaung ở Mandalay, San-kyaung và tự viện Jetavan ở đồi Sagaing, thị trấn Myittha, mỏ khoáng sản Katun, v.v.

Từ năm 1283 (Dl. 1921), Ngài ở lại thị trấn Pyinmana nhiều nhất. Lúc này Ngài đã già yếu, sức khỏe không còn tráng kiện như xưa. Dù sắc diện vẫn luôn rạng rỡ, vàng sáng nhưng da dẻ đã bắt đầu nhão đi. (Tổng số hạ Ngài cư ngụ tại các trú xứ rừng núi — *Aranyavāsi* — là 21 hạ).

Hạ năm 1285 (Dl. 1923), Ngài lưu trú tại tu viện của ông bá hộ U Lann và bà Daw Ma Ma Lay ở Pyinmana. Lúc này Ngài đã 77 tuổi, và đây là năm sức khỏe của Ngài suy giảm nghiêm trọng nhất. Bắt đầu từ khoảng tháng Nayon (tháng 5-6) năm đó, thân xác Ngài dần suy sụp và rệu rã; dù đã dùng nhiều loại thuốc khác nhau nhưng cũng chỉ thuyên giảm được đôi chút.

Dù đang trong tình trạng lâm trọng bệnh như vậy, Ngài vẫn dõng dạc tuyên bố: "Này con, Dhammacārī! Bây giờ ta sẽ viết những đúc kết về Níp-bàn. Nếu viết được ngay bây giờ, nó sẽ làm sáng tỏ hơn nhiều so với những pháp về Níp-bàn trước đây. Mong sao việc ăn uống được điều độ để ta có thêm sức lực." Thân hình Ngài lúc này chỉ còn thoi thóp.

Dù đã dành một phần tư quãng đời mình cho việc viết lách, Ngài vẫn chưa thấy thỏa mãn. Ngài Thiền sư đã phá vỡ mọi kỷ lục của các bậc giáo thọ sư soạn phẩm. Ngài đã viết từ những bài học vỡ lòng (*Thin-bong-gyi*) cho đến pháp tối thượng Níp-bàn rồi còn gì.

Đến tháng Waso (tháng 6-7), tình trạng càng trở nên tồi tệ hơn. Dù Ngài chưa từng nói "ta đang không khỏe", nhưng các đại đệ tử từ khắp nơi đã bắt đầu lục tục kéo về.

Có Ngài U Tiloka ở đồi Thay-kyut, Ngài U Paduma, Ngài U Vaṇṇita, và cư sĩ Ledi Pandita U Maung Gyi... v.v.

"Nếu ta có lâm bệnh, hãy tụng bài kinh *Paṭṭhāna Pañcāvāra* lớn trong Tạng Vi Diệu Pháp cho ta nghe.


Ta muốn được lắng nghe âm thanh của kinh *Paṭṭhāna*," nghe lời phán trước đây của Ngài, các đại đệ tử cùng nhau bàn bạc nhỏ nhẹ.

Một ngày trước khi kết thúc tháng Waso đầu tiên (năm đó có hai tháng nhuận Waso), trong lúc Ngài Thiền sư đang dùng trà, một trận động đất xảy ra làm rung chuyển cả tu viện. Ngài hỏi các đại đệ tử: "Việc này có ý nghĩa gì, các con có biết không?". Trong lúc tất cả đều im lặng, Ngài phán rằng: "Đó là lời thưa rằng: Việc thuyết giảng pháp Vi Diệu ở nhân gian đã đủ mãn nguyện rồi, giờ đã đến lúc phải đến thuyết giảng cho chư Thiên và Phạm Thiên."

Thiền sư Mohnyin nhận được điện tín cũng đã đến Pyinmana. Ngài dùng trán chạm vào chân của Thiền sư Ledi và đọc to tác phẩm "Anatta-dīpanī" (Minh sát về Vô ngã) do Ngài soạn.

"Phải, tốt lắm con ạ. Khi nghe pháp về Vô ngã này, ta như nhìn thấy hình bóng Đức Cha lành (Đức Phật) đang thuyết kinh Vô Ngã Tướng (*Anattalakkhaṇa Sutta*) và lòng tràn đầy niềm tịnh tín. Cảm giác như chính Đức Thế Tôn đang ngự đến đây vậy. Ta nghe như vang bên tai tiếng Đức Thế Tôn đến ngự ở đầu giường và phán rằng: 'Này người con yêu quý, con đã thuyết giảng xong ở nhân gian rồi, giờ đã đến lúc đi thuyết cho chư Thiên và Phạm Thiên'. Phải rồi, nếu ta không còn nữa thì cũng đừng nản lòng, đã có những lời dạy trong sách của ta đây. Hãy cố gắng duy trì giáo pháp Minh sát (*Vipassanā Sāsana*) này cho thật tốt." Ngài dặn dò như vậy.

Vào đúng 12 giờ trưa ngày rằm, đất lại rung chuyển một lần nữa. Lúc đó, đích thân Ngài Thiền sư truyền lệnh cho các đệ tử như Ngài U Tiloka bắt đầu tụng kinh *Paṭṭhāna*. Bốn vị đại đệ tử thay phiên nhau tụng. Đến 2 giờ 30 phút chiều, khi bài kinh *Pañcāvāra Pāḷi* vừa kết thúc, cũng là lúc âm thanh kinh *Paṭṭhāna* vừa dứt, thần thức của Ngài Thiền sư cũng đồng thời diệt tận (viên tịch). Một sự trùng hợp đến kỳ lạ.

Năm đó, Ngài nói Ngài sẽ đi đâu đây? Bảy ngày sau, kim thân của Ngài được di dời từ tu viện của ông U Lann sang Ledi San-kyaung (nay là chùa U Ñeyya). Trận động đất thứ ba lại xảy ra. Một cây xoài già khô héo cạnh cầu thang tu viện, vốn đã rụng hết vỏ sần sùi, đột nhiên trong ngày hôm đó lại đâm chồi nảy lộc xanh tốt và nở hoa rực rỡ khắp cả cây như đang trong lễ hỏa táng tháng Tabaung (tháng 3) vậy, quả là một điều hiếm thấy.

Theo tục lệ thường xảy ra khi các vị cao tăng viên tịch là sẽ có sự tranh giành kim thân, các đệ tử và thí chủ từ Monywa đã kiên quyết đến xin rước kim thân Ngài về. Người dân Pyinmana không đồng ý, họ phải bố trí cảnh sát canh giữ. Các đệ tử từ Monywa đã mời cả người em ruột của Ngài là Ngài U Kitti cùng đi để xin rước kim thân. Khi đó, một vị luật sư ở Pyinmana tiến đến gần kim thân và thưa với Ngài U Kitti rằng: "Bạch Ngài, chúng con tổ chức cúng dường trang nghiêm thế này, Ngài có thấy hài lòng không ạ?". Ngài U Kitti trả lời: "Tốt lắm thí chủ, tôi rất hài lòng."

Chớp lấy lời nói đó, vị luật sư liền nói: "Ngay cả em trai của Ngài Thiền sư cũng đã hài lòng với việc cúng dường ở Pyinmana như thế này..."

Phía Pyinmana lập tức bắt bẻ câu nói đó: "Ngay cả em trai ruột của Sayadaw còn bảo vừa lòng với việc tổ chức tang lễ ở Pyinmana như thế này, thì chúng ta việc gì phải theo ý nguyện của ai khác nữa". Trước lý lẽ đó, người dân Monywa đành phải chấp nhận thua cuộc.

Sau sự việc, mọi người quay sang trách móc, cằn nhằn U Kitti. Bản thân U Kitti vì một lời nói hớ của mình mà bị người ta gài bẫy, lừa gạt, nên ngài chỉ biết trùm chăn kín đầu nằm buồn bã, tủi thân. Khi trở về đến chùa Depeyin, vì quá u uất, ngài đã tự kết liễu đời mình bằng một sợi dây rồi viên tịch.
### Các bậc Thánh giả cúng dường nhục thân

Rằm tháng Táp-tuâng năm đó, lễ tang được tổ chức trọng thể suốt bảy ngày đêm. Các Toàn quyền, Đặc phái viên Anh quốc cùng các bậc Trưởng lão từ khắp nơi đã vân tập đông đủ.

Tỳ-khưu **U Nu**, người đang ẩn tu tại vùng Ye-sa-gyo, cũng có mặt tại lễ tang. Vì có duyên lành được nghe Ngài Đại đức thuyết pháp tại Sagaing, vị ấy đã khởi tâm tịnh tín và xuất gia, sau đó tận tụy hầu hạ và cung phụng Ngài, trở thành bậc trưởng tử kế thừa trọn vẹn cả pháp hành (Paṭipatti) lẫn các hạnh đầu đà (Dhuṭanga). Vị này vốn nổi danh là một bậc A-la-hán, pháp danh là Ngài **Paññāsīha** (Panya-thi-ha). Ngay từ khi Ngài Ledi Sayadaw mới lâm trọng bệnh, vị ấy đã đến chăm sóc chu đáo. Dù Ngài Ledi có ý muốn dùng thuốc, nhưng mọi người cho rằng không hợp với bệnh tình nên ngăn cản; khi đó, Tỳ-khưu **U Nu** thường lén lút dâng thuốc cho Ngài mà không để ai biết. Khi bị hỏi, vị ấy chỉ đáp: “Do Ngài Đại đức sai bảo”. Vị ấy trì bình khất thực, không sống trà trộn với đám đông, mà trì hạnh đầu đà lộ địa (Rukkhamūla), chỉ trú ngụ dưới gốc cây. Trong vòng vây của những nhân vật nổi tiếng, vị ấy thường không được mấy ai để tâm đến.

Trong ngôi tháp gạch tại tu viện đó, người ta đã chuẩn bị sẵn các loại củi thơm để làm lễ trà tỳ vào ngày trằm. Tuy nhiên, nhục thân của Ngài không hề thối rữa, trông như đang nằm ngủ một cách tự nhiên, làn da vàng óng và mềm mại, khiến mọi người không nỡ thiêu. Theo tâm nguyện của chư Tăng và Phật tử, nhục thân được đặt trong cỗ quan tài khảm gương dát vàng, tôn trí trên bệ thờ trong tháp gạch, sau đó khóa chặt hai lớp cửa sắt và dùng xi măng trám kín cửa hầm mộ lại.

Khoảng ba ngày sau, từ không trung vang lên những tiếng nhạc trời. Đêm đó, mặt đất rung chuyển bởi ba trận động đất liên tiếp. Hơn ba mươi vị Trưởng lão hàng đêm vẫn đang tụ họp gần tháp gạch để thuyết giảng và thảo luận về ân đức của Ngài Ledi Sayadaw. Nghe tin có ánh sáng rực rỡ phát ra từ tháp gạch, mọi người chạy đến xem thì thấy cửa hầm mộ đã bị sụp đổ do động đất, nhưng quan tài và hai ổ khóa vẫn còn nguyên vẹn và lạnh lẽo.

Về sau, vì nghi ngờ nên họ đã mở khóa kiểm tra và bàng hoàng thấy nhục thân đã hóa thành tro bụi. Mọi người đều vô cùng đau xót. Báo chí khi đó đưa tin: “Nhục thân của Ngài đã tự phát hỏa bằng hỏa giới (Tejo-dhātu) mà thiêu cháy”. Các Đặc phái viên và quan chức địa phương đã cử cảnh sát điều tra và thám tử đến Monywa, Sagaing, Mandalay để ráo riết tìm kiếm kẻ bị tình nghi. Danh sách hành khách từ Pyinmana trở về Monywa cũng được kiểm tra nghiêm ngặt tại các nhà ga.


Dù có người nghi ngờ rằng: “Đây là việc làm của người dân Monywa”, nhưng vẫn không tìm thấy hung thủ.

Vì không cam lòng, những vị Tăng và Phật tử thân cận vẫn chưa chịu rời đi. Khoảng ba tháng sau, trong một cuộc họp, vị Đặc phái viên Anh quốc đã đe dọa rằng: “Nếu vụ này không tìm ra thủ phạm, ta sẽ phải trừng phạt U Lan và U Tun Hlaing”. Nghe vậy, Tỳ-khưu **U Nu** đứng dậy phản đối: “Không nên trừng phạt những người vô tội”.

Vị quan nói: “Vậy hãy chỉ ra thủ phạm thực sự đi. Nếu không, U Lan và U Tun Hlaing sẽ phải chịu tội”. Khi đó, Ngài **U Nu** mới thư thái đáp: “Thủ phạm chính là tôi”. Mọi người xung quanh đều sửng sốt và nổi giận hỏi: “Sư đã làm điều đó như thế nào?”. Tỳ-khưu **U Nu** vẫn điềm tĩnh và dõng dạc nói:

“Ngài Trưởng lão đã dặn dò tôi rằng: ‘Sau khi ta viên tịch được bảy ngày, con hãy thiêu xác ta, đừng bàn bạc với bất kỳ ai cả’. Vì khi tròn bảy ngày điều kiện chưa thuận lợi nên đến giờ tôi mới thực hiện”.

Khi bị hỏi: “Còn ai đồng lõa nữa không?”, Ngài đáp:

“Tôi đã cầu xin chư thiên đạo đức trợ giúp để hoàn thành tâm nguyện của Ngài Trưởng lão”. Sau đó, Ngài giải thích tường tận cách làm.

Vào lúc một giờ sáng đêm đó, sau khi khấn nguyện chư thiên giúp đỡ, Ngài dùng một chiếc xà-beng thúc mạnh một nhát vào cửa hầm mộ; ngay lập tức mặt đất rung chuyển ba lần, gạch đá tự động đổ xuống, và Ngài đã dùng số củi thơm để sẵn gần đó để hoàn tất việc trà tỳ. Nghe xong, toàn thể đại chúng đều kinh ngạc sững sờ, không ai thốt nên lời. Ngài lại nói thêm rằng nếu muốn trừng phạt thì cứ việc, sở dĩ Ngài chưa đi đâu là để chờ nói rõ sự việc này. Các quan viên đáp: “Chúng tôi không muốn trừng phạt Sư”. Tỳ-khưu **U Nu** sau đó chỉ với một chiếc bát và ba tấm y cà-da, lặng lẽ rời khỏi cuộc họp. [Vị thiền sư vốn nổi danh là bậc Thánh giả này cũng đã viên tịch tại Ye-sa-gyo vào thời kỳ Nhật chiếm đóng].

Về sự chứng đắc của bậc ân nhân Ngài Đại đức Ledi Sayadaw, một số bậc trí giả cho rằng Ngài là một “bậc A-na-hàm đắc Thiền định và Thần thông”. Có ý kiến phê bình rằng: Nếu Ngài không dành ba phần tư thời gian và tâm sức vào việc giảng dạy, thuyết pháp và viết lách, mà dành trọn vẹn cả “một đồng bạc” (toàn bộ thời gian và tinh lực) vào công phu Minh sát (Vipassanā), thì hẳn Ngài đã hoàn tất xong phận sự của một vị Sa-môn (đắc quả A-la-hán).

Mặt khác, những người có thiên nhãn lại cho rằng: “Ngài Trưởng lão hiện vẫn còn trong vòng luân hồi ba mươi mốt cõi. Người ta thường thấy Ngài với thân tướng hào quang sáng chói, đang thuyết pháp cho vô số thính chúng”. Tuy nhiên, tác giả cuốn Lịch sử các bậc tác giả Ledi lại nhận xét rằng: “Nếu nói rằng bậc ân nhân Đại đức Ledi Sayadaw hiện đang ở cõi Phạm thiên **Vehapphala** (Quảng Quả), thì e rằng số người tin tưởng sẽ không nhiều”. Nhận xét này thật vô cùng chuẩn xác. Tuy không rõ dựa trên căn cứ hay nguồn tin nào mà vị ấy khẳng định như vậy.



Thật ra, tất cả những nhận định trên đều có phần tương đồng. Nếu nhìn tổng thể từ văn phong, lối sống, tướng mạo cho đến những lời giáo huấn của Ngài, thì việc gọi Ngài là “Bậc A-na-hàm đắc Thiền và Thông” mới chỉ là cách nói khiêm tốn nhất. Tuy nhiên, việc xác chứng điều này vốn không thuộc thẩm quyền của chúng ta.

Ví như người đang bị lửa cháy trên đầu phải lo dập lửa ngay, nếu Ngài có thể hành trì như mũi tên đã bắn đi — không quanh co, không do dự cho đến khi đắc quả **A-la-hán** (Arahattaphala) — thì lịch sử truyền thừa giáo pháp hành trì (Paṭipatti Sāsana) tại Myanmar, nhờ vào tuệ năng và quả lực **A-la-hán** của một bậc trí tuệ cao tột như Ngài, chắc chắn sẽ còn rực rỡ hơn gấp bội phần.

[Lược soạn dựa trên các tài liệu: Lịch sử Ngài Trưởng lão Ledi, Lịch sử các bậc danh tăng Ledi, Tiểu sử cư sĩ Sayagyi Thet Gyi, các tập Ledi Dīpanī và những lời giáo giới truyền miệng từ các bậc trí giả tiền bối].

### Niết-bàn hay bốn đường khổ, hãy chọn nơi mình muốn đến

“Khi đã thấy được sự an lạc lớn lao của Niết-bàn, hãy sẵn sàng từ bỏ những lạc thú nhỏ nhen. Khi đã thấy được nỗi khổ cực đại của bốn đường ác đạo, hãy nhẫn nại cam chịu những nỗi khổ cực nhỏ nhoi.”

— Ngài Đại đức Mahā Gandhayon Sayadaw, Sagaing.

**Cố Hòa thượng Hlay-thin Min-kyaung**
(1215 - 1288)

Dhammācariya U Htay Hlaing

“Khi Cố Hòa thượng Hlay-thin Min-kyaung viên tịch, cả ngôi đại tự Hlay-thin Min-kyaung lẫn ngôi chùa nơi rừng vắng mà Ngài từng trú ngụ đều đồng loạt bốc cháy.” Lời kể này con được nghe từ bậc ân sư là Ngài Hòa thượng Ma-so-yein đáng kính (năm nay đã 96 tuổi), vốn là đệ tử của Ngài. Từ đó, con đã dày công tìm hiểu về tiểu sử của Ngài và may mắn nhận được tập tài liệu từ Ngài U Sobhita ở làng Maung-htaung. Tập tiểu sử này có tên là “Theravaṃsācārakkama-dīpikā”, được ấn hành vào tháng Kason năm 1289 (Phật lịch).

Tác giả của tập tiểu sử này là Ngài U Somābhisiiri, Thiền chủ chùa Ma-so-yein, sau này là Thiền chủ rừng Thit-win-chaung ở Sagaing. Ngài là bậc tinh thông **Pāḷi và Sanskrit**. Theo tâm nguyện của Ngài Hòa thượng Ledi Sayadaw, Ngài U Soma chính là người chủ trì việc biên soạn bộ Từ điển Pāḷi vĩ đại. Từ thuở thiếu thời, Ngài đã theo học và làm đệ tử của Hòa thượng Hlay-thin Min-kyaung, trở thành bậc đại đệ tử được Thầy tin cẩn giao phó trọng trách. Trong lịch sử giáo pháp, thật hiếm khi được đọc những ghi chép từ những bậc cận sự am tường cả Pháp học (Pariyatti) lẫn Pháp hành (Paṭipatti) như thế này. Thật là một phước báu lớn lao.

Về cái tên Hlay-thin Min-kyaung: Đây là ngôi đại tự Vimāna-bhūmsā nằm ở bờ sông Ayeyarwady, phía bắc làng Wat-chet, thuộc dãy đồi Sagaing, ngay chân lối lên bảo tháp Padamyā. Ngôi chùa này do vị đại thần Nội vụ Hlay-thin (người gốc làng này) tạo hóa dâng cúng vào năm 1236. Vị thanh niên sau này trở thành bậc cao tăng trụ trì tại đây và được tôn danh là Hòa thượng Hlay-thin Min-kyaung sinh vào giờ Tý đêm mùng 2 tháng Nadaw năm 1215 (Thứ Sáu), tại làng Bhuzinpin, phía bắc thành phố Sagaing. Thân phụ là ông U Karli, thân mẫu là bà Daw Mel Nhyin. (Ngài có hai chị gái là Ma Nyein Aung và Ma Nyein Toke). Ngài có tướng mạo uy nghi, vóc dáng vạm vỡ (đôi dép Ngài đi dài hơn một gang tay). Thuở nhỏ tên là Maung Thar Saing, Ngài theo học với Hòa thượng trụ trì chùa Bhoga Tawya ở làng Bhuzinpin.

Vị Hòa thượng trường làng ấy vốn luôn thực hành hạnh đầu đà (dhutaṅga), thường xuyên trú ngụ nơi đồng trống nên được gọi tên là Hòa thượng **Abbhokāsika** (nghĩa là bậc tu hạnh lộ thiên), hay dân gian gọi là Hòa thượng Bhoga. Chú tiểu Soma (pháp danh của Ngài) là bậc có trí tuệ mẫn tiệp. Trong chốc lát, chú có thể học thuộc lòng một hoặc hai angā lá bối (mỗi angā gồm 12 lá). Chú học rất nhanh và một khi đã thuộc thì không bao giờ quên; những bài kinh thuộc từ thuở nhỏ, Ngài vẫn có thể đọc thông suốt cho đến tận lúc viên tịch. Năm 17 tuổi, sau một hạ lạp, thân phụ qua đời, chú phải hoàn tục để phụng dưỡng người mẹ già yếu.


**Cách học và cách dạy khác biệt với số đông**

Năm 1235, do ba-la-mật (pāramī) thúc giục, Ngài không còn mặn mà với đời sống cư sĩ. Khi Ngài xin phép mẹ già để xuất gia, lời dạy của bà thật đáng ghi tâm: “Mẹ chỉ có duy nhất một đứa con trai nên không muốn rời xa, nhưng thay vì phụng dưỡng mẹ, con hãy đi phụng sự Đức Thế Tôn. Như vậy là bà già này đã toại nguyện ơn nghĩa sinh thành rồi.” Sau khi thụ giới Tỳ-kheo, đúng khí chất đệ tử chùa Bhoga Tawya, trong ba canh giờ ban đêm, Ngài chỉ ngủ một canh, thời gian còn lại dành cho việc hành lễ và ôn lại kinh điển. Ngài không giao du với thiện nam tín nữ, và chỉ trò chuyện với các bạn đồng tu khi thật sự cần thiết.

Điều này hoàn toàn phù hợp với lời giáo huấn của Đức Phật: “Nếu nói, hãy nói lời pháp bảo có ích; nếu không, hãy giữ sự im lặng thánh thiện.” Trong việc trau dồi Pháp học Pariyatti, Ngài không để lãng phí dù là một giây phút. Ngay cả khi đi khất thực, Ngài cũng chuẩn bị sẵn các mảnh lá thốt nốt nhỏ có chép kinh văn để vừa đi vừa học thuộc. Tùy theo thời điểm, Ngài cũng thực hành các hạnh **Đầu đà (Dhutaṅga)**.

Sau một hạ lạp, Ngài lên Mandalay để tiếp tục con đường kinh điển. Ngài theo học với Hòa thượng Shwe-yin-mar và Hòa thượng U Nāga ở chùa Paung-le (nay là Maha Aungmye). Sau hai hạ lạp, Ngài trở về thăm mẹ một mùa hạ để thuyết pháp độ mẫu và cũng trong thời gian này, Ngài đã biên soạn tác phẩm **Vinayābhoga**. Đến hạ thứ tư, thứ năm, Ngài đi cầu Pháp tại các bậc danh sư khắp bốn phương của Mandalay, ít nhất mỗi nơi là bảy ngày để tham học. Do đó, sau này khi tự mình giảng dạy, Ngài thường dẫn giải sâu rộng rằng: “Vị Hòa thượng này dạy như thế này, vị Hòa thượng kia giảng như thế kia.”

Từ hạ thứ năm trở đi, với tâm niệm: “Mạng mạch của Giáo pháp là Luật tạng (Vinaya). Giáo pháp chính là Luật. Ta phải làm cho toàn bộ thân tâm mình trở thành nơi an trú của Giáo pháp,” Ngài đã học thuộc lòng toàn bộ năm bộ Luật tạng Pāḷi và hằng đêm đọc tụng cúng dường Phật. Khi giảng dạy cho đệ tử, Ngài không bao giờ cần cầm đến kinh sách mà có thể truyền đạt hoàn toàn từ trí nhớ. Ngài cũng nghiên cứu sơ qua về Sanskrit và Veda (Vệ-đà) nhưng đã đạt đến trình độ thông thạo. Trí tuệ của Ngài sắc bén đến mức khó tin. Ngài tiếp tục học thuộc lòng bộ đại kinh **Netti** Pāḷi (sau này dân gian có câu truyền tụng: “Hlay-thin Min-kyaung giỏi nhất Netti”). Sau khi đã thông thuộc lòng năm bộ Luật và bộ **Netti** vào hạ thứ năm, Ngài đến nương tựa làm giảng sư tại chùa Myin-won ở Mandalay.

Năm 1244, quan đại thần Nội vụ Hlay-thin đã dâng cúng ngôi đại tự Vimāna-bhūmsā ở làng Wat-chet cho Hòa thượng Myin-won. Vị Hòa thượng cùng hơn 100 vị tăng từ Mandalay đã đến tiếp nhận. Khi đó, Tỳ-kheo U Soma với vai trò là cánh tay phải của Hòa thượng Myin-won cũng đi cùng. Tại đây, ban đầu Ngài trú ngụ trong ngôi chùa do vị quan võ Hlay-thin U San Hla xây cúng, nên Ngài còn được gọi là “Hòa thượng Bo-kyaung”. Sau khi Hòa thượng Myin-won viên tịch, vào năm 1249, Ngài U Soma chính thức kế thừa ngôi vị trụ trì và trở thành Hòa thượng Min-kyaung (Hòa thượng ngôi đại tự của quan).




Thời trẻ Ngài học khác người, đến khi dạy Ngài cũng có phong cách riêng biệt. Bất kỳ ai muốn học bộ kinh nào đều có thể ấn định thời gian, địa điểm và được Ngài dạy riêng từng người (man-to-man). Vì tâm nguyện bồi đắp Ba-la-mật tuệ (Paññā-pāramī), Ngài chưa bao giờ nề hà thời gian. Nếu có vị Tỳ-kheo nào vì lý do gì đó mà vắng mặt buổi học, Ngài sẽ đích thân đến tận nơi nhắn nhủ: “Sư này, chúng ta bắt đầu bài học thôi.” Chỉ khi vị đó thực sự không thể học được, Ngài mới dành thời gian đó để dạy cho những người muốn học thêm. Đôi khi có hai người cùng muốn học một lúc dẫn đến tranh giành, Ngài sẽ cho bắt thăm để phân định thứ tự.

Do Ngài tận tâm bồi đắp Ba-la-mật như vậy, các sư nữ (sīla-rhaṅ) cũng tranh thủ thỉnh Ngài về am của họ để dâng cúng vật thực và học đạo. Ngài cứ đi hết am này đến am khác, mỗi nơi thụ thực một ít và giảng giải kinh điển, mãi đến quá trưa mới về lại chùa. Khi đó mới đến lượt các vị Tỳ-kheo, Sa-di vào học. Ngài đặc biệt ưu tiên giảng dạy Luật tạng và bộ **Netti**.

Ngài Hòa thượng Ma-so-yein từng kể rằng, có lần một vị sư trẻ ở chùa Kyar-ni-kan gần làng Ywa-htaung, phía tây Sagaing muốn học Luật, Hòa thượng đã không quản ngại băng qua dãy đồi Sagaing đi bộ đến tận nơi để dạy học mỗi ngày.

### Việc nghiên cứu và trước tác kinh điển

Thỉnh thoảng Ngài lại bảo: “Ta đi xem sách một chút,” rồi Ngài đến các chùa khác lưu trú lại hai ba ngày để nghiên cứu. Ngài thường lui tới thư viện kinh điển của chùa Ye-wun Taung-bilu và chùa Sin-nin vì nơi đó lưu trữ đầy đủ các loại sách thế gian và xuất thế gian. Các vị trụ trì ở đó thấu hiểu tâm ý của Ngài nên thường sắp xếp chỗ nghỉ ngay cạnh tủ kinh sách, chu toàn mọi việc ăn uống, sinh hoạt để Ngài yên tâm nghiên cứu. Có khi Ngài ở lại đến nửa tháng trời. Các vị trụ trì yêu thích kinh điển rất hoan hỷ mỗi khi Ngài ghé thăm, bởi họ có thể hỏi Ngài đủ mọi điều từ những mật thư thế pháp đến kinh điển thâm sâu.

Nhận thấy trình độ uyên bác của Ngài, Hòa thượng Taung-bilu đã gửi các tập lá bối và thỉnh cầu Ngài viết bản giải nôm (nissaya) cho phần Vipassanā (Minh sát) trong bộ “**Visuddhimagga Mahā-ṭīkā**” (Đại Chú giải Thanh Tịnh Đạo), phần mà các bậc tiền bối vẫn chưa hoàn thiện. Phần cuối của bộ **Visuddhimagga-ṭīkā** về Minh sát rất khó, không thể chỉ dựa vào kiến thức chữ nghĩa mà viết được. Nó đòi hỏi sự thấu triệt về các học thuyết liên quan đến Tự ngã (Atta-vāda) như Pakati-vāda, Dabba, Jīva, Dvi-aṇuka...


Vì chứa đựng nhiều thuật ngữ ngoại giáo (**Darshana** - còn gọi là **Dassana**, tức **Triết học Ấn Độ**), nên chỉ có đức hạnh và am hiểu Pháp học (*Pariyatti*) thôi thì chưa đủ. Phải tinh thông cả Phạn ngữ (*Sanskrit*) thì mới có thể dịch thuật chuyên sâu (*Nissaya*) sang tiếng Myanmar được. Vào năm 1257 (DL 1895), lúc 44 tuổi, Ngài đã đặt lá buông lên đầu gối và dùng bút thép viết một mạch hoàn thành bản thảo cuối cùng. Tác phẩm này gồm ba mươi lá.

Ngày xưa, khi soạn thảo kinh sách, người ta thường viết bản nháp trên giấy xếp (*Parabaik*) rồi mới chép bản chính lên lá buông. Tuy nhiên, Ngài không làm vậy mà viết trực tiếp lên lá buông đặt trên đầu gối cho đến khi hoàn tất, nên bản dịch này còn được gọi là “Lập Phan Nissaya” (Bản dịch viết trên gối) – hàm ý sự nhẫn nại và tỉ mỉ tối đa. (Hiện nay, bản gốc lá buông này vẫn chưa tìm lại được.)

Một ngày nọ, trong khi Ngài đang đặt bản **Tīkā Nissaya** lên gối để viết, Ngài **U Yan Kon** (**pháp danh U Sujāta**) – một bạn học từ thời ở tu viện Phayagyi (Mandalay), quê ở Tìe-gyaung-ga-lay – đã đến thăm. Thấy Ngài đang viết, Ngài U Yan Kon hỏi: "Sư đang soạn kinh sách gì thế?". Vì lúc đó không nhận ra ngay là Ngài U Yan Kon nên Ngài hỏi lại: "Sư ở chùa nào đến vậy?". Ngài U Yan Kon vốn tính hóm hỉnh nên đáp: "Tôi là sư ở chùa của tôi chứ đâu", rồi cả hai cùng đàm đạo thân mật.

Lúc ấy, Ngài đang viết đến phần **Kiến tịnh** (*Diṭṭhi-visuddhi*) và **Phân biệt Danh Sắc** (*Nāmarūpa-pariggaha*). Ngài U Yan Kon cầm một lá lên xem; khi đọc đến những đoạn thảo luận về **Ngoại đạo** (*Samayantara* - các học thuyết tôn giáo khác), Ngài đã thốt lên lời tán thán và đặt lá buông xuống: "Những ý nghĩa sâu xa này thực sự nằm ngoài tầm hiểu biết của chúng tôi". Sau này khi về lại Mandalay giảng dạy, Ngài U Yan Kon thường khen ngợi rằng: "Tôi cứ ngỡ ở vùng Sagaing này họ tu tập bình thường thôi, hóa ra vị trụ trì tu viện Min Kyaung thực sự là một bậc thánh triết". (Ngày nay, một bản **Tīkā Nissaya** mới đã được đức **Đại trưởng lão Mahasi** biên soạn và ấn hành, trong đó Ngài đã đối chiếu và giải quyết thỏa đáng các quan niệm cổ xưa của Ấn Độ.)

Vào tháng Tabboung năm 1257, Ngài **Maik-khaing Sayadaw** đến thăm và xin ý kiến về vấn đề "Nên hay không nên mang giày trên sân bảo tháp". Ngài **Hlè-thin Sayadaw** đã đưa ra nhận định ngay lập tức:

"Theo Luật tạng (*Vinaya*), nếu có tường bao thì không được mang giày bên trong tường; nếu không có tường bao thì không mang giày tại vị trí đáng lẽ phải xây tường. Theo Kinh tạng (*Sutta*), không nên mang giày từ nơi bắt đầu nhìn thấy bảo tháp. Theo Thắng Pháp tạng (*Abhidhamma*), khi quán tưởng đến ân đức Phật, cần giữ tâm cung kính và không nên mang giày."

Ngoài ra, Ngài cũng kể lại chuyện lúc ở vùng hạ du, Ngài có gặp đức **Trưởng lão Ok-pho** danh tiếng. Khi thấy đức Trưởng lão đang tự tay làm một việc công quả (*Navakamma*), Ngài đã không đảnh lễ theo đúng tinh thần Luật tạng. Dù đức Trưởng lão và những người xung quanh có nhắc nhở, Ngài vẫn giữ nguyên nguyên tắc và ra về. Ngài Maik-khaing Sayadaw nghe xong liền tán thán: "Quả đúng là như vậy!" rồi ra về.


Khi giảng dạy, Ngài không chỉ nêu rõ "quan điểm của vị Trưởng lão này là thế này, vị kia là thế kia", mà khi thuyết giảng giáo giới, Ngài thường sáng tác các bài kệ, bài thơ (*Thambauk*) ghi lại cách thực hành và lời dạy của các bậc tiền bối để răn dạy đồ chúng. Bản thân Ngài cũng luôn y giáo phụng hành theo những lời dạy đó.

1. **Tam Bảo** quy y, đóa sen hồng kính dâng, chí thành đảnh lễ.  
2. **Hương vị Chánh Pháp**, hãy ghi nhớ và gìn giữ như truyền thống tốt đẹp.  
3. **Đức Phật** trước khi Niết-bàn, trên giường thủ tọa đã để lại lời giáo huấn.  
4. **Muốn đạt Niết-bàn**, hãy quán chiếu sự vô thường của các hành ngày đêm chẳng nghỉ.  
5. **Ngài Xá-lợi-phất** (Sāriputta), bậc con trưởng của Đấng Pháp Vương, cũng đã để lại lời nhắn nhủ sau cùng.  
6. **Người khao khát Niết-bàn**, lòng tin phải tăng trưởng, tâm không được xao lãng.  
7. **Bậc thầy dạy rằng**, việc giữ nước trong miệng để luyện tâm là nếp sống thanh cao đáng học hỏi.  
8. **Muốn đạt Niết-bàn**, mọi ước muốn phải đi đôi với sự thực hành chân chính.  
9. **Bậc tiền bối Ariyavaṃsa**, bậc tử đệ của đức Lục hoàng, đã để lại lời dạy về nếp sống thánh hiền.  
10. **Muốn đạt Niết-bàn**, hãy chọn nơi thanh vắng để độc cư tu tập.  
11. **Trưởng lão U Budh** vùng Nyaung-kan cũng từng huấn thị rõ ràng.  
12. **Dù nhân, thiên hay Phạm thiên** có chê cười, cũng đừng vì chút thức ăn mà sợ hãi.  
13. **Chỉ nên sợ sự chê trách của Phật**, người biết sợ như vậy mới sớm đạt đến **Tịch tịnh** (*Nibbutā*).  
14. **Bậc hiền triết Nga-khon**, bậc đại trí đã truyền lại lời giáo giới sâu sắc.  
15. **Sự giận dữ hay sầu muộn** khởi lên do chính mình, đừng đổ lỗi cho kẻ khác mà hãy tự mình đoạn trừ.  
16. **Đoạn trừ sầu muộn**, diệt tận sân hận, đó là con đường chân chính dẫn đến **Tịch tịnh**.  
17. **Trưởng lão vùng Manyee-daw** cũng đã để lại những lời dạy đáng ghi tâm.  
18. **Hướng về Niết-bàn**, dù bị mắng nhiếc hay khổ nạn cũng chẳng hề sợ hãi.  
19. **Bậc tối thượng trong việc tu tập**, người gìn giữ giáo pháp, đã ban lời chỉ dạy rõ ràng.  
20. **Muốn đạt Niết-bàn**, hãy đoạn trừ thói nói xấu và soi mói lỗi người.  
21. **Bậc Thầy vùng Shwe-yin-mar** cũng truyền lại những lời nhắn nhủ cần phải hiểu rõ.  
22. **Nghe điều gì, nói điều gì**, cũng phải biết phân tích so sánh; không nên tin mù quáng vào mọi điều được viết ra.  
23. **Muốn đạt Niết-bàn**, chỉ nên tin vào những gì dẫn đến **Ly tham** (*Virāga*).  
24. **Trưởng lão Myin-wun** cũng đã phơi bày những sự thật đáng để quán sát và ghi nhớ.  
25. **Khi tâm hướng về Niết-bàn**, phải từ bỏ mọi sự yêu ghét và chấp thủ.  
26. **Bặc luật sư lừng danh** vùng Bhamo đã chỉ dạy tường tận.  
27. **Khao khát Niết-bàn**, thì ngay cả mạng sống này cũng không nên luyến tiếc.


28. **Tu viện Hlè-thin Min-kyaung**, nơi lưu truyền những phương pháp đúng đắn để hiểu rõ giáo pháp.  
29. **Muốn đạt Niết-bàn**, hãy thực hành sự nhẫn nhục trong mọi việc, dù là nội tâm hay ngoại cảnh.  
30. **Tinh hoa Tam Tạng**, diệu pháp cam lộ, đây chính là con đường dành cho các bậc tử đệ.  
31. **Lời tóm lược sau cùng**, những giáo lý cốt lõi, hãy luôn giữ gìn một cách kiên cố.  
32. **Ý nghĩa thâm sâu**, trí tuệ khó thấu triệt, hãy dùng trực giác và minh triết để quán soi.  
33. **Người thực hành theo đây**, sẽ dễ dàng bước vào cõi Niết-bàn an lạc.

Ngoài ra, những lời giáo huấn mà Ngài thường dùng để răn dạy đồ chúng cũng vô cùng quý báu. Qua những lời này, ta có thể thấy rõ cốt cách và phẩm hạnh của Ngài.

1. Trong bốn **oai nghi** (*Iriyāpatha*): đi, đứng, nằm, ngồi, không để bất thiện tâm khởi lên. Phải luôn hướng tâm để chỉ có thiện pháp phát sanh.  
2. Không để thời gian trôi qua trong bất thiện, phải dùng thiện pháp để lấp đầy mọi khoảnh khắc.  
3. Không trông chờ vào nghiệp cũ (dù tốt hay xấu). Chỉ nên nỗ lực để tạo ra những thiện nghiệp mới.  
4. Không nên chỉ mong cầu kết quả mà không chịu thực hành. Phải nỗ lực tu tập đúng đắn từ nơi nguyên nhân.  
5. Không thực hành theo lối giả tạm, hình thức. Phải tu tập một cách chân thật, rốt ráo.  
6. Không cần cho người khác biết việc tu tập của mình. Phải tự mình quán xét xem sự thực hành của mình đã đúng đắn hay chưa.  
7. Không dựa dẫm vào người khác. Phải tự dựa vào chính mình mà tu tập.  
8. Nếu bản thân chưa làm được thì không nên đi dạy người khác. Trước hết phải tự rèn luyện chính mình cho thật nhu nhuyễn.  
9. Không nên nhìn lỗi người khác. Phải luôn nhìn vào lỗi mình để sửa đổi và thoát khỏi lỗi lầm.  
10. Không tham muốn tài vật của người. Chỉ nên khởi lên thiện chí (*Sammā-chanda*) mong cầu đạt được báu vật thực sự là sự thực hành giáo pháp.  
11. Không tu tập vì mục đích kiếm tìm vật chất. Phải tu tập để đạt được Chánh Pháp thực thụ. (**Thừa tự Pháp** - *Dhammadāyāda*).  
12. Không nên chung đụng, vui thú theo thói tục để vừa lòng thiên hạ. Phải sống một cách thích nghi, quán chiếu và hoan hỷ trong sự thực hành Danh - Sắc.  
13. Không sống trong sự sợ hãi. Phải sống sao cho không còn nỗi sợ hãi nào có thể xâm chiếm.  
14. Sự hiểu biết kinh điển không được sai lệch. Phải thực hành sao cho sự hiểu biết đó trở nên đúng đắn và xác thực.

Cần phải có Chánh niệm và Tỉnh giác.

15. Không được tự mãn chỉ với việc thông thạo kinh điển, mà phải nỗ lực thực hành để thấu triệt Pháp.
16. Trong vòng luân hồi, không cần thiết phải mong cầu sống lâu. Chỉ cần mong cho vòng luân hồi ngắn lại.
17. Phải cắt đứt ái dục (taṇhā) dài dằng dặc và tiếp nối những ba-la-mật (pāramī) còn ngắn ngủi.
18. Nếu sống trong thất niệm, sẽ phải chết đi chết lại nhiều lần. Nếu không thất niệm, sẽ không còn phải chết nữa.
19. Hãy tiêu diệt vô minh và ái dục – những thứ vốn đang sống không ngừng nghỉ. Phải nỗ lực đạt đến Niết-bàn Vô vi (Asaṅkhata Nibbāna) – nơi vốn dĩ luôn tịch tịnh (không còn sinh diệt).
20. Phải cắt đứt sự chấp thủ (upādāna) vào tất cả hành (saṅkhāra). Chỉ khi có thể từ bỏ mọi hành mới có thể đạt đến Niết-bàn Hữu dư y (Anupādisesa Nibbāna).

Những người đang hành thiền không phải hễ mỗi khi hành trì là đều tiến bộ ngay. Để có thể tiến hóa, cần phải thường xuyên bồi dưỡng và quán chiếu thông qua những lời giáo huấn của Đức Phật và các bậc thiện trí thức về các nhân sinh khởi của Tín, Tấn, Niệm, Định, Tuệ; cũng như qua các sự tích, cách tác ý và các câu kệ pháp. Cần phải tự soi xét mình qua ba phương diện: **Tiến, Trình, Thoái (Visesa, Ṭhiti, Hāna-bhāgiya)**.

### Thẳng thắn phê phán những cách tu tập sai lệch

Khi Ngài Hòa thượng thuyết pháp tại các buổi lễ cúng dường, Ngài không thường kể các câu chuyện Bổn sanh (Jātaka), mà từ việc chúc phúc cho đến lúc hồi hướng, Ngài chỉ tập trung giảng về Tam tướng và Pháp hành Minh sát (Vipassanā). Đối với những vị thân thiết hoặc có tư duy phân tích, Ngài thường giảng giải thẳng thắn, không nể nang đối với những việc làm tổn hại đến lợi ích tu hành.

Vào năm 1271 (Miến lịch), khi tổ chức lễ hồi hướng tại tu viện Masoeyein ở Mandalay, Ngài đã hỏi thí chủ U Thet Shei rằng: "Việc giết bò rồi mới hồi hướng thì có phạm vào ác nghiệp sát sanh (pāṇātipāta) hay không?". Ngài đã giảng giải rộng rằng theo Luật tạng (Vinaya), nếu hội đủ các chi chiết thì thành nghiệp; theo Kinh tạng (Suttanta), nếu hội đủ các yếu tố cấu thành thì thành nghiệp; theo Diệu Pháp tạng (Abhidhamma), nếu có sự xuất hiện của tác ý (cetana) v.v... thì thành nghiệp. Không nên chỉ chú trọng vào những danh xưng bên ngoài một cách hời hợt.

### Pháp hạnh ăn chay

Có một lần, Ngài đã giảng giải và phân tích chi tiết cho đệ tử là Đại đức U Acara (người tu hạnh ăn chay) cùng một vị thí chủ đến dâng vật thực chay cho Ngài:


"Làm ẩn sĩ thì tu theo lối ẩn sĩ, làm ngoại đạo thì tu theo lối ngoại đạo, làm phù thủy (zawgyi) thì tu theo lối phù thủy; đã làm Tỳ-khưu thì phải tu theo hạnh Tỳ-khưu. Không nên biến việc ăn chay thành một pháp hạnh cốt lõi để tu tập. Nếu việc đó thực sự có lợi ích, Đức Phật với Nhất thiết chủng trí (Sabbaññuta Ñāṇa) đã thấy và cho phép rồi. Ngay cả khi Đề-bà-đạt-đa (Devadatta) thỉnh cầu, Ngài cũng đã từ chối.

"Theo Luật tạng, ngoại trừ 10 loại thịt cấm như thịt voi, thịt rắn v.v... và các loại thịt do người ta giết dành riêng cho mình (mamsa uddissa) thì đều hợp lệ. Có thể thọ dụng được. Điều này đã được Đức Phật cho phép.
"Theo Kinh tạng, có ba loại 'thịt thanh tịnh' được cho phép liên quan đến việc thọ dụng.
"Theo Diệu Pháp tạng, không có chỗ nào nói rằng ăn hay kiêng loại thực phẩm nào thì sẽ có phước báu. Chỉ khi có **Khéo tác ý (Yoniso manasikara)**, điều phục tâm ý đúng đắn thì mới có phước báu. (Ăn chay cực đoan) chỉ là con đường tà hạnh, tự hành xác (**Attakilamathānuyoga**).

"Nếu chấp nhận một lối thực hành có vẻ tốt nhưng không thực sự chuẩn xác theo **Lý đạo (Yukti)**, dần dần ta sẽ đi lệch hướng mà không hay biết, rồi xa rời khỏi **Trung đạo (Majjhimāpaṭipadā)**." (Trong bản tiểu sử gốc, Ngài đã giáo huấn phần này vô cùng chi tiết).

Trong hành trì, những sự dẫn dắt vi tế, sự sai khiến của tâm, sự lôi kéo của cảnh giới, và việc tự lầm tưởng về tâm mình là những điều rất đáng sợ. Về phương diện này, có lẽ Ngài Hòa thượng đã thấu thị một cách vô cùng sâu sắc.

Vì vậy, không nên vượt qua trí tuệ của bậc Chánh Biến Tri, cũng không nên xem thường lời dạy của các bậc thiện trí thức có bề dày kinh nghiệm và trí tuệ. Pháp vốn sâu mầu. "**Atakkāvacara**" – nghĩa là Pháp vượt ngoài tầm suy luận, không phải là thứ có thể thấu hiểu hay tiếp cận chỉ bằng suy tính hay tưởng tượng suông.

### Vị Hòa thượng tự mình chẻ củi, gánh nước

Ở các bậc thiện trí thức đặc biệt thường có những phận sự (vatta) và hạnh kiểm (caraṇa) được thực hiện bền bỉ (nibadda). Theo lời dạy: "**Vattaṃ aparipūrento sīlaṃ naparipūrati** – Người không làm tròn phận sự thì giới hạnh không được trọn vẹn", nên tùy theo sức khỏe mà các Ngài duy trì các phận sự đó hằng ngày.

Hòa thượng Min Kyaung không chỉ quét dọn trong khuôn viên chùa mà còn quét dọc theo con đường các vị Tăng đi khất thực, kéo dài khoảng một dặm cho đến tận cổng làng, mỗi ngày hai lần sáng và tối. Cho dù người khác đã quét rồi hay rác tự nhiên rơi rụng, Ngài vẫn kiên trì quét dọn sạch sẽ. Ngài nói: "Đây là phước báu từ việc **Phục vụ thân thể (Kāyaveyyāvacca)** và **Phận sự đối với nơi sàng tọa (Senāsanavatta)**". Nước uống cũng vậy, Ngài thường xuống sông Ayeyarwady để gánh nước về đổ đầy các lu chứa trước khi chúng Tăng thức dậy. Nếu các đệ tử đã gánh nước đổ đầy trước, Ngài sẽ dùng nước đó cúng dường Phật rồi lại đi gánh nước khác đổ thêm vào. Ngài cũng thường xuyên đổ nước vào nhà vệ sinh, nước rửa, nước thuốc. Ngài tự mình cọ rửa những thanh gỗ vệ sinh (kanut) sau khi chư Tăng sử dụng, và khi hết, Ngài tự mình chẻ tre, vót nan để làm thanh mới.



Mỗi khi xuống sông Ayeyarwady tắm, Ngài thường tự mình vớt những khúc củi trôi sông rồi xếp lên bờ. Ai cần thì lấy, số còn lại Ngài tự mình vác về chùa. Vào mùa đông, Ngài dùng số củi đó đốt lửa cúng dường Phật, đốt dọc đường cho chư Tăng đi khất thực, và thậm chí đốt lửa cho chó sưởi ấm.

Ngài cũng tự mình gánh cát từ sông Ayeyarwady về trải khắp khuôn viên chùa, ước tính khoảng một ngàn xe cát. Tại các ngôi bảo tháp gần chùa, Ngài cũng thực hiện các **Phận sự tại tháp (Cetiyangaṇavatta)**. Không chỉ quét dọn, dâng nước, mà tùy theo mùa, vào mùa đông Ngài đốt củi cúng dường, mùa hè Ngài dùng quạt đứng quạt mát trước tôn tượng Phật – đó là những hành động rất đặc thù. Ngài còn gánh lu nước đầy lên ngọn núi bảo tháp Pattamya rất cao và dốc để cúng dường. Ngài cũng quét dọn dọc theo dãy hành lang dài dằng dặc dẫn lên núi. Những ai từng đến đó sẽ biết, đó là ngọn núi mà ngay cả những thanh niên khỏe mạnh cũng phải nghỉ nhiều lần mới lên tới đỉnh.

Với những vị đã thấu triệt giá trị của cuộc đời, họ luôn tìm thấy rất nhiều việc để làm, để cúng dường. Họ không thấy khó khăn hay mệt nhọc.

Có khi Ngài tự tay vót đến hàng triệu que đánh răng, que vệ sinh. Không chỉ cho tự viện của mình, vào năm 1259 (Miến lịch), Ngài từng cúng dường cho tu viện Bhaya-gyi ở Mandalay (nơi có đông Tăng nhất với 1.600 vị), mỗi vị một bó gồm một trăm que đánh răng.

Nếu cho rằng phải làm được những phận sự phục vụ (gọi là **Caraṇa**) như thế này mới đạt được Minh (Vijjā - tuệ giác đặc biệt), còn "tôi không làm được" mà nản lòng thì không nên. Mỗi người đến với Đạo theo hạnh nguyện riêng: đức tin ưu trội (Saddhādhika), tinh tấn ưu trội (Vīriyadhika), hay trí tuệ ưu trội (Paññādhika). Các pháp hành như hơi thở (Ānāpāna) không phải là việc làm biệt lập. Ta có thể thực hành các pháp đó ngay trong khi làm những việc này. Trong cùng một lúc, hai công việc, hai loại lợi ích đều hoàn tất. Thật là dễ dàng.

Dù Sayadaw đã thực hành các bổn phận đạo hạnh và hạnh đầu đà từ thuở thiếu thời, nhưng trong giai đoạn chuyên tâm học tập và giảng dạy Pháp học (Pariyatti), Ngài chỉ thực hiện ở mức không để khuyết lỡ. Đến năm năm mươi tuổi, Ngài giảm bớt việc giảng dạy Pháp học, chỉ duy trì ở mức vừa phải, và bắt đầu dốc toàn tâm toàn ý vào việc hành trì các bổn phận cũng như các hạnh đầu đà (Dhutanga). Vòng xoay tu hành tích lũy phước đức từ tiền kiếp (Pubbe ca kata-puññatā) của Ngài đã kết duyên và tiếp tục vận hành cùng vòng xoay nương nhờ bậc thiện tri thức của Bhoga Sayadaw, giúp Ngài thực hành trọn vẹn 13 hạnh đầu đà tùy theo cơ duyên thích hợp. Ngài luôn luôn giấu kín công hạnh của mình. Vì không muốn người khác biết mình đang thọ trì hạnh đầu đà, Ngài thậm chí còn tự xả hạnh để nhận đồ cúng dường, rồi sau đó mới phát nguyện thọ trì trở lại.


Ban ngày, dù ngài ở tại ngôi chùa gần làng nhưng ngay cả các đệ tử thân cận cũng không biết ngài là một bậc tu hành khổ hạnh nơi rừng sâu thực thụ. Sau nửa đêm, ngài lặng lẽ rời chùa để đến nghĩa trang hoặc một nơi hoang vắng xa xôi ở phương Bắc, mãi đến khi bình minh ló rạng mới trở về. Khi ngài thọ trì **hạnh Nhất tọa thực** (Ekāsanika - chỉ ăn một lần ngồi trong ngày) và **hạnh Bình lộc thực** (Pattapin - trộn lẫn các vị ngọt, chua, mặn vào bình bát rồi mới thọ dụng), có không ít thí chủ vì lòng thành kính mà cho rằng: "Cách Sayadaw thọ thực thật đáng ngưỡng mộ làm sao," khiến ngài phải tạm xả hạnh để không làm mất lòng tin của họ. Ngay cả các đệ tử thân cận cũng chưa từng thấy ngài nằm ngủ bao giờ vì ngài thọ giữ **hạnh Thường tọa** (Nisajja). Ngài giữ kẽ và ẩn giấu công hạnh một cách vô cùng kín đáo.

### Sự thanh bần, giản dị và những đặc điểm phi thường

Nếu bộ Luận **Thanh Tịnh Đạo** (Visuddhimagga) được biên soạn tại Myanmar, thì chắc chắn không thể thiếu phần nói về những bậc vĩ nhân đặc biệt như thế này.

Mọi hàng cư sĩ dù đến cúng dường hay đảnh lễ, ngài đều tiếp đón với oai nghi không đổi, thái độ không hề xoay chuyển. Ngài không có nơi tiếp khách riêng, cũng không thuyết pháp theo cách đón tiếp đặc biệt. Nếu thí chủ đến vào lúc ngài đang quét dọn, họ phải đến tận chỗ ngài đang quét để đảnh lễ. Giống như ngài **Maha Kassapa** (Đại Ca-diếp) đối với thí chủ luôn giữ thái độ như "người mới quen", Sayadaw đối với quan thượng thư Lhe Thin - người hộ trì chùa - cũng không hề vồn vã hay chiều chuộng, mà luôn cư xử như với người lạ. Trong khuôn viên chùa Min Kyaung rộng lớn, ngài không ở cố định tại bất kỳ ngôi liêu nào, có khi ngài ở lại lán chứa củi đến hai ba ngày.

Về phương diện lợi lộc, ngài cũng khiến mọi người kinh ngạc. Khi đi nhận vật phẩm cúng dường, ngài không bao giờ có đệ tử đi cùng để mang hộ đồ. Những vật phẩm thí chủ mang đến chùa hoặc cúng dường tận nơi, sau khi thọ nhận, ngài cứ để y tại chỗ, không bảo ai cất giữ. Các vị Sadi hay Tỳ-kheo nào cần đến đều có thể tự lấy mà dùng.

Ngài thường dạy rằng: "Sự bố thí ly tham (Pariccāga), không hướng tâm phân biệt, không định sẵn đối tượng, còn cao quý hơn cả sự bố thí có giới hạn và dự tính từ trước." Riêng phần ngài, ngài luôn chỉ giữ đúng ba y (**hạnh Tam y** - Ticivarik'andhura), ngay cả một chiếc khăn lau mặt cũng không có. Ngài không có chỗ ngồi riêng biệt hay giường nằm cố định.

Về vấn đề sức khỏe, ngài không hề tích trữ bất kỳ loại thuốc men nào. Đôi khi ngài bị bệnh nhưng cũng không hề cho ai biết. Khi các đệ tử nhận thấy và dâng thuốc, ngài hỏi kỹ các thành phần; dù là thuốc có tác dụng tốt cho căn bệnh đến đâu, nhưng nếu chứa thành phần không hợp đạo hạnh, ngài đều từ chối. Có lần, ngự y Sayar Thẻ dâng một loại thuốc có chứa mật động vật, vì không đúng phép nên ngài nhất quyết không dùng. Ngài tôn trọng Giới luật đến mức độ như vậy.



Trên đời thường có những người trông giống như những bậc đặc biệt, nhưng phải dùng "tảng đá thử vàng" là Giới hạnh để nhận diện và khởi lòng thành kính (**Kinh Satta Jatila**). Mọi sự giả tạo đều không thể bền lâu; vì thế, một số người mặc áo tu hành có thể thi triển các loại thần thông nhưng họ không phải là những Tỳ-kheo giữ Giới (Vinaya). Người ta chỉ gọi họ là những tu sĩ theo kinh điển thế tục (Suttanta). Dù có nương tựa vào họ vì lợi ích thế gian, nhưng nếu không có nghiệp cũ và nỗ lực hiện tại của bản thân, thì không có vị thần thông nào có thể nâng đỡ được cả.

Kẻ xấu thường núp dưới hình bóng và quyến thuộc của bậc thiện trí như vàng giả, luân lạc giữa thế gian này. (**Tương Ưng Bộ - Kinh Satta Jatila**).

### Tự lo hậu sự cho mình, gánh cả hậu sự người khác

Ngài luôn có gương mặt tươi vui, giọng nói hiền hòa. Khi trò chuyện, ngài chỉ nói về những điều liên quan đến giáo pháp. Ngài không bao giờ bàn chuyện xóm làng, chuyện vua quan hay những chuyện phiếm vô ích (tiệm thuyết/súc sinh thuyết). Ngài luôn lo sợ mình sẽ trở thành gánh nặng cho người khác. Có một dạo, ngài bị chứng tiêu chảy rất nặng, sức khỏe suy kiệt đến mức gần kề cái chết. Ngài không cho bất kỳ đệ tử nào biết, mà âm thầm đi về phía nghĩa trang vào lúc quá nửa đêm. Sáng hôm sau, khi mặt trời đã lên cao mà không thấy ngài trở về, mọi người tá hỏa đi tìm. Họ thấy ngài đang nằm kiệt sức bên một gò đất tại nghĩa trang làng Watchet. Khi được hỏi lý do, ngài nói:

"Ta sợ các đệ tử phải vất vả chăm sóc bệnh nhân, rồi khi ta mất lại phải khiêng xác ra nghĩa trang, làm khổ mọi người thêm."

Trong việc chăm sóc người bệnh, ngài thật xứng danh là bậc trưởng tử của Đức Phật. Có lần, một đệ tử tên là **U Tiloka** bị bệnh dịch tả, chính tự tay ngài đã chăm sóc, lau chùi và giặt giũ các chất bài tiết. Ngài mời thầy thuốc U Lu Kalay đến cứu chữa nhưng không kịp. Vị đệ tử viên tịch vào lúc nửa đêm, để không làm phiền đến tăng chúng, đích thân ngài đã gánh thi thể, bảo ông U Lu Kalay đỡ đôi chân đang lủng lẳng ở phía sau, rồi đưa ra nghĩa trang ngay trong đêm. Vào năm 1259 (Miến lịch), một đệ tử khác tên là **U Dipa** mắc bệnh dịch tả, ngài cũng tự tay chăm sóc và khi vị ấy qua đời, ngài đã một mình gánh thi thể đi hỏa táng ngay trong đêm.



Trong bốn tâm **Phạm trú** (Brahmavihara), **Xả** (Upekkha) là tâm cao thượng nhất. Sự tu tập tâm Xả của ngài thâm sâu đến mức khó tin. Ngài không hề khởi tâm bám luyến đối với bất kỳ chúng sinh hay hành pháp (sự vật, hiện tượng) nào. Ngài đã vượt lên trên cả sự yêu và ghét. Chịu đựng cái xấu đã khó, nhưng buông bỏ cái tốt còn khó hơn nhiều.

Khi các vị Tỳ-kheo, Sadi đến xin ở lại chùa, ngài chỉ phán: "Nghiệp dẫn dắt đến đây thì cứ chọn chỗ nào hợp lẽ mà ở cho an lạc." Khi có ai đến xin chuyển đi nơi khác, ngài cũng tiễn biệt bằng câu: "Được rồi, cứ đi theo sự an bài của nghiệp đi."

Dù các vị Sadi hay học tăng nô đùa ầm ĩ, ngài cũng không hề xao lãng việc xem kinh sách. Khi đang đọc sách, ngài giữ nguyên trạng thái tĩnh lặng. Ngay cả khi bên cạnh có người xích mích đến mức đổ máu, ngài cũng không nói lời nào. Nếu thấy cần rời đi, ngài chỉ lặng lẽ đứng dậy đi chỗ khác. Khi có người tranh cãi đúng sai và đến trình thưa, ngài chỉ phán: "Thôi, hãy sống sao cho an lạc."

Quan thượng thư Lhe Thin vì quá sốt ruột nên đã thưa rằng:

"Bạch Ngài, xin ngài đừng quá nuông chiều hay làm ngơ đối với các đệ tử như vậy. Những lúc cần răn dạy, xin ngài hãy răn dạy."

Khi đó, ngài đáp lại rằng:

"Họ xích mích là do nghiệp của họ xoay vần, chính cái nghiệp đó sẽ dạy dỗ họ. Ngay cả bản thân mình còn chẳng tự dạy mình được, chúng ta chỉ đang nhận lấy kết quả theo sự răn dạy của thiện nghiệp và bất thiện nghiệp mà thôi."

Vì mọi người đều biết ngài có định lực tu tập tâm Xả và lòng nhẫn nhục vô biên, nên đôi khi các vị Sadi nhỏ khi đến xoa bóp cho ngài, vì tính trẻ con đã tinh nghịch nhổ từng sợi lông chân của ngài để làm trò cười. Sayadaw hoàn toàn không hề cử động. Sau này, khi ngài viên tịch, một người dân làng Watchet tên là Maung U - vốn là người từng làm việc đó - đã kể lại câu chuyện khi mọi người đang ôn lại ân đức của ngài. Được những người hiểu biết nhắc nhở và giáo huấn, anh ta đã dâng đèn cúng dường trước kim thân của ngài để tạ tội và sám hối.

Nếu ngài hoàn thành được ba-la-mật về tâm Xả đối với chúng sinh hữu tình đến mức ấy, thì sự không dính mắc của ngài đối với những vật vô tri như chùa chiền, y phục... cũng không có gì là lạ.

Giống như lưới giăng dưới nước không giữ được dòng chảy, gậy vung giữa không trung chẳng chạm vào đâu, và bàn tay nắm lại cũng không giữ nổi làn gió; nếu một người có thể bước đi trên con đường trung đạo ngay thẳng, không dính, không chạm, không mắc vào hai bên cực đoan tốt - xấu của vạn vật hữu tình lẫn vô tình, thì người đó chắc chắn sẽ bước tới cánh cửa Vô vi (Asankhata) giải thoát.

### Những thắng tri về hiệp thế và siêu thế

Đại trưởng lão chùa Hlay-thin-min, bậc đầy đủ ân đức cao thượng như đã lược thuật, đã xả bỏ tâm-sát-na (cuti-kammaja-rūpa) vào lúc 10 giờ 30 phút đêm thứ Tư, ngày mùng 9 sau trăng tròn tháng Pyatho năm 1288 (Miến lịch). Trước khi viên tịch bảy ngày, ngài đã di huấn cho các đệ tử rằng:

“Này các đệ tử, vào đêm thứ Tư cách đây bảy ngày, ta sẽ đi đến điểm tận cùng của kiếp sống này. Sau khi ta không còn nữa, nếu các con muốn ghi nhớ và tu tập về Pháp học (Pariyatti) và Pháp hành (Paṭipatti) mà ta đã giảng dạy, hãy nương tựa vào đệ tử lớn của ta là vị Garu (bậc thầy) tại chùa Ma-soe-yein-taw-ya ở Maha-thit-win-chaung, hãy tôn vị ấy làm người đại diện cho ta.” (Vị trụ trì chùa Ma-soe-yein-taw-ya chính là U Somanābhivaṃsa, người đã viết tiểu sử dài 140 trang trong vòng hai tháng sau khi ngài Min-kyaung Sayadaw viên tịch).

Trong cuốn tiểu sử, mặc dù không trình bày chi tiết về Thắng trí (Paṭivedha) của ngài, nhưng dựa trên các bằng chứng từ văn học kinh điển, tác giả đã khẳng định một cách trí tuệ rằng: “Ngài đã đạt đến cả hai phương diện Thắng trí là hiệp thế và siêu thế.” Cụ thể:

1. Đối với bất kỳ ý nghĩa sâu kín hay khó khăn nào trong **Pali** (Kinh), **Aṭṭhakathā** (Chú giải) và **Ṭīkā** (Phụ chú giải), ngài đều có thể giải thích một cách đúng đắn như thực (**Yathābhūta**) ngay khi vừa nhìn thấy mà không cần xem qua các bản diễn giải (**Saṃvaṇṇanā**) hay bản dịch (**Nissaya**).

2. Ngài có thể thấu hiểu ngay lập tức những phương pháp bí truyền mà các bậc hiền triết xưa đã biên soạn một cách kín kẽ. Các môn học huyền thuật Gandhari (như bùa chú, linh phù, chân ngôn, v.v.), ngài chỉ cần nhìn qua là có thể chỉ ra cách hình thành, cách sử dụng và cả công năng của chúng.

3. Đối với các điềm báo, tướng lạ, giấc mơ, hay các con số, văn tự, kệ ngôn, sấm truyền (**Tabaung**), hoặc các dấu hiệu về phương hướng, núi non, sông ngòi trong thiên nhiên, hễ ai muốn biết mà thỉnh vấn, ngài đều có thể giải đáp ngay lập tức.


(Đừng vì thấy những điều này mà lầm tưởng đó là con đường của Gandhari hay thế tục Lokāyata. Định lực trong thiền Minh sát (Vipassanā samādhi) làm cho năm căn (pasāda) và sáu nội xứ (āyatana) trở nên sắc bén, nhờ đó có thể thấu suốt Tam Tạng một cách dễ dàng – như đã trình bày trong chương về Ngài Thaton Jetawun Sayadaw).

4. Không chỉ dừng lại ở đó, ngài còn thông suốt Tha tâm thông (Cetopariya-abhiññā), biết được những ý định, suy nghĩ của người khác, cũng như những việc họ đã sắp đặt hay những sự kiện đang diễn ra.

5. Ngoài ra, ngài còn thấu thị về những điều sắp hư hoại, cũng như cảnh giới tái sinh (gati) của một người sau khi qua đời. Người ta vô cùng tôn kính khi đọc thấy những ghi chép minh định về việc ngài đạt được Hiệp thế Thắng trí như vậy.

Về việc ngài đạt được Siêu thế Thắng trí, dựa trên cách ngài viên mãn Tam học (Sikkhā) một cách không mệt mỏi và sự giải thoát khỏi mọi vướng mắc, điều này là không thể nghi ngờ.

Bởi vì các bậc thánh nhân thường giữ kín và mật hạnh còn hơn cả những gì Luật tạng (Vinaya) quy định, nên chúng ta chỉ có thể nương theo những dấu hiệu ít ỏi này để làm gương (**Diṭṭhānugati**) tu tập và sinh lòng hoan hỷ. Nếu các ngài hiển lộ ra nhiều hơn, thì lịch sử Pháp hành (Paṭipatti) của Myanmar chắc chắn sẽ còn rạng rỡ và đáng ngưỡng mộ hơn nữa. Bởi lẽ, nếu chúng ta có đức tin (Saddhā) và sự tinh tấn (Vīriya) làm nền tảng để thực hành, thì những lời dạy trong Kinh điển vẫn còn tươi nguyên, và hành trình trên con đường **Trung đạo (Majjhima-paṭipadā)** cổ xưa vẫn còn in dấu chân bao người, sẵn chờ chúng ta bước tiếp.


### Ngài Maha Gandhayon Sayadaw vùng đồi Sagaing
(1220 - 1281)

Ngài Maha Gandhayon Sayadaw vùng đồi Sagaing sinh vào lúc hơn 1 giờ đêm (giờ Miến Điện) Chủ Nhật, ngày mùng 4 sau trăng tròn tháng Tawthalin năm 1220 (Miến lịch) tại thành phố Magway. Ngài đã trải qua 5 hạ sa-di và 5 hạ tỳ-kheo dưới sự hướng dẫn của Ngài Gon-taw Sayadaw U Kesara tại Magway. Pháp danh của ngài là **Ashin Uttara**. Sau đó, ngài lưu lại một hạ với Ashin Puñña ở thành phố Einme, ba hạ với Ashin Vimala ở làng Chaung-phya thuộc thành phố Dedaye, hai hạ với Ngài Mahawun Sayadaw Ashin Jina ở thành phố Kun-chan-kon, và tiếp sau đó là bốn hạ với Ngài Maha Visuddharon Sayadaw ở phía đông Mandalay.

Năm 1257, vào hạ thứ 18, vào ngày mùng 4 đầu tháng Waso, ngài đã từ bỏ phố thị để vào rừng tu tập tại đồi Sagaing. Ngài cũng đã biên soạn các tác phẩm về thiền quán Niệm Phật (Buddhānussati) như: **Nibbānamagga Dīpanī**, **Nibbānamagga Bhedanī** và **Nibbānagata Bojjhaṅga Dīpanī**. Đồi Sagaing thời bấy giờ không giống như bây giờ; nó vô cùng tĩnh lặng và thanh bình.

Khi ngài vào rừng, chỉ có khoảng bốn hoặc năm bạn đạo đồng hành. Mỗi người ở trong một am thất nhỏ riêng biệt. Vào những ngày giới (Uposatha), ngài thường đóng cửa thiền tịnh vì ngại phải truyền giới (hàn huyên với cư sĩ). Dù ngài luôn tránh né đám đông, nhưng danh tiếng của ngài ngày một vang xa khiến số lượng người tìm đến ngày càng đông. Sau 11 năm, ngài phải dời đến khu vực phía đông Gandhayon. Nhưng tại đó người ta cũng lại tụ tập đông đảo, nên sau hai hạ, ngài lại phải quay về am thất cũ vào ngày mùng 1 tháng Waso năm 1270. Khi không thể từ khước được, ngài mới truyền giới và thuyết pháp đôi chút. Sau đó, vào ngày nhập hạ năm 1272, ngài đi đến hang động ở Maha Sukha Chaung thuộc núi Wankaba để nhập hạ.

Ngài lưu lại trong hang động, ngày đêm không ngừng nghỉ, dành trọn phần đời còn lại sống trong trạng thái hằng hữu với giáo pháp. Vị tăng trẻ mang vật thực đến phải đặt bát tại một điểm quy định trước cửa hang rồi ra hiệu; ngài không tiếp xúc ngay cả với người đưa cơm.

Mỗi khi ra khỏi hang để đi khất thực tại các trú xứ của các nữ tu (thila-shin), đó mới là lúc các thí chủ từ phương xa có cơ hội dâng cúng vật thực. Những vật thực hay y phục dư thừa, ngài thường ghé vào các chùa trên đường để tặng lại. Ngài không nhận bất kỳ vật dụng, chùa chiền hay y phục nào dư thừa cho riêng mình. Ngài thường chỉ dạy rằng nên dùng chúng để xây dựng hoặc dâng cúng vào những nơi cần thiết khác. Đối với những y phục dư thừa có được trong năm, ngài cho tổ chức một kỳ thi Luật tạng hàng năm để làm phần thưởng dâng tặng cho các vị tăng. Kỳ thi này vẫn còn được duy trì và phát triển rực rỡ cho đến ngày nay.

Thí chủ cúng dường ngôi chùa ban đầu là cụ U Sar, thân phụ của vị đại phú hộ U Kyaw ở khu Wa-dan, thành phố Mandalay. Khi gia đình chuẩn bị đến để tổ chức đại lễ sớt nước cúng dường (Yezetcha) một cách long trọng, Ngài đã bảo họ thực hiện nghi thức sớt nước cúng dường ấy một cách lặng lẽ, âm thầm trước ngày mời quan khách một hai hôm. Điều này là nhằm giúp cho tâm trí của họ không bị phân tán, lăng xăng, nhờ đó viên mãn trọn vẹn phước báu của một đại thí ba-la-mật hướng đến giải thoát (Vivatta Parami Dana).


Đối với những hành giả đến tầm học pháp hành, ngài chỉ hướng dẫn ở mức độ đầy đủ vừa phải, rồi sau đó ngài thường ẩn cư trú xứ một mình.

### Hào quang thân (Thân quang)

Một ngày nọ, Ngài Cố vấn (tức Mahāgandhārum Sayadaw) bảo vị đệ tử thân cận là **U Saddhamma** (sau này là Chan-myay Sayadaw) vào trong hang để lấy một số cuốn sách mà ngài muốn sử dụng. Khi vị đệ tử bạch rằng trong hang tối quá không nhìn thấy gì, ngài vừa bước chân vào hang thì cả hang động bỗng trở nên sáng rực. Ngài cấm vị đệ tử không được kể chuyện này với bất kỳ ai. Mãi cho đến sau khi ngài viên tịch, ngài **U Saddhamma** mới tiết lộ điều này với ngài **U Aggadhamma** (Sayadaw chùa Aung-myay-thar-zi).

Một lần khác, trong khi đang cử hành nghi thức Uposatha tại giới đàn chùa Mahāgandhārum, ngài ngồi cùng hàng với các bậc trưởng lão khác. Ngài **U Aggadhamma** khi ấy ngồi ở hàng phía sau đã nhìn thấy những luồng hào quang phát ra từ phần vai và cánh tay để trần của ngài.

Lại có lần, khi ngài đang lưu trú tại thị trấn Paleik, gần chùa có một nhà vệ sinh. Ngài bảo **U Saddhamma** hãy dời nhà vệ sinh đó sang chỗ khác. Dù không được giải thích lý do, **U Saddhamma** vẫn miễn cưỡng thực hiện theo lời dạy. Chẳng bao lâu sau, vị đệ tử đã hiểu ra ý định của ngài: một cành xoài lớn ngay phía trên vị trí nhà vệ sinh cũ bất ngờ gãy xuống.

Các hành giả đều tin tưởng rằng việc đến tầm học và thực hành thiền định dưới sự hướng dẫn của ngài rất dễ nắm bắt và chứng đắc. Một bà lão hành giả (vốn là thí chủ của ngài So-yein Sayadaw ở dặm số 8) kể lại rằng: Tại trú xứ của ngài có một vị nữ đệ tử (Thāvikāma) thuộc dòng dõi hoàng gia, vừa hộ trì các việc vặt cho ngài vừa hỗ trợ hướng dẫn pháp hành. Vị này luôn dùng lời lẽ dịu dàng gọi các hành giả mới đến là "con ơi" và tận tình giúp đỡ. Bà lão kể rằng khi bà đến, vị nữ đệ tử ấy đã khích lệ và trìu mến xoa nhẹ vào lưng bà; ngay lúc đó, bà cảm thấy một luồng điện râm ran chạy khắp cơ thể như bị thôi miên, tâm ích phấn chấn và nhuần nhuyễn hẳn lên.


Dù một mặt gánh vác các trọng trách Phật sự như quản lý tăng đoàn, ngài Mahāgandhārum Sayadaw vẫn luôn tận tụy dành toàn bộ thời gian cho việc thực hành pháp hành (Paṭipatti). Vào ngày 8 tháng suối (Wagaung) năm 1281 (Âm lịch Myanmar), ở tuổi 61 và 42 hạ lạp, ngài đã viên tịch ngay tại trú xứ Mahāsu.

Đêm ngài viên tịch, ngài **Ghositawana** (Hòa thượng tông chủ tông phái Sudhamma), vị đang lưu trú ở phía tây rặng núi, đã kể với ngài Chan-myay Sayadaw rằng ông đã nhìn thấy những luồng ánh sáng rực rỡ bay qua lại giữa các đỉnh núi trên toàn bộ vùng đồi Sagaing suốt cả đêm.

### Cuộc đàm đạo với đại trưởng lão Ledi Sayadaw

Trong thời gian đại trưởng lão Ledi Sayadaw (bậc ân sư tôn kính) lưu trú tại rặng núi Sagaing, ngài Mahāgandhārum đã đến đảnh lễ và đàm đạo. Cuộc đối thoại này đã được ngài Sayadaw chùa Thein-taung-se-gyi (hơn 70 tuổi) ghi chép lại trong tác phẩm "Ariyā-vijjā-magga Alin-pya-kyan" (1955), trang 369, với những nội dung vô cùng đáng chú ý:

**Gandhārum**: Bạch bậc Thầy, khi con hướng dẫn đề mục **Phật tùy niệm** (Buddhanussati), các đệ tử hành giả thường đắc được tướng (Nímitta) về đức Phật rất rõ ràng chỉ sau 4, 5 hoặc 7 ngày. Sau đó, khi con hướng dẫn quán chiếu sự sinh diệt của danh sắc, có những hành giả đã thấu đạt **10 tuệ quán** (Vipassanā-ñāṇa) chỉ trong vòng 7 đến 10 ngày. Trong khi đó, theo Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga), việc này được mô tả là cực kỳ khó khăn. Nhưng với những người đang thực hành hiện nay, con thấy sao mà dễ dàng quá, bạch Thầy.

**Ledi**: Này Hiền giả, ông hướng dẫn **Phật tùy niệm** như thế nào?

**Gandhārum**: Bạch Thầy, con hướng dẫn họ quán tưởng đức Phật đang ngự trên bảo tòa vàng dưới cội đại Bồ-đề, sau khi chiến thắng ngũ ma và thấu đạt Tứ Thánh Đế. Con bảo họ trải một tấm da thú trước mặt, dâng cúng hoa, nước và đèn dầu. Họ phải dâng hiến thân tâm này cho đức Phật, đảnh lễ tôn kính trong khoảng cách hai tỳ (khoảng 1 mét) và liên tục tác ý "**Arahaṃ, Arahaṃ**". Các hành giả đều thấy hiện ra tướng như một pho tượng sống động với hào quang sáu màu rực rỡ, được chiêm ngưỡng đức Thế Tôn một cách rõ ràng, bạch Thầy.



**Ledi**: "Trong **Thanh Tịnh Đạo** có dạy rằng đề mục **Phật tùy niệm** không thể hiện ra tướng (Nímitta), mà chỉ sinh khởi hỷ (Pīti). **Phật tùy niệm** nghĩa là sự tỉnh giác, ghi nhớ lặp đi lặp lại về các ân đức của đức Phật.

Người thực hành **Phật tùy niệm** có tâm thiết lập vững chãi trên đối tượng duy nhất là ân đức Phật. Khi thường xuyên tưởng nhớ và tu tập về ân đức Phật như vậy, các tâm tham, sân, si không có cơ hội khởi lên. Tâm trở nên ngay thẳng, định tĩnh trên đối tượng Phật bảo. Các triền cái (Nīvaraṇa) bị đẩy lùi. Khi ấy, **Tầm** (Vitakka) và **Tứ** (Vicāra) hướng về ân đức Phật sinh khởi, dẫn đến niềm vui **Hỷ** (Pīti), sự tĩnh lặng **Khinh an** (Passaddhi), và cảm giác an lạc của thân tâm là **Lạc** (Sukha).

Với người có lạc, tâm lấy ân đức Phật làm đối tượng nên sẽ trở nên định tĩnh. Cứ như vậy, trong một sát-na, các thiền chi đồng loạt sinh khởi. Tuy nhiên, vì ân đức Phật vô cùng sâu sắc và đa dạng, tâm ghi nhớ với sự tôn kính sâu sắc nên không thể đạt đến **An chỉ định** (Appanā), mà chỉ dừng ở mức **Cận định** (Upacāra-jhāna).

Vì loại định này sinh khởi nhờ năng lực của việc ghi nhớ lặp đi lặp lại ân đức Phật, nên nó chỉ được gọi là **Phật tùy niệm**. Do đó, việc nói rằng Phật tùy niệm chỉ sinh hỷ mà không hiện tướng là điều hiển nhiên trong kinh điển. Tuy nhiên, vì Hiền giả đã đưa ra một nghi thức chuẩn bị (Parikamma) cụ thể, nên tướng hiện ra tương ứng với cách chuẩn bị đó. Việc hiện ra tướng đức Phật - một đối tượng cực kỳ tốt lành (Ati-iṭṭhā-rammaṇa) - là điều tốt. Không nên phá bỏ tướng đã đắc được. Nhưng nếu gọi đó là Phật tùy niệm thì sẽ không phù hợp với giáo lý. Phải xếp nó vào một trong bốn loại Kasina màu sắc và gọi là **Phật-Kasina** thì mới tương hợp với tướng đã đắc được," ngài Ledi Sayadaw chỉ dạy như vậy. Về **10 tuệ quán**, ngài tiếp tục hỏi:

**Ledi**: Còn việc Hiền giả hướng dẫn 10 tuệ quán thì sao?

**Gandhārum**: Con hướng dẫn cách quán chiếu **Tuệ Thẩm thấu** (Sammasana-ñāṇa). Các hành giả đều thấy rõ như lời con giảng. Sau đó, con giảng về **Tuệ Sanh diệt** (Udayabbaya-ñāṇa) - sự sinh và diệt của danh sắc. Tiếp đến, con dạy họ hãy buông bỏ sự sinh mà chỉ tập trung quán chiếu sự diệt. Họ đều thực chứng được theo đúng lời hướng dẫn, bạch Thầy.

**Ledi:**

Trong ba loại trí: Tuệ văn (sutamayañāṇa), Tuệ tư (cintāmayañāṇa) và Tuệ tu (bhāvanāmayañāṇa), để thấu triệt được bản chất thực thụ của các pháp (Sabhāvadhamma), hành giả phải kiên trì quan sát khía cạnh của Khổ (Dukkha). Nếu chưa nắm vững được khía cạnh Khổ, cần biết rằng đó chưa phải là Tuệ tu thực thụ của bản chất pháp. Khi ấy, cần khuyến khích hành giả dấn thân về phía trước, giữ cho Ngũ quyền (Vị lực) được quân bình để nỗ lực hành trì.

Tại thành phố Mandalay, khi cho ngựa kéo xe ăn, người ta thường thái nhỏ cỏ khô. Họ đeo cho ngựa một cặp kính màu xanh lá cây. Qua nhãn thức của con ngựa, cỏ khô trông như cỏ xanh và nó cứ thế ăn. Đây thực chất chỉ là việc đánh lừa nhãn thức của con ngựa bằng cặp kính xanh để nó tưởng cỏ trắng khô là cỏ xanh tươi.

Để thấy rõ trạng thái tự nhiên (Jāti) nguyên bản, hãy tháo cặp kính xanh đó ra; khi ấy cỏ xanh sẽ biến mất và hành giả sẽ thấy cỏ trắng nguyên bản đúng như màu trắng của nó. Tương tự như vậy, đối với hành giả đang hành thiền, để biết được tuệ giác đang khởi lên có phải là Sabhāvadhamma thực thụ hay không, sau khi Dục tầm (Kāma-vitakka) khởi lên mạnh mẽ, hãy bảo họ thực hành lại 10 loại Tuệ Minh Sát (Vipassanā-ñāṇa) mà họ đang thấy.

Nếu đó chỉ là tuệ giác kết hợp giữa định Sa-ma-tha (Samatha) với Tuệ văn, Tuệ tư, thì hành giả sẽ không thể tìm thấy bất kỳ sự sinh diệt nào của Danh-Sắc, thậm chí sẽ rơi vào bóng tối mịt mù đến mức không thấy cả hình dáng cơ thể mình. Vì vậy, đối với các đệ tử, cần phải kiểm chứng theo cách này. (Ý nói nếu là Sabhāvadhamma thực thụ thì sự sinh diệt của Danh-Sắc sẽ không mất đi. Hãy xem thêm trong **Anatta-dīpanī**).

(Có vẻ như **Ngài Đại trưởng lão Ledi** cho rằng trong các hành giả của Ngài Gāndhāyon đã xuất hiện những hiện tượng Ma đạo/Đạo giả (Magga-yaung Phala-yaung), những ảo giác hay sự thâm nhập của ma lực. Ngài Đại trưởng lão là bậc dày dạn kinh nghiệm và có trí tuệ sâu rộng. Những gì Ngài Se-gyi ghi chép lại mang hàm ý rất sâu sắc.

Trong quá trình tìm hiểu về Ngài Đại trưởng lão Mahā Gāndhāyon trong khả năng có thể, tôi nhận thấy dù Ngài rất nổi tiếng nhưng tài liệu ghi chép lại không nhiều. Chỉ có những ghi chép từ những bậc thông thạo cả Pháp học (Pariyatti) lẫn Pháp hành (Paṭipatti) mới đáng tin cậy. Đây cũng là điều mà các bậc trí giả đa năng có cơ hội gần gũi các bậc cao đức cần lưu tâm. Không nên để lỡ những cơ hội tốt giúp ích cho giáo pháp.)



### Linh ảnh đúng đắn (Pháp tướng chân thực)

Đọc những ghi chép của cư sĩ U Thein Aung, giảng sư Vi Diệu Pháp tại Mandalay, về một vị nữ tu (Thi-la-shin) là đệ tử của Ngài Đại trưởng lão, lòng kính ngưỡng và ý chí tu học trong tôi lại dâng cao.

Thuở ấy, có một vị nữ tu lớn tuổi từ Henzada đến tu tập, bà ở tại am Maggin, còn con trai của bà là một vị Tỳ-kheo thì ở tại am Dhūvaṃ. Một ngày nọ, vị nữ tu đến gặp con trai và thưa rằng:

"Thưa sư, sáng nay Maung Ba Kyan, em trai của sư, đã bị người ta chém bằng dao. Nó bị thương ở mặt bên phải, thái dương bên trái và bả vai, hiện đang nằm tại bệnh viện Henzada."

Vị Tỳ-kheo hỏi lại: "Thưa mẫu thân, ai đã nói cho bà biết vậy?"

Bà thưa: "Chẳng có ai đến nói cho tôi cả, tôi thấy rõ trong tâm khi đang hành thiền."

Vị con trai nói: "Ồ, chắc là do mẫu thân quá bận tâm nên mới tưởng tượng ra linh ảnh đó thôi."

"Trước khi đến đây, tôi đã chia đều toàn bộ tài sản cho hai anh em sư rồi, không còn gì để luyến ái hay bận tâm nữa. Tôi cũng không hề nhớ tới Ba Kyan, nhưng linh ảnh của tôi thường rất chính xác. Sư hiện đang đắp y (xuất gia gieo duyên) nên tôi đến báo để sư làm tròn bổn phận của mình." Nói xong bà ra về.

Việc tự tin vào linh ảnh của mình như vậy thật khó để tin bằng nhận thức thông thường, nhưng vị nữ tu lớn tuổi ấy rõ ràng rất mực tin tưởng vào sự thấy biết của mình.

Sau khi mẫu thân về, vị Tỳ-kheo rất băn khoăn. Ngay trong ngày hôm đó, có bức điện tín gửi tới nên vị ấy lập tức đi Henzada. Khi đến bệnh viện, vị ấy thấy các vết thương y hệt như những gì mẫu thân đã mô tả. Không lâu sau, khi Maung Ba Kyan bình phục, anh ta đã đến dãy núi Sagaing để xuất gia gieo duyên. Các vị Tỳ-kheo trong chùa đã bàn luận về sự thấy biết của vị mẫu thân. Khi đó, Maung Ba Kyan kể lại rằng vào giây phút bị chém, trong cơn đau đớn cận kề cái chết, anh đã vô cùng hối hận vì không nghe lời dạy của mẫu thân và tâm anh lúc đó chỉ hướng về bà.

Cư sĩ U Thein Aung muốn đưa ra nhận định về sự giao thoa giữa các tâm thức, nên trong tác phẩm "Phật giáo, Tam giới và Nguồn gốc chúng sinh", ông đã dẫn chứng một sự việc mà chính ông từng chứng kiến năm 15 tuổi.



### Chớ nên quá coi trọng thần thông (Thấy nghe huyền bí)

**Dhammācariya U Htay Hlaing**

Xem xét trường hợp của vị nữ tu trên, ta càng thêm kính trọng đức hạnh của vị thầy hướng dẫn thiền. Điểm chúng tôi muốn nhấn mạnh là: "Nếu thực làm thì sẽ có thực chứng." Những người có sự thấy biết như vị nữ tu đó có lẽ hiện nay không thiếu. Tuy nhiên, nếu chỉ vì có được sự thấy biết đó mà đã vội tôn xưng là bậc A-la-hán thì quả là một mối nguy lớn trong lịch sử Pháp hành (Paṭipatti Sāsana). Loại thấy biết đó có thể chỉ là sơ khởi của Thắng trí (Abhiññā), là nhận thức thế gian thông thường, chưa nói đến A-la-hán, mà ngay cả quả vị Tu-đà-hoàn cũng chưa chắc đã đạt tới. Bậc Thánh (Ariya) không nhất thiết phải biết mọi chuyện, và người biết mọi chuyện chưa hẳn đã là bậc Thánh.

Nếu không có nền tảng Pháp học và Pháp hành để phân biệt giữa Thế gian và Xuất thế gian thì không nên sa đà vào các định kiến. Những bậc chân tu đức độ thông thạo cả Pháp học lẫn Pháp hành, giữ gìn giới luật tinh nghiêm, thường chẳng bao giờ xem những sự thấy nghe huyền bí đó là chuyện to tát để phô trương. Ngược lại, các Ngài còn e ngại người khác biết được điều đó. Chúng ta cần hiểu rõ thực tế này.

### Nhật ký hành trì tự viết

Người ta từng tôn xưng Ngài Đại trưởng lão là bậc Bất Lai (Anāgāmī). Tuy vậy, cũng có những bậc trí giả cho rằng Ngài vẫn chưa vượt ra khỏi Dục giới. Dù thế nào đi nữa, Ngài là bậc có ý chí và nỗ lực phi thường. Những ngày cuối đời khi lâm trọng bệnh, Ngài càng nỗ lực hơn nữa. Ngài còn phát nguyện với tinh tấn Chánh cần rằng: "Chừng nào chưa đắc quả A-la-hán, tôi quyết không rời khỏi hang này."

Bệnh tình ngày một trầm trọng, các đệ tử lớn vì không nỡ nhìn Ngài chịu khổ nên nhiều lần thỉnh Ngài rời hang để điều trị, nhưng Ngài không chấp thuận. Cuối cùng, các vị đệ tử phải đem sự tình thưa với **Ngài Đại trưởng lão Ledi** để nhờ giúp đỡ. Đích thân Ngài Ledi đã vào tận hang để khuyên bảo.

Ngài (U Uttara) thưa: "Con đang giữ lời phát nguyện." Ngài Ledi xem xét tình trạng sức khỏe rồi suy nghĩ hồi lâu, sau đó quay sang các vị Tỳ-kheo đi cùng và bảo:

"Nào các vị Tỳ-kheo, hãy khiêng Ngài ra ngoài. Việc phát nguyện là của U Uttara, còn việc đưa ra khỏi hang là việc của **Đại trưởng lão Ledi** này." Nói đoạn, Ngài hộ tống về chùa.


Sau khi Ngài viên tịch, lúc dọn dẹp chỗ ngài ở, người ta ngạc nhiên tìm thấy bản nhật ký ghi chép 12 năm tu hành do chính Ngài viết; trong đó bao gồm 16 loại giấc mơ, các điềm báo và những suy tư quán chiếu. Điều đặc biệt là ngay trong lời tựa, Ngài đã dặn dò rằng:

"Này các hàng tỳ-khưu, cư sĩ và tu nữ, để giúp cho thiền quán (Samatha Vipassanā) được tăng trưởng, các đệ tử nên đưa nhật ký này vào in trong sách thiền." Tuy nhiên, trong bất kỳ cuốn sách nào do Ngài viết, người ta đều không tìm thấy bản ghi chép này.

Nhờ ân đức của Ngài Mahosadha Paṇḍita ở tu viện Wejayantā, dãy núi Sagaing, bản nhật ký này đã được tìm thấy và đăng trên tạp chí Dhamma Byūha số (9-10 và 10-5) xuất bản vào tháng Tabodwe năm 1332 (tức ngày 10/2/1971).

Mặc dù những ghi chép này có vẻ không quá kỳ bí trong thời đại ngày nay, nhưng chúng ta sẽ rút ra được một bài học quý giá rằng:

"Ngay cả những bậc thánh nhân cao quý, am tường kinh điển và viên mãn về giới hạnh như vậy mà đôi khi vẫn gặp phải những ảo giác, linh tính và suy nghĩ sai lệch, rối rắm. Thậm chí khi phận sự sa-môn chưa hoàn tất, Ngài vẫn có lúc lầm tưởng rằng mình đã chứng đắc."

Bài học đặc biệt cần rút ra chính là về việc phát nguyện thành Phật (Buddhaphala). Những người tự nhận mình là "Bậc đại nguyện" ngày nay cần phải suy xét và quyết định dứt khoát; vì khi hành vi của mình còn xa rời với đạo hạnh của các bậc Bồ-tát mà không tự biết, thì đó chính là đang tự lừa dối chính mình. Thật đáng tri ân việc Ngài đã lưu lại bản ghi chép này.

Nội dung nhật ký của Ngài như sau:

1. Năm 1257, khi đang thực hành thiền định, đến năm 59 thì đạt được **Sự an tịnh thân tâm (Kāya-passaddhi Citta-passaddhi)**. Trong khoảng một tháng, cả thân và tâm đều lìa xa phiền não, sự nóng nảy hoàn toàn dập tắt và trở nên vô cùng thanh tịnh.

2. Sau đó, đến năm 61, bắt đầu từ ngày mùng 7 tháng Kasone (ngày đầu năm mới), Ngài luôn nghe thấy các đối tượng âm thanh (Thaddārom) thông qua nhĩ môn (Sotadvāra).

3. Sau khi nghe được các âm thanh đó, Ngài rơi vào trạng thái hỷ lạc (Pīti) vô cùng mãn nguyện trong suốt nhiều ngày.

4. Tiếp theo, dù chưa chứng đắc các tầng Thiền, Đạo hay Quả, nhưng trong tâm Ngài luôn có cảm giác như thể mình đã đạt được điều đó trong nhiều ngày liên tục.

5. Sau đó, hình ảnh Đức Phật cùng các bậc đại A-la-hán như Ngài Sāriputta, Ngài Moggallāna hiện lên trong tâm Ngài rõ rệt như những thực thể ngũ uẩn trong Niết-bàn suốt nhiều ngày.

6. Tiếp đó, khi quán chiếu về Danh - Sắc (Rūpa-Nāma) nhiều lần, vào đêm mùng 7 tháng Đệ nhất Waso năm 61, trong khi đang quán chiếu Danh - Sắc thì các khái niệm chế định (Paññatti) biến mất. Ngài thoát khỏi **Hôn trầm và Phóng dật (Thina-middha Uddhacca)**, thức trắng cho đến sáng và thấy rõ rằng mọi loài hữu tình lẫn vô tình đều chỉ là sự tập hợp của Danh và Sắc. Ngài luôn thấy rõ các pháp Danh - Sắc này chỉ là **Vô thường, Khổ, Vô ngã (Anicca, Dukkha, Anatta)**. Từ trong những làn khói bụi hay mây mù mờ ảo hiện ra một luồng ánh sáng trong trẻo, phản chiếu rõ rệt khuôn mặt của Ngài.



7. Tiếp theo, khi quán chiếu Danh - Sắc nhiều lần, vào đêm trăng tròn 14 tháng Đệ nhất Waso, Ngài thức suốt đêm, mọi phiền não nóng nảy đều dập tắt. Các pháp như **An tịnh thân tâm (Kāya-passaddhi, Citta-passaddhi)** phát sinh, thoát khỏi Hôn trầm và Phóng dật. Có rất nhiều luồng ánh sáng hiện ra như khói mây, như những hạt ngọc đỏ, hay như ngọn lửa đang cháy; và Ngài luôn thấy rõ các luồng sáng đó đều có bản chất là **Vô thường, Khổ, Vô ngã**.

8. Sau đó, khi quán chiếu liên tục **10 Tuệ quán (Vipassanā-ñāṇa)**, Ngài thấy rõ từ **Tuệ thẩm sát (Sammasana-ñāṇa)** cho đến **Tuệ hành xả (Sankhārupekkhā-ñāṇa)**.

9. Tiếp theo... khi quán chiếu, Ngài thấy **Tuệ thẩm sát (Sammasana-ñāṇa)** và **Tuệ sinh diệt (Udayabbaya-ñāṇa)** hiện rõ vô cùng từ năm 61 cho đến ngày thứ 6 sau trăng tròn tháng Pyatho năm 62 (Thứ Tư).

10. Tiếp đó... vào ngày thứ 8 sau trăng tròn tháng Nattaw năm 62, bắt đầu từ 4 giờ chiều và thức suốt đêm đến sáng, Ngài chỉ chú tâm vào Niết-bàn và lầm tưởng rằng mình đã đắc cả **Bốn tầng Thánh Đạo**. Cho đến khi trời sáng, Ngài mới nhận ra mình chưa đắc cả bốn tầng. **P-a, Th-a, M-am, M-a, G-a - R-a.** (Nghĩa là Ngài cho rằng đã đắc tầng Đạo thứ nhất).

11. Tiếp theo... vào ngày thứ 6 sau trăng tròn tháng Pyatho năm 62 (Thứ Tư), Ngài thấy **Tuệ diệt (Bhanga-ñāṇa)** trở nên vô cùng già dặn và hiện rõ liên tục.

12. Sau đó... vào đêm ngày thứ 11 sau trăng tròn tháng Pyatho, các tuệ: **Tuệ kinh sợ (Bhaya-ñāṇa), Tuệ thấy tội lỗi (Ādīnava-ñāṇa), Tuệ nhàm chán (Nibbidā-ñāṇa), Tuệ muốn giải thoát (Muñcitukamyatā-ñāṇa), Tuệ quán sát lại (Paṭisankhā-ñāṇa), Tuệ hành xả (Sankhārupekkhā-ñāṇa)** hiện rõ vô cùng.

13. Tiếp theo... khi kết thúc **Tuệ hành xả (Sankhārupekkhā-ñāṇa)**, bước đầu Ngài thấy các tuệ **U-A-Ni** là **Khổ đế (Dukkha Sacca)**; thấy **Tuệ thẩm sát (Sammasana-ñāṇa)** là **Tập đế (Samudaya Sacca)**; thấy **Tuệ muốn giải thoát (Muñcitukamyatā-ñāṇa)** là **Diệt đế (Nirodha Sacca)**; thấy **Tuệ quán sát lại và Tuệ hành xả** là **Đạo đế (Magga Sacca)**.

14. Tiếp đó, khi quán chiếu **10 Tuệ quán** nhiều lần, Ngài thấy rõ


**Tứ Diệu Đế** luôn hiện rõ thông qua năng lực của thiền tập (Bhāvanā).

15. Tiếp theo, khi quán chiếu về các pháp **Duyên khởi (Paṭiccasamuppāda)** và **Duyên sinh (Paṭiccasamuppanna)**, các pháp này hiện rõ trong suốt nhiều ngày.

16. Sau đó... khi quán chiếu về bốn phương cách: Nhất thể (Ekatta), Dị biệt (Nānatta), Vô ý tác (Abyāpāra) và Pháp tính tự nhiên (Evaṃ dhammatā), bốn phương cách này hiện rõ trong nhiều ngày.

17. Tiếp theo, khi quán chiếu **7 bước Thanh tịnh (Visuddhi)**, Ngài thấy rõ từ **Giới thanh tịnh (Sīla-visuddhi)** cho đến **Đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh (Paṭipadā-ñāṇadassana-visuddhi)**.

18. Sau đó, Ngài dùng tâm hình dung ra một người phụ nữ quen biết đang trang sức rực rỡ với chuỗi hạt, hoa tai và y phục đẹp đẽ đứng bên cạnh. Dù người phụ nữ đó trông rất kiều diễm nhờ trang sức, nhưng Ngài quán chiếu rằng cô ấy không thể tránh khỏi quy luật của sự già yếu; rồi lập tức hình ảnh hiện ra với tóc bạc, răng rụng, xương hố mắt, xương hàm, xương sườn lộ ra gầy guộc, mang dáng vẻ gớm ghiếc, bất tịnh (Ngài cũng quán tương tự về sự đau đớn, cái chết và sự thối rữa). Ngài quán rằng bộ xương vẫn còn đó và thấy rõ bộ xương hiện ra. Ngài thấy rõ bộ xương đó mang bản chất **Vô thường, Khổ, Vô ngã**.

19. Ban đêm, trước khi ngủ, Ngài nhìn lên các vì sao trên trời và tu tập thiền quán, khi ngủ thì trong ý môn (Manodvāra) hiện ra rất nhiều vì sao.

20. Ban ngày, Ngài nhìn lên mái chùa và tu tập thiền quán, khi ngủ ban đêm thì mái chùa lại hiện ra trong ý môn.

21. Sáng ngày thứ 5 sau trăng tròn tháng Đệ nhất Waso năm 1263, Ngài cảm thấy tâm không an lạc vì lỗi của người khác. Trưa hôm đó, sau khi ngủ dậy, dù Ngài nỗ lực quán chiếu các pháp thường nhật nhưng sự bất an - một chướng ngại lớn đối với Pháp (Dhamma-antarāy) - vẫn phát sinh. Ngài liền quán chiếu bài kệ **"Piyato jāyati soko"** (Do ái quyến sinh sầu ưu) nhiều lần để thấy những người đó như là kẻ thù. Khi đó, từ người đó cho đến tất cả những người thân yêu đều hiện rõ là "kẻ thù bên trong" (nội oán), còn năm loại kẻ thù bên ngoài là "kẻ thù bên ngoài" (ngoại oán).

Ngài thấy rõ rằng do những kẻ thù bên ngoài đó mà các thiện nghiệp thế gian phát sinh trong tâm lại trở thành kẻ thù nội tại; còn các bất thiện nghiệp phát sinh trong tâm chính là kẻ thù bên ngoài.

Đồng thời, các nghiệp thiện và nghiệp ác tích lũy từ nhiều đời kiếp bỗng vây quanh như những kẻ thù khổng lồ. Ngài thấy rõ mồn một các ác nghiệp như muốn xô mình vào ngục tù luân hồi nơi bốn đường ác đạo; cũng thấy rõ các thiện nghiệp như muốn giam hãm mình trong vòng luân hồi nơi cõi người, cõi trời và cõi phạm thiên.

Khi linh cảm ấy xuất hiện, vì thấy trong ba cõi không có nơi nào để nương tựa, ẩn náu hay dựa dẫm, nên nỗi sợ hãi và kinh hoàng tột độ phát sinh mãnh liệt đến mức không thể kiềm chế được. Nước mắt tuôn trào, trong suốt hai ba giờ đồng hồ, nỗi sợ hãi bao trùm cực độ. Khi quán sát sâu kỹ các "kẻ thù", ngài thấy rõ: 7 tâm sở Biến hành (như **Phassa** - Xúc...), 5 tâm sở Biệt cảnh (như **Vitakka** - Tầm...), 14 tâm sở Bất thiện (như **Moha** - Si...) và 12 tâm bất thiện — tổng cộng 39 pháp này chính là những "kẻ thù bất thiện" dẫn dắt vào ngục tù luân hồi trong bốn đường ác (khổ cảnh). Đồng thời, ngài cũng thấy rõ: 7 tâm sở Biến hành tịnh hảo, 6 tâm sở Biệt cảnh tịnh hảo, 24 tâm sở Tịnh hảo (như **Saddhā** - Tín...), 8 tâm thiện Dục giới, 5 tâm thiện Sắc giới và 4 tâm thiện Vô sắc giới — tổng cộng 54 pháp này là những "kẻ thù thiện" khiến chúng sinh còn tiếp tục trôi lăn trong khổ cảnh luân hồi.

Sau khi thấy rõ như vậy, khi ngài hướng tâm suy xét đến tâm sở Tuệ (Paññā), ngài thấy rằng chính tâm sở Tuệ này mới là người bạn tốt, là nơi nương tựa, ẩn náu và dựa dẫm để thoát khỏi nỗi khổ luân hồi. Khi nhận chân được tâm sở Tuệ là người bạn lành cao thượng, cả thân và tâm ngài đều trở nên an lạc và nhẹ nhõm.

Vào khoảng hơn 6 giờ tối Chủ Nhật, mùng 8 tháng Giêng năm 1266 (văn kỷ Myanmar), ngài đã liễu tri Tứ Diệu Đế. Lúc đó có hai đợt địa chấn (động đất) xảy ra.

**"Da-U, Ta-I, Ya-A, Ma-A, Ga-A, Ra-A"** (Đây là từ viết tắt của cụm từ "Dutiya Magga Ra" - Nghĩa là: Đắc quả vị Thánh thứ hai. Vào năm đó, ngài đã chứng đắc quả vị Sakadāgāmi - Tư-đà-hàm. — Ghi chú của người biên soạn).

### Mười sáu giấc mơ kỳ lạ

1. Thấy mối bò lên chân, vì sợ dẫm phải chúng nên ngài phải đứng từ trên không trung để phủi sạch đám mối đi.

2. Thấy mình đuổi theo một con tàu đang đi ngược dòng sông, nhưng chỉ vừa chạm tới tàu chứ không thể bước lên tàu được.

(Theo ý nghĩa giấc mơ này: Từ thuở thiếu thời cho đến khi được 22 tuổi hạ, ngài luôn nuôi dưỡng tâm nguyện "Cầu nguyện thành Phật" (Buddha-su-pan). Tuy nhiên, khi đến năm 1261, từ tháng Kasone (tháng 2) đến ngày rằm tháng Waso (tháng 4), vì quá kinh hãi trước hiểm họa luân hồi, ngài đã từ bỏ đại nguyện thành Phật. Giấc mơ này được xem là điềm báo cho việc không thể tiếp tục theo đuổi đại nguyện đó).



3. Thấy mình đang ở giữa dòng sông, định bơi sang bờ bên kia hoặc kết bè để qua sông, thì bỗng có một chiếc thuyền nhỏ đi tới; ngài bước lên thuyền và sang được bờ bên kia.

(Theo ý nghĩa giấc mơ: Phải đến sau ngày rằm tháng Waso thứ hai, ngài mới phát nguyện đắc quả Thanh Văn (Sāvaka-su-pan) và đây là điềm báo cho việc thành tựu nguyện ước này).

4. Thấy đích thân diện kiến Đức Phật và thực hành Pháp hành Minh sát (Vipassanā) ngay trước mặt Ngài để chứng đắc Niết-bàn.

5. Thấy mình đang đi vệ sinh và cả nhà vệ sinh di chuyển sang nơi khác; khi nhìn lại xem phân có dính vào người không thì thấy "hoàn toàn sạch sẽ, không dính chút uế tạp nào".

6. Thấy mình đang ở trong vũng bùn thì có hai người cầm hai cánh tay kéo ngài lên khỏi bùn.

7. Thấy điềm báo: "Khi trời lạnh, hãy ở trong thiền đường nóng và thực hành đề mục nóng. Khi trời nóng, hãy ở trong thiền đường mát và thực hành đề mục mát".

8. Khi hỏi: "Ánh sáng này là ánh sáng gì?", có tiếng trả lời: "Đó là ánh sáng giới đức của Ngài đại đức Maha Gandhayon". Hỏi tiếp: "Ánh sáng đó chiếu đến đâu?", thì được đáp: "Chiếu rạng đến tận cõi sắc cứu cánh Akanitṭha (Hữu Đỉnh Thiên)".

9. Thấy rằng: "Chỉ còn thiếu một lộ tâm (Vīthi) nữa là đến Niết-bàn. Để thấu triệt Niết-bàn, cần phải đạt đến lộ tâm Hành xả (Upekkhā-vīthi)".

10. Hình — Danh Sắc; Mát — Niết-bàn; Phê — Đấng Chánh Biến Tri; Mê — Pháp; Thas — Tăng. Để đạt đến Niết-bàn mát lạnh nhanh chóng, khi còn Danh Sắc hãy nỗ lực thực hành Diệu Pháp. Khi mạng căn không còn nữa, đó chính là Pháp mà Đức Thế Tôn đã thuyết dạy.

(Giấc mơ này xuất hiện một lần vào ngày thứ Ba, mùng 3 tháng Tawthalin năm 1271, và lặp lại vào ngày thứ Ba, mùng 10 cùng tháng).

11. "**Phalataṃ adhivacanaṃ**, **Etaṃ** = Chiếc bè Bát Chánh Đạo gồm Chánh kiến, Chánh tư duy... này; **Phalassa** = Đối với địa hạt bất thiện trên mặt đất, nó không hề vướng bận mà bay bổng giữa hư không, chính là tên gọi của quả vị A-la-hán (**Adhivacaṃ**)".

(Giấc mơ này xuất hiện vào đêm thứ Ba, mùng 9 hạ tuần cùng tháng, quá 1 giờ sáng).

12. "Nóng quá, thiêu đốt quá! Nóng quá, thiêu đốt quá! Nếu dứt đoạn được kiết sử (Saṃyojana) thì sẽ mát mẻ, nếu dứt đoạn được kiết sử thì sẽ mát mẻ".

(Giấc mơ này xuất hiện vào ngày thứ Ba, mùng 2 hạ tuần cùng tháng).

13. Vào khoảng 2 giờ sáng ngày mùng 6 tháng Wagaung năm 1272, ngài nằm mơ thấy: Bên sườn một ngọn núi lớn, Ngài đại đức Maha Gandhayon dẫn đầu đoàn người đang mở đường. Khi đường đã thông, có một kẻ thù truy đuổi định hãm hại ngài từ phía sau. Khi kẻ đó đuổi kịp và định ra tay thì Ngài Maha Gandhayon đã gạt ngã kẻ đó xuống vực sâu không đáy, khiến hắn không bao giờ có thể leo lên được nữa. Lúc đó, các đệ tử của Ngài Maha Gandhayon reo hò: "Thắng rồi! Thắng rồi!". Cuối con đường đó, họ gặp một dòng suối và được tắm táp, uống nước thỏa thích.



14. Vào ngày cuối tháng Thadingyut cùng năm, Ngài Maha Gandhayon mơ thấy mình cưỡi một con voi trắng tinh khôi, đi từ phía Đông lên đỉnh một ngôi tháp cổ; từ trên đỉnh tháp nhìn xuống, ngài thấy mênh mông nước.

15. Vào thượng tuần tháng Tazaungmon cùng năm, ngài mơ thấy nhận được bốn tòa lâu đài vàng với một bảo tọa ở chính giữa. Cũng trong thời gian đó, ngài mơ thấy nhận được bốn chiếc lọng trắng.

16. Đây chính là những giấc mơ và cách giải mã mà chính cố Hòa thượng Maha Gandhayon đã tự mình ghi chép lại.

---

### Bậc đại nhân từ bỏ đại nguyện thành Phật để chứng đắc Thánh quả

Cần chú ý rằng, ngay cả Đức Thế Tôn trước khi thành đạo cũng từng thấy năm điềm chiêm bao đại cát (Kinh Mahāsupina, Tăng Chi Bộ). Đối với bậc thiện tri thức, những điềm báo báo trước thường xảy ra như một lẽ tự nhiên. Tuy nhiên, cũng cần thận trọng vì đôi khi những ảo giác lừa dối, những giấc mơ huyễn hoặc có thể trộn lẫn với những linh ảnh chân thực.

Hòa thượng Maha Gandhayon đã đặc biệt ghi chép 16 loại linh ảnh và giấc mơ này, giữ bí mật dưới gối trong nhiều năm mà không tiết lộ cho ai. Việc ngài dặn dò đưa chúng vào các sách về Pháp hành sau này cho thấy ngài đã xác chứng rằng đây chính là những linh ảnh và giấc mơ chân thực.

Dù về sau không còn tìm thấy những dòng ghi chép trực tiếp như "Đắc tầng Đạo thứ nhất" (năm 1262) hay "Đắc tầng Đạo thứ hai" (năm 1269), chúng ta cũng không nên mặc định Ngài mới chỉ chứng đắc đến tầng quả Tư-đà-hàm.

Trong các ghi chép về những điềm báo và giấc mơ, một số chỗ được chính Ngài giải nghĩa, nhưng riêng chi tiết "nhận được bốn tòa lầu các, bốn chiếc lọng trắng" thì Ngài hoàn toàn giữ im lặng. Sau khi lưu lại những dòng nhật ký này, Ngài vẫn còn trụ thế khoảng chín năm nữa. Do đó, không ai dám khẳng định chắc chắn về tầng thánh quả cuối cùng của Ngài. Điều hậu thế có thể làm là lấy công hạnh đó làm tấm gương sáng để nỗ lực tinh tấn tu hành.

Ngay cả đối với những bậc đại trí nhân (ājāniya) như vậy, khi phận sự tu hành của bậc Sa-môn chưa hoàn tất mà đã xuất hiện những vọng tưởng (ārammana-lim) cho rằng đã hoàn tất, cùng với việc từ thuở thiếu thời đã bị đè nặng bởi tâm nguyện thành Phật không chân thật trong nhiều năm, thì đó chính là những bài học cốt tủy mà Ngài Thiền sư đã dùng cả cuộc đời mình để đúc kết lại.

