# NGÀI THIỀN SƯ IN GYIN MYAUNG VÀ NGÀI THIỀN SƯ NIBBINDĀ

(1222 - 1278) . (1248 - 1338)

Về câu chuyện của hai vị Thiền sư lỗi lạc tại thành phố Pyay (Prome), vốn được tôn xưng là những bậc "Alahan đắc Tam Minh (Tevijja)", đó là Ngài Thiền sư In Gyin Myaung và Ngài Thiền sư Nibbindā, chúng ta có thể tìm đọc trong tác phẩm *Sikkhā-thum-pā-paya-kyan* (Kinh văn về Ba môn Học) do chính Ngài Thiền sư Nibbindā biên soạn.

Phần tiểu sử mở đầu này do chính Ngài Thiền sư Nibbindā tự thuật nên vô cùng xác thực và lôi cuốn. Trong phần dẫn nhập đó, Ngài còn mô tả lại những cuộc gặp gỡ và thỉnh vấn với Ngài Thiền sư Ledi, Ngài Thiền sư Thay-kyet-taung, và các vị Thiền sư tại tu viện Gañdhāyon (Sagaing), khiến cho nội dung càng thêm phần giá trị.

Dưới đây là phần tóm lược các ghi chép đó:

Ngài Thiền sư Nibbindā, người thực hiện ghi chép này, sinh vào ngày mùng 10 tháng Tazaungmon (tháng 8 Miến lịch) năm 1248 (khoảng năm 1886 DL), vào lúc 8 giờ sáng thứ Sáu, tại làng Myay-zar-gyun thuộc huyện Monyo, tỉnh Tharrawaddy, bên bờ sông Ayeyarwady. Thân phụ Ngài là U Kyar Nyo và thân mẫu là Daw Lon Ma. Năm lên 10 tuổi, Ngài mắc bệnh ghẻ lở khắp người, dùng đủ mọi loại thuốc đều không khỏi. Giữa lúc bận rộn công việc, thân mẫu Ngài vì không thể ép Ngài bôi thuốc nên đã mắng rằng:

“Cứ thế này thì lâu dần con sẽ bị hủi thôi, khi đó con sẽ phải ra ở một mình trong túp lều rách ngoài rìa làng, hãy nhớ lấy!”

Lời nói ấy tuy nghe qua có vẻ bình thường, nhưng đối với một đứa con có chủng tánh trí tuệ và ba-la-mật, nó đã khơi dậy một sự kinh cảm (saṃvega) sâu sắc, thôi thúc tâm nguyện muốn xuất gia trở thành tu sĩ.

### Những điềm báo trước

Thuở còn là một cậu bé giúp việc (kyaung-thar) tại chùa làng Myay-zar, trong lúc nỗ lực học tập tập sách *Saṅgaha* (Thắng Pháp Tập Yếu), mỗi khi đi ngủ, cậu thường thấy ánh sáng lung linh rạng ngời xuất hiện ở phía cuối chân giường như có ai thắp đèn. Mỗi khi ngồi dậy tìm kiếm thì ánh sáng ấy lại biến mất.

Có lần, một nốt mụn cóc mọc lên ở ngón tay cái bên phải, khi đưa cho mẹ xem, mẹ bảo rằng mụn này có thể dẫn đến bệnh hủi. Vì trong làng cũng có người bị bệnh hủi nên cậu bé hết sức hoảng sợ. Đến đêm đi ngủ, cậu cứ nắm chặt lấy ngón tay cái ấy. Một đêm nọ, tưởng rằng ngón tay đã biến mất, cậu òa khóc nức nở khiến người mẹ phải cầm lấy ngón tay cậu và an ủi: "Nó vẫn còn đây mà con". (Bất luận là ai, từ lúc sinh ra cho đến khi nhắm mắt, mọi lời nói, hành động và suy nghĩ đều không nằm ngoài quy luật nhân

---




quả. Công việc ngày hôm nay luôn liên hệ với công việc ngày hôm qua. Kiếp trước liên hệ mật thiết với kiếp này. Chúng ta cần chú ý rằng đây chính là những tiến trình của Pháp tánh vốn đã nằm sẵn trong chủng tánh - bīja).

Năm 15 tuổi, cậu bé xuất gia làm Sa-di và học tập kinh điển (Pariyatti). Pháp danh là **Shin Sīri**. Tâm nguyện muốn trở thành vị Tỳ-kheo và vào rừng ẩn tu thường xuyên trỗi dậy. Sau khi thọ giới Tỳ-kheo được hai hạ, Ngài đến học đạo với Ngài Thiền sư **U Gandhasāra** ở Pakokku và Ngài Thiền sư **U Ñāṇa** tại tu viện Phaya-gyi ở Mandalay. Lúc bấy giờ, do quá say mê học tập kinh điển, tâm nguyện vào rừng ẩn tu vốn có trong chủng tánh bỗng tạm thời lắng xuống. Đến hạ thứ tư, khi tự quán chiếu lại bản thân, Ngài quyết định rằng dù chưa thể vào rừng ngay, Ngài vẫn sẽ thực hành hạnh đầu đà (dhutaṅga).

Năm hạ thứ sáu, khi đang học Pháp với Ngài Thiền sư Puthoe-gyi tại thành phố Pyay, Ngài đã xin phép vào rừng ẩn tu nhưng không được chấp thuận. Ban ngày Ngài phải lên lớp giảng dạy, chỉ đến ban đêm mới có thể ngồi thiền. Tuy vậy, ý định đó không hề lung lay. Trong tâm trí, Ngài hình dung việc vào rừng, nhưng vì chưa có cả túi đựng bát và các vật dụng cần thiết, nên việc làm sao để có được một chiếc bát đúng theo Luật tạng (Vinaya) cũng khiến Ngài trăn trở, lo âu. May thay, nhờ sự hộ độ của thí chủ U Tha Pyaw, mọi vật dụng đã được đầy đủ. Sau khi đảnh lễ tạ từ Ngài Thiền sư và cúng dường toàn bộ sách vở, vật dụng dư thừa cho một vị sư huynh, thời khắc lên đường đã đến. Đó là vào lúc 5 giờ 30 phút chiều ngày mùng 8 tháng Tazaungmon năm 1274 (khoảng năm 1912 DL).

### Những ngày đầu vào rừng

Ngài quẩy bình bát trên vai, hướng về dãy núi Puthoe-gyi. Vị sư huynh cùng đi tiễn Ngài. Hai anh em vừa đi vừa trò chuyện, khi đến gần núi Kyet-tin thì trời bắt đầu sập tối. Ánh trăng mùng tám chỉ lờ mờ. Vị sư huynh nói lời dặn dò, khuyên nhủ cuối cùng rồi tiễn Ngài đến tận núi Kyet-tin trước khi quay trở về.

Một nỗi buồn đau, ly biệt chưa từng trải qua trong đời bỗng ập đến như thể vừa nhặt được, khiến Ngài không sao ngăn được dòng cảm xúc, tâm tư như muốn tan nát. (Hãy lưu ý đến năng lượng của chủng tánh). Sau một hồi trấn tĩnh, Ngài lấy gương hạnh của các bậc tiền nhân làm kim chỉ nam, băng qua các dãy núi cách thành phố Pyay khoảng hai dặm. Toàn bộ sườn núi và rừng cây bao trùm trong bóng tối mịt mù. Tình cờ, Ngài tìm thấy một túp lều cũ hoang phế không người ở, Ngài quyết định dừng chân nghỉ lại đêm đó tại lều và thực hành thiền Anapanasati (Niệm hơi thở). (Lời của người mẹ năm xưa: "Con sẽ phải ra ở một mình trong túp lều ngoài rìa làng" quả thật đã ứng nghiệm. - Ghi chú của tác giả).

Sáng sớm hôm sau, vì không có nước rửa mặt nên Ngài phải đi tìm nước. Ở cuối chân núi, Ngài tìm thấy một vũng nước nhỏ, liền dùng vải lọc nước để sử dụng. Đến giờ đi khất thực...

Ngài ngự đến ngôi đình nơi các tu nữ cư ngụ và làng Pwint Hla Theim Kone. Sau khi nhận được một ít cơm đỏ, Ngài trở về chùa; vì lúc đó vẫn chưa có nước uống nên Ngài lại phải đi đến ao để múc nước. Ngài phải thọ thực cơm đỏ thô, không có đồ ăn, cũng không có muối. Trong khoảng năm ngày Ngài phải thọ thực chỉ với cơm như vậy, về sau mới có được thức ăn kèm theo cơm.

### Những chuyện kỳ diệu về Ngài Sayadaw In Gyin Myaung

Khoảng 15 ngày sau, tại đầu mũi xuất hiện các ấn tướng (nimitta), vì không thể phân định rõ ràng nên Ngài đã đi đến đảnh lễ và thưa hỏi Ngài Sayadaw In Gyin Myaung. Trước kia Ngài cũng đã từng nghe danh tiếng của Ngài Sayadaw In Gyin Myaung.

Tuy nhiên, do cái mạn (kiêu mạn) rằng: "Ta cũng là người thông thạo kinh điển, Ngài ấy với ta thì có gì khác nhau đâu", nên Ngài đã không biết đến nương tựa. Đến khi thực hành thiền định mà gặp những điều chưa thông suốt, Ngài mới đi đến thỉnh vấn và từ đó mới nhận ra được bậc cao thấp. Sau khi nhận sự hướng dẫn từ Ngài Sayadaw lớn, trong sáu tháng chuyên tâm nỗ lực, do gặp khó khăn về nguồn nước nên Ngài đã chuyển sang cư ngụ tại khu đất Ka Ma Yut. Các thí chủ cũng đã xây dựng cúng dường một ngôi chùa nhỏ. Sau ba bốn ngày, ngôi chùa đó bị hỏa hoạn, nên họ lại tiếp tục xây dựng cúng dường lần nữa. Một người thợ xây tên là **U Rar Kyaw**, theo ý tưởng riêng của mình, đã dùng phấn trắng viết lên các hàng cột chùa dòng chữ "Nibbinda, Nibbinda" (Yểm ly); do đó, kể từ năm 1275 (Miến lịch), ngôi chùa bắt đầu được gọi theo tên ấy.

"Ngài cảm thấy hối hận vì trước đây đã ôm giữ cái mạn của bậc thông hiểu học thuật (Pariyatti) mà không sớm đến với Ngài Sayadaw In Gyin Myaung. Chỉ đến khi được ở gần, Ngài mới nhận thấy những ân đức sâu dày không sao đền đáp hết được. Vị Sayadaw lớn ấy đã vào rừng ẩn tu tại khu rừng In Gyin Myaung thuộc thị trấn Pyay vào năm 23 hạ lạp. Pháp danh của Ngài là **Ashin Āsaba**. Ngài thực hành pháp môn thiền **Ānāpāna** (Niệm hơi thở).

Ngài đã ghi chép lại năm đức tính đặc biệt của vị Sayadaw ấy như sau:

1. Có thể khiến vầng trăng từ trên bầu trời hạ xuống ngự phía trên ngôi chùa nơi mình ở.
2. Có thể mở hoặc đóng hòm rương mà không cần chìa khóa, chỉ bằng cách trì tụng các ân đức Phật.
3. Có thể nhìn thấu suốt qua cây cối, rừng núi.
4. Biết được tâm ý và suy nghĩ của người khác.
5. Khi hướng dẫn thiền cho các đệ tử, Ngài biết rõ đệ tử nào đã đạt được tuệ giác nào.

Sau bốn năm thụ giáo với Ngài Sayadaw In Gyin Myaung, vào ngày cuối tháng Tazaungmon năm 1278 (Miến lịch), vị Sayadaw đã viên tịch. Ngài đã trú ngụ tại khu rừng đó suốt 14 năm. Ngài viên tịch vào năm 56 tuổi, 37 hạ lạp, khiến cho (Ngài Nibbinda) cảm thấy như mất đi nơi nương tựa.


(Thuở nhỏ vì bị mất ngón tay cái mà phải khóc lóc, nay điều tương tự lại xảy ra. Như người mẹ tìm lại ngón tay cái cho con, Ngài Sayadaw In Gyin Myaung khi Ngài Ledi Sayadaw đến Pyay đã từng dẫn đệ tử là U Siri đi cùng để gặp gỡ. Dường như Ngài đã thấy trước được tương lai. Nay đã tìm thấy ngón tay cái rồi. —— Lời người soạn).

### Đi tìm thầy hoặc để trình pháp

Cùng với ba vị đệ tử đồng hành như U Suriya và một người thí chủ, Ngài bắt đầu hành trình tìm kiếm bậc thầy. Sau khi chiêm bái các bảo tháp Shwedagon và Shwemawdaw, Ngài tiếp tục đi xe lửa đến Thaton, ngụ lại một đêm tại tu viện Sāsanapajjotika của Ngài Sayadaw lớn Mingun để trình thưa và ghi nhớ tất cả những gì liên quan đến việc thực hành thiền.

Sau đó đi qua Mawlamyine, Kyaiktiyo, Kyaikto; khi từ đó trở về Bago, Ngài chia tay các đệ tử, chỉ dắt theo một người thí chủ và ở lại hai đêm tại nhà vị cự phú **U Thet Ein** ở thị trấn Phyu. Ngài đi đến núi Thek Kya để tìm gặp Ngài **U Tiloka**, nhưng vì không gặp ngay được nên Ngài đã ngồi đợi ở nơi luyện kim (lò đúc). Khi Ngài U Tiloka từ đó đi ra, Ngài không thỉnh vấn hay thảo luận về giáo pháp mà chỉ nói lời hỏi thăm xã giao rồi ra về. Ông phú hộ U Thet hỏi:

"Bạch Ngài, Ngài đã tìm hiểu và thấu hiểu được điều gì?"

Ngài đáp rằng vì vị ấy vừa bước ra khỏi lò luyện kim nên Ngài đã không hỏi gì cả.

"Cần phải hỏi khi đã gặp được chứ, bạch Ngài" — vị thí chủ tiếp tục thưa, nên Ngài đã nói thật theo đúng suy nghĩ của mình:

"Ôi... một vị tỳ-kheo làm thiền sư mà lại còn vướng bận việc luyện kim thế này thì tôi nghĩ không cần phải tìm hiểu làm gì nữa."

Theo lời gợi ý và thúc giục của ông phú hộ U Thet, Ngài đi đến gặp Ngài Ledi Sayadaw, người đang cư ngụ tại khu rừng In Gyin Myaing ở Pyinmana. Khi đó tình cờ Ngài Ledi đang đi thuyết pháp tại Shwe Myo nên Ngài phải chờ một đêm. Trong đêm đó, Ngài nằm mơ thấy các tấm y mình đang mặc trắng muốt như tuyết. Ngài kể cho người thị giả (kāppiya), vị này cũng thưa rằng anh ta vừa mơ thấy từ trong miệng bay ra những con quạ không có đầu. Cả hai đều không phân định được điềm báo, (**Ariyasadda** ám chỉ sự thanh tịnh, trắng trong).

### Lời giáo huấn của Ngài Ledi Sayadaw

Ngài đã trình lên vị Sayadaw những điều chưa thông suốt về **Diṭṭhi** (Tà kiến) và **Vicikicchā** (Hoài nghi), và đã được Ngài giải thích rõ ràng đến mức mãn nguyện. (Lời nói này mang ý nghĩa rất sâu sắc). Sau khi ở gần Ngài Ledi Sayadaw khoảng bốn năm ngày, Ngài đã cùng hành trình với Ngài Ledi Sayadaw đến Mandalay. Lúc sắp chia tay, Ngài Ledi Sayadaw nói:

"Sư Nibbinda sống trong rừng thì gặp nhiều nguy hiểm. Nào, ta ban cho một chút vật phòng thân." Nói rồi Ngài trao một món đồ hộ thân (bùa hộ mệnh). Vì được bậc giáo thọ lớn ban tặng nên Ngài mới nhận lấy chứ trong lòng không thực sự tin tưởng. Khi về đến chùa, Ngài cứ để đại trên bàn thờ Phật mà không để ý tới. Một lần khác khi gặp lại Ngài Ledi Sayadaw lớn, Ngài Ledi nói:

"Sư Nibbinda thậm chí còn không tin tưởng cả lão ta nữa cơ đấy." Ngài Nibbinda nghe vậy vô cùng kinh ngạc và thầm hoan hỷ rằng: "Hóa ra Ngài Ledi Sayadaw biết rõ tất cả."

Từ Mandalay, Ngài băng qua phía Sagaing để thỉnh vấn Ngài Sayadaw lớn **Ghositarama** trong bốn năm ngày. Ngài từng được nghe vị thầy thời trẻ nói rằng Ngài Sayadaw Ghositarama dường như đã hoàn tất phận sự của bậc Sa-môn. Tuy nhiên trong thực tế, Ngài nhận thấy những lời dạy bảo của vị ấy có phần cứng rắn nên lòng hoài nghi chưa dứt, Ngài đã thưa hỏi để tìm hiểu:

"Bạch Ngài Sayadaw, khi nhìn vào bản thân hay người khác mà không còn tìm thấy cái gọi là 'thân' nữa, chỉ thấy sự tan rã không ngừng (tarywa rywa), thì như vậy là thế nào ạ?"

"Nhìn thấy như vậy là tốt nhất đấy, người thường không dễ gì thấy được ngay như vậy đâu", Ngài đã ghi nhớ lời dạy đó.


### Lời giáo huấn của Ngài Gandhayon Sayadaw

Tiếp theo, Ngài đi đến trình thưa với Ngài Sayadaw **Mahā Gandhayon**, vị này dạy rằng:
"Có chuyện như thế này. Có một số người sử dụng định (Samatha) để đè nén rồi thực hành."

Ngài lại thưa hỏi tiếp: "Vì trong kinh điển có nói các chuỗi sắc pháp (rūpa-kalāpa) giống như dòng nước sông hay ngọn lửa, nếu nhìn thấy như vậy thì kết quả ra sao, bạch Ngài?"

"Nếu nhìn thấy như vậy thì phải nói là hạng người đã đạt được (đạo quả)", vị ấy dạy. Ngài muốn tiếp tục tìm hiểu thêm nhưng vì khi đó Ngài Gandhayon Sayadaw sức khỏe yếu đến mức không thể nói được nữa nên Ngài đã trở về chùa **Nibbinda** ở Pyay.

Vào lúc 2 giờ 15 phút sáng thứ Sáu, ngày 9 tháng Kỷ sau rằm tháng Tabodwe năm 1338 (Miến lịch), vào năm 91 tuổi, hạ lạp 71, các **Cuti-kammaja-rūpa** (Sắc nghiệp khi tử) của vị Đại Trưởng lão Nibbinda đã hoàn toàn chấm dứt (Ngài viên tịch). (Mong cho quý vị tiếp tục tìm hiểu thêm những điều đáng kính tin, đáng noi gương và những chuyện kỳ diệu khác).

# **NGÀI TRƯỞNG LÃO KYAUNGPAN TAWYA SAYADAW**
**( 1222 - 1288 P.E)**

**Trưởng lão Kyaungpan Tawya Sayadaw** là một trong những đại đệ tử thân cận được Đức Ngài **Ledi Sayadaw** khả kính đích thân nuôi dạy từ thuở nhỏ. Ngài đã được Đức Ledi Sayadaw chăm sóc và bảo bọc ngay từ thời kỳ Đức Ledi còn là một vị Tỳ-kheo trẻ chuyên giảng dạy pháp học (Sā-khya).

Ngài sinh tại làng Kyee Pin Chaung, nằm gần tuyến đường xe hơi từ Monywa đi Thalin (cách Monywa khoảng 19 dặm). Ngài chào đời vào lúc 10 giờ sáng Chủ Nhật, ngày mùng 3 tháng Thadingyut (tháng 10) năm 1222 theo lịch Miến Điện (P.E). Tên thuở nhỏ là Maung Than Tu; thân phụ là U Mya, thân mẫu là Daw Hlaing. Năm lên 6 tuổi, Ngài bắt đầu học tập tại ngôi chùa đầu làng dưới sự chỉ dạy của **Ngài U Muninda**. Năm 14 tuổi, Ngài xuất gia làm Sa-di với pháp danh là **Shin Indaka**.

Ngài nỗ lực học tập các giáo pháp sơ cấp (Piṭaka) tại ngôi chùa làng cho đến năm 17 tuổi thì vị thầy Bổn sư viên tịch. Rơi vào cảnh không người nương tựa, Ngài đã phải hoàn tục. Một năm sau (1241 P.E), thân phụ là U Mya cũng qua đời. Ở lứa tuổi thanh niên vừa mới trưởng thành, Maung Than Tu cảm thấy vô cùng lạc lõng và yếu lòng. Tuy nhiên, sự ra đi của vị thầy và người cha ngay trên tay mình đã giúp Ngài trực tiếp nhận diện được sự đáng sợ của cái chết.

Bài học đầu đời ấy đối với Maung Than Tu thật quá đỗi khắc nghiệt. Trong nỗi đau thương cùng cực, sự kinh sợ cái chết đã đánh động tâm thức Ngài, khiến thiện căn Ba-la-mật trỗi dậy với quyết tâm: "Ta phải nỗ lực để thoát khỏi bàn tay của thần chết". Do đó, Ngài quyết định tái xuất gia Sa-di. Tuy nhiên, vì thương xót người mẹ già đơn chiếc, Ngài không nỡ mở lời xin phép. Đến khi Ngài cố gắng thưa thỉnh, mẫu thân vì quá thương con nên không đành lòng xa cách, khiến Ngài cảm thấy nản lòng. Ngài vẫn phân vân cho đến hết năm cũ sang năm mới. Trong thời gian đó, Ngài cùng em trai là Maung Tha Paike làm việc đồng áng để phụng dưỡng mẹ. Những công việc lao nhọc này càng làm tăng thêm tâm ly dục trong lòng Maung Than Tu.

Dù nỗi khổ của thế gian (Lokadhamma) thật khó cam chịu, nhưng đối với những bậc có hạt giống Ba-la-mật và trí tuệ, đó lại chính là một cơ hội lớn. Để có được viễn cảnh tốt đẹp phía trước, đôi khi phải nếm trải những cay đắng mở đầu.

### Từ Đời (Lokadhamma) hướng về Đạo (Lokuttara)

Người thanh niên Maung Than Tu sau khi hoàn tục không biết đã có liên kết như thế nào với **Ngài U Ñāṇa** (tức tiền thân của Đức Ledi Sayadaw). Trong lúc đang nản lòng vì không được mẫu thân cho phép xuất gia, thì vào một ngày nọ...


# **GIẢNG SƯ U HTAY HLAING**

Ngài đã tìm đến Nyaung Pin Thar Kyaung tại rặng núi Sagaing, nơi **Ngài U Ñāṇa** đang lưu trú.

Khi **Ngài U Ñāṇa** cư ngụ tại tu viện San Kyaung (Mandalay), Ngài thường có thói quen đến núi Sagaing để nhập hạ. Ngay trong ngày Maung Than Tu tìm đến, **Ngài U Ñāṇa** đã làm lễ cho Ngài xuất gia Sa-di. Khi nghe tin, mẫu thân cùng người con út Maung Tha Paike đã tìm đến núi Sagaing. Vừa gặp lại người con cả đang trong hình tướng Sa-di, bà đã ôm lấy con mà khóc nức nở. Bà khóc lóc và nài ép Ngài trở về Monywa: "Đừng bỏ mặc người mẹ góa bụa này con ơi!". Tuy nhiên, nhờ những lời thuyết pháp an ủi của **Ngài U Ñāṇa**, mẫu thân Ngài đã từ bỏ ý định. Hai mẹ con từ giã trở về Monywa, còn **Ngài U Ñāṇa** đưa **Sa-di Indaka** trở lại tu viện San Kyaung và đích thân dạy dỗ kinh điển. Năm 1242 P.E, tại Nyaung Pin Thar Kyaung trên núi Sagaing, dưới sự chủ trì của **Ngài U Ñāṇa** và sự truyền giới của Ngài Thit-seint Sayadaw làm thầy Hòa thượng (Upajjhāya), **Sa-di Indaka** đã được thọ cụ túc giới Tỳ-kheo (Ngài cũng từng thọ giới lại một lần nữa tại làng Wet-ye).

Khi **Ngài U Ñāṇa** trở về Monywa, **Tỳ-kheo Indaka** xin phép ở lại để tiếp tục học giáo pháp với Ngài See-pan-ni Sayadaw tại Mandalay. Khi vua Thibaw bị bắt (năm 1885), Ngài mới được 5 hạ lạp. Sau khi Đức Ledi Sayadaw xây dựng xong đại tu viện Ledi, Ngài đã gọi **Tỳ-kheo Indaka** trở về. Khi về đến Monywa, Đức Ledi yêu cầu Ngài làm trợ tá cho mình để giảng dạy kinh sách cho các vị Tỳ-kheo và Sa-di trẻ. Ngài đã bạch rằng:

"Bạch Đức Ngài khả kính, con xin cung kính thưa trình. Từ khi thầy Bổn sư và thân phụ qua đời ngay trên tay con thuở nhỏ, con luôn tâm niệm tìm kiếm giáo pháp để giải thoát khỏi bàn tay tử thần. Kính xin Đức Ngài cho phép con được chuyên tâm hành thiền (Kammaṭṭhāna)." Dù điều này không đúng như dự định ban đầu của mình, nhưng Đức Ledi Sayadaw vô cùng hoan hỷ và đã thốt lên lời "Sādhu" (Lành thay).

### Trải nghiệm tâm Từ, không sợ kẻ thù

Vào ngày rằm tháng Nayon (tháng 6) năm 1253 P.E, khi **Tỳ-kheo Indaka** đến đảnh lễ Đức Ledi Sayadaw để xin lỗi về những sai sót lớn nhỏ trước khi vào rừng tu tập, Đức Ledi đã dạy rằng:

"**Này Indaka**, điều quan trọng nhất trong công việc này chính là lòng Nhẫn nại (Khanti). Dù sai hay đúng, dù xấu hay tốt, con đều phải nhẫn nhịn. Cả thế gian có thể nghĩ rằng nhẫn nại là chịu thua, là chịu thiệt thòi, nhưng trong Giáo pháp, đó là một pháp cao thượng nhất. Đó là lời giáo huấn cốt lõi (Ovadā) của chư Phật đã quá khứ. Dù đang làm công việc trọng đại này, nhưng vì gánh nặng uẩn (Khandha) vẫn còn nên con vẫn phải tiếp xúc với mọi người. Ít nhất cũng cần có một vị hộ tăng (Kappiya) khi cần thiết.


# **CÁC BẬC A-LA-HÁN VÀ NHỮNG BẬC ĐẶC BIỆT**

"Những người thế gian thường suy nghĩ, nói năng và hành động theo quan kiến thế tục. Vì vậy, tất cả những gì họ nói hay làm, ngay cả khi họ có ý giúp đỡ, đôi khi cũng khiến mình cảm thấy như bị quấy rầy hoặc gây ra đau khổ. Đôi khi họ thực sự gây khó khăn cho mình, dù có thể họ không biết. Trong những lúc ấy, nếu không có lòng Nhẫn nại thì không thể tu tập được."

"Này **Indaka**, con là người thông hiểu kinh điển, hãy nhớ ví dụ về gò mối: chỉ mở một cửa duy nhất trong sáu cửa để quán xét tâm thức sao cho đạt được sự thấy biết trực tiếp (Sandhiṭṭhika). Hãy thiết lập niệm hơi thở (Ānāpāna), rồi quán xét 8 loại sắc (Aṭṭha-kalāpa) và 6 loại thức (Viññāṇa) như ta đã chỉ dạy trước đây. Thôi... hãy đi đi. Sādhu... Sādhu..." Đức Ledi đã dạy như thế.

Ngài còn khích lệ thêm: "Nếu có việc gì cần, hãy báo cho ta biết, ta sẽ đến hoặc con hãy đến gặp ta." Sau đó, **Tỳ-kheo Indaka** rời khỏi đại tu viện Ledi.

Ngài ghé về làng Kyee Pin Chaung để từ biệt mẫu thân, rồi đi bộ hơn 30 dặm đến rừng Wet-ye. Khu rừng này có rất nhiều cây tếch (Teak) và thú dữ. Ban đầu, Ngài cư ngụ trong một hốc cây tếch lớn bằng vòng tay của ba người ôm. Tại đây, Ngài đã trải qua sự kinh sợ hãi hùng (Cittutrāsa Bhaya Bherava) với những âm thanh và mùi hương kỳ quái do các thế lực bất thiện gây ra. Ngài đã phải nỗ lực rải tâm Từ (Mettā) một cách mạnh mẽ thì mọi thứ mới trở nên an tịnh. Nhờ đó, Ngài đã tự mình chứng nghiệm được sự sắc bén của vũ khí tâm Từ.

Liên quan đến tâm Từ, tôi xin thuật lại một câu chuyện thực tế ở đây, xảy ra vào năm ngoái (1335 P.E - 1973). Tại thiền viện của Đức Ngài **Mahasi Sayadaw** ở Yangon, có một nữ hành giả đến tu tập. Vì không thể thực hành Tứ Niệm Xứ, bà đã được hướng dẫn hành thiền tâm Từ. Bà được dạy rải tâm "Cầu mong cho tất cả chúng sanh được hạnh phúc", bắt đầu từ những bậc ân nhân, cha mẹ hiện tiền cho đến khắp mười phương.

Khi trình pháp, bà thú nhận một cách thành thật rằng dù có thể rải tâm Từ đến số đông chúng sanh, nhưng đối với một người hàng xóm vốn là đối thủ cạnh tranh kinh doanh thì bà tuyệt nhiên không thể rải tâm Từ được. Dù được hướng dẫn "hãy rải tâm Từ cho người thương và kẻ thù sau cùng", bà vẫn không làm được. Sau đó, Ngài Sayadaw đã thuyết giảng rằng: "Trong vòng luân hồi, không ai là chưa từng là người thân, cha mẹ của nhau; chỉ vì hiện tại ở gần nhau, có sự va chạm về lợi ích nên mới tạm thời trở thành kẻ thù; hãy chỉ nhìn vào những điểm tốt của họ mà nhẫn nhục", vân vân... và yêu cầu bà tiếp tục thực hành. Khoảng ba ngày sau, vị hành giả ấy đã đến thưa với Ngài Sayadaw trong niềm hoan hỷ:

"Bạch Ngài Sayadaw, giờ đây con đã có thể rải tâm Từ được rồi. Không chỉ được mà còn rất kỳ diệu, con xin phép được tường trình. Vào đêm trước ngày rằm, khi thực hành rải tâm Từ, con đã tập trung nhìn rõ gương mặt và toàn thân của người hàng xóm mà trước đây con không thể rải tâm được. Càng rải tâm, con càng thấy gương mặt người đó trở nên tươi cười và bà ấy nhìn con..."



Bà ấy xin lỗi tôi rằng: "Thưa cô, xin cô hãy hỷ xả cho những lời nói lỡ lầm, không phải của chúng tôi ngày trước nhé! Nghe tin cô vào thiền viện tu tập, chúng tôi vô cùng hoan hỷ. Bản thân chúng tôi cũng đang quyết tâm thu xếp để vào thiền viện đây" - vừa nói, bà ấy vừa nắm chặt tay con (thí chủ đang kể chuyện) bạch Ngài.

"Chỉ bấy nhiêu thôi thì con vẫn chưa thấy kinh ngạc lắm. Từ thuở còn trẻ, vào các ngày rằm và ba mươi hàng tháng, chúng con đều có thói quen lên chùa Shwedagon để dâng hoa và nước cúng dường. Sáng hôm ấy cũng chính là ngày rằm, nên con đã lên chùa. Vừa lên tới nơi, người phụ nữ kia đã hớt hải chạy đến nắm lấy tay con và nói đúng y hệt những lời mà con đã nghe thấy trong lúc ngồi thiền. Lúc đó con vô cùng hoan hỷ vì biết rằng tâm từ (mettā) của mình đã thành tựu. Nhưng điều đáng kinh ngạc hơn cả là từ chiếc áo, chiếc longyi cho đến cái khăn choàng mà bà ấy đang mặc đều giống hệt, không sai một li so với những gì con đã thấy trong linh ảnh lúc hành thiền, bạch Ngài" - các hành giả có mặt ở đó đều được nghe lời trình pháp này.

Đối với những nghi vấn về việc "rải tâm từ có đến được nơi hay không", thì sự kiện này là một minh chứng vô cùng quan trọng. Đối với những chướng ngại vô hình, khi tâm từ lan tỏa đến thì mọi hiểm nguy đều tan biến, đó là điều không còn gì phải nghi ngờ nữa.

### Làm chủ được tâm là xong tất cả

Sau khi Ngài U Indaka ở tại rừng Wet-ye được khoảng bốn năm, bà con từ làng Kyee Pin Chaung đến thăm viếng. Thấy không có mẫu thân đi cùng, Ngài liền hỏi thăm thì được biết bà đã qua đời từ tháng Nayon năm **1256** (1894 DL).

Tin tức này như một lời cảnh tỉnh nhắc nhở thêm đối với Ngài U Indaka rằng: "Cái chết đã cận kề rồi. Hãy nỗ lực để đạt được Đạo Quả trước khi nhắm mắt".

Ngài thuyết pháp giáo giới cho người thân rằng: "Này Maung Thar Baik, các con cũng không còn trẻ nữa. Cái chết vốn không có gì lạ lẫm. Gặp được giáo pháp (Sāsana) như thế này mà không tìm cầu được pháp không chết (Bất tử) thì thật là uổng phí. Giờ đây, hạnh phúc Niết-bàn (Nibbāna) đã cận kề như mật ong bám trên râu, chỉ còn chờ nuốt vào mà thôi. Cái thân xác này chỉ là con bò mướn mà thôi. Đừng có tưởng lầm nó là con bò của mình rồi lo chăm bẵm cho ăn cho uống, không nỡ sai bảo làm lụng, để rồi đến khi chủ nhân là Thần Chết đến bắt đi mới hối tiếc thì đã muộn rồi". Sau đó Ngài bảo họ từ nay về sau đừng đến tìm Ngài nữa.

Kể từ đó, theo lời dạy của thầy (Đại đức Ledi Sayadaw), Ngài đặc biệt quán chiếu để nhìn thấu suốt tâm thức (viññāṇa). Cứ bảy ngày Ngài mới đi khất thực một lần, nỗ lực tu tập với ý chí quyết tâm cao độ.

Ngài nỗ lực hết mình cho đến đầu năm **1262** (1900 DL), nhưng thân bệnh ngày một trầm trọng, mà pháp bảo vẫn chưa đạt được như ý nguyện. Khi đó, Ngài đã nhờ một vị thí chủ gửi thư trình lên Đại đức Ledi Sayadaw.




Trong bức thư đó, Ngài viết rằng: "Pháp danh (nāma-dhamma) mà Thầy bảo con quán xét thật quá đỗi vi diệu, con vẫn chưa thể làm chủ hoàn toàn được". Và với tư cách là người đệ tử trung thành của Ledi Sayadaw (như phong cách của vùng Zee Pan Nee), Ngài đã viết thêm bài kệ sau:

*Hình dáng xưa vẫn thế, phong thái chẳng đổi thay,*
*Nhưng bản chất thật sự, khó diễn bày bằng lời, bậc trí mới thấu tận.*
*Dòng tâm thức chuyển luân, như bóng hiện trong gương,*
*Đến khi nào tuệ giác, cùng với sự tỉnh giác (sampajañña),*
*Thấy rõ chân lý ấy (dassanā ekanta), chẳng còn chút nghi nan?*
(Dassanā ekanta - tức là thấy được **Sotāpatti-magga** - Tu-đà-hoàn Đạo - một cách thực thụ.)

Đại đức Ledi Sayadaw khi đọc thư xong liền nói: "Người đệ tử lớn ở rừng Wet-ye đang gọi, ta phải đi thôi". Nói rồi Ngài quẩy bát, cùng với người đưa thư đi bộ lên đường. Lúc đó là tháng Kason (tháng 5), thời tiết vô cùng nóng nực. Năm đó, hai thầy trò đã cùng an cư tại khu rừng ấy. Vì Ngài U Indaka sức khỏe yếu nên chính Đại đức Ledi Sayadaw đã đi khất thực để nuôi dưỡng đệ tử.

"Này Indaka, tâm này vô cùng vi diệu, biến hóa như ảo thuật vậy. Con thấy đấy, những vật dụng, những công trình kiến trúc trên thế gian này chẳng phải rất đa dạng sao? Nhưng so với chúng, thế giới động vật còn đa dạng và kỳ lạ hơn nhiều, với đủ loại hình dáng và sắc màu khác nhau. Tất cả những sự đa dạng, vi diệu đó đều do tâm mà ra, chính tâm đã tạo tác nên chúng. Vì vậy, tâm còn vi diệu hơn tất cả những gì được gọi là vi diệu. Trên đời này, tâm là thứ kỳ diệu nhất. Cả thế gian này đều phải chịu sự chi phối của tâm. Tâm làm chủ, vạn vật đều phải vận hành theo ý muốn của nó. Nếu con chinh phục được cái 'tâm' duy nhất này, con có thể làm được mọi điều mình muốn trên thế gian. Nó có quyền năng lớn lao như vậy đó, hãy cố gắng làm chủ nó cho bằng được nhé." (**Khandha-vagga, Saṁyutta Nikāya, bài kinh Dutiya Gada-baddha Sutta**).

"Các vị Phạm thiên Vô tưởng (Asaññasatta Brahmā) dù không có danh (tâm) nhưng chỉ dựa vào sắc (thân) mà có thể tồn tại suốt nhiều đại kiếp; các vị Phạm thiên Vô sắc (Arūpa Brahmā) dù không có sắc nhưng chỉ với danh mà có thể sống qua nhiều đại kiếp. Vì sao lại như vậy? Đó là do tâm mong muốn như thế của họ mà thành. Tâm có thể làm cho mọi ước nguyện đều trở thành hiện thực. Ngài Xá-lợi-phất (Sāriputtra) tôn kính trong **Kinh Mahāgosiṅga Sutta** đã dạy rằng: 'Vị Tỳ-kheo không thuận theo ý muốn của tâm, mà phải khiến tâm thuần phục theo ý muốn của mình; khi có thể an trú trong các bậc Thiền định siêu thế (Lokuttara Samāpatti), vị ấy sẽ làm cho giáo pháp trở nên rực rỡ như rừng cây In-gyin vậy'. Tâm cũng giống như dòng nước, chảy theo con mương đã đào sẵn. Tuy nhiên, có một điều: đừng như anh chàng chăn bò được Vua Trời Đế Thích ban cho điều ước lớn lao mà lại chỉ xin một bãi cỏ chăn bò; con đừng để tâm ở mức thấp hèn là chỉ muốn tích lũy ba-la-mật hay chỉ đạt được một Đạo quả sơ cấp. Tâm chắc chắn sẽ mang lại cho con những điều cao thượng nhất. Đừng bao giờ nghi ngờ điều đó."

"Nếu muốn đắc Túc mạng thông (Pubbenivāsa Abhiññā) để biết về các kiếp sống trong quá khứ suốt vòng luân hồi, con phải làm gì? Chỉ cần hướng tâm về những điều muốn biết mà thôi. Chẳng phải kinh dạy là **Pubbenivāsāya cittaṃ abhininnāmesi** (hướng tâm về túc mạng thông) đó sao? Nếu đã làm chủ được tâm thì mọi việc đều trở nên rất dễ dàng. Trên thế gian này không có gì là không thể cả. Ôi, ơn đức của Đức Phật thật bao la, kể sao cho xiết!" - Ngài Ledi Sayadaw thường xuyên thuyết giảng khích lệ như vậy.




Được gặp gỡ và trở thành bạn đạo thân thiết với một bậc vĩ nhân như thế này, đối với Ngài U Indaka quả là một phước báu lớn lao, một cơ duyên hiếm có.

Hiểu rõ mình đang có được những thuận duyên và cơ hội ngàn vàng, Ngài U Indaka dù thân bệnh cũng không hề bận tâm. Suốt mùa an cư ấy, Ngài dùng chiếc hạ y (thin-pying) quấn quanh mặt, nỗ lực hành thiền không rời khỏi chỗ ngồi. Đại đức Ledi Sayadaw cũng thực hành hạnh **Nisajji-dhutaṅga** (hạnh Đầu đà không nằm) suốt cả mùa an cư trong khu rừng đó. Ngay trong mùa hạ này, Ngài U Indaka đã thấu triệt được sự huyễn hoặc của tâm thức một cách rõ ràng. Ngài nhìn xuyên thấu qua những đặc tính vi diệu của danh pháp (nāma-dhamma) vốn đang che lấp và tác động lên cả đất đai, sông ngòi, rừng núi, cho đến những khúc gỗ hay cột nhà. Ngài đem những điều mình chứng ngộ trình lên Thầy, và Đại đức Ledi Sayadaw đã thốt lên lời tán thán "Sādhu".

Sau mùa an cư, hai thầy trò rời rừng Wet-ye để đến thị trấn Budalin. Trong lúc dừng chân nghỉ ngơi tại đó, Đại đức Ledi Sayadaw đã thuyết giảng tán thán những điều mà Ngài U Indaka đã chứng ngộ trước hàng đệ tử. Có lẽ đây là cách Ngài mở đường cho sứ mệnh tương lai của đệ tử. Khi Đại đức Ledi Sayadaw đi về Monywa, Ngài U Indaka lại quay trở về khu rừng cũ.

### Khúc gỗ có tâm, cột nhà có tâm? Không có, mà lại có

Vào năm **1265** (1903 DL), Ngài lại chuyển đến trú ngụ tại khu rừng Kyaung-pan rộng lớn, nằm ở phía đông các làng Wet-ye, Ku-taw và Ywa-mon, gần rừng Wet-ye. Các thí chủ đã cùng nhau xây dựng tịnh thất cúng dường Ngài. Ngài bắt đầu thuyết giảng giáo pháp dần dần, và từ đó mọi người gọi Ngài là "Kyaung-pan Tawya Sayadaw" (Thiền sư rừng Kyaung-pan). Sau khi ở quanh khu rừng Wet-ye hơn **13** năm, Ngài đi vân du và lưu trú tại nhiều thiền viện rừng khác nhau. Với việc thuyết giảng pháp Minh sát (Vipassanā), một trung tâm thiền học Kyaung-pan lớn đã hình thành ở phía tây nam thị trấn Budalin.

Trong thời gian rời rừng Kyaung-pan để đến ở tại thiền viện Yar-gyi-kone, gần thị trấn Alon, các bậc thầy Vi diệu pháp (Abhidhamma) như U Tun Oo, U Tun Hla, U Yan Nyein đã tranh luận với nhau về thuyết "khúc gỗ có tâm, cột nhà có tâm" (tôn-năng, tà-năng) mà Thiền sư Kyaung-pan đã giảng. Khi đó, họ đã đem chuyện này trình lên Đại đức Ledi Sayadaw đang trú ngụ tại thiền viện In-gyin-myaing, Ngài từ chối và nói rằng: "Ta không muốn đưa ra phán quyết về việc này".

Có lần, Ngài nói với vị thị trưởng thị trấn Alon là U Chaw rằng: "Này Maung Chaw, tuệ giác của Kyaung-pan...


Có lần Ngài dạy bảo ông Huyện trưởng thành Alon là **U Chaw** rằng: "Này Maung Chaw, trí tuệ của Kyaungpan thật khó để người thường có thể theo kịp." Có lẽ Ngài quở trách như vậy vì sợ những người giỏi chữ nghĩa sẽ sinh lòng khinh suất. (Về quan điểm của Ngài Kyaungpan Sayadaw, xin hãy xem chi tiết trong tác phẩm *Ratana Dīpanī*).

Khi các hàng cư sĩ thân cận thưa hỏi, Ngài Kyaungpan Sayadaw đã ứng khẩu bài kệ như sau:

*Ví như loài chim Pāṇḍi cánh đỏ,*
*Lời Maung Chân Sī (Kyan Si) chỉ là phù phiếm,*
*Nói năng nghe như thật mà chẳng phải thật.*
*Kinh tạng đã nêu rõ **Viññāṇaṃ** (Thức) như huyễn thuật (**Māyūpamānaṃ**),*
*Như khối bọt nước (**Piṇḍopamaṃ**),*
*Nếu các ông còn chấp vào hình tướng của **Buddhaṃ** (Đức Phật) mà tranh luận,*
*Thì đó là ý của các ông...*

Ngài nhất quyết không lay chuyển nhãn quan của mình.

Cái thấy về Định (Samatha) và Tuệ (Vipassanā) đôi khi thật khó để viết ra hay diễn đạt bằng lời, hay nói cách khác là không thể đặt để vào phạm trù ngôn ngữ chế định (Paññatti). Một số hành giả thiếu căn bản về học thuật (Pariyatti) khi đàm luận về lộ trình thực hành thường không tìm được tiếng nói chung và dẫn đến tranh cãi, chính vì sự thiếu sót này.

Do đó, các đức Phật Độc Giác (Paccekabuddha) dù thấu triệt Tứ Thánh Đế nhưng không thể thuyết giảng giáo pháp, chính là vì các Ngài không thể đặt để vào ngôn ngữ chế định. Cái thấy của Ngài Kyaungpan Sayadaw chắc hẳn là một cái thấy thấu suốt sâu sắc, điều này không nên hoài nghi. Khi xem xét bộ tác phẩm *Vipassanā 6 cuốn* của Ngài, ta sẽ thấy rõ điều đó.

Dựa trên các trước tác của Ngài, cũng như sự tán thán và gần gũi của một bậc đại trí như Ngài Ledi Sayadaw, ta có thể tin tưởng rằng Ngài là một bậc Thánh (Ariya). Tuy nhiên, về mặt sử dụng ngôn từ (chế định), có lẽ vẫn còn điều gì đó chưa thật hoàn mỹ. Chính Ngài cũng từng dùng lối lý luận kiểu người Kala (Ấn Độ) "không có mà lại có" để đối đáp trong vấn đề này.

Đức Ledi Sayadaw tôn kính, khi chứng kiến những cuộc tranh luận gay gắt về thuyết "Tạng Danh" (Tôn-Nám, Tai-Nám), đã từng nhận xét về Ngài Kyaungpan Sayadaw rằng:

"Pháp của nhà vua (Vua Pháp Kyaungpan) là pháp của bò cái. Các chú bò đực khi gặp gỡ thường gầm rống, hăm dọa, dậm chân ra oai rồi mới giao đấu. Còn bò cái thì chẳng phát ra tiếng động nào, chỉ việc lao thẳng vào nhau một cách quyết liệt. Nhà vua cũng vậy, Ngài đi thẳng vào điểm cốt lõi một cách cực đoan khiến người đời khó lòng chấp nhận. Nhưng khi quá rộng mở thì lại giống như đổ nước vào một cái mâm lớn để uống vậy (khó tiếp nhận)."

Lời giáo giới đó cho thấy dù nội dung là đúng đắn, nhưng phương cách trình bày và diễn đạt dường như vẫn cần một sự khéo léo hơn. Pháp của Ngài về sau này...


**GIẢNG SƯ DHAMMĀCARIYA U HTAY HLAING**

... khi rơi vào miệng những người không có học thức, họ lại suy diễn đến mức cho rằng việc hái lá bụp giấm hay rau muống để nấu ăn cũng phạm tội sát sinh vì chúng có "sinh mạng của danh pháp" (Nāma-jīvita). Thật là một điều đáng buồn thay.

Để làm sáng tỏ cái thấy đó, không chỉ đơn thuần là giỏi thuyết giảng, khéo viết lách hay am tường kinh điển là đủ. Phải là người dùng chính thân mạng mình để thực chứng như Ngài thì khi diễn giải mới có thể hóa giải được mọi sự tranh luận từ thế hệ này sang thế hệ khác. Ngài Kyaungpan đã thuyết giảng một cách trung thực và ngắn gọn theo đúng sự chứng ngộ của mình, nhưng từ đó cũng nảy sinh những vấn đề lớn kéo dài mãi về sau.

Mặt khác, sau khi Ngài viên tịch, trong giai đoạn chuyển tiếp của dòng thiền Kyaungpan Vipassanā, không biết có phải vì lời dạy của Ngài rằng: "Dù là xem kinh sách hay nghe người khác thuyết pháp, nếu tâm bỗng nhiên thấu suốt (thấy rõ) thì hãy ghi nhận đó là bậc Dự Lưu (Sotāpanna)" hay không, mà không chỉ các bậc xuất gia mà cả các nữ tu và thiện nam tín nữ đều thay phiên nhau thuyết giảng và nghe pháp làm phương châm thực hành Vipassanā.

Trong các kinh điển như Pháp Cú (Dhammapada) cũng có dẫn chứng về những bậc có trí tuệ sắc bén (Khippābhiññā), đắc quả Dự Lưu ngay sau khi nghe pháp. Tuy nhiên, ví như việc dùng đá đè chết một con kiến, dù cái chết diễn ra nhanh đến đâu thì cũng không thể chết mà không trải qua các tâm chặng cuối (Maraṇāsanna-javana). Cũng vậy, dù đắc chứng nhanh chóng đến đâu, nếu không có sự quán chiếu và tu tập về Danh-Sắc (Rūpa-Nāma) thì không bao giờ có chuyện đắc quả Dự Lưu hay các quả vị khác.

Ngày nay, những bậc như vậy hẳn là rất hiếm. Ngay cả chính Ngài Kyaungpan Sayadaw cũng đã phải nỗ lực tinh tấn suốt mười bốn, mười lăm năm dùng thân mạng để hành trì. Đây quả thật là cảnh giới của các bậc trí giả và thánh nhân.

Giờ đây, đến thời của Ngài Sayadaw **U Nandiya**, mọi chuyện đã không còn như trước. Ngài đã chú trọng hướng dẫn phần thực hành quán chiếu thực tiễn thay vì chỉ thiên về lý thuyết và diễn giảng, đúng theo tôn chỉ của các bậc tổ sư ban đầu.

Khi đức Ledi Sayadaw tôn kính viên tịch, Ngài Kyaungpan đã thốt lên rằng: "Lần này thật là nguy khốn, trụ cột thẩm định giáo pháp (Viniccaya-maṇḍa-taing) đã đổ rồi." Ngài cũng đã dẫn đầu nỗ lực khắc các tác phẩm *Dīpanī* lên đá. Chính Ngài cũng đã biên soạn:

1. **Vivaṭa Dīpanī** (1268-1271)
2. **Vipassanā Dīpanī** (1272)
3. **Sabhāva Dīpanī** (1273)
4. & 5. **Thoong Loka Dīpanī** (Tam Thế) (1278)
5. **Ratana Dīpanī** (1279) và các bài giảng, lời giáo giới Kyaungpan.



Ngài viên tịch vào ngày mùng 3 tháng Chạp (Pyatho) năm 1288 (Miến lịch). Một ngôi bảo tháp thờ xá-lợi đã được xây dựng để tôn thờ. Các tác phẩm *Dīpanī* cũng được khắc lên đá để cúng dường. Các Ngài Pantha Sayadaw, Sayadaw **U Tiṇṇa**, **U Nandiya** là những pháp sư, soạn giả đã nỗ lực hoằng dương và kế thừa di sản của Ngài Kyaungpan Sayadaw. Trong đó, Ngài Zeetaw Sayadaw **U Nandiya** chính là bậc thầy ân nhân đã nâng đỡ và che chở cho tác giả từ thuở còn là một chú tiểu.


# THIỀN SƯ NYAUNG LUNT
### (1229 – 1295)

Hôm ấy là ngày Uposatha (ngày thọ bát quan trai), tại chùa của Tỳ-kheo **U Kesara** ở làng Ohn, phía trên hồ Meiktila, thiện nam tín nữ đến thọ giới rất đông đảo.

Trong giảng đường, bà Daw Gon vừa lần tràng hạt vừa thỉnh thoảng liếc nhìn bốn phương tám hướng, tâm trạng không chút bình yên. Đó là vì từ sáng đến giờ bà vẫn chưa thấy bóng dáng vị Sa-di nhỏ – con trai mình – đâu cả.

Thông thường, vào những ngày lễ tự tứ, các chú tiểu rất vui vẻ vì được dùng vật thực ngon lành và không phải vất vất vả học kinh kệ như ngày thường. Đôi khi các chú vẫn ghé qua khu giảng đường để thăm hỏi mẹ mình. Thế nhưng, riêng Sa-di **Medhāvī** vẫn chưa thấy xuất hiện, khiến bà Daw Gon không sao nhiếp tâm lần tràng hạt cho được.

### Vị Sa-di nhỏ đi vào rừng

“Thưa sư trẻ, Ngài có thấy con trai tôi đâu không?” Bà Daw Gon hỏi người con trai lớn của mình là Tỳ-kheo **U Vicitta** khi ngài vừa đi ngang qua khu giảng đường.

“Hôm nay không phải học kinh nên chắc nó đi chơi đâu đó rồi,” Ngài **U Vicitta** trả lời. Tuy nhiên, sau khi dò hỏi thêm, bà được biết **Samanera Medhāvī** đã biến mất kể từ lúc đi bát về, khiến bà càng thêm lo lắng. Bà bèn nài nỉ chồng là ông **U Hnot** đi tìm khắp các liêu phòng trong chùa.

Chẳng bao lâu sau, ông **U Hnot** hớt hải quay lại giảng đường, đứng từ xa gọi lớn:

“Này... bà Gon ơi... bà Gon! Con trai bà không có lên nhà ăn độ thực đâu. Nó ôm bát vào rừng tu rồi!” Nghe vậy, tim bà Daw Gon thắt lại. Bà đứng phắt dậy, hốt hoảng hỏi:

“Ông Hnot... ông nói thật đấy à? Trời đất ơi... sao các thầy, các sư trong chùa không ngăn nó lại?” Bà vừa nói vừa trách cứ cả người cháu là trụ trì **U Kesara** lẫn người con cả **U Vicitta**.

Ông **U Hnot** chỉ mỉm cười điềm nhiên, khiến bà càng thêm sốt ruột:
“Ông Hnot... có thật vậy không?”

“Này bà Gon, tôi đang thọ giới bát quan trai mà, lẽ nào lại đi lừa bà chuyện tào lao như thế.”


“Nếu vậy thì phải làm sao bây giờ? Ông mau đi thưa với sư trụ trì và sư trẻ đi, nếu đuổi theo ngay bây giờ chắc vẫn còn kịp. Trời đất ơi, con tôi nó mới có 12 tuổi thôi mà!”

Bà Daw Gon đứng ngồi không yên. Các thiện nam tín nữ trên giảng đường cũng thở dài ái ngại. Một bà lão thọ giới ngồi gần đó lên tiếng: “Cũng phải thôi, đứa trẻ này vốn đã khác thường ngay từ khi còn trong bụng mẹ mà.”

Quả đúng như vậy. Kể từ khi mang thai, bà Daw Gon đã có những cảm thọ rất đặc biệt. Hằng ngày bà luôn giữ gìn giới luật tinh nghiêm và luôn khao khát được hành thiền mà không sao kìm nén được. Bà đã thưa chuyện với người cháu là sư trụ trì **U Kesara** để được hướng dẫn cách hành thiền. Vào thời bấy giờ, khái niệm hành thiền Vipassanā (thiền quán) vẫn chưa được phổ biến rộng rãi. Ngài **U Kesara** khi ấy chỉ dựa vào Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) để hướng dẫn bà những pháp căn bản như **Buddhānussati** (Niệm Phật) và **Mettā-kammaṭṭhāna** (Thiền tâm từ).

Bà Daw Gon đã dùng tâm hành thiền để bảo bọc thai nhi đặc biệt này cho đến đêm khuya, quá canh một ngày Thứ Năm, sau ngày trăng tròn tháng Tabaung năm 1229 (theo lịch Miến Điện), bà đã hạ sinh một bé trai khỏe mạnh. Cậu bé không chỉ khác thường từ lúc trong thai mà khi chào đời cũng mang những dấu hiệu đặc biệt. Ngay giữa lòng bàn chân phải có một dấu luân xa (hình bánh xe) rất rõ nét. Nhìn những đường vân xoắn ốc bên phải và các đường gạch chéo cắt ngang vòng tròn ở giữa, ai nấy đều khẳng định: “Đây chắc chắn là một bậc vĩ nhân tương lai.” Diện mạo của cậu bé cũng vô cùng thanh tú và rõ nét.

Năm 7 tuổi, cậu được gửi vào chùa đi học. Chỉ trong vòng một năm, cậu đã thuộc lòng bảng chữ cái (Thin-bong-gyi) và mười bộ kinh hộ trì (Paritta). Ngay khi còn là một học trò nhỏ, cậu đã thuộc lòng tám bộ ngữ pháp (Saddā) và chín chương của Thắng Pháp Tập Yếu Luận (Abhidhammattha-saṅgaha), khiến hai người anh là tỳ-kheo trong chùa hết sức nể trọng. Đúng như câu nói “Gừng càng già càng cay” (nguyên văn: gai nhọn từ lúc mới mọc), không chỉ xuất sắc về học thuật hơn hẳn lứa tuổi, cậu còn vô cùng tinh tấn trong việc phụng sự Tam Bảo và thầy tổ mà không cần ai sai bảo. Từ việc quét dọn, dâng hoa cúng Phật cho đến việc chuẩn bị nước uống, nước dùng... tất cả đều chu toàn khiến ai nấy đều thầm khen ngợi.

Năm 12 tuổi, cậu xuất gia Sa-di. Nhờ đã thuộc lòng các kinh sách căn bản từ trước nên ngay khi vừa khoác áo cà-sa, vị Sa-di nhỏ đã có thể theo học các bộ đại kinh mà thông thường chỉ dành cho các bậc tỳ-kheo.

“Con bà vốn đã lạ thường từ trong bụng mẹ rồi, chuyện nó vào rừng tu là có thật đấy,” bà lão thọ giới lập lại nhận định của mình. Lúc đó, một vị Sa-di lớn tuổi cũng bước đến giảng đường và nói:

“Thưa bà, từ trước khi xuất gia, cậu bé đã thuộc lòng Thắng Pháp (Abhidhamma), đã am tường về **40 đề mục thiền định (Kammaṭṭhāna)**, phân biệt được **Danh sắc - Chế định (Paññatti) và Thực tính (Paramattha)**, thậm chí hiểu rõ về **Niết-bàn (Nibbāna)** nữa. Cậu ấy cứ hay nói với chúng tôi là muốn vào rừng để hành thiền, và từ sáng nay thì không thấy cậu ấy đâu nữa.” Nghe những lời này, bà Daw Gon càng thêm lo lắng, khẩn khoản thúc giục ông **U Hnot** đi tìm con ngay lập tức.



“Bà Gon à, bà đừng có lo quá như thế, con mình đi tu hành trong rừng thì phải mừng cho nó chứ!” Thấy ông chồng nói vậy, bà Daw Gon không kìm được cơn giận, định chạy đi tìm hai người con tỳ-kheo của mình, nhưng ông **U Hnot** đã nắm tay bà lại:

“Thôi được rồi, để tôi dẫn bà cùng đi tìm nó.”

Bà Daw Gon ngơ ngác đi theo ông **U Hnot**. Ông dẫn bà đến gần một bụi cây rậm rạp nằm sát hàng rào khuôn viên chùa, nơi vắng vẻ không bóng người qua lại. Ông **U Hnot** ra hiệu cho bà giữ im lặng rồi chỉ tay vào sâu trong bụi rậm. Ở đó, giữa bụi cây um tùm che khuất cả ánh nắng mặt trời, Sa-di Medhāvī đang ngồi trang nghiêm hành thiền trên chiếc y nội trải tạm, bên cạnh là chiếc bình bát. Đến lúc này, bà Daw Gon mới trút được gánh nặng, khẽ thở phào và nở một nụ cười mãn nguyện.

Ông **U Hnot** khẽ chạm tay bà, cả hai rón rén bước ra ngoài. Khi đã đi đến một khoảng cách đủ xa để không làm phiền vị Sa-di, ông mới giải thích:

“Bà Gon, đứa con này của bà không biết sau này sẽ còn phi thường đến mức nào nữa. Tôi có hỏi một chú tiểu thì được biết từ sáng sớm sau khi đi bát về, nó đã thọ hạnh **Pattapiṇḍik’aṅga** (hạnh trì bình) và **Ekāsanik’aṅga** (hạnh nhất tọa thực - chỉ ăn một lần mỗi ngày). Nó cũng đã tự tay dọn dẹp sạch sẽ chỗ trong bụi cây đó từ trước. Các thầy trẻ hôm nay được nghỉ học vì là ngày lễ nên cũng không ai hay biết nó đi đâu cả.”

Cả hai cùng mỉm cười trở lại giảng đường. Sa-di **Medhāvī** ấy chính là tiền thân của đức **Thiền sư Nyaung Lunt** sau này.

### Tận tụy với trọng trách giáo giới và phụng sự thầy tổ

Ngay từ thời Sa-di, ngài **Medhāvī** đã thuộc lòng các bộ kinh căn bản của Tạng Luật mà các tỳ-kheo thường học. Về giới đức, ngài luôn giữ gìn thân khẩu ý đúng theo luật nghi, được ca ngợi là một “vị Sa-di mẫu mực bước ra từ kinh sách”. Khi tròn 20 tuổi và thọ cụ túc giới, ngài lại càng tôn trọng giới luật tinh nghiêm, đúng nghĩa là một bậc “Tỳ-kheo của giáo pháp”.

Sau khi hạ lạp được 3 năm, ngài lên Mandalay, vào chùa Phaya Gyi để nghiên cứu kinh điển. Sau hai năm tu học tại đó, theo lời dạy của thầy mình là ngài **U Kesara**, ngài trở về trông nom ngôi chùa cũ tại làng Yay-o-zin (nằm về phía Nam), gần thị trấn Nyaung-yan. Trong thời gian này...

Ngài **Mō-nan-kone Sayadaw**, một bậc tinh thông Luật tạng (Vinaya), có việc ghé thăm Nyaungyan. Nhân đó, **U Medhāvī** đã đến xin phép để thỉnh vấn Ngài về những điểm chưa rõ liên quan đến **dây thắt lưng** (khā-pān kyō) trong giới luật. Nhận được những lời giải đáp xác đáng và thỏa đáng, sư quyết định sẽ đi theo bái vị Sayadaw này làm thầy để thọ học.

Với một bậc thiết tha trân trọng giới đức như **U Medhāvī**, việc gặp được Ngài **Mō-nan-kone Sayadaw** – vị vốn lừng danh về cả kiến thức Luật tạng lẫn đức hạnh tu trì – quả là một duyên lành hy hữu.

Người ta thường nói: "Kẻ muốn tinh thông trí tuệ hãy nương tựa **Ngài Sāriputta** (Xá-lợi-phất), kẻ muốn giỏi về thần thông hãy tìm đến **Ngài Moggallāna** (Mục-kiền-liên), và kẻ muốn vẹn toàn nếp sống khổ hạnh (dhutanga) hãy nương nhờ **Ngài Mahā Kassapa** (Ma-ha Ca-diếp)."

Trong một thời đại hưng thịnh, việc được thân cận và nương tựa những bậc vĩ nhân bậc nhất là một lợi ích vô cùng to lớn đối với những người hữu phước. Tuy nhiên, với kẻ thiếu phước, điều này đôi khi lại mang đến sự suy giảm lợi ích, tựa như việc sử dụng lửa hay điện vậy. (Ác nghiệp **Ariyo-pavāda** – hủy báng bậc Thánh – cũng nên được hiểu và quán xét theo ví dụ này).

Vào năm năm hạ lạp, sau khi được sự cho phép của vị sư huynh, **U Medhāvī** đã chuyển đến trú ngụ tại ngôi chùa ở làng **Mō-nan-kone**, nằm cách thị trấn Pyawbwe khoảng 2 dặm về phía Đông Nam.

### Ngài Mō-nan-kone Sayadaw – Bậc tinh thông Luật tạng

Tại đây, thiết nghĩ cũng cần sơ lược đôi chút về tiểu sử của Ngài **Mō-nan-kone Sayadaw**. Ngài sinh tại làng Ywa-pō-ka-lē, còn gọi là Nyaung-pin-thar (thuộc huyện Yamethin, phía Đông làng lớn Pe-kone, gần ga Shwe-dah; nay ngôi làng này không còn nữa). Ngài sinh năm 1047 (tức năm 1209 Miến lịch - 1847 DL), là con của ông **U Inn** và bà **Daw Bone Gyi** (tên khác là **Daw Aye**). Ngài thọ học tại chùa **Wun Kyaung** ở Pe-kone dưới sự dẫn dắt của Ngài **U Ñāṇa**. Pháp danh Sa-di của Ngài là **Shin Jayanta**. Khi còn là Sa-di, Ngài đã lên kinh thành Ratanaphon (Mandalay) để học Luật tại chùa **Dakkhinārāma Payagyi** dưới sự hướng dẫn của Ngài Sayadaw **U Suta** (Pagan Nyaung-U Sayadaw). Sau mười hạ lạp, Ngài chuyển đến chùa **Salin** ở khu vực phía Đông kinh thành để nhận nhiệm vụ cao quý là vị Giảng sư đầu tiên (Pahtama Sā-taw-cho). Ngài được Hoàng hậu **Cakkar Devī** hết lòng tôn kính, hàng ngày dâng cúng vật phẩm và hộ trì tứ vật dụng.

Dưới thời Vua Thibaw, Ngài trở về an cư một hạ cùng vị thầy cũ là Ngài **U Ñāṇa**. Sau đó, Ngài về làng Pyaw và làng Pitauk-kone, nơi mẹ và thân quyến sinh sống. Các thí chủ tại đây đã chung tay xây dựng một ngôi chùa cúng dường Ngài. Tuy nhiên, Ngài chỉ lưu lại đó một thời gian ngắn, sau đó giao quyền quản lý lại cho người đệ tử là **U Jota**, rồi chuyển hẳn đến làng **Mō-nan-kone** để thiết lập một học viện (Sā-thin-taik). (Sư **U Jota** sau đó cũng đi vào rừng tu khổ hạnh ở phía Đông làng Pyaw vào năm 1255 Miến lịch). Ngài **Mō-nan-kone Sayadaw** nổi danh là một vị Giáo thọ sư (Gaing-oke) của tông phái Mō-nan-kone và là bậc đại trí về Luật tạng.



### Thầy trò cùng trân quý Giới luật

Ngay từ đầu, nhìn vào diện mạo (upadhi) của **U Medhāvī**, Ngài **Mō-nan-kone Sayadaw** đã nhận định đây là "người sẽ đạt được những thành tựu lớn lao" và dành sự quan tâm đặc biệt. Chẳng bao lâu sau, Ngài nhận thấy vị tân Tỳ-kheo này còn xuất sắc vượt xa cả những gì Ngài hằng mong đợi. **U Medhāvī** hết lòng cung kính và thận trọng trong việc giữ gìn giới luật Tỳ-kheo, khiến ngay cả một bậc tinh thông giới luật như Ngài **Mō-nan-kone Sayadaw** cũng phải lên tiếng ngợi khen.

**U Medhāvī** có niềm tin sắt đá rằng: "Bất kể học giới nào do đức Phật ban hành, không có lỗi lầm (āpatti) nào được xem là nhỏ nhặt. Nếu không chú trọng đến những điều nhỏ bé, khi gặp chuyện lớn lao cũng khó lòng giữ vững. Nếu đã thu thúc được những điều lớn, thì những điều nhỏ nhặt khác cũng sẽ được giữ gìn một cách tự nhiên."

Đối với loài chim tước nhỏ bé (Laṭukika), ngay cả việc bị một sợi dây leo mỏng manh ràng buộc cũng chẳng khác nào bị mang một gông cùm xiềng xích nặng nề, có thể dẫn đến cái chết ngay tại chỗ. Thế nhưng, đối với một thăng tượng (voi lớn) hùng dũng, sợi dây leo ấy chẳng có nghĩa lý gì. (Theo **Kinh Laṭukikopama**, thuộc **Trung Bộ Kinh - Majjhima Pannāsa**).

Cũng vậy, những học giới về **Ādibrahmacariyakā** (Giới căn bản của Phạm hạnh) – vốn là nền tảng tối thượng của Luật tạng – có thể trở thành những gánh nặng xiềng xích cùm chân đối với những người có đức tin và nghị lực non yếu (loại người luôn nghi hoặc vào lòng đại bi, trí tuệ toàn giác của đức Phật cũng như năng lực của giáo pháp). Nhưng đối với **U Medhāvī**, những giới luật ấy thật nhẹ nhàng. Sư không cảm thấy gò bó hay phải gồng mình gìn giữ; trái lại, sư cảm thấy sảng khoái và tràn đầy nghị lực, tựa như một chàng thanh niên quý tộc khoác lên mình bộ trang phục rực rỡ để bước vào cung điện hội triều một cách tự tin.

### U Medhāvī tinh thông chương trình Pháp học

Ngài **Mō-nan-kone Sayadaw** nhận thấy **U Medhāvī** không chỉ giữ gìn oai nghi tề chỉnh mà còn vô cùng tinh tấn, nên đã cho sư ở một liêu phòng riêng và ban cho danh hiệu "Sā-so-taw" (vị thủ khoa dẫn đầu lớp học). (Vị Sā-so-taw là người thay mặt cả lớp tụng đọc lại những gì thầy đã dạy; người giữ vai trò này phải chuẩn bị bài kỹ lưỡng hơn, do đó kiến thức cũng ngày càng uyên thâm hơn). Ban ngày, sư thọ học các bộ ngữ pháp nhỏ như **Sambandhacintā**, tiếp theo là các bộ Luật tạng (Vinaya) gồm năm bộ Pāli và các bản Chú giải (Atthakathā), cùng các bản Chú giải của Vi Diệu Pháp (Abhidhamma). Ban đêm, sư lại tham gia các lớp "Abhidhamma Nya-war" (Lớp học đêm về Vi Diệu Pháp).



Lớp học đêm về Vi Diệu Pháp là một hình thức giáo dục đặc biệt trong phương pháp giảng dạy của quý sư. Ngay từ xa xưa, đã có các bản tóm yếu (So-yo) bằng ngôn ngữ Miến Điện, giúp người học bao quát toàn bộ ý nghĩa của bảy bộ Vi Diệu Pháp. Trải qua nhiều thời đại, các bản tóm yếu này được tu chỉnh và truyền thừa, trở thành những tác phẩm dễ hiểu nhưng vô cùng sâu sắc, có thể gọi là "Chú giải Vi Diệu Pháp bằng tiếng Miến". Khi phân tích một thuật ngữ hay một khái niệm pháp lý của Vi Diệu Pháp, phương pháp này sẽ liệt kê đầy đủ các khía cạnh thông qua các cách tiếp cận như: "A-sit kauk" (Chiết xuất cốt lõi), "A-tu kauk" (Phân loại bổ trợ), và "Ya-thin kauk" (Tổng hợp cần thiết). Cách trình bày này chi tiết đến mức đôi khi còn vượt xa cả các bậc đại sư Chú giải (Atthakathā) và Sớ giải (Tīkā). Người Miến Điện đã sáng tạo ra một hệ thống học tập mới vô cùng tuyệt vời, giúp tóm gọn tinh túy của Vi Diệu Pháp một cách đầy đủ và logic nhất, làm sáng tỏ cả những chi tiết nhỏ nhặt mà các bậc thầy đời trước chưa đề cập đến.

Lớp học đêm này diễn ra dưới sự hướng dẫn của thầy giáo thọ. Đúng như cái tên "Nya-war" (Học đêm), cả thầy lẫn trò đều tắt hết đèn nến, học tập trong bóng tối tĩnh mịch của đêm đen. Vừa quán xét ý nghĩa vừa trì tụng, chính sự tĩnh lặng và bóng tối ấy đã mang lại sự định tâm (samādhi) sâu sắc, đánh thức trí tuệ Vi Diệu Pháp thâm sâu. Khi trở về từ lớp của thầy, các vị sư đi theo nhóm ba bốn người, vừa đi chậm rãi vừa trì tụng lại một cách nhịp nhàng với sự suy xét thấu đáo. Nhờ phương pháp này, các vị Tỳ-kheo và Sa-di trẻ tuổi có thể thấu triệt được cốt tủy của bảy bộ Vi Diệu Pháp (gồm 12 quyển lớn) trong một thời gian rất ngắn. Chính nhờ những phương pháp giảng dạy độc đáo và kiên cố này mà người Miến Điện đã giữ vững được giá trị của giáo lý Phật giáo một cách vững chãi, không thể lay chuyển.

Bằng phương pháp này, **U Medhāvī** đã thông suốt các nội dung về Kinh (Sutta), Luật (Vinaya) và Vi Diệu Pháp (Abhidhamma) mà không còn một kẽ hở nào; sư đã hoàn toàn làm chủ được các kinh điển cốt tủy. Mặc dù đã kết thúc giờ học đêm và rời khỏi liêu của thầy, sư vẫn chưa vội về liêu phòng của mình. Sư tận dụng thời gian tản bộ để ôn lại bốn bộ Luật nhỏ và các bộ Từ điển (Abhidhān) mà sư đã thuộc lòng từ trước, mỗi đêm xoay vòng trì tụng hai hoặc ba loại. Nhờ sự kiên trì ôn luyện (An-phan) ấy, dù những kiến thức Ngữ pháp hay Thắng Pháp Tập Yếu (Saṅgaha) đã học từ lúc nhỏ có để lại vài năm không tụng đến, sư vẫn không mảy may quên lãng.

### Đạo hạnh vẹn toàn, Giới luật tinh nghiêm

Hàng đêm, sau khi trì tụng đến khoảng mười giờ khuya, sư tạm dừng để đến thực hiện việc chăm sóc (nắn bóp chân tay) cho vị Sayadaw già. Sau khoảng một giờ phục vụ chu đáo, sư tiếp tục phần nhiệm vụ còn lại của mình...


Vị tỳ-kheo trẻ tiếp tục tụng đọc kinh sách. Vào những đêm trăng sáng, cảnh tượng các vị Sa-di và tỳ-kheo trẻ cùng nhau ôn luyện kinh văn thật là một hình ảnh tịnh tín và đẹp đẽ. Quá nửa đêm, tiếng tụng đọc mới dần lắng xuống. Có vị ngồi trên sập gỗ dưới gốc cây, có vị lại kinh hành dọc theo lối đi. Thật là những bậc hữu công đối với giáo pháp học thuật (Pariyatti).

Hơn mười một giờ đêm, Ngài U Medhāvī tạm dừng việc ôn kinh, bước lên ngôi chùa nhỏ và thắp sáng chiếc đèn bão. Ngài tỉ mỉ ghi chép lại vào những quyển vở những ý nghĩa thâm sâu của kinh điển mà bậc Thầy đã chỉ dạy, không bỏ sót một điểm nào. Sau đó, dù đã cùng đại chúng thực hiện thời khóa bái Tam Bảo, Ngài vẫn dành chút thời gian lễ Phật riêng và tu tập tâm từ (Mettā-bhāvanā). Tiếp theo, Ngài thực hành đề mục thiền định về ba mươi hai thể phần (Koṭṭhāsa-kammaṭṭhāna - như tóc, lông, móng, răng, da...) vốn là pháp môn Ngài hằng tu tập mỗi ngày, rồi sau đó mới nghỉ ngơi khoảng một giờ đồng hồ. Hiếm khi nào Ngài ngủ quá hai tiếng.

Khi chưa đầy ba giờ sáng, Ngài đã thức giấc. Để chuẩn bị cho bậc Đại Trưởng lão rửa mặt, Ngài đặt chiếc khăn lau lên vai, mang theo bình nước sạch, trên nắp bình đặt sẵn thanh chà răng và đĩa muối, rồi đứng đợi trước cửa liêu của thầy mình. Trong khi chờ cửa mở, Ngài an trú tâm trong định tâm từ. Đúng ba giờ, vị Thầy mở cửa, Ngài cung kính dâng nước rửa mặt. Sau khi vị Thầy xong việc, Ngài cung kính thu dọn mọi thứ ngăn nắp, đảnh lễ rồi mới trở về liêu nhỏ của mình.

Về đến nơi, Ngài xem lại những ghi chép về ý nghĩa kinh văn ban đêm, nếu còn chỗ nào thiếu sót, Ngài lại suy tư và viết bổ sung. Sau đó, Ngài dành toàn bộ thời gian đến khi trời sáng để chánh niệm về các thể phần trong thân (Koṭṭhāsa-kammaṭṭhāna).

Đó chính là nếp sống thường nhật của vị tăng sinh trẻ U Medhāvī.

Như lời dạy: “Hạnh không tròn thì giới chẳng đủ, giới chẳng đủ thì định chẳng thành. Định chẳng thành thì tuệ chẳng sinh, tuệ chẳng sinh thì không thể chứng đạt Niết-bàn”, đời sống tăng sinh của Ngài U Medhāvī không chỉ đơn thuần là việc học chữ nghĩa. Không có một phương diện nào bị khiếm khuyết. Ngài là một minh chứng sống động cho việc học (Pariyatti) mà thiếu đi sự hành trì (Paṭipatti) thì sẽ không vững chắc. Một chiếc bình nước Pháp học mà không có nắp đậy của Pháp hành thì bụi bặm và côn trùng rất dễ rơi vào.

Ngay cả những việc như quét dọn trước nhà, dọn dẹp gai góc trên đường đi, lo toan sinh kế cho cha mẹ, vợ con, hay thậm chí là dỗ dành đứa trẻ đang khóc — tất cả đều cần được hiểu là ‘giới (Sīla) hay thiện sự thực hành (Caraṇa-kusala)’. Dù là những việc không thể tránh khỏi, nhưng nếu có trí tuệ đồng hành, chúng sẽ trở nên cao quý và giá trị vô cùng. Sự hiểu biết chân chánh là điều tối quan trọng. Vì không biết mà chúng sinh phải chịu khổ, nếu biết được thì an lạc khôn cùng.

Vào ban ngày, các thời khóa học của Ngài U Medhāvī lại tiếp diễn...


... xoay vòng theo tuần tự. Theo thời gian, do áp lực của việc học tập quá độ, Ngài bắt đầu mắc chứng tê bại (Pāda-rakta), khiến đôi chân lạnh buốt lên tận đầu gối. Do máu huyết kém lưu thông, việc đi đứng trở nên khó khăn và mỏi mệt. Khi đó, Ngài phải dùng dầu hỏa hâm nóng hoặc phơi nắng, thoa khắp từ đầu gối trở xuống, rồi mở cửa sổ phía sau liêu nhỏ để sưởi nắng đôi bàn chân. Đôi khi Ngài phải trở về làng quê của mình để trị bệnh. Những đôi chân không còn đủ sức bước đi như một lời nhắc nhở Ngài về ý nguyện xuất ly vào rừng sâu.

Suốt 15 năm ròng rã, Ngài vẫn duy trì việc ôn kinh, tụng đọc và hoàn thành mọi bổn phận đối với bậc Thầy cùng các công việc trong chùa không hề gián đoạn. Khi đó, hạ lạp của Ngài đã lên đến 20 năm. Dù đã là một vị tỳ-kheo 20 hạ, Ngài vẫn giữ vững nếp cũ, cung kính dâng nước rửa mặt và phục vụ bậc Thầy mình. Với sự vẹn toàn trong Pháp học lẫn Pháp hành cùng sự nỗ lực tinh tấn phi thường, Ngài trở thành chỗ dựa tin cậy của bậc Thầy. Chính vì thế, từ khi trở thành bậc **Maha-thera** (Đại Trưởng lão 20 hạ), Ngài đã được giao phó toàn bộ việc quản lý tu viện Mo-nan-gone.

Lúc này, các bổn phận hằng ngày lại càng thêm chồng chất: từ giảng dạy kinh điển, thuyết Pháp, cho đến việc giải đáp các thắc mắc và vấn nạn giáo lý từ khắp nơi gửi về. Không chỉ gánh vác trách nhiệm đối với tăng chúng trong chùa hay các thiện nam tín nữ trong vùng, mà cả gánh nặng Phật sự của toàn bộ hệ phái Mo-nan-gone cũng đè nặng lên vai Ngài.

### Việc Chính và Việc Phụ

Ngài U Medhāvī không hề cảm thấy mệt mỏi khi thực hiện các Phật sự. Tuy nhiên, khi nhận ra rằng những công việc này đang làm giảm sút thời gian dành cho việc quan trọng nhất của đời mình — đó là **Pháp hành Thiền định (Kammaṭṭhāna)** — Ngài bắt đầu cảm thấy lo âu. Tuổi đời cũng đã xế chiều, mỗi khi nghĩ về việc cứ mãi vướng bận vào những Phật sự mang tính truyền thống, Ngài lại cảm thấy rùng mình lo sợ. Ý định xuất gia vào rừng tu tập vốn hằng ấp ủ không những không phai nhạt mà ngày càng lớn mạnh hơn.

“Này Ngài U Medhāvī, Ngài nên học tập thông suốt Pháp học (Pariyatti), rồi sau đó truyền dạy lại cho người khác để duy trì giáo pháp. Thế nhưng, việc suốt đời chỉ mang thân bộ xương này chôn vùi trong chữ nghĩa Pháp học thì thật chẳng nên chút nào. Điều đó cũng giống như người nông dân vất vả khai hoang, không quản nắng mưa cày cấy gieo trồng, nhưng đến khi thu hoạch lúa vào kho thì lại qua đời mà chưa kịp ăn lấy một hạt cơm từ chính thành quả của mình vậy. Ngài U Medhāvī à, Ngài là người thông tuệ kinh điển, có đầy đủ ba-la-mật, lại thấu hiểu giáo lý và luôn nỗ lực thực hành mà.” — Lời chỉ dạy này của Ngài Đại Trưởng lão Lin-zin-gone năm xưa cứ vang vọng mãi trong tâm trí Ngài. Vì vậy, Ngài đã đánh liều xin phép Ngài Đại Trưởng lão Mo-nan-gone cho mình được đi tu tập ở rừng. Tuy nhiên, Ngài vẫn chưa được sự chấp thuận.


“Nếu Ngài U Medhāvī muốn vào rừng tu tập thì tôi luôn sẵn lòng ủng hộ bất cứ lúc nào. Ngài cứ đến vào giữa đêm, tôi sẽ cùng Ngài khởi hành ngay đêm đó.” — Nhờ lời khích lệ và lời hứa này của Ngài trưởng lão Lin-zin-gone, Ngài U Medhāvī đã tha thiết khấn cầu nhiều lần với Ngài trưởng lão Mo-nan-gone. Cuối cùng, khi được sự đồng ý hài lòng từ vị Thầy, Ngài khoác bát lên vai và lên đường hướng về làng Lin-zin-gone (phía đông ga ga Shan-yva, phía bắc thị trấn Pyawbwe). Ngài trưởng lão Lin-zin-gone, vốn là một bậc hành giả luôn nỗ lực cắt đứt mọi sự quyến luyến dù là nhỏ nhất để tập trung vào việc chính yếu, khi thấy Ngài U Medhāvī đến thì vô cùng hoan hỷ đón chào từ xa.

Ngài trưởng lão Lin-zin-gone liền đưa ra quyết định chấp khoát. Giống như phú ông Sumedha mở cửa kho báu để bố thí, Ngài mang tất cả tư trang vật dụng cá nhân — ước tính chất đầy hơn ba mươi chiếc xe bò — từng thứ một đổ ra chất đống ngoài sân trước chùa để ai muốn lấy thì lấy. Về phần mình, Ngài chỉ mang theo một chiếc bát và bộ tam y:

“Nào, Ngài U Medhāvī, hãy để những vật dụng này cho những ai cần đến. Tôi cũng đã đạt được **‘Jitaṃ me’** (Sự chiến thắng thuộc về tôi) rồi. Có được một vị **Kalyāṇa-mitta** (Bậc thiện tri thức) như Ngài mà tôi không tranh thủ hoàn thiện đại hạnh **Nikkhamapāramī** (Ba-la-mật Xuất ly) này thì thật không đúng chỗ. Nào, chúng ta đi thôi!” Nói rồi, cả hai vị cùng khoác bát lên vai, hướng về ngọn núi “Min-lo-taung” ở phía tây làng Shan-su mà đi. Các Ngài không hề thông báo cho bất kỳ vị hộ pháp hay dân làng nào biết cả.

Đúng như câu nói: “Lọng cần có vua, vua cần có lọng”, hai vị cùng nhau lên đường, tìm đến một gốc cây thích hợp, dọn dẹp chỗ nghỉ và an trú trong sự tịnh lạc của giáo Pháp.

### Tiếng nói Thanh Tịnh Đạo từ đỉnh núi Min-lo-taung

Dù cho một người có khả năng xả ly, có sức chịu đựng gian khổ, có ý chí dũng mãnh trong Pháp hành và có trí tuệ quán chiếu thấu suốt đến đâu, thì bản chất của các triền cái và phiền não vẫn rất khó nhận diện. Chúng thường ẩn mình dưới hình thức của một người bạn hữu ích.

Nếu sự chướng ngại đến từ bên ngoài thì dễ thấy, dễ tránh. Nếu đến từ bên cạnh thì khó thấy, khó tránh. Nhưng nếu chúng phát khởi ngay từ bên trong nội tâm mình thì lại càng cực kỳ khó nhận diện và đoạn trừ.

Những chướng ngại đó được gọi bằng nhiều tên gọi khác nhau như: **“Nīvaraṇa”** (Triền cái), **“Upakkilesa”** (Tùy phiền não), **“Māra 10 tà-quân”** (Mười đội quân của Ma vương), **“Ceto-khila, Ceto-vinibandha”** (Tâm hoang vu, Tâm ràng buộc), hay **“Brahmacārūpaddava”** (Sự hiểm nạn của đời sống phạm hạnh)...




Nói tóm lại, 14 bất thiện tâm sở do sự không biết và ham muốn (**Vô minh - Avijjā**, **Tham ái - Taṇhā**) dẫn đầu, đang đeo đủ loại mặt nạ để đánh lừa và hành hạ chúng sinh. Nếu không quán chiếu bản chất đó, ý nghĩ sai lầm về hình tướng chế định rằng “Anh Phyu đang cản trở công việc của tôi” sẽ nảy sinh, và 14 tâm sở ấy lại mang một chiếc mặt nạ khác để xâm nhập vào tâm.

Những điều này có nghĩa là gì?

Ngài Trưởng lão Lintsinkon và Ngài Sayadaw trẻ U Medhāvi đã phải vượt qua muôn vàn khó khăn, mạo hiểm tiến về núi Minlo. Tuy nhiên, một số thí chủ thân cận của Ngài Lintsinkon vì lo lắng đi tìm vị sư bị mất tích, cuối cùng chẳng đặng đừng, đã phát tâm hộ độ xây cất các tinh xá, từ đó người ra kẻ vào bắt đầu đông đúc. Ngài U Medhāvi bắt đầu cảm thấy nản lòng. Sau đó, với những lời lẽ (khó lòng từ chối) như “Xin cho con được hầu cận, xin được hướng dẫn tu tập thiền định”, các vị Tỳ-kheo dần dần tìm đến nương tựa, khiến số tăng chúng lên đến 25 vị.

Thời gian trôi qua, một số vị Tỳ-kheo đã cùng nhau cung thỉnh Ngài U Medhāvi rằng: “Bạch Ngài, xin Ngài từ bi giảng dạy cho chúng con một khóa hạ về bộ **Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga)**.” Ngài Trưởng lão cũng lên tiếng khuyến khích thêm, khiến Ngài U Medhāvi không thể từ chối được nữa.

Đây chính là một sự chướng ngại tấn công một cách tinh vi khiến Ngài không thể nào thoái thác. Thế là, dù đã từ bỏ Phật học viện lớn ở làng, Ngài U Medhāvi lại phải mở một Phật học viện mới trên núi, tiếng tụng đọc bộ **Thanh Tịnh Đạo** vang dội khắp cả vùng núi. Điều đó tuy tốt, nhưng cũng thật chẳng lành.

### Lần xuất gia vào rừng thứ ba

Ngài U Medhāvi là người có quyết tâm sắt đá, dù tạm thời phải chấp nhận thất bại, ngay sau khi kết thúc một hạ giảng dạy, Ngài liền rời khỏi núi Minlo để trở về lại chùa Monankon. Lần này, Ngài mang theo một ý nguyện dấn thân còn khó khăn hơn thế nhiều.

Đó không gì khác hơn là việc thỉnh vị thầy ân đức vô lượng của mình — Ngài Trưởng lão Monankon — cùng đi vào rừng sâu. Tuy nhiên, đây không phải là một kế hoạch dễ dàng. Ngài vẫn lưu lại đó một thời gian, ngày đêm suy tính cách thức thực hiện. Một ngày nọ, sau khi các vị Tỳ-kheo trẻ vừa học xong (**Cūḷavagga Pāḷi**) từ Ngài Trưởng lão trở về, Ngài nghe thấy tiếng họ cùng nhau ôn bài trên chiếc chõng dưới gốc cây me.



Điều đó càng làm cho tâm ly tham (saṁvega) trong Ngài mãnh liệt hơn.

Dhammācariya U Htay Hlaing

Lý do là vì các vị đang đọc tụng ôn lại bản dịch sáp nhập Pāḷi - Miến đoạn lời khuyên của Hoàng tử Mahānāma Thích-ca dành cho người em là Anuruddha để khuyến khích đi xuất gia: “Các việc thế gian này chẳng bao giờ kết thúc. Năm tới cũng việc này, năm tới nữa cũng việc này, những việc ấy không bao giờ chấm dứt, cha mẹ ông bà ta cũng đã chết trong khi vẫn đang dang dở công việc ấy.” Khi ấy, Ngài U Medhāvi lấy hết can đảm, trong lúc đang hầu cận Ngài Trưởng lão, đã bạch rằng:

“Bạch Ngài, giữa lúc tuổi thọ ngắn ngủi này, mỗi ngày trôi qua chúng ta lại càng già yếu thêm. Như những việc thế gian không có hồi kết, việc hoằng pháp với đồ chúng đông đảo này cũng vậy, ngày nào cũng là bài học này, ngày nào cũng là đồ chúng này, dường như chẳng bao giờ chấm dứt. Bước đi trên con đường có điểm kết thúc thì sự mệt nhọc mới đáng công lao. Nếu cứ tiếp tục như thế này, chúng ta sẽ chẳng thể nỗ lực thực hành pháp hành của bậc Sa-môn được nữa. Các bậc thầy thời xưa cũng thường để uổng phí cả đời theo cách này. Còn về đồ chúng, khi họ nhận được điều họ cần và xong việc của họ thì cũng giống như những vị khách trọ tại nhà nghỉ (zayat), họ sẽ rời đi theo ý mình mà chẳng hề màng đến tình nghĩa thầy trò.” Ngài đã mạo hiểm thưa thỉnh như vậy.

Ngài Trưởng lão không hề đáp lời. Ngài U Medhāvi đảnh lễ rồi lui ra. Ngày hôm sau, Ngài bàn bạc với các vị đệ tử nòng cốt của Ngài Trưởng lão như Ngài U Revata và lại tiếp tục thưa thỉnh.

“Bạch Ngài, nếu Ngài xuất gia vào rừng, con cũng đã quyết định sẽ theo hầu cận phụng sự Ngài như thế này. Ở vùng Lewe rừng núi rất hoang vu. Ngài U Ācara ở chùa Pattapoine, Lewe cũng đã chuẩn bị sẵn sàng mọi thứ để Ngài có thể an trú tĩnh lặng. Còn về đại tự viện Monankon này, Ngài U Revata sẽ chịu trách nhiệm quản lý và vun bồi ba-la-mật như lúc Ngài còn ở đây.” Sau khi Ngài thưa thỉnh như vậy đúng ba lần trong ba ngày:

“Tốt lắm. Ta cũng đã suy xét xong rồi. Mọi việc cứ để Sư (U-pyin-zin) sắp xếp. Chúng ta đi thôi. Nhưng trước hết hãy ghé qua chỗ của Khun-zaw ở làng Pyaw một lát.” “Khun-zaw” là cách gọi Ngài U Saw Ta (Thời xưa, người ta gọi các vị Sư là “Khun-gyi”). Ngài U Saw Ta là một đệ tử được giao phó trông nom ngôi chùa ở làng Pyaw và làng Pitaukkon. Khi đó, vị đệ tử này đã rời bỏ ngôi chùa làng để ẩn tu khổ hạnh trong một thảo am bốn cột tại khu rừng chăn bò (nay là Nyaung-lunt Tawya), cách làng Pyaw khoảng một dặm về phía Đông. Ngài Trưởng lão muốn ghé thăm trước khi đi đến rừng Lewe.

Ngài Sayadaw trẻ U Medhāvi vô cùng hoan hỷ. Chẳng để cho bất kỳ đệ tử hay thí chủ nào biết, sau khi thọ trai ngày hôm sau, Ngài chỉ nói ngắn gọn là “có việc cần” rồi như thường lệ, mỗi vị mang theo bát, vắt túi da lên vai, tay cầm thiền trượng đi bộ đến ga Shweda. Từ đó, các Ngài tiếp tục đi đến ga Nyaung-lun (với vé cúng dường từ thí chủ U San Nyein ở làng Sipin). Sau khi xuống tàu, các Ngài đi bộ từ ga Nyaung-lun khoảng một dặm năm furlong về hướng Tây Bắc, qua làng cũ của ẩn sĩ U Khanti Jati (nay không còn nữa) và làng Pyaw, rồi đến thảo am nhỏ tại khu rừng chăn bò của Ngài U Saw về phía Đông một dặm. Đó là vào tháng Tabaung (tháng Ba) năm 1269 (Miến lịch), thời tiết rất nắng nóng.





Khi đến thảo am nhỏ, các Ngài không thấy Ngài U Saw bên trong mái lá của ngôi chùa bốn cột. Nghe thấy tiếng ôn bài từ trong bụi rậm không xa, các Ngài nhìn vào thì thấy chính là Ngài U Saw. Ngài U Saw khi thấy hai vị thầy đến thì vô cùng mừng rỡ, vừa niệm tụng bài học vang rền nhưng lại không dám bước ra chỗ các Ngài. Tiếng hót của những chú chim bìm bịp hòa cùng tiếng tụng kinh của Ngài U Saw tạo nên một khung cảnh thật thanh bình. Cho đến khi Ngài U Medhāvi đi tới thưa chuyện, Ngài U Saw mới lật đật đứng dậy đảnh lễ và ngồi xuống một cách cung kính, rụt rè như một chú tiểu.

Tại trú xứ này thậm chí không có nước uống, nên các Ngài phải nhờ một chú bé chăn bò báo tin cho thân quyến của Ngài Trưởng lão ở làng Pyaw. Chẳng bao lâu sau, các thí chủ như Pho Swat, Pho Khaung từ làng Pyaw và Pitaukkon đã mang nước uống và nước trái cây đến cúng dường. Với lòng thành kính, họ đã lập tức phát quang rừng rậm và dựng lên hai thảo am nhỏ để cúng dường.

Dù mọi thứ đã được chuẩn bị sẵn ở Lewe, nhưng vì đang có dịch bệnh đường ruột bùng phát nên Ngài Sayadaw xứ Lewe đã đến thỉnh các Ngài tạm trú tại thảo am này. Dù vị ấy đã đến thỉnh thêm một lần nữa, các Ngài vẫn không chấp nhận. “Rừng ở Lewe cũng là rừng, mà rừng ở đây cũng là rừng thôi,” với lời an ủi đó, các Ngài đã quyết định dứt khoát sẽ an trú tại trú xứ rừng của Ngài U Saw. Ngài U Saw cùng các thí chủ trong vùng cũng thỉnh cầu: “Để các Ngài có thể an tâm tu tập thiền định, chúng con xin được hộ độ tứ vật dụng và các việc công quả. Xin các Ngài hãy thường trú tại đây.” Sau đó, họ đã xác định ranh giới đất chùa một cách chính xác, xây dựng các tinh xá phù hợp và cúng dường thành di sản của Chư Tăng bốn phương (Cātuddisa Saṅghika).

### Con đường ngược dòng — Mài sắt thành kim

Ngài U Medhāvi và Ngài U Saw không nhận cơm cúng dường mang đến mà hàng ngày đều tự mình đi khất thực để nuôi dưỡng Ngài Trưởng lão. Khu rừng chăn bò dần dần trở nên thanh tịnh và an lạc.


Ngài U Medhāvī vẫn giữ phận sự tối túc (vị-kỷ, vị-tha) phục vụ Thầy như thuở còn là một Sa-di nhỏ. Ngài thỉnh thoảng quán chiếu **Kammaṭṭhāna thân hành** (Kōṭṭhāsa), **Kasiṇa đất** (Paṭhavī-kasiṇa), nhưng chủ đạo (cốt yếu, căn bản) vẫn là tu tập pháp môn **Niệm hơi thở** (Ānāpāna). Khi thực hiện các phận sự lễ bái Phật, phục vụ Thầy hay trì bình khất thực, Ngài luôn an trú vào **Tứ Niệm Xứ** (Satipaṭṭhāna) (phần **Oai nghi** (Iriyāpatha) và **Tỉnh giác** (Sampajañña)). Đôi khi Ngài hành thiền trong một thảo am nhỏ bốn cột lợp lá cây, lúc lại lui vào giữa những bụi rậm để quán chiếu. Địa thế nơi đây vô cùng hiểm trở, thực phẩm lại rất khan hiếm.

Tin tức "Hai bậc Trưởng lão đã vào rừng ẩn tu" lan truyền nhanh chóng chỉ trong vài ngày. Các vị đệ tử lớn từ khắp nơi đã rời bỏ các tự viện riêng của mình để tìm đến cầu pháp và tu học, chỉ trong ít ngày đã có khoảng mười vị. Tâm ngài U Medhāvī trở nên nặng trĩu. Những vị này đều là bậc Trưởng lão có hơn 20 hạ lạp, am tường kinh điển, là những người bạn đồng môn cùng chung một Thầy nên Ngài không thể khước từ. Hơn nữa, vì chính Ngài đã cung thỉnh vị Đại Trưởng lão đến đây nên không thể bỏ đi như lần trước được. Ách nạn do những người cùng phạm hạnh (**Brahmacārūpaddava**) gây ra dường như đang dồn Ngài vào thế bí. Khi ấy, nhận thấy không thể né tránh các phận sự với Thầy và tăng đoàn, Ngài càng tăng trưởng **Nỗ lực hành thiền** (Kammaṭṭhāna Vīriya), coi đó như hành động đối mặt trực diện thay vì né tránh.

"Kính bạch Ngài, xin hãy ban cho chúng con đề mục thiền định," một vài vị sư mới đến đã tìm cơ hội thỉnh cầu ngài U Medhāvī khi Ngài vừa hoàn thành phận sự với vị Đại Trưởng lão. Lúc hoàng hôn buông xuống, ngồi dưới gốc cây, Ngài hướng dẫn những việc **Chuẩn bị** (Parikamma) mà hành giả cần làm trước tiên, như phát nguyện và rải tâm từ chia phúc. Sau đó, Ngài thuyết giảng về phương pháp niệm **Ānāpāna**. Vì không còn bận tâm việc học hay dạy kinh điển, các vị ấy đều dành toàn thời gian để tu tập.

"Chư Hiền giả đã am tường kinh điển nên tôi không cần nói gì thêm. Chỉ cần nỗ lực với đức tin vững chắc là đủ. Điều quan trọng là phải thực hành tinh tấn (**Sātaccakārī**) — tức là làm một cách liên tục không gián đoạn, và cũng cần thực hành cẩn trọng (**Sakkaccakārī**) — tức là làm với lòng tôn kính. Phải quán chiếu lặp đi lặp lại như người thợ rèn mài sắt thành kim. Tự nhiên của chúng sinh vốn như dòng nước chảy xuôi, luôn theo đuổi dục vọng của tâm; việc lội ngược dòng là rất khó, cũng như việc ngăn chặn những tập khí tâm linh từ trong bụng mẹ là điều không hề dễ dàng. Vì vậy, nếu luôn đặt tâm tại chóp mũi và tỉnh giác biết rõ hơi thở ra vào, thì không cần phải xua đuổi các tâm khác một cách đặc biệt, tâm sẽ tự nhiên lội ngược dòng nước (trở nên thanh tịnh).

"Về vấn đề liên quan đến **Ānāpāna**, những điều đáng ngưỡng mộ và cần biết thêm, chư Hiền giả có thể tự mình tìm hiểu trong các văn bản Pāḷi (như **Kinh Đại Niệm Xứ** - Mūlapaṇṇāsa, **Kinh Niệm Hơi Thở** - Uparipaṇṇāsa, **Tương Ưng Bộ - Chương Ānāpāna**, **Phân Tích Đạo**).


Đây là con đường cổ xưa mà mọi vị Phật đều đi qua, là phương pháp **Hành thiền** (Kammaṭṭhāna) vô cùng đáng tin cậy."

### Niệm hơi thở đến mức chảy nước mũi và ngã lăn ra

"Đôi khi hơi thở ra vào dần trở nên vi tế và biến mất đến mức không thể tìm thấy. Khi ấy, không cần phải cố sức quá mức. Chỉ cần kiên trì chờ đợi: 'Nó sẽ đến', thì nó sẽ hiện khởi. Nếu cố gắng quá sức sẽ khiến thân tâm mệt mỏi và không đạt được định. **Sukhā samādhatthāya** — Thân tâm an lạc thì định mới phát sinh (**Sukhino cittaṃ samādhiyati**). Khi có định mới có **Như thật tri kiến** (Yathābhūtañāṇa). **Passambhayaṃ kāyasaṅkhāraṃ... sikkhati** — Chỉ cần rèn luyện để hơi thở thô trở nên vi tế. Việc cố gắng quá mức để hít thở nặng nề là không đúng với lời Phật dạy. Điều này cần phải lưu tâm. Cũng phải tránh những hành vi thô tháo đi ngược lại với việc **Hành thiền**."

[Trích từ chương "**Tóm lược phương pháp Định và Tuệ**" trong bộ **Pakiṇṇaka Dīpanī** tức **Moinankone Vinicchaya** quyển 2, trang 393 in năm 1295 (Miến lịch) và từ sách "**Hành trình tu tập của hội chúng**".]

Lời dạy của một vị Thầy vẹn toàn cả Pháp học (Pariyatti) và Pháp hành (Paṭipatti) thật đáng ghi nhớ. Có những người quan niệm rằng: "Vì là người phàm phu thô lậu nên phải thở thật mạnh thì mới dễ đắc định." Dù tạm thời có vẻ đúng, nhưng đối với những thiện nam tín nữ ít hiểu biết, việc chấp chặt vào đó đã dẫn đến những cảnh tượng khó coi.

Có những cảnh tượng như khi một người sắp ngồi thiền thì phải có gối và hai người trực sẵn (để đỡ nếu ngã nhào); hay trong các đại lễ, khi vừa nghe pháp vừa thực hành, họ thậm chí không còn nghe pháp nữa (**Bất kính Pháp** - Dhamma Agārava), mà nước mũi chảy ròng ròng, hơi thở khò khè, phát ra âm thanh lớn gây phiền hà cho người khác. Hơn nữa, khi mất đi sự tỉnh giác và ngã lăn ra, trông họ chẳng khác nào bị ma nhập, quỷ ám, đến mức đám đông phải khiêng đi, thật là quá giới hạn.

Giáo pháp của Đức Thế Tôn vốn đem lại sự tĩnh lặng và an lạc, khiến người ta phát tâm kính tín, lẽ nào lại dẫn đến sự khó coi như thế? — Như tục ngữ có câu: "Dùng sức lực quá mức thì không giữ được bát quan trai," chúng ta cần cẩn trọng vì điều này có thể làm lung lay đức tin và sự hiểu biết của người khác.

Chỉ khi Đức tin và Trí tuệ, Định và Tinh tấn cân bằng như hai con bò kéo xe, thì cỗ xe **Minh sát** (Vipassanā) mới có thể đến được Niết-bàn [Như đã dạy trong **Tăng Chi Bộ - Chương Ba Pháp - Kinh Nimitta** (258),


**Chương Sáu Pháp - Kinh Sītībhāva** (379), **Tương Ưng Bộ - Chương Giác Chi - Kinh Aggisutta** (99) và **Thanh Tịnh Đạo** - Quyển 1 (379)] qua ví dụ về người thợ vàng, hay người đốt lửa: — "Nếu tâm thụ động thì hãy nâng đỡ, nếu tâm phóng dật thì hãy nhiếp phục, nếu tâm hời hợt không cảm nhận được vị ngọt của pháp thì hãy quán chiếu những điều gây xúc động mạnh; khi hai con bò kéo đều vai thì cứ để chúng tự nhiên đi, cũng vậy khi các pháp đã cân bằng thì chỉ cần quan sát một cách khách quan (**Xả Giác Chi** - Bojjhaṅgupekkhā)". Đó chính là những phương pháp điều chỉnh tâm một cách điềm tĩnh và an lạc đã được dạy rõ ràng.

Ngay từ thời Đức Phật, chịu ảnh hưởng từ phái Nigaṇṭha Nāṭaputta, những người như **Thái tử Bodhi** từng nghĩ rằng: "Phải đổi khổ lấy lạc", nhưng Ngài đã dạy rằng đây là "con đường an lạc và dễ dàng theo từng cấp độ". Mong rằng mọi người có thể thấu hiểu và thực hành theo đúng **Trung Đạo** (Mazzhimapaṭipadā).

### Cách theo dõi Thọ và quán Nội Ngoại

Trong số các vị sư xin đề mục **Khai thị**, cũng có những vị đã từng nghe qua hoặc có nghiên cứu, nên một vị đã thỉnh vấn:

"Kính bạch Ngài, xin Ngài chỉ dạy thêm về ý nghĩa của việc theo dõi **Cảm thọ** (Vedanā)." Ngài đáp như sau:

"Phải hướng tâm đến nơi có **Cảm thọ**, rồi quán chiếu về bản chất **Vô thường** (Anicca) không cố định của nó; vì vô thường nên là **Khổ** (Dukkha); vì khổ nên là **Vô ngã** (Anatta), không thể làm chủ hay điều khiển theo ý muốn. Hãy lặp đi lặp lại việc quan sát: 'Biết - biết - biết'. Khi lấy **Cảm thọ** làm đối tượng để tu tập **Minh sát**, thì các yếu tố **Sắc**, **Tưởng**, **Hành**, **Thức** cũng tự nhiên hội đủ trong đó.

"Bằng cách không chạy theo những cảnh giới **Minh sát** rộng lớn không phù hợp với năng lực, mà chỉ tập trung vào phạm vi **Minh sát** hẹp, thì trí tuệ và đối tượng sẽ tương xứng như 'nồi nào vung nấy', giúp trí tuệ khai mở nhanh nhất. Quán chiếu cả **Bốn hay Năm uẩn** là phạm vi rộng, quán **Hai hay Ba uẩn** là phạm vi trung bình, chỉ khi quán **Một pháp** duy nhất mới là phạm vi hẹp.

"Về cách quán **Nội** (Ajjhatta - bên trong) và **Ngoại** (Bahiddha - bên ngoài): Khi quán chiếu Nội pháp, phải thấy rõ Nội pháp rồi mới chuyển sang Ngoại pháp; nếu chưa rõ thì không được chuyển. Khi quán chiếu Ngoại pháp cũng vậy, phải thấy rõ Ngoại pháp mới chuyển về Nội pháp. Nếu hành giả nỗ lực loại bỏ sự tham ái dính mắc (**Taṇhānikanti**) vào các hành pháp Nội - Ngoại, thì chẳng bao lâu sẽ chứng đắc **Đạo trí** và **Quả trí**. (Trong **Thanh Tịnh Đạo** có dạy rằng, chỉ khi thấy rõ sự sinh diệt của cả Ngoại pháp thì phận sự mới hoàn tất)."


**389**

“Khi thực hiện bất cứ công việc gì, như khi đi khất thực chẳng hạn, ta có thể tạm rời đề mục **Ānāpāna** (hơi thở - vốn là đề mục căn bản) để tu tập **Satipaṭṭhāna** (Tứ Niệm Xứ). Hãy quán sát theo như những gì được dạy trong các phần **Iriyāpathapabba** (Mục Oai nghi) và **Sampajannapabba** (Mục Tỉnh giác), bằng cách ghi nhận ‘biết - biết - biết’, hoặc suy xét rằng ‘**Anicca** (Vô thường), **Dukkha** (Khổ), **Anattā** (Vô ngã)’. Việc giữ cho niệm không gián đoạn, nối kết liên tục trong mọi oai nghi như vậy sẽ hỗ trợ đắc lực cho tuệ giác và đem lại lợi ích vô cùng to lớn khi ta quay lại nỗ lực với đề mục thiền định chính (căn bản).”

[Trích lục nguyên văn từ tập *Saṅkhepa Vinicchaya* và *Gaṇacārika Paṭipatti*. Đây là những lời do chính Ngài Đại đức tự thân viết ra, chỉ có một vài thay đổi nhỏ giữa ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết cho phù hợp.]

### Từ bãi chăn bò đến Phật học viện rừng Nyaung Lunt

Các vị Thiền sư mới đến cũng thực hành 13 hạnh **Dhutaṅga** (Đầu đà) bất cứ khi nào thuận tiện, giống như Ngài Đại đức **U Medhāvī**. Những gốc cây và những trảng đất trống chính là những ngôi chùa mà Đức Thế Tôn đã ban tặng cho họ. Cũng giống như những bậc thượng tọa ấy, các đệ tử lớn là trụ trì ở khắp các nơi cũng lần lượt kéo nhau về đông đúc (một điều vô cùng hiếm thấy). Đến mùa an cư năm 1271 (thời Miến Tây), sau hơn 20 hạ lạp, đã có khoảng 50 vị đại trưởng lão cùng quy tụ về đây sinh sống. Nhờ hồng ân của Tăng bảo, các trú xứ và tự viện cứ thế hình thành một cách hợp lẽ, đúng theo Luật tạng, mà chẳng cần phải kêu gọi hay thuyết phục điều gì.

Do tình hình thực tế không thể tránh khỏi, Ngài Đại đức trẻ tuổi **U Medhāvī** đã cùng bàn bạc với các bậc trưởng lão để cùng soạn thảo các quy tắc (bởi nơi đây đã trở thành một đại tự viện). Các quy định bao gồm: “Nữ nhân không được ở lại qua đêm trong khuôn viên chùa; khi có khách cư sĩ đến, không được chào đón một cách thái quá hay bày biện bàn tiệc hậu hĩnh; không được tổ chức các buổi biểu diễn văn nghệ hay tấu nhạc trong chùa.” Những quy tắc này cùng với việc thực hành hạnh **Dhutaṅga** giúp các vị tu sĩ giữ gìn nếp sống đúng theo giới luật.

Trong số 12 điều luật được thông qua theo tinh thần kết tập, để mang lại lợi ích lâu dài, các vị Tăng đã cùng nhất trí ghi nhận những quyết định luật tạng của Ngài Đại trưởng lão Monankone là chuẩn mực cuối cùng. Đồng thời, toàn thể chư Tăng cũng đề nghị và phê chuẩn một quy định: yêu cầu Ngài Đại trưởng lão đăng đàn giảng dạy trọn vẹn năm bộ **Vinaya** (Luật tạng) Pāḷi, và thỉnh cầu Ngài trực tiếp hướng dẫn học thuật.

Dưới nhãn quan của bậc học giả Pháp học (**Pariyatti**), đây rõ ràng là một điều tốt đẹp không gì bằng. Tuy nhiên, xét dưới nhãn quan Pháp hành (**Paṭipatti**), điều này cũng đáng để suy ngẫm. Một vị Đại trưởng lão tuổi cao đức trọng, người đã ba lần từ bỏ tất cả để vào rừng sâu, vượt qua bao gian nan và đã hoàn thành sứ mệnh **Pariyatti** một cách vẻ vang, vậy mà sau khi đã dấn thân vào nơi rừng thẳm với lòng quyết tâm như thế, Ngài lại phải quay về với công việc giảng dạy, còn Ngài **U Medhāvī** thì...




...lại bận rộn với việc ghi chép và soạn thảo. Có thể nói rằng, dù không thể ngăn cản được đạo quả **Arahattaphala** (Alahan quả) của Ngài **U Medhāvī**, nhưng trách nhiệm về lớp học Luật tạng và các công việc của hội chúng đã giữ chân và tiêu tốn không ít thời gian của Ngài. Chính Ngài Đại trưởng lão Monankone cũng cảm thấy mệt mỏi khi mỗi ngày đều phải đối diện với lớp học Luật tạng Pāḷi và sự thăm viếng khánh tuế đông đảo của đệ tử, cư sĩ. Ngài thường than thở:

“Ta vào rừng sâu là vì muốn lánh xa những việc này. Vậy mà về đến đây, ta lại phải tiếp tục làm chúng lần nữa.”

Khi ấy, Ngài **U Medhāvī** cảm thấy trăn trở và đã đứng ra sắp xếp để Đại trưởng lão có thể an trú một cách thoải mái nhất. Ngài chỉ thông báo cho Đại trưởng lão những việc thật sự cần thiết, giới hạn việc tiếp khách và tự mình gánh vác mọi trọng trách lớn nhỏ.

Trong kinh **Mahāsuññata Sutta** (Kinh Đại Không - thuộc *Uparipaṇṇāsa*), Đức Phật đã từng thuyết về:

“Những tác hại của việc sống hội chúng và lợi ích của việc sống độc cư. Ngay cả khi sống trong hội chúng, nếu không phải vì mục đích dạy và học mà chỉ để đàm luận về Pháp thì còn có thể chấp nhận được; nhưng nếu sống độc cư mà vẫn để cư sĩ, quyến thuộc đi theo thì đó chính là chướng ngại cho đời sống **Brahmacariya** (Phạm hạnh).”

Ngoài ra, Ngài còn dạy rằng: “Người đệ tử không nên đi theo thầy chỉ để học chữ nghĩa sách vở nếu đã học trong nhiều tháng, nhiều năm. Chỉ khi vì mục đích nghe giảng về Pháp thì dù có bị xua đuổi, người đệ tử vẫn nên kiên trì đi theo.”

### Tiếng tụng kinh Paṭṭhāna của vị Thần Cây

Nhờ sự hộ trì và hỗ trợ tận tâm của Ngài **U Medhāvī**, Đại trưởng lão Monankone đã có thể an nhiên giảng Pháp và hành thiền. Vào mùng 8 tháng Tabaung năm thắp sáng 1274 (Miến Tây), ở tuổi 65, sau 5 mùa an cư tại đây, Ngài đã viên tịch vì bệnh kiết lỵ.

Sau khi xây dựng tháp bảo để lưu giữ di cốt, Ngài **U Medhāvī** vẫn giữ trọn đạo hiếu với thầy mình. Cứ vào 3 giờ sáng mỗi ngày, Ngài lại dâng nước rửa mặt và tăm xỉa răng giống như lúc thầy còn sinh tiền. Lòng tri ân đối với bậc thầy của Ngài sâu sắc và đáng kính đến mức khó tin. Ngay cả đối với ngôi đại tháp trong chùa, Ngài cũng cung kính dâng nước sạch, tăm xỉa răng, khăn lau mặt và đèn dầu như thể Đức Phật vẫn còn đang hiện tiền; đồng thời mỗi đêm, Ngài đều thực hiện nghi thức đảnh lễ ngũ thể đầu địa (chân, tay, trán, khuỷu tay và đầu gối chạm đất) hướng về tám phương cho đến trọn đời.



**391**

Công đức từ việc phụng sự Tam Bảo không tốn kém tiền bạc thì rất nhiều, nhưng người ta chỉ có thể làm được tương thích với mức độ **Saddhā** (Tín tâm) mà họ có. Và chính nhờ có sự hiểu biết (**Paññā**) mà lòng **Saddhā** ấy mới có thể trở nên trọn vẹn. Các hành giả nên tự đánh giá chính mình qua ba tiêu chí sau:

1. Tâm bất thiện và những phiền não nóng nảy đã giảm bớt và trở nên mát mẻ đến nhường nào?
2. Thân, khẩu, ý của mình đã trở nên thuần thục và lịch sự đến mức nào?
3. Niềm tin và lòng tri ân đối với Tam Bảo đã trở nên vững chắc đến đâu?

Đó chính là những dấu mốc cho thấy sự tiến bộ trong việc chứng đắc Pháp cao thượng.

Trong việc thực hành các giới hạnh như **Sīla** (Giới) đối với Tam Bảo, nếu vì bản thân không thực hành được hoặc vì đã lỡ phạm phải mà muốn che giấu, thì tuyệt đối không được có suy nghĩ rằng: “Điều này không quan trọng lắm đâu”. Không được nói lời sai trái, không được tự lừa dối hay quanh co với chính mình.

Tại thiền viện Nyaung Lunt, nơi được chia làm đôi thành hai khu vực đông và tây để tách biệt Pháp hành (**Paṭipat**) và Pháp học (**Pariyat**), Ngài **U Medhāvī** vẫn miên mật tu tập không ngủ ngay cả sau khi thầy mình đã qua đời. Sau 10 giờ đêm, Ngài luôn ẩn mình vào nơi tĩnh mịch để chuyên tâm thiền định. Cho đến khoảng 6 năm trước khi nhập Niết-bàn, Ngài vẫn tự mình thực hiện các hạnh **Dhutaṅga** như đi khất thực; đồng thời thực hành hạnh ‘**Sāraṇīyabhatta**’ (vật thực hòa hợp) - tức là đem toàn bộ vật thực khất thực được dâng cúng hết cho Tăng chúng, rồi sau đó mới thọ dụng những gì Tăng chúng nhường lại.

[Cách thực hành hạnh **Sāraṇīyabhatta** – một công hạnh giúp mang lại phước báu đầy đủ đến mức người ta thường nói ‘hễ có cây là có cơm’ – đã được viết chi tiết kèm theo các câu chuyện minh họa trong cuốn sách ‘*Những bậc Thánh mẫu mực thời Tey-ho (Sri Lanka)*’.]

Đôi khi vào ban đêm, trong nơi tĩnh tu, người ta nghe thấy tiếng tụng đọc kinh **Paṭṭhāna** (Vị Ngạch) phần **Pañhāvāra** vang lên lảnh lót. Tiếng tụng ấy nghe rõ hơn vào những đêm trăng rằm. Khi lần theo hướng phát ra âm thanh, tiếng tụng cứ thế xa dần, xa dần. Đôi khi, người ta thoáng thấy bóng dáng một vị đắp y cà-sa. Đó chính là Ngài Đại trưởng lão Monankone nay đã trở thành vị Thần Cây (Rukkhaso). Ngài được cho là luôn trông nom và bảo vệ những người hành thiền, nếu có hiểm họa gì sắp xảy đến, Ngài sẽ báo trước để họ kịp thời hay biết. Ngài thường ngụ tại một gốc cây gần tháp mộ và thường xuyên đi tuần quanh khu vực bìa rừng nơi các hành giả tĩnh tu.

Ngày xưa, có nhiều vị Đại trưởng lão học rộng tài cao thường có tâm nguyện muốn trở thành Thần Cây để “chờ ngày dự lễ **Dhātuparinibbāna** (Xá-lợi nhập Niết-bàn)”. Đó chẳng qua là vì họ chưa nhận chân được sự thăng hoa của kiếp người hiện tại và thiếu đi tuệ giác để thấu thị con đường **Niyyānika** (Đạo giải thoát) của giáo pháp, nên mới cam chịu từ bỏ cơ hội đạt đến mục đích tối thượng để đổi lấy một sự an nhàn tạm bợ. Khi mà một người vẫn chưa đạt được bất cứ pháp cao thượng nào, thì việc phải sống một đời dài đằng đẵng trong thân phận Thần Cây quả thực là một điều đáng chán nản và tẻ nhạt vô cùng.


#### Đắc chứng Thiền định và Nhãn thông

Từ năm 1274 (Miến lịch - khoảng 1912 DL), Ngài Hòa thượng đã nỗ lực tinh tấn tu tập pháp hành **Vipassanā** (Minh sát) bằng cả mạng sống. Có một đêm, tại ngôi giảng đường lớn phía bắc gần bảo tháp Xá-lợi, Ngài thức trắng đêm hành thiền. Tiếng ồn ào như có vật gì leo lên hạ xuống phía ngoài vách gỗ liên tục vang lên rầm rập, khiến Ngài khó lòng duy trì định tâm.

Ngài tự nhủ: "Hẳn là đồ chúng của Ma vương. Nếu có thể sát hại thân mạng ta thì cứ để chúng làm, việc của ta thì ta vẫn phải làm." Với tâm xả ly thân mạng, Ngài tiếp tục nỗ lực tu tập, hoàn toàn buông xả đối với những âm thanh náo loạn xung quanh. Đến ba giờ sáng, khi vị Sa-di nhỏ mang nước rửa mặt đến, Ngài bảo vị ấy kiểm tra thì phát hiện một con rắn lục lớn dài khoảng bảy tạng (hơn 3 mét), nhưng chỉ một lát sau nó liền biến mất một cách kỳ lạ.

Nhờ tinh thông pháp Anāpāna (Niệm hơi thở), Ngài đã đắc chứng định sắc giới, định vô sắc giới và đạt được Tám bậc Thiền định (Thiền bát định). Một khi đã tinh thông một đề mục, các pháp nghiệp xứ khác cũng tự nhiên trở nên dễ dàng. Một ngày nọ, khi đang giảng về chương Thiền của tạng Abhidhamma (Vi diệu pháp), Ngài dạy rằng:

"Khi định lực của chúng ta đã mạnh mẽ, bất kể là pháp thiền định hay Kasina (đề mục biến mãn) nào, chỉ cần hướng tâm đến là sẽ hiện rõ ngay lập tức. Thậm chí khi nhìn vào những chiếc lá trên cây, đề mục Blue Kasina (biến mãn màu xanh) liền được tu tập thuần thục ngay tại đó."

Do thường xuyên nhập Thiền bát định, dù chưa đạt đến Thắng trí (Abhiññā), nhưng với định lực bậc Đại hành (Mahaggata), Ngài có thể nhìn thấy các chúng sinh vô hình rõ ràng như nhìn bằng mắt thường. Khi Ngài quang lâm dự lễ kiết giới Sīmā tại làng Khin Tan ở thị trấn Nyaunglebin, vào khoảng ba giờ sáng, Ngài đi bộ một mình đến khu nghĩa trang gần làng để hành thiện định ban mai. Tại đó, Ngài thấy vô số ma quỷ hiện ra quấy nhiễu; Ngài đã rải tâm từ và tụng kinh Āṭānāṭiya, khi ấy chúng mới chịu tản đi.

Một ngày nọ, khi Ngài đang hành thiền trên giảng đường Wat Yon, tại bậc thềm nơi cởi giày có một con ngạ quỷ đang ngồi phủ phục. Ngài hỏi:
"Ngươi là ai?"

Nó đáp: "Bạch Ngài, con là Nandiya, xin Ngài cứu độ cho con." Đó vốn là một vị tỳ-khưu hộ tự trước đây, dù giới hạnh trong sạch nhưng vì tâm còn luyến ái thân xác nên sau khi viên tịch đã rơi vào cảnh giới ngạ quỷ, thân hình tiều tụy gầy mòn, không có gì ăn, không có gì mặc. Ngài đã hướng dẫn các thí chủ làm phước hồi hướng; ngay đêm đó, với thân hình hào quang sáng chói, vị ấy hiện ra đỉnh lễ và thưa:

"Bạch Ngài, giờ đây con đã được tái sinh lên thiên giới."


Trong việc cứu độ chúng sinh, giáo pháp của đức Thế Tôn thật dễ hiểu, sắc bén, đem lại niềm hỷ lạc và là nơi nương tựa vững chắc thay!

#### Dùng Chánh pháp ngăn ngừa bệnh tật

Ở thế gian, những người có trí hiểu biết thường phải làm việc nhiều hơn. Vào thời các Ngài Hòa thượng Nyaunglun, các dịch bệnh như dịch hạch, dịch tả, đậu mùa hoành hành dữ dội. Giống như việc sử dụng các thấu kính có độ phóng đại khác nhau sẽ thấy hình ảnh khác nhau, trong việc phòng chống bệnh tật, cái nhìn của mỗi người cũng không đồng nhất. Người thì cho là do thời tiết, người bảo do vi khuẩn, kẻ nói do chuột chết, người lại cho là do thần linh quở trách... mỗi người nói theo cách mình thấy và phòng ngừa theo cách mình hiểu. Chỉ trong giáo lý Phật Đà mới có cái nhìn toàn diện nhất.

Cũng giống như Hòa thượng Ledi, Hòa thượng Nyaunglun cũng phải đối mặt với các bệnh dịch. Do phước đức và giới hạnh của con người suy giảm, lương thực khan hiếm, nên các nạn bệnh do phi nhân gây ra càng nhiều.

Xưa kia, khi thành Vesālī gặp nạn đại dịch, Ngài Ānandā đã trì tụng kinh Ratana Sutta suốt cả đêm để cứu độ. Tương tự, vì số lượng các bậc thiện tri thức có đủ sức mạnh Giới - Định - Tuệ còn quá ít ỏi so với vô số kẻ bất thiện, nên các Ngài phải lao tâm khổ tứ rất nhiều. Giống như vừa phải tiến lên đánh giặc ở phía trước, vừa phải lùi lại chăm sóc bệnh nhân ở phía sau, công việc vì thế mà gặp nhiều gian nan.

Khi đại dịch lan rộng khắp các vùng phương hướng, Ngài nhìn thấy vô số Dạ-xoa, Ngạ quỷ đang tiến về phía tự viện và các làng mà Ngài thường đi khất thực nhiều như những đàn trâu lớn. Ngài đã khuyến tấn tất cả tăng ni, phật tử giữ gìn giới hạnh, tu tập tâm từ, đồng thời cho trì tụng các bài kinh Paritta và Kammavāca liên tục. Nhờ đó, vùng xung quanh nơi Ngài ngụ không xảy ra dịch bệnh. Những làng mới bắt đầu nhen nhóm bệnh dịch cũng được dập tắt hoàn toàn. Ngài cũng nhìn thấy các nhóm phi nhân lánh xa vùng của Ngài để đi sang các vùng xaôi khác, khiến dân chúng nơi đó phải chịu khổ sở vì bệnh tật.

#### Tại sao không đắc được Thắng trí?

Từng ngày trôi qua, thân hình Ngài Hòa thượng càng trở nên gầy gò, chỉ còn da bọc xương, chỉ giữ được mạng sống mong manh. Có khi suốt cả mùa hạ, Ngài tạm dừng việc giảng dạy để dốc hết tâm lực vào tu tập. Tuy nhiên, Ngài chỉ đạt được định thế gian, tâm thường hướng về các cảnh giới ngoại cảnh bên ngoài. Ngài lại xoay sang tu tập để tìm cách đạt được các năng lực Thắng trí (Abhiññā - Thần thông).


Tăng thống (Sayadaw U Nāyaka) hiện tại từng bạch hỏi Ngài: "Nếu việc đắc các bậc Thiền bát định, Thập Kasina và Pháp bất tịnh (Asubha), Tứ vô lượng tâm (Brahmavihara) đã trở nên dễ dàng như vậy, thì tại sao thời nay lại không thể đắc chứng Thắng trí?" Hòa thượng đã chia sẻ quan điểm của mình dựa trên kinh nghiệm thực chứng như sau:

"Để đắc chứng Thắng trí vào thời nay là cực kỳ khó khăn. Tại sao vậy? Bởi vì chúng sinh không còn giữ gìn Chánh pháp, khiến thời tiết bị biến đổi nghịch thường. Thời tiết biến đổi dẫn đến các sắc pháp do thời tiết tạo (utuja-rūpa) và các nguồn lương thực, vật thực phụ thuộc vào thời tiết bị biến chất, suy thoái. Con người khi tiêu thụ những thực phẩm đó thì các sắc pháp do vật thực tạo (āhāraja-rūpa) cũng trở nên kém cỏi. Khi các loại sắc pháp này suy yếu thì các sắc pháp do nghiệp tạo (kammaja-rūpa) liên đới cũng không còn vững chắc. Tâm thức và định lực nương tựa trên các sắc pháp suy yếu đó cũng không thể đạt đến sức mạnh tối ưu. Do sắc pháp và tâm pháp đều suy yếu, nên cấu trúc thân xác (attabhāva-khandha) không bền vững. Theo như Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) đã dạy, con người không thể điều phục tâm theo 14 cách thức, nên dù có đắc được Thiền bát định cũng không thể làm nảy sinh Thắng trí được."

Đó là quan quan điểm của Ngài Hòa thượng.

Vùng đất nơi Ngài ngụ cư khi ấy đang lâm vào cảnh cực kỳ khó khăn: hạn hán kéo dài, lương thực khan hiếm, bệnh tật bủa vây, và khoa học kỹ thuật chưa phát triển. Nhìn vào bối cảnh thời gian và không gian đó, những lời dạy của Ngài là hoàn toàn xác đáng. Tuy nhiên, thời đại ngày nay tuy cách không xa về thời gian nhưng bối cảnh đã hoàn toàn khác biệt. Nguồn thực phẩm đã phong phú và tốt hơn; y tế, thuốc men và dinh dưỡng đã phát triển vượt bậc. Nếu suy xét kỹ, sự tiến bộ về điều kiện sống và y tế là rõ rệt.

Gác lại chuyện vật thực, thực tế vẫn có những trường hợp không ăn uống mà vẫn có thể duy trì mạng sống trong nhiều tháng ngày. Trong bốn nhân tố Nghiệp, Tâm, Thời tiết, Vật thực (Kamma, Citta, Utu, Āhāra), thì Tâm là chủ đạo. Các bản chú giải và phụ chú giải (Aṭṭhakathā, Tīkā) cũng khẳng định rằng: "Tâm - sắc do tâm tạo mới là nhân tố dẫn dắt và kiểm soát các sắc do các nhân tố còn lại tạo ra." Do đó, quan điểm của Ngài Hòa thượng là đúng đắn khi xét trong bối cảnh thời đại và địa phương nơi Ngài sinh sống.

Dù vật thực có thô sơ đến đâu, thì có lẽ cũng chưa đến mức tồi tệ như thời đức Phật và các vị đệ tử phải dùng lúa mạch của ngựa. Nguyên nhân chính yếu có lẽ là do chưa hội đủ sức mạnh của thời đại để đạt đến những tầm cao đó.

Sự hiểu biết rõ ràng như vậy (về giáo pháp) cũng có thể đạt được.



Dù thế nào đi nữa, chính việc Ngài thiền sư đã tự mình nỗ lực thực hành để đắc đắc Thắng trí (Abhiññā - Thần thông) và những trải nghiệm thực chứng mà Ngài thuật lại quả thực vô cùng thú vị, đáng sùng kính và đầy cảm hứng.

#### Lời dự ngôn đầy khích lệ cho tương lai của Giáo hội

"Ta đã quyết tâm rằng nếu không đắc được Thắng trí thì không thôi, và đã nỗ lực uốn nắn tâm bằng cách thực hành 'chơi định' (jhāna kīḷā) qua 14 phương thức như được dạy trong Thanh Tịnh Đạo. Ta có thể nhập thuận dòng từ sơ thiền cho đến định cao nhất là **Phi tưởng Phi phi tưởng xứ**. Nhưng vừa khi kết thúc thuận dòng, tay chân ta không còn nhấc nổi nữa. Ta có cảm giác rằng nếu nỗ lực nhập nghịch dòng (từ cuối trở lại đầu) thêm một lần nữa, có lẽ các mạch máu và hệ thần kinh sẽ đứt tung ra ngay lập tức. Vì vậy, ta đã phải buông tay.

"Điều này xảy ra là do thân xác không đủ bền vững. Tuy nhiên, nếu quý vị và toàn thể quốc dân đều hộ trì chánh pháp, khiến thời tiết khí hậu trở nên thuận lợi, thì ngay cả ngoài thời kỳ Giáo pháp (Sāsana) còn có thể đắc được, huống hồ là trong thời Giáo pháp này, lẽ nào lại không thể? Chắc chắn là có thể đắc được.

"Về sau, khi những bậc kỳ tài có túc duyên (katādhikāra - người đã từng phát nguyện và tích lũy công đức) và đầy đủ ba-la-mật xuất hiện, họ có thể đắc được các tầng Thiền định (Samāpatti), Thắng trí (Abhiññā) và Minh (Vijjā) như Túc mạng minh, Thiên nhãn minh, Lậu tận minh... cùng một lúc với Đạo quả mà không cần phải tu tập quá lâu. Khi ấy, những bậc kỳ tài đắc thắng trí và minh hạnh sẽ lại hiện khởi."

Ngài thiền sư thường xuyên nhắc lại lời này trong khi giảng dạy hoặc bất cứ khi nào có cơ hội đàm đạo thuận tiện.

Chính lời huấn thị này là một lời dự ngôn (cho tương lai của Giáo pháp) rằng sau khi các vị tôn túc không còn nữa, "những bậc A-la-hán kỳ tài đắc Thiền định và Thắng trí sẽ xuất hiện". Nói như vậy có nghĩa là thời đại này sẽ không trở nên tồi tệ như nhiều người lầm tưởng, trái lại, Giáo pháp sẽ còn tỏa sáng rạng ngời hơn, điều đó là chắc chắn.

"Thời nay là thời mạt pháp (giảm kiếp), tuổi thọ con người ngắn ngủi, ác hạnh tràn lan, hiểm họa đối với Giáo pháp và những tà thuyết hỗn tạp quá nhiều, con đường đạt đến pháp thượng nhân đã trở nên xa vời. Việc xuất hiện những bậc A-la-hán kỳ tài đắc Thiền định và Thắng trí quả thực là...



...còn khó khăn hơn nữa" – đó là những điều mà người ta thường hay bàn tán theo ý riêng của mình.

Những người có tư duy, có học thuật khi nói thường đưa ra những lý lẽ, dẫn chứng khiến người nghe dễ bị lung lay. Tuy nhiên, quan điểm cá nhân không phải là cái nhìn thực chứng. Chúng ta cũng không nên máy móc áp dụng sự phân chia năm thời kỳ (năm ngàn năm Giáo pháp) mà các bậc sớ giải đã đưa ra một cách khái quát. Không một thời đại hay một cá nhân nào có thể ngăn cản được một bậc "đã có túc duyên" (Katādhikāra).

Các thời đại mà những bậc Thánh Ariya kỳ tài đắc Thiền định và Thắng trí như **Ngài Moggaliputta Tissa**, **Ngài Nāgasena** (Na-tiên), **Ngài A-ra-hán** (Shin Arahan), **Ngài Dibbacak** xuất hiện, vốn không phải là những thời đại hoàng kim. Đó là những giai đoạn mà các quan điểm học thuyết trong Giáo pháp hỗn loạn nhất. Người ta thậm chí đã nghĩ rằng "liệu có thể chấn hưng được nữa không?". Về phương diện thế gian, cũng không có thời đại nào loạn lạc hơn thế. Chính những thời kỳ hỗn loạn, bế tắc và tồi tệ đó lại là lúc thỉnh mời được những bậc vĩ nhân có năng lực phi thường đến để xoay chuyển cục diện. Càng gần bình minh, trời càng tối.

"Người tốt thì chỉ có một vài, kẻ ác thì quá đông" – đây không phải là chuyện có thể suy xét dựa trên phương diện vật chất. Sức mạnh của Chánh pháp (Dhamma-bala) là thứ không thể nhìn thấy bằng mắt thường. Cả thế gian có thể chìm trong bóng tối, nhưng mặt trăng và mặt trời chỉ có một. Theo ví dụ đó, Đức Thế Tôn cũng đã từng ban lời tán thán (Sīha-nāda) cho các vị A-la-hán rằng:

"**Somaṃ lokaṃ pabhāseti, abbhāmutto ca candimā** = Người ấy soi sáng thế gian này, như mặt trăng thoát khỏi đám mây mù" (Ở đây, **Lokaṃ** - thế gian - theo nghĩa gốc chính là ngũ uẩn của tự thân).

"Nơi nào các bậc thánh nhân (ājāniya) xuất hiện, nơi các bậc A-la-hán cư ngụ, nơi đó sẽ được an lạc và thái bình" – Ngài cũng đã dạy như vậy.

Lời dự ngôn của Ngài thiền sư cho đến ngày hôm nay đã bắt đầu ứng nghiệm. Các vị đại hòa thượng đang còn tại thế, những bậc có tri kiến thực chứng cũng đang hiển lộ cho những người có đức tin thấy về "Giáo pháp ngày nay đang bước vào một thời kỳ phục hưng mới sau cột mốc 2500 năm".

"**Mā vo khaṇo upaccagā** = Đừng để cơ hội tốt lành này trôi qua mất."

#### Những nguy hại của Thiên nhãn và Thiên nhĩ

Từ năm 1274 đến sau năm 1280 (Miến lịch), trong khoảng bảy, tám năm trời, Ngài thiền sư dường như chỉ đắm mình trong việc 'chơi' các tầng định và hướng tâm ra các cảnh giới bên ngoài (bahiddha). Khi chuyển sang thực hành Minh sát (Vipassanā), Ngài lại không đạt được kết quả. Do nhiều năm khổ hạnh, ít ăn thiếu ngủ và nỗ lực quá độ, thể lực của Ngài suy kiệt, dẫn đến bệnh tật bủa vây.


Các Vị A-la-hán và Những Bậc Kỳ Tài


Trong khi quán chiếu thọ uẩn, vào những lúc không thể chịu đựng nổi, tâm Ngài dường như lại rơi vào các cảnh giới bên ngoài (như quan sát cõi người, cõi trời...) để tìm sự nhẹ nhõm.

Đối với hạng phàm phu, việc 'chơi' thiền định hay có được khả năng nghe thấy, nhìn thấy những cõi xa xăm là điều rất nguy hiểm. Vì vậy, "hành giả không được chạy theo các ảo ảnh (nimitta), mà phải quán chiếu để thấy rõ hơn nữa sự sinh diệt của các pháp."

Trong chương nói về Tử sinh trí (Cutūpapāta) của Thanh Tịnh Đạo và Đại Sớ Giải (Mahāṭīka) có dạy rằng:

"Đối với phàm phu, Thiên nhãn trí (**Dibbacakkhu**) chứa đựng nhiều hiểm họa. Nó có thể khiến hành giả 'điên vì thiền', do đó cần phải dồn hết tâm lực vào Minh sát."

Thực vậy, nếu các khả năng nghe thấy, nhìn thấy này không được kiểm soát bởi Thánh Đạo thì sẽ rất nguy hiểm. Không chỉ nói đến hạng phàm phu còn đầy rẫy điên đảo (vipallāsa), mà ngay cả các bậc Thánh tầng thấp cũng có thể bị trì trệ. Do đó, Đức Thế Tôn cũng đã từng thuyết giảng chi tiết cho **Ngài Anuruddha** – vị đệ nhất Thiên nhãn – về những hiểm họa liên quan đến trí này (trong **Kinh Ưu-ba-kỷ-lê-xá - Upakkilesa Sutta**, Trung Bộ). Khi Ngài Anuruddha đang gặp tình trạng Thiên nhãn lúc được lúc mất, định tâm không ổn định, Đức Thế Tôn đã thuyết về các tiền thân của Ngài khi còn là Bồ-tát và dạy rằng:

"**Atinijjhāyitattaṃ rūpānaṃ cittassa upakkileso** = Việc mải mê quan sát quá mức các sắc cảnh bên ngoài chính là một tùy phiền não của tâm." Ngài đã chỉ ra cách thức mà việc có được thiên nhãn dẫn đến các tầng phiền não như thế nào.

#### Những chấp thủ tinh vi

(Trong **Kinh Thí Dụ Con Rắn - Alagaddūpama Sutta**), Đức Thế Tôn dạy rằng cũng giống như chiếc bè phải bỏ lại sau khi đã sang sông, "đến cả **Pháp** còn phải từ bỏ, huống hồ là **Phi pháp**". Ngài dạy phải từ bỏ sự dính mắc trong thiền định (Samatha) và cả sự dính mắc trong trí tuệ Minh sát (Vipassanā-ñāṇa).

(Trong **Kinh Thí Dụ Con Chim Chim Cút - Laṭukikopama Sutta**), Ngài dạy từ bỏ sự dính mắc trong các tầng thiền cho đến định Phi tưởng. (Trong **Kinh Đại Tận Khổ - Mahātaṇhāsaṅkhaya Sutta**), Ngài dạy từ bỏ sự bám víu vào ngay cả những tầng bậc tinh vi của tuệ Minh sát. Tất cả những sự vướng mắc đó đều là "Pháp tầm" (Dhamma-vitakka) còn gọi là "Tùy phiền não của Minh sát" (Vipassanūpakkilesa), vốn được thúc đẩy bởi sự ái luyến (nikanti) ngấm ngầm (Theo chú giải **Kinh Pṃsudhovaka**). Do đó, Ngài lại dạy rằng "không tác ý đến tất cả các tướng (nimitta), phải an trú để đạt được **Vô tướng Tâm định** (Animitta cetosamādhi)" (Trong **Kinh Vô Tướng - Animitta Sutta**, Tương Ưng Bộ).

Người thợ đốn củi dùng chiếc rìu cực bén để chặt cây, khi những mảnh gỗ văng ra tung tóe, nếu anh ta cứ mải mê nhìn và tự đắc rằng "Chiếc rìu của ta bén quá nhỉ!" mà quên mất việc chặt, thì công việc sẽ chẳng tiến triển được bao nhiêu. Đó là ví dụ mà bậc Sớ giải (Sāratthappakāsinī) đã đưa ra.


**“Trách nhiệm của hành giả chỉ là nỗ lực chặt đứt gốc rễ của cội cây thân xác này cho đến cùng tận, không được dừng nghỉ.”**

Có một thời, tại thiền viện của Ngài Đại sư Mahāsi, một vị Trưởng lão nổi danh bậc nhất (Agga Mahā) đang hành thiền thì trình bày sở đắc của mình với vị tín nữ thí chủ đã thỉnh Ngài đến. Vị tín nữ thấy Ngài cứ lẩn quẩn “ngày nào cũng bấy nhiêu đó” mà không tiến bộ thêm, nên mất kiên nhẫn nói rằng: “Con thỉnh Ngài đến để hành thiền, mà sao Ngài cứ như đang ngồi xích đu hay xem phim vậy, chẳng thấy tiến thêm bước nào cả”. Ý bà muốn nói rằng Ngài đang bị sa đà, dính mắc vào hỷ (pīti) và linh ảnh (nimitta).

Tại điểm này, chúng ta nên suy ngẫm về tấm gương của Ngài Ānanda, vị đệ nhất về Thiên nhãn thông. Khi Ngài chưa thể đắc quả A-la-hán, nhờ gặp được bậc thiện tri thức như Ngài Sāriputta chỉ ra những chướng ngại vi tế mà Ngài đã đoạn tận lậu hoặc và chứng đắc A-la-hán. Ngài Ānanda đã bạch với Ngài Sāriputta rằng:

“Bạch Ngài, với thiên nhãn, con có thể nhìn thấu cả ngàn thế giới. Tinh tấn của con không thối chuyển, niệm căn luôn thiết lập, thân luôn an tịnh và định tâm luôn kiên cố. Dù vậy, tại sao con vẫn chưa thể chứng quả A-la-hán?”

Lúc bấy giờ, Ngài Sāriputta nhận thấy câu trả lời nằm ngay trong chính lời bạch của Ngài Ānanda, nên đã chỉ dạy:

“Này Hiền giả, ý nghĩ ‘tôi có thể thấy ngàn thế giới’ chính là mạn (māna). Ý nghĩ ‘tinh tấn không thối chuyển, định tâm kiên cố’ chính là sự phóng dật của tâm (uddhacca). Còn lời thắc mắc ‘tại sao dù đã như vậy mà vẫn chưa đắc quả’ chính là sự hối tiếc, nghi nan (kukkucca). Hãy từ bỏ ba chướng ngại Mạn - Phóng dật - Hối này. **‘Amatāya dhātuyā cittaṃ upasaṃharatu’ – hãy hướng tâm thẳng đến cam lộ diệt độ (Niết-bàn)**.” Khi những chướng ngại này được chỉ ra, Ngài Ānanda liền đắc quả A-la-hán (Kinh Anuruddha, Tăng Chi Bộ).

Do đó, trên lộ trình thánh đạo ngày càng vi tế, điều tối quan trọng là phải có bậc thiện tri thức chỉ dẫn và bản thân phải là người dễ dạy, biết vâng lời để đoạn trừ các chướng ngại, sớm hoàn tất phận sự.

### Kiến chứng toàn thể thế giới

Đức ngài (Ngài Thiền sư Nyaung Lunt) gác lại các đối tượng ngoại cảnh, chỉ tập trung quán xét Tam tướng (Lakkhaṇā). Khi ấy, toàn bộ hình tướng thế gian dường như biến mất, chỉ còn lại sự sanh diệt hiện rõ. Có lúc Ngài đi đứng không vững, thân hình lảo đảo, phải nỗ lực chánh niệm lắm mới có thể bước đi. Có khi do tinh tấn quá mãnh liệt, các cơn đau bệnh khởi lên dường như không thể chịu đựng nổi.

Đến năm 1282 (Âm lịch Miến Điện), nhận thấy tính chất cấp bách, Ngài đình chỉ mọi lớp học trong suốt một mùa hạ, quyết chí tu tập không ngủ nghỉ với lời nguyện: “Dẫu có thác cũng là sự thanh cao”.



1. Ngày 11 tháng Nayon năm đó, vào lúc 3 giờ sáng, khi đang tọa thiền trên chiếc ghế mây quen thuộc tại chùa Wat Yone, Ngài đã chứng đắc Đạo Quả tầng thứ nhất (Tu-đà-hoàn).

2. Ngày 18 (3 ngày sau trăng tròn) tháng Nayon năm đó, vào lúc 11 giờ đêm, tại phòng học phía Bắc chùa Wat Yone, Ngài hoàn tất tầng thứ hai (Tư-đà-hàm).

3. Ngày 20 (5 ngày sau trăng tròn) tháng Nayon năm đó, vào lúc rạng đông, tại ngôi chùa dưới bóng cây Phan-kha (Phyllanthus emblica) thuộc khu vực Kammatthan Chaung, Ngài hoàn tất tầng thứ ba (A-na-hàm).

4. Ngày 22 (7 ngày sau trăng tròn) tháng Nayon năm đó, vào lúc 3 giờ sáng, sau khi dâng nước rửa mặt và cúng dường đèn dầu lên tòa Bảo tháp, Ngài tựa lưng vào tường gạch của giảng đường, hướng mặt về phía Bắc để hành thiền. Đến 4 giờ sáng, lúc rạng đông, Ngài đã chứng đắc Lậu tận thông (Āsavakkhaya-ñāṇa), bước vào quả vị A-la-hán cùng với Lục thông (bao gồm **Túc mạng thông** – Pubbenivāsa-ñāṇa: nhớ lại các tiền kiếp; và **Thiên nhãn thông** – Dibbacakkhu-ñāṇa: thấy thấu suốt những gì muốn thấy như mắt chư Thiên).

Kể từ thời điểm đó, Ngài có thể nhìn thấy các kiếp sống trong vòng luân hồi của chính mình và của chúng sanh khác.

Ngài có thể thấy rõ ràng bằng tuệ nhãn thực trạng của cõi người, cõi trời, cõi Phạm thiên và tám đại địa ngục... Ngài thấu suốt sự chết, sự sống, nơi đi, chốn về của chúng sanh theo nghiệp lực, cũng như những sự việc sẽ xảy ra trong tương lai. Ngài (để khích lệ các đệ tử đang xả thân tu tập) đã chia sẻ rằng, cái thấy này vượt xa hàng vạn lần so với cái thấy bằng định hiệp thế (Lokī Samādhi) trước đây, nó thấu suốt và sáng tỏ vô cùng.

[Để quý vị tiện ghi nhớ, tôi xin trình bày các mốc thời gian năm, tháng, ngày một cách liên tục như trên.]

Sau khi chứng đắc A-la-hán quả, vào buổi chiều ngày hôm sau tại Kammatthan Chaung, khi các bậc Trưởng lão đồng tu và các vị tỳ-khưu trẻ cùng hội tụ đông đủ để đảnh lễ, với sắc diện sáng ngời và uy nghi tĩnh lặng, Ngài giáo giới:

“Này chư Hiền giả, giáo pháp của bậc Đạo sư nếu nỗ lực tinh tấn không ngừng nghỉ, thậm chí hy sinh cả mạng sống để thực hành đúng đắn, thì nhất định sẽ đạt được kết quả. Hãy tin tưởng và nỗ lực không thối chuyển. Đúng như lời dạy **‘Sayaṃ abhiññā sacchikatvā’** (tự mình thắng tri, chứng đắc), quý vị sẽ trực tiếp kiến chứng một cách rõ ràng để có thể tự mình quyết định lấy vận mệnh tâm linh.



**‘Vesārajjappatto’** – Hãy làm việc của mình cho đến khi thành thục, thiện nghệ và tự tin. **‘Aparappaccayo’** – Khi ấy quý vị sẽ có tuệ giác tự tin nơi chính mình mà không cần phải nương tựa hay tôn ai làm thầy nữa (về phương diện sở chứng). Một khi đã **‘Diṭṭhadhamma’** (thấy Pháp), **‘Pattadhamma’** (đạt Pháp), **‘Viditadhamma’** (biết Pháp), thì đúng như lời dạy **‘Vigata kathaṃ katho, tiṇṇavicikicchā’**, những hoài nghi, phân vân trước đây kiểu như ‘liệu có thực hay không’, những suy nghĩ lưỡng lự về Giáo pháp cũng như về ba-la-mật của bản thân sẽ lập tức tan biến, mọi thứ sẽ trở nên sáng tỏ như ban ngày. Nếu thực lòng tin tưởng và thực làm thì sẽ được thật, nay tôi mới có thể mạnh dạn khẳng định và khuyến tấn quý vị đúng như lời xác chứng của đức Thế Tôn. Hãy cố gắng lên!”

### Ngài Webu Sayadaw tự thân chứng kiến hóa thân của Ngài Nyaung Lunt

Những lời dạy như “Lẽ nào không đắc được Thắng trí (Abhiññā)” đã được trình bày theo tiểu sử của Ngài Nyaung Lunt.

Theo tiểu sử, chúng ta đã được chiêm bái đức tính của Ngài Nyaung Lunt rằng dù đã nỗ lực chứng đắc Thắng trí nhưng (ban đầu) không được, sau đó Ngài đã hoàn tất phận sự tỳ-khưu bằng Tam minh (Te-vijjā) và trở thành vị Thánh A-la-hán Tam minh Trưởng lão. Tuy nhiên, sau khi bổn sư là Ngài Webu Sayadaw viên tịch, thông qua việc nghiên cứu về cuộc đời Ngài Webu, chúng ta được dịp chiêm bái thêm những ân đức bổ khuyết của vị cao tăng Nyaung Lunt.

Vào khoảng năm 1285, khi được khoảng 8 tuổi hạ, tiền thân của Ngài Webu Sayadaw rời khỏi khu rừng Shwebo Patheingyi, đi khắp các vùng núi rừng để thực hành pháp niệm hơi thở (Anāpāna). Chỉ trong vòng vài tháng, Ngài dường như đã đạt được các thần thông hiệp thế và chứng đắc đến tầng thứ ba (A-na-hàm). Không biết có phải vì muốn tìm cầu sự xác chứng thêm cho những gì mình đã chứng ngộ hay không, mà ngay trong năm đó, Ngài đã tìm đến thiền viện Nyaung Lunt. Tại đây, Ngài bắt gặp một vị tỳ-khưu đang quét dọn cung kính bên một ngôi bảo tháp, Ngài liền tiến đến đảnh lễ. Vị tỳ-khưu hỏi han sự tình rồi nói:

“Ngài Nyaung Lunt hiện đang dạy học trên giảng đường lớn. Sẽ xong sớm thôi. Ngài hãy tạm đợi ở đây một chút.”

Vị tiền thân của Ngài Webu trong lúc chờ đợi tại ngôi tháp cũng tranh thủ làm các phận sự quét dọn khuôn điện tháp (Cetiyaṅgana). Một lúc sau, vị tỳ-khưu ấy chỉ tay về phía đoàn tăng chúng đang rời khỏi giảng đường...



Đang chỉ dạy...

"Thôi thôi, này Hiền giả (U-pa-zin), lớp học kinh điển xong rồi. Mời ngài lên đường thôi." Trong khi vừa nói vừa cầm chổi đứng đó, vị tương lai của Ngài Webu sau khi đảnh lễ xong đã đi lên ngôi trường kinh điển (Cà-cha-kyun); bấy giờ ngài mới có cơ duyên được tự mình diện kiến và khởi tâm tịnh tín về việc **Ngài trưởng lão Nyaung-lunt** là một bậc vĩ nhân như thế nào.

"Vị Thiền sư đang dạy kinh điển ấy chính là vị sư đang quét rác. Đó là chuyện thế gian vậy," Ngài trưởng lão **Webu Sayadaw** đã từng tự mình chỉ dạy như thế (vào thời điểm ngài mới lập trường thiền In-gyin-pin, lúc ngài đang dạy về chương Thân hành niệm trong bộ **Khuddasikkha Atthakatha**, ngài đã dạy cho vị Ngài trưởng lão Webu thứ hai tại Kyaukse hiện nay là **Dhammacariya U Acara** và các vị khác). Ngài U Acara đã từng kể lại điều này cho người viết.

Xét theo điểm này, lời nói trong tiểu sử rằng "Nếu không đắc Thắng trí (Abhiññā) thì cứ ở yên như vậy" dường như là lời ngài dạy vào thời kỳ đầu lúc mới bắt đầu xây dựng Thắng trí. Tâm ý của các bậc thiện tri thức thật khó mà thấu hiểu. Tại vùng Webu có ba ngôi giới đàn (Sima), trong đó giới đàn nguyên thủy được gọi là "Giới đàn Ariya" (Bậc Thánh), là nơi mà các vị trưởng lão như **Ngài trưởng lão Nyaung-lunt**, **Sunlun Gu Sayadaw**, v.v... đã cùng nhau thiết lập. Trong số các bậc trưởng lão mà **Ngài trưởng lão Webu Sayadaw** hằng tôn kính, Ngài trưởng lão Nyaung-lunt chính là một vị trong số đó.

#### Các vị Sayadaw không tin và tiếng sấm sét

Vì đây là thời đại mà người ta cho rằng "việc đắc quả A-la-hán cũng khó khăn như việc một đức Phật xuất thế" nên sinh lòng nản chí. Dù họ được diện kiến dung mạo, uy nghi và phong thái sống của ngài đều khiến người ta vô cùng mãn nguyện và tịnh tín, nhưng vì ngài không trực tiếp tuyên bố mình đã đắc quả A-la-hán nên cũng có những người không tin tưởng. Phía không tin này đa phần là các bạn hữu và đệ tử giỏi về giáo pháp kinh điển.

Những lời đồn thổi ngày một lan rộng, đến một ngày nọ, các vị trưởng lão sống chung ở khắp nơi dường như đã hẹn trước với nhau và cùng hội ngộ tại **Thiền viện rừng Nyaung-lunt**. Các vị trưởng lão đó gồm có:

1. Ngài đại trưởng lão **Nyaung-lay-pin Kauk-kway Way-zayan-ta Sayadaw**,
2. Ngài trưởng lão **Aggamahapandita U Dipa** ở thị trấn Chaung-u, huyện Monywa,
3. Ngài trưởng lão **Pat-ta-boin U Acara** ở thị trấn Lewe,
4. Ngài đại trưởng lão **Zi-taw Min-hla Thazi Gaing-chon U Narinda** ở thị trấn Pyawbwe,
5. Ngài trưởng lão **Htan-ta-pin Taw-ra U Sandana** ở thị trấn Pyawbwe.


Đó là các bậc trưởng lão danh tiếng.

Trong lúc hội tụ và trú ngụ tại chùa Phun-kha-pin, nơi Ngài đại trưởng lão **U Kavinda** (vị quản lý trường thiền Ngwe-taung nguyên thủy) đang cư ngụ, hai bên đã tranh luận với nhau: "Đắc rồi!" - "Chắc là chưa đắc đâu!".

"Thôi thôi, nói dài dòng quá. Ngài trưởng lão Htan-ta-pin có đủ can đảm để thưa hỏi vị trị sự (Taik-ok Sayadaw) mà. Hiện nay tất cả các vị Sayadaw đang có mặt ở đây, bao gồm cả ngài U Kavinda, vì chưa thể tin tưởng được việc Ngài đã đắc Pháp đặc thù (Pháp thượng nhân), nên ngài hãy đi thưa hỏi để mọi người có thể tin tưởng chắc chắn, rồi Ngài dạy bảo điều gì thì về thuật lại cho chúng tôi nghe," mọi người cùng thúc giục **Ngài U Sandana**. Ngài U Sandana lập tức đi ngay và cung kính thưa hỏi với tâm thế vừa e ngại vừa quyết tâm.

"Này U Sandana, việc ta nói những lời gợi ý và khuyến khích đó không phải là để cho Ngài Kauk-kway, Ngài Chaung-u, Ngài Lewe hay ngài U Kavinda tin tưởng đâu, ông Sandana ạ. Ta nói là dành cho những hành giả đang thực tu ở đây. Những vị đó (các vị Sayadaw đang tranh luận) không phải là những người đang hành trì giáo pháp; họ chỉ nỗ lực để được sống an nhàn thoải mái thôi. Chẳng lẽ ta lại đi nói những lời khoác lác, phô trương để biến mình thành một kẻ giả mạo hay sao? Ta đã dày công nghiên cứu và giảng dạy kinh điển thì lẽ nào lại không biết đó là **Tăng thượng mạn** (Adhimāna - tưởng mình đã đắc) hay là sự thật? Đối với người đã đạt được Pháp ngay trong hiện tại (Thiết thực hiện tiền), sự thật ấy còn rõ ràng hơn cả tiếng sấm sét đánh nữa," Ngài đáp lại một cách dũng mãnh và quyết đoán. Thời đó, dường như cần phải dạy bảo như vậy.

**Ngài trưởng lão Htan-ta-pin** sau khi thưa hỏi xong liền trở về thuật lại không sót một lời cho các bậc trưởng lão khác:

"Nào, các ngài thấy sao? Những lời Ngài trị sự dạy thật là đúng đắn. Chúng ta quả thật đã quá nuông chiều và ưu ái cho tấm thân này. Ngay cả bậc Thánh (Ariya) bậc thấp cũng không thể biết được bậc Thánh bậc cao, huống hồ chúng ta còn chưa dự vào hàng bậc thấp nữa. Việc Ngài trị sự đã xả thân tu tập một cách phi thường như thế nào thì tất cả đều đã rõ. Nếu xét theo kinh điển thì cũng không có gì phải nghi ngờ cả. Giờ đây thì lại càng thêm chắc chắn hơn rồi," tất cả đều hân hoan nói như vậy.

Vào một ngày nọ, chính vị **Ngài trưởng lão U Sandana** ấy đã bí mật tìm gặp Ngài trưởng lão, dành thời gian tiếp cận để thưa hỏi chi tiết về năm, tháng, ngày mà Ngài đã đắc Pháp đặc thù, với mục đích để các thế hệ mai sau có thể khởi tâm xác tín sâu sắc mà noi gương tu học (**Diṭṭhānugati**). Sau khi Ngài trưởng lão viên tịch (Parinibbana), lúc chuẩn bị viết tiểu sử, bản ghi chép đó đã được gửi đến Hội những hành giả Nyaung-lunt (điều này đã được trình bày ở phần trước).

Khi Ngài trưởng lão đến làm lễ kiết giới (Sima) tại chùa làng Min-tan, gần thị trấn Pyawbwe, một vị nữ hành giả tên là **Daw Saw** ở thị trấn Pyawbwe, người rất giỏi về Luận tạng (Abhidhamma), đã thưa rằng:


"Bạch Ngài, con muốn biết tâm **Đạo Quả (Magga-Phala)** hướng tâm đến **Niết-bàn** như thế nào và nhận biết ra sao ạ?"

Ngài đáp rằng: "Nó cũng giống như **tâm Hữu phần (Bhavanga)** của người đang ngủ say hướng về **Nghiệp (Kamma)**, **Nghiệp tướng (Kamma-nimitta)** và **Thú tướng (Gati-nimitta)** vậy."

Ngài dạy tiếp: "Nếu có ai hỏi rằng khi ông đang ngủ say, ông biết cái gì (đang hướng tâm đến cái gì), thì ông phải trả lời là không biết gì cả. Cũng vậy, khi các bậc Thánh đang trong tâm **Đạo Quả**, nếu hỏi trạng thái đó như thế nào thì có lẽ họ sẽ trả lời là không biết gì cả. Tuy nhiên, sau khi qua khỏi trạng thái 'không biết gì' đó, khi quán xét suy nghiệm lại thì tự mình sẽ biết rõ là mình đã biết được cái gì." Đây cũng là một điểm đáng ghi nhớ.

Về việc đắc Pháp (**Dhammābhisamaya - Chứng ngộ giáo pháp**) của Ngài trưởng lão, chúng ta có thể đánh giá thông qua các tác phẩm mà Ngài đã soạn thảo như: "**Samatha Vipassanā Naya Saṅkhepa Kyam**" (Yếu lược phương pháp Chỉ Quán), "**Gaṇacārika Paṭipatti Kyam**" (Sách về sự thực hành của vị lãnh đạo nhóm), "**Nibbānattha Pakāsanī Kyam**" (Sách giải thích về ý nghĩa Niết-bàn). Ngoài ra còn có các tập sách do vị quan **U Kyaw Dun** chú giải như: "**Nibbānattha Vibhāvanī**" và "**Nibbānattha Vissajjanā Kyam**". Về sự thông thạo của Ngài đối với **Tam Tạng (Tipitaka)**, đặc biệt là Luật tạng, chúng ta có thể thấy rõ qua tập 1 của bộ "**Tipiṭaka Pakiṇṇaka Dīpanī**" (**Moe-nan-kon Vinicchaya**). Trong đó, tập 1 là do chính Ngài trưởng lão tự mình trau chuốt và viết về các quyết định, còn hai tập sau là những lời giải đáp của chính Ngài cho các câu hỏi từ khắp nơi gửi đến.

#### Hơn 20 vị đệ tử đắc Pháp đặc thù trong cùng một đợt

Từ sau năm 1282 (Miến lịch), Ngài trưởng lão chỉ giảng dạy giáo lý (Pariyatti) rất ít, mà chủ yếu khuyến khích việc thực hành (Patipatti). Vào năm 1287, Ngài không mở các lớp học kinh điển nữa mà yêu cầu toàn thể thiền viện phải nỗ lực hành thiền. Ngài thậm chí còn chỉ thị rằng: "Những vị nào không muốn hành thiền mà chỉ muốn học kinh điển thì hãy chuyển sang các thiền viện chuyên dạy kinh điển khác." Ngài chỉ thỉnh thoảng thuyết giảng và dạy bảo về thiền Minh Sát (Vipassana) cho chư Tăng trong thiền viện.

Ngài trưởng lão, từ khi biết nhận thức, đã thực hiện trọn vẹn các phận sự đối với Đức Phật (Buddha-veyyāvacca), phận sự đối với bậc Thầy (Acariya-veyyāvacca) và các phận sự rất nặng nề đối với chư Tăng đồng phạm hạnh (**Sābrahmacārī**). "Giống như con bò mẹ vừa ăn cỏ vừa để mắt trông chừng con bê nhỏ, một bậc **Tu-đà-hoàn (Sotāpanna)** dù đang nỗ lực thực hành giáo pháp của mình nhưng vẫn luôn chu toàn các phận sự đối với các bạn đồng phạm hạnh." Điều này hoàn toàn phù hợp với bảy đặc tính của một bậc **Tu-đà-hoàn** (theo kinh **Kosambiya Sutta** thuộc bộ **Mūlapaṇṇāsa**). Đối với các vị hậu học, Ngài đã chỉ dạy những điều khiến họ phát khởi tâm kinh cảm và lòng tinh tấn...


Các bậc Trưởng lão cũng đã hành đạo Giáo pháp Hành trì (Paṭipatti Sāsana) bằng cách khuyến tấn: "Hãy nỗ lực hành trì với niềm tin bất động, sự bền bỉ và liên tục nối kết khắng khít với nhau."

Ngày nay, bậc Ân sư là Ngài **Đại trưởng lão Webu Sayadaw** cũng thường đặc biệt khuyến nhắc rằng:

"Giống như mái nhà phải được lợp kín kẽ (không kẽ hở) thì mới có lợi ích, việc hành thiền cũng phải được chú niệm liên tục cho trọn vẹn suốt 24 giờ."

Ngài dạy rằng: "**Sātaccakārī** = phải thực hành liên tục; **Sakkaccakārī** = phải thực hành với sự tôn kính, cẩn trọng. Ngài cũng dạy: **Yānīkatā** = phải chuẩn bị sẵn sàng (như nổ máy xe) để có thể vận hành phương tiện bất cứ lúc nào; **Vatthukatā** = phải luôn an trú ngay tại nơi làm việc đó (như lấy bắp chân làm trụ nhà)..." Đại ý của Ngài là như vậy. Điều này không có nghĩa là làm việc một cách quá sức, căng thẳng hay khổ sở để đạt được cho bằng được.

Giống như người đi gánh nước, khi đi gánh thì cầm đòn gánh và thùng nước, gánh về đổ đầy là xong việc. Nhưng công việc Minh sát (Vipassanā) thì không phải như vậy. Trong số 40 đề mục thiền định (Kammaṭṭhāna), lúc nào cũng phải có một đề mục được nắm giữ tùy theo thời điểm. Ví dụ: "Đừng nghĩ rằng chỉ cần ngồi niệm hơi thở (Ānāpāna) hai giờ mỗi ngày là đủ." Trong thời gian còn lại (khi đi, khi làm việc, khi cầm nắm đồ vật), phải luôn nắm giữ một đề mục nào đó, hoặc là rải tâm Từ (Mettā), niệm Phật (Buddhānussati), hoặc thực hành Tứ Niệm Xứ (Oai nghi, Tỉnh giác), và nếu có thể, hãy chú niệm ngay chính đề mục gốc là hơi thở. Ý muốn nói là lúc nào cũng phải có một đề mục hiện diện. Tuy nghe có vẻ mệt nhọc và khó khăn, nhưng trong thực tế, việc này rất dễ dàng, an lạc, và người ta có thể thấy rõ ràng định lực (Samādhi) cùng tuệ giác (Ñāṇa) tăng trưởng đáng kể. Do đó, lời dạy "Hãy để sự thực hành được liên tục" mà các bậc Trưởng lão luôn nhắc đi nhắc lại chính là sự phù hợp tuyệt đối giữa lý thuyết và thực hành.

Ghi chép cho biết, kể từ đầu mùa An cư năm 1283 (Miến lịch), toàn bộ tu viện đã nỗ lực hành trì, và có hơn 20 vị Tỳ-kheo đã chứng đắc Pháp thượng nhân (Pháp đặc biệt). Đến năm 1284, việc giảng dạy Pháp học (Pariyatti) mới được tiếp tục như thường lệ.

### Thước đo Tầm nhìn Đúng đắn (Nge Naing)

**"Yadā have pātubhavanti dhammā, Ātāpino jhāyato brāhmaṇassa"**

Giống như lời cảm hứng (Udāna) của Đức Thế Tôn, đối với bất kỳ hành giả nào đang quán sát danh sắc một cách đúng đắn và tinh tấn (Ātāpī) để đoạn trừ phiền não, thì các pháp vốn tự nhiên sinh diệt theo định luật nhân quả sẽ không thể che giấu hay tránh né được, mà phải hiện rõ lên trong tuệ nhãn.


Khi thấy rõ nhân và quả, hành giả cũng sẽ thấy được nhân gốc (Hetu), nhân phụ, nhân của nhân, và các chuỗi nhân liên tục (Paccaya). Đồng thời, về quả, hành giả cũng thấy rõ quả gốc, quả phụ, quả của quả, và các chuỗi kết quả liên tiếp (Phala, Nissa). Đây chính là tinh túy của phương pháp "Tăng tiến và Suy giảm" (Āruyhāruyha Ororuha) trong tạng Nettippāḷi và bản chất của Tuệ Thẩm sát (Sammasana Ñāṇa).

Khi quán sát và nhận biết các sự kiện trong thế gian, đôi khi người ta cũng thường thấy các chuỗi nhân quả gắn liền với các khái niệm về cá nhân, chúng sinh. Đôi khi, những chuỗi nhân quả giả tạo đi vào làm lu mờ trí tuệ, khiến hành giả rơi vào trạng thái suy luận thay vì tuệ giác thực chứng, dẫn đến cái hiểu sai lạc gọi là **Kāraṇānumāna** (suy luận về nhân) và **Phalānumāna** (suy luận về quả). Lúc ấy, hành giả phải dứt bỏ sự dính mắc, thực hành rải tâm Từ, phát nguyện chân thật (Saccā) và phát nguyện kiên trì (Adhiṭṭhāna) để phân biệt rõ ràng thì mới có thể đạt đến cái thấy đúng đắn. Khi định lực đã chín muồi thì không còn gì phải bàn cãi, trí tuệ sẽ thấy biết một cách thanh tịnh.

"**Athassa kaṅkhā vipyanti sabbā**": Khi đó, tất cả những hoài nghi (Kaṅkhā) như "Liệu điều này có xảy ra không? Đây có phải là con đường đúng không? Có thực thể nào cảm thọ không? Có ai sai khiến không? Sanh (Jāti), Già (Jarā), Chết (Maraṇa) là của ai?..." vốn đã làm rối loạn tầm nhìn về hiện tại, quá khứ và vị lai, tất cả đều sẽ bị tiêu tan và đoạn diệt.

Chính vì lý do đó, khi định lực chưa đủ mạnh, hành giả không nên quán xét hoặc chạy theo các tướng trạng của ngoại cảnh (Bahiḍḍha Ārammaṇa Nimitta). (Theo Kinh Pamsu-dhovaka, Tăng Chi Bộ, Pháp Ba Chi):

- **Ñāti-vitakka**: (Tầm về quyến thuộc/người thân),
- **Janapada-vitakka**: (Tầm về quốc độ/xứ sở),
- **Anavaññatti paṭisaṃyutta-vitakka**: Suy nghĩ muốn người khác coi trọng mình hoặc không khinh rẻ mình, và
- **Dhamma-vitakka**: (Mười loại phiền não của thiền định - Upakkilesa).

Những thứ này trộn lẫn với một chút hiểu biết đặc biệt hoặc những hiểu biết không rõ ràng sẽ tạo cơ hội cho đội quân Ma vương (Māra) lần lượt tiến vào khuấy đảo như:
- Sự sợ hãi (**Bhīru**),
- Sự lưỡng lự, không quyết đoán (**Vicikicchā**),
- Sự tự cao, kiêu mạn (**Attukkaṃsana**),
- Sự khinh rẻ người khác (**Paravambhana**)...

Nếu định lực còn yếu, hành giả nên sử dụng Tâm Từ (Mettā) như một "ngón tay chỉ nam" (compass) để định hướng. Nên đặt sự hiểu biết lên "bàn cân" đó để kiểm chứng và sàng lọc. (Đây chỉ là sự tâm đắc của chúng tôi).


### Vị Thầy có khả năng làm cho mưa rơi

Số lượng đệ tử chứng đắc Pháp đặc biệt ngày càng đông, danh tiếng của Ngài cũng lan rộng từng ngày. Đến năm 1292, số lượng Tăng chúng đã lên đến hơn 130 vị. Việc ăn ở bắt đầu trở nên đôi chút chật vật.

Với hơn 130 vị Tăng tại khu rừng Nyaung Lunt, nguồn lực từ các làng khất thực (Gocaragāma) không còn tương xứng. Vùng đất này vốn dĩ đã là vùng khô hạn, nên cả người dân lẫn chư Tăng đều gặp khó khăn. Suốt hai, ba năm liên tiếp, hạn hán kéo dài khiến nông dân không thể gieo trồng được gì. Tuy nhiên, kỳ lạ thay, các làng khất thực quanh vùng Nyaung Lunt vẫn có mùa màng tươi tốt.

Họ hoan hỷ bảo nhau: "Càng cúng dường thì mưa càng thuận, mưa càng thuận thì lại càng cúng dường hơn." Những ngôi làng ở không xa đó thậm chí còn nói cạnh khía rằng: "Làng họ mưa thuận gió hòa là phải rồi, vì có chùa lớn Nyaung Lunt ở đó mà."

Ngay cả những viên chức người Anh phụ trách thu thuế tại huyện Yamethin cũng nhận thấy điều kỳ lạ này. Giữa rất nhiều ngôi làng trong vùng, chỉ có ba bốn làng khất thực của chùa là phát triển vượt bậc và họ phải trực tiếp xuống tận nơi để thu thuế hàng năm. Do đó, họ đã gọi Ngài là "Bậc Thánh rừng mưa thuận" (Moe Kaung Tawya Ko-daw-gyi).

Có một năm nọ, ngay cả các làng khất thực cũng lâm vào cảnh khốn khó vì không có nước đúng thời điểm. Sau giờ lễ Phật buổi tối, Ngài đã dạy chư Tăng:

"Này các vị Tỳ-kheo, chúng sinh đang rất đáng thương vì hạn hán. Đừng lơ là. Hãy đặc biệt thanh lọc giới hạnh. Hãy đặc biệt thực hành thiền định tâm Từ hướng đến tất cả chúng sinh, bắt đầu từ chư thiên quản mưa (Chư thiên hỷ lạc)."

Vào một buổi chiều, Ngài đích thân đến ngôi chùa làng Gyo Inn, triệu tập dân làng đến nghe pháp, bảo họ nghiêm túc giữ gìn ngũ giới và dạy họ:

"**Sabbesattā dukkhā muccantu, Sammādevō pavassatu** = Nguyện cho tất cả chúng sinh thoát khỏi khổ đau, nguyện cho mưa lớn đổ xuống dồi dào." Ngài bảo họ hãy cùng rải tâm Từ và cầu nguyện như vậy. Ngay đêm hôm đó, một trận mưa lớn đã đổ xuống.

### Nghiên cứu thực tiễn về dưỡng chất của Vua Brahmadatta

Như đã trình bày, các bậc Thiện tri thức luôn nỗ lực hết mình, "không dành thời gian nghỉ ngơi", để mang lại lợi ích và hạnh phúc cho chúng sinh. Việc hạnh phúc hay khổ đau do mưa thuận hay hạn hán đều liên quan mật thiết đến đạo đức của con người và...


# Các Bậc Alahan và Những Vị Đặc Biệt

Rất ít người tin rằng có sự liên đới chặt chẽ giữa lối sống đạo đức và các hiện tượng tự nhiên. Tuy nhiên, trong các bộ kinh như Valahaka Samyutta (Vân Tản Tương Ưng) cùng các bản Chú giải, đức Thế Tôn đã thuyết giảng và giải thích điều này rất tường tận.

Vì không tin tưởng, người ta thậm chí không buồn thực hành thử một đức hạnh nào để rồi không tìm thấy được điều gì đáng tin cậy. Họ lại quay sang nương tựa vào vật chất, nhưng khi đối mặt với thiên tai như hạn hán, lũ lụt, hỏa hoạn, sạt lở đất hay động đất, các nhà khoa học duy vật cũng chẳng thể thốt lên rằng "chúng tôi bó tay", mà chỉ dùng những lời lẽ hoa mỹ để che đậy sự bất lực. Thật đáng thương thay cho kiếp người khi không nhận ra rằng "tự thân mới là nơi nương tựa".

Ngày nay, nên có những người dám thử nghiệm và nghiên cứu sức mạnh của Pháp giống như vua Brahmadatta thuở xưa. Một lần, trong khi đi viếng thăm kinh thành, nhà vua đã đến gặp một vị đại đạo sĩ ở vùng Himalaya. Vị đạo sĩ đãi vua bằng hạt bàng rừng vốn là thức ăn hàng ngày. Thấy hạt bàng có vị ngọt lịm lạ thường, vua hỏi nguyên do, đạo sĩ đáp:

"Khi các bậc quân vương và dân chúng sống đúng Pháp, hoa trái sẽ dồi dào dưỡng chất và ngon ngọt. Ngược lại, nếu không sống theo Pháp, chúng sẽ trở nên còi cọc và mất đi hương vị."

Vả chăng, nhà vua chưa tin nên quyết định "thực nghiệm". Khi trở về nước, vua cai trị bằng sự bất công, làm mọi việc tùy tiện theo ý mình rồi quay lại chỗ đạo sĩ. Lần này, khi ăn hạt bàng rừng, vị của nó lại vô cùng đắng chát. Khi ấy, vua mới cúi đầu thừa nhận lời dạy của đạo sĩ là đúng đắn (Trích chuyện tiền thân Rajovada, nhóm Bốn Pháp).

### Ngôi chùa được chư Thiên dâng vật phẩm

Có một năm nọ, tình trạng hạn hán xảy ra khắp nơi. Ngay cả vùng Nyaung Lunt cũng bị khô hạn, khiến việc khất thực của chư tăng trong chùa gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn. Một ngày nọ, khi ngài Sayadaw đang đi dạo từ chùa hướng về phía đại Bảo tháp, ngài bỗng thấy một lá thư bằng lá thốt nốt còn rất mới và sáng bóng. Ngài nhặt lên xem thì thấy những dòng chữ lạ lùng:

"Bạch Ngài, cầu xin các Ngài đừng lo âu về bốn món vật dụng, hãy cứ an nhiên mà nỗ lực tu hành."

Sau buổi lễ bái Phật tối hôm đó, ngài Sayadaw đã giáo huấn chư tăng rằng:

"Này các thầy, hãy lo thanh lọc giới hạnh và phát triển tâm từ, hãy chuyên tâm vào việc tu học. Tình cảnh hiện nay chưa đến mức tồi tệ như thời đức Phật trú ngụ tại thành Veranja đâu. Chư Thiên thiện lành đang bảo hộ để chư tăng không phải phiền lòng. Đến đúng thời điểm, mọi việc sẽ ổn thỏa thôi. Việc của mình thì mình cứ làm. Sự giáo huấn (Anusasani)



và thần thông được gọi là giới hạnh, tâm từ này có sức mạnh vô song mà chính chúng ta đôi khi không nhận ra. Chư Thiên thiện báu (Sammaneva) cũng nhờ nương vào chúng ta mà tích lũy được vô lượng công đức. Mỗi khi sắp tụng kinh Paritta, chúng ta thường nguyện:

**'Yaṃ amhehi kataṃ puṇyaṃ, sabbasampatti sādhakaṃ'** = Nguyện cho công đức chúng con đang làm đây, có khả năng đem lại mọi sự hạnh phúc từ chuyển luân thánh vương, chư Thiên, Phạm thiên cho đến cứu cánh Niết-bàn. Xin các vị thiện thần, Phạm thiên hãy cùng thọ hưởng phần phước đức này và hoan hỷ tùy hỷ.

Mặc dù chúng ta không nhìn thấy, nhưng chư Thiên biết rõ và họ rất biết ơn vì nhờ đó mà sự an lạc và phước báu của họ tăng trưởng. Vì vậy, các thầy hãy cố gắng. Hãy nhớ rằng chư Thiên đang hỗ trợ bồi đắp Ba-la-mật và hộ trì giáo pháp để giới hạnh và lòng từ của các thầy sớm trổ quả hiện tiền (Diṭṭha-dhamma-vedanīya)."

Chẳng bao lâu sau, có những lời đồn truyền đi rằng người ta thấy ngài Sayadaw Nyaung Lunt cùng sư U Zo đang quét dọn trong khuôn viên chùa gần một ngôi làng tên là Te Myint ở phía đông Nyaung Lunt. Lại có tin tại một ngôi làng gần thị xã Lewe, khi dân làng đang dâng đặt bát cho ngài Sayadaw và sư U Zo thì thấy hai ngài bay vút lên không trung. Những tin tức này khiến đức độ của ngài lan tỏa khắp cả nước. Vật phẩm cúng dường gồm bao gạo, thùng dầu, mắm, cá khô, y áo... liên tục được chở đến bằng tàu hỏa và xe tải không ngắt quãng.

### Súng không nổ – Lời khen ngợi không ngớt

Có một lần, ngài Sayadaw cùng với bốn vị cao tăng khác (Ngài U Kavinda chùa Ngwe Taung, ngài U Narinda vùng Pyawbwe, ngài U Nandiya chùa Taik Kyat và ngài U Saddhamma chùa Kalyani ở Bago) đi dự lễ kiết giới Sima tại chùa làng Khin Tan, thị xã Nyaung Lay Pin.

Sau khi lễ kiết giới hoàn tất trên mảnh đất trống chưa có công trình xây dựng, trong lúc chư tăng đang ngồi tĩnh tọa, một vị thí chủ lớn tiếng đọc bài văn chúc mừng lễ thành tựu trong sự hoan hỷ của đại chúng. Dân làng cũng đã chuẩn bị mời một viên sĩ quan lâm nghiệp người Anh đứng gần đó bắn súng chào mừng sau khi bài văn kết thúc. Tuy nhiên, khi viên sĩ quan bóp cò, đạn lại không nổ.



Viên sĩ quan lập tức tháo đạn ra, thay viên mới vào nhưng vẫn không được. Cứ như thế, cả 50 viên đạn mang theo đều không phát hỏa. Ông ta kiểm tra kỹ lưỡng nhiều lần, lấy làm kinh ngạc và mồ hôi vã ra như tắm vì chuyện chưa từng thấy này.

Giữa lúc đó, một vị sư trẻ (từ Nyaung Lunt) trong đoàn đi ra, ra hiệu bằng tay chân và nói: "Đừng bắn băng qua phía trên đầu các vị sư. Hãy quay hướng khác mà bắn". Quả nhiên, khi viên sĩ quan quay hướng khác và bóp cò, tiếng súng nổ rền vang "đùng đùng", khiến ai nấy đều không ngớt lời khen ngợi.

(Trong chuyện tiền thân Kalingabodhi, thuộc nhóm Bốn Pháp) Có kể rằng vua Kalinga khi cưỡi con voi trắng quý báu đi trên không trung qua vùng Bodhi Manda (nơi đức Phật thành đạo), con voi bỗng dừng lại không chịu tiến về phía trước. Vị quân sư xuống kiểm tra và tâu rằng: "Đây là vùng đất thắng diệu nơi đức Phật chiến thắng phiền não, ngay cả chư Thiên cũng không dám băng qua trực diện phía trên". Nhà vua không tin, dùng móc sắt thúc mạnh vào voi nhưng voi vẫn không nhúc nhích, cuối cùng con voi thét lên một tiếng rồi chết ngay tại chỗ.

Trong sự việc này, những viên đạn vô tri dường như cũng không dám bay xuyên qua phía trên đầu của ngài Sayadaw. Pháp bảo của các bậc hữu đức thật là vi diệu không sao kể hết. Viên sĩ quan người Anh sau đó cũng vô cùng kinh ngạc và cúi đầu đảnh lễ bày tỏ lòng tôn kính đối với ngài.

Sau khi việc kiết giới hoàn thành, ngài Sayadaw định chuẩn bị quay về Nyaung Lunt thì chư tăng và người dân vùng Nyaung Lay Pin vì quá đỗi kính ngưỡng đã khẩn khoản thỉnh mời: "Xin ngài hãy ở lại an cư một mùa hạ tại đây để ban phước cho chúng con". Ngài Sayadaw ôn tồn từ chối rằng:

"Chúng tôi rất hoan hỷ trước lời mời này. Tuy nhiên, nơi chúng tôi ở là rừng già Nyaung Lunt, không có năm món dục lạc (ngũ dục). Tự mình phải đi khất thực, thức ăn lại thiếu thốn, nên chính cái 'rừng thẳm và đồ ăn đạm bạc' đó đã thay tôi giáo hóa đồ chúng được một nửa rồi. Tôi chỉ cần giáo hóa một nửa còn lại nên rất nhẹ nhàng. Còn ở Nyaung Lay Pin của các vị là thành thị, ngũ dục đủ đầy, vật phẩm dồi dào, hạng người nào cũng có, nên việc giáo hóa sẽ rất khó khăn. Bản thân tôi cũng sẽ vất vả hơn. Vì thế, dù rất hoan hỷ nhưng xin các vị hãy lượng thứ."

Những lời dạy của ngài thật vô cùng sâu sắc và đáng để ghi nhớ.

## Chương — Lễ Kiết Giới Sima Tại Núi Nemindhara

Công cuộc hoằng pháp của ngài tại Thaton cũng vô cùng thú vị. Giới, Định, Tuệ của ngài khiến người ta kính ngưỡng không thôi. Những sự việc mắt thấy tai nghe...


Đó là một buổi lễ mà cả nước đều vô cùng kinh ngạc, bởi lẽ việc thuyết giảng và thiết lập ranh giới truyền giới (kiết giới Sīmā) diễn ra giữa những cuộc gặp gỡ đầy khó khăn với các vị thiện thần (nát), tinh linh (amannusa), ngạ quỷ (preta) và chư thiên.

Trong buổi lễ ấy, ngài **Sunlun Sayadaw** từ Myingyan cũng cùng đi với Ngài để thực hiện Phật sự. Giống như Ngài, năng lực Giới, Định, Tuệ của ngài **Sunlun Sayadaw** cũng vô cùng phi thường, khiến mọi người đem lòng tín thành sâu sắc. Thần lực giác ngộ của hai vị Thánh tăng Alahan và những hiểm nguy kinh hoàng từ chúng tinh linh là những điều đáng được ghi vào sử sách.

Tôi xin tóm tắt câu chuyện ấy một cách ngắn gọn nhất như sau:

### Ngọn núi Nemindhara đáng sợ

Núi Nemindhara nằm về phía Bắc thành phố Thaton khoảng sáu furlong (chừng 1,2km), tiếp giáp với phía Đông Bắc của hào thành cổ Thaton. Đây là một ngọn núi nhô cao như một bảo tháp, chỉ có một mặt giáp với dãy núi lớn phía Đông Bắc; ngoài ra, núi có nhiều tầng đất bằng phẳng như các bậc thềm (paccaya), đủ để xây dựng những ngôi chùa nhỏ. Trên đỉnh núi là một khoảng đất bằng phẳng rộng khoảng một trăm feet. Độ cao ước tính hơn hai trăm feet. Ở đó cũng có những ngôi mộ gạch và đền thờ thần. Người ta bảo rằng "rừng thiêng nước độc", nên không ai dám lảng vãng đến gần nơi ấy.

Các vị thân hào nhân sĩ ở thành phố Thaton như ngài **U Pho Sa** (vị quan hưu trí), ngài **U Kyaw Dun** (vị chỉ huy cơ quan hành chính) cùng những người khác đã xây dựng các công trình dưới chân núi để làm trung tâm hành trì giáo pháp (Paṭipatti). Họ đã thỉnh mời một vị Trưởng lão được xem là bậc túc nho, đầy đủ Giới - Định - Tuệ, cùng với các vị tỳ-kheo, tu nữ và những người hộ pháp về đây an trú.

Khi tiếp tục chuẩn bị việc kiết giới trên đỉnh núi, họ đã chuyển các cột đá và tre gỗ lên núi. Nhưng sáng sớm hôm sau, tất cả số cột đá và tre gỗ ấy đều tự động lăn xuống chân núi, khiến ai nấy đều kinh ngạc. Vị Trưởng lão nói: "Đó chỉ là sự quấy nhiễu thôi, không sao đâu," rồi sai người chuyển vật liệu lên lần nữa vào ngày hôm sau. Ông còn cho người ở lại canh gác trên núi suốt đêm. Sáng hôm sau, không chỉ tre gỗ mà cả những người canh gác cũng đều thấy mình đang ở dưới chân núi, khiến một số vị tăng chúng trong chùa sợ hãi lánh đi nơi khác. Người dân trong thành cũng không ai dám lên núi nữa. Vị Trưởng lão ấy sau đó cũng đột ngột viên tịch.

Một ngày nọ, khi ngài **U Pho Sa** và ngài **U Kyaw Dun** đến xem xét ngọn núi ấy, họ bỗng nghe thấy một giọng nói vang lên dù chẳng thấy người: "Tôi đã trở thành kẻ trấn giữ vùng núi này rồi. Khoảng sáu tháng nữa, tôi sẽ được giải thoát thôi."


Đó chính là giọng nói của vị Trưởng lão đã viên tịch. Các ông **U Pho Sa** vô cùng kinh hãi và trở về.

### Hai vị Thánh tăng thấu thị tương lai

Trong lúc các vị thân hào có tâm đạo nhiệt thành như ngài **U Pho Sa** và **U Kyaw Dun** đang phiền lòng, thì vị Đạo sĩ (Yathee) **U Khanti** đến Thaton. Họ đã giao phó việc kiết giới Sīmā trên núi Nemindhara cho ông.

Đạo sĩ **U Khanti** nói: "Tôi là đạo sĩ nên chỉ có thể chịu trách nhiệm phần xây dựng thôi. Ngài **Nyaunglun Sayadaw** là bậc toàn hảo về cả Pháp học (Pariyatti) và Pháp hành (Paṭipatti). Ngài là người bạn cùng tu thân thiết của tôi. Nếu thỉnh được Ngài, Phật sự chắc chắn sẽ thành tựu." Vì vậy, ông **U Than Dai** và ông **U Than Son** đã đến thiền viện Nyaunglun để thỉnh Ngài.

Khi họ đến Nyaunglun, vị đại đệ tử là cánh tay phải của Ngài – Ngài **U Ottama** – đã suy xét sự tình. Ngài chưa cho gặp Sayadaw ngay mà trao cho họ một bản tuyên cáo để đi tuyên đọc trăng khuyết, đồng thời bảo họ hãy thử xem các vị thần giữ núi có đồng ý hay không trước đã.

Các vị thân hào thành Thaton đã làm theo lời thử nghiệm và thấy mọi việc diễn ra tốt đẹp, bấy giờ mới chính thức đến thỉnh Ngài. Ngài Sayadaw cũng chưa nhận lời ngay mà trì hoãn một đêm để quán sát tình hình của các vị thần hộ thành, thần giữ núi và những tinh linh (ma hời). Ngài đã tu tập **Appanā Mettā** (Tâm từ an chỉ định). Sau khi biết rằng các vị thần đang mong chờ và bày tỏ lòng tôn kính, Ngài mới chấp thuận khởi hành.

Đoàn đi gồm 11 vị tỳ-kheo trong và ngoài thiền viện, cộng với 5 vị từ Meiktila – trong đó có ngài **Trưởng lão chùa Yaylel** và ngài **Sunlun Sayadaw** (khi ấy đang trú tại chùa Yaylel) – và một vị từ Taungoo, tổng cộng là 17 vị. Người ta cho rằng: "Trong buổi lễ kiết giới này, việc có ngài **Sunlun Sayadaw** tham gia sẽ giúp mọi sự trở nên dễ dàng và hanh thông hơn."

Trước khi đi Thaton, trong lúc ngài **Sunlun Sayadaw** đang quán chiếu về tiền thân bối cảnh của núi Nemindhara, người bạn thân của Ngài là ông **U San Tin** đã bạch rằng:

"Bạch Ngài, có phải Ngài đang nhìn lại những chuyện cũ không? Xin Ngài cứ đi đi, đó là những việc mà chính Ngài đã từng thực hiện đấy. Ở góc hướng Đông Bắc (hướng Mặt Trời) sẽ có một gò đất nhỏ. Nơi ấy là chỗ thực hiện các nghi thức chuẩn bị (parikamma). Buổi lễ sẽ thành công tốt đẹp, bạch Ngài."

Những lời ấy mang ý nghĩa vô cùng sâu sắc. Vì lẽ đó, sợi dây liên hệ từ kiếp cũ là một yếu tố cho thấy nếu không có ngài **Sunlun Sayadaw** tham gia thì Phật sự này khó lòng hoàn tất.



### Lời tiên tri từ người điên

Vào đầu tháng Tabaung (tháng Giêng) năm 1284 Miến lịch, Sayadaw cùng phái đoàn 17 vị đã khởi hành từ ga Nyaunglun bằng một toa tàu hỏa riêng biệt. Khi tàu tạm dừng ở ga Yedashe và chuẩn bị chuyển bánh, một vị sư điên kỳ lạ bỗng leo lên toa. Một tay cầm gậy và dây thừng, tay kia cầm một nhành hoa gỗ gãy và một chiếc chuông lạc, vị ấy nhìn chằm chằm vào các vị Sayadaw. Khi Ngài **U Sujata** ở Yaylel nói rằng "đây là toa riêng", vị sư điên đáp: "Ôi... của ta mà!" rồi cứ thế ngồi phắt xuống.

Mọi người nói: "Có bậc Trưởng lão ở đây, đừng nói năng nhiều lời."
Vị đó hỏi lại: "Trưởng lão nào?"

Khi nghe đáp: "Đó là đại trưởng lão **Nyaunglun Sayadaw**,"

Vị đó nói luyên thuyên: "Nyaung (cây đa) gì? Cây đa **Bodhi** (Bồ-đề), đa chua, hay đa thắt? À... thì ra là cây đa **Bodhi** rồi," rồi lại hỏi tiếp:

"Đi đâu mà đi?"

Khi được trả lời ngắn gọn: "Đi Thaton để kiết giới Sīmā, làm Phật sự," vị sư điên liền la lớn:

"Ồ... thì ra là đi hoằng pháp ở Thaton như ngài **Mahinda** sang Tích Lan (Siho) ấy nhỉ. À, đúng rồi, đi hoằng pháp ở Thaton..." rồi nói tiếp:

"Thắng lợi chắc chắn! Thắng lợi chắc chắn! Cứ đi đi, sẽ thành công thôi, sẽ thành công thôi!" Vừa hét vị ấy vừa rung chiếc chuông và nhành hoa gãy trong tay. Miệng thì lẩm bẩm:

"Nhìn đây, nhìn đây! Chuông này chuông này, hoa này hoa này, bên trong rỗng tuếch, chỉ là đồ gãy thôi." Nói xong những lời kỳ quặc đó, vị ấy xuống tàu ở ga kế tiếp. Dựa vào điềm báo ấy, mọi người giải mã rằng: "Sẽ gặp trở ngại, nhưng không đáng ngại." Đó là một điềm lành được nói ra từ miệng một người điên.

### Người nghe kinh một lượt, thần nghe kinh một lượt

Khi các vị Sayadaw đến thành phố Thaton, họ đã được thỉnh mời một cách vô cùng long trọng và...

Các ngài cùng đi đến ngôi chùa tạm dưới chân núi Nemindhara. Riêng thiền sư Sunlun được cung thỉnh về an trú tại một ngôi chùa tạm yên tĩnh trên khu đất trống thuộc tầng cấp thứ hai, phía góc đông bắc (cung Anga) của đỉnh núi. Cả thành phố đều hồi hộp dõi theo, tự hỏi: "Sẽ có tin tức gì từ đây chăng?".

Kể từ đêm đầu tiên đến nơi, sau khi cho đại chúng ra về sớm, thiền sư Sunlun bắt đầu thực hiện các nghi thức bái Phật và tụng kinh Paritta. Ngài chuyên tâm hành trì và rải tâm từ (metta) rộng khắp. Thiền sư cũng cho thắp nến sáng rực khắp núi Nemindhara, cắm các lá cờ phướn rồi hồi hướng công đức đến chư thiên để dâng cúng lên đức Phật. Những người không hiểu chuyện đã vội chỉ trích rằng: "Vị sư từ rừng sâu ra mà lại làm những việc thế gian (lễ nghi hình thức)". Tuy nhiên, sau khi thắp đèn sáng tỏ cả ngọn núi, ngài đứng tại góc chủ về ngày Chủ Nhật (hướng đông bắc), thực hiện các bước chuẩn bị (parikamma) và rải tâm từ. Từng đoàn chư thiên, các hạng phi nhân, ngạ quỷ lần lượt kéo đến đảnh lễ; ngài đều thuyết pháp giáo hóa rồi mới cho lui đi.

Đoàn cuối cùng đi đến mang theo năm món trang sức hoàng gia (Min Myauk Tan Sar). Sau khi quán chiếu, ngài nhận ra đó chính là vua Manuha – người từng có mối nhân duyên thầy trò với ngài trong quá khứ. Ngài liền phán rằng:

"Này chư thiên, trên ngọn núi này có bảo tháp Thūpā rāma, nơi tôn thờ xá-lợi Phật, nên việc người dân qua lại dẫm đạp lên đây là một tội nghiệp rất nặng. Chúng tôi đến đây để hoằng dương giáo pháp trên ngọn núi này, mong các vị hãy hộ trì. Người dân cũng sẽ xây dựng cho các vị một ngôi đền (miếu thờ chư thiên) mới." Sau khi nghe ngài thuyết giảng ngắn gọn, vị thiên vương ấy không nói lời nào, chỉ cúi đầu khóc rồi rời đi theo hướng đông bắc.

Thiền sư Sunlun sau khi rải tâm từ và thuyết pháp xong cũng hạ sơn, trở về ngôi chùa tạm dưới chân núi.

### Một bên là đỉnh nóc, một bên là củi đốt

Về phần thiền sư Nyaung Lunt, ban ngày ngài thuyết pháp cho đại chúng, ban đêm ngài lại thuyết giảng cho chư thiên và các hạng phi nhân. Ban đầu, khi quán chiếu bao quát toàn bộ núi Nemindhara và rải tâm từ, ngài thấy những vị đại thiên vương đầy quyền năng cùng quyến thuộc đông đảo kéo đến nghe pháp. Vị thiên vương hộ trì ngọn núi đang ngồi phía trước đã dâng mình phục vụ, hứa khả sẽ hộ trì và sắp xếp mọi việc cho giáo pháp đúng như mong đợi. Đêm ấy trôi qua cho đến khi bình minh ló rạng.

Đêm tiếp theo.

Ngài quán chiếu bao quát toàn bộ dãy núi phía đông và rải tâm từ định (appanā metta).


Lần này, một vị đại thiên vương có thần lực lớn hơn nữa cùng quyến thuộc vô cùng đông đảo đã đến đảnh lễ, đông đến nỗi núi Nemindhara không còn chỗ chứa. Vị thiên vương lập lại lời hứa như trước và thưa rằng: "Con đã ra lệnh cho các vị thiên thần hộ sơn này rồi." Vị ấy còn thưa: "Con chính là người đầu tiên đã kiến thiết nên thành phố Thaton vĩ đại này." Sau khi nghe pháp xong, họ biến mất.

Đêm tiếp theo.

Các vị thiên vương cai quản vùng phụ cận thành Thaton lại đến đảnh lễ. Hào quang, thần lực và quyến thuộc của họ còn rực rỡ và đông đảo hơn các vị trước. Không chỉ trên núi mà cả thung lũng lẫn thành phố đều sáng rực như ban ngày. Quang cảnh ấy tuyệt mỹ đến mức có thể khiến tâm trí người phàm tục phải xao động.

Họ cam kết: "Theo lệnh của các vị đại thiên vương cấp trên, tất cả chúng con sẽ hộ trì." Họ còn buồn bã thưa thêm: "Tất cả các vị thiên vương và quyến thuộc quanh vùng núi này đều là những vị vua và quần thần từng trị vì thành Thaton thuở xưa, không thiếu một ai bạch Ngài." Qua quán chiếu, ngài thấy rằng theo thiên luật, họ phải ở lại trông nom khu vực Thaton theo từng nhóm riêng biệt. Cảm động trước cảnh tượng đáng suy ngẫm đó, ngài đã nỗ lực thuyết giảng để hóa độ cho họ. Suốt 10 ngày 10 đêm, ngài không hề có lúc nào nghỉ ngơi vì ban ngày thì tiếp đại chúng, đêm về lại tiếp chư thiên.

### Những trở ngại và sự mầu nhiệm khi kiết giới Sima

Các thí chủ hộ pháp vô cùng hoan hỷ và tiến hành chuẩn bị cho lễ kiết giới Sima. Họ cũng thỉnh mời các bậc trưởng lão tăng già đại phương và quyết định thực hiện theo phương thức "Nal Theim" (kiết giới bao chiếm vùng).

Trong phương thức "Nal Theim", để đảm bảo tính thanh tịnh, các lối vào khu vực ấn định đều có người canh giữ để ngăn không cho các vị tỳ-kheo bên ngoài bước vào trong khi đang hành lễ. Các vị tăng trong vùng nếu không thể đến dự thì phải gửi sự đồng thuận (chanda) bằng lời. Một vị thiền sư ở Thaton đã nêu chất vấn rằng hệ thống này không phù hợp với Luật tạng (Vinaya) nên cần phải giải trình thêm. Ngoài ra, họ còn phải đi tìm một vị tu sĩ không gửi sự đồng thuận cũng không đến dự để xin ý kiến thống nhất.

Thiền sư Nyaung Lunt cùng thiền sư U Tikkhā (chùa Gyuak Pin Taw Ya Htanoung Tai) và thiền sư Yay Lel là ba vị chủ trì lễ nhổ giới cũ, sau đó vào lúc 10 giờ đêm ngày rằm tháng Tabaung năm 1284 Miến lịch, trong tiếng chuông trống rộn rã của cả thành phố và sự canh phòng cẩn mật của quân dân, lễ kiết giới đã được cử hành xong. Sau khi hoàn tất, ngài Tổng đốc U Kyaw Dun và những người khác đã thực hiện nghi thức xuất gia gieo duyên (dullabha).



Khi hai bậc thánh tăng quán chiếu xem việc kiết giới có thành tựu viên mãn (Aung) hay không, các ngài nhận thấy lễ đã không thành do sự quấy nhiễu của một vị sư. Các thí chủ thưa rằng đúng là có một vị sư từ vùng khác đã bất chấp sự ngăn cản của lính canh, cố tình xông vào khu vực giới đàn khi lễ đang diễn ra. Qua thần thông, các ngài còn biết rõ pháp danh, chùa viện và cả những lời vị đó đã nói. Do đó, lễ kiết giới phải được tổ chức lại vào lúc 7 giờ sáng ngày 7 tháng sau (nhuận) của tháng Tabaung.

Lễ kiết giới lần này diễn ra ban ngày, dân chúng kéo đến đông nghẹt như đàn ong vỡ tổ để chiêm bái. Dù đang giữa mùa hè đổ lửa, mây đen bất chợt kéo đến che phủ và có vài hạt mưa rơi xuống. Điều kỳ lạ là mây chỉ bao phủ ngay trên đỉnh núi Nemindhara. Kỳ lạ hơn nữa là trong suốt thời gian cử hành lễ, không hề có chuyến tàu hỏa nào chạy qua. Bởi nếu có tàu hỏa đi qua mà trên đó có một vị sư nào đó, thì nghiệp lực có thể làm hỏng lễ kiết giới; nhưng thật bất ngờ, một cây cầu sắt đã bị hỏng ngay lúc đó khiến tàu phải dừng lại. Ngôi giới đàn này được đặt tên là "Abhaya Muni Cetiya Sima", và hiện nay một bảo tháp đã được xây dựng ngay tại vị trí đó.

Sau khi hoàn tất, dù các vị thiền sư khác đã ra về, thiền sư Nyaung Lunt cùng hai đệ tử vẫn ở lại núi Nemindhara cùng các vị sư gieo duyên. Trong thời gian lưu trú, người dân khắp nơi nô nức kéo đến cúng dường, ngài phải lần lượt đi đến từng khu phố để ban phước. Các thành phố lân cận như Mawlamyine, Mudon, Kyaikkhami cũng cung thỉnh ngài đến để đảnh lễ và nghe pháp mỗi ngày. Ngài đã đem toàn bộ phẩm vật cúng dường trị giá hơn 40.000 đến 50.000 (đơn vị tiền tệ thời đó) để tặng lại cho các ngôi chùa địa phương nơi ngài đến. Đến cuối tháng Nayon năm 1285, ngài mới trở về rừng Nyaung Lunt.

Ngọn núi Nemindhara vốn từng rất hoang sơ và đầy rẫy phi nhân, nay đã được ánh sáng giáo pháp bao phủ, trở thành một trung tâm hành thiền lớn, làm tăng thêm vẻ trang nghiêm cho thành phố Thaton.

(Trong khi biên soạn tiểu sử các bậc thánh tăng, người viết nên dựa trên những sự kiện có thật và logic, không nên vì lòng tôn kính thầy mình mà thêu dệt hay phóng đại những điều nghe kể lại. Các bậc thiền sư đã cùng nhau hoằng dương giáo pháp trong sự hòa hợp và thân ái, vì vậy chúng ta nên giữ tâm chân chính (yoniso manasikāra) khi tìm hiểu, tránh những lời chỉ trích xúc phạm đến các ngài, để thiện nghiệp được tăng trưởng và lòng tin được thanh tịnh. Xin hãy lưu tâm.)

**Điềm báo dồn dập và nỗi ưu tư thầm lặng**

**Dhamma-cariya U Htay Hlaing**

“Này các bậc hữu học và quý Sư, trong khi đang có được thời cơ tốt đẹp và vận may lớn này, hãy nỗ lực học tập Pháp học (Pariyatti). Hãy tham dự đều đặn các buổi giảng Luật tạng (Vinaya) đang được truyền dạy hiện nay. Thật không dễ để có được một khóa học khác đâu; thân tâm phù du này chẳng thể kéo dài quá một năm nữa đâu. Hãy không ngừng nỗ lực hành trì Pháp hành (Patipatti). Đừng để đến khi chúng ta không còn nữa mới phải hối tiếc.”

Từ đầu năm 1294 (Miến lịch), Ngài thường xuyên nhắc nhở như vậy mỗi khi giảng dạy. Nghe những lời ấy, không ít đệ tử đã nỗ lực hành trì tinh tấn hơn, giống như vị “Tỳ-kheo trẻ Dhamma-dhara” – người đã cảm nhận lòng rung động tâm linh (Saṃvega) sâu sắc như có tiếng sét đánh ngang tai khi nghe lời huyền ký của Đức Thế Tôn ba tháng trước khi Ngài nhập Niết-bàn. Không lâu sau những lời nhắc nhở đó, hầu hết các đệ tử đều nghe Ngài bảo rằng: “Ta thấy một tòa lâu đài bằng ngọc báu rực rỡ, lộng lẫy và kỳ ảo đang theo sát ngay sau lưng.” Phải chăng đó là sự cúng dường sau cùng của chư Thiên và Phạm thiên, hay là lời thỉnh cầu rằng “đã đến lúc buông bỏ thọ hành”?

Dù thế nào, Ngài vẫn tiếp tục giảng dạy các lớp Pháp học như thường lệ. Ngài vẫn chu toàn các Phật sự và việc bổn phận của tăng đoàn. Vào tháng Nayon năm 1295, Ngài Sunlun Sayadaw ở Myingyan cũng đến đảnh lễ vì một việc tang lễ và đã gặp gỡ Ngài một cách thân tình, an bình như mọi khi. Ngài Sunlun Sayadaw chỉ nói với các vị đại đệ tử của Ngài rằng:

“Bậc đạo sư thật sự đã hoàn thành xong phận sự của một vị Sa-môn rồi.” Sau đó Ngài ra về.

Dù Ngài không định đi dự lễ kiết giới Sīmā cho Tỳ-kheo U Kusala ở Shwemyo, nhưng vì đại diện đã nài nỉ thỉnh mời quá mức nên Ngài đã nhận lời. Trên đường đi, do hít phải mùi khói cháy rừng và gặp những cơn mưa đầu mùa, Ngài đã ngã bệnh và không thể hồi phục hoàn toàn. (Các bậc thánh thiện thường hết sức cẩn trọng, từng bước đi của mình đều bằng tuệ giác để không làm tăng thêm gánh nặng trách nhiệm cho bản thân).

Các vị đại đệ tử có tri thức và tầm nhìn bắt đầu cảm thấy lo âu vì nhận thấy thời khắc cuối cùng đã đến gần. Cột đồng hồ mặt trời dựng gần trai đường vốn rất vững chãi bỗng nhiên tự đổ sập. Xung quanh chùa, các loại hoa trái mùa đồng loạt nở rộ. Một con chim lớn có bộ lông vằn to bằng con gà trống thường xuyên bay đến từ hướng Tây Nam, lượn quanh phía trên ngôi chùa và phát ra những tiếng kêu than thê lương, kỳ quái. Trong nhiều ngày, khắp khuôn viên chùa vang lên những âm thanh rên rỉ, thổn thức không rõ rệt. Khi người xe thưa thớt, không gian càng trở nên tĩnh mịch, hãi hùng và đầy nỗi ưu tư.


Những ai thấu hiểu thời thế và biết ơn đức đều đã bắt đầu rơi lệ,

**Samma-vedana Sampadetha**
*(Hãy thành tựu sự cảm xúc đúng đắn)*

Ngài Sayadaw có vẻ không biểu hiện đau đớn trầm trọng. Sắc diện Ngài vẫn tươi sáng và vẫn tiếp tục ban lời giáo huấn như thường lệ. Đến ngày mồng 3 sau trăng tròn tháng Nayon, Ngài có vẻ yếu hẳn đi. Từ nơi nghỉ ở tầng dưới ngôi chùa lớn do bà Daw Saw Tin cúng dường, Ngài được các đệ tử giúp di chuyển sang chiếc ghế bành nơi Ngài thường giảng dạy. Ngài bảo thỉnh tất cả tăng chúng trong tu viện đến và giáo giới:

“Này các vị Tỳ-kheo, hãy nỗ lực không ngừng nghỉ trong công việc Pháp học và Pháp hành. Hãy giữ gìn các học giới (Sikkhāpada) trong Luật tạng từ những điều nhỏ nhất và noi theo tấm gương thực tế của bậc thầy tổ. Tất cả những gì Đức Thế Tôn ngăn cấm hay truyền dạy đều chỉ vì sự an lạc của chúng sinh. Các pháp hữu vi (Sankhāra) này thật chẳng có cốt lõi bền vững nào để nương tựa cả.”

Sau đó, Ngài đã đảnh lễ hai vị trưởng lão U Ācara và U Zo ở Leeway – vốn là những huynh đệ đồng môn lớn tuổi và hạ lạp hơn Ngài. Không lâu sau, vào lúc 11 giờ đêm, trong khi đang ngồi xếp chân trên ghế bành, Ngài đã hoàn toàn an trú vào yếu tính tịch tịnh “**Anupādisesa Asaṅkhata**” (Vô dư hữu vi tịch diệt) và nhập Niết-bàn.

Vào ngày mồng 3 tháng Waso, hơn một vạn người dân và khoảng bốn trăm vị Tăng đã tụ họp lại mà không cần sự thúc giục hay kêu gọi nào. Mọi việc đều được chuẩn bị chu toàn, đầy đủ để cử hành lễ trà tỳ (Sādhukīḷanā). Nhiều hiện tượng hy hữu đã xảy ra như củi thơm tự động chất cao để cúng dường (dù không ai thực hiện), hay những cơn mưa lớn trút xuống. Xá-lợi xương của Ngài sau đó đã được tôn trí trong một pho tượng Phật để thờ phụng.

Trong dòng lịch sử Phật giáo thực hành tại Miến Điện, Ngài đã minh chứng rằng nếu kiên trì nỗ lực với niềm tin bất thối và hệ thống học tập lấy Luật tạng làm nòng cốt, thì Giáo pháp của Đức Thế Tôn chính là nơi nương tựa đích thực của chúng sinh.

(Để biết thêm chi tiết, quý vị có thể tìm đọc trong cuốn “Tiểu sử tóm tắt và Pháp hành tại Nyung-lun Tawya” do các vị đại đệ tử cư sĩ biên soạn chung vào năm 1316 và được ấn hành vào năm 1327. Về sau, chúng ta cũng sẽ được chiêm bái tiểu sử của Ngài Shwe U Daung Taung Sayadaw và các vị Sayadaw ở Myaungmya Weluwady – những người đã thực hành theo sự hướng dẫn của Ngài và đạt được thành tựu viên mãn.)


**Sayadaw Thaton Jetawun**
**( 1230 - 1316 )**

Trong các vở kịch Zat hay múa rối, khi diễn các câu chuyện dài, lúc đầu người ta có thể diễn giải một cách thong thả. Nhưng khi gần đến hồi kết vào lúc rạng sáng, để kịp thời gian, họ phải diễn thật nhanh. Những chi tiết không quan trọng phải được lược bớt, những đoạn rườm rà phải được cắt bỏ, hoặc chỉ trình diễn những phần cốt yếu; sự khóc lóc hay sầu cảm cũng chỉ ở mức vừa đủ để gấp rút kết thúc vở diễn.

Do đó, người xem thường thấy sự chuyển cảnh diễn ra quá nhanh và thay đổi đột ngột, khiến họ không kịp cảm nhận hay dự đoán, đến nỗi khi vở kịch chưa kết thúc, họ cũng chẳng biết nên khóc hay nên cười.

“Vị đạo diễn” của những nghiệp quả quá khứ (Aparāpariya Kamma) cũng khiến hành giả phải trải qua những “vở kịch” luân hồi dài đằng đẵng, sử dụng những “vai ác” như Ma vương khi cần thiết. Đến lúc gần kết thúc, khi ánh sáng tuệ giác sắp rạng, những nghiệp quả lẽ ra phải chịu trong mười kiếp có thể được gom lại trong một kiếp, được lược bớt hoặc cắt bỏ để kịp thời gian. Vì vậy, chỉ trong vòng vài ngày hay vài tháng, mọi thứ có thể thay đổi nhanh chóng, các mắt xích và sự sắp đặt có vẻ rời rạc, không nhất quán.

Bởi vậy, dù rạng đông đã ló rạng và gà rừng đã gáy, nhưng câu chuyện vẫn chưa kết thúc một cách bình thường. Lúc này thấy vị ẩn sĩ xuất hiện, lúc sau đã thấy hoàng tử bước ra; nhìn vở múa rối diễn ra một cách vội vã như vậy, người ta dễ rơi vào trạng thái bàng hoàng trước khi câu chuyện kết thúc, giống như những vần thơ của ông U Ponnya: “Gà đã gáy vang rồi, chẳng biết đây là đoạn kinh nào, cảnh trí muôn hình vạn trạng, nhiều không kể xiết”.

Vào thời Đức Thế Tôn, tôn giả **Nāgasamāla** đã chứng đắc A-la-hán ngay khi đang xem một vở diễn, có lẽ vì Ngài đã quán chiếu được thực tính này. Chính vì thế, nhiều người đã không thể tin nổi khi thấy kẻ sát nhân Tambadāṭhika đắc được pháp thượng nhân, hay vị đại thần Santati đang trong cơn say sưa bỗng chốc trở thành bậc Thánh giả, dù trước mắt họ mọi thứ dường như chẳng hề nhất quán.

Trong vòng luân hồi, nghiệp mệnh thật là huyền ảo thay.

**Bậc trí giả hoàn tục U Tha Byaw**

Tại làng Kyaukpa-nan, cách làng Kangyi-kone khoảng mười dặm về phía bắc thành phố Sagaing...

**Dự án 013: Tiểu sử các bậc A-la-hán**

Tại làng Kyauk-pa-nan, âm thanh vang dội của các loại trống lễ báo hiệu một buổi lễ xuất gia (Shinpyu) đang diễn ra vô cùng náo nhiệt. Người dân từ khắp các làng lân cận đổ về khiến bầu không khí thêm phần đông đúc. Dân làng Kyauk-pa-nan ai nấy cũng đều hân hoan, ra sức góp công sức tại rạp lễ để tích lũy phước báu. Ngay lối vào rạp và trước bục dành cho chư Tăng, cát trắng được trải phẳng, xung quanh dựng hàng rào tre lộng lẫy, những cây chuối được trồng ngay ngắn và trên mái rạp treo lủng lẳng từng buồng chuối chín. Các vật phẩm cúng dường cũng được sắp xếp trang trọng.

Để tiếp đãi quan khách, những thiếu nữ trẻ tuổi nhanh nhẹn bưng ra các khay trà, trầu cau và các khay thuốc lá đầy đủ thuốc, vỏ thuốc và lá cuốn để khách có thể tự tay cuốn thuốc theo ý thích. Một vài cụ ông lớn tuổi đang tụ họp trò chuyện, các cụ chỉ quấn xà-rông ngang hông mà không mặc áo. (Thực tế, các cụ thường cởi áo khoác Taik-pon vắt lên vai khi chuẩn bị vào làng có lễ, rồi khi đến rạp mới tìm cột rạp để treo áo lên một cách sẵn tiện).

Giữa đám đông dân dã ấy, phong thái ăn mặc và dáng vẻ của anh Tha Byaw nổi bật nhất trong số hàng trăm người hiện diện. Anh đang đảm nhận một công việc quan trọng: ngồi trước chiếc bàn trà, giữ dáng vẻ trang trọng để tiếp nhận và ghi chép tiền cúng hỷ của quan khách. Ai đến dự lễ cũng đều gặp anh đầu tiên trước khi vào tiệc ăn uống và trò chuyện. Vì vậy, công việc của Tha Byaw được xem là quan trọng nhất lúc bấy giờ. Vì chỉ mới hoàn tục chưa lâu sau thời gian làm tu sĩ, nên anh vẫn giữ được phong thái uy nghi, đĩnh đạc. Giữa những người dân làng quê mộc mạc, Tha Byaw hiện ra đầy khí chất và tề chỉnh, tựa như chim thiên nga lạc giữa bầy quạ.

Cô chị cả của Tha Byaw là Ma Htun Zan phải ở lại trông nhà, trong khi hai người em gái là Ma Wan và Ma Ma Gyi thì tất bật lo việc tiếp đãi tại rạp lễ. Khách khứa cứ từng nhóm một tiến vào. Tha Byaw bận rộn không ngớt tay: lúc thì ghi chép danh sách, lúc nhận tiền, lúc lại trả lại tiền thừa cho khách. Một vài bà dì khi thấy anh liền thốt lên kinh ngạc: "Ô kìa... ai đây nhỉ, hóa ra là thầy Tha Byaw à! Thôi được rồi, ghi sổ cho tôi đi nào. Đệ tử... à không... tôi gửi một kyat nhé". Dù đã từng tiếp xúc với nhiều tầng lớp xã hội trước đó, nhưng khi nghe những lời xưng hô quen miệng kiểu nhà chùa như vậy, Tha Byaw không khỏi cảm thấy ngượng ngùng và lúng túng.

Từ khi còn nhỏ, Tha Byaw đã nuôi chí hướng trở thành một quan thư lại trong cung đình. Anh đã dày công rèn luyện từ cách viết chính tả, nét chữ cho đến cách viết trên lá buông theo đúng phong cách hoàng gia. Anh kể rằng, khi soạn thảo văn bản trước mặt nhà vua, người thư lại phải quỳ phục, không được phép ngẩng đầu nhìn mặt vua; tay trái cầm lá buông đặt lên đỉnh đầu, tay phải cầm bút trâm viết mà mắt vẫn phải nhìn xuống, không được rời khỏi văn bản. Anh đã từng khổ luyện theo cách khắc nghiệt như thế.


Giờ đây, Tha Byaw không trở thành thư lại cung đình mà lại là người thư ký của làng quê. Khi khách khứa đã thưa dần, Tha Byaw bắt đầu kiểm tra lại sổ sách và tiền nong để bàn giao cho chủ lễ. Những tiếng kèn lớn hòa cùng tiếng trống lễ lại vang lên rộn rã. Qua tiếng nhạc, mọi người biết rằng chư Tăng đang tiến vào, thế là cả rạp đều hướng mắt ra cửa đón chờ.

Chư Tăng tay cầm quạt, theo thứ tự hạ lạp lần lượt bước vào rạp lễ, dân chúng đồng loạt phủ phục đảnh lễ. Tha Byaw vẫn đang mải mê với đống sổ sách. Hầu như vị sư nào cũng biết về danh tiếng của Tha Byaw, nên khi bước qua, thấy "anh thư ký" nổi tiếng đang khom lưng ghi chép trong bộ khăn đóng đỏ rực và chiếc xà-rông lụa cũng đỏ chói, các ngài không khỏi mỉm cười trước sự ăn mặc có phần "lệch pha" của anh.

Vào thời đại Inwa, có vị quan Thila Wa nổi tiếng là cả đời chỉ cười đúng ba lần. Một trong số đó là khi ông nhìn thấy một vị sư mới hoàn tục đi tắm sông mà vẫn không chịu tháo khăn đóng trên đầu. Chuyện về những vị sư hoàn tục thường gắn liền với những tình huống dở khóc dở cười như vậy, và họ thường trở thành tâm điểm của những sự việc có phần thiếu hài hòa.

Vị sư trụ trì chùa Saw Ke, người thầy đầu tiên của Tha Byaw, khi đến dự lễ và nhìn thấy anh đã không khỏi cảm thấy xót xa. Những vị sư cùng lứa học với anh cũng dùng quạt che mặt, khẽ khàng bàn tán về "diện mạo" mới của anh với lòng thương cảm. Bất cứ ai biết về năng lực và định mệnh của Tha Byaw hẳn cũng sẽ thấy bùi ngùi.

Ít ai ngờ rằng Tha Byaw, người đang ở trong thân phận cư sĩ không mấy phù hợp này, chính là tiền thân của **Đại Trưởng lão Thaton Jetawun**, vị thánh tăng sau này sẽ tỏa sáng như mặt trăng mặt trời trong **lịch sử truyền thừa pháp hành (Paṭipatti Sāsana)**. Thật vậy, cuộc đời cư sĩ hoàn toàn không tương xứng với một nhân cách như Tha Byaw.

### Cuộc đời thăng trầm trong thời gian ngắn

Tha Byaw sinh ngày mùng 5 tháng Giêng năm 1230 (Miến lịch), vào khoảng chập tối, là con của bà Daw Paing (người làng Adi-kan-kyi-kon) và ông U Nyo (người làng Kyauk-pa-nan).

Năm lên tám tuổi, cậu được gửi vào học tại chùa Saw Ke nằm giữa hai làng Kyauk-pa-nan và Kan-kyi-kon. Nhờ sự lễ phép, hiểu chuyện và đặc biệt là sự thông minh, cần cù, cậu rất được vị sư trụ trì tin yêu. Chẳng bao lâu, cậu đã hoàn thành chương trình học căn bản. Đến năm 12 tuổi, cậu đã thuộc lòng tám bộ ngữ pháp (Saddā) và các bộ chú giải. Thấy học trò quá thông minh, dù chưa dạy đến bộ Thắng Pháp Tập Yêu (*Saṅgaha*), vị sư đã thử dạy các phần **Thắng Pháp (Abhidhamma)** nâng cao và vô cùng kinh ngạc trước sức tiếp thu phi thường của cậu.


Năm 14 tuổi, cậu xuất gia sa-di với pháp danh **Nārada**. Sau khi hoàn thành các oai nghi phép tắc của sa-di, cậu thậm chí còn thuộc lòng bộ **Nhị Mẫu (Dve Mātikā)** vốn dành cho các vị Tỳ-kheo. Thấy vậy, vị thầy đã dạy cho cậu năm bộ Luật Tạng (*Vinaya Piṭaka*) — vốn là những bộ kinh điển dành cho các vị Tỳ-kheo thâm niên. Chỉ trong vòng ba bốn năm, cậu đã thông suốt cả năm bộ Luật này.

Có thể nói, ngay từ thời sa-di, nền móng của giáo pháp đã được đặt vững chắc trong tâm khảm của Sa-di Nārada. Vị sư trụ trì chùa Saw Ke không ngớt lời khen ngợi và tự hào về người học trò này.

### Vị sa-di hoàn tục và biến động thời thế

Sa-di Nārada dù nhỏ tuổi nhưng học vấn lại uyên bác vượt xa bạn đồng lứa. Cậu từng lập chí: "Nếu không làm tu sĩ suốt đời, ta sẽ dùng học vấn của mình để phụng sự trong cung truyền". Cậu là người có chí lớn và sự kiên trì bền bỉ. Tuy nhiên, những dòng nghiệp lực bất ngờ đã khiến mọi dự định của cậu rẽ sang hướng khác. Cha cậu đột ngột qua đời, và chỉ bảy tháng sau, mẹ cậu cũng ra đi. Các chị em gái là Ma Htun Zan, Ma Wan và Ma Ma Gyi khi ấy vẫn còn thơ dại, không nơi nương tựa, lâm vào cảnh vô cùng khốn khó.

Thế là Sa-di Nārada đành phải hoàn tục.

Chàng trai Tha Byaw giờ đây phải cùng ba người chị em của mình làm lụng vất vả, cùng bầy bò cày cuốc trên mảnh đất Kyauk-ke-kon để mưu simh qua ngày.

Dù vậy, ý nghĩ "đã sinh ra ở đời thì phải có ngày làm quan giúp nước" vẫn luôn thôi thúc trong tâm trí anh.

Nhưng thời thế lúc bấy giờ đã dập tắt hy vọng đó. Năm 1247 (Miến lịch), khi Tha Byaw mới 17 tuổi, quân Anh (được gọi là bọn ngoại đạo da trắng) đã bắt đầu xâm chiếm và biến Miến Điện thành thuộc địa. Các cuộc nổi dậy nổ ra khắp nơi. Với bản tính quyết đoán, nhiệt huyết của tuổi trẻ, cộng với việc các dự định cá nhân đều không thành, Tha Byaw đã quyết định rời khỏi làng Kyauk-pa-nan, mai danh ẩn tích để tham gia vào dòng chảy biến động của đất nước.

Mãi đến khi người Anh thiết lập quyền cai trị và các cuộc biến loạn tạm thời lắng xuống, Tha Byaw mới...

Nghe tin cháu mình đang ở nhà người bác (anh của thân phụ) tại làng Kaung-mhu, thị trấn Kun-gyan-gon, quận Han-thar-wa-dy. Trong thời gian ở đó, có một ngày tâm trạng không vui, Ngài giữ im lặng, nằm trên giường suốt hai ngày liền, không ăn không uống.

Người cô mới nói với người bác rằng: "Thật là lạ, không ăn không uống thì đành rồi, nhưng đến cả việc bài tiết cũng không thấy, quả là điều hy hữu."

Thực ra, Maung Thar Byaw đang đứng giữa những cơn phong ba của cuộc đời, một bên là tình cảm với các chị em gái, một bên là tâm đạo đã bén rễ sâu vào xương tủy, Ngài đang nhiều lần cân nhắc chọn lựa hướng đi cho tương lai. Cuối cùng, Ngài đưa ra quyết định và trở về quê hương Miền Thượng (Anyar).

### Ngài U Nārada đi theo tiếng gọi của tâm thức

Năm 1249 (Miến lịch), khi về đến Miền Thượng, trong lúc cùng các chị em làm rẫy, Ngài dần dần thuyết phục và xin phép họ để được xuất gia tỳ-khưu. Tất cả đều đồng ý tán thành. Lúc này Ngài cũng vừa tròn 20 tuổi. Do đó, Ngài đã xuất gia với Ngài Trưởng lão U Lakkhaṇa (một người anh họ) tại chùa rừng Man-kyi-su, phía đông nam làng Kan-gyi-kone. Bà Daw Am Sar và ông U Paw Sa (em họ của bà Daw Paing) đã nhận làm thí chủ hộ độ.

Đời sống nơi tự viện cùng với tâm nguyện của một bậc xuất gia đã giúp Ngài quên đi quá khứ; những giáo pháp kinh điển đã từng học hỏi trước đây nay trở thành nguồn an lạc vỗ về tâm hồn Ngài U Nārada.

Sau khi tiếp tục học hỏi thêm về Pāḷi và Tạng Kinh, cảm thấy vẫn chưa thỏa mãn, Ngài đã chuyển đến học với Ngài Trưởng lão **U Rājinda**, vị Thống chủ của ba hệ phái (Thon-gaing-choke), tại chùa Taung-pā-gyi trên dãy núi Minh-kun. Vị Thống chủ đã tận tình chỉ dạy phương pháp nghiên cứu Tạng Kinh một cách thấu đáo, giúp Ngài tiến bộ vượt bậc chỉ trong vài tháng, vài năm. Cảm mến phong cách sống và ý chí của Ngài, vị Thống chủ đã giao cho Ngài U Nārada trọng trách giảng sư (Sā-cha), rồi sau đó giao luôn cả việc quản lý tự viện.

Tuy nhiên, Ngài U Nārada không đảm nhận trọng trách đó lâu dài mà đã lên Mandalay, tìm đến chùa Moe-kaung — nơi nổi tiếng về Vi Diệu Pháp — để tu học. Từ đó, Ngài lần lượt chuyển qua các đại tự viện như Dakkhiṇavan, Myat-taung, và San-kyaung; Ngài đã học hỏi với nhiều vị thầy khác nhau để trang bị đầy đủ kiến thức, đồng thời cũng đảm nhận việc giảng dạy cho các chú Sa-di và Tỳ-khưu trẻ.

Sau đó, do duyên sự, Ngài chuyển đến lưu trú với Ngài Thầy nổi tiếng tại chùa Veḷuvan, thị trấn Shwe-taung, quận Pyay. Với trí tuệ sắc bén, tinh tấn dũng mãnh trong giáo pháp, cùng với phong cách sống đáng ngưỡng mộ, Ngài lại một lần nữa được Ngài Thầy tin tưởng giao cho quyền điều hành đại tự viện Veḷuvan. Thế nhưng, Ngài U Nārada cảm thấy không phù hợp với cuộc sống ở Miền Hạ, nên đã quay trở về Minh-kun. Tại đây, Ngài vừa làm tròn bổn phận đối với thầy tổ và tăng chúng, vừa giảng dạy giáo pháp, đồng thời dành thời gian nghiên cứu sâu rộng vào các bản Pāḷi, Chú giải (Aṭṭhakathā) và Phụ chú giải (Ṭīkā).



Tiếng tăm của vị giảng sư U Nārada bắt đầu lan rộng khắp vùng Sagaing và Minh-kun. Thời điểm đó, bản '**Mahā-ṭīkā**' của Ngài Ledi Sayadaw đang tạo nên một làn sóng lớn; Ngài U Nārada đã nảy sinh ý định: "Nếu là mình, mình sẽ viết Chú giải", và đã dự định soạn thảo bản '**Chú giải**' mở rộng cho '**Peṭakopadesa Pāḷi-taw**'.

Một đêm nọ, Ngài U Nārada nằm mơ thấy hai chiếc răng cửa hàm dưới bị gãy. Theo quan niệm "răng dưới gãy thì người dưới quyền mình có thể gặp nạn", Ngài đã vội vàng đi bộ hơn hai dặm đến làng Kyauk-pa-nan nơi các em gái đang ở để hỏi thăm sức khỏe. Các em của Ngài lúc bấy giờ vẫn chưa lập gia đình.

Trong khi đang chuẩn bị cho việc soạn thảo Chú giải, Ngài đã gọi các chị và các em đến chùa và nói ngay khi họ vừa đến: "Sư sắp hoàn tục đây, hãy mang quần áo đến cho Sư, Sư không yên tâm về các con." Nghe vậy, các chị em đều khóc lóc thảm thiết. Dù họ đã hết lời cầu xin nhưng vô ích, cuối cùng, với tính cách kiên định và có phần cứng nhắc, Ngài đã xuất hiện trong trang phục cư sĩ với khăn đóng đỏ, xà-rông lụa đỏ, ngồi trước bàn viết và trở thành một thư ký (Sā-yay-gyi) tại một rạp lễ bố thí. Tất cả các bậc thầy và bạn đồng tu khi nghe tin hoặc nhìn thấy cảnh tượng đó đều không khỏi bàng hoàng và tiếc nuối.

Để khuyên bảo Ngài U Nārada (nay là Ko Thar Byaw), người ta đã dẫn lời đức Thế Tôn dạy trong (**Tương Ưng Bộ - Chương Một Pháp - Phẩm Không Điều Phục**):

"Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-khưu, lại đem đến bất lợi lớn và đau khổ như một tâm không được điều phục, không được hộ trì."

Và cũng trong (**Chương Một Pháp - Phẩm Thứ Ba**):

"Người tinh tấn trong một giáo pháp không chân chính sẽ chuốc lấy khổ đau, còn người ít tinh tấn lại được an lạc; vì đó không phải là con đường thoát khổ. Ngược lại, trong một giáo pháp chân chính, người tinh tấn sẽ được an lạc, còn người ít tinh tấn phải chịu khổ đau." Qua đó, Ngài so sánh cách vận dụng sự tinh tấn trong và ngoài giáo pháp. Nhìn lại những lời dạy này để thấy rằng không phải cứ có ý chí, nghị lực là đều mang lại lợi ích.


Khi thực hiện những việc không mang lại lợi ích hoặc làm việc sai phương pháp, thì tinh tấn bao nhiêu sẽ càng chuốc lấy khổ đau bấy nhiêu, thậm chí là nỗi nhục nhã và tổn thất.

Vì vậy, trước khi định làm việc gì, cần phải phân xét kỹ lưỡng xem việc đó có đưa đến đoạn giảm tham, sân, si hay không; đúng hay sai; có được các bậc thiện trí thức như đức Phật tán dương hay không. Dù là việc đúng đắn, cũng phải cân nhắc xem sức mình có thực sự làm nổi hay không, thời gian, hoàn cảnh và địa điểm có phù hợp hay không.

Ngay cả đối với những việc thiện lành, nếu tâm thiếu sự chánh niệm, trí tuệ soi sáng, mà lại nỗ lực một cách mù quáng, cố chấp thì cũng không thể mang lại kết quả tốt đẹp.

Đối với các hành giả đang dùng công đức Vipassanā để thanh toán những món nợ nghiệp cũ, rút ngắn dần vòng luân hồi, thì tâm càng hăng hái, ý chí càng cao thì càng phải biết cân nhắc sao cho đúng với '**Trung Đạo**' (Majjhima Paṭipadā). Nếu không, dù đang đi đúng hướng nhưng vẫn có thể bị lệch lạc.

Sau khi trải qua bao thăng trầm của cuộc đời, trong lúc cuộc sống cư sĩ sau khi hoàn tục vẫn chưa ổn định, Ko Thar Byaw đã được Ngài Trưởng lão **U Mañjūsāra** tại chùa Minh-kun Alae-taw-ya khuyên bảo và dẫn dắt trở lại với đời sống xuất gia. Ngài U Nārada xuất gia lần thứ hai. Chẳng bao lâu sau, Ngài được Ngài Trưởng lão **U Gandhamā** từ thị trấn Let-pan-tan thỉnh mời về giảng dạy giáo pháp. Ngài chỉ ở Let-pan-tan một mùa hạ rồi lại quay về Minh-kun.

### Ngài U Nārada phải bật khóc

Sau khi trở về Minh-kun, trong khi đang tiếp tục công việc quản lý tự viện và giảng dạy tại chùa Taung-pā-gyi, Ngài lại nhận được lời thỉnh mời làm trụ trì và giảng sư tại một ngôi làng lớn ở thị trấn Mat-ta-ya. Theo lệnh của Ngài Thầy, Ngài lại phải lên đường. (Đây chính là cách mà giáo pháp và đồ chúng đã "giữ chân" Ngài, không để Ngài có cơ hội tiến sang phương diện Pháp hành - Paṭipatti).

Việc làm quản chúng hay giảng sư thì dễ khước từ, nhưng một khi đã mang danh trụ trì thì không dễ gì rời đi ngay được. Ngôi chùa ở làng quê đó có hàng ngũ thí chủ hùng hậu, tăng chúng Sa-di lại đông đúc, nên khi thỉnh được một bậc đa văn túc học như Ngài U Nārada, cả vùng đều vô cùng hoan hỷ.

Ngài U Nārada cũng được tự do điều hành theo ý nguyện của mình,


Ngài hoan hỷ với việc phụng sự Giáo pháp. Tuy nhiên, không lâu sau đó, ngài gặp phải sự bất đồng về uy tín đối với một số vị Sa-di lớn tuổi và các vị **Tỳ-kheo** (U Pazin) đương thời. Dù ngài đã hết lòng nhẫn nhục, khuyên dạy và thuyết giảng nhưng vì họ không phải là những đệ tử thân cận gắn bó từ thuở nhỏ, nên đúng như câu nói: "Khi vị Tỳ-kheo lớn tuổi đến, đó là kẻ thù của trụ trì", việc quản lý dần trở nên khó khăn. Về sau, ngay cả các học tăng và các vị Sa-di lớn tuổi cũng chịu ảnh hưởng của xu hướng chống đối, việc dạy bảo ngày càng trở nên nan giải.

Sợ bị xem là "có học thức nhưng không biết quản lý", ngài đã cố gắng nhẫn nhịn. Thế nhưng cuối cùng, ngài đã phải vào trong phòng trang nghiêm, trùm kín y lên đầu mà khóc nức nở. Khi ấy, danh tiếng của ngài đang bắt đầu lan rộng, cả vùng đều ngưỡng mộ, ngài không biết phải xử trí ra sao. Rời đi đột ngột thì không được, khiến tâm ngài vô cùng khổ não. (Hãy lưu ý đến nghiệp quả khuấy động này).

Chính sự phiền toái từ đồ chúng và những kiến thức kinh điển đã thức tỉnh **Ngài U Narada** cần phải thay đổi lộ trình cuộc đời.

Người hướng thiện thì không thể làm cho xấu đi, còn người có tâm tính xấu thì khó mà uốn nắn thành tốt. Sau khi khóc cho vơi bớt nỗi niềm, từ ngày hôm sau, tâm kinh cảm (Saṃvega) phát khởi trong ngài. Ngài tự vấn: "Nỗi khổ của sự giận dữ, phiền muộn và khóc lóc thật là thiêu đốt. Liệu có pháp nào giúp thoát khỏi nỗi khổ này chăng?". Ngài tìm kiếm câu trả lời trong khi đọc sách để khuây khỏa tâm hồn.

**Sokaparidevānaṃ samatikkamāya** = Bốn phép Tứ Niệm Xứ dẫn đến sự vượt qua sầu não và khóc lóc; **Dukkhadomanassānaṃ atthagamāya** = dẫn đến sự chấm dứt khổ thân và khổ tâm.

Khi bắt gặp đoạn kinh văn về Tứ Niệm Xứ này, ngài vui mừng khôn xiết. Tuy nhiên, vì chưa thấu triệt phương pháp thực hành, ngài chỉ mới thử nghiệm các pháp truyền thống như **Niệm Phật** (Buddhānussati) và **Thiền Tâm Từ** (Mettā Kammaṭṭhāna).

Một niềm tin mãnh liệt nảy sinh rằng: "Khi đến Mingun, mình sẽ tìm thấy câu trả lời". Do đó, không lâu sau, sau khi đã thưa chuyện ổn thỏa với các bậc thầy và các thí chủ liên quan, ngài đã rời bỏ Phật học viện **Madaya** để lên đường đến chùa **Mingun Taung Paw Gyi**.

Khi từ **Madaya** đến **Mingun**, **Ngài U Narada** lại phải chuyển từ chùa Taung Paw Gyi sang chùa **Alal Tawya** để cư ngụ. Lần chuyển đổi này là bước ngoặt tuyệt vời nhất trong cuộc đời ngài. Vị Thiền sư ở chùa Taung Paw Gyi vốn chỉ thực hành Pháp hành (Paṭipatti) ở mức vừa phải, phần lớn thời gian dành cho việc nghiên cứu Pháp học (Pariyatti), và Ngài U Narada cũng từng noi theo gương đó. Tuy nhiên, vị Thiền sư tại **Alal Tawya** lại là bậc thầy thiên trọng về Pháp hành hơn.



"Việc học và dạy kinh điển đã quá nhiều rồi. Cứ sống thế này thì sẽ chẳng bao giờ thực hành được Sa-môn hạnh. Mà nếu không thực hành được, thì dù học cao hiểu rộng đến đâu cũng không thể thoát khỏi khổ đau". Tuệ giác ấy vốn như than hồng vùi dưới tro bỗng lóe lên, còn mạnh mẽ hơn cả tiếng sét đánh ngang tai. Qua việc học và dạy, ngài đã đi khắp các vùng, đã nếm trải đủ nỗi khổ của nhân sinh. Tuệ giác "than hồng dưới tro" ấy bắt đầu tháo gỡ từng nút thắt trong cuộn chỉ rối bời của cuộc đời mà bấy lâu nay ngài vô tình ôm giữ.

"Cuộc đời mình trong thời gian qua đã có quá nhiều biến động, chỉ còn cách vực thẳm trong gang tấc". Ngẫm lại hành trình từ thuở nhỏ như thể đứng từ trên đỉnh núi nhìn xuống, ngài không khỏi rùng mình kinh hãi.

### Những bậc giữ kho Bất Phóng Dật

Vào năm 37 tuổi, **Ngài U Narada** đã định thỉnh giáo phương pháp thực hành thiền quán từ vị Thiền sư trụ trì, nhưng ngài lại được giao phó trách nhiệm quản lý tăng chúng và dạy học. Trước đây, mỗi khi gánh vác trọng trách này, ban đầu ngài thường cảm thấy hài lòng, nhưng lần này, chính trách nhiệm đó lại làm ngài lo sợ. Dù vậy, ngài vẫn không thể từ khước và phải tiếp tục đảm đương. Ý định thỉnh cầu pháp hành lại một lần nữa bị vùi lấp.

Một ngày nọ, sau khi xem sách xong, trong lúc ngài đang chú tâm đọc tụng lại những gì đã học, bất ngờ Ngài Hòa thượng trụ trì đi ngang qua và hỏi:

"Này **U Narada**, thầy học tập và ghi nhớ kinh điển nhiều như vậy để làm gì?".

Ý định vốn đang bị dồn nén bỗng nhiên bộc phát, ngài thưa rằng:

"Bạch Ngài, con muốn đạt đến Niết-bàn".

"Nếu muốn đạt đến Niết-bàn, chỉ cần thực hành **Bhūtaṃ bhūtato passati** (thấy rõ mọi sự vật như chúng đang là) là đủ rồi". Nói đoạn, Hòa thượng bước đi.

Câu nói ấy như tiếng sét thứ hai giáng xuống đầu **Ngài U Narada**. Dường như Hòa thượng đã thấu suốt tâm can và nhìn thấy rõ mọi việc.

Nghiệp lực thật kỳ diệu. Nếu biết quan sát bằng **Niệm** (Sati), **Định** (Samādhi) và **Tuệ** (Paññā) thì sẽ thấy rõ điều đó. Ngài U Narada thở phào nhẹ nhõm, miệng lẩm bẩm cụm từ "**Bhūtaṃ bhūtato passati**" và suy ngẫm về ý nghĩa sâu xa của nó.

"Hễ thấy rõ thực tại đúng như nó đang là thì sẽ đạt đến Niết-bàn". Ngay lập tức ngài thấu hiểu và quyết tâm thực hành.

---

Vào lúc các tổ chức chính trị của chư Tăng, gọi là Thathanathammaggi, đang trỗi dậy, các học tăng trở nên khó dạy bảo, điều này đối với **Ngài U Narada** như một cú hích đẩy ngài nhanh chóng bước vào con đường thực hành Pháp hành.




"Này **U Narada**, nếu muốn thoát khổ thì không có con đường nào khác ngoài Tứ Niệm Xứ, **Ekāyano ayaṃ maggo** (đây là con đường duy nhất)". Ngài Hòa thượng đã dạy như vậy, nhưng ngài không chỉ dẫn chi tiết cách thực hành ra sao, và Ngài U Narada cũng không thưa hỏi thêm. Từ trong tiềm thức (subconscious), ngài bắt đầu đối chiếu kinh văn "**Đại Niệm Xứ**" (Mahāsatipaṭṭhāna Sutta) với các bản Chú giải (Aṭṭhakathā) và Sơ giải (Ṭīkā), suy xét đi suy xét lại nhiều lần.

Trong lúc ngài đang dốc lòng nghiên cứu các tài liệu về Tứ Niệm Xứ để chuẩn bị buông bỏ tất cả mà tu tập, thì ý định viết bản Chú giải "**Peṭakopadesa Aṭṭhakathā**" lại hiện ra ngăn trở. Cái danh xưng "Bậc thầy Chú giải" hào nhoáng chính là vũ khí cuối cùng mà **Ma vương** (Māra) sử dụng. Lúc bấy giờ Ngài U Narada có lẽ chưa nhận ra, nhưng thiện nghiệp của ngài đã tạm thời ngăn chặn được hiểm họa đó.

Chẳng bao lâu sau, ngài xin phép Hòa thượng rời khỏi tăng đoàn, đi vào khu rừng cách chùa **Alal Tawya** khoảng bốn furlong (tầm 800m) về phía Tây. Một thiền thất nhỏ do vị nữ tu trưởng **Daw Ei** ở hang Gu Kalay cúng dường đã giúp ngài có nơi nương tựa. Tại đó, ngài tri túc với những gì đang có và kiên trì thực hành "**Pháp hành Bất Phóng Dật - Tứ Niệm Xứ**" không ngừng nghỉ. (Nơi này hiện nay được gọi là khu phía Tây của chùa Alal Tawya).

Kể từ thời điểm đó, có thể nói trách nhiệm dạy bảo của vị Thiền sư chùa Taung Paw Gyi và Thiền sư chùa Alal Tawya đối với ngài đã hoàn tất. Hai vị Hòa thượng này giống như **Trưởng lão Siggava** và **Trưởng lão Caṇḍavajjī**, những người đã dành thời gian dìu dắt vị Bồ-tát tương lai **Moggaliputta Tissa** bước vào đường đạo.

**Trưởng lão Siggava** đã dẫn dắt Ngài Moggaliputta Tissa xuất gia và ngay lập tức thúc đẩy việc thực hành Pháp hành. Tuy nhiên, vì Ngài Tissa còn trọng trách tổ chức cuộc Kết tập Tam tạng lần thứ ba để phụng sự Giáo pháp, nên Trưởng lão chỉ hỗ trợ ngài đạt đến đạo quả Dự lưu (Sotāpanna), đủ để ngài không rời xa Giáo pháp và có tuệ giác định tĩnh chín muồi, chứ chưa đưa ngài đạt đến quả vị Alahan ngay. Thấy ngài đã nếm trải hương vị Pháp (Dhammarasa), sợ ngài sẽ sống an nhiên mà quên đi Phật sự, Trưởng lão chưa để ngài đạt đến cứu cánh cuối cùng. Sau đó, ngài được gửi đến **Trưởng lão Caṇḍavajjī** để học tập Pháp học. Ngay từ thời Sa-di, ngài đã trở thành bậc **Tam Tạng Pháp Sư** (Tipiṭakadhara). (Trích Chú giải Luật Tạng, tập Pārājika, trang 30-31).

Thực tế, hai vị Hòa thượng ở Taung Paw Gyi và Alal Tawya đều là những đệ tử thừa hưởng gia tài **Bất Phóng Dật** (Appamāda) từ **Ngài Thiền sư Thilon**, bậc thầy của vua Pagan và vua Mindon, một vị đã đắc sức mạnh tâm linh và thần thông (Jhāna Abhiññā). Vào thời đó, vị Thiền sư chùa Alal Tawya thậm chí còn được xưng tụng là bậc "A-na-hàm".

Các ngài đã tự mình tận hưởng hương vị của sự Bất Phóng Dật đó và tiếp tục bảo tồn kho tàng quý báu này...


Nhưng đó chỉ là chuyện của quá khứ. (Trước đó, Ma Vương đã ra tay trước khiến chư thiên chỉ còn biết khoanh tay đứng nhìn.) Sự sắp đặt của các nghiệp quả thật kỳ diệu và nằm ngoài tầm hiểu biết của trí tuệ thông thường. Nếu chúng ta có thể quán chiếu được rằng "nhân này dẫn đến quả kia, quả này phát sinh từ nhân nọ" (như những bậc tiền bối cao thượng đã dùng cả cuộc đời để chứng minh), chúng ta sẽ thấy rõ bản chất của những "tạp chất" luôn tìm cách trì hoãn, làm chệch hướng hoặc can thiệp vào tiến trình nhân quả ấy. Chỉ khi đó, chúng ta mới có thể "nhìn thấy hiểm nguy từ xa" trước khi nó ập đến.

### Tuệ giác tự thân không lay chuyển

Ngài **U Nārada** đã nỗ lực không ngừng nghỉ, hy sinh cả mạng sống để thực hành giáo pháp **Appamāda** (Không phóng dật). Nhận thấy lợi ích to lớn của pháp Tứ Niệm Xứ (Satipaṭṭhāna), ngài không khỏi trăn trở cho vận mệnh giáo pháp: "Trong Tạng kinh (Pāḷi) đã dạy rất rõ ràng, trong các bộ Chú giải (Atthakathā) và Phụ chú giải (Ṭīkā) cũng đã giải thích rành mạch, vậy mà sao lại chẳng có ai thực sự bắt tay vào thực hành?" Kể từ đó, ngài càng quyết tâm dấn thân tu tập tinh tấn hơn nữa.

Tứ Niệm Xứ chính là việc quan sát và hay biết liên tục không sót mọi cử động của sắc thân cũng như mọi sự suy nghĩ, biến chuyển của tâm (danh pháp). Phương pháp này vốn dĩ rất rõ ràng và đơn giản. Đầu tiên, hành giả phải quan sát và ghi nhận các cử động đi đứng, co duỗi (về phần sắc). Sau đó, ghi nhận sự suy nghĩ, tác ý (về phần danh). Khi ghi nhận rằng tâm muốn đi phát sinh trước rồi hành động đi (sắc) mới theo sau, hành giả sẽ dần nhận diện được những mầm mống sơ khởi của tâm. Càng thực hành, chánh niệm càng trở nên khăng khít, đề mục ghi nhận cũng ngày một nhiều và tinh tế hơn.

Khi ấy, những quan niệm sai lầm về "cái tôi xinh đẹp, hạnh phúc và trường tồn" sẽ hoàn toàn đảo ngược trước cái nhìn tuệ giác. Những lớp vỏ bọc chế định như trang phục, oai nghi hay sự liên tục của các uẩn (santati-ghana) đều hoàn toàn rơi rụng.

Ví dụ, muốn phân biệt một người là thiện hay ác, ta phải luôn theo sát và quan sát kỹ lưỡng mọi hành động, mối quan hệ của người đó như một thám tử. Chỉ khi ấy, sự thật giữa những gì ta nghe, ta tưởng với những gì mắt thấy tai nghe mới hiển lộ, giúp ta đưa ra được sự phán đoán và kết luận chuẩn xác cho chính mình.

Vì "tiếng ồn là kẻ thù của **Thiền định** (Samādhi)", Ngài **U Nārada** cảm thấy mệt mỏi với ngôi chùa cũ nằm gần khu dân cư náo nhiệt nên đã chuyển đến trú ngụ tại hang Thammone Chat. Sau ba năm độc cư, vào năm 40 tuổi, ngài đã đạt được thành tựu:



Giống như mở tung cánh cửa đang che lấp sự thật, hay như thắp lên ngọn đèn trong căn phòng tối tăm, lần đầu tiên ngài đã chứng ngộ được cốt tủy của cuộc đời. Như một cột trụ vững chãi được chôn sâu dưới đất không hề lay chuyển trước những cơn gió thổi đến từ bốn phương, ngài đã thấu hiểu ý nghĩa của danh sắc và cuộc đời một cách kiên định, không một tà thuyết hay quan điểm sai lệch nào của nhân, thiên hay phạm thiên có thể làm rúng động được nữa.

**Bhūtaṃ bhūtato passati** = Ngài đã nhìn thấy sự vật như chúng đang là.

### Dẫu giảng đến khô cổ cũng chỉ nhận lại sự mệt mỏi

Sau khi tự mình thực chứng pháp hành Tứ Niệm Xứ (**Appamāda**) và khởi tâm tôn kính, tin tưởng tuyệt đối (bằng đức tin do chứng ngộ - adhigama-saddhā) vào các ân đức "Thiết thực hiện tiền" (Sandhiṭṭhika) và "Không có thời gian" (Akālika), Thiền sư **U Nārada** tại chùa Mingun Alae Tawya bắt đầu xiển dương ân đức "Đến để mà thấy" (Ehipassika). Trong suốt ba năm đó, dù một số người coi ngài là một vị sư kỳ lạ, nhưng khi họ dần tìm đến nghe pháp, ai nấy đều ngỡ ngàng trước những lời dạy khác lạ của ngài: "Đi – ghi nhận là đang đi; dừng – ghi nhận là đang dừng; ngồi – ghi nhận là đang ngồi; nằm – ghi nhận là đang nằm."

Sau ba năm, không chỉ tiếp những người đến hỏi đạo, ngài còn chủ động tìm cơ hội để thuyết giảng. Gặp bất kỳ ai, ngài cũng đều giảng dạy pháp hành ấy, khiến người nghe không khỏi kinh ngạc.

"Đây chính là pháp Tứ Niệm Xứ mà cha mẹ, ông bà các con vẫn thường đọc tụng khi lễ Phật. Đây không phải là kinh để đọc suông, mà là pháp để thực hành. Đức Phật đã dũng mãnh khẳng định rằng nếu thực hành trong bảy ngày, các con có thể đắc chứng Niết-bàn. Hãy cố gắng lắng nghe, thực hành và đừng nghi ngờ." Tuy nhiên, vì đây là những lời dạy quá mới mẻ chưa từng được nghe qua, người nghe kẻ thì cười cợt, người thì mỉa mai.

Họ phản bác và nhạo báng rằng: "Đi mà biết đi thì ai chẳng biết, ngay cả chó lợn cũng biết vậy thôi", hoặc "Đó chỉ là thiền định (samatha) thôi, là pháp chế định (paññatti) thôi". Dù bị phản đối và hạ thấp như thế, Ngài **U Nārada** vẫn không hề bỏ cuộc.

"Họ có mê muội thì cứ để họ mê muội, ta vẫn phải thuyết giảng cho đến khi họ quen tai thì thôi", ngài kiên trì tự nhủ. Tuy nhiên, dù ngài có giảng đến khô cổ thì cũng chỉ nhận lại sự mệt mỏi. Suốt một năm trôi qua, vẫn chẳng có lấy một người nào chịu bắt tay vào thực hành thiền tập.

Có lẽ vì quan niệm "yêu quý người mới mến mộ đạo", khi thấy không có ai ở Mingun chịu nghe và thực hành theo, Ngài **U Nārada** quyết định trở về quê hương để dùng giáo pháp để báo đáp thâm ân. Điều này cũng giống như "khi được ăn ngon thì nhớ đến người thân thiết", đồng thời cũng là để thực hành **Ñātattha-cariyā** (Pháp hành vì lợi ích cho thân quyến). Khi về đến làng, ngài dựng một trú xứ thiền giữa rừng Kyaukpyok Kone, phía đông làng Kangyikone để cư ngụ.




Trước đó, vị sư trụ trì chùa Moatgyisu Tawya là Ngài **U Lakkhaṇa** đã nói với những người thân cận rằng ông đã nằm mơ thấy một con bạch tượng đến quỳ phủ phục tại đây.

Kể từ ngày đến nơi, Ngài **U Nārada** không bỏ lỡ một ai, dù là một người hay mười người tìm đến, ngài đều ban bố thời pháp. Thế nhưng, tình hình ở quê nhà thậm chí còn tệ hơn ở Mingun. Người dân bắt đầu chế giễu ngài: "Đi – biết đi, ăn – biết ăn, nhai – biết nhai, nuốt – biết nuốt, nghẹn – biết nghẹn, chạm – biết chạm, nhéo – biết nhéo". Vì đây là nơi ngài sinh trưởng nên sự phê bình từ những người quen biết lại càng trở nên thiếu nể nang và cay nghiệt hơn theo kiểu "bạn bè lâu ngày gặp lại". Nhưng Ngài **U Nārada** không hề nản lòng, ngài vẫn tiếp tục thuyết giảng. Dần dà, lượng người ra vào chùa cũng thưa thớt hẳn.

Một người thị giả thân tín, vốn đã nghe quá nhiều lời bàn tán trong làng, vì lo lắng cho ngài nên một ngày nọ đã thưa rằng:

"Bạch Ngài, mọi người đang bàn tán rằng: Vị sư này đang bày đặt ra những thứ kỳ lạ, thuyết những pháp mà người khác không thuyết, chỉ những pháp mà người khác không chỉ, ban những pháp mà người khác không ban, và thực hành những pháp mà người khác không thực hành."

Ngài **U Nārada** nghe xong chỉ mỉm cười và ôn tồn đáp lại:

"Có thuyết những pháp mà người khác chưa thuyết, thì người ta mới được nghe những điều chưa từng nghe. Có ban những pháp mà người khác chưa ban, thì người ta mới nhận được những gì chưa từng có. Có thực hành những gì người khác chưa thực hành, thì mới có thể chứng ngộ được những pháp đặc biệt mà người khác chưa thấy, từ đó mới hưởng được những lợi ích thù thắng, con ạ."

Tuy đã khẳng định như vậy, nhưng sau một mùa an cư mà kết quả vẫn không như mong đợi, ngài đành phải quay trở lại Mingun.

Trong công cuộc độ hóa thân quyến này, Ngài **U Nārada** đã không thi thố các thần thông biến hóa như phun nước, phun lửa để khiến họ tin phục. Trong mắt họ, ngài vẫn chỉ là "U Thar Byaw" (tên tục của ngài) ngày nào, nên việc không ai muốn lắng nghe hay thực hành theo cũng không phải là điều gì quá lạ lẫm. Nghiệp lực của chúng sinh quả thật thường khiến họ lỡ mất những cơ hội quý báu.

### Chỉ khi kiên định mới mong thành tựu

Dù trong suốt hai năm qua Ngài **U Nārada** không tìm được ai muốn thực hành, thậm chí số người muốn nghe pháp cũng thưa dần, nhưng ngài vẫn không hề nản chí. Với tâm nguyện mãnh liệt và kiên định, ngài vẫn tận dụng mọi cơ hội để thuyết giảng. Một ngày nọ, tại vùng phụ cận Mingun...

# Các Bậc A-la-hán và Những Vị Đặc biệt


Gia đình ông bà môi giới trung gian **U Thi** (U Thit) - **Daw Kyaut** từ chợ Thure Zay, thành phố Mandalay, những người đang giữ giới bát quan dài ngày, đã tìm đến để nghe pháp về điều mà họ nghe đồn là "vô cùng kỳ diệu". Không thỏa mãn với việc chỉ dừng lại ở mức nghe, họ đã thỉnh cầu được thực hành thực tế. Ngài Thiền sư đã chỉ dạy cho họ lợi ích của pháp Tứ Niệm Xứ (Satipaṭṭhāna) cùng với phương pháp quán chiếu (vipassanā).

Đầu tiên, Ngài hướng dẫn cách quán chiếu phần Sắc (Rūpa) bằng cách phối hợp phần Oai nghi (Iriyāpatha) và phần Tỉnh giác (Sampajañña). Đúng như lời dạy trong luận Vô Tị Giải Pháp (Visuddhimagga): "Khi đã thấu triệt được Sắc thì Danh (Nāma) cũng sẽ tự nhiên hiện khởi rõ rệt", sau khi hành giả đã làm chủ được phần Sắc, Ngài tiếp tục hướng dẫn quán chiếu các trạng thái của Danh. Chỉ sau khoảng bốn, năm ngày, bản thân hành giả đã có thể cảm nếm được hương vị của giáo pháp, khiến cả hai vợ chồng đều trở nên hăng hái và phấn khởi.

Họ đã nhận ra được thứ hạnh phúc không hề có ở cõi người hay cõi trời (theo Đại Sớ - Mahāṭīkā), thứ hạnh phúc mà những người không thực hành không thể nào biết được (**Amānusī rati** - hỷ lạc siêu nhân). Vì đạt được điều này chỉ trong vài ngày, họ không còn cảm thấy mệt mỏi mà càng muốn tiến sâu hơn nữa vào việc quán chiếu. Ngài Thiền sư cũng quan sát thái độ của hành giả để điều chỉnh sao cho phù hợp (không quá căng, không quá chùng).

"Này nam nữ cư sĩ, khi quán chiếu, đừng cố làm cho nó sanh, cũng đừng cố làm cho nó diệt. Chỉ cần hay biết cái đang sanh và đang diệt mà thôi. Cố làm cho sanh là Tham (Lobha), cố làm cho diệt là Sân (Dosa), còn không biết rõ sự sanh diệt là Si (Moha)."

Lời pháp thẳng thắn, không dùng âm điệu mỹ miều của Pali, khiến những người bình thường có khi không hiểu Ngài đang nói gì, nhưng đối với vợ chồng ông bà môi giới, đó lại là những lời thấm thía đến tận xương tủy, khiến họ vô cùng an lạc và mãn nguyện. Họ hiểu ngay lập tức thái độ tâm lý cần có khi quán chiếu, trí tuệ bừng sáng. Từng ngày một, Ngũ Quyền (Indriya) gồm: **Tín (Saddhā)**, **Tấn (Viriya)**, **Niệm (Sati)**, **Định (Samādhi)**, **Tuệ (Paññā)** của họ ngày càng nhạy bén, phấn chấn và trở nên cân bằng. Chỉ trong vòng một tháng rưỡi đến hai tháng, họ đã đạt được sự sáng suốt của trí tuệ mà không ai có thể làm lay chuyển được.

Sau đó, **U Nyunt** (em trai ông U Thi), một bà lão giữ giới từ thành phố Phyu (người sau này cũng đắc pháp và xuất gia thành Tu nữ trưởng lão **Daw Kusala** ở Mawlamyine), ông **U Khin** ở Kanyutkwin (người sau đó xuất gia với pháp danh **U Medhāvī**), ông **U San Dun** ở Myothla (bạn của ông U Khin), cùng nhiều hành giả mới từ khắp các tỉnh thành đã tìm đến theo lời truyền miệng. Tại chùa Jetawa, phía tây khu Alattauya ở Mingun, đã có những hành giả lưu lại thực hành kiên trì suốt bốn, năm tháng. Cùng với danh hiệu "Ngài Thiền sư Jetawun", tiếng vang của pháp "Tứ Niệm Xứ" bắt đầu lan tỏa khắp nơi, mọi người dần trở nên quen thuộc với danh từ này.

Ý chí quyết đoán, sắc bén và tinh thần kiên định đến cùng của Ngài Thiền sư đã được vận dụng đúng chỗ vào một công việc đúng đắn như pháp Tứ Niệm Xứ.



Mọi thứ trở nên ăn khớp hoàn toàn. Để khai quật được kho báu vĩ đại vốn đã bị chôn vùi và lãng quên suốt thời gian dài, phải cần đến tâm thế và sự nỗ lực như vậy mới có thể đào xới lên được.

### Bốn Thánh Đế từ chiếc muôi khuấy

Như câu nói "từ một người khởi đầu đến hàng trăm người", theo lời khuyến tấn của các cựu hành giả từ khắp phương xa, số lượng hành giả tìm đến ngày một tăng. Đặc biệt, những hành giả mới từ thành phố Myothla - nơi ông **U San Dun** sinh sống - đã tìm đến Mingun hành thiền đạt kết quả rất khả quan nhờ sự khuyến khích của ông. Khi ông **U San Dun** đến Mingun thực hành, ông đã ở lại khoảng chín tháng, và bài pháp Ngài Thiền sư dành cho ông lúc bấy giờ là bài pháp "nấu mứt Tứ Đại Ngọt" (Catumadhu). Ngài Thiền sư thường quan sát thái độ của hành giả để điều chỉnh đề mục và đối tượng quán chiếu cho phù hợp.

Giống như Ngài **Sāriputta** (Xá-lợi-phất) khi dạy đề mục tử thi (Asubha) cho vị tỳ-kheo con của người thợ vàng không hiệu quả, Đức Thế Tôn đã thấu suốt căn cơ và sở thích của vị ấy nên đã hóa hiện một hồ sen và bảo vị ấy quán cánh hoa sen (Kinh Tittha Jātaka - Tiểu bộ kinh). Việc không có thần thông mà phải thẩm thấu để chỉ dạy đề mục cho đúng là một việc không hề dễ dàng.

Một ngày nọ, Ngài bảo ông **U San Dun** ra giữa trời nắng gắt để khuấy một nồi mứt Catumadhu (gồm bơ, đường cứng, dầu, mật ong). Ông phải quán sát cử động của bàn tay và hay biết "khuấy, khuấy". Công việc này dưới cái nắng nóng gay gắt khiến mồ hôi nhễ nhại, cực kỳ khó nhẫn nại. Phải khuấy liên tục không nghỉ suốt một đến hai tiếng đồng hồ để bốn loại nguyên liệu hòa quyện vào nhau, là một việc rất mỏi tay. (Càng lâu càng tốt, càng khó càng hay để rèn luyện tâm không nôn nóng). Chiếc muôi khuấy trong nồi mứt Catumadhu ấy đã dạy cho ông **U San Dun** về Bốn Thánh Đế. Vì vậy, trong số các đệ tử của Ngài Thiền sư, ông **U San Dun** được tán thán là người có tuệ quán (Bhāvanā-ñāṇa) rất nhạy bén.

Điều này gợi nhớ đến thời Đức Phật, có vị chứng đắc A-la-hán khi đang xào rau, khi đang rửa chân. Điểm này chỉ dạy cho hành giả rằng: "Dù làm bất cứ việc gì, dù ở bất cứ đâu, phải luôn giữ chánh niệm áp sát trên đối tượng". Trong Chú Giải cũng nói rằng, ở đảo Sri Lanka, không có một nhà ăn (Zayat) nào mà không có người đắc quả A-la-hán tại đó. Khi ăn cũng phải có chánh niệm.

Dưới sự dẫn dắt của ông **U San Dun**, các hành giả ở Myothla đã thỉnh mời Ngài Thiền sư về và thành lập trung tâm thiền đầu tiên tại đồi Bo-te, thành phố Myothla vào năm 1273 (Miến lịch). Ngài đã lưu lại đó hai mùa hạ để truyền dạy giáo pháp. Từ thời điểm đó, tiếng trống pháp Tứ Niệm Xứ đã được vang dội đến các thành phố như Yedarshe, Phyu, Daik-U, Taungoo, Kanyutkwin, Bago, Maubin, Pyay, Letpadan, Hinthada, Pyawbwe, Pyinmana... Vì pháp Tứ Niệm Xứ khi đó còn quá mới mẻ, nên ở bất cứ nơi nào Ngài đến cũng có rất nhiều người nghi ngờ, chất vấn: "Tại sao lại thế này? Như vậy là sao?" hoặc thậm chí có những người tìm cách công kích, bắt bẻ.



Đặc biệt, khi Ngài nhận lời thỉnh mời của nữ thí chủ **Daw Khin** tại thành phố Shwegyin để đến thuyết pháp, Ngài đã bị một nhóm người vây quanh ném đá và chai lọ. Với tâm nhẫn nhục, Ngài đã kiên cường chịu đựng tám ngọn gió đời (Loka-dhamma) giống như một thăng tượng ngoài chiến trận dũng cảm chịu đựng những lướt tên bắn tới từ bốn phương. Ngài hiểu rằng đó là những viên đá, chai lọ mà Ma vương đã đưa vào tay những kẻ thiếu trí tuệ nên Ngài hoàn toàn có thể bao dung và tha thứ. Khi đang thuyết pháp, đá và chai ném trúng khiến máu trên đầu Ngài chảy xuống ròng ròng. Nghe nói ngay trong đêm đó, chính vị tu sĩ thông kinh thạo luật - người đã xúi giục đám đông - đã phải đích thân đến xin lỗi và đảnh lễ Ngài.

### Cái "Tôi" đáng thương

Thành phố Myothla là nơi đầu tiên mở đường cho các khóa thực hành Tứ Niệm Xứ. Tại đây, cũng cần nhắc đến câu chuyện về Tu nữ trưởng lão **Daw Uttarā** ở Myothla.

**Daw Uttarā** là một tu nữ già yếu, sống tại một ngôi đình cũ (Zayat) nằm trong khuôn viên một ngôi chùa. Bà không có ai thân thích bên cạnh để sai bảo hay nhờ vả, thường ngày chỉ bầu bạn với chiếc gậy gỗ. Cuộc sống ăn ở của bà rất thiếu thốn. Có một vị Sa-di tại ngôi chùa đó học hành rất xuất chúng, sau này trở thành một giảng sư (Sayadaw) nổi tiếng tại một đại học viện ở Mandalay. Trong một lần trở về thăm chùa cũ (vị này chợt nhớ ra bà lão sắp gần đất xa trời, dù trước kia chưa từng chào hỏi hay đoái hoài tới), vị giảng sư đã mang theo bánh trái đến đình để thăm hỏi. Thấy bà không có ai bầu bạn, vị ấy cảm thấy vô cùng thương xót.

Với ý định sách tấn bà lão lúc cuối đời, vị hòa thượng trẻ thuyết giảng: "Sư bà đã cao tuổi rồi, nên cố gắng lần chuỗi hạt, hãy luôn hướng tâm vào pháp **Phật tùy niệm** (Buddhānussati) nhé...". **Daw Uttarā** cung kính lắng nghe. Tuy nhiên, sau một hồi trò chuyện, vị giảng sư trẻ đã vô cùng kinh ngạc trước những lời của bà.

"Kính bạch Ngài, từ khi Ngài Thiền sư Mingun đến đây, con đã nắm được pháp Tứ Niệm Xứ trong tay thì không cần đến chuỗi hạt nữa rồi. Xin các vị sư trẻ cũng hãy cố gắng khi còn sức, bởi cái hạnh phúc không cần sự bầu bạn chỉ có ở nơi này thôi. Sáu **Nội xứ** (**Ajjhattika Āyatana**) gồm mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý ngày càng trở nên nhạy bén sắc sảo lạ thường, khiến việc nhìn, nghe, biết của con không giống như những người bình thường nữa. Con nghe, thấy và biết một cách tập trung và sâu sắc hơn nhiều. Đừng nói chi xa xôi, như tiếng của ban nhạc lễ (Saing Waing) đang đánh kia, trước đây con chỉ nghe thấy những âm thanh ồn ào hỗn tạp trong tai thôi...".

---
  
  # Tóm tắt Bối cảnh — Tiểu Sử Alahan
  > Sau batch: output-487-to-489
  ## Nội dung đã dịch đến nay
  Giai đoạn Ngài Thiền sư Mingun (Mingun Jetawun Sayadaw) bắt đầu truyền bá mạnh mẽ pháp môn Tứ Niệm Xứ. Bối cảnh diễn ra tại Mingun và thành phố Myothla. Các nhân vật quan trọng bao gồm những hành giả đầu tiên đắc pháp (ông bà U Thit, U San Dun) và các tu nữ, tu sĩ thực hành nghiêm túc. Văn phong nhấn mạnh vào sự thực chứng, nhẫn nhục trước chướng ngại và sự chuyển biến nội tâm của người hành thiền.
  ## Batch vừa hoàn thành
  - Nội dung chính: Sự lan tỏa của pháp Tứ Niệm Xứ từ Mingun đến các tỉnh; bài học về Bốn Thánh Đế qua hoạt động khuấy mứt của ông U San Dun; sự nhẫn nhục của Ngài Thiền sư khi bị ném đá tại Shwegyin và tuệ giác của tu nữ lão thành Daw Uttarā.
  - Số trang: 487-489
  


“Dù ông có đánh trống nhanh đến mức nào đi nữa, vì ông đánh từng tiếng một nên âm thanh phát ra cũng tách biệt, tôi nghe rõ mồn một tiếng của từng mặt trống nhỏ thưa Ngài. Không chỉ vậy, từ lúc âm thanh vừa khởi lên cho đến khi dứt hẳn, tôi đều nhận biết được sự tiếp nối của tiến trình sinh diệt của âm thanh đó. Trước đây, tôi không chỉ lầm tưởng về tính liên tục (paññatti) của âm thanh mà còn tưởng rằng chúng vang lên cùng một lúc thành một khối.”

Khi Ngài chuyển lời thuật lại này đến tác giả, Ngài đã bảo:

“Ta vốn định đến để an ủi vì thấy bà ấy tội nghiệp, nhưng hóa ra bà ấy lại là người đang cảm thương cho sự thiếu sót của ta. Ta thật không ngờ bà ấy lại đạt đến mức độ hiểu biết như vậy.”

### Phương pháp tự thôi miên của Đức Phật

Thông qua sự hiểu biết cá nhân, bà Daw Uttara đã mô tả một cách rõ nét sự tinh nhạy của nhãn thanh triệt (sotapasāda - khả năng nghe nhạy bén). Tương tự như vậy, năm căn thanh triệt còn lại cũng trở nên trong trẻo, sắc bén và tinh nhạy như một mặt gương không vướng chút bụi trần. Không chỉ riêng hành giả, ngay cả trong thế giới thế tục cũng có bộ môn gọi là “thuật ngủ tâm lý hay thuật thôi miên”.

Trong bộ môn đó, người bị thôi miên có thể kể lại những trải nghiệm từ quá khứ xa xôi, hoặc có thể đọc được những ngôn ngữ xa lạ mà họ chưa từng được học qua. Qua nhiều phương thức thử nghiệm và nghiên cứu, người ta nhận thấy rằng cả sáu nội xứ thanh triệt (các giác quan) đều có những khả năng đặc biệt và nhạy bén đến mức khó tin. Tuy nhiên, đó chỉ là những kết quả không trọn vẹn, mang tính cục bộ mà các đạo sư thế gian có thể chạm tới qua những thử nghiệm thô sơ bên ngoài mà thôi.

Những hành giả thực hành pháp hành thiền (kammaṭṭhāna) thực chất cũng giống như những người đang tự thôi miên chính mình. Do đó, việc họ đạt được những khả năng nghe và thấy đặc biệt, vượt trội hơn người thường cũng không có gì đáng ngạc nhiên. Nếu duy trì được chánh niệm, hành giả đều có thể đạt được những tuệ giác dù nhỏ hay lớn. “Tuệ giác lớn” ở đây chính là sáu loại thắng trí (*abhiññā*), bao gồm cả Thiên nhãn thông (*dibbacakkhu*).

Trong giáo lý nhà Phật cũng có rất nhiều phương pháp để thu hút và nhiếp hóa người khác đi theo con đường chân chánh một cách dễ dàng vì lợi ích của chính họ. Tôi lấy ví dụ so sánh với các bộ môn thế gian chỉ để quý vị dễ hình dung hơn, xin chớ vì thế mà nghĩ rằng điều này làm giảm đi giá trị cao quý của giáo pháp.

Tóm lại, những phẩm hạnh như Thế Gian Giải (*Lokavidū*) của Đức Thế Tôn đều là kết quả nảy nở từ việc thực hành hơi thở (ānāpāna). Nếu thấu hiểu được điều này, quý vị sẽ càng thêm phần cảm phục và khởi tâm trong sạch nơi giáo pháp.


### Chuyến hoằng pháp đầy duyên khởi

Sau hai năm trú tại Myolha, theo lời thỉnh mời của các hành giả tại Mawlamyine, Đại đức cùng với cận sự nam U San Dun lên tàu hỏa khởi hành. Đó là năm 1275 (Miến lịch). Khi đó, tỳ-kheo U Kelāsa trú tại chùa dưới Meghavan thuộc thành phố Thaton cũng ra ga tiễn một vị thầy khác. Tình cờ gặp Đại đức, vị này mới hỏi rằng:

“Bạch Ngài, Ngài từ đâu đến ạ?”

Đại đức đáp: “Ta từ Myolha đến.” Nghe vậy, vốn đã từng nghe danh tiếng từ trước, vị này hỏi tiếp: “Vậy... Ngài có biết vị thiền sư Mingun không ạ?”

Đại đức dừng lại một chút rồi đáp: “Chính là ta đây.”

Khi đó, Đại đức U Kelāsa vốn đang tìm kiếm một vị thiền sư dạy thiền nên khi được diện kiến Ngài, vị ấy vô cùng vui mừng và hân hoan.

Vị ấy hỏi tiếp: “Bạch Ngài, hiện giờ Ngài dự định đi đâu ạ?” Ngài đáp: “Ta định đi Mawlamyine.” Với lòng nhiệt thành muốn biết thêm, vị ấy lại hỏi: “Bạch Ngài, Ngài đi có việc gì ạ?”

Ngài chậm rãi đáp một cách không chắc chắn: “Vì các đệ tử thỉnh mời nên ta đi, nếu thời tiết và điều kiện thích hợp (sappāya) thì có lẽ ta sẽ tạm trú lại đó một thời gian.”

Nghe vậy, Đại đức U Kelāsa chợt nảy ra ý định và thưa rằng: “Bạch Ngài, nếu Ngài muốn hoằng pháp ở vùng hạ lưu này thì không nơi nào tốt hơn Thaton. Trong vùng này không có nơi nào mà con chưa từng ở qua.” Nói xong, vị ấy dùng những lời lẽ chân thành để thuyết phục và thưa tiếp:

“Con là tỳ-kheo Kelāsa ở chùa Meghavan. Từ khi nghe danh tiếng của Ngài, con luôn đặt trọn niềm tin và sự kính trọng. Nếu Ngài không chê trách, xin thỉnh Ngài về chùa của chúng con để hoằng pháp trong một mùa hạ này. Nếu Ngài có thể tạm trú lâu dài, con xin nguyện lo liệu mọi việc hộ độ (veyyāvaccasamāpana) để Ngài được thân tâm an lạc mà hoằng dương giáo pháp, đồng thời cũng là để con được vun bồi ba-la-mật.” Vị ấy khẩn khoản nài ép Ngài nhận lời.

Đại đức trầm ngâm suy nghĩ một hồi. Ngài sực nhớ về truyền thống cổ xưa của vùng đất Suvaṇṇabhūmi, nơi giáo pháp bắt đầu khởi nguồn tại Thaton, và nảy ra ý định: “Nếu giáo pháp Tứ Niệm Xứ có thể bắt đầu lan tỏa từ nơi này thì thật tốt.” Vì vậy, Ngài quyết định không đi tiếp đến Mawlamyine nữa mà xuống tàu và ở lại Thaton.

Để quý vị có thể cảm nhận được vẻ đẹp kỳ diệu của những nhân duyên vô hình, tôi xin ghi lại lời thuật của Đại trưởng lão U Kelāsa. Vì tính cách của Ngài U Kelāsa vốn thẳng thắng và dứt khoát nên Ngài đã thỉnh mời một cách quyết liệt. Còn Đại đức, dù chưa hề quen biết từ trước, cũng đã chấp thuận và đi theo sự thỉnh mời của Ngài U Kelāsa ngay lập tức. Các vị trưởng lão bạn hữu khi ấy còn có lời trách khéo Ngài U Kelāsa vì sự đường đột này.


### Bài pháp đầu tiên chào đón vùng đất Thaton

Mặc cho ai nói gì, Đại trưởng lão U Kelāsa vẫn vô cùng hân hoan và không hề thấy mệt mỏi. Vị ấy thỉnh Ngài trú tại một ngôi trường lớn dài 60 hắc tay, và ngay trong đêm đó đã thỉnh cầu Ngài ban cho thời pháp đầu tiên. Ngay khi được sự chấp thuận, vị ấy đã đi khắp nơi loan báo cho mọi người cùng đến lắng nghe trong niềm hân hoan. Đại đức cũng gạt đi nỗi mệt nhọc sau chuyến hành trình để nhiệt tâm thuyết giảng thời pháp đầu tiên. Bài pháp mà Ngài thuyết là kinh Đại Lục Xứ (*Mahāsaḷāyatanika Sutta*) thuộc phần *Uparipaṇṇāsa Pāḷi*.

Ngài trích dẫn các đoạn Pāḷi bắt đầu bằng: **“Cakkhuṃ bhikkhave ajānaṃ apassaṃ yathābhūtaṃ...”** rồi giải thích sang tiếng Việt.

Ngài thuyết giảng một cách sâu sắc và đúng theo lời Phật dạy, không thêm thắt điều gì về việc: “Vì không thấu rõ bản chất thật sự của nhãn căn (mắt) nên chúng sinh mới khởi tâm tham ái, đưa đến sự chấp thủ vào thân và chịu đủ mọi loại khổ đau trong vòng luân hồi. Nếu hằng ngày hằng giờ biết tỉnh giác ghi nhận thì các pháp thuộc Bồ-đề phần (*bodhipakkhiyadhamma*) như Tứ Niệm Xứ sẽ được bồi trưởng. Khi đó, thiền định (*samatha*) và thiền tuệ (*vipassanā*) sẽ cùng song hành như một đôi bò cùng kéo một chiếc xe; hành giả sẽ nắm vững bốn nhiệm vụ: hiểu rõ khổ, đoạn tận nguồn gốc của khổ (tập), chứng đắc sự diệt khổ (diệt) và tu tập con đường thoát khổ (đạo).” Những lời thuyết giảng đầy uy lực ấy đã chạm sâu vào tâm khảm của Ngài U Kelāsa, gặp đúng lúc duyên lành ba-la-mật chín muồi nên vị ấy đã thấu triệt hoàn toàn.

Kể từ thời điểm đó, phong trào học tập và thực hành pháp thiền Tứ Niệm Xứ tại thành phố Thaton bắt đầu lan rộng nhanh chóng.

Nhờ sự vận động và sắp xếp của Ngài U Kelāsa, số lượng hành giả ngày càng đông đến mức họ phải rời từ tu viện Meghavan sang một tu viện cổ lớn hơn tên là Sāsanapajjotika để mở trung tâm thiền. Dù đã nỗ lực sắp xếp nơi ăn chốn ở, nhưng cơ sở này vẫn không thể đáp ứng đủ số lượng người tìm đến.

Do đó, vào năm 1276, dưới sự dẫn dắt của Ngài U Kelāsa cùng các hành giả kỳ cựu từ nhiều nơi, với sự hỗ trợ của ông U Bo Sa (một vị quan chức bộ phận xét xử), họ đã xin cấp phép và tiến hành khai hoang một khu rừng rộng 5 mẫu Anh (nay vẫn còn hiện hữu). Nơi này vốn là địa điểm của hoàng cung cũ trong lịch sử Suvaṇṇabhūmi. Nằm ở góc đông bắc, giữa lớp tường thành thứ nhất và thứ hai, rừng rậm bao quanh phía đông và nam bắc, nên nơi đây vô cùng yên tĩnh và tách biệt với sự ồn ào của dân cư. Tại khu đất phước báu này, họ đã xây dựng giếng nước, nhà nghỉ chân và các ngôi chùa nhỏ, rồi đặt tên cho nơi này là “Jetavan” (Kỳ Viên). Trên mảnh đất linh thiêng của thành Thaton cũ, nơi có ba lớp hào bao quanh, “lá cờ chiến thắng của Tứ Niệm Xứ” đã chính thức được giương cao.



**Nếu Ngài Thiền sư không xuất hiện**

Tại thành phố Thaton, phương pháp "Ghi nhớ" (Satipaṭṭhāna) của Ngài Thiền sư lúc đầu cũng không dễ dàng được chấp nhận. Từ những người bán cá tươi cho đến khi sát hại cá, họ đều đem ra chế giễu, nhạo báng không thôi bằng những từ như "đang cầm nè, đang đập nè, đang giết nè". Họ còn mỉa mai rằng: "Nghe nói chỉ cần biết đi biết lại là thành bậc Thánh Dự Lưu (Sotāpanna), co tay duỗi chân cũng là Pháp; xưng là Sotāpanna mà ngay cả 28 sắc pháp (rūpa-aṭṭhavīsa) cũng không đếm nổi", và đưa ra đủ lời chỉ trích, bất mãn. Một số vị Tỳ-khưu khi thuyết pháp cũng kịch liệt phê phán và hạ thấp phương pháp này.

Thực tế, vì đây là pháp hành vốn đã bị gián đoạn trong Giáo pháp suốt nhiều thế kỷ, nên việc họ chế giễu, chỉ trích hay chê bai cũng là điều khó tránh khỏi.

Dù kinh văn dạy rất trực diện và rõ ràng: "**Gacchanto vā gacchāmīti pajānāti** = Khi đi, tu sĩ ấy biết rõ rằng mình đang đi", nhưng người ta vẫn dường như không thể lĩnh hội được. Ý nghĩa cốt lõi của Tứ Niệm Xứ (Satipaṭṭhāna) là "làm sao để biết rõ mọi cử động của thân và mọi suy nghĩ của tâm", điều này vốn vô cùng giản đơn. Nhưng để giải thích và làm sáng tỏ những điều giản đơn ấy lại là việc khó khăn nhất.

Vì vậy, khi một chân lý giản đơn được khơi dậy và trình bày như một điều mới mẻ, việc bị thế gian chế giễu là lẽ thường tình, không có gì đáng trách. Trong bối cảnh những người xung quanh không hiểu biết như vậy, chúng ta cần thấu cảm cho người đã nỗ lực truyền bá chân lý giản đơn ấy, rằng họ đã phải kiên trì và nhẫn nại đến dường nào. Nếu chỉ với lòng nhẫn nại và sự tinh tấn tầm thường thì khó lòng đạt được thành quả như ngày nay.

Thông thường, đa số mọi người chỉ muốn giữ sự an lạc cho riêng mình sau khi đã chứng ngộ. Những người có thể vượt qua mọi khó khăn thử thách vì sự hưng thịnh của Giáo pháp và vì chúng sinh còn mê muội như Ngài Thiền sư thật sự là vô cùng hiếm hoi.

Nếu không có những bậc vĩ nhân đặc biệt, những người có lòng nhẫn nại và sự tinh tấn kiên cường, quyết liệt, không lùi bước và đầy tâm huyết như Ngài, thì giáo lý Satipaṭṭhāna cho đến tận ngày nay có lẽ vẫn chỉ dừng lại ở mức độ kinh kệ dùng để thờ phụng, chứ chưa thể nâng tầm thành pháp hành thực tiễn. (Trong công cuộc hoằng dương Satipaṭṭhāna, Pháp sư nổi tiếng toàn quốc U Paṇḍita - cư sĩ U Kyaw - là một trong những bạn đồng hành dũng cảm của Ngài. Ông là một bậc vĩ nhân cư sĩ đã soạn thảo nhiều tác phẩm như bộ "**Vipassanā-ṭīkā**" và từng đi thuyết pháp lưu động sang tận nước Thái Lan.)




**Trong chùa tôi không nhận Bồ-tát**

Tại trung tâm thiền Jetavana, tăng ni và Phật tử từ khắp nơi tìm đến hành thiền. Giống như việc phân chia nơi cư ngụ cho các hành giả (yogī), các quy định kỷ luật cần tuân thủ cũng được thiết lập rõ ràng.

Chuyện kể rằng, có một vị Thiền sư nổi tiếng hiện nay, khi xưa đến học phương pháp Satipaṭṭhāna nơi Ngài. Khi vị này dường như đã đạt đến tầng "Hành Xả Tuệ" (Saṅkhārupekkhā-ñāṇa) nhưng tiến trình tu tập bỗng chững lại không tiến triển thêm, Ngài đã kiểm tra bằng nhiều cách khác nhau. Khi đó, vị sư ấy đã bạch rằng: "Bạch Ngài, con đã phát nguyện thành bậc Chánh Đẳng Giác (Phật quả). Trong Giáo pháp này, con không muốn chứng đắc quả vị Thanh Văn (Sāvaka)". Sau sự việc đó, Ngài Thiền sư đã ban lời chỉ dạy rằng: "Trong chùa chúng ta, nếu là hành giả phát nguyện thành Phật (Bồ-tát) thì không tiếp nhận". (Tuy nhiên, vị sư kia hẳn là một bậc có đại nguyện chân chính.)

Tư tưởng phát nguyện thành Phật (Bồ-tát) đang rất phổ biến ở một số nơi, và đây là một vấn đề cần được xem xét cẩn trọng. Lời tuyên bố "Trong chùa tôi không cho phép Bồ-tát ở" dường như nghe có vẻ rất gay gắt, nhưng nếu suy xét kỹ, đó là một lời dạy rất phù hợp và đúng đắn, dù rất khó để nói ra. Đằng sau việc phát nguyện thành Phật thường ẩn chứa những khuynh hướng tâm linh rất khó nhận diện và sâu sắc.

**Sự thỏa mãn và trì hoãn thời gian**

Vào thời kỳ Sri Lanka, có một vị Đại trưởng lão tên là Mahāsaṅgharakkhita, là bậc lãnh đạo của một tông phái lớn. Khi ngài sắp viên tịch và đang nằm trên giường bệnh, có tin đồn lan truyền rằng "Ngài sắp nhập Niết-bàn với tư cách là một bậc Alahan". Đám đông tụ tập đến để đảnh lễ, khi đó một người học trò đã thưa rằng:

"Bạch Ngài, việc của bậc Sa-môn Ngài đã hoàn tất chưa? Có tin đồn rằng Ngài sắp nhập Niết-bàn nên mọi người đang tụ tập rất đông đảo."

Ngài đáp: "Vẫn chưa xong."

Người học trò thưa tiếp: "Trong tông phái chúng con, nếu một bậc thầy như Ngài mà không chứng đắc Alahan, vẫn tịch diệt trong thân phận phàm phu thì thật không xứng đáng, điều này sẽ khiến lòng người không khỏi xót xa, bạch Ngài."

Ngài nghe vậy liền bảo: "Vậy thì, này hiền giả, hãy đỡ ta ngồi dậy rồi con lánh ra ngoài phòng một lát." Ngài bắt đầu thu thúc tâm và quán chiếu Pháp. Người học trò vừa đóng cửa bước ra ngoài chỉ trong chốc lát, Ngài đã búng tay gọi vào và bảo: "Việc Sa-môn của ta đã hoàn tất rồi, này hiền giả."




439

(Trích Chú giải Thanh Tịnh Đạo - Visuddhimagga Aṭṭhakathā I, 45). Vị Đại trưởng lão Mahāsaṅgharakkhita này vốn đã hội đủ các pháp Giới - Định - Tuệ để chứng đắc Alahan. Về phương diện không phóng dật (appamāda), ngài được ghi nhận là "từ khi xuất gia cho đến năm 80 tuổi, chưa từng làm việc gì mà thiếu chánh niệm." Dù vậy, sở dĩ ngài chưa chứng quả Alahan không phải vì lý do gì khác, mà chính là do tâm còn dính mắc vào nguyện ước (āsa) muốn được chiêm bái đức Phật Metteyya (Di-lặc) tương lai.

Việc cái tâm ấy ngăn cản sự chứng ngộ có lẽ không phải là chuyện đơn giản. Tuy người ta có thể nói rằng "vì tôi muốn chiêm bái Ngài", nhưng những mưu chước của Ma vương (Māra) vốn rất rộng lớn và vi tế; đó chính là việc bị dùng hình ảnh đức Phật Metteyya để trì hoãn thời gian chứng ngộ.

Tương tự, có một bậc Thánh Alahan tại Myanmar, sau khi đắc quả Bất Lai (Anāgāmī), lúc sắp bước vào tầng đạo lộ Alahan (Arahatta-magga) thì lại không thể tiến vào được. Khi đó, ngài đã cùng một vị đạo hữu thảo luận và phân tích chi tiết về trạng thái tâm lý lúc bấy giờ. Vị Bất Lai ấy nói rằng:

"Tâm con cứ thường xuyên hướng về phía vị Bồ-tát đang ở cung trời Đâu-suất (**Tusitā**), gần bên đức Bồ-tát **Arimetteyya**." Sau khi suy xét kỹ lưỡng nhiều lần, ngài mới nhận ra cái tâm của mình đang diễn tiến một cách vô cùng vi tế mà không hề hay biết. Khi ngài thuật lại như vậy, vị đạo hữu liền cảnh báo:

"Cái tâm đó không đúng đâu, đừng để nó dính mắc, hãy đoạn tuyệt nó đi." Nhờ lời cảnh báo đó mà ngài mới có thể đắc chứng Alahan. Câu chuyện này mang giá trị vô cùng lớn lao trong pháp hành vi tế. (Đối với hai vị này, chúng ta không nên nhìn nhận dưới góc độ ai lớn ai nhỏ hay thầy trò khi họ đàm đạo như vậy. Với người có trí tuệ thực nghiệm, dù trẻ tuổi nhưng sự hiểu biết vẫn có thể rất sâu rộng.)

Ngày nay, những người xưng là Bồ-tát rất nhiều.

Danh sách các bậc Bồ-tát và các đại kiếp (kappa) mà họ sẽ thành Phật nhiều đến mức không thể thống kê hết. Nói một cách trực diện, những người theo các tông phái thường phát nguyện thành Phật với cái tâm dính mắc vào ý niệm "để cứu độ chúng sinh". Những bậc "Vị-tát" (Wijja - những bậc ẩn danh) cũng thường được gọi là những bậc đại Bồ-tát.

Tất cả những người theo Phật giáo Đại thừa cũng đều tự nhận mình là Bồ-tát. (Hãy lưu ý rằng dù khác biệt về dân tộc, hình thức hay danh xưng, nhưng từ căn bản cho đến mục tiêu cuối cùng đều tương đồng với nhau.)

Tuy nhiên, dường như họ không phân biệt rõ ràng vị Phật mà họ phát nguyện hướng tới là vị nào. Đôi khi đó lại là những vị Phật tùy tùng của vị Đại Phạm Thiên (Mahātma Brahmā) đầy quyền năng trong giáo thuyết Ngã (Atta) của Bà-la-môn giáo.


Dù là loài súc sinh nhưng giữa các đại nhân vật kiệt xuất vẫn có thể tồn tại những bậc Đại Nguyện (Bodhisatta) chân chính, có tri kiến sẵn sàng đánh đổi mạng sống để giữ gìn tịnh giới. Tuy nhiên, những bậc chân chính như vậy hẳn là cực kỳ hiếm hoi.

Bản chất của các chủng tử nghiệp (āsevana-paccaya) vốn luôn vận hành theo tiến trình riêng của chúng, thật khó để thấy rõ bằng mắt thường. Tâm nguyện mong cầu thành bậc Đại Nguyễn cũng không phải là điều luôn kiên định. Tương truyền khi Đức Thế Tôn từ cõi trời Tāvatiṃsa (Tam Thập Tam) ngự xuống nhân gian, không một ai hiện diện lúc đó mà không phát nguyện thành Phật. Tuy nhiên, lời nguyện ấy không chỉ khó giữ qua các kiếp luân hồi, mà ngay trong chính một đời người cũng thường xuyên thay đổi. Vì vậy, đừng nên bỏ lỡ cơ hội quý báu hiện tại. (Hãy xem thêm chương về Ngài Mahā Gandhayon Sayadaw).

### Vị Tỳ-kheo trẻ kế thừa pháp hành Tứ Niệm Xứ

Ngày mùng 5 tháng Tabaung năm 1293 (Miến lịch). Ngày này chính là một dấu mốc lớn lao, mở ra một chương mới cho lịch sử Pāṭipatti Sāsanā (Giáo pháp thực hành) tại Myanmar với sự bùng nổ của pháp hành Satipaṭṭhāna (Tứ Niệm Xứ). Một vị Tỳ-kheo trẻ tuổi, người sẽ kế thừa di sản Satipaṭṭhāna, đang bước vào khu vực chùa Jetavan với phong thái đĩnh đạc, không mang giày dép, không che dù, vai khoác tấm da thú, tay mang bát. Ngài đã rời khỏi tu viện Taung-waing-kalay ở Mawlamyine từ ngày 13 sau trăng tròn tháng Pyatho cùng với một người bạn đồng hành là Tỳ-kheo U Tejavanta (6 hạ lạp).

Vị Tỳ-kheo ấy chính là **U Sobhana**, lúc bấy giờ mới 8 hạ lạp nhưng đã là một bậc Giảng sư (Sāchya-phongyi) và đã đỗ bằng Dhammācariya (Pháp sư) – một học vị cực kỳ hiếm hoi thời bấy giờ. Ngài đã dành khoảng hai tháng để đi bộ khảo sát và trực tiếp thực hành tại các trung tâm thiền quanh vùng Thaton, và nay mới chính thức diện kiến Ngài Jetavan Sayadaw như dự định ban đầu. Người bạn đồng hành U Tejavanta đã tách đoàn và đến trước một bước. Điều này gợi nhắc lại câu chuyện tầm đạo của hai ngài Upatissa (Xá-lợi-phất) và Kolita (Mục-kiền-liên).

Dù đã xác định mục tiêu rõ ràng là đến với Ngài Sayadaw, nhưng trên đường đi, những duyên sự như dừng chân tại trung tâm thiền của thầy U Ohn Khaing hay thực hành pháp đầu đà nghĩa trang (susāna-dhutaṅga) với tâm nguyện đảnh lễ Phật tích đã khiến ngài phải ghé chỗ này chỗ nọ, tách khỏi bạn đồng hành, làm thời gian kéo dài thêm nhiều ngày tháng. Nhưng giờ đây, những nhân duyên gây chậm trễ ấy đã yếu dần. Bậc Minh sư đã ở trước mặt. Trách nhiệm phải làm đã hiện rõ. Và những gì chính mình đã dày công nghiên cứu cũng đã đến lúc đem ra ứng dụng.

Quê quán của vị Giảng sư trẻ **U Sobhana** cũng là một vùng đất tâm linh phước báu (bhūmi-nekkhaṃ). Đứng từ cổng làng nhìn ra, người ta có thể thấy rõ bảo tháp lưu giữ xá-lợi của Ngài Thilone Sayadaw – một bậc danh tăng lẫy lừng trong lịch sử thực hành thiền. Sau Ngài Thilone Sayadaw, các bậc thiền sư ẩn dật như Ngài Mahā-bodhi cũng liên tục hiện diện tại các trú xứ không xa ngôi làng.

Hiện nay, Ngài Jetavan Sayadaw cũng đang tiếp nối truyền thừa không phóng dật (appamāda) ấy, khai mở con đường Tứ Niệm Xứ, là bậc đại nhân vật đang dấn thân khai phá rừng rậm khổ đau. Câu chuyện về môi trường sinh trưởng và hành trình tầm đạo của Ngài **U Sobhana** thực sự vô cùng thú vị. Sứ mệnh của định mệnh mang tên "hợp duyên tại vùng đất thánh Thaton (Suvaṇṇabhūmi)" đã được hoàn tất trọn vẹn vào ngày mùng 5 tháng Tabaung. (Sự gặp gỡ này không phải là ngẫu nhiên do sở thích tu tập, mà để các hành giả thấy rõ sức mạnh của nghiệp tiền khiên (pubbe-kata) và trí tuệ hiểu về nghiệp (kammassakatā-ñāṇa)).



Ngài Sayadaw để Ngài **U Sobhana** nghỉ ngơi hồi phục sức khỏe, rồi đến khoảng 7 giờ tối đã bắt đầu hướng dẫn pháp hành. Ngài đọc từng chữ trong đoạn kinh Netti bắt đầu bằng câu "**Sabbbe bhikkhū paribbaje**", sau đó giải thích ngắn gọn sang tiếng Miến mà không thêm thắt rườm rà. Ngài **U Sobhana**, vốn đã thông thạo đại kinh Satipaṭṭhāna, nay lại được nghe những lời dạy từ kinh Netti do Ngài Đại Ca-chiên-diên (Mahākaccāyana) trích dẫn và hiển thị, cảm thấy vô cùng hân hoan và thấm thía.

"Những gì Ngài Sayadaw đang thuyết giảng không phải là lý thuyết suông, không phải là lời nói trên sách vở, mà là những gì ngài đã thực chứng, đã hành trì rồi mới nói ra." Sự nhận thức này giúp Ngài U Sobhana tự động thấu hiểu sự khác biệt giữa khuynh hướng Ba-la-mật (pāramī) của mình với sức mạnh vô vi (dhamma-dhātu) từ Ngài Sayadaw.

Lời nói phát ra từ miệng và sự lắng nghe từ tai giúp thấy rõ độ sâu của Pháp (liệu sức mạnh vô vi có hiện diện trong đó hay không).

### Thầy trò hỏi đáp – Những điều cần ghi nhớ

Kể từ khi nhận được pháp hành, vị Giảng sư trẻ **U Sobhana** nỗ lực ghi nhận mọi oai nghi và hoạt động: "nằm, ngồi, các chuyển động của sắc pháp; đi, ăn, uống, đi tiêu, đi tiểu, nhìn, nghe, suy tư...". Càng thực hành, ngài càng cảm thấy tâm mình định tĩnh và thuần thục qua từng ngày.

Sau vài ngày, ngài thầm nghĩ: "Đây chắc hẳn chỉ là giai đoạn căn bản ban đầu của Vipassanā (Thiền Minh Sát). Chắc chắn sau này ngài sẽ hướng dẫn thêm các cấp độ cao hơn." Đây là suy nghĩ mang tính học thuật dựa trên những kiến thức Abhidhamma (A-tỳ-đàm) mà ngài đã học. Với tư duy của một nhà học giả, ngài chưa hoàn toàn tin rằng chỉ bấy nhiêu thôi là có thể đạt được pháp thượng nhân. Tuy nhiên, không lâu sau đó, ngài đã nhận ra một cách sâu sắc rằng: "Không có cấp độ nào khác để tiến lên sau này cả. Chính phương pháp ghi nhận này đã bao hàm toàn bộ tiến trình từ sơ, trung đến hậu." Để xác nhận tri kiến này, ngài đã bạch trình lên Ngài Sayadaw và được Ngài chỉ dạy rằng:

"Đúng vậy, này U Sobhana. Không chỉ người phàm, mà ngay cả chư Thiên và Phạm thiên cũng vậy, vốn đã soạn thảo tập '**Peṭakopadesa Aṭṭhakathā**' (Lời giải thuật Ngắt đoạn Tạng kinh) và hoàn thành vào năm 1286 (Miến lịch).



Những suy nghĩ, lời nói và hành động (Nghiệp) mà chúng sinh đã thực hiện trong quá khứ chắc chắn sẽ trổ quả vào một thời điểm nào đó. Dù là một ý định nhỏ bé và âm thầm nhất, tưởng chừng như đã chìm sâu vào quên lãng, nhưng một ngày nào đó, nó sẽ đột ngột hiện khởi thành hình hài thực tế (quả báo).

Sự trổ quả của Nghiệp thực sự vi diệu. Nếu là một ý niệm bất thiện đã ăn sâu vào tầng tùy miên (anusaya), hoặc một ý niệm thiện lành đã chạm đến căn gốc của tâm (āsayānusaya), thì tùy theo cường độ tác động, chúng chắc chắn sẽ trổ quả vào một lúc nào đó. Vì vậy, thông qua Citta-nupassanā (Niệm Tâm), hành giả phải nỗ lực ghi nhận và buông xả mọi ý niệm dù tốt hay xấu. Dù chúng sinh có thể cho rằng đó là một ý định tốt, nhưng đôi khi nó lại dẫn đến kết quả xấu. Trong 31 cõi luân hồi, những gì thực sự tốt đẹp vốn dĩ rất hiếm hoi.

### Một sát-na tâm quan trọng

Xin được nói tiếp. Đức Thế Tôn từng dạy ngài Cunda rằng: "Này Cunda, đối với các thiện pháp, chỉ cần một khởi tâm mong muốn thôi cũng đã mang lại lợi ích to lớn." Trong Kinh Pháp Cú, Ngài cũng dạy rằng (vì ngài thấy rõ quả báo): "Đừng coi thường việc thiện hay việc ác dù chỉ là 'một chút xíu'."

Quả đúng vậy. Ngài Đại trưởng lão Cūḷapanthaka (Chu-lợi-bàn-đà-già), trong một tiền kiếp làm vị vua đang du ngoạn kinh thành, khi dùng khăn lau mồ hôi trên trán đã thấy chiếc khăn lấm bẩn bởi các uế tạp của thân. Lúc đó, ngài cảm thấy nhàm chán và khởi lên một tưởng về vô thường (anicca-saññā) một cách thoáng qua. Tưởng chừng như không đáng kể gì, nhưng chính ý niệm nhỏ bé ấy trong kiếp sống cuối cùng đã giúp ngài thực hành đề mục '**Rajoharaṇaṃ**' (Tẩy sạch bụi bẩn) và chứng đắc quả vị A-la-hán cùng với các thắng trí.

Chàng thanh niên Maṭṭhakuṇḍalī, vốn là người ngoại đạo, vào giây phút lâm chung chỉ kịp nhìn thấy Đức Thế Tôn đi khất thực trong một khoảnh khắc rực sáng, mà nhờ đó đã được sanh làm thiên tử.

Hoàng hậu Padumadevī, người mà mỗi bước chân đi đều có hoa sen đỡ dưới chân, chính nhờ phước báu cúng dường hoa sen đến Đức Phật Độc Giác. Còn việc bà bị các cung phi khác đố kỵ dẫn đến mất ngôi vị và phải sống khổ cực trong rừng sâu, cũng là do khi cúng dường hoa sen, bà từng có ý nghĩ: "Bậc Thánh này chắc không cần đến hoa," rồi định lấy hoa lại sau đó mới dâng cúng. Đó chính là sức mạnh của "sát-na tâm" bị chần chừ (tâm sở hối - kukucca) trong giai đoạn hậu tư (apara-cetanā). Vì vậy, Ngài Webu Sayadaw tôn kính từng dạy rằng: "Nếu mỗi khi tâm khởi lên mà không kịp ghi nhận,


### Các Bậc A-la-hán và Những Bậc Đặc Biệt

Ngài dạy rằng: “Trong mỗi khoảnh khắc búng tay, chúng ta có thể mắc thêm nợ đến hàng trăm ngàn ức.”

Dù dường như các suy nghĩ thiện hay bất thiện chỉ khởi lên trong nháy mắt rồi biến mất, nhưng nếu không dùng pháp Niệm Tâm (Cittānupassanā) để quán chiếu, thì sự chấp thủ mạnh đến đâu, kết quả sẽ tác động đến đó vào một thời điểm nào đó. Chính vì vậy, khi thuyết về quả báu của lòng từ ái (Mettā), Đức Phật đã dùng những thước đo như “một lần vắt sữa bò, một hơi thở, một cái búng tay, một cái chớp mắt, một khoảnh khắc ánh chớp” để răn dạy; chúng ta cần lưu tâm rằng ngay cả những ý nghĩ thiện hay ác nhỏ bé cũng không được xem thường, huống hồ là các hành vi qua lời nói (khẩu nghiệp) hay hành động (thân nghiệp).

Khi sự tiếp xúc giữa đối tượng và tâm biết đối tượng xảy ra (**Phassa - Xúc**), tạo nên cảm thọ tốt hay xấu (**Vedanā - Thọ**), thì ngay lúc đó cần phải quán chiếu để xả bỏ cảm thọ ấy. Nếu không quán chiếu kịp, tâm sẽ chuyển sang Ái (Taṇhā), rồi đến Thủ (Upādān), Hữu (Bhava)... làm cho vòng luân hồi Thập Nhị Nhân Duyên tiếp tục xoay chuyển.

Theo tiến trình tâm (Vīthi) dưới nháy mắt của Thắng Pháp (Paṭṭhāna), không được để tâm rơi vào các tâm Tốc Hành (Javana) sau giai đoạn Đoán Định (Votthapana). Khi các đối tượng như hình sắc cảnh trần hiện khởi, phải dùng chánh niệm quán chiếu để cắt đứt trước khi tâm kịp suy xét và hưởng thụ vị ngọt của đối tượng (**Javana**). Nếu đã rơi vào Tốc Hành tâm, tùy theo cường độ tác động mà nó sẽ đem lại quả báu ngay trong hiện tại (Diṭṭhadhamma) hoặc về sau. Ngay khoảnh khắc tâm Tốc Hành đầu tiên, nếu biết tham tâm (Rāga) đang khởi lên, thì ngay lập tức ở tâm Tốc Hành thứ hai phải dùng chánh niệm để quán chiếu và cắt đứt nó. Trong các bản chú giải kinh *Chaḷāyatana* và *Dukkhamadhamma Sutta* có giải thích rằng: “Nếu đã thuần thục, thời gian khởi niệm chánh niệm có vẻ lâu, nhưng việc đoạn trừ lại diễn ra rất nhanh chóng.”

Trong các bài kinh Nikaya, Đức Phật dạy rằng: “Khi mắt thấy sắc, không được nắm giữ các tướng chung và chi tiết (tướng riêng), mà chỉ dừng lại ở sự thấy (**Nānubyañjanaggāhī** - Không nắm giữ các chi tiết phụ)”; đây chính là ý nghĩa của điều đó. Đây là cách giải thích theo kinh điển. Đối với một hành giả, việc hiểu tường tận các thuật ngữ này không quá quan trọng; điều cốt yếu là phải luôn giữ chánh niệm, quán chiếu và nhận biết rõ ràng mọi thực tại của Danh và Sắc (Rūpa - Nāma) đang diễn ra, như vậy là đã hoàn thành nhiệm vụ.

### Các Tác Phẩm Đã Biên Soạn

Kể từ khi nuôi dưỡng ý định viết sách từ năm hạ thứ 6, Ngài đã phải tạm gác lại việc hướng dẫn các môn đồ hành thiền vốn rất tin tưởng Ngài, để dấn thân vào công việc biên soạn kinh sách (**Gantha Palibodha** - sự chướng ngại do công việc nghiên cứu kinh điển). Lúc bấy giờ Ngài khoảng 52 tuổi. Vào năm 1280 (Miến lịch), tác phẩm đó đã được ấn hành. Cư sĩ Hermit U Kanti vì lòng tôn kính đã cho khắc nội dung này lên 28 phiến đá, đặt tại chùa Sandamuni dưới chân núi Mandalay, cùng với các văn bia của kỳ Kết tập kinh điển lần thứ năm. Ngài cũng tự mình biên soạn bản diễn giải (Nissaya) cho bộ chú giải này, gồm 3 tập (hoàn thành vào các năm 1290, 1297 và 1298).


Sau đó, tùy theo các câu hỏi và những tư duy sâu sắc, Ngài đã biên soạn thêm các tác phẩm sau:

1. Giải thích về Bốn mươi nơi trú ngụ ẩn dật (To-lay-se-aphwint-kyan).
2. Tác phẩm Ārambhāvidhi Vissajjanā (Giải đáp về các phương thức bắt đầu).
3. Tác phẩm Sandhetāvidhi Vissajjanā (Giải đáp về các phương thức kết nối).
4. Bản diễn giải mới (Nissaya) cho Chú giải Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga).
5. Luận về Niết-bàn (Nibbānakathā - văn xuôi).
6. Bài giảng Chỉ dẫn con đường đến Niết-bàn.
7. Tiểu luận về Niết-bàn.
8. Tiểu luận về Tứ Niệm Xứ (Satipaṭṭhāna).
9. Satipaccaye hay là Viniñchaya Samuha (Tập hợp các quyết định).
10. Quyết định về lễ Kathina (văn xuôi).
11. Diễn giải về Kathina (Phần lễ Kathina trong kinh Milinda).
12. Quả Siêu thế (Phala Samāpatti).
13. Diễn giải kinh Đại Lục Nhập (Mahāsaḷāyatanika Sutta Nissaya).
14. Diễn giải kinh Pháp Môn Căn Bản (Mūla Pariyāya Sutta Nissaya).
15. Pādapādāraha Viniñchaya.
16. Paṭijñāta Karaṇa Viniñchaya.
17. Chương về Căn nhà Giới đàn (Simā).
18. Đại tác phẩm về các tầng tuệ Minh sát (Vipassanā Ñāṇazañ Kyan-gyi).
19. Về các Tùy miên (Anusaya).
20. Quyết định về cách thực hiện các việc dư sót (Atirik).
21. Chú giải Peṭakopadesa.
22. Chú giải Milindapañhā (Mi Tiên Vấn Đáp).

### Vấn đề nảy sinh từ bộ Chú giải Mi Tiên Vấn Đáp

Dù đã biên soạn rất nhiều sách, nhưng Ngài thường chỉ công nhận hai bộ Chú giải là tâm đắc nhất: “Ta chỉ thực sự viết hai bộ thôi.”

Ngài bắt đầu viết bộ Chú giải Mi Tiên Vấn Đáp (Milindapañhā Aṭṭhakathā) vào năm Ngài 70 tuổi (năm 1300 Miến lịch) và hoàn thành vào năm 1303. Sách dày 505 trang. Khi được in vào năm 1310, các vấn đề về “Lễ Kathina và vấn đề Tỳ-kheo-ni” đã gây ra nhiều tranh luận, dẫn đến việc cuốn sách bị thu hồi.


Được biết, khi đó Thiền sư Mahāsi đã không đồng ý việc in ấn vì lo ngại rằng nó sẽ đem lại nhiều rắc rối hơn là lợi ích (có lẽ Ngài không tin rằng điều này sẽ mang lại nhiều đại ích cho Giáo pháp). Thiền sư Mahāsi từng nói: “Hãy chờ sau khi tôi viên tịch hãy in”, nhưng vì lòng đức tin quá lớn, người ta vẫn triển khai in ấn, dẫn đến những tranh cãi không đáng có khiến Ngài phải vất vả xử lý thêm công việc. Tuy nhiên, Ngài vẫn giữ vững quan điểm của mình. Ngài thậm chí còn cho viết và in ấn riêng bản diễn giải về phần lễ Kathina.

Về vấn đề Tỳ-kheo-ni, đối với những người đến hỏi, Ngài thường tụng các đoạn Pali và Chú giải để giải thích rằng:

“Ta không viết tùy tiện. Ta dựa trên đoạn kinh Cūḷavagga: **'Anujānāmi bhikkhave bhikkhūhi bhikkhuniyo upasampādetum'** (Này các Tỳ-kheo, Ta cho phép các Tỳ-kheo được truyền giới cụ túc cho các Tỳ-kheo-ni) và các bản chú giải kèm theo. Các tiểu giới (Anupaññatti) này bắt đầu từ khi Đức Phật ban hành sẽ không bị mai một trong suốt 5.000 năm của Giáo pháp. Do đó, các Tỳ-kheo (được gọi là Ekatoya Sangha) vẫn có thể truyền giới cho các nữ nhân để trở thành Tỳ-kheo-ni. Điều quan trọng là các tiểu giới mà Đức Phật cho phép đó có bị mất đi hay không. Nếu tiểu giới đó mất đi thì không thể tạo ra Tỳ-kheo-ni, nhưng vì tiểu giới không mất đi nên ta khẳng định là làm được.”

Liên quan đến vấn đề lễ dâng y Kathina, trong truyền thống thường dùng cụm từ: **“Imaṃ kathiṇacīvaraṃ saṃghassa dema”** (Chúng con xin dâng y Kathina này đến Tăng đoàn). Ngài đã phân tích và phê bình chi tiết rằng nếu thêm từ “Saṃghassa” (đến Tăng đoàn) làm mục tiêu hướng đến khi dâng cúng thì lễ Kathina đó sẽ không thành tựu (xem chi tiết trong cuốn “Kathina Nissaya”).

### Trí tuệ phi thường không lời nào tả xiết

Kể từ khi có ý nguyện mãnh liệt muốn viết bộ “Chú giải Peṭakopadesa”, công việc biên soạn kinh sách đã khiến việc thực hành thiền (Paṭipatti) của Ngài bị lu mờ đi phần nào. Những tranh luận nảy sinh cũng khiến Ngài phải làm việc nhiều hơn. Các môn đồ cũng không được yên ổn. Năm 1288, để Ngài có nơi cư ngụ ổn định tại Mingun, các hành giả đã xây dựng một ngôi chùa dạng cư xá để cúng dường. Tuy nhiên, vì bị kẻ xấu tưởng lầm là giàu có nên đã vào cướp bóc, buộc Ngài phải quay về Thaton. Sau một thời gian tại Thaton, Ngài báo tin cho môn đồ ở khắp nơi rằng “chùa đã hoàn thành” và Ngài lại quay về Mingun để giảng dạy bộ Chú giải Thanh Tịnh Đạo. Ngài vừa viết bản diễn giải, vừa giảng dạy; đến năm 1289, Ngài lại trở về Thaton.

Với việc đi lại giữa các nơi, nghiên cứu, giảng dạy và biên soạn kinh sách, Ngài đã thể hiện một ý chí và nghị lực vô cùng mãnh liệt. Dù gặp nhiều khó khăn, trắc trở, Ngài chưa bao giờ lùi bước mà luôn quyết đoán thực hiện cho đến cùng.

Thông qua việc biên soạn vô số kinh sách, Ngài đã đóng góp to lớn cho Giáo pháp đến mức nào...



Bỏ qua chuyện không viết được nhiều, nhưng trước mắt, trong công phu tu tập quán chiếu, việc bộc lộ những dấu hiệu tiêu cực là điều không thể phủ nhận. Do đó, việc khởi tâm muốn viết kinh sách cũng chính là một sự ràng buộc trong 31 cõi; những ý tưởng, dự định và đối tượng tư duy — dù có nói là vì Phật sự đi chăng nữa — cũng thường rơi vào cảnh “tốt thì có tốt, nhưng chưa hẳn đã hay”, đây là điều cần phải lấy làm bài học.

Dù thế nào đi nữa, việc Thiền sư đưa ra những quan điểm mới mẻ, sâu sắc và tinh tường liên quan đến Pháp học (Pariyatti) là một điều hết sức thú vị. Sự luyến lưu với kinh điển của Ngài cũng thật lớn lao. Nhưng điều đáng kinh ngạc hơn cả chính là trí tuệ siêu việt của Ngài.

Trong khi biên soạn các bộ luận lớn như Peṭakopadesa và Milindapañhā Aṭṭhakathā, ngay từ trước khi đặt bút, Ngài đã thuộc lòng hai bộ Pāḷi gốc ấy rồi. Sau khi viết xong các bộ chú giải, Ngài vẫn hằng ngày đọc tụng và ghi nhớ nằm lòng chính những tác phẩm do mình viết ra. Ngài đã trì tụng thuộc lòng như vậy suốt bốn, năm năm, rồi mới bắt đầu chỉnh sửa, thêm bớt. Việc thuộc lòng chính văn chương do mình viết ra mới là điều khó nhất.

Đáng kinh ngạc hơn nữa là vào năm 1291 (Miến lịch), khi Thiền sư U Vāsavinda từ thị trấn Myohla đến trú ngụ tại chỗ Ngài ở Thaton, vì muốn biết rõ nên đã bạch hỏi rằng: “Ngoài việc tu tập thiền quán ra, còn có những phận sự đặc biệt nào khác nữa chăng?”. Khi ấy, Ngài đáp rằng hằng ngày Ngài vẫn đọc tụng luân phiên Tam Tạng (Tipiṭaka) trong giờ lễ Phật. Vị Thiền sư ấy đã kể lại điều này cho người viết [tác giả]. Quả thật Ngài chính là một bậc “Tam Tạng Pháp sư” (Tipiṭakadhara) ẩn mình mà thế gian không mấy ai hay biết.

Đúng như lời dạy: **“Samādhiparibhāvitā paññā, paññāparibhāvitō samādhi”** (Trí tuệ được định hữu dưỡng, định được trí tuệ hữu dưỡng), năng lực của trí tuệ khi được định lực thấm nhuần là điều không thể nghĩ bàn. Có lần, thanh niên Saṅgārava đã bạch hỏi Đức Thế Tôn rằng:

“Bạch Ngài, có những lúc những bài minh chú (kinh văn) đã được đọc tụng từ lâu lại tự nhiên biến mất khỏi trí nhớ. Lại có những lúc, những bài minh chú dù không được đọc tụng trong thời gian dài nhưng vẫn tự nhiên hiện rõ. Vì nguyên do gì vậy?” Khi ấy, Đức Phật đã dùng năm loại ví dụ để thuyết giảng rằng: “Khi năm triền cái (Nīvaraṇa — những pháp ngăn che trí tuệ) còn tồn tại, thì không thể biết đúng, thấy thực bất cứ điều gì.”

**Tuệ tiến, kinh thuộc, vạn sự hanh thông**

1. **Tham dục triền cái (Kāmacchanda-nīvaraṇa):** Người có tâm tham muốn, đắm say vào một đối tượng nào đó thì giống như nhìn vào bát nước có pha các loại màu như nghệ; họ sẽ không thể thấy rõ hình bóng khuôn mặt mình, cũng vậy, họ không thể biết và thấy đúng sự thật.

2. **Sân hận triền cái (Byāpāda-nīvaraṇa):** Người có tâm giận dữ, bất mãn thì giống như nhìn vào bát nước đang đun sôi bốc hơi nghi ngút; họ không thể thấy rõ hình bóng khuôn mặt mình, cũng vậy, họ không thể biết và thấy đúng sự thật.



3. **Hôn thụy triền cái (Thina-middha-nīvaraṇa):** Người có tâm dã dượi, buồn ngủ thì giống như nhìn vào bát nước có bèo tấm và bụi bặm phủ đầy; họ không thể thấy rõ hình bóng khuôn mặt mình, cũng vậy, họ không thể biết và thấy đúng sự thật. (Ở hành giả, ngoài cái buồn ngủ dã dượi sinh lý thông thường, đôi khi còn có những trạng thái kỳ lạ. Nếu không biết mà cứ cho là buồn ngủ rồi đi ngủ, định lực sẽ giảm sút, dẫn đến những loạn động của thân, khẩu, ý và các chướng ngại nội ngoại xâm nhập. Điều này cũng giống như những thủ thuật thôi miên để lấy cắp đồ trong thế gian vậy. Các triền cái khác cũng tương tự.)

4. **Trạo hối triền cái (Uddhacca-kukkucca-nīvaraṇa):** Người có tâm phóng dật, hối hận thì giống như nhìn vào bát nước đang bị gió thổi làm gợn sóng lăn tăn; họ không thể thấy rõ hình bóng khuôn mặt mình, cũng vậy, họ không thể biết và thấy đúng sự thật.

5. **Hoài nghi triền cái (Vicikicchā-nīvaraṇa):** Người có tâm lưỡng lự, không tin tưởng, không phân định được nơi Tam Bảo thì giống như nhìn vào bát nước đục ngầu bùn đất hoặc bát nước đặt trong bóng tối; họ không thể thấy rõ hình bóng khuôn mặt mình, cũng vậy, họ không thể biết và thấy đúng sự thật. (Trích Saṃyutta Mahāvagga và Phân đoạn Saṅgārava Sutta thuộc Tăng Chi Bộ).

Đối với người đang thực hành thiền định, nhờ lìa xa năm triền cái ấy nên định lực trở nên tốt đẹp. Nhờ định lực tốt (vì định là nhân cận của tuệ) nên các loại trí tuệ được tăng trưởng. Trí tuệ ở đây bao gồm từ việc dễ dàng thuộc lòng kinh sách cho đến quả tuệ A-la-hán. Do đó, hành giả không được để năm loại ngăn ngại, chướng ngại này xâm nhập.

Việc nói rằng “Thiền sư hằng ngày luân phiên đọc tụng Tam Tạng để cúng dường Đức Phật” không phải là điều không thể xét theo phương diện Pháp (Dhamma). Ánh sáng của các vì sao, mặt trăng và mặt trời vốn luôn tỏa rạng khắp nơi. Chỉ tùy theo sự ngăn che của sương mù, mây mù nhiều hay ít mà ánh sáng trở nên rõ hay mờ. Củi, nước, xăng, dầu, pin, ắc quy hay bóng đèn điện — mỗi thứ đều có năng lực tự thân khác nhau, nên ánh sáng phát ra cũng khác nhau. Ở các hành giả, nương vào mức độ xa lìa triền cái và mức độ thâm nhập vào năng lực vô vi (**Dhammadhātu** — Pháp giới) mà họ có thể tỏa sáng.

Từ đó, ta có thể ngưỡng mộ và ước lượng được năng lực của Nhất Thiết Chủng Trí (Sabbaññutañāṇa) — một trí tuệ sáng suốt đến mức có thể giải đáp tức khắc những câu hỏi được dày công suy tính. (Kinh Abhayarājakumāra Sutta — Trung Bộ). Định lực của hành giả cũng cùng chung một “đẳng cấp” với loại định lực mang lại ánh sáng của Nhất Thiết Chủng Trí vậy.



(Trong các bộ Chú giải, **Dhammadhātu** được giải thích là Nhất Thiết Chủng Trí v.v... Điều này nên hiểu theo nghĩa ẩn dụ. Giống như dùng thấu kính hội tụ ánh nắng mặt trời để làm cháy giấy, bông gòn; thấu kính chỉ là nguyên nhân gián tiếp của sức nóng mặt trời. Qua ví dụ này, cần hiểu về cách thức mà năng lực của Vô vi Pháp giới (Niết-bàn) tác động lên các tâm thiện hiệp thế và tâm thiện siêu thế tùy theo khả năng thụ nhận của mỗi người.)

Điều muốn nói ở đây là “Định nghiệp xứ” (Kammaṭṭhāna-samādhi) không chỉ giúp đạt tới Niết-bàn trong phương diện thực hành (Paṭipatti), mà trong phương diện học thuật (Pariyatti), nó còn mang lại những lợi ích như giúp thuộc lòng kinh sách dễ dàng, không mau quên và thấu hiểu sâu sắc các ý nghĩa. Không chỉ có vậy, Đức Phật còn dạy rằng: “Người có giới (với nền tảng là sự không phóng dật — Appamāda) có thể thu được khối tài sản lớn”; tức là ngay cả trong việc kinh doanh, tìm kiếm sinh kế, nếu có Chánh niệm và Định lực thì mới có thể hưng thịnh và tiến bộ.

Thiền nghiệp xứ chính là món vũ khí lợi hại nhất cho bất kỳ ai mong muốn sự tiến bộ và hưng thịnh trong cả đời đạo lẫn đời thường.

Về phương diện sức khỏe và trường thọ, vì đây là kết quả của Thất giác chi (Bojjhaṅga) và Tứ thần túc (Iddhipāda) nên không cần phải nói thêm nhiều, thực tế đã có rất nhiều minh chứng.

Trong giáo pháp của Đức Thế Tôn, mọi phương diện đời và đạo đều có thể được hoàn tất một cách trọn vẹn, không có chỗ nào để nói là “còn thiếu cái này cái kia”. Do không biết được những giá trị thực tiễn và sự bảo chứng như vậy, nên một số người lầm tưởng và theo đuổi các phương pháp tu luyện Yogī của Ấn Độ, thiền Zen của Nhật Bản hay các bài tập huấn luyện tinh thần của phương Tây một cách lạ lẫm.

Từ Lục thông (Abhiññā) cho đến Nhất Thiết Chủng Trí có thể thấu suốt toàn bộ thế gian, định lực của Pháp có thể giúp con người đạt được bất cứ điều gì họ mong muốn. Mong rằng tất cả sẽ đạt được những điều tốt đẹp nhất.

### Thói quen gần gũi và những điều kỳ diệu

Theo lời kể của các bậc xuất gia và cư sĩ thân cận chăm sóc Ngài, tôi xin được trình bày thêm về những thói quen đời thường của Ngài.

Liên quan đến chuyện ăn uống, lúc còn trẻ, nếu Ngài dùng thịt gà thì Ngài sẽ dùng đúng món thịt gà ấy suốt ba năm ròng rã. Nếu dùng thịt heo v.v... thì cũng theo cách đó. Khi các thí chủ dâng cúng vật thực bạch hỏi: “Ngài dùng có ngon không?” để tìm câu chuyện, Ngài chỉ đáp: “Thì vẫn ăn như thường lệ thôi”. Nếu hỏi những chuyện linh tinh khác, Ngài không đáp mà giữ sự im lặng. Sau khi dùng bữa xong...



Sư thường tự mình rải thức ăn cho quạ.

Vì lý do sức khỏe, trong suốt nhiều năm, chiều nào Sư cũng dùng nước đường nóng. Khi lương y Kywe ở Yangon dâng thuốc, Sư phán: “Ta chẳng dùng loại thuốc nào cả.” Tuy nhiên, Sư rất thích ăn trầu. Sư tự mình giã trầu rồi dùng. Khoảng bảy ngày Sư mới đi đại tiện một lần, phân giống như phân dê. Sư luôn đi bộ rèn luyện.

Về vấn đề sinh hoạt, khi các đệ tử xin phép được theo sát chăm sóc, Sư thường không chấp thuận. Ngay cả khi đã ngoài 80 tuổi, Sư vẫn nói: “Việc của họ thì họ làm, việc của ta thì ta làm,” rồi tự mình làm lấy mọi việc. Chính vì thế, có lần Sư bị trượt chân lăn từ bậc thang cao nhất của ngôi chùa xuống tận chân thang, nhưng Sư dường như không thấy đau đớn gì, lập tức đứng dậy đi tiếp. Một lần khác, trong lúc đi bộ, Sư bị kiệt sức nên ngã xuống; Sư đã gạt tay những người đến giúp và tự mình nỗ lực đứng dậy. Cho đến khoảng một năm trước khi viên tịch, Sư mới tựa lưng khi ngồi. Bình thường Sư luôn ngồi thẳng lưng — **Uddhaṃ kāyaṃ paṇidhāya**.

Trong khuôn viên chùa, Sư không thích việc đẽo gọt cây cối, quét tước quá mức hay trang hoàng lộng lẫy. Tấm thảm Sư thường ngồi dày khoảng một lóng tay, lâu ngày bám đầy bụi, nhưng khi có người muốn giũ bụi, Sư cũng không thích; Sư cũng không cho phép thay thảm mới. Xung quanh chỗ Sư ngồi thường thấy những đường kiến bò.

Liên quan đến những con kiến đó, Sư đã nói một lời rất lạ lùng mà ông San Wai đã ghi nhớ và kể lại với ông Tin Maung, biên tập viên tạp chí *Thất Bại*: “Trên sàn nhà trước mặt Ngài, kiến bò lể mể nhưng Ngài không cho ai quét đi. Ngài dạy: ‘Ta đã báo cho chúng biết là sắp có khách phương xa đến. Nếu không bảo trước, chúng chẳng biết ý đâu, cứ bò ngang bò dọc làm phiền khách’.”

Về vấn đề tài lộc, Sư không bao giờ tự mình nhận vật thí, cũng không cho phép ai nhận thay. Sư lập một quỹ riêng cho Tăng chúng (Saṅghika). Sư là người ít ham muốn (thiểu dục). Ngài không xem chùa là tài sản riêng của vị trụ trì mà chỉ xác định đó là đất tôn giáo; các ngôi liêu cốc được xem là thuộc sở hữu của thí chủ (Gahapatikuṭi). Sư không nhận trẻ con hay Sa-di để hầu hạ. Các lễ xuất gia ngắn hạn hay lễ thành nhân (Shinbyu) không được tổ chức tại chùa của Ngài. Đối với các hành giả (yogī), Ngài rất nghiêm khắc; nếu phạm lỗi phải rời đi ngay lập tức. Sư cực kỳ tôn trọng Giới luật, và chỉ những ai tôn trọng Giới luật mới được Sư quý mến. Trong thời kỳ Nhật Bản chiếm đóng, sau khi thọ trai xong, Sư thường cùng một vị sư trẻ đi vào những nơi rừng rậm. Vị sư trẻ nọ cho rằng dường như Ngài cũng có tâm lý sợ hãi khi nghe tiếng máy bay.


### Việc tìm hiểu xem Ngài có phải là bậc A-la-hán hay không

Vào khoảng hai năm trước khi viên tịch (năm 1314, lúc 84 tuổi), Sư không còn viết lách nữa. Các việc thuyết giảng khác cũng được Sư tiết giảm tối đa để tập trung hoàn toàn vào việc thực hành pháp (Paṭipatti). Về phần ẩm thực, Sư ăn rất ít cơm, chủ yếu duy trì sức khỏe bằng sữa và trái cây.

Đến năm 1315, vì Ngài đã cao tuổi, một người đệ tử lớn là Ngài U Medhāvī, trụ trì chùa Thāsanā Māraung ở Kamayut, Yangon, vì rất muốn biết trình độ giáo pháp của Sư nên đã đến đảnh lễ và vấn đạo như sau (Cuộc đối thoại này được Ngài U Parama ở Kanni ghi lại và được in ấn phổ biến trong lễ tang):

**U Medhāvī hỏi:** Bạch Ngài, khi Ngài nghe người ta bàn tán đủ chuyện thế gian trước mặt mình, Ngài giữ tâm như thế nào?
**Ngài trả lời:** Ta chẳng giữ tâm gì cả.

**Hỏi:** Bạch Ngài, Ngài có cảm thấy hài lòng hay không hài lòng về những chuyện đó không?
**Trả lời:** Không.

**Hỏi:** Bạch Ngài, con muốn biết lý do tại sao các vị trưởng lão kết tập kinh điển lại đưa **Kinh Dhammadāsa (Kinh Tấm Gương Đạo Hạnh)** vào Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya)?
**Trả lời:** Ta không thể nói được nữa. Không biết diễn đạt thế nào.

**Hỏi:** Theo **Kinh Dhammadāsa**, nếu một người đạt đến quả vị Tu-đà-hoàn (Sotāpanna), Ngài cho phép nói rằng “Ta là bậc Tu-đà-hoàn”. Việc này chỉ dành riêng cho những bậc Thánh tại gia, hay dành cho cả cư sĩ, Sa-di và Tỳ-kheo?
**Trả lời:** Ngài cho phép tất cả mọi người: cư sĩ, Sa-di và Tỳ-kheo.

**Hỏi:** Một vị Tỳ-kheo nếu đạt được Thiền định, Đạo, Quả mà nói ra một cách thành thực thì không phạm lỗi, không phạm giới; vậy thì có đáng để nói ra không bạch Ngài?
**Trả lời:** Đáng để nói chứ.

**Hỏi:** Bạch Ngài, Ngài còn có tâm nguyện muốn tái sanh vào cõi Phạm thiên không?
**Trả lời:** Ta không muốn.

**Hỏi:** Vậy trước đây, Ngài đã từng có tâm nguyện đó chưa?
**Trả lời:** Đã từng có.

**Hỏi:** Chẳng phải nếu được sanh vào cõi Phạm thiên Tịnh Cư (Suddhāvāsa) thì sẽ rất tốt sao bạch Ngài?
**Trả lời:** (Lúc này, Sư đang nằm tựa đầu trên ghế bành, liền sửa thế ngồi thẳng dậy và phán:) Việc được sanh vào cõi Tịnh Cư... thì cũng tốt ...tốt trong chừng mực nhất định thôi. Nhưng cái “tốt” đó chỉ dành cho những người chưa thấu triệt (với trí tuệ toàn diện). Còn đối với người đã liễu tri trọn vẹn, thì chẳng còn cái gì gọi là “tốt” nữa cả.




**Hỏi:** Bạch Ngài, sau này Ngài còn muốn sanh vào cõi đời nào khác nữa không?
**Trả lời:** Ta không muốn sanh vào bất kỳ cõi nào nữa.

**Hỏi:** Ngài trả lời vậy là vì Ngài đã xác chứng rằng sẽ không còn sự tái sanh (hữu) nữa phải không bạch Ngài?
**Trả lời:** Ta xác chứng như vậy.

Trên đây là những lời trích dẫn từ tập tài liệu phát trong lễ tang. Mặc dù Ngài U Medhāvī hỏi và Sư trả lời như vậy, nhưng việc công bố những lời này dường như không làm hài lòng một số đệ tử thân cận lâu năm. Không biết liệu có những ẩn ý sâu xa nào cần phải suy xét hay không.

### Sự nỗ lực hành thiền kiên cường trong lúc bệnh trọng

Từ đầu năm 1316, Sư thường phán: “Ta sắp chết rồi.” Sư càng nỗ lực thực hành pháp (Paṭipat) mãnh liệt hơn. Đến khoảng giữa năm, Sư lại nhắc lại: “Năm nay ta sẽ không qua khỏi.” Các đệ tử như bà Kusalā và những người khác đã chuẩn bị sẵn áo quan và đến túc trực chăm sóc Ngài.

Ở tuổi 86, sức khỏe của Sư đã yếu đi nhiều. Tuy nhiên, việc thực hành pháp của Sư ngày càng tinh tấn hơn. Cùng với lời tiên đoán “Năm nay ta sẽ không qua khỏi,” Ngài thường xuyên nhìn chăm chú, bất động lên phía trên. Lúc đó, tinh tấn (vīriya) trong lúc hành thiền của Ngài dường như tăng vọt. Đặc biệt, ngay cả khi đi kinh hành, vì sức yếu nên Ngài thường bị ngã, sau đó phải có một vị sư trẻ dìu hai bên để bước đi. Ngài lại thường nhìn đăm đăm lên không trung. Mọi người tự hỏi: “Phải chăng Ngài đang nhìn thấy những cỗ xe thiên giới đang đến đón, hay chính vào lúc đó tâm kinh cảm (saṃvega) khởi lên khiến Ngài biết rằng mình vẫn còn việc phải hoàn thành?”

Dù nỗ lực đi kinh hành, nhưng vì phải dựa vào sức dìu của người khác chứ không tự đi được bằng sức mình, nên dường như Sư không thỏa mãn. Có lúc Sư cuốn cao y nội lên đến tận đầu gối. Do việc tiểu tiện không còn tự chủ, Ngài vừa đi vừa tiểu mà không hay biết; một đệ tử phải đi theo sau để lau sàn nhà. (Hai vị sư U Vilāsa ở Toungoo và U Tikkhācāra ở Taungdwingyi đã chăm sóc Ngài từ đầu đến cuối). Sự nỗ lực hành thiền của Ngài dường như đang ở mức cao độ nhất. Có vẻ như Ngài hành thiền không phải chỉ vì sự an lạc ngay trong hiện tại (Diṭṭhadhammasukhavihāra).

Ngài Sayadaw đã có thể bắt đầu bước vào địa hạt siêu thế ngay từ lúc 40 tuổi. Nếu vào lúc trẻ trung, sức khỏe còn sung mãn và trí tuệ còn sắc bén mà Ngài nỗ lực dốc toàn tâm toàn ý tu tập liên tục thì hẳn sẽ đạt được sự an lạc dễ dàng và thuận lợi hơn. Khi làm công tác hoằng pháp, nếu đã có đầy đủ đạo lực Vô Vi (Asaṅkhata) thì công việc sẽ tiến triển xa hơn và những chướng ngại cũng sẽ ít đi. Thay vì phải dựa nhiều vào Pháp học (Pariyatti) và sự tinh tấn nỗ lực để hoằng dương giáo pháp, nếu Ngài thiết lập và đạt được trọn vẹn đạo lực Vô Vi — hay còn gọi là Pháp tánh (Dhammadhātu) — thì Ngài sẽ vừa nhẹ nhàng hơn, vừa đạt được nhiều thành tựu hơn. Ngay khi vừa tìm thấy sự an lạc của Pháp, vì quá nôn nóng muốn cứu độ chúng sinh mà thời gian Ngài dành cho việc thuyết pháp và viết lách đã tiêu tốn hết những năm tháng tuổi trẻ sung mãn với trí tuệ tinh anh.

### Nghỉ chân một nhát, mệt thêm bội phần

Đức Ānanda đã sống ở quả vị Tu-đà-hoàn (Sotāpanna) trong một thời gian khá dài. Thay vì dốc sức nỗ lực tiến bước, Ngài đã tiêu tốn thời gian vào việc thuyết pháp không ngừng. Khi kỳ kết tập kinh điển đã cận kề, vì nếu không có Ngài thì không thể hoàn thành nên các bậc Đại Trưởng lão đã phải lên tiếng nhắc nhở, và trách nhiệm của Ngài càng tăng thêm. Thế nhưng Ngài vẫn cứ mải mê thuyết giảng. Trong lúc các vị Trưởng lão đang bận rộn với công việc hệ trọng của kỳ kết tập, thì Đức Ānanda lại đang thuyết pháp cho đông đảo quần chúng, vì thế vị Đại Trưởng lão Vajjiputta có thần thông đã nhắc nhở Ngài rằng:

“Này Ānanda, người thuộc dòng họ Gotama! Hãy đem Niết-bàn tịnh lạc đặt vào trong tâm khảm, hãy tìm đến một gốc cây mà tu tập Quán sát (Vipassanā). Chớ có phóng dật. (**Ki te biḷibiḷikā karissati**) = Việc ông cứ thuyết giảng ríu rít như thế thì có đem lại lợi ích gì cho ông chăng?” Sau khi được cảnh báo và dạy bảo như vậy, vị Trưởng lão Ānanda vốn thuyết pháp rất hay đã sớm đắc quả A-la-hán. (**Chú giải trưởng lão tăng kệ Vajjiputta.**)

Ý nguyện thuần khiết của Đức Thế Tôn cũng giống như mũi tên đã bắn đi, Ngài muốn người tu tập phải tinh tấn liên tục, không ngừng nghỉ, ngồi một mạch cho đến khi chứng đắc quả vị A-la-hán mới thôi. (**Kinh Đại Gosinga.**) Ngài không hề mong muốn bất kỳ sự dừng nghỉ nào vì bất cứ lý do gì. (**Trong kinh Đại Thí Dụ Lõi Cây — Trung Bộ Kinh**) có dạy rằng: Lợi lộc (như cành lá), Giới (như vỏ ngoài), Định (như vỏ trong), Thần thông (như giác gỗ), Pháp siêu thế (như lõi cây). Giáo pháp của Đức Phật dạy rằng không được hài lòng khi chỉ mới có được cành lá, vỏ ngoài, vỏ trong hay giác gỗ (thậm chí không được hài lòng khi chỉ mới đạt được phần lõi sát với giác gỗ), mà phải nỗ lực để đạt được lõi cây thực thụ là quả vị A-la-hán ngay trong kiếp sống này. Có như vậy thì việc hoằng pháp mới rộng lớn và sâu sắc, đó chính là điều mà Đức Thế Tôn đã nhìn thấy.


Nếu chỉ dừng lại ở quả vị Tu-đà-hoàn hay Tư-đà-hàm mà qua đời, thì nỗi khổ phải nghỉ chân ghé lại cõi người, cõi trời thêm nhiều lần nữa, hay dù có đắc quả A-na-hàm đi nữa thì nỗi khổ phải tiếp tục mang vác gánh nặng của uẩn ở cõi Phạm thiên với tuổi thọ cực dài cũng là điều đáng buồn chán và nhàm chán. Thấy rõ điều đó nên Đức Thế Tôn đã tha thiết khuyến tấn. Trong vòng luân hồi 31 cõi, hễ dừng chân nghỉ lại một nhát là mệt thêm bội phần.

### Rắn và quạ đến cúng dường

Vào năm 1316 (Miến lịch), khi Ngài Sayadaw 86 tuổi, từ đầu tháng Tà-bông (Taboung), Ngài phải nằm trên giường suốt khoảng mười ngày, không thể trở mình hay ngồi dậy được. Nhiệt độ cơ thể không lúc nào xuống dưới 100-102 độ F. Đến giữa trưa ngày thứ Sáu sau mười ngày đó, do đờm tắc nghẽn và kiệt sức, sắc nghiệp tái sinh (cuti-kammaja-rūpa) của Ngài đã chấm dứt.

Các thí chủ đứng vây quanh đều òa lên khóc lóc. Vị thầy ban truyền giáo pháp không còn nữa. Đàn quạ quanh vùng cũng tụ tập lại than khóc thảm thiết, chúng bay từng đàn phía trên ngôi chùa nơi đặt kim thân Ngài, kêu gào như để cúng dường. Vị chủ nhân thường cho chúng ăn cũng không còn nữa.

Vào lúc 1 giờ 25 phút ngày 13 tháng Tagu, giữa lúc đông đảo mọi người đang vây quanh chiêm bái, một con rắn lớn dài khoảng năm feet bò vào, trườn tới bên chân Ngài, đầu gật gật như đang tỏ lòng tôn kính. Mọi người đều vô cùng kinh ngạc. Sự việc kéo dài khoảng hai giờ năm mười phút. (Lúc bấy giờ các báo đều có đăng ảnh sự kiện này).

Khi đó, giữa những lời bàn tán xôn xao của mọi người, một vị nữ tu (Sīla-răng) cao hạ thầm phát nguyện trong tâm: “Nếu đây không phải một con rắn bình thường thì xin hãy biểu hiện cho thấy rõ ràng”, rồi bà ngồi xuống bên chân kim thân Ngài. Sau khi bà phát nguyện xong, con rắn đang ở phía trên đài hoa sen liền bò xuống, quấn quanh vị nữ tu một vòng như để chào hỏi rồi tỏ lòng cung kính. Khoảng hai mươi vị nữ tu ngồi gần đó đã phải hoảng sợ bỏ chạy.

Lại còn một sự việc khác gây xúc động lòng người hơn nữa.

Đó là việc một số vị Đại Trưởng lão ở thị trấn Thaton đã bí mật đến đảnh lễ kim thân Ngài vào lúc đêm khuya vắng người. Không biết trước kia họ đã từng nói những điều gì quá lời hay xúc phạm đến Ngài, nhưng dù thế nào đi nữa, việc đến đảnh lễ để sám hối như vậy chính là truyền thống tốt đẹp của những bậc thiện tri thức, những bậc con của Đức Phật.


### Lời kể của vị Đại Thần cây (Rukkhaso)

Kim thân Ngài để suốt 21 ngày mà không hề hư thối hay có mùi, da dẻ vẫn săn chắc và vàng óng. Mọi người không nỡ hỏa thiêu. Lại thêm nạn phiến quân chưa yên và có nhiều tranh luận, nên mãi đến ngày mùng 8 tháng Kasone năm 1317 (Miến lịch) mới tổ chức lễ hỏa thiêu. Trong những ngày tang lễ, dù có các viên chức chính phủ ra vào, và tình hình phiến quân có thể gây ra sự cố, nhưng nhờ oai đức của Ngài Sayadaw mà những người có ý định phá hoại cũng đều mặc thường phục trà trộn vào để cùng làm việc và cúng dường như bao người khác. Xá-lợi xương của Ngài được tôn thờ trong một bảo tháp ngay tại khuôn viên chùa.

Liên quan đến Ngài Sayadaw, có một câu chuyện mới nổi lên và rất nổi tiếng ở Thaton.

Có một vị sư am tường về các pháp thế gian ở phía Theim-seik, Kyaik-kaw, vì muốn biết mức độ chứng đắc giáo pháp của Ngài Sayadaw nên đã triệu thỉnh và hỏi một vị Đại Thần cây (Rukkhaso) — vốn là một bậc Tu-đà-hoàn đang canh giữ tại chùa Jetavana ở Ấn Độ (Majjhima Desa), nơi Đức Phật từng ngự. Vị Thần cây thưa rằng...

“Tôi chỉ biết rằng Ngài ấy cao thượng hơn tôi, còn cao thượng đến mức nào thì tôi không thể thưa được. Tuy nhiên, Ngài ấy vẫn chưa phải là bậc A-la-hán. Hiện nay tôi đang thấy lâu đài (vimāna) của Ngài ở cõi Trời Đâu-suất (Tusitā).”

Lược thuật lời này vốn đã có từ ba bốn mươi năm trước khi Ngài viên tịch, nên không thể lấy đó làm điều xác tín hoàn toàn. Bởi lẽ, các lâu đài ở cõi trời có thể xuất hiện trước và cũng có thể thay đổi, đây chỉ đưa ra như một kiến thức tham khảo. Ngài Sayadaw vốn là bậc đại nhân đã tu tập quán chiếu trong nhiều năm, nên Ngài hoàn toàn có đủ thời gian và cơ hội để hoàn tất đạo nghiệp của một vị Sa-môn.

Dù sao đi nữa, đông đảo tăng ni và phật tử trong và ngoài nước đều nhất mực tôn kính gọi Ngài là “Bậc A-la-hán tôn quý”. Hiện nay, chúng ta có thể chiêm bái xá-lợi của Ngài tại nơi các vị đại đệ tử của Ngài đang trụ trì.

Gia sản giáo pháp Tứ Niệm Xứ mà Ngài đã khai phá bắt đầu được Ngài Sayadaw U Visuddha (**1266-1320**) tiên phong truyền bá tại Insein, Yangon, gọi là 'Mingun Yeiktha'. Ngày nay, bậc ân sư Mahāsi Sayadaw đang vững vàng hoằng dương, gióng lên hồi trống pháp Tứ Niệm Xứ cho đông đảo chúng sinh ở cả trong và ngoài nước.

(Tôi xin tập hợp và ghi chép lại những gì đã được đọc và nghe thấy, không thêm thắt, để cúng dường trong khả năng của mình. Mong các bậc hữu duyên hãy ghi nhớ, suy xét đúng sai mà tinh tấn tu tập. Nếu muốn biết chi tiết...)


### Cách nhận biết một bậc A-la-hán

Muốn biết một vị có phải là bậc Thánh A-la-hán hay không, cần hội đủ bốn yếu tố sau:

1. Phải cùng chung sống, gần gũi mới có thể biết được giới đức (**Saṃvāsena sīlaṃ veditabbaṃ.**).
2. Phải qua đàm đạo, đối thoại mới có thể biết được sự thanh tịnh (**Saṃvohārena soceyyaṃ veditabbaṃ.**).
3. Phải khi gặp hoạn nạn, nghịch cảnh mới biết được sức mạnh của trí tuệ và sự kiên trì (**Āpadāsu thāmo veditabbo.**).
4. Phải qua sự thảo luận, vấn đáp mới có thể biết được trình độ tuệ giác (**Sākacchāya paññā veditabbā.**).

Những điều này chỉ có thể nhận biết được sau một thời gian dài quan sát, với sự chú tâm hướng nội và bởi người có trí tuệ. Nếu thời gian quá ngắn, không có sự chú tâm hoặc thiếu trí tuệ thì không thể nào nhận biết được. (Đức Phật đã thuyết dạy điều này cho vua Kosala khi đức vua lầm tưởng các vị ngoại đạo là bậc A-la-hán. Trích *Kinh Bảy vị Kết tóc* - *Sattajaṭila Sutta*, chương *Sagāthāvagga*).

[Để tìm hiểu chi tiết về phương pháp thẩm tra một vị có phải là bậc Thánh hay không, xin mời xem thêm trong phần Chánh văn và Chú giải kinh *Chabbisodhana Sutta* thuộc *Uparipaṇṇāsa*; và các tài liệu như: *Vi-ṭṭh* (Chú giải Luật), tập 2, trang 11, phần *Pārājika* thứ tư; *Abhi-ṭṭh* (Chú giải A-tỳ-đàm), tập 2, trang 470; *Visuddhi-ṭṭh* (Chú giải Thanh Tịnh Đạo), tập 2, trang 270; *Sāratthaṭīkā*, tập 2, trang 282, cùng các tài liệu liên quan. Tuy nhiên, việc tự xét mình có phải là bậc Thánh hay không mới là điều quan trọng và cấp thiết hơn cả.]


# Ngài Đại trưởng lão Shwetaung Sayadaw U Tikkhindriya (1232 – 1303 Miến lịch)

Ngài Shwetaung Sayadaw **U Tikkhindriya**, trụ trì tu viện Ammārāma tại thành phố Shwetaung, là một trong những bậc danh tăng lỗi lạc đáng được ghi danh vào lịch sử hành trì giáo pháp (*Paṭipatti*) tại Myanmar. Ngài đã soạn thảo nhiều bộ luận thư và không ngừng nỗ lực hoằng dương pháp hành thiền Minh sát (*Vipassanā*) trên khắp cả nước; tiếng vang từ những lời dạy của Ngài vẫn còn âm ỉ truyền thừa cho đến tận ngày nay. Một tổ chức mang tên "Hội thiền Minh sát Trưởng lão U Tikkhindriya" đã được thành lập để tiếp nối và gìn giữ di sản tu tập mà Ngài để lại.

Dù danh tiếng của Ngài vô cùng hiển hách, nhưng do tư liệu nghiên cứu chuyên sâu về tiểu sử của Ngài vẫn chưa được thu thập đầy đủ (phần vì e ngại có những chi tiết quan trọng bị bỏ sót), nên chúng tôi xin phép chỉ trích dẫn lại nguyên văn bản tóm tắt tiểu sử được tìm thấy trong phần lời tựa của bộ luận thư *Samuppāda Nirodhagaṃ*, tập 1 do chính Ngài biên soạn, để quý vị cùng chiêm bái và hoan hỷ.

Vào thứ Bảy, ngày 12 tháng Chạp (trăng khuyết) tháng Wazo năm 1232 Miến lịch (mùa Hè), lúc hơn 4 giờ sáng, tại khu phố Bauktisu, thành phố Sittwe, bà Myat Pan Oo – phu nhân của vị thư ký trưởng U Ye Baw – đã hạ sinh một người con trai quý báu. Cậu bé ấy sau này chính là bậc thăng hoa, người đã có công lao to lớn trong việc làm hưng thịnh và lan tỏa giáo pháp Minh sát Tuệ (*Adhipaññā Vipassanā*). Tên thuở nhỏ của cậu là Maung Thar Mar Oo.

Bậc tiền thân của Ngài Sayadaw **U Tikkhindriya**, cậu bé Maung Thar Mar Oo, có một người em trai ruột. Maung Thar Mar Oo là anh cả, còn người em trai là Maung Paw Tun (về sau trở thành Bộ trưởng Bộ Nội vụ Myanmar, tức Sir Paw Tun). Ngoài ra, các anh em họ của Ngài gồm có:

1. Ông U Zan Thar Oo, quan tòa nhận huân chương dải lụa vàng (*Shwe-salwe*) tại Phapyone.
2. Ông U Saw Phyu, quan huyện tại Toungoo.
3. Ông U Maung Tun Aung, thẩm phán đặc biệt tại Pathein.
4. Ông U Shwe Thar, thanh tra cảnh sát tại Phapyone.

Khi đến tuổi trưởng thành, Maung Thar Mar Oo được cha mẹ cho theo học tại trường chính quy. Cậu đã xuất sắc đỗ thủ khoa hạng nhất toàn quốc trong kỳ thi lớp 7 thời bấy giờ.

Để con trai có thể thọ nhận gia tài pháp bảo, theo truyền thống của người Phật tử, cha mẹ đã đưa cậu đến tu viện Azi Sayadaw tại West Pauktaw Chaung (nay là tu viện Phaya Lay Zu) ở Sittwe để làm lễ xuất gia Sa-di.


Cậu Sa-di Thar Mar Oo được vị thầy tế độ Azi Sayadaw ban cho pháp danh là "Sadi Tissa". Vì lòng yêu mến và an lạc trong đời sống xuất gia, Sadi Tissa đã gắn bó với thiền môn. Đến khi tròn 20 tuổi, Ngài được vị thầy tế độ Azi Sayadaw truyền giới trở thành Tỳ-khưu.

Sau khi thọ đại giới, Tỳ-khưu **U Tissa** đã lên Yangon để theo học các bậc thầy đạo cao đức trọng, đặc biệt là dưới sự chỉ dạy của Ngài Shwegyin Sayadaw tại Kyaugtawya. Ngài lưu trú và tu học tam tạng kinh điển tại tu viện Kyaugtawya Shwegyin. Sau đó, Ngài đã sang Ấn Độ và tu hành tại đó trong suốt 3 năm.

Từ Ấn Độ, Ngài tiếp tục hành trình sang Tích Lan (Sri Lanka) và lưu trú tại đây trong 5 năm. Trong thời gian ở Tích Lan, khi đang chiêm bái cây Bồ-đề Dakkhinasakha, lòng tôn kính đức Phật trong Ngài dâng trào mãnh liệt đến mức Ngài đã tự cắt ngón tay trỏ bàn tay trái, dùng vải tẩm dầu quấn lại rồi đốt làm đèn cúng dường lên cội Bồ-đề thiêng liêng.

Sau khi trở về từ Tích Lan, Ngài lưu trú tại một tu viện rừng ở huyện Sittwe. Tại đây, Ngài gặp phải một cơn trọng bệnh khiến Ngài phải hoàn tục (để giữ sự thanh tịnh). Tuy nhiên, ngay sau đó, do nhận thức sâu sắc về sự vô thường (thâm tín sự yếm ly), Ngài đã phát nguyện làm một vị đạo sĩ ẩn dật (*Rishi*) để tu tập tại vùng rừng Mahamyaing. Sau đó, Ngài đi đến Sagaing và lưu trú tại tu viện Sambuṇṇārāma.

Rời Sagaing, Ngài đến tu viện Kan Kalay tại thị trấn Kyan Khin. Theo lời thỉnh cầu của bà thí chủ Daw Phawt, Ngài đã đến tu viện rừng Shwe Hintha ở Nyaungdon để tái xuất gia Tỳ-khưu với Ngài Đại trưởng lão Kyaugtawya Shwegyin làm thầy tế độ (lúc bấy giờ Ngài Shwegyin Sayadaw đang lưu trú tại tu viện Shwe Hintha, Nyaungdon). Lần này, Ngài được ban pháp danh là "**U Tikkhindriya**".

Bậc thiện thệ **U Tikkhindriya** từng lưu trú tại Kyee Chaung và Lay Myethna. Khi Ngài đang tu tập tại Monywa, sau khi trải qua một giấc mơ vô cùng kỳ lạ, Ngài đã chứng ngộ sâu sắc con đường thiền Minh sát. Ngài đã nỗ lực hành trì tinh tấn đến mức các hàng đệ tử, cả xuất gia lẫn tại gia, đều hết lòng tin tưởng và cung kính tôn xưng Ngài là "Bậc Thánh giả Mẫu mực" (Ariya).

Trong thời gian du phương hoằng pháp tại các tỉnh thành, khi Ngài đang dừng chân tại tu viện Kan Kalay, thị trấn Kyan Khin, theo lời thỉnh mời của ông lý trưởng U Thukha vùng Puretan, Ngài đã đến Puretan và Padaung để thuyết pháp. Trước lòng thành kính của thiện nam tín nữ thị trấn Padaung, Ngài đã lưu trú tại một tu viện gần tượng Phật đồng lớn ở Padaung.

Tiếp đó, theo lời thỉnh cầu của vị hộ pháp U Shwe Htaik, Ngài đã lên đường đến thành phố Shwetaung.

Ngài quang lâm vào bảo tháp Shwe Pyaw Pyaw để thuyết pháp. Khi ấy, các ông U Po Sine, U San Nyunt, U Thit, U Shwe Htaik và U Aung Kyaw đã hùn phước mua lại vườn xoài (nơi hiện nay là tự viện Ambārāma) và thành lập tu viện Ambārāma vào năm 1282 (ÂL). Họ đã thỉnh bậc cao đức **U Tikkhindiya** về làm tọa chủ để nương tựa tu học.

Bậc cao đức **U Tikkhindiya** cư trú tại tu viện Ambārāma, thị xã Shwedaung, vừa tự mình tinh tấn tu tập, vừa thuyết giảng chỉ dạy cho những người khác. Sau khi thí chủ tu viện là ông U San Nyunt qua đời, một ngày nọ, trong lúc Ngài đang hành thiền trên giường ở tòng lâm trang nghiêm, Ngài đã đạt được tuệ giác thâm sâu hơn hẳn những lần tu tập trước đây.

Sau đó, Ngài đã trình bày những sở đắc về giáo pháp của mình lên Hòa thượng U Nārada vùng Akjuttaw-kone, thành phố Sittwe. Kể từ thời điểm đó, tất cả đệ tử xuất gia lẫn cư sĩ đều một lòng tin tưởng rằng Ngài là một bậc "Thánh nhân" (Ariya) với đạo hạnh viên mãn, và sự cung kính cúng bàng của họ càng tăng gấp bội.

Với sở học uyên bác và chứng nghiệm thực chứng trong pháp môn Thiền Định và Thiền Tuệ, bậc cao đức **U Tikkhindiya** đã biên soạn rất nhiều tác phẩm, tiêu biểu như:

1. Samuppāda Nirodhaga-kyan (Tập yếu về Diệt tận Duyên khởi)
2. Dhammacakkā Amē-aphay-kyan (Tập vấn đáp về Kinh Chuyển Pháp Luân)
3. Paramatthādinayodassana-kyan (Tập luận về kiến giải Thắng pháp)
4. Vedanānupassanā-kyan (Tập luận về Quán Thọ)
5. Nirodha Vinicchaya-kyan (Tập phân tích về Niết-bàn Diệt)
6. Buddhānussati-kyan (Tập về Niệm Phật)
7. Pañhābyākaraṇa-kyan (Tập giải đáp các vấn nạn)
8. Viññāṇānupassanā-kyan (Tập luận về Quán Tâm)
9. Nibbānattha-vinicchaya-kyan (Tập phân tích về ý nghĩa Niết-bàn)
10. Saṅgraha Nissaya-kyan (Tập chú giải Vi diệu pháp tập yếu)
11. Catusaccānupassanī-kyan (Tập luận về Quán Tứ Diệu Đế)
12. Tihetuka Vinicchaya-kyan (Tập phân tích về hạng người Tam nhân)
13. Issādipakāsanī-kyan (Tập luận về lòng ganh tỵ và cách đối trị)
14. Mahāsatipaṭṭhāna-sutta Nissaya နှင့် Aphay-kyan (Tập chú giải và vấn đáp về Kinh Đại Niệm Xứ)

Dù đã biên soạn rất nhiều kinh sách để xiển dương giáo pháp mà mình đã chứng ngộ, Hòa thượng **U Tikkhindiya** vẫn chưa lấy đó làm đủ trong công cuộc hoằng pháp. Vì mong muốn được trực tiếp hướng dẫn những người hữu duyên, Ngài đã viết trong lời ngỏ của một số tác phẩm:

"Bất kỳ ai ở thành phố nào muốn tìm hiểu, lắng nghe và thực hành giáo pháp, nếu điều kiện thuận lợi và có lời thỉnh mời, tôi sẽ sẵn lòng quang lâm để đóng góp cho sự hưng thịnh của giáo pháp Đức Thế Tôn. Những ai mong cầu thực hành pháp môn Thiền định (Samatha) và Thiền tuệ (Vipassanā) một cách đúng đắn, tôi xin khuyến tấn hãy đến tu viện Ambārāma, đầu khu phố Shan-tan, thị xã Shwedaung để cùng nhau nỗ lực tu tập."


Vì lợi ích của thế gian, lợi ích của giáo pháp, lợi ích cho bản thân và lợi ích cho tha nhân, Ngài đã không ngừng cống hiến cho đến khi viên tịch vào lúc 8 giờ tối Thứ Sáu, ngày 11 tháng Sau Trăng Tròn tháng Wazo, năm 1303 (ÂL).

Trong giai đoạn đầu đời, Ngài từng lập gia đình và có hai người con gái. Cả người vợ và hai con gái sau này đều đến cư ngụ tại cốc Mogok, khu vực Maggin-chaung, đồi Sagaing để xuất gia làm tu nữ. Họ luôn trì giữ các hạnh đầu đà như **Ekāsanik** (hạnh ăn một bữa) và **Pattapiṇḍik** (hạnh ăn trong bát), chuyên tâm hành thiền. Người ta thường gọi họ là "ba mẹ con bậc Dự lưu". Vào năm 1308 (ÂL), cụ bà Daw Paññā (người vợ cũ tại Mogok) đã qua đời ở tuổi 99. Đức Hòa thượng Abhi Shwe-hintha thời còn là tăng sinh cũng từng học kinh văn với Ngài và đã tận tụy phục vụ các tiểu tiết trong thời gian Ngài ẩn tu tại rừng. Trong tác phẩm "Hòa thượng Shwe-hintha và các mẩu chuyện văn học" (trang 39, 137) có ghi lại: "**Ekatowinowa-tayan** = Tất cả đã cùng nhau nương náu nơi Niết-bàn", đó là điều chúng ta nên tưởng niệm về những bậc cao đức này.


# Hòa thượng Sayadaw U Tiloka vùng núi Thakyet
(1233 - 1299)

"Maung Tiloka mà cứ làm việc kiểu đó thì thật là quá sức, còn trẻ mà rồi sẽ mù mắt mất thôi."

Đó là lời than phiền của Hòa thượng Ledi Sayadaw khi nghe tin về **U Tikola**. Ngay lập tức, Ngài gọi hai vị tỳ-kheo trẻ đến và bảo:

"Này hai con, hãy đến chùa của Maung Tiloka. Tất cả kinh sách chép trên lá bối, sách vở, bút chì, giấy tờ hiện có ở chỗ nó, hãy thu gom hết lại và mang về để trên chùa của ta."

Hai vị tỳ-kheo vâng lệnh, đến trình bày lại lời dạy của Hòa thượng và thu dọn toàn bộ sách vở của **U Tiloka** mang đi.

**U Tikola** là một người có nghị lực vô cùng phi thường. Ngài sống trong một ngôi chùa nhỏ mái lá vách tre trong tòng lâm Ledi, thị xã Monywa, ngày đêm miệt mài giảng dạy, nghiên cứu và biên soạn kinh sách với sự tinh tấn mãnh liệt. Ban đêm, cảm thấy ánh sáng từ ngọn đèn dầu nhỏ không đủ, Ngài đã tự chế một ngọn đèn lớn từ thùng sắt thiếc bốn cạnh để tiếp tục xem sách.

Thời kỳ đó, việc học tập phần lớn vẫn dựa vào kinh lá bối. Các chữ viết trên lá bối rất nhỏ và khít, phải bôi nước nghệ trộn dầu hỏa lên bề mặt mới có thể đọc rõ. Do tiếp xúc liên tục với khói dầu từ lá bối và hơi nóng, khói đen từ ngọn đèn dầu hỏa lớn qua nhiều ngày đêm không nghỉ, **U Tiloka** đã bị mắc bệnh về mắt. Đôi mắt Ngài đỏ rực như quả cà rừng chín và bắt đầu chảy nước mắt liên tục. Mắt sưng to như nắm đấm, máu từ cả mắt và mũi không ngừng rỉ ra.

Một vị tỳ-kheo thấy vậy đã bạch lại với Hòa thượng Ledi Sayadaw, đó là lý do vì sao Ngài ra lệnh tịch thu hết sách vở. Tuy nhiên, khi bản thân không còn tự đọc được nữa, **U Tiloka** lại bảo các vị tỳ-kheo nhỏ đọc cho mình nghe để tiếp tục học hỏi.

### Thầy là bậc Tam Tạng, cha mẹ thuộc dòng dõi trưởng giả

**U Tiloka** sinh vào lúc 3 giờ sáng ngày Thứ Bảy, mùng 9 tháng Tazaungmon, năm 1233 (ÂL) tại làng Khaw-thanti, khu vực Bant-kyi, phía Tây thị xã Monywa. Thân phụ là cụ U Tet Phyo, thân mẫu là cụ Daw Thi. Thân phụ Ngài thuộc dòng dõi trưởng giả giàu có, còn thân mẫu thuộc dòng dõi quan lại quyền quý.


Thời niên thiếu, Ngài theo học với Ngài Trưởng lão U Zavana tại chùa Ngõa Đạt (Ngàn Chuối), làng Khaw-thandi, phía nam. Trưởng lão U Zavana là một bậc **Tam tạng (Tipitaka-dhara)** xuất chúng, vốn là đệ tử của Đức Tăng thống Maung-daung dưới triều vua Bodaw. Ngài tu học tại Ngõa Đạt cho đến khi thọ giới Tỳ-khưu. Sau khi xuất gia không lâu, Ngài đã tìm đến cầu học với Đại trưởng lão Ledi Sayadaw.

Ngài bắt đầu học từ bộ Rūpasiddhi (Văn phạm), và chỉ trong vòng năm, sáu hạ, Ngài đã thông suốt các luận giải **Pāḷi-Aṭṭhakathā-Ṭīkā** vượt trội hơn người. Trưởng lão Ledi Pandita cũng từng có thời gian thọ giáo nơi Ngài U Tiloka. Ngài U Tiloka là bậc có trí tuệ nhạy bén và nghị lực tinh tấn phi thường. Ngài Ādiccavamsa từng tán thán rằng: từ thời Bagan trở lại đây, hiếm có đôi thầy trò nào có thể thông suốt Tam tạng như hai vị ấy. Thời bấy giờ, Ngài U Tiloka đang ấp ủ một tâm nguyện, ngày đêm không nghỉ để soạn thảo một bộ kinh thư, đó chính là bộ **Nekkhamma-vidhāna Dīpanī** (Cẩm nang về Pháp Ly tham – Xuất gia).

Dù khi ấy Ngài U Tiloka đang bị bệnh về mắt, không thể xem sách hay giảng kinh bằng văn bản, nhưng Ngài vẫn nhiệt tâm thuyết giảng không ngừng cho những ai tìm đến. Tuyệt nhiên, đó chính là lúc Ngài đang tích lũy năng lực từ pháp học (Pariyatti) sang pháp hành (Paṭipatti) để chuẩn bị vào rừng ẩn tu, lòng tràn đầy **Nekkhamma-jjhāsaya** (tâm nguyện tha thiết được xuất gia, ly tục). Chẳng bao lâu sau, chứng bệnh về mắt của Ngài cũng hoàn toàn tiêu biến.

Cổ đức có câu “Chim quý đậu cành vàng”, vì là người thân cận bên cạnh Đại trưởng lão Ledi Sayadaw nên Ngài dường như cũng được huân nhiễm những phong thái của thầy mình. Ngài thường ghi chép và nghiên cứu dưới ánh sáng của chiếc đèn hộp sắt vuông, y hệt như cách của Đại trưởng lão. Cả hai thật đúng là những bậc đại nhân trung kiên của giáo hội.

Về sau, Đại trưởng lão Ledi Sayadaw thậm chí không cần thắp đèn, người ta kể rằng (do một người thợ máy tên là U Ba Tun ở làng Paline, Mandalay, từng thấy khi còn làm chú tiểu bên cạnh Ngài) Ngài có thể biên soạn sách vào ban đêm nhờ ánh sáng phát ra từ chính đôi mắt của mình. Điều này tương tự như việc Trưởng lão Dabba dùng ánh sáng từ ngón tay trỏ để dẫn đường trong đêm tối.

Dẫu sao đi nữa, có thể xem là Ngài U Tiloka không chỉ nắm vững tinh hoa pháp học mà còn thấu triệt sâu sắc các phương diện pháp hành của thầy mình. Việc gặp căn bệnh về mắt và các kinh sách bị cất giữ dường như là một lời cảnh tỉnh: “Hãy bắt đầu nỗ lực hành thiền (Kammaṭṭhāna) đi thôi”. Kể từ đó, Ngài chuyên tâm tu tập thiền định khi mới chỉ 25 tuổi.


Ở một phương diện khác, Ngài U Tiloka vừa giảng dạy kinh điển vừa nỗ lực hành đạo đặc biệt vào ban đêm. Thời ấy, tại tu viện Ledi có rất nhiều chuyện kỳ bí. Chuyện kể rằng thường có một thực thể phi nhân (quỷ dạ xoa) hiện hình nằm ngủ nơi cầu thang tu viện. Vào một đêm trời tối mịt và u ám.

Khi toàn bộ tu viện đã chìm vào giấc ngủ sâu, Đại trưởng lão đang đi kinh hành nơi hành lang dài 60 thước. Khi Ngài nhìn về phía ngôi thất nhỏ gần cây Thnaung nơi Ngài U Tiloka đang ở, bỗng nhiên Ngài dừng bước. Lý do là toàn bộ ngôi thất của Ngài U Tiloka đang tỏa sáng rực rỡ như được thắp bởi ánh sáng điện khí. Ba bốn ngày sau, nhân lúc vắng người, Đại trưởng lão gọi Ngài U Tiloka đến để giáo hóa: “Này Maung Tiloka, về mặt pháp học, truyền dạy kinh điển thì con đã viên mãn rồi. Hiện tại con không nên ở lại tu viện này nữa, hãy đi đến nơi nào con muốn đi”. Ngài U Tiloka chỉ đáp:

“Bạch Đại đức, xin vâng ạ”, rồi đảnh lễ và trở về liêu phòng của mình. Ngày hôm sau, với một bình bát, ba tấm y và bản thảo bộ **Nekkhamma-vidhāna Dīpanī** do chính mình soạn thảo, Ngài bước xuống khỏi ngôi thất để rời khỏi Ledi. Trước khi đi, Ngài vào đảnh lễ thầy lần cuối và bạch rằng:

“Bạch Thầy, con chỉ có thể quay lại tu viện Ledi này từ trên hư không mà thôi”.

(Có lần Đại trưởng lão từng kể với cư sĩ Pyaw-bwe Sayathetgyi rằng: Lúc đó định lực của Ngài U Tiloka đã rất thâm hậu, nếu cứ tiếp tục ở giữa đám đông tại tu viện Ledi thì định lực ấy sẽ bị suy giảm, nên Ngài mới bảo đi; nhưng Ngài U Tiloka lại có chút chạnh lòng vì nghĩ rằng thầy không muốn mình ở lại nữa nên mới xua đuổi).

### Dùng pháp điều phục tâm tự phụ

Ngài bắt đầu cuộc hành trình cô độc, đi qua nhiều làng mạc, rừng núi tiến về phía thượng nguồn sông Chindwin để chuyên tâm hành đạo. Đó là năm 1259 (Miến lịch), khi Ngài 26 tuổi.

Do khí hậu vùng thượng nguồn sông Chindwin không được thuận lợi (asappāya), Ngài chuyển đến trú ngụ tại một ngọn núi gần Kyaik-hto, vùng Thaton. Vì đây là nơi trú ngụ của những bậc đang nỗ lực hành thiền (**Sekkhapuggala** - bậc Hữu học), nên ngọn núi được đặt tên là “The-kya-daung” (Núi Hữu Học). Ngài nỗ lực tu hành không quản ngày đêm. Các đệ tử tìm đến cầu đạo và các am thất cũng tăng lên nhanh chóng.



Nơi hẻo lánh ấy bỗng trở nên sầm uất như một thị trấn. Đó quả là một **Brahmacārūpaddava** (chướng ngại cho đời sống phạm hạnh). Có vẻ như khi ấy Ngài rất khao khát chứng đắc các tầng Thiền định và Thần thông (Abhiññā).

Đại trưởng lão Ledi đối với người đệ tử đầy nhiệt huyết và kiên cường này luôn có một tình thương sâu sắc và sự lo lắng khôn nguôi. Ngài cũng đặt nhiều kỳ vọng vào người đệ tử có thể nối chân mình này. Nhân duyên đến vào tháng Tazaungmon năm 1260, Ngài nhận được một bức thư từ Ngài U Tiloka.

Trong thư viết: “Nếu đệ tử nhận được sự hộ trì của thầy, thì việc phạm hạnh có thể hoàn tất trong một sớm một chiều”. Xem thư xong, Đại trưởng lão mỉm cười. Tuy nhiên, vì lòng thương đệ tử cũng như có cảm tình với vùng núi rừng Kyaik-hto, vào ngày mùng 9 sau trăng tròn tháng đó, Ngài đã cùng đệ tử Ledi Pandita lên đường tìm đến.

Sự hiện diện của Đại trưởng lão Ledi Sayadaw khiến Ngài U Tiloka cùng các đệ tử vô cùng hoan hỷ và hết lòng hầu cận. Một ngày nọ, theo lời kể của người hộ tông Maung Samon, họ bí mật tìm đến lán lá nơi Đại trưởng lão đang độc cư thiền định. Họ kinh ngạc thấy Đại trưởng lão đang ngồi kiết già, đôi mắt nhắm nhẹ, toàn thân lơ lửng cách mặt đất khoảng hai gang tay với phong thái vô cùng tĩnh tại. Dường như Đại trưởng lão đang dùng thực chứng để điều phục tâm tự phụ về kiến thức và pháp hành của Ngài U Tiloka.

Trong thời gian ở Kyaik-hto, một hôm Đại trưởng lão bảo Ngài U Tiloka và Ledi Pandita mỗi người mang bát, cầm gậy cùng Ngài đi chiêm bái chùa Kyaik-htiyo. Khi đi sâu vào rừng rậm, một con voi rừng hung dữ bỗng lao thẳng về phía Đại trưởng lão. Hai vị đệ tử U Tiloka và U Pandita hoảng sợ chạy đến leo lên những cái cây gần đó. Riêng Đại trưởng lão vẫn đứng vững bất động, đối diện với con voi đang lao tới bằng tâm Từ bi mãnh liệt, giống như cảnh Đức Phật điều phục voi Nalagiri. Chẳng bao lâu sau, con voi rừng bỗng cúi đầu cung kính rồi rẽ sang lối khác bỏ chạy. Sau khi con voi đi khuất, hai vị đệ tử mồ hôi đầm đìa mới dám leo xuống khỏi cây.

Lúc ấy, Đại trưởng lão với gương mặt rạng rỡ và giọng cười ôn hòa, nói rằng: “Này Maung Tiloka, bức thư con viết cho thầy và thực tế này có chút khác biệt nhỉ”. Ngài U Tiloka khi ấy mới thức tỉnh, nhận ra mình đã rơi vào tâm **Adhimāna** (tăng thượng mạn), lầm tưởng mình đã chứng đắc quả vị A-na-hàm (Anagami).

Thời Tích Lan cổ đại, cũng có vị **Đại trưởng lão Mahānāga - bậc thông thạo Tam tạng**, do đạt được định lực và thần thông hiệp thế nên lầm tưởng mình đã đắc quả A-la-hán. Một vị đệ tử đã chứng đắc A-la-hán và có thần thông tìm đến thầy, yêu cầu thầy hóa phép ra một con voi, rồi chính con voi ấy...


Khi được yêu cầu hóa phép ra vẻ như sắp đâm giết mình, ngài đã hoảng sợ khi cận kề cảnh bị voi húc (điều này có chép trong **Visuddhimagga Atthakatha** - Thanh Tịnh Đạo Chú Giải).

Cũng tương tự như vậy, có lần tôi từng nói với bạn bè rằng: "Con voi bây giờ cũng có thể là voi rừng hoang dã, hoặc biết đâu lại là voi của **Đại trưởng lão Ledi Sayadaw**", nhưng tất cả đều phản đối. Vì thế, ở đây tôi cũng e dè không muốn nhắc lại lời đó nữa. Nhưng việc gặp voi rừng là có thật.

Dù sao đi nữa, nếu xét theo các tình tiết của sự việc, có thể hiểu đó là tâm thế "dùng Chánh Pháp để nhiếp phục cái mạn của Pháp".

### Hiệu đính kinh sách bằng tuệ giác hành thiền

Ngài Trưởng lão **U Tiloka** tự mình nỗ lực thực hành hết sức tinh tấn. Ngài cũng tiếp nhận và hướng dẫn thiền cho các đệ tử hành giả. Ngài còn du hành khắp nơi để thuyết giảng và biên soạn nhiều tác phẩm kinh sách. Có thể nói ngài là người đã nối gót bậc thầy để đánh vang tiếng trống Ba-la-mật (Patipatti) của đất nước Myanmar.

Các tác phẩm do ngài biên soạn gồm có:

1. **Nekkhamma Vidhāna Dīpanī** (1258),
2. **Ariya Magga Dīpanī** (1262), (bên trong có trích dẫn quyển Vijjā Magga Dīpanī của Ledi Sayadaw).
3. **Paṇḍita Vedanīya Dīpanī** (1267),
4. **Tāing Kyī Soḷasa Dīpanī** và quyển chú dẫn nhỏ kèm theo (1280),
5. **Niruttti Padabyañjanī**,
6. **Viniccaya Pakāsanī**,
7. **Catubbiddha Byākaraṇa**,
8. **Abhidhammattha Sarūpa Dīpanī** (1273),
9. Các quyết định về Mangala, các loại Viniccaya (phán quyết) và thơ ca Ratu,
10. **Dhammarāsī Kyan** (do các đệ tử ấn hành năm 1296 sau khi ngài viên tịch).

Trong số đó, liên quan đến việc thực hành thiền định, tác phẩm **"Paṇḍita Vedanīya Kyan"** là nổi tiếng nhất. Cho đến nay, chưa có tác phẩm nào đầy đủ hơn về các phương pháp tu tập Kasina (đề mục biến xứ). Đối với những ai muốn theo lộ trình Thần thông (Abhiññā), đây là tác phẩm đặc biệt thú vị. Cách quán chiếu sáu đại (dhātu) bao trùm toàn bộ thế giới hữu tình và vô tình trong tập sách này thậm chí còn đầy đủ hơn cả các bài viết của **Ngài Ledi Sayadaw**.


Trong quá trình biên soạn tập sách đó, ngài viết theo lối giảng giải cho đệ tử giống như cách Đức Phật thuyết cho đồ chúng. Những bài kệ trong **Sekkhabhāsita Sutta** cũng được đưa vào, tạo nên sự mới lạ cho người nghe. Vì ngài viết theo lối gọi "Này các đệ tử, này các đệ tử", nên có một vị sư đã bạch với **Đại trưởng lão Ledi Sayadaw** rằng:

"Bạch ngài, đọc sách của vị ấy thì rất hay, nhưng cái cách gọi 'đệ tử' nghe thật khó chấp nhận."

Ngài Ledi đáp rằng: "Nếu không muốn bị gọi là đệ tử thì đừng đọc sách của ông ấy."

Liên quan đến những trải nghiệm thực chứng tâm linh, cuốn sách cũng chứa đựng nhiều điều rất đáng ghi nhớ. Phần viết về mười chướng ngại của **Vipassanā** (Minh sát) cũng cực kỳ lôi cuốn.

### Ánh sáng và các ngã rẽ của Vipassanā

Ngài Trưởng lão đã trình bày mười điều làm ô nhiễm **Vipassanā** một cách đầy đủ hơn trong tác phẩm **"Abhidhammattha Sarūpa Dīpanī"**, vốn được viết sau quyển **Paṇḍita Vedanīya**.

1. **Obhāsa** = Hào quang (ánh sáng),
2. **Pīti** = Sự hỷ lạc quá mức,
3. **Passaddhi** = Sự khinh an (thanh tịnh) và đức tin cực độ,
5. **Paggaha** = Sự tinh tấn quá mức cân bằng,
6. **Sukha** = Sự an lạc (hạnh phúc) quá mức,
7. **Ñāṇa** = Trí tuệ cực kỳ sắc sảo,
8. **Upaṭṭhāna** = Sự thiết lập chánh niệm cực mạnh,
9. **Upekkhā** = Sự xả (quân bình) mạnh mẽ,
10. **Nikanti** = Sự đắm nhiễm, thỏa mãn (với những trạng thái trên).

Về mục **"Hào quang/Ánh sáng"** trong mười loại trên, ngài Trưởng lão đã đưa ra nhận định như sau:

["Hào quang **Obhāsa** không phải ai cũng có. Nó thường xuất hiện ở những người đã đắc **Cận định (Samādhi)** hoặc các tầng **Thiền định (Jhāna)** vững chãi. Đó là ánh sáng của tâm thanh tịnh và tuệ thanh tịnh mà chỉ bản thân hành giả thấy được, người khác không thấy. Đôi khi hào quang cũng có thể phát ra từ thân đến mức người khác có thể nhìn thấy được."]

Trong mười loại này, chỉ riêng **"Nikanti"** là bất thiện và là yếu tố then chốt (gây hại). Chín loại còn lại thực chất là những pháp tốt giúp làm già dặn **Tuệ giác (Bodhi-ñāṇa)**, thuộc về các pháp **Bồ-đề phần (Bodhipakkhiya)**. Chúng là những dấu hiệu của sự tiến bộ trong tu tập. Tuy nhiên, vì hành giả thường sinh tâm ưa thích và quyến luyến những tiến bộ đó... nên chúng mới được gọi là **Vipassanupakkilesa** — mười pháp làm ô nhiễm **Vipassanā**, hay mười loại 'gỉ sét' của hành giả Minh sát."



Những nhận định của ngài liên quan đến mười loại này rất đáng lưu tâm. Trong quyển **Paṇḍita Vedanīya Kyan** (1267), ngài đã nhận định về **Obhāsa** như sau:

["Khi nảy sinh **Anicca-vijjā-ñāṇa** (Tuệ trí về vô thường) có khả năng thấy rõ bản chất sinh diệt của **Udayabbaya**, thì trước đó thường xuất hiện ánh sáng của tuệ, ánh sáng của tâm, gọi là **Āloka** (Quang minh). Ánh sáng **Āloka** này được gọi là **Obhāsa**. Này các đệ tử, đây không phải là loại hào quang phát ra từ thân rực rỡ đâu. Đó là ánh sáng **Āloka** do tâm và tuệ thanh tịnh khi các phiền não (kilesa) tạm lắng dịu.

Lúc bấy giờ, vị hành giả ấy giống như người có **Thiên nhãn (Dibba-cakkhu)**, có thể dùng ý môn (manodvāra) để thấy rõ các sắc trần dù ở xa, bị che khuất hay ngay cả trong đêm tối. Này các đệ tử, khi ấy các chi **Thiền (Jhāna)** xuất hiện như lúc sắp đạt đến **Patibhāga** (tương tự tướng) trong định, đồng thời các pháp **Đạo chi (Maggaṅga)**, **Giác chi (Bojjhaṅga)**, **Bồ-đề phần (Bodhipakkhiya)** cũng trở nên mạnh mẽ và hiển lộ rõ ràng.

Khi thấy được những điều đặc biệt chưa từng thấy, chưa từng gặp trước đây trong tự thân mình như vậy, hành giả dễ nảy sinh ý nghĩ: 'Đây hẳn là Đạo quả rồi, mình chắc đã đắc Đạo quả rồi'. Này các đệ tử, không được tưởng tượng như thế. Đó vẫn chưa phải là Đạo quả đâu."]

Khi viết quyển **Abhidhammattha Sarūpa Dīpanī** (1273), ngài đã vạch rõ và cảnh báo về những hiểu lầm, thấy sai, biết sai trong **Vipassanā** một cách công khai hơn như sau. Những lời di huấn của các bậc vĩ nhân đã trực tiếp chứng nghiệm là điều chúng ta cần phải hết sức tôn trọng, lưu tâm và làm theo:

### Điên vì thiền, mê hoặc vì định

["Đối với những người không thuần thục trong lộ trình tu tiến, khi rơi vào trạng thái này (tức là **Udayabbaya-ñāṇa** - Tuệ Sanh Diệt, hay còn gọi là **Maggāmagga-ñāṇadassana-visuddhi** - Đạo Phi Đạo Tri Kiến Thanh Tịnh), họ thường lầm tưởng rằng: 'Chính những trạng thái **Pīti** (Hỷ), **Passaddhi** (Khinh an) này là Đạo, là Quả; vì đắc Đạo Quả nên hào quang (**Obhāsa**) mới phát ra. Ta đã đắc pháp cao thượng Đạo Quả rồi, phận sự đã xong'. Họ dừng lại ngay giữa lộ trình và rồi dần thoái hóa, hư hỏng.

Dù không lầm tưởng là Đạo Quả, nhưng nếu sinh tâm tâm đắc, thăng hoa và thỏa mãn quá mức với các hiện tượng **Obhāsa**, **Pīti** đó, thì **Taṇhā-nikanti** (Ái thỏa mãn) sẽ phát khởi mạnh mẽ, khiến tâm bị vẩn đục..."]



Trong các pháp Bồ-đề-phần đó, nếu tâm bị chìm đắm (hôn thụy) thì sẽ dẫn đến sự suy thối và hư hỏng. Ngược lại, nếu hành giả cứ mải mê theo đuổi và bám lấy những hiện tượng đặc biệt mới phát sinh như **Hào quang (Obhāsa)**, **Phỉ lạc (Pīti)**... khiến tâm bị chấn động và phóng dật (**Dhammuddacca - Pháp trạo cử**) thì cũng dẫn đến sự suy thối và hư hỏng.

“Mặt khác, trong khi nỗ lực thực hành Vipassanā như thế này, các vị chư thiên có lòng thành kính nhưng chưa am tường giáo pháp có thể sẽ hỗ trợ bằng cách làm hiện ra các cảnh giới (ấn chứng) cho hành giả thấy. Để hành giả thấy được tướng Vô thường (Anicca), họ hóa phép ra những cảnh tượng hoại diệt; để thấy tướng Khổ (Dukkha), họ hóa ra hình ảnh người bệnh, người chết, hay những bộ xương. Thậm chí trong khi tu tập Samatha (Thiền chỉ), họ cũng hóa phép ra các cảnh giới của định (ấn chứng - nimitta). Bất cứ cảnh giới nào mà hành giả muốn thấy, họ đều có thể làm cho hiện ra đủ loại.

“Khi những cảnh giới ấy hiện lên, đó không phải do trí tuệ của tự thân hành giả đã già dặn mà thấy. Vì trí tuệ chưa già dặn, chưa trong sáng, mà lại thấy cảnh do tác động (payaoga) của người khác, nên hành giả dễ sinh lòng sợ hãi, khiếp nhược, khiến tâm huyết bị loạn động. Bởi lẽ sự thấy này không phải do trí tuệ chín muồi đúng thời điểm, nên những cảnh giới do chư thiên hóa hiện ấy cũng giống như vàng bạc, cơm nước do ảo thuật gia biến ra: chúng không thể có được lâu dài hay tồn tại bền vững. Giống như người ăn cơm nước của ảo thuật gia thì không thể no bụng hay hết đói, việc nhìn thấy và đắm mình trong các cảnh giới ấn chứng do chư thiên hóa hiện kia cũng không giúp đoạn trừ Niết-bàn-chướng (Nīvaraṇa - Triền cái), không giúp đắc được các pháp đặc biệt như Thiền định (Jhāna) hay Đạo quả (Magga). Công việc tu tập sẽ không thể hoàn tất.

“Nếu không từ bỏ hay xua tan những cảnh giới do chư thiên hiện ra đó, mà lại khởi tâm thỏa mãn, vui mừng, ưa thích ngắm nhìn, thì các vị chư thiên ấy cũng sẽ nghĩ rằng: 'Hành giả này ưa thích cảnh giới của ta', rồi họ càng thêm lòng quý mến và hóa hiện cảnh giới rõ rệt hơn nữa. Họ cũng dùng oai lực thiên giới để ban cho hay rót thêm thần thông vào người hành giả trong khả năng của họ. Khi chư thiên thường xuyên ban cho và rót thêm thần thông như vậy, hành giả đó có thể sẽ đạt được 'mắt thấy, tai nghe' (thiên nhãn, thiên nhĩ) hay các loại bùa phép, nhưng sẽ không bao giờ chạm tới được con đường Thiền định hay Thánh đạo. Các phiền não triền cái sẽ không thể đoạn trừ. Loại bùa phép có được theo cách này được gọi là 'Bùa chú định lực' (Samādhi hmaw).

“Đây chính là những vực thẳm và nẻo tà cắt ngang, chắn lối trên con đường Thiền định và Thánh đạo. Trí tuệ có khả năng quyết trạch rằng: 'Đây không phải là đường Thiền, đường Đạo; đây là đường vòng, nẻo tà, là vực thẳm. Đây mới là con đường Thiền, đường Đạo thẳng tắp, chân chính mà bậc Thánh đã đi'; đồng thời dùng tuệ giác để chế ngự và dứt bỏ những chướng ngại dị kỳ gặp phải ngay trên con đường đó, đưa tâm trở lại với Vipassanā để nhận biết và đi theo đúng lộ trình - trí tuệ ấy được gọi là '**Mmagga-magga-ñāṇadassana Visuddhi**' (Đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh).”

[ **Magga** = đường đúng, **Amagga** = đường sai; **Ñāṇadassana** = trí tuệ thấy biết; **Visuddhi** = sự trong sạch. ]

Ở điểm này, kinh nghiệm của Ngài Sayadaw thật rõ ràng và dứt khoát. Việc chư thiên hóa hiện cảnh giới và những tri kiến về Vô thường, Khổ não cũng giống như việc ăn cơm ảo thuật: không thể thực sự no lòng.


Nếu hành giả chấp nhận những cảnh giới đó, họ sẽ tiếp tục ban cho các thần thông về nghe nhìn (linh thông). Dù có vẻ như đã "đắc đạo", nhưng phiền não không hề giảm bớt, trái lại còn trở thành chướng ngại vô cùng sâu nặng.

Tuy nhiên, về việc coi thực thể tạo ra những cảnh giới này là "chư thiên quá kính tin mà không hiểu pháp" thì cũng cần phải suy xét kỹ. (Trong các kinh điển như **Devatā Saṃyutta - Tương Ưng Chư Thiên**), ta thường thấy chư thiên bảo vệ và giúp đỡ theo đúng khả năng của họ; nếu hành giả sai lạc, họ sẽ giúp đưa về đường chính.

Kẻ hỗ trợ khiến hành giả lạc lối trên con đường tu tập Thiền - Đạo - Quả đến mức sa xuống vực thẳm chắc chắn không phải là những vị chư thiên có đức tin trong sạch nơi giáo pháp. Ta hoàn toàn có thể tin rằng đó chỉ là những vị ác thiên có tà mạng (Thiên ma). Ngay cả trong việc luyện kim thuật (phò thâu), còn có những vị thần chuyên trộm "đạn dược" (ball); kẻ trộm cướp và phá hoại thì không thể là bạn, mà chính là kẻ thù.

### Luyện kim trong hang đá, hạt giống và môi trường

Ngài U Tiloka là một bậc đặc biệt, thông suốt Pháp học (Pariyatti) từ khi còn rất trẻ và có chí hướng rất lớn trong Pháp hành (Paṭipatti). Tuy nhiên, có lẽ vì tự phụ vào kiến thức kinh điển và sức trẻ, Ngài dường như không cầu học phương pháp tu tập từ những bậc thầy lớn như Ngài Ledi Sayadaw. Do những lời nói quá mức hoặc vượt ngoài khuôn khổ, chính Ngài Sayadaw (Ledi) đã phải đứng ra nâng đỡ, khích lệ. Tâm nguyện muốn "bay lên trời" của Ngài U Tiloka cũng rất mãnh liệt.

Với sức trẻ, trí tuệ sắc bén và sự nỗ lực tinh tấn đến mức hy sinh cả tính mạng, dường như Ngài đã gặp phải nhiều sự lạc lối. Vì tài hùng biện và giảng giải hay, thính chúng vây quanh rất đông, nên Ngài càng muốn cắt đứt mọi liên hệ với thế gian để tu tập một cách triệt để hơn. (Như đã trình bày ở trước, nếu phương pháp không đúng thì nỗ lực càng mạnh, nguy hại càng lớn).

Có khi Ngài tu tập bằng cách nhịn ăn. Có khi Ngài lại bế môn tu luyện trong hang núi ở vùng núi Thay-kya-taung. Những phương pháp thực hành này đã vô tình rơi vào lối tu tập không thuộc về "**Majjhima Paṭipadā**" (Trung đạo).

Các vị Lạt-ma Tây Tạng theo Mahāyāna hay các tu sĩ Sadhu Fakir ở Ấn Độ thường có tập tục tu trong hang hay ẩn mình dưới đất. Năm 1837, tại thành phố Lahore (Ấn Độ), một tu sĩ Fakir tên là Haridat đã biểu diễn việc ẩn mình dưới lòng đất suốt 40 ngày.

Tại Miền Điện, cách đây khoảng 20 năm, cũng có một vị tăng tên là U Magha đã viên tịch trong khi bế môn tu khổ hạnh trong hang. Có lẽ họ đã bị những ảo giác đánh lừa rằng "phải tu như thế này mới đắc pháp cao thượng".


Giống như các tầng sóng radio đan xen trên bầu trời, trong lĩnh vực định lực thế gian, các tầng sóng cũng vô cùng hỗn tạp và khó lòng phân định.

“Dù hạt giống xoài và hạt giống sầu đâu (tamar) cùng được gieo trên mảnh đất này, cùng uống chung dòng nước, hít thở chung bầu không khí và nhận chung một ánh sáng để sinh trưởng, nhưng khi kết trái, giống xoài thì ngọt mà giống sầu đâu lại đắng. Chính cái gốc mầm cố hữu (**Diṭṭhibīja - Chủng tử tri kiến**) đã làm nên sự khác biệt. (Nguyên lý này đã được đức Thế Tôn thuyết trong **Ekadhamma Pāḷi**, phẩm thứ hai, **Ekaṅguttara - Tăng Chi Bộ**).

Dù là giống tốt, nhưng nếu "rễ bị quấn bởi dây đắng, trồng xen kẽ nhau, thì cây xoài chúa cũng mất vị ngọt", như câu chuyện về cây xoài trong **Jātaka Dadhi-vāhana**: do môi trường không tốt mà trái trở nên đắng. Những chấp thủ về Tham, Ngã mạn, Tri kiến (Taṇhā, Māna, Diṭṭhi) trong tâm khảm và những ác hữu chính là tác nhân khiến cái ngọt trở thành cái đắng (ngay cả khi đang thực hành pháp này).

Từ khởi thủy không bờ bến cho đến tận ngày nay, các pháp luyện tâm như Ānāpāna (Niệm hơi thở) đã tồn tại ở khắp mọi nơi, mọi sắc tộc, mọi tôn giáo với những hình thức tương tự nhau. Dù cùng thực hành Niệm hơi thở y hệt nhau, nhưng nếu đích đến (**Niṭṭha**) khác nhau, thì dù nhân giống nhau, quả vẫn không thể tương đồng.

“Đích đến của các Bà-la-môn là Phạm thiên giới, của các đạo sĩ (Rishi) là cung trời Ābhassarā (Quang Âm Thiên), của các du sĩ (Paribbajaka) là cung trời Subhakiṇhā (Biến Tịnh Thiên), của các tu sĩ tà mạng (Ājīvaka) là cõi Vô tưởng (Asaññī-bhava); còn đích đến của những hành giả trong giáo pháp này chính là quả vị A-la-hán (Arahatta-phala)”. (Điều này đã được phân định rõ trong phần chú giải kinh **Cūḷasīhanāda Sutta** của **Mūlapaṇṇāsa - Trung Bộ Kinh**).

Đừng vì thấy những điểm tương đồng ở phần thế gian mà để trí tuệ bị mê mờ. Có rất nhiều "vị thầy, người bạn" (giống như sóng radio không nhìn thấy được) dẫn dắt sai lạc, khiến trí tuệ rối loạn và làm cho trái ngọt cũng phải hóa đắng.

Vào khoảng năm 1276 (Miến lịch), Ngài U Tiloka lại một lần nữa dốc lòng vào việc luyện kim thuật, dẫm chân lên con đường cầu tìm thần thông diệu pháp. Trong giới tăng sĩ Miền Điện, trào quyền luyện kim (phò thâu) theo lối các đạo sư thần thông Mahāyāna - vốn không hề quan trọng trong đời sống Phạm hạnh (Brahmacariya) - lại đang khiến nhiều người nhẹ dạ đi theo. Thật là điều đáng hổ thẹn đối với đức Bổn Sư.

### Vị đạo sĩ nuôi trẻ bằng ngón tay

Vì một lý do nào đó, Ngài lại chuyển từ hình thức tỳ-kheo sang hình thức đạo sĩ du sĩ (Rishi Paribbajaka). Về nguyên nhân này, ông lão Sayat Thet Gyi (người từng sống gần Ngài) đã khẳng định rằng đó không phải do chuyện nữ sắc (Visabhāga).


Khi ấy, do không thấu triệt được những cạm bẫy xảo quyệt của Ma vương (Mara) và sự biến hóa khôn lường của nghiệp lực, một số người đã khởi tâm chê bai. Sự việc đáng trách không chỉ dừng lại ở đó. Tại cổng chùa, Ngài lại thu nhận một bé gái mồ côi về nuôi dưỡng. Lại có lời đồn rằng, một phụ nữ nhan sắc mỹ miều đã đi theo Ngài đến tận các thị trấn, làng mạc nơi Ngài thuyết pháp để chăm sóc, phục dịch cơm nước, giặt giũ.

Sự kết hợp của ba yếu tố: mặc y đạo sĩ, nuôi con nhỏ, và sự thân cận thái quá của một nữ thí chủ đã khiến không ít người thêu dệt nên những ý niệm sai lạc. Việc này chẳng khác nào mưu kế của bọn ngoại đạo thuở xưa, cho nàng Ciñcā-Māṇavikā thường xuyên ra vào tinh xá để vu khống Đức Thế Tôn. **Ma vương** (Māranaṭ) nếu không dụ dỗ được bậc tu hành bằng sắc đẹp của con gái mình, thì cũng sẽ bày ra những cảnh tượng mập mờ, "nửa hư nửa thực" để gieo rắc sự nghi kỵ trong lòng thế gian.

Có người hỏi rằng:
"Về đứa trẻ được nhặt ở cổng chùa, **Cụ Shwe Tet** (Sayar Thet Gyi) từng thưa hỏi: 'Bạch Ngài, đứa trẻ này Ngài nuôi nấng chăm sóc ra sao?'"

Ngài đáp rằng: 
"Này ông Tet, sư chỉ có ngón tay trỏ này thôi, mà đứa bé đã lớn đến chừng này đấy."
(Tương truyền rằng Ngài nhai cơm rồi phết lên ngón tay trỏ cho đứa trẻ mút mà sống qua ngày).

Sau này, bé gái ấy dường như đã đi theo phụng sự Ngài để báo đáp ân đức cứu mạng. Có lời kể rằng về sau cô đã lập gia đình với một viên tri huyện. Mưu kế của **Ma vương** thật nham hiểm, dù sự thật "không phải vậy" nhưng kẻ này lại khéo dàn dựng khiến người đời nhìn vào đều thốt lên "rõ ràng là vậy".

Dù thế nào đi nữa, giai đoạn sau của cuộc đời **U Tiloka** vẫn luôn bị những "luồng khí chao đảo" (amway dāt) quấy nhiễu theo ý muốn của chúng. Việc Ngài từ bỏ hình tướng tỳ-khưu để mặc y đạo sĩ chắc hẳn không phải xuất phát từ nguyên nhân liên quan đến phụ nữ (mātugāma).

Đôi khi, người hành giả dù không có vi phạm thực thể nào, nhưng lại bị đội quân của **Hối hận Ma** (Kukkucca Māra) áp đảo, tự cáo buộc mình phạm giới bằng đủ loại lý lẽ tự huyễn hoặc để rồi tự hạ thấp phẩm hạnh của mình. Đây là điều mà các hành giả tỳ-khưu cần hết sức tỉnh giác.

### Người đi lên Mặt Trăng và Người đi đến Niết-bàn

Tại đây, xin được phép trình bày đôi chút về các phi hành gia – những anh hùng không gian du hành lên Mặt Trăng. Cung trăng vốn dĩ khác biệt hoàn toàn với thế gian này. Suốt dọc hành trình đi đến đó, có vô vàn những chướng ngại. Khi rời khỏi Trái Đất để bay vút lên cao, các điều kiện như thời tiết hoàn toàn đảo ngược so với những gì chúng ta trải nghiệm trên mặt đất. Chỉ trong khoảng 7 dặm đầu tiên, nhiệt độ còn ổn định như ở mặt đất, nhưng khi lên đến độ cao 50 dặm, nhiệt độ có thể lên tới 117 độ F. Càng lên cao càng nóng. Ở độ cao khoảng 250 dặm, sức nóng có thể đạt đến 418 độ. Quá 12 dặm, bầu trời dần chìm vào bóng tối đặc quánh, sắc xanh lam dịu nhẹ hoàn toàn biến mất.



Áp suất không khí càng xa Trái Đất càng giảm mạnh. Khi áp suất bên trong cơ thể và áp suất không khí bên ngoài không còn cân bằng, các mạch máu và khí quản có thể bị vỡ tung. Càng lên cao không khí càng loãng, nên các phi hành gia phải mang theo dưỡng khí (oxy) để thở. Nếu không có oxy mang theo, ở độ cao 40.000 bộ, con người chỉ có thể duy trì sự sống trong vòng 4 phút.

Trong không gian không có âm thanh (vì không có môi trường truyền dẫn). Không thể nói, cũng chẳng thể nghe. Ở đó không có mây mù, không có thời tiết, cũng chẳng có khái niệm ngày đêm. Vì không còn chịu ảnh hưởng của trọng lực Trái Đất nên mọi vật đều mất đi trọng lượng. Một vật nặng 1 pound ở mặt đất, khi lên đến độ cao 8.000 dặm chỉ còn nặng khoảng 7/19 ounce.

Chính vì vậy, khi bước đi trong không gian, bước chân không còn chuẩn xác, không có cảm giác mỏi mệt, dù có rơi vào trạng thái lộn ngược ngọn đầu xuống dưới cũng chẳng thấy khó khăn. Tóm lại, tất cả những cái thấy, cái biết của con người trên mặt đất đều bị đảo ngược hoàn toàn khi ở trong không gian.

Bởi sự khác biệt về nóng lạnh, nặng nhẹ, nghe nhìn như vậy, nên những người muốn bay vào không gian phải trải qua quá trình huấn luyện khắc khổ: phải ở trong các phòng cực lạnh, cực nóng trên mặt đất suốt nhiều ngày để rèn luyện sức chịu đựng; thực phẩm không thể ăn bằng thìa hay đĩa mà phải tập ép ra từ những ống như tuýp kem đánh răng suốt nhiều tháng trời; để chịu được sự rung lắc dữ dội có thể làm vỡ mạch máu của tên lửa, họ phải chui vào những khối cầu sắt để chịu đựng sự va đập, lăn lộn thử nghiệm trong nhiều ngày. Những nỗi khổ ấy thật vô lượng (đây là điều mà các hành giả cần lấy đó làm gương).

Vì mọi thứ giữa Trái Đất và không gian đều khác biệt, nên khi người phi hành gia đạt đến độ cao 10.000 bộ, họ bắt đầu cảm thấy chán nản, thất vọng với môi trường xung quanh một cách tự nhiên. Sự tự tin vào bản thân cũng giảm sút. Dù có phạm phải sai lầm, họ cũng không đủ tỉnh táo để nhận ra và sửa chữa, thường rơi vào trạng thái bàng hoàng, thẫn thờ. Ở độ cao từ 15.000 đến 25.000 bộ, họ bắt đầu có những hành vi điên rồ như người say rượu. Sự tự cao (māno) tự nhiên trỗi dậy mạnh mẽ. Dù làm sai nhưng họ vẫn luôn cho rằng mình đang làm đúng. Tâm trí rơi vào trạng thái hoảng loạn, mông lung. Những điều này cần phải được biết trước.


Những lời mở đầu về bối cảnh cuộc đời của một hành giả đang chuẩn bị nỗ lực thoát khỏi lực hút của 31 Cõi (Khổ giới) cũng tương tự như các phi hành gia đang nỗ lực thoát khỏi lực hấp dẫn của Trái Đất vậy.

### Pháp mà hàng phàm phu hãi sợ

(Trong **Kinh Rūpārāma - Tương Ưng Sáu Xứ**), đúng như lời Đức Thế Tôn đã thuyết giảng: tất cả những quan niệm của phàm phu (quan niệm dựa trên Ái, quan niệm dựa trên Ngã mạn, quan niệm dựa trên Tà kiến) đều trở nên đảo ngược dưới nhãn quan của bậc Thánh (Ariya).

Định lực càng cao thì sự khác biệt càng rõ rệt, nếu trí tuệ chưa chín muồi thì khi ảo tưởng, kỳ vọng hay sự chấp trước càng lớn, sự rung động và hoảng sợ sẽ càng mãnh liệt.

Thuở xưa tại Tích Lan, có một vị tỳ-khưu đang thuyết giảng về Pháp Minh Sát (Vipassanā) dựa trên **Ba Tướng** (Vô thường, Khổ, Vô ngã). Khi ấy, một thiện nam đang lắng nghe, ngay khi vừa nhìn thấy sự sanh diệt, ông ta bỗng cảm thấy như mình đang rơi xuống từ đỉnh một vách đá cheo leo, rồi nhận ra: "Ta không còn nữa, cái của ta cũng chẳng còn nữa!", chính sự chứng ngộ ấy khiến ông kinh hãi tột độ mà bỏ chạy về nhà. (**Chú giải Kinh Udāna - Tạng Kháp**)

Vì ở giai đoạn chuyển tiếp này, giữa ảo tưởng (saññā) và thực chứng (viññāṇa) dễ có sự sai lệch, nên hành giả cần phải rèn luyện và thanh lọc tâm bằng Giới hạnh ngay từ đầu để có thể buông bỏ sự dính mắc tối đa, thấu hiểu rằng: "Chỉ có danh và sắc đang sanh diệt, không có ta, không có của ta."

Giáo pháp của bậc Thiện Thệ quả thực là một điều đáng sợ đối với những kẻ ngu muội vốn chỉ mong cầu được quẩn quanh mãi trong nhà lửa của 31 Cõi này.

### Các luồng phân nhánh của sáu giác quan

Nếu không thể thanh lọc bằng Giới (Sīla), Tâm từ (Mettā) hay Văn tuệ (Sutamaya-ñāṇa), trí tuệ của hành giả sẽ càng trở nên rối loạn.

Giống như người phi hành gia bay vào không gian, hành giả sẽ rơi vào trạng thái không tin tưởng vào chính mình, không biết vận dụng các công cụ đắc lực như Giới và Tâm từ, không dám nương tựa vào chúng, rồi rơi vào thẫn thờ vì không tìm ra giải pháp, hoặc sinh lòng tự cao, cho rằng mọi việc mình làm đều đúng, dù có làm sai cũng không đủ tỉnh giác để sửa đổi, tâm trí trở nên hoảng loạn, điên cuồng.

1. Nhãn căn: Thấy những hình tướng kỳ lạ, phi thường dẫn đến sợ hãi hoặc vui mừng quá độ; nhìn thấy hành động của một ai đó rồi tự thêu dệt nên các mối liên hệ nhân quả; thấy những vật dụng, con người mà mình khao khát, thậm chí cho đến cuối cùng...

#### 2.
Việc thấy các ý nghĩa và nội dung giáo lý hiện ra một cách lạ lùng như thể có chư thiên đến mách bảo; hay việc chúng hiện ra trước mắt một cách dễ dàng mà không cần phải nỗ lực đặc biệt nào; hoặc có quá nhiều tài liệu để xem đến mức xem không hết làm ảnh hưởng đến công việc; mắt mờ hoa và xoay chuyển dữ dội; trạng thái đờ đẫn, u ám; liên tục gặp phải các dục lạc trần cảnh; cảm thấy bực bội và nản lòng trước tất cả những gì nhìn thấy.

#### 3.
Tai nghe thấy những âm thanh lạ lùng; có ai đó nói hoặc chính mình nghe thấy lời ngăn cản không cho dám làm việc mình đang làm; hoặc nghe theo cách nào đó với ý nghĩa rằng “Cứ tiếp tục làm đi, điều đó là đúng”; không tin tưởng ngay cả những lời nói với lòng tốt; cảm thấy chướng tai; mũi ngửi thấy những mùi thơm lạ hoặc mùi hôi thối.

#### 4.
Ở lưỡi, do các duyên liên kết tạo ra mà vô tình ăn phải những thực phẩm không thích hợp làm cho dễ phát sinh bệnh tật; định nói hướng Nam lại nói nhầm sang hướng Bắc; muốn nói lời đối kháng; rất muốn thuyết giảng Pháp; hoặc muốn giữ im lặng hoàn toàn, muốn thực hành hạnh tịnh khẩu; miệng cứng lại như bị dán keo, hoàn toàn không thể nói được.

#### 5.
Thân thể lo lắng liên quan đến bệnh tật; cảm giác như thể bệnh sắp chết đến nơi chỉ trong ngày một ngày hai; cảm thấy toàn bộ sức lực trong người tan biến nhanh chóng như bong bóng xì hơi, khiến chân tay rã rời không thể nhấc lên nổi; không muốn đi lại; chân tay co rút (như bị cùm kẹp); hoặc đi lại quá nhẹ nhàng như có bánh xe, cảm giác như sắp bay bổng; nghĩ rằng nếu tăng thêm tinh tấn thì sẽ chết; dễ bị thương tích một cách tình cờ; chóng mặt và không muốn ngồi dậy; trái tim (ở vùng ngực) cảm thấy thắt chặt, nóng rát; cảm giác như trái tim bị bóp nghẹt; sau khi tình trạng đó xảy ra thì gặp phải đối tượng gây sân hận, rồi sau đó cảm giác thắt nghẹt đó biến mất (như thể trạng thái huyết nhiệt của phụ nữ; vô cùng sợ hãi).

#### 6.
Trong tâm xảy ra sự phân vân, lưỡng lự như đã trình bày; đang tiến bộ mà lại nghĩ là không tiến bộ; đang thối lui lại nghĩ là đang tiến bộ; bị ảnh hưởng và cảm nhận y hệt những ý định tốt xấu của người đến gần mình; nếu tâm nôn nóng muốn đạt được Pháp đặc biệt thì sẽ rơi vào trạng thái mất tỉnh giác (bhavanga), rồi cho rằng mình đang nhập Định (Ekaggatā) hay đang hưởng lạc Niết-bàn; rồi đắm chìm và nằm lỳ trong đó, tâm không tiến bộ thêm được; dễ nổi giận; ngã mạn lớn; cảm thấy sống không có hương vị, trạng thái “trống rỗng”; cảm giác chỉ là đang tồn tại; không có hương vị của Pháp;


Cảm thấy nhẹ bổng và trống rỗng; dễ chạy theo sự lôi kéo của tài lộc, quyền lực và thần thông; sự lôi kéo này cũng xuất hiện nhiều; cảm thấy bồn chồn, bất an một cách vô nghĩa; hối hận; đờ đẫn (như bị trúng thuốc); u ám; thất niệm;

Cứ như vậy, sáu loại đối tượng ở sáu căn xâm nhập vào một cách hỗn loạn, cả tốt lẫn xấu, khiến hành giả cảm thấy khó khăn để nhận biết rõ “cái gì là tốt, cái gì là xấu”, và khi đã nhận ra thì cũng khó lòng sửa đổi, chuyển hóa.

Dù có thể tách rời khỏi đối tượng không thích bằng cách nào đó, nhưng nếu là đối tượng yêu thích thì hành giả lại cho là tiến bộ, rồi cứ thế ôm lấy và nuôi dưỡng đối tượng đó. Cảm thấy hài lòng. Việc cưỡi ngựa mà không biết là ngựa đực hay ngựa cái là điều tồi tệ nhất.

Cứ chạy theo sáu đối tượng tấn công vào từ sáu căn, hành giả phải luôn luôn tính toán sổ sách lỗ lãi xem: “Hiện giờ việc làm của mình có đúng không? Có phù hợp với sở nguyện của Đức Phật không? Nếu phù hợp thì có đang hành trì đúng mức **Trung đạo** (Majjhima-paṭipadā) hay không? Đang tiến, đang lùi hay đang đứng yên?” v.v... Tuy nhiên, không phải lúc nào đi cũng đều tới đích.

### Sức mạnh lớn nhất để bảo vệ

Trong những lúc như vậy, một số hành giả thường quét dọn hoặc làm các việc nặng nhọc để phá bỏ định lực (samādhi). Việc cứ xây dựng mới rồi lại phá bỏ khiến cho sự tiến bộ bị đình trệ. Phương pháp tốt nhất chính là **Tu tập Tâm từ** (Mettā-bhāvanā). Nhưng hành giả thường nghĩ rằng việc đó “không đi đến đâu, không sắc bén, không có hương vị, là dư thừa”, và chỉ khi ghi nhận đề mục thiền (kammaṭṭhāna) quen thuộc mới cảm thấy hài lòng, thỏa mãn. Không phải vậy đâu. Khi đối tượng tấn công quá mạnh mẽ, hành giả nên tạm dừng đề mục chính từ vài ngày đến vài tháng, chỉ nên chú tâm rải tâm từ một cách nhẹ nhàng trong khi đi đứng nằm ngồi.

Khi ánh sáng mặt trời rực rỡ, sương mù sẽ tan biến và con đường phải đi sẽ hiện ra rõ rệt.

Đôi khi phải chia phước và thỉnh nguyện đến các vị Thánh Phạm thiên cho đến cõi Phạm thiên Sắc cứu cánh (Akaniṭṭha), tiếp nhận uy lực của chư Phật và chư vị A-la-hán, tụng niệm các bài hộ kinh (Paritta), phát nguyện và cử hành lễ Thành tựu (Sacca) để quyết định điều đúng sai.

Đối với những phàm phu chưa dứt bỏ điên đảo (vipallāsa) thì thật khó để phân định ranh giới. Trong thế gian có các loại thuật như thuốc gây tê, thuốc mê, thuốc lú, thuốc mê hoặc, thuật thôi miên, tịnh khẩu v.v... thì Ma vương cũng có đủ loại thuộc hạ và đủ loại kỹ thuật tương tự.



Hơn cả Ma vương, chính tâm bất thiện của mình là kẻ thù đáng sợ nhất. Khi đối tượng xấu xâm nhập, hành giả không nên xem xét dưới góc độ cá nhân hay chúng sinh, mà nên quán sát: “Nỗi khổ mà ta đang chịu đựng hiện nay không phải là thường hằng. Nó chỉ là thực tính pháp (Dhamma) đang sinh diệt và biến đổi liên tục mà thôi. Dù có chết cũng là điều cao thượng. Cả thế gian này là một sự chán chường, mệt mỏi vì sự sinh diệt không ngừng (ghi nhớ không xuể, quán sát không tận)” và tu tập “**Tưởng về vô thường (Anicca-saññā), Tưởng về sự không ưa thích trong toàn thế giới (Loke-anabhirati-saññā)**”; khi đối tượng tốt hiện đến thì tu tập “**Tưởng về sự bất tịnh (Asubha-saññā)**”; thậm chí sẵn sàng xả bỏ mạng sống, buông bỏ sự dính mắc vào bất cứ điều gì để tiếp tục tu quán.

“**Virāgo tesaṃ aggamakkhāyati** — Sự không luyến ái, dính mắc vào mọi sự chính là sức mạnh tối thượng. (Trích Kinh Phật tự thuyết - Itivuttaka, Aggappasāda sutta, lấy chân nghĩa là **Vô vi giới - Asaṅkhata-dhātu**).

### “Ba niềm tự mãn” — Lực hút của ba mươi mốt cõi

Chúng sinh giống như những bó lúa (mạch) bị đặt tại ngã tư đường là sáu **Nội xứ** (Ajjhattikāyatana) mắt, tai, mũi...; và bị sáu người đàn ông cầm sáu cây gậy là sáu **Ngoại xứ** (Bahiddhāyatana) gồm sắc, thinh... (cả tốt lẫn xấu) đánh đập túi bụi cho đến khi tan nát.

Chúng sinh không dừng lại ở đó, nếu còn khởi lên ý nghĩ tự mãn về sự phát triển hay sự tái sinh trong đời sau, nếu còn lầm lạc ham muốn và ngạo mạn, thì giống như bị một người thứ bảy tên là Ái (Nikanti) cầm một cây gậy đánh bồi thêm một lần nữa cho đến khi nát vụn. Sự tự mãn (ngạo mạn) đó cực kỳ khó nhận biết và vi tế, còn vi tế hơn cả việc đại thần A-tu-la bị cầm tù bởi chính tâm của mình. (Theo bài kinh **Saḷāyatana-yavakalāpī sutta**).

Đại thần A-tu-la sau khi thua trận bị bắt, hai chân hai tay và cổ (năm vị trí) đều bị trói chặt tại điện Pháp hội Sudhammā. Nếu khởi tâm nghĩ rằng “Chư thiên là người đúng pháp” thì lập tức được thoát khỏi sự trói buộc đó. Nhưng nếu nghĩ rằng “không đúng pháp” thì chỉ vừa khởi tâm là đã bị trói chặt lại như cũ. Vì bị trói bằng tâm và cũng được cởi trói bằng tâm nên điều đó cực kỳ vi tế. (Hãy chú ý rằng tâm có năng lực mạnh mẽ đến mức này). Sự tự mãn, mong cầu sự phát triển và đời sống mới chính là sự trói buộc của Ma vương, nó còn khó nhận biết và vi tế hơn thế nữa. Dù có độn thổ hay bay lên trời cũng không tránh khỏi. Chỉ có dùng tuệ giác cắt đứt mới có thể giải thoát được—

“Này các Tỷ-kheo, người khởi lên sự tự mãn (nghĩ mình giỏi, hiểu lầm về mình) là người đang ở trong sự trói buộc của Ma vương...”


đang bị vướng mắc vào cái tôi. Sự tự mãn này chính là mầm mống căn bệnh, là nỗi hiểm họa lớn của sự kiêu mạn vậy” - các bậc thầy đã thuyết giảng và giải thích như thế.

Giáo pháp giải thoát khỏi vòng sinh tử mà Đức Thế Tôn đã thuyết giảng vốn vô cùng sáng sủa và dễ hiểu, đến mức ai cũng có thể thấu triệt. Chính vì vậy, trong kinh *Bodhirajakumara (Trung Bộ)*, Ngài đã khẳng định mạnh mẽ rằng: “Làm buổi sáng, buổi chiều có kết quả; làm buổi chiều, buổi sáng có kết quả”. Hay như trong kinh *Đại Niệm Xứ* và kinh *Nhập Tức Xuất Tức Niệm*, Ngài cũng cam đoan rằng: “Chỉ trong vòng bảy ngày là có thể chứng đắc đạo quả cao thượng”.

Thế nhưng, tại sao khi thực hành trên thực tế, có những người nỗ lực suốt 10 năm, 15 năm, thậm chí 40 hay 50 năm mà vẫn chưa đắc được thánh quả?

Câu trả lời thật rõ ràng. Giữa sự tác động và va đập không ngừng của sáu căn, con người vẫn bị chi phối bởi mong cầu phát triển, mong muốn có được một đời sống mới tốt đẹp hơn (Ái - Taṇhā), sự tự mãn (Mạn - Māna), và sự hiểu lầm (Kiến - Diṭṭhi). Ba “ông lớn” này đã ngăn chặn con đường giải thoát. Lực kéo của 31 cõi thực sự vô cùng mạnh mẽ và đáng sợ thay.

#### Dù Trí Tuệ Nỗ Lực Đầy Đủ Nhưng Nghiệp Cũ Chưa Hỗ Trợ

Vào lúc 2 giờ sáng ngày 13 tháng sau của tháng Waso thứ hai, năm 1299 (Miến lịch), Ngài Thiền sư núi Thekkyetaung đã viên tịch vì bệnh phong đau bụng ở tuổi 66.

Vào tháng Tabaung năm đó, các đệ tử hành giả lớn như **U Buddhabala** - vị dịch giả bộ *Thanh Tịnh Đạo* - đã không tổ chức tang lễ với giấy tre hình thức rườm rà, mà cùng nhau xây dựng một bảo tháp bằng gạch ngay trên núi Thekkyetaung để tổ chức đại lễ trà tỳ và cúng dường vị thầy. Công đức của Ngài trong việc hoằng dương giáo pháp thực hành (Paṭipatti) to lớn không kém gì Ngài Ledi Sayadaw. Tuy nhiên, người ta chỉ dám ước đoán Ngài là bậc “đạt được thế gian thông”, còn việc đắc chứng siêu thế (Lokuttara) thì không ai dám khẳng định chắc chắn.

Có một lần, khi Cụ Sayagyi Thetgyi đang truyền dạy thiền cho vị Sayadaw chùa Magyihla, Cụ đã hướng về nơi các bậc Sayadaw cư ngụ, chắp tay thưa rằng:

“Bạch Ngài, dù các bậc ân nhân có lòng tinh tấn và trí tuệ vô cùng lớn lao, nhưng dường như hành trình vẫn chưa đạt được đích đến như mong đợi.”

Liên quan đến việc đắc pháp của Ngài Sayadaw núi Thekkyetaung, sau khi Ngài viên tịch, khi một số đệ tử hỏi Cụ Sayagyi về việc này, Cụ đã quở trách:

“Đó có phải là việc của các con không?” rồi Cụ nói thêm: “Ngài vẫn đang là đệ tử của thần Satagiri vậy.”


Trong lĩnh vực pháp học (Pariyatti), trong sự tinh tấn nỗ lực, và trong kinh nghiệm thực hành (Paṭipatti), Ngài đã nỗ lực xuất sắc đến mức hầu như không có ai sánh kịp, tu tập không hề thối chuyển, vậy mà mục tiêu vẫn chưa viên thành.

Dù trí tuệ và sự nỗ lực đã đầy đủ, nhưng nghiệp cũ vẫn chưa hỗ trợ. Tuy nghiệp cũ chưa trợ duyên, nhưng vì nghiệp mới đã được tạo dựng, nên chắc chắn trong tương lai sẽ tỏa sáng rực rỡ.

### Thử Nghiệm Thực Tế Vị Thầy

Về phương pháp thực hành của Thiền sư **U Tiloka**, tôi xin phép thuật lại một sự việc kỳ diệu dựa trên lời kể của cố Tổng cục trưởng Thuế **U San Thein**.

Ông **U San Thein** là một hành giả cư sĩ lỗi lạc, người từng giữ chức vụ Chủ tịch Phân ban Thực hành của Hội Phật giáo Quốc gia, chịu trách nhiệm lập danh sách và hỗ trợ có hệ thống các trung tâm thiền trên khắp Miến Điện. Ông đã tham gia hàng đầu vào công cuộc hoằng pháp của Chính phủ đồng thời với kỳ Kết tập Kinh điển lần thứ sáu. Ông là người đã thọ giáo với các bậc thầy tại Thaton Jetawun, Sunlun Gu, Webu Sayadaw và đặc biệt là Cụ Sayagyi Thetgyi. Ông cũng là người biên soạn và xuất bản hai lần cuốn thiền thư hiện đại mang tên “Yathabhuta Lambyunt” (Hướng dẫn thực tại).

Lời phát biểu của ông **U San Thein** liên quan đến Ngài Thiền sư U Tiloka đã được đăng tải trên tạp chí tiếng Anh mang tên “The Open Door” (Cánh cửa mở), tập 1, số 3, trang 9, do “Hội Liên hữu Phật giáo” xuất bản. Hội này bao gồm các thành viên như Tổng thống **Sao Shwe Thaik**, hành giả **U Tin**, **U Tin** (Myaungmya), **U Sein Nyo Tun**, **U Tun Hla Aung**, và người Anh **U Ohn Khine** (**Mr. Maurice**, biên tập viên tạp chí *Dhammaduta* tiếng Anh). Nội dung như sau:

Nhiều năm trước Thế chiến thứ hai, tại thị xã Nyaungdon xảy ra một trận dịch bệnh truyền nhiễm lớn. Người dân đã thỉnh cầu Đức ngài Ledi Sayadaw đến để tụng kinh Paritta và ban rải tâm từ bảo hộ. Khi đến nơi, theo thông lệ, mỗi đêm Ngài đều thuyết pháp và chỉ dẫn các biện pháp ngăn ngừa dịch bệnh.

Khi Ngài Ledi Sayadaw chuẩn bị rời đi, người dân Nyaungdon đã thỉnh cầu Ngài ở lại lâu hơn để giảng dạy về giáo lý Vi diệu pháp và các pháp thiền Định, thiền Tuệ. Ngài Ledi Sayadaw bảo rằng:

“Này các cư sĩ, bần tăng có rất nhiều Phật sự, không có thời gian ở lại đây. Tuy nhiên, các vị đừng nản lòng. Ở Kyaito có đệ tử của bần tăng là Ngài U Tiloka ở núi Thekkyetaung.


Vị ấy có khả năng hoằng pháp giống như bần tăng và có thể ban cho các vị giáo pháp mà các vị mong muốn. Hãy đi thỉnh Ngài ấy. Cứ thưa rằng chính bần tăng cử các vị đến. Nếu nói vì Phật sự mà bần tăng sai đi, chắc chắn vị ấy sẽ không từ chối mà đi theo ngay.”

Theo lời chỉ dẫn của Đức ngài Ledi Sayadaw, ba vị cư sĩ đại diện của Nyaungdon đã lên đường đến thiền viện rừng Thekkyetaung ở Thaton, Kyaito để thỉnh Ngài **U Tiloka**. Tuy nhiên, họ không gặp được Ngài. Khi trình bày mục đích, một vị đệ tử của Ngài bảo rằng:

“Ngài Sayadaw đã rời khỏi chùa được năm sáu ngày rồi.” Khi các cư sĩ hỏi Ngài đã đi đâu, vị tỳ-kheo này đáp:

“Thưa các cư sĩ, đây là việc riêng tư bảo mật của Ngài Sayadaw, bần tăng không có thẩm quyền tiết lộ Ngài đi đâu. Ngài vẫn thường đi như vậy. Các vị cũng không nên tìm hiểu làm gì.” Vị tỳ-kheo đáp lời một cách dứt khoát.

Ba vị đại diện Nyaungdon nghe vậy thì vô cùng hụt hẫng vì họ đã lặn lội đường xa với hy vọng lớn lao. Dù đã tha thiết khẩn cầu nhiều lần nhưng vị tỳ-kheo vẫn khư khư giữ kín khiến họ càng thêm sốt ruột. Lúc đó, một cư sĩ nảy ra ý định:

“Bạch Ngài, chúng con lặn lội từ thị xã Nyaungdon xa xôi đến đây. Chúng con không chỉ tự ý đi để bái yết Ngài mà còn theo chỉ trì đặc biệt của Ngài Ledi Sayadaw - thầy của Ngài U Tiloka. Ngài Ledi Sayadaw bảo chúng con đi thỉnh Ngài ấy vì Phật sự.” Nghe đến đây, vị tỳ-kheo kia thở dài, lặng người đi một hồi lâu.

Sau đó, vị tỳ-kheo bảo: “Thôi được rồi, các cư sĩ hãy đi theo bần tăng.” Ngài dẫn các cư sĩ ra khỏi khuôn viên chùa, chỉ tay về một lối mòn nhỏ mờ nhạt đi sâu vào khu rừng dưới chân núi và nói: “Ngài Sayadaw đã theo lối này vào rừng sâu. Các cư sĩ cứ theo đường đó mà tự tìm lấy.” Nói rồi, vị tỳ-kheo quay trở vào chùa.

Các cư sĩ đứng sững lại một lát rồi bàn với nhau: “Đã đến đây rồi thì phải tìm cho bằng được.” Thế là cả ba cùng nhau dấn bước vào rừng.

Khi theo lối mòn nhỏ đó đi được một đoạn khá xa, họ thấy một căn chòi lá tạm bợ nằm không xa lối đi giữa rừng sâu...

---


Họ nhìn thấy một am thất nhỏ. Ba vị thí chủ vội vã bước về phía đó; khi đến gần, họ mở cánh cửa lá thưa ra và thấy Ngài đang ngồi kiết già thiền định trên những tấm ván sàn tạm bợ với phong thái vô cùng điềm tĩnh, an lạc.

Cả ba nhẹ nhàng tiến lại gần Ngài và đảnh lễ. Họ không dám thở mạnh, cứ thế phủ phục đảnh lễ trong niềm kính tin suốt một thời gian dài. Về phần Ngài, dường như Ngài không hề biết đến sự hiện diện của các thí chủ đang ở bên cạnh. Trong lúc đang chắp tay cung kính đứng lặng, một người trong nhóm bèn khều tay các bạn và nói khẽ:

“Tôi nghe nói những bậc có định lực kiên cố và thuần thục về *vasībhāva* (tự tại trong thiền định), khi đang nhập định thì giữ vững oai nghi đến mức không gì có thể làm lay động được... Thế nào, hay là chúng ta thử xem Ngài có thực như vậy không?” Nói đoạn, anh ta ra hiệu bằng mắt và tay chân, rồi họ cùng nhau rón rén rút từng tấm ván sàn tạm bợ (cao hơn mặt đất khoảng hơn một gang tay) mà Ngài đang ngồi trên đó. Tuy nhiên, Ngài dường như không hề hay biết những việc họ đang làm; Ngài không mảy may nhúc nhích, oai nghi cũng không hề thay đổi.

Điều kỳ diệu là sau khi tất cả các tấm ván sàn đã được rút hết, họ nhìn thấy Ngài vẫn ngồi kiết già y như oai nghi ban đầu, lơ lửng trong không trung cách mặt đất khoảng một gang tay, không hề có vật gì nâng đỡ hay tiếp xúc. Các vị thí chủ vô cùng kinh ngạc trước cảnh tượng chưa từng thấy này. Sau một hồi chiêm bái trong niềm kính ngưỡng, họ nhẹ nhàng đặt từng tấm ván trở lại vị trí cũ. Họ đảnh lễ Ngài một lần nữa và lầm rầm đọc lời sám hối.

Một lát sau, một thí chủ cất cao giọng bạch:

“Bạch Ngài, theo lời chỉ dạy của Ngài Thiền sư Ledi bậc ân nhân, chúng con từ thị trấn Nyaungdon đến đây để cung thỉnh Ngài ạ.” Khi nghe lời bạch đó, Ngài mới từ từ, nhẹ nhàng mở đôi mắt vốn đang nhắm lại. Sau khi hỏi han sự tình, Ngài rời am thất tạm bợ đó để cùng các thí chủ trở về tu viện lớn ở rừng núi Thekkhya Taung.

Ngày hôm sau, Ngài lên đường đến thị trấn Nyaungdon.

Khi đọc lại sự kiện nhỏ này, chúng ta không chỉ kính ngưỡng giới hạnh, định lực và trí tuệ của Ngài U Tiloka, mà còn không khỏi khâm phục tuệ giác của Ngài Thiền sư Ledi bậc ân nhân — người dường như đã thấu suốt mọi ngóc ngách của sự việc này từ trước.


# BẬC TRƯỞNG LÃO TU VIỆN MOHNÝIN
( 1234 - 1326 )

•

Có lẽ không quá lời khi nói rằng Ngài Trưởng lão Mohnýin chính là vị Thiền sư đã khởi xướng mạnh mẽ phong trào *pappaṭippatti* (thực hành giáo pháp) tại Myanmar, lôi cuốn được đông đảo quần chúng và mở ra chiếc chìa khóa then chốt của tâm linh. Người đời thường chỉ thấy Ngài qua những buổi thuyết pháp rầm rộ, giảng giải về những vấn đề hình thức bên ngoài nên gọi Ngài là “Vị sư giỏi thuyết kinh”. Thật đáng tiếc khi người ta ít biết đến quá trình thực hành tu tập và sự đắc chứng giáo pháp (*dhammābhisamaya*) của Ngài.

Trong số những người thiếu hiểu biết đó có cả bản thân tác giả. Khi Ngài sắp lâm chung vì bạo bệnh, tôi đã đến Mohnýin. Lúc đó, tôi thậm chí còn không biết hỏi thăm xem “Ngài có khỏe không”. Chẳng biết có phải vì quá chú tâm vào kinh sách hay không mà tôi chỉ đứng từ xa đảnh lễ một cách vội vàng rồi quay về. Mãi đến khi có duyên đọc lại tiểu sử của Ngài, tôi mới cảm thấy vô cùng hối hận. Tôi thật là ngu muội. Người anh của tôi (Ngài U Sobhita, trụ trì tu viện Maunghtaung Yun-set) đã đến đó không lâu sau và được tiếp cận Ngài như một người con với cha, để rồi nhận được món quà di chúc cuối cùng của cuộc đời.

Ngài khuyến khích rằng: “Sư Maunghtaung à, nhất định phải xuất ly thế gian (đi ẩn tu) cho được nhé. Tôi đây mãi đến hạ thứ 17 mới đi được. Tôi đã quyết chí đi ẩn tu, treo túi bát lên cột mà đến nỗi rỉ sét làm đứt dây rụng mất ba cái túi bát mới đi được đấy, hãy cố gắng lên.” Nhờ lời thúc giục chân tình đó mà người anh vốn rất nhát gan của tôi giờ đây đã sống an lạc với giáo pháp tại tu viện rừng Mezin ở làng Maunghtaung. Vì sự ngu muội trước kia, tôi viết những dòng này với lòng hổ thẹn và thành kính đảnh lễ Ngài. Tôi chỉ chấp bút viết sau khi đã đến đảnh lễ tôn tượng của Ngài tại Mohnýin.

### Thời thơ ấu bộc lộ căn tánh

Ngài sinh vào lúc 8 giờ sáng, thứ Sáu, ngày mùng 2 tháng Táp-áp-တွဲ (Tabaung) năm 1234 (Miến lịch), tại làng Gonyinsu, gần làng Barku (vùng Syriam, quận Hanthawaddy), là con của cụ ông U Moe và cụ bà Daw Baw. Khi đó, mẫu thân Ngài đã 56 tuổi. Có lẽ vì vậy mà Ngài có tướng mạo và trí tuệ vô cùng đặc biệt. Các anh chị em của Ngài gồm có: U Po Hla, U Po Myat, U Po Ba, Ma Shwe May, Ma Shwe Thet, Ma Shwe Yuat.

Như câu tục ngữ “Người sẽ làm vua lộ diện từ khi còn để chỏm”, ngay từ nhỏ Ngài đã bộc lộ căn tính và ba-la-mật phi thường. Một ngày nọ, khi cậu bé (sau này là Thiền sư) mới 5 tuổi, thấy những con sâu từ mái nhà rơi xuống, theo tính tò mò của trẻ thơ, cậu dùng tay đẩy nhẹ và cầm lên xem thì người mẹ bảo:


“Đừng làm thế con ạ, con sâu sẽ chết mất đấy.” Cậu bé hỏi lại:
“Ơ... nó biết chết ạ?”
“Ừ, nó biết chết đấy.”

Cậu lại hỏi tiếp: “Thế còn cha mẹ, cha mẹ có biết chết không? Cha mẹ sẽ chết chứ ạ?” Khi nghe mẹ giải thích về việc mọi người đều phải chết...

Mặc dù còn nhỏ tuổi, cậu đã nhận thức được một chân lý sâu sắc rằng: “Tất cả rồi sẽ phải chết.” Một ngày thọ giới bát quan, cậu theo cha mẹ đến tu viện ở đầu làng của vị Sư U Ācara. Đến chiều, vì đói nên cậu khóc đòi ăn. Mẫu thân lấy cơm cho ăn, nhưng cậu vẫn chưa chịu ăn ngay mà hỏi:

“Sao cha mẹ chưa ăn?”
“Cha mẹ đang giữ giới (Uposatha) nên không được ăn.”

Nghe vậy, cậu bé vừa khóc vừa nói: “Nếu cha mẹ không ăn thì con cũng không ăn đâu, giới sẽ chạy mất đấy.” Cậu cứ thế vừa khóc vì đói, vừa băn khoăn không dám ăn. Lúc bấy giờ, người anh trai là Po Ba chợt nảy ra ý định, bèn dỗ dành:

“Em trai à, nếu ăn không thì giới mới chạy mất, chứ nếu đeo tràng hạt vào cổ rồi ăn thì giới sẽ không chạy đi đâu đâu.” Nói rồi, người anh lấy chuỗi tràng hạt quàng vào cổ em. Lúc bấy giờ, cậu bé mới lau nước mắt rồi bắt đầu ăn. Hạt giống ba-la-mật đã sớm lộ diện như thế đó.

Năm 5 năm tuổi, cậu được gửi vào học tại tu viện làng Maungma với vị Sư U Ācara. Khi đã biết đọc chữ khá tốt, sau khi đọc cuốn “Ngục gian thi” (*Naraik-khan Pyo*), vì sợ phải đọa địa ngục nên cậu đã hạ quyết tâm nhất định sẽ xuất gia làm sư. Năm 14 tuổi, cậu xuất gia Sa-di với pháp danh là **Shin Sumana**. Cậu là người rất dễ bảo, luôn vâng lời thầy dạy một cách tuyệt đối, chưa bao giờ để lời thầy rơi xuống đất. Cậu nhận được sự khen ngợi đặc biệt từ bậc thầy. Sự lễ phép và cách thưa gửi của cậu cũng vượt xa lứa tuổi. Tướng mạo thì không có gì phải bàn cãi.

Cậu thường vẽ tranh về Đạo sĩ Sumedha, Vua Temiya, Vua Janaka, hay cảnh xuất gia của Hatthipāla; hoặc vẽ lại hình dáng những ngôi chùa linh thiêng ở Bagan rồi treo ở phía đầu nằm để tâm hồn luôn được đắm mình trong chốn rừng núi thanh tịnh. Đó chính là những điềm báo trước cho con đường tương lai. Không chỉ giỏi kinh sách, cậu còn trọn vẹn cả đức hạnh và bổn phận của một người đệ tử.

Ngày mùng 8 tháng 6 (Waso) năm 1254 (Miến lịch), Ngài thọ cụ túc giới, chính thức bước vào hàng ngũ Tỳ-kheo. Ngài luôn thức dậy lúc 3 giờ sáng, hành trì các pháp đầu-đà (*dhutaṅga*), không bao giờ ăn trầu hay hút thuốc.


Khi thân thể khỏe mạnh, Ngài không dùng các loại nước giải khát pha đường hay đường thốt nốt. Ngài không đi dép, không che lù, không đi xe bò hay xe ngựa khi vào trong làng. Đôi khi dù phải đi xe lửa hay tàu thủy, Ngài cũng không bao giờ nằm ngủ nghỉ trên đó vào ban đêm. Ngài luôn đầy nhiệt huyết và tinh tấn, cực kỳ ghét sự lười biếng.

### Vừa tu học Pháp học vừa hành trì Pháp hành tại vùng Mandalay

Vị tỳ-kheo trẻ **U Sumana**, sau khi đã học đi học lại nhiều lần năm bộ Luật tạng kinh điển cùng với các bộ Chú giải, vào ngày Rằm tháng Táp-pô-tuê năm 1259 (âm lịch Myanmar), khi mới được 5 hạ lạp, Ngài đã cùng với người anh cả là U Bo Ba đóng vai trò hộ pháp (kappiya), rời ga Da-pein để lên Mandalay học đạo. Khi đó, tuyến đường sắt nối liền Nam - Bắc Myanmar mới chỉ khánh thành được 8 năm.

Ngài theo học với Hòa thượng **U Yan Kon** (pháp danh **U Sujāta**) tại chùa Phaya Gyi, phía nam Mandalay (đây cũng là nơi vị thầy thời Sa-di của Ngài và bạn học của Ngài là To Kyaung Ka-lay từng tu học). Hành trang mang theo chỉ gồm một chồng bản chép tay trên lá bối, một chiếc bình bát và ba tấm y cà-sa. Ngài tuyệt đối không bao giờ cầm giữ tiền bạc. Trong thời gian đó, Ngài cũng đã đến cầu học với các bậc danh sư lỗi lạc thời bấy giờ tại Mandalay, những vị sáng chói như mặt trăng mặt trời gồm các Hòa thượng: Kyi-wun, Moe-dar, Min-din, Maing-khaing, Maha Visuddhārāma và Shwe-ye-saung. Trong suốt cuộc đời sinh viên tăng, Ngài luôn giữ thái độ khiêm nhường (nivāta) trong giao tiếp. Ngài không chỉ phục vụ các bậc thầy mà còn luôn tận tụy làm mọi việc cho bạn đồng tu như múc nước tắm, nước dùng, quét dọn hay vệ sinh nhà vệ sinh. Chính vì vậy, Ngài luôn được mọi người yêu mến và kính trọng. Bất cứ khi nào đi khất thực được gì, Ngài cũng đều dâng cúng lên thầy giáo thọ trước rồi mới dùng phần còn lại.

Trong quãng đời học tăng, bên cạnh việc tự mình tu học, Ngài còn dành thời gian dạy các lớp Vi Diệu Pháp (Abhidhamma) vào ban đêm cho các vị tăng trẻ. Ngài giảng dạy đồng thời các bộ **Mātika** (Mẫu đề), **Dhātukathā** (Chất ngữ), **Yamaka** (Song đối) và **Paṭṭhāna** (Vị trí - 4 bộ đầu) và cho từng vị tụng đọc. Ngài đã sáng tạo ra các phương pháp giảng dạy giúp người học nắm bắt dễ dàng và rõ ràng chỉ trong vòng một năm, điều này khiến các học tăng thời đó vô cùng yêu thích. (Bộ sách lớn giải thích tóm tắt về hệ thống dạy ban đêm của chùa Mohnyin dài hơn 300 trang đã được ấn hành vào năm 1324 theo đúng nguyên bản cũ).

Quãng đời học tăng của Hòa thượng Mohnyin thật là một tấm gương sáng cho các bậc Sa-di và Tỳ-kheo trẻ hậu thế noi theo. Năng lực về Pháp học (Pariyatti) của Ngài là điều không cần phải bàn cãi, các tác phẩm của Ngài chính là minh chứng sống động nhất.

Mặc dù **U Sumana** đang bận rộn với việc học và dạy Pháp học để đạt đến sự thông thạo, nhưng trong tâm khảm Ngài mỗi ngày một thôi thúc ý định rời bỏ thế sự để vào rừng tu tập. Trong khi chưa đưa ra được quyết định cuối cùng, vào mỗi ngày trai giới (Uposatha), Ngài thường đi đến nghĩa trang Yahi ở phía tây Mandalay để thực hành hạnh đầu đà trú ngụ dưới gốc cây (rukkhamūla dhutaṅga).


Trong khi tu tập các đề mục thiền định gồm **Buddhanussati** (Niệm Phật), **Mettā** (Niệm Tâm Từ), **Asubha** (Niệm Thể Xác Bất Tịnh) và **Maraṇassati** (Niệm Sự Chết) — còn gọi là **Caturārakkha** (Bốn Pháp Bảo Vệ) — Ngài luôn chờ đợi một ngày có thể hoàn toàn giải thoát khỏi mọi ràng buộc để ẩn tu.

Giữa lúc đang tích lũy nội lực như vậy, Ngài nhận được một lá thư từ vị thầy ở quê nhà yêu cầu Ngài về tiếp quản ngôi chùa. Sau khi suy xét kỹ lưỡng, Ngài đã quyết định không quay về. Ít lâu sau, Ngài lại nhận được điện báo báo tin mẫu thân và phụ thân lần lượt qua đời. Ngài đã làm lễ dâng cúng vật thực và y áo để hồi hướng công đức cho cha mẹ quá cố nhưng vẫn kiên định không quay về. Tuy nhiên, sau đó đã nảy sinh một lý do khiến Ngài không thể không trở về quê nhà.

Lý do đó không phải điều gì khác ngoài việc: khi chuẩn bị buông bỏ tất cả để vào rừng tu tập, Ngài đã nhiều lần quán chiếu lại bản thân xem từ khi biết nhận thức cho đến nay mình có phạm phải sai lầm nào không. Ngài kiểm tra đi kiểm tra lại và chỉ tìm thấy duy nhất một lỗi nhỏ. Đó là thời còn làm chú tiểu, trên con đường nhiều người qua lại, Ngài đã từng nhặt một viên gạch ném một con chó đang sủa mình. Đối với người bình thường, đó là việc không đáng kể, nhưng với Ngài **U Sumana**, Ngài cảm thấy vô cùng hối hận và kinh hãi trước ác nghiệp đó. Ngay khi nhớ ra, Ngài quyết định trở về quê để sửa lại con đường đó.

Ngài thực hành theo quan điểm của các bậc thánh nhân: **“Aṇumattesu vajjesu bhayadassāvi” — Thấy sự nguy hiểm ngay cả trong những lỗi nhỏ nhặt nhất (như thấy núi Meru)**. Đây là một điểm đáng lưu tâm rằng chỉ khi rèn luyện từ những việc nhỏ thì mới có thể chiến thắng được những việc lớn. Không nên coi thường những lỗi dù là nhỏ nhất.

Khi Ngài về đến quê nhà, họ hàng thân quyên vây quanh trách móc và khóc lóc, bảo rằng: “Cha mẹ chết cũng không thấy mặt, thầy gọi cũng không về, sao mà đoạn tuyệt tình cảm đến thế”, Ngài đã dùng giáo pháp để an ủi họ. Ngài dành hai ngày để sửa xong con đường và ở lại thêm năm ngày rồi quay trở lại Mandalay. May mắn thay, vị sư phụ của Ngài lúc đó đang đi vắng nên không có ai ngăn cản quyết liệt, giúp Ngài có thể rời đi một cách thuận lợi.

### Ngôi chùa rừng nhỏ “Bốn Cột”

Ngài U Sumana đã dành đến 17 hạ lạp để thực hiện các bổn phận nghiên cứu và giảng dạy giáo pháp, ưu tiên hàng đầu cho trách nhiệm về Pháp học (Pariyatti). Trong khi đang sống như vậy—

Một luồng sáng lớn của tuệ giác ập đến với Ngài: “Ta không nên để ngày tháng trôi qua một cách vô ích tại ngôi chùa này, làng này, với vị thầy này, những đệ tử này hay những bạn đồng tu này nữa. Giống như một con voi đầu đàn rời khỏi bầy, như một mũi tên đã bắn ra không còn vướng bận, ta phải dấn thân vào rừng một mạch để đạt được sự giải thoát hoàn toàn”. Nghĩ vậy, Ngài đã đến gặp các vị thầy giáo thọ cùng các bạn đồng tu và thưa rằng:


“Con xin được chuyển sang thực hành Pháp hành (Paṭipatti). Trong rừng sâu hiểm nguy rất nhiều, lại chẳng biết cái chết đến lúc nào. Có lẽ đây là lần cuối chúng ta gặp nhau. Vì vậy, nếu từ vô lượng kiếp cho đến kiếp sống này, con có điều gì đắc tội, kính mong các Ngài từ bi hỉ xả và tha lỗi cho con”. Ngài cũng đem tất cả đồ đạc dư thừa ra bốc thăm để tặng lại cho mọi người.

Chỉ với một chiếc bình bát, ba tấm y và ba cuốn sách: **Visuddhimagga** (Thanh Tịnh Đạo), **Chú giải Uparipaṇṇāsa** (Hậu Trung Bộ Kinh) và **Chú giải Sutta Nipāta** (Kinh Tập) có chứa kinh **Khaggavisāṇa Sutta** (Kinh Sừng Tê Giác), Ngài đã cắt đứt mọi sự ràng buộc (palibodha) và lên đường đến làng Aim-bya-mak-kha-ya. Ngôi làng này nằm gần Myit-nge trên tuyến đường Mandalay - Kyaukse. Phía đông có dòng sông Dote-hta-waddy, phía tây có bảo tháp Shwe-zigon vĩ đại. Giữa bụi rậm um tùm phía sau bảo tháp đó, Ngài đã chọn trú ngụ tại một ngôi chùa rừng nhỏ bỏ hoang có tên là “Bốn Cột”.

Không tích trữ vật thực cho ngày hôm sau, cũng chẳng có gì để quyến luyến. Giống như loài chim chỉ mang theo sức nặng của đôi cánh, như làn gió chẳng vướng bận điều chi, Ngài không có ai để nương tựa và cũng chẳng phải lo lắng cho ai. Lần đầu tiên, Ngài nếm trải được hạnh phúc thực sự của đời sống độc cư (ekacārī) an lạc tuyệt đối.

Hàng ngày Ngài lễ Phật, rải tâm từ, hồi hướng công đức, tụng các bài nguyện mời gọi chư thiên và giảng kinh **Mahāsamaya Sutta** (Kinh Đại Hội), **Rāhulovāda Sutta** (Kinh Giáo Giới La-hầu-la), **Samacitta Sutta** (Kinh Tâm Bình Đẳng). Mỗi sáng khi thức dậy, Ngài dùng một gáo dừa múc đầy nước và uống hết. Chính dòng nước đó lại trở thành vị thuốc thanh lọc cơ thể và hỗ trợ tiêu hóa.

Trong bốn đề mục thiền định đã nêu, dường như thiền Tâm Từ (Mettā) sớm trở nên vượt trội. Mỗi khi chiều tà, Ngài rời chùa đi bộ đến bảo tháp cổ Shwe-zigon để thực hiện bổn phận quét dọn sân chùa (cetiyaṅgana vatta). Sau đó, Ngài hướng tâm về Đức Phật. Lúc bấy giờ, các loài chim chóc và thú rừng thường đến vây quanh Ngài. Sau khi hành lễ xong, Ngài dùng tay chạm vào một vài con chim và nói: “Nào, các quyến thuộc của ta, hãy trở về nơi ở của mình trong sự bình an đi”. Ngay lập tức, chúng như hiểu được tiếng người và đồng loạt bay đi hết.

Hàng ngày Ngài đi khất thực nhưng tuyệt đối không nói lời nào. Vào ngày trai giới, dù có một ít Phật tử đến thọ trì giới pháp, nhưng sau khi truyền giới xong Ngài chỉ nói: “Ở đây không có chỗ nghỉ, mọi người hãy về đi” rồi mời họ rời khỏi. Ít lâu sau, người dân tự ý xây dựng các am sau khất thực và nhà trai giới, khiến hàng chục người đến thọ giới và ở lại đến tận tối mịt, gây ra sự phiền toái. Tuy nhiên, Ngài tuyệt đối không nhận thêm bất cứ vật dụng dư thừa nào. Khi tiếng tăm ngày một vang xa, vào một buổi bình minh nọ, Ngài đã âm thầm rời khỏi ngôi chùa rừng nhỏ Aim-bya-mak-kha-ya đó.

---SOURCE_END---


**Thụ giáo Ngài Zin Nyun tại Yesagyo**

Từ đó, Ngài tiếp tục hành trình qua Myit Nge, Paleik, Innwa, Sagaing Ywa Thit hướng về phía Monywa. Trước khi đến Monywa, Ngài dừng chân nghỉ tại thiền viện Mahabodhi Tawya ở làng Khin Mon. Vị trụ trì chùa Khin Mon khi ấy là bậc được ngay cả Ngài Shwegyin Thathana Paing (Tăng thống Shwegyin) tôn kính, vô cùng nổi tiếng về giới hạnh cao khiết và sự uy nghiêm, được triều đình ban tặng danh hiệu Rajaguru (Quốc sư).

Sau sáu tháng thụ giáo Ngài Khin Mon Sayadaw, Ngài Sumana xuôi thuyền từ Monywa đi tiếp đến thành phố Yesagyo. Vị thiền sư Gu Phyu Tawya ở phía tây Yesagyo bấy giờ lừng danh là bậc Alahan. Ngay cả vị Hòa thượng U Sīla lừng danh cũng phải thốt lời tán thán Ngài Gu Phyu rằng: “Vị này vượt xa ta.” Ngài Sumana đã ở lại đây đúng ba tháng để học tập phương pháp hành trì.

Sau đó, Ngài ngược dòng từ Yesagyo trở về Monywa và đến thiền viện Ledi Tawya. Đúng lúc ấy, Ngài Ledi Sayadaw cũng vừa từ Mawlamyine trở về sau mùa hạ, nên Ngài Sumana có cơ duyên được đảnh lễ. Khi Ngài Sumana trình bày tâm nguyện muốn hành trì giáo pháp, Ngài Ledi Sayadaw dạy rằng: “Muốn hành trì pháp là điều rất quý. Hãy cứ nghỉ ngơi hồi phục sức khỏe một thời gian đã,” rồi Ngài chỉ định nơi nghỉ ngơi cho.

### Lời giáo giới của Ngài Ledi Sayadaw

Sau đó, Đức Sayadaw lớn đã ban lời giáo giới như sau: “Này Sumana, giáo pháp cần thực hành không khó, cái cần nhất chính là sự tinh tấn (Viriya). Thời nay, người ta không còn thiết lập được sự tinh tấn đủ mãnh liệt để có khả năng chứng đắc Đạo Quả nữa. Như bậc thầy chú giải đã dạy, hãy tinh tấn như con ong bay đi lấy mật, như người thầy thuốc rạch mạch máu trên lá sen giữa mặt nước, như kẻ muốn kiếm bốn ngàn đồng tiền vàng mà kiên nhẫn dùng que quay từng sợi tơ nhện, như người thợ thuyền khi gió lặng thì hạ buồm, khi gió mạnh thì căng hết buồm vượt sóng, như người rót dầu vào ống tre hẹp sao cho không một giọt nào vãi ra ngoài. Phải xem xét quán chiếu tâm mình sao cho không thối chí cũng không kiêu mạn, với khát vọng mãnh liệt như người muốn băng qua đại dương, phải đem cả tính mạng ra mà nỗ lực tinh tấn.”

“Xưa kia có hai người đàn ông đi trong rừng sâu, tìm thấy một khúc gỗ lõi cây khế. Một người bảo: ‘Dùng gỗ khế này cọ xát chắc chắn sẽ ra lửa’. Người kia bảo: ‘Dù có cọ xát cho đến khi lõi gỗ mòn hết cũng chẳng ra lửa đâu’. Người thứ nhất không cam tâm, quyết chí mài cọ thật mạnh, thấy khói lên lại càng ép mạnh và cọ nhanh hơn cho đến khi lõi gỗ nát vụn ra...



...và lửa cuối cùng đã bùng cháy. Theo lời dạy từ xưa ấy, khát vọng và sự nỗ lực của người đời nay thậm chí còn không bằng một phần nhỏ của người mài lửa kia.”

“Việc đắc pháp cao thượng mà người ta không hoan hỷ bằng việc có được một bộ y hay một chiếc bát, không yêu mến bằng việc nhận được một bát cơm. Đối với những kẻ trụ trần (puthujjana) chỉ biết hưởng thụ, thì giáo pháp cao thượng này sẽ cách xa họ như trời với đất vậy. Dù gân, xương, thịt, máu có khô cạn đi chăng nữa, nếu đó là pháp đáng được chứng đắc, thì chừng nào chưa đắc, ta quyết không dừng lại. Chừng nào chưa thấu đạt, ta quyết không nghỉ ngơi. Phải giữ vững tinh tấn không thối chuyển mà hành trì như vậy.”

“Nếu nỗ lực tinh tấn đến mức quên mình như thế, thì cũng giống như hạt lọc nước bỏ vào bình nước đục, chỉ trong chốc lát nước sẽ trở nên xanh trong thanh khiết. Nhờ sức mạnh của Định (Samādhi) luôn tập trung duy nhất vào một đối tượng pháp, dòng tâm thức của người hành giả sẽ trở nên cực kỳ sáng suốt, chói lọi và có thể chứng đắc những tầng pháp cao thượng, thâm diệu.” Ngài Ledi Sayadaw dạy xong, **U Sumana** bạch rằng:

“Con xin cung kính đón nhận những lời giáo giới của Ngài như đóng đinh vào đại não. Nếu Ngài chỉ dạy cho con một nơi chốn thích hợp (sappāya), con xin được đến đó để hành trì.” Ngài Ledi Sayadaw nghe vậy liền hoan hỷ thốt lên “Sa-thu”. Sau đó, đích thân Đức Sayadaw bảo một vị đệ tử dẫn Ngài **U Sumana** đến núi Lapatoung, nơi mà chính Ngài Ledi đã từng tu hành vào năm 1265 (Miến lịch).

Núi Lapatoung nằm cách bờ tây sông Chindwin, Monywa khoảng bốn dặm. Ngài **U Sumana** đã đến thiền viện đó để hành trì. Khi đi khất thực, Ngài không nhận được cơm gạo trắng, chỉ nhận được hạt kê và các loại ngũ cốc thô. Ngài tự nhủ: “Chỉ cần không chết là được,” rồi dồn toàn tâm sức vào hành thiền. Chẳng bao lâu, do ăn hạt kê và canh chua nên Ngài bị tiêu chảy nặng, không thể đi khất thực cũng không thể ngồi thiền, cơ thể trở nên suy kiệt, lảo đảo.

“Nơi này không còn là nơi thích hợp (asappāya) với ta nữa. Nếu tiếp tục ở lại, chỉ có nước chết mà mục đích tu hành vẫn chưa thành,” Ngài quyết định trở về thiền viện Ledi Tawya, nương tựa dưới lòng từ bi của Đức Sayadaw để chữa trị bằng thuốc men. Trong vòng một tháng, sức khỏe Ngài đã gần như bình phục hoàn toàn, Ngài lại xin Đức Sayadaw chỉ dạy cho một nơi chốn phù hợp khác.

### Đại nguyện 10 năm (Không nói, không thuyết)

Khi ấy, Ngài Ledi Sayadaw dạy rằng:

“Này Sumana, nếu ông quyết tâm thực hành Pháp hành Minh sát (Vipassanā Dhura) cho đến khi đạt kết quả, ông phải tuân thủ sáu điều quy định sau.” Ngài Sumana đã cung kính lập lời thề hứa sẽ tuân thủ nghiêm ngặt.



Sáu điều quy định là:

1. Không được nhận lời mời thọ thực tại nhà thí chủ.
2. Không được thực hiện các lễ truyền giới, xuất gia hay tham gia các đoàn làm phước.
3. Không được tham dự các buổi lễ tang Hòa thượng hay các buổi hội họp.
4. Trong mười năm, phải nỗ lực hành trì mà không nói năng, không thuyết pháp.
5. Sau khi đủ mười năm, chỉ được thuyết pháp tại nơi trú xứ của mình.
6. Chỉ khi đủ 60 tuổi mới được đi các vùng khác để thuyết pháp.

Ngài Ledi Sayadaw cử Ngài **U Ñāṇobhāsa** (sau này là Ngài Ledi Sayadaw đời thứ hai) đi cùng để đưa Ngài Sumana đến rừng Monyne. Đó là một khu thiền viện cổ nằm giữa làng Aung Thar và làng Monyne, cách thành phố Monywa khoảng 6 dặm. Ở đó chỉ còn lại những phế tích bảo tháp và một ngôi chùa cũ nát, cây cối rậm rạp. Nghe đồn nơi này có ma quỷ quấy nhiễu nên ngay cả ban ngày người dân cũng không dám vào. Những vị sư đến trụ trì trước đó đều phải bỏ chạy, nếu không chạy thì cũng viên tịch trong vòng vài tháng. Hơn nữa, rắn độc ở đây cũng rất nhiều.

Dân làng xung quanh vô cùng vui mừng khi có một vị sư do chính Ngài Ledi Sayadaw cử đến. Họ đã cùng nhau dọn dẹp khuôn viên chùa, tháp, giới đàn và đào lại giếng nước cũ. Nơi này vào năm 788 (Miến lịch) từng là trung tâm hoằng pháp chính yếu, nơi 200 vị Tăng của vua Mohnyin Min Taya Gyi triều Innwa từng lưu trú. Để tôn vinh vị vua ấy, thiền viện Monyne đã được đổi tên thành “Thiền viện Mohnyin”. Từ đó, Ngài bắt đầu được gọi là “Mohnyin Ko-taw-lay” (Vị sư trẻ Mohnyin).

Ngài bắt đầu nhập hạ tại đây từ tháng 4 năm 1273 (Miến lịch). Ngài đã yêu cầu Phật tử các làng lân cận rằng: “Xin đừng trò chuyện, hỏi han hay cúng dường dư thừa và không được cung thỉnh đi đâu.” Ngay từ ngày đầu tiên đến, Ngài đã hướng tâm trọn vẹn về Niết-bàn, quyết tâm hành trì với nghị lực phi thường. Cứ hoàng hôn xuống, Ngài lại lễ Phật, dâng hoa nước, rồi rải tâm từ. Ngài cất tiếng vang rền rải tâm từ đến chư thiên và chia phước cho họ. Ngài tụng đọc các bài kệ bảo vệ (Gāthā) đã thuộc lòng, sau đó mới bắt đầu tọa thiền.

Việc sống độc hành giữa ngôi chùa cổ hoang tàn, tháp đổ nát, nơi mà ngay cả ban ngày cũng thấy rợn người, là một thử thách vô cùng lớn. Ngài không quản ngại gió sương, giá rét, thậm chí ở giữa bãi đất trống không nhà không cửa (**Hạnh Đầu đà lộ địa — Abbhokāsika Dhutaṅga**). Không chỉ là việc không ngủ cả ngày lẫn đêm, mà ngay cả việc nằm xuống duỗi người Ngài cũng không thực hiện (**Hạnh Đầu đà bất ngọa — Nisaĵĵa Dhutaṅga**). Những việc này nói thì dễ nhưng làm thì cực khó. Công việc ấy không phải một ngày, một tháng hay một năm, mà là cho đến khi chứng được pháp cao thượng. Thời gian tối thiểu cam kết là mười năm. Đức tính dễ dạy (**Sovacassatā**)...


Thật đáng để làm gương noi theo thay!

**Dhamma-cariya U Htay Hlaing**

Ngài Mohnyin thọ trì đại nguyện "không nói chuyện" (tư trì tịnh khẩu), cứ mỗi bảy ngày lại phát nguyện tiếp nối một lần để không làm gián đoạn tâm định. Dù gặp phải đủ mọi loại chướng ngại và khó khăn khác nhau, Ngài vẫn trưởng dưỡng tâm từ ái mãnh liệt, đặt niềm tin kiên cố vào đại nguyện Ba-la-mật như bàn thạch.

Ngài phát nguyện: “Thật vậy, bổn phận đối với cha mẹ và thầy tổ đã viên thành. Ân đức ấy thật lớn lao thay. Cái chết có thể đến bất cứ lúc nào, không trì hoãn dù chỉ một giờ. Ngoài pháp hành Vipassanā (Minh sát), chẳng còn nơi nào để nương tựa. Chừng nào chưa chứng đắc đặc biệt pháp, ta quyết không rời khỏi nơi này vì bất kỳ lý do gì. Dù nơi đây có trở thành nghĩa địa của ta đi chăng nữa”, rồi Ngài hiến dâng trọn vẹn thân mạng này lên Đức Thế Tôn, không màng đường lui, nỗ lực tu tập không ngủ nghỉ. Cái chết vốn chẳng có gì lạ lẫm, chết trong khi đang hành trì và ngay tại nơi hành đạo mới là điều cao quý.

### Bò rừng và những con rắn độc

Trên đường đi khất thực, khi vừa ra khỏi cổng chùa, Ngài dừng lại định tâm, rồi từ đó cho đến lúc vào làng, mỗi bước chân Ngài đều đặt chánh niệm Vipassanā vào đó. Nếu lỡ bước mà thiếu chánh niệm, Ngài liền lùi lại và ghi nhận lại từ đầu. Khi vào trong làng, Ngài chỉ thuần túy trưởng dưỡng tâm từ. Trên đường trở về chùa, Ngài cũng giữ chánh niệm y như lúc đi. Pháp hạnh này được gọi là **Gatapaccāgatikavatta** (Hạnh đi và về đều có chánh niệm). (Trong cuốn sách về các bậc Thánh nhân tiêu biểu thời Sri Lanka có viết chi tiết về việc này.)

Vào một ngày nọ, khi đang giữ gìn hạnh nguyện đi và về này, từng bước chân đều có chánh niệm, có một con bò đực hung dữ đang trong mùa động đực lao thẳng về phía Ngài. Những người dân chứng kiến kinh hãi đồng thanh hét lớn: “Ngài Mohnyin trẻ tuổi ơi! Bò kìa, bò kìa! Nó sẽ húc Ngài mất, xin Ngài hãy tránh mau!” Thế nhưng, Ngài thoáng khởi ý nghĩ: “Nếu vì sợ chết mà phá bỏ hạnh nguyện này để chạy trốn thì cũng chẳng khác nào đã chết rồi”, Ngài vẫn tiếp tục bước đi từng bước chánh niệm như cũ.

Đúng như câu: “**Dhammo have rakkhati dhammacārī** - Pháp bảo hộ người trì Pháp”, khi con bò rừng chỉ còn cách Ngài khoảng bốn sải tay (trượng), nó đột nhiên quay ngoắt đầu bỏ chạy như thể vừa bị ai đó giáng một đòn mạnh. Những ai nhìn thấy và nghe kể lại đều không khỏi kinh ngạc. Giáo pháp luôn hiển lộ minh chứng cho những ai có niềm tin sâu sắc.

Tương tự như vậy, một lần nọ trên đường đi khất thực, có một con rắn độc lớn đang dựng cổ phì phò chặn lối. Người dân thấy Ngài đang đi tới liền cố đuổi con rắn đi nhưng không được. Họ liền thưa rằng: “Bạch Ngài, phía trước có con rắn độc lớn, xin Ngài hãy lùi lại!” Ngài Mohnyin vẫn tiếp tục bước đi. Khi chỉ còn cách khoảng hai khuỷu tay, chính con rắn đó phải tự bỏ chạy nhường đường. Năng lực của Tâm từ và Giới hạnh một khi thực hành miên mật sẽ có sức mạnh thật phi thường.



Có lần, sau khi dọn dẹp các gốc tháp cổ và đang hành lễ bái, một con rắn từ phía sau tiến đến phì phò đe dọa. Ngài không phá bỏ định nguyện, vẫn tiếp tục thành tâm lễ bái. Con rắn đó trườn từ phía sau qua giữa hai chân khi Ngài đang ngồi xổm, rồi bò đến gần pho tượng, ngóc đầu vươn cổ ra vẻ hung dữ. Chỉ đến khi Ngài định tâm trưởng dưỡng tâm từ mãnh liệt hướng về nó, nó mới lặng lẽ biến mất.

Ngài Mohnyin càng thêm tin tưởng sắc đá rằng, để chống lại và bảo vệ bản thân trước mọi sự chướng ngại, không có gì khác ngoài năng lực của Tâm từ.

### Huệ nhãn và những điều mầu nhiệm

Sau khoảng một năm Ngài hành trì, có bốn người gồm ông U Tun Mya, U Hlwar Gyi và U Htin ở làng Se Gyi, cùng ông U Boe Kyu ở làng Aung Thar, đã bàn bạc với nhau mỗi người sẽ làm hộ pháp (kappiya) trong ba tháng. Vì Ngài không nói truyện, nên khi Ngài đi vệ sinh, họ đã viết thư xin phép và Ngài gật đầu chấp thuận. Các hộ pháp khi có việc cần cũng chỉ thỉnh nguyện bằng văn bản. Ngài đã nỗ lực hành trì liên tục như vậy trong suốt ba năm, vào đêm rằm tháng Tazaungmon năm 1276 (Miến lịch), cũng giống như câu nói: “**Cakkhuṃ udapādi, ñāṇaṃ udapādi** - Nhãn sinh, Tuệ sinh”, Ngài đã đạt được những tuệ giác thấu suốt đặc biệt.

Sau khi hoàn tất ba năm, Ngài lại tiếp tục phát nguyện hành trì thêm hai năm nữa. Nguyện tịnh khẩu được thực hiện theo chu kỳ mười ngày một lần, ấn định thời gian hoàn tất là năm năm. Trong giai đoạn năm năm lần thứ hai, nguyện tịnh khẩu được ấn định là 15 ngày một lần. Khi dùng bữa, Ngài thực hành “**Āhāre paṭikūlasaññā**” (Tưởng vật thực là uế trượt), cứ mỗi miếng cơm lại lần một hạt tràng hạt rồi mới thọ dụng. Trong thời gian hành trì, Ngài thỉnh thoảng xem kinh sách. Ngài cũng ghi chép lại phương pháp quán Minh sát của mình, mà nay đã được in thành bộ “**Visuddhi-kyintsin-kyan**” (Thanh Tịnh Đạo Thực Hành).

Trong suốt 10 năm đó, chư Tăng và thiện nam tín nữ từ khắp nơi xa gần đã thông qua hộ pháp gửi thư thỉnh cầu Ngài truyền dạy pháp hành, nhưng Ngài đều hồi đáp bằng thư rằng: “Vì đại nguyện chưa viên mãn nên chưa thể hứa khả.” Mặc dù Ngài luôn khép mình trong đại nguyện, nhưng khi kỳ hạn sắp hoàn thành, những tin đồn thường xuyên xuất hiện rằng Ngài được nhìn thấy cùng một lúc ở hai ba nơi khác nhau như núi Pho Win, núi Let Padaung, núi Kyaukka, núi Kway Mon Shwe Myin Tin và cả tại chỗ Đức trưởng lão Ledi Sayadaw ở Monywa. Các hộ pháp cũng thường xuyên thấy Ngài “biến mất” khỏi chùa. Thỉnh thoảng, họ thấy cả ngôi chùa rực sáng, hoặc thấy Ngài đang thuyết pháp cho các bậc Chư thiên, Phạm thiên và thậm chí là cả các loài Dạ-xoa (Yakkha). Các hộ pháp vô cùng hoan hỷ, và tiếng tăm của Ngài ngày một vang xa.




Vào tháng Waso năm 1283, đại nguyện 10 năm hành trì thiền định đã viên mãn, và Ngài cũng đã thấu đạt được những đặc biệt pháp cần thiết. Do đó, vào kỳ Thadingyut năm ấy, Ngài đã đến đảnh lễ bậc ân sư – Đức trưởng lão Ledi Sayadaw và trình bạch về những pháp đã chứng ngộ. Đức trưởng lão Ledi Sayadaw đã thốt lên "Lành thay" (Sādhu) ba lần. Ngài ban tặng các bộ kinh Ledi Dipani và cho phép Ngài Mohnyin được thuyết giảng giáo pháp.

Ban đầu, khi có khoảng bốn hay năm mươi người gồm các hộ pháp và dân chúng tụ hội, Ngài đã truyền dạy pháp dưới một mái lều lợp lá thốt nốt dưới gốc cây. Dần dần, các thiền đường (zayat) và giảng đường bắt đầu được dựng lên. Trong thời gian này, các tác phẩm như “**Vipassanā Pīti Asasā Kyintsin Taya Gyi**” (Đại Pháp Hành Các Loại Hỷ Lạc Trong Minh Sát), “**Paṭiccasamuppāda Kyintsin Gyi**” (Đại Pháp Hành Thập Nhị Nhân Duyên), “**Nissaya Muccaka Kyintsin Kyan**” (Luận Về Pháp Hành Giải Thoát Y Chỉ) đã được biên soạn và ấn hành. Từ năm 1285 đến 1291, Ngài cũng đã trùng tu được chín ngôi bảo tháp cổ thông qua việc quyên góp từng nắm gạo cúng dường thường nhật.

Vào năm 1285, khi số lượng đệ tử hành giả ngày một đông đảo, Ngài đã bổ nhiệm Tỳ-khưu U Sumangala làm Quản sự (Taik-ok), Tỳ-khưu U Āsabha làm Giám sự (Taik-kyat), và bà Daw Sandar Gyi đại diện cho nữ giới để điều hành. Ngài cũng cho in ấn bộ “**Visuddhi-kyintsin-kyan Gyi**” (Đại Thanh Tịnh Đạo Thực Hành) và hướng dẫn pháp hành cả ngày lẫn đêm. Ngài răn dạy mọi việc phải luôn đúng theo giới luật (Vinaya). Mỗi đêm, đại chúng cùng tụng kinh và tu tập pháp hành **Caturārakkha** (Bốn pháp hộ trì). Tiếp đó, Ngài thuyết giảng trong ba đêm về vô thường của Sắc (Rūpa) kết hợp với thiền hành, từ một điểm diệt đến sáu điểm diệt. Khi người hướng dẫn thiền hành phía trước, các hành giả bước theo sau. Ngài cũng dành sáu ngày để hướng dẫn về vô thường của Danh (Nāma - **Sáu loại thức**). (Tác giả lúc 8 tuổi đã từng được diện kiến và thấy Ngài hướng dẫn pháp khi đang thiền hành.)

### Sự kiện Đức trưởng lão Ledi Sayadaw viên tịch

Vào ngày mùng 8 tháng Waso năm đó, vì Đức trưởng lão Ledi Sayadaw lâm trọng bệnh nên đã gửi điện tín thỉnh Ngài Mohnyin đến. Ngài liền khởi hành đến trú xứ của phú ông U Lan Taik (Chùa Ledi San) ở Pyinmana. Khi đang cúi đầu đảnh lễ sát đôi bàn chân của bậc ân sư để bày tỏ lòng tôn kính...

Đức trưởng lão phán rằng: “À... có phải Ngài Mohnyin đó không? Này con, hãy nỗ lực hoằng dương giáo pháp Vipassanā nhé. Dù ta không còn nữa nhưng kinh sách của ta vẫn còn đó, hãy thay ta mà làm nơi nương tựa cho chúng hữu tình.” Các đệ tử đã tụng bộ Paṭṭhāna (Vị Trí) cho Ngài nghe. Riêng Ngài Mohnyin đã tụng bài Anatta Dipani (Vô Ngã Minh Đăng) để cúng dường và đền đáp ân sư.

Đức trưởng lão Ledi Sayadaw nói rằng:
“Thật là tốt thay! Khi được nghe giáo lý Vô ngã này, ta như nhìn thấy và khởi tâm tịnh tín trước hình ảnh Đức Thế Tôn khi Ngài thuyết bài kinh Anattalakkhaṇa Sutta (Kinh Vô Ngã Tướng). Cứ như thể chính Đức Phật đang ngự đến vậy, này con...”


Ngài phán rằng: “Ta đã thuyết **Abhidhamma** (Vi Diệu Pháp) ở cõi người rồi, giờ đã đến lúc phải đến thuyết ở cõi trời một chuyến; ta nghe như có tiếng Đức Thế Tôn đang ngự ở phía trên đầu mình phán truyền như vậy.” Vào lúc 2 giờ 30 phút chiều ngày rằm tháng Tư (Waso) năm đó, **Đại trưởng lão Ledi Sayadaw** đã diệt tận sắc nghiệp tái sinh (cuti kammaja rūpa). Ngài (Mohnyin Sayadaw) xin phép các vị đại đệ tử rồi trở về tu viện Mohnyin.

Sau khi **Đại trưởng lão Ledi Sayadaw** viên tịch, vì lòng cảm hoạt **Dhammasaṁvega** (sự xúc động trước giáo pháp), Ngài quyết tâm nỗ lực đặc biệt trong việc thuyết giảng **Vipassanā** (Thiền Quán). Khi chưa đầy 60 tuổi, Ngài đã tổ chức các buổi thuyết pháp ngay trong rừng thiền Mohnyin. Chẳng bao lâu sau, vào năm 1301 (Âm lịch Miến Điện), ông U Hmyin - bà Daw Sein ở thị trấn Mawlamyinegyun và ông U Sit Kyu ở thị trấn Laymyethna đã cúng dường một ngôi đại giảng đường (Dhammāyon) mang tên “Paṭṭhāna Adhipati” dài 150 feet, rộng 62 feet. Ngôi giảng đường này rất tráng lệ, đáng chiêm ngưỡng với những bức tượng điêu khắc các vị Đại Thượng thủ Thinh văn (Atīti Sāvaka) và chín đoàn truyền giáo đến chín phương (Ko Taing Ko Hta Na). Đặc biệt, trên trần của đại giảng đường có điêu khắc hình ảnh **500 con dơi** đang nghe **Abhidhamma**. Trong khi đang điêu khắc, **Đại trưởng lão Mohnyin Sayadaw** đã hỏi người thợ vẽ:

“Này con, con có biết vẽ hình con dơi cho giống không? Nếu không biết thì hãy lấy giấy bút lại đây, ta sẽ vẽ cho xem.” Trong lúc Ngài đang phán như vậy, một con dơi bỗng nhiên rơi xuống ngay trước mặt Ngài và người thợ vẽ.

Ngài phán: “Được rồi, hãy lấy tờ giấy đắp lên con dơi rồi dùng bút chì tô theo hình nó đi con.” Sau đó, con dơi cúi đầu ba lần rồi bay đi.

### Bắt Đầu Đi Thuyết Pháp

Vào năm 1294 (Âm lịch Miến Điện), khi đã tròn 60 tuổi, vào tháng Tư (Tagu) năm đó, lần đầu tiên Ngài lên Maymyo để thuyết pháp trong năm ngày. Vào ngày 14 tháng Chạp (Tabaung) nhuận năm 1295, Ngài ngự trên một toa xe lửa màu trắng đặc biệt để đi thuyết pháp tại Mawlamyine. Trước khi đi, lúc sắp lên tàu, Ngài đã hướng về phía đại tu viện Ledi cúi đầu đảnh lễ rồi mới đăng trình.

Người sắp xếp mọi công việc cho những buổi đại thuyết pháp đó chính là vị sư trẻ U Kovida (Sau này là Sa-ya-daw-ga-lay). Tại Mawlamyine, Ngài ở lại 18 ngày; khi thuyết pháp tại quảng trường Maida, thính chúng lên đến hơn hai mươi ngàn người. Lượng thính chúng đông đảo như thế này là điều chưa từng có trước đây. Tại Miến Điện, đây là lần đầu tiên loa phóng thanh (máy khuếch đại âm thanh) được sử dụng. Có 5.000 người đã ký tên cam kết nỗ lực giữ giới và hành thiền (trở thành thành viên hội **Gativisuddhi**) và 500 vị nữ tu sĩ (Yathe-ma) đã đăng ký ghi danh hoằng pháp. Đi đến đâu Ngài cũng được cung đón và cúng dường nồng nhiệt như bầy ong vây quanh mật. (Sau này) viên cảnh sát trưởng còn cho bắn một trăm phát đại bác để chào đón Ngài.

Từ ngày mùng 2 tháng Ba (Kasun) nhuận năm 1296, tại khuôn viên trường Myoma ở Yangon,


Ngài thuyết pháp bằng loa phóng thanh, thính chúng đông đúc đến nức lòng. Khi đó ở Miến Điện chỉ mới có duy nhất một bộ máy này. Ngài vừa thuyết giảng các giáo lý tối hậu (paramattha) vừa liên tục hỏi: “Này các con, có nghe rõ không?”. Đó là những bài pháp hướng dẫn thực hành **Vipassanā** trong 15 ngày. Các tờ báo lớn như Thuriya và Myanmar Alinn cũng đăng tải nội dung các bài pháp kèm theo hình ảnh, nhờ đó cả nước đều rúng động; số lượng báo phát hành cũng phải tăng thêm hơn năm ngàn bản mỗi số. Điều kỳ lạ là trong những ngày thuyết pháp, dù đang là mùa mưa nhưng trời lại không hề mưa.

Nhân lúc Mohnyin Sayadaw đến Yangon, Ngài đã mang lễ vật đến đảnh lễ vị thầy thuở nhỏ (Ngài U Ācara ở làng Aye, Thongwa) sau 37 năm xa cách. Vị đại trưởng lão ấy xúc động đến mức không thể đọc hết lời chúc phúc sau khi nhận lễ, mà chỉ biết khóc vì vừa buồn vừa vui. Thuở Ngài **Mohnyin Sayadaw tương lai** còn là một trẻ chăn trâu, Ngài từng bị trâu húc khiến sừng trâu mắc vào xà-rông, chính trưởng lão U Ācara đã nhìn thấy và cứu mạng. Sau này khi còn là chú tiểu, trên đường đi bát từ làng Tagon ở phía Nam về, lúc băng qua suối Ngài suýt bị nước cuốn trôi, và cũng chính vị thầy ấy đã cứu Ngài một lần nữa. Đó là vị ân nhân đã hai lần cứu mạng Ngài khỏi cửa tử.

Thính chúng chứng kiến cũng đều rơi lệ. Vì mọi người khẩn thiết yêu cầu Ngài thuyết pháp nên Ngài đã hủy kế hoạch ở Yangon để ở lại thuyết pháp trong ba ngày (ngày 13, 14, 15 tháng Tám - Tazaungmon năm 1297). Cả trong buổi pháp lẫn lúc Ngài lên đường trở về, mọi người lại vây quanh khóc lóc. Ngài quán niệm về sự đánh lừa của các pháp hữu vi (**Saṅkhāra**) và phát khởi tâm nhàm chán (**Saṁvega**): “Ôi... khổ thay, khổ thay! Chính vì vậy mà các bậc hiền trí thánh nhân mới ghê sợ và nhàm chán thế gian này”.

Kể từ đó, hằng năm Ngài đều đến Yangon. Mỗi buổi thuyết pháp, thính chúng đông đến mức khiến người ta phải nổi da gà. Số người phát nguyện hành thiền và gia nhập hội **Visuddhi** lên đến từ mười ngàn đến năm mươi ngàn người. Cứ như thế, Ngài ban bố giáo pháp đến mọi thành phố khi có duyên sự thuận lợi. Ngài cũng đã thành lập các hội **Maṅgalā Gativisuddhi**.

### Những Vị Đại Diện Của Ma Vương

Đặc biệt tại Yangon, do Ngài thuyết giảng và yêu cầu đốt bỏ các tiểu thuyết, tạp chí vì chúng kích thích **Taṇhā-rāga** (ái dục), điều này đã gây ra một làn sóng phản đối dữ dội trong giới nhà văn, họ đã dùng ngòi bút để công kích lại Ngài. Trong các cuốn tiểu thuyết, họ bắt đầu viết về các nữ tu sĩ (Yathe-ma) bằng những tình tiết bất chính. Tại Mawlamyine, trong các buổi pháp vào dịp Tết Songkran (Thingyan), Ngài đã có lời yêu cầu mọi người đừng tạt nước, tờ báo Myanmar Alinn đã đăng tranh biếm họa châm chọc rằng: “Đừng có thuyết pháp về chuyện không tạt nước nữa”...



Ngài phán: “Phải rồi... vì ta nói những điều họ không thích mà. Phải chấp nhận thôi. Đời (Loka-dhamma) là như vậy.”

Cùng với sự nổi tiếng của Mohnyin Sayadaw, trong khi ở khắp các vùng miền có nhiều người đắc chứng pháp bảo (**Dhammābhisamaya**), thì những người tạo trọng tội (xuống địa ngục) cũng không phải là ít. Đặc biệt, người ta tìm sơ hở để chỉ trích việc Ngài cho phép xuất gia theo hình thức tu sĩ Yathe. Ngài Sayadaw U Paññāvaṁsa đã viết các tác phẩm như “Sāsanataṅkhwan”, “Sāsanama-lavisodhanī” để phê phán và hạ nhục nặng nề. Họ cho rằng: Ngài dụ dỗ những người không hiểu biết để đưa họ xuống địa ngục; rằng tôn giáo giả hiệu sẽ bị đất nuốt, v.v. Sayadaw chùa Yay-oo-wa-so cũng viết cuốn “Isipahāyakavinicchaya” (2 tập) để phản đối. Họ thậm chí còn kích động để thực hiện các thủ tục kỷ luật (Vinaya-kamma) nhằm trục xuất Mohnyin Sayadaw. Thư kích động được rải đến các vị trưởng lão trên khắp cả nước. Thậm chí, có những vị Tăng không còn muốn thọ dụng đồ cúng dường của Mohnyin Sayadaw nữa.

Vào tháng Tư (Waso) năm 1298, Ngài đã đến gặp vị Sayadaw U Pakhan nổi tiếng tinh thông kinh điển ở thành phố Pakokku để trình bày và thảo luận về vấn đề tu sĩ Yathe. Sau đó, các tờ báo lớn đã đăng tải đầy đủ sự thật về Mohnyin Sayadaw. Tám mươi ngàn cuốn sách mang tên “Lời giải trình của Yesagyo” cũng đã được xuất bản. Kể từ đó, mọi tranh cãi dịu xuống như lửa được dội nước.

Ma vương thường nhập vào những kẻ thiếu trí tuệ để gây khó khăn cho các bậc thiện trí chân tu. Khi chết, những kẻ đó sẽ đọa địa ngục. Nếu không phá hoại được bằng cách đó, Ma vương sẽ khiến thính chúng cúng dường nhiều phẩm vật, danh tiếng và lợi lộc. Khi những người (cúng dường) đó chết, họ sẽ lên cõi trời. Việc Ma vương dùng những kẻ không hiểu biết làm bàn đạp để quấy phá đã được nêu rõ trong bài kinh “**Māratajjaniya Sutta, Mūlapaṇṇāsa**”.

“Nếu bị tấn công bằng danh lợi và sự tôn kính (Lābha), phải dùng pháp **Vô thường** (Anicca) để đối kháng. Nếu bị hành hạ bởi các loại bệnh tật, đói khát và tai ương, phải dùng Tâm Từ (Mettā) để bảo vệ.” Các đệ tử của Đức Phật đều đã thấu hiểu điều này.

Vào năm 1296, khi tổ chức buổi pháp tại thành phố Bago, lại có một vấn đề nảy sinh. Vấn đề là vào đêm thuyết pháp, lịch diễn ra trùng với một buổi pháp của một vị đại trưởng lão khác. Trong quy định của hệ phái Mohnyin có một điều khoản: “Không được thuyết pháp tại cùng một thành phố khi có một buổi pháp khác đang diễn ra, nếu vi phạm sẽ phải chịu phạt”. Dựa vào quy định này, Ngài phán rằng mình sẽ không thuyết pháp. Điều này khiến ông U Sein Win và các vị lãnh đạo ban quản trị chùa Shwemawdaw gặp khó khăn vì mọi thứ đã chuẩn bị xong. Họ thậm chí còn thỉnh mời các vị trưởng lão trong thành phố đến để thỉnh cầu Ngài. Khi đó, sau khi nhận được lời cam kết rằng mọi người sẽ cùng nhau trùng tu ngôi bảo tháp Shwemawdaw đang bị hư hại, Ngài đã phán rằng nếu có được một thiện sự to lớn như vậy, Ngài sẽ chấp nhận chịu phạt để thuyết pháp.

Ngài phán rằng việc gánh chịu tai tiếng nước nôi (do đi lại vất vả trong mùa mưa) để thuyết Pháp là chuyện thường tình. Bởi lẽ, những bậc thiện trí luôn giữ trọn lời hứa và sẵn lòng thực hiện những việc mang lại lợi ích cho chúng sinh.

### Bước chân vào pháp trường

Ngài Cố đạo sư không chỉ thuyết minh về pháp hành Thiền Quán (Vipassanā) cho những người có ba-la-mật (pāramī) chín muồi, mà Ngài còn thuyết giảng về các pháp Minh Hạnh (Maṅgala) – những nền tảng đạo đức căn bản cho con người – để cầu nguyện cho đất nước được thái bình, an lạc. Tại các nhà tù ở nhiều thành phố khác nhau, nơi có từ 700 đến 1000 tù nhân, Ngài thường tận dụng cơ hội để thuyết Pháp cho họ. Khi bước đến khu vực giá treo cổ (máy chém) tại nhà tù Insein, Ngài phán:

"Này, cái máy chém này nó không 'bắt' ta đâu các con ạ. Này, điều thực sự đáng sợ không phải là cái máy chém, mà chính là những ác nghiệp (akusala) đã dẫn dắt người ta đến chỗ máy chém này."

Ngài thuyết giảng tường tận về lợi ích và hậu quả của việc giữ hay vi phạm Ngũ giới (Pañcasīla), khuyên họ nên thọ trì giới luật. Ngài cũng dạy phương pháp niệm Phật (Buddhānussati) và tu tập tâm Từ (Mettā), đồng thời tặng mỗi người một xâu chuỗi hạt.

Lúc bấy giờ, dân chúng đang mong chờ sự xuất hiện của một vị Chuyển Luân Thánh Vương (Cakkavatti). Các mặt báo cũng ví von hành trình của Ngài Monyin Sayadaw là "Monyin Cakkavatti" (Chuyển Luân Vương vùng Monyin). Do đó, có người còn bàn tán rằng: "Chính phủ Anh rước Ngài Monyin Sayadaw vào tù để làm lễ giải hạn (yatra), ngăn không cho vị Chuyển Luân Vương xuất hiện."

### Sức mạnh tâm Từ xua tan khói lửa

Điểm đặc biệt nhất ở Ngài Monyin Sayadaw chính là đường lối tu tập tâm Từ (Mettā). Ngài thường đi khất thực qua các khu phố ở Yangon. Mục đích chính là để thực chứng việc lan tỏa tâm Từ giữa đời thực. Ngài thường xuyên nhắc nhở đệ tử mỗi ngày phải tu tập tâm Từ với tâm nguyện thiết tha, mong cho hết thảy chúng sinh trên toàn thế giới đều được an vui, khỏe mạnh: "Cầu cho tất cả được vạn sự cát tường, thân tâm thường lạc."

Vào ngày mùng 3 tháng Natdaw năm 1301 (Âm lịch Myanmar), Ngài Thái Hư (Tai Xu) – vị cao tăng đứng đầu Phật giáo toàn Trung Hoa từ Bắc Kinh – đã gửi lễ vật và thư thỉnh Ngài. Trong thư, Ngài Thái Hư cầu thỉnh Ngài Monyin Sayadaw thuyết Pháp để công cuộc hoằng Pháp được thành tựu và cầu nguyện cho nhân dân Trung Hoa thoát khỏi các nạn tai, khổ ách.

"Trước khi muốn đi đến nơi nào hay thực hiện công việc gì, trước tiên phải tu tập tâm Từ," Ngài đã viết thư phản hồi như vậy. Ngài còn căn dặn nếu cần sự gia trì trọn vẹn của năng lượng tâm Từ, hãy gửi một bức ảnh chân dung toàn thân của người đó đến cho Ngài. (Ngài Thái Hư ở chùa Amuoy [Hạ Môn] từng sang Anh, Pháp hoằng Pháp vào năm 1928, điều này có ghi trong cuốn Lịch sử Đức Phật của Ngài Meghawadi U Narada).



Vào ngày rằm tháng Tazaungmon cùng năm đó, ông Paramananda – Thư ký hiệp hội Ấn giáo 'Grettinichabha' tại Yangon – (sau khi dẫn giải về sự tương đồng giữa Phật giáo và Ấn giáo qua các tư liệu lịch sử) đã cầu thỉnh một lời giáo huấn để thắt chặt sự đoàn kết giữa tín đồ hai tôn giáo. Ngài cũng phúc đáp bằng thư, khuyên họ nên thực hành tâm Từ với sự chân thành từ thân, khẩu, ý ít nhất 10 đến 15 lần mỗi ngày. Có thể người ta nghĩ đó chỉ là những lời khuyên sáo rỗng thường tình, nhưng thực tế không phải vậy. Ngài khuyên bởi Ngài đã thực sự nhìn thấy sức mạnh và lợi ích vượt trội của nó. (Lời thỉnh cầu của ông Paramananda có ghi chép đầy đủ trong cuốn Monyin Therapadān).

Một minh chứng rõ rệt hơn là vào thời điểm Ý và Abyssinia (nay là Ethiopia) đang xảy ra chiến tranh. Một buổi tối sớm nọ, Ngài trải một bản đồ lớn ra trước mặt, rồi bảo vị thị giả là U Kovida rằng:

"Này Pho Kaw (tên gọi thân mật của U Kovida), hãy nhìn xem, Ý và Abyssinia đang đánh nhau, chúng sinh chết chóc tan tác thật đáng thương thay. Cần phải gửi tâm Từ để họ thoát khỏi nạn này. Nếu cuộc chiến ấy được dập tắt bằng cách nào đó, thì phải hiểu rằng đó là nhờ sự thành tựu của tâm Từ."

Sau đó, Ngài liên tục tu tập tâm Từ ngày đêm. Chỉ năm ngày sau, có tin điện báo rằng hai nước đã ký kết hòa bình.

Điều này có thể khó tin đối với người bình thường, nhưng không nên nảy sinh lòng hoài nghi. Điểm cốt yếu chính là năng lực của Giới (Sīla), Định (Samādhi) và Trí tuệ (Paññā) cùng lòng tin (Saddhā). Đức Thế Tôn đã từng hàng phục voi dữ **Nālāgiri** bằng tâm Từ; Ngài cũng dùng tâm Từ để thu phục vị hoàng tử ngoại đạo Roja Malla; và trong các bài kinh như **Kinh Lợi ích Tâm Từ (Mettānisaṃsa Sutta)**, **Kinh Karajakāya**, **Kinh Ví dụ Cây Giáo (Satti Sutta)** thuộc Tương Ưng Bộ (Opamma Saṃyutta), Đức Phật đã khẳng định rõ rệt về sức mạnh của tâm Từ. Hễ ai có lòng tin kiên cố thì người đó nhất định sẽ thành tựu. Nếu một người có Giới hạnh và Định lực cao thâm, biết huân tập các ân đức của Phật, rồi nhất tâm hướng đến những cuộc chiến khốc liệt nhất với lòng từ ái chân thành và sự định tĩnh, thì họ sẽ thấy kết quả linh ứng đến mức chính mình cũng khó tin. Hỡi các bậc thiện trí, hãy tinh tấn thực hành!

Nhờ vào tâm Từ và những phẩm hạnh cao quý ấy, các buổi thuyết Pháp của Ngài Monyin Sayadaw được tổ chức vô cùng long trọng trên khắp đất nước Myanmar. Đi đến bất cứ thành phố nào, Ngài cũng đều đến đảnh lễ các bảo tháp, các bậc cao tăng và cúng dường y bát đến chư Tăng. Tại thiền viện Monyin Forest rộng 37 mẫu Anh, Ngài đã cho xây dựng tường bao che chắn và đại bảo tháp **Sambuddhe** cùng nhiều liêu phòng, chùa chiền, giúp cho phần hình thức (vật chất) của Giáo Pháp cũng được hưng thịnh.


### Trúng bom trong Thế chiến

Vào năm 1302 (Tháng 1 năm 1941), Ngài được triều đình dâng tặng danh hiệu cao quý Aggamahāpaṇḍita (Bậc Đại Trí Tuệ). Ngày 23 tháng 12 năm đó (ngày mùng 7 tháng Pyatho năm 1303), Yangon hứng chịu đợt tấn công đầu tiên của Thế chiến thứ hai. Tại thiền viện Monyin Forest lúc đó có khoảng 2000 hành giả đang lánh nạn. Ngài ban huấn từ:

"Không cần đào hầm trú ẩn, hãy nỗ lực nhiếp tâm vào Pháp. Có như vậy mới xứng đáng là bậc Thánh đệ tử (Ariyasāvaka) của Phật."

Nói rồi, Ngài vẫn tiếp tục thuyết Pháp như thường lệ và việc xây dựng bảo tháp **Sambuddhe** vẫn được tiến hành. Có ba quả bom rơi trúng khu vực thiền viện nhưng dường như chẳng mấy ai hay biết, vì chúng rơi vào đống cát khổng lồ và không phát nổ. (Mối nhân duyên giữa tâm Từ của Ngài và một sĩ quan cao cấp Nhật Bản có thể xem thêm trong cuốn sách Sức mạnh Tâm Từ).

Đến ngày Chủ nhật, mùng 10 tháng Wagaung năm 1307 (2/9/1945), Thế chiến thứ hai kết thúc. Trong thời gian chiến tranh, đôi mắt của Ngài dần bị đục thủy tinh thể và không còn nhìn thấy rõ. Ngài đã an ủi các đệ tử rằng: "Ta đã có Pháp nhãn (mắt Pháp) rồi. Các con đừng lo lắng cho ta. Hãy tự mình nỗ lực thực hành Pháp của chính mình."

Vào thời điểm quân đội Anh quay trở lại, họ đã nã pháo vào thành phố Monywa từ đằng xa. Một quả pháo đã rơi trúng ngay chỗ Ngài đang đi kinh hành. Ngài bị áp lực quả pháo hất ngã xuống trong tư thế ngồi. Tất cả đồ vật xung quanh đều bị nghiền nát tan tành. Những người xung quanh hoảng hốt vây lại vì nghĩ rằng Ngài đã viên tịch, nhưng kỳ lạ thay, Ngài không hề bị thương tích gì. Dân chúng vô cùng vui mừng truyền tai nhau rằng Ngài "miễn nhiễm với bom đạn". Quả thật, Pháp luôn bảo hộ cho người thực hành Pháp.

### Già và Bệnh

Vào tháng Pyatho năm 1309 (19/12/1947), Ngài được bác sĩ Chan Tate điều trị bệnh mắt tại Bệnh viện Đa khoa Yangon. Ngài lại dùng lời dạy tâm đắc để an ủi những đệ tử đang lo lắng: "Làm thì thành mới, mà có thì là cũ" (mọi thứ sinh ra rồi cũng sẽ suy tàn theo quy luật tự nhiên). Thời gian Ngài nằm viện trùng với ngày lễ trọng đại công bố Độc lập của đất nước (4/1/1948). Ngài đã yêu cầu đặt một pho tượng Phật lên bàn, thức dậy từ 3 giờ sáng để hành lễ.

### Bậc A-la-hán và các bậc Vĩ nhân

**499**

Ngài dâng nước cúng dường, thắp đèn dầu hổ trợ. Ngài đọc các bài kệ Jayamaṅgalā Gāthā (Kệ Thắng Cát Tường), thỉnh chư Thiên chứng giám và phát nguyện bằng lời: “Cầu mong nền độc lập vĩ đại này trường tồn mãi vĩnh viễn hàng vạn năm”, rồi Ngài gửi lời chúc phúc và lòng từ ái vô biên. Một mắt của Ngài thị lực đã hồi phục tốt, nên Ngài tiếp tục thuyết giảng pháp bảo truyền dạy cho đại chúng như trước đây.

Năm 1310 (17/12/1948), Ngài bị bệnh phổi và phải điều trị tại bệnh viện trong năm tháng. Sau đó, vào năm 1315 (03/06/1953), Ngài lại phải nhập viện một lần nữa vì các vết tổn thương ở phổi. Lúc này Ngài đã 81 tuổi, nhưng nghị lực và sự tinh tấn vẫn không hề giảm sút.

Năm 1326, khi Ngài 93 tuổi, từ khoảng tháng Tawthalin trở đi, thân ngũ uẩn vốn “như bờ cát lở, già đi từng chút một, bị thiêu rốt như lửa đốt” này bắt đầu bị sự già yếu (già) và bệnh tật (bệnh) dày vò mỗi ngày một nặng nề hơn. Ngài không thể dùng được thức ăn gì, chỉ có thể ngậm nước súc miệng. Ngay cả khi đó, Ngài vẫn tự mình đi vệ sinh cách đó năm bộ.

Ngài nói: “Ta đã phát nguyện rằng khi nào không còn tự mình dọn dẹp uế tạp được nữa thì xin cho ta được xả bỏ gánh nặng thân xác này”, rồi Ngài tiếp tục quán chiếu thọ uẩn.

### Những sự kiện kỳ diệu khi Ngài viên tịch

Vào ngày mùng 8 tháng Tawthalin khuyết, các vị đại đệ tử và các bác sĩ chỉ còn biết túc trực bên cạnh và tụng đọc kinh Paṭṭhāna (Kinh Vị Trí). Ngài dạy rằng: “Gánh nặng thân này đã quá nặng nề rồi. Các con hãy sống chớ có dâng đầy sự phóng dật (chớ có dể duôi)”. Đúng 6 giờ 4 phút chiều ngày hôm đó, tâm tử (cuti) và nghiệp sắc thân (kammaja-rūpa) đã chấm dứt. Ngay lập tức, một trận động đất xảy ra. Một luồng hào quang rực rỡ (cầu vồng) xuất hiện phía trên ngôi chùa nơi Ngài an nghỉ. Chim chóc đồng loạt cất tiếng hót vang như đang đồng thanh xướng lên những lời kinh cảm niệm về sự vô thường (saṃvega-gīti). Điều kỳ lạ hơn cả là từ trên không trung vang lên những tiếng tù và, tiếng chiêng đồng, tiếng nhạc lễ rộn ràng. (Bác sĩ Thein Aung, người chăm sóc sức khỏe cho Ngài, kể lại rằng: “Ngài biết trước khi nào mình sẽ đến, khi nào không, và Ngài biết rõ mọi phương pháp điều trị của bác sĩ trước khi chúng được thực hiện”.)

Kim thân của Ngài được đưa vào bảo tháp chứa di cốt Mahā Bodhi vào lúc 4 giờ chiều ngày 12 tháng Tawthalin khuyết. Vào ngày Ngài viên tịch, các loài hoa trong chùa nở rộ trái mùa, tất cả đều hướng về phía ngôi chùa nơi Ngài tịnh cư như đang cúi đầu đảnh lễ. Điều gây kinh ngạc hơn cả là cây Bồ-đề lớn 45 tuổi, vốn được xem như cùng tuổi với Ngài, đã rụng hết lá và khô héo ngay trong ngày hôm đó.


Đại trưởng lão Mohnyin Sayadaw đã để lại di sản gồm 36 bộ kinh sách lớn nhỏ, mang lại lợi ích to lớn cho chúng sinh. Ngài đã chứng minh cho đức tính Sandiṭṭhika (Thiết thực hiện tiền) của Giáo pháp, cho thấy rằng việc thực hành thiền tuệ (Paṭipatti) không phải là vì lợi ích cá nhân, mà là món vũ khí lợi hại nhất để cứu độ chúng sinh.

(Để biết chi tiết về tiểu sử của Ngài, xin xem cuốn “Mohnyin Therāpadān” do Ngài U Kovida soạn.)

Đại trưởng lão Mohnyin Sayadaw là bậc vĩ nhân thành tựu và nổi tiếng không ai sánh kịp trong thời đại của mình. Nhưng đối với những bậc vĩ nhân như vậy, đi cùng với sự thành công và danh tiếng luôn là những sự phản kháng và trở ngại. Những kẻ thiếu phước báu sẽ phải chịu quả báo nặng nề.

Danh sách các vị đại đệ tử của Ngài được khắc tại bảo tháp di cốt Mahā Bodhi. Ngài Aggamahāpaṇḍita U Indriya đã thay mặt Đại trưởng lão duy trì sự nghiệp hoằng pháp tại tu viện Mohnyin, Yangon cho đến khi Ngài ngoài 90 tuổi.

### Niết-bàn có thể đạt được ngay bây giờ

“Ngày nay, bằng cách thường xuyên quán chiếu theo sự hướng dẫn trong kinh Satipaṭṭhāna (Kinh Niệm Xứ), những ai nỗ lực thực hành trong vòng một hoặc hai tháng có thể chứng ngộ được Đạo, Quả và Niết-bàn, số người như vậy hiện nay rất nhiều.”

— **Mahāsi Sayadaw**



### Sayadaw dạy thiền Niệm Xứ tại Moulmein

Ngài Shweminwun U Kosalla Sayadaw, bậc pháp sư nổi tiếng của dòng thiền Mohnyin từ vùng núi Shweminwun, đã cùng với Ngài Mahāsi Sayadaw đến Yangon vào năm 1311 để hoằng truyền pháp môn Niệm Xứ. Không lâu sau đó, Ngài đã thành lập riêng một thiền viện mang tên Shweminwun Sāsana Yeikthā tại Yangon.

Trong danh sách các vị đại đệ tử còn có tên “Ngài trụ trì làng Hteinkan U Paṇḍava”, một vị thiền sư có tiểu sử vô cùng đặc biệt trong lịch sử thực hành pháp môn thiền định. Ngài U Paṇḍava sinh vào chiều thứ Năm, lúc 3 giờ, ngày 14 tháng Tagu năm 1259, là con của ông U Pho Khaung và bà Daw Nu, tại làng Hteinkan, phía bắc thị trấn Myinmu. Tên thuở nhỏ của Ngài là Maung Moe. Ngài là vị thiền sư đã dành cả đời mình cho sự nghiệp hoằng truyền pháp môn thực hành (Paṭipatti) cho đến khi ngoài 90 tuổi.

Khi còn trẻ, Ngài học giáo lý tại làng Hteinkan và tại tu viện Shwegyin Mahāvisuddhārāma ở Mandalay, sau đó Ngài đã đến nương tựa và thực hành thiền dưới sự chỉ dạy của Đại trưởng lão Mohnyin Sayadaw trong khoảng một năm. Tiếp đó, Ngài lưu trú tại tu viện Shwegyin ở Taungwainggyi, Moulmein và đã cùng với các nam nữ cư sĩ đệ tử của mình thực hành thiền Niệm Xứ dưới sự chỉ dẫn của một vị thiền sư là cư sĩ. Vị thiền sư cư sĩ đó là ông U Min Din người Mae Sot, vốn là đệ tử của Ngài Thaton Jetawun Sayadaw vĩ đại.

Việc một vị trụ trì thông kinh điển, có uy tín lớn mà lại có thể hạ mình đi học thiền từ một cư sĩ—người thuộc về một dòng phái khác với phái của mình—là một sự hy sinh và lòng đức tin không hề tầm thường. Ngài quan niệm rằng, dù sắc lệnh của vua được một người lính đánh trống đọc lên, thì sắc lệnh đó vẫn là lệnh của đức vua. Chánh pháp của bậc thiện trí (Saddhamma), hay bản thân bậc thiện trí, vốn không có màu sắc hay ranh giới dòng phái. Tuy nhiên, một số vị cùng dòng phái có cái nhìn hạn hẹp, luôn tự đóng khung Chánh pháp và đời sống của bậc thiện trí, đã không thể hài lòng với hành động này của Ngài.

Dù vậy, Sayadaw U Paṇḍava sau khi đã học tập và thực hành thuần thục dưới sự hướng dẫn của vị thầy cư sĩ đó, Ngài đã mở trung tâm thiền và đích thân hướng dẫn thiền. Sau này, Ngài còn tiếp tục thực hành thêm dưới sự chỉ dạy của Ngài Jetawun Sayadaw vĩ đại. Vào thời điểm đó, Ngài U Sobhana—người sau này trở nên lừng lẫy với danh hiệu Mahāsi Sayadaw—cũng đã thực hành thiền với Ngài Jetawun Sayadaw và đang giảng dạy giáo lý tại vùng Taungwaing Galay. Hai vị Sayadaw thường xuyên gặp gỡ và thảo luận giáo pháp mà không hề có sự phân biệt giữa các dòng phái Sudhamma hay Shwegyin.




Ngài Sayadaw U Paṇḍava đã hết lòng ủng hộ mọi mặt, không thiếu sót điều gì, từ các kỳ thi Luật tạng (Vinaya) toàn vùng Mawlamyine trở đi. Ngài cũng rất rộng rãi trong việc bố thí. Tại kỳ thi Luật tạng, chính Ngài là vị Sayadaw đã đề xuất và hỗ trợ, khuyến khích việc tụng đọc phần ý nghĩa của đại kinh Satipaṭṭhāna Pāḷi.

Một lần nọ, khi Đại trưởng lão Sayadaw Mohnyin đến Mawlamyine để thuyết pháp, Ngài U Paṇḍava đã đến đảnh lễ. Đại trưởng lão Mohnyin vốn đã biết trước rằng Ngài U Paṇḍava đang làm đệ tử của Đại trưởng lão Sayadaw Jetavan (Thaton), đang thực hành và truyền dạy pháp hành theo phương pháp Satipaṭṭhāna, nên Ngài quay sang các đệ tử khác và phán rằng:

“Phải rồi... họ đã biết thì cứ để họ biết, ta có diệt thì cứ để ta diệt, chẳng phải vậy sao?”

Ngài không những không trách móc mà trái lại, mỗi khi có thời gian, Ngài còn lân mẫn đến tận tu viện Taungwaingyi để khích lệ.

Có một lần, Đại trưởng lão Sayadaw Mohnyin cùng với các đệ tử đến Taungwaingyi, đúng vào ngày làm lễ Uposatha (Bố-tát), nên Ngài đã cùng thực hiện lễ Bố-tát với chúng Tăng trong viện do Ngài U Paṇḍava dẫn đầu. Chẳng bao lâu sau, Ngài U Paṇḍava gặp phải rắc rối. Theo luật của tông phái (Nikāya), không được phép cùng thực hiện các Tăng sự (Kamma) lớn nhỏ với chư Tăng thuộc tông phái khác. Nếu vi phạm sẽ phải chịu hình phạt (daṇḍa).

Ngài U Paṇḍava đã phải chịu hình phạt "múc nước" (rạng-đan - ye-daṇḍa) tại kỳ thi Luật tạng trước sự chứng kiến của đông đảo chư Tăng trong tông phái. Sau khi thọ phạt, Ngài còn phải trình bày rõ trước đại chúng về lỗi lầm khiến mình bị phạt. Khi Ngài U Paṇḍava thọ phạt xong và trình thưa với chư Tăng, trong hàng ngũ tăng chúng bắt đầu có những tiếng xầm xì không hài lòng. Tuy nhiên, không ai có thể bắt bẻ hay tranh luận gì được, bởi cách hành văn trong lời trình thưa của Ngài U Paṇḍava như sau:

“Con đã thọ xong hình phạt nước mà chư Tăng trong tông phái đã ban cho. Chỉ vì con được kết giao với bậc thiện tri thức (bậc chân nhân) nên mới phải chịu hình phạt như thế này.”

Khi Sayadaw U Paṇḍava dạy đạo Satipaṭṭhāna tại Taungwaingyi, có hai vị là Ngài U Soma và Ngài U Kheminda thuộc tông phái Vajirārāma từ Tích Lan (Sri Lanka) đã đến và thực hành tại chỗ của Ngài trong khoảng hai tháng. Vị sư người Đức, Ngài Ñāṇapoṇika, cũng từng đến đảnh lễ và thọ giáo phương pháp thực hành vào thời điểm diễn ra kỳ Kết tập Kinh điển (Saṅgāyanā). Khi Ngài Sayadaw sang Tích Lan, tất cả đều đã cung đón và phục vụ Ngài rất chu đáo.

Sau khi độc lập, mặc dù Pháp học (Pariyatti) ở Mawlamyine rất hưng thịnh, nhưng lại thiếu vắng những người dẫn dắt và ủng hộ về phương diện Pháp hành (Paṭipatti). Do đó, Ngài Sayadaw đã dời đến khu vực Pauk-taw thuộc thành phố Mawlamyine, và vào ngày mồng 8 tháng Waso năm 1311 (tại thiền viện Mahāsi Yangon là tháng Nadaw), Ngài bắt đầu truyền dạy pháp hành Satipaṭṭhāna một cách vô cùng rộng rãi.

“Ngài Sayadaw Satipaṭṭhāna luôn luôn an trú trong chánh niệm,” chính Ngài Mahāsi Sayadaw đã ngợi khen và tôn kính như vậy. Sau khi Ngài Mahāsi Sayadaw viên tịch, Ngài U Paṇḍava đã đảm nhiệm vai trò thành viên Ban Cố vấn (Ovadācariya) của Thiền viện Mahāsi Yangon để tiếp tục công cuộc hoằng dương giáo pháp hành trì.




Trong chú giải kinh Đại Bát Niết-bàn (Mahāparinibbāna Sutta), sự lan tỏa và hưng thịnh liên tục của các bậc Thánh tri thức được ví như "**Naḷavanaṃ, Saravanaṃ** - rừng lau, rừng sậy". Khi một cây lau hay một cây sậy mọc lên, nơi đó sẽ phát triển thành một rừng lau, rừng sậy rộng lớn không dứt dòng giống; cũng vậy, khi một bậc Thánh nhân xuất hiện, sự việc cũng diễn ra tương tự như thế.

Với mục đích nêu bật sự hưng thịnh của các thế hệ đệ tử nối tiếp bắt nguồn từ các Ngài Mohnyin Sayadaw, Jetavan Sayadaw, cũng như để giúp mọi người có thể vượt qua những chấp thủ tầm thường trong việc thực hành giáo pháp của bậc chân nhân, tôi xin lược trích đôi nét về tiểu sử của Ngài Sayadaw Satipaṭṭhāna U Paṇḍava. (Để biết chi tiết hơn, xin mời xem trong cuốn sách "Đời sống và các đức tính Minh sát của Sayadaw Satipaṭṭhāna chùa Pauk-taw, Mawlamyine" của Ngài Ashin Paññissara "Hla Tway").

---

**Một đời và một vòng sinh tử**

“Nếu vì chịu khổ chỉ trong một ngày mà có được an lạc trong nhiều ngày, thì không nên sợ hãi cái khổ trong một ngày ấy. Nếu vì chịu khổ trong một tháng, một năm, hay chỉ một kiếp sống mà có được an lạc trong nhiều tháng, nhiều năm, và nhiều kiếp sống, thì không nên sợ hãi cái khổ trong một tháng, một năm, hay một kiếp sống ấy. Đừng nên nuông chiều theo ham muốn của tham ái, bỏn xẻn và dục vọng trong một ngày, một tháng, một năm hay một kiếp sống.

Hỡi người, hãy nhìn xa trông rộng, nên dấn thân tinh tấn trong giáo pháp của bậc chân nhân, sẵn lòng xả ly cả mạng sống để tìm cầu niềm hỷ lạc chân thật.”
— **Ngài Sayadaw Catugīri Taung-lay-lone (Bốn Ngọn Núi)**.



**Ngài Sayadaw Toà-ya Inn-ma-gyi, chùa Thein-taung**
(1237 - 1283)

**Dhammācariya U Htay Hlaing**

Ngài U Jotika của tu viện Inn-ma-gyi, chùa Thein-taung, cũng là một vị Sayadaw nổi tiếng từ khi còn trẻ, cùng thời kỳ với Ngài Ledi Sayadaw. Hiện nay, tu viện Thein-taung tại thị trấn Thae-daw là một cơ sở hoằng pháp lớn mạnh, tiếp nhận cả chư Tăng lẫn các Tu nữ, tu tập song hành cả Pháp học lẫn Pháp hành. Đây chính là di sản giáo pháp của hai vị Sayadaw là Ngài Inn-ma-gyi và Ngài Sayadaw Se-gyi (thứ hai), những bậc toàn tài về cả Pháp học lẫn Pháp hành. Các chi nhánh của tông phái Thein-taung cũng đang phát triển hưng thịnh tại các thành phố như Taunggyi, Kalaw...

Vị Sayadaw tôn kính U Jotika, người đã khai sáng tông phái Thein-taung toàn diện này, sinh vào thứ Ba, ngày trăng tròn tháng Tagu năm 1237, tại làng Zay-ywa-gyi gần thành phố Nyaung-yan. Ngài thọ giới Tỳ-khưu năm 1257 và theo học Pháp học (Pariyatti) tại tu viện Mo-ta và tu viện Shwe-yay-saung ở Mandalay. Từ khoảng hạ lạp thứ sáu, Ngài bắt đầu vào rừng hành đạo tại vùng núi Sagaing, sau đó là núi Pyet-kha-yway ở phía đông thị trấn Thae-daw.

Ngài Sayadaw thường từ núi Pyet-kha-yway đi xuống khất thực tại chín ngôi làng cụm Phaya-su. Cụm chín làng này nằm cách tu viện Thein-taung hiện nay khoảng 4 dặm về phía bắc, với tổng cộng khoảng một ngàn hộ gia đình. Khi Ngài vào làng Kan-thit khất thực, một vị thầy thuốc chữa mắt tên là Saya Shein đã quan sát và nhận định:

“Chà... vị sư này trông thật đáng cung kính, nhưng dường như một bên mắt không được tốt lắm.”

Vừa quan sát, ông vừa đi theo sau, sau đó đã trình thưa rõ ngọn ngành và chữa trị cho một bên mắt bị màng đục của Ngài.

Trong thời gian chữa mắt, Ngài trú ngụ tại ngôi chùa rừng vốn là ngôi giới đàn (Sīmā) của các bậc A-la-hán (từ thời vua Anawrahta) gần cụm chín làng Phaya-su. Sau khi chữa khỏi mắt, ông U Shein không muốn Ngài quay lại núi Pyet-kha-yway mà đã thỉnh cầu Ngài hãy trú ngụ tại một nơi nào đó gần đây thích hợp để ẩn tu. Ngài đã đi khảo sát một khu rừng lớn ở phía tây bắc cụm chín làng Phaya-su.

Nơi đó có nhiều đầm nước (inn), rừng rậm rạp và vắng bóng người, nên Ngài đã chọn chính nơi ấy để lập am thất ẩn tu. Thấy vậy, Saya Shein thưa rằng:

“Bạch Ngài, nơi này ngay cả giữa ban ngày, nếu có lạc mất bò thì những người chăn bò cũng không dám đi vào. Thú dữ rất nhiều, lại có nhiều chuyện ma quái kinh sợ. Xin Ngài hãy xem xét một nơi khác.”

Nhưng Ngài không chấp thuận và phán rằng: “Ta lại chính là thích nơi này.”




Ngài nói: “Này thí chủ”, thế là một ngôi chùa nhỏ bốn cột đã được dựng lên và cúng dường. Về phần Ngài, Ngài chỉ mong muốn dựng một túp lều tạm bợ một mái mà thôi.

Sau đó, đệ tử và thiện nam tín nữ dần dần trở nên đông đúc, nơi đây được biết đến rộng rãi với cái tên “Thiền viện In-ma-gyi”. Vào năm 1263 (Miến lịch), ông U Set Kalay từ làng Kyauk-pyoke-kone, cụm Tháp Phật (Phaya-su), đã xây dựng và cúng dường một ngôi chùa hành thiền lớn dài sáu mươi hắc tay nối liền với một hang động (gu). Thiền viện In-ma-gyi được bao quanh bởi ba ngọn núi, đầm hồ san sát, nên rất phù hợp với việc thực hành Samatha (Thiền Định) và Vipassanā (Thiền Tuệ).

Trong thời gian cư ngụ tại đây, vào năm 1270, theo lời thỉnh cầu của ông U Set Kalay và ông U Thu Daw (người hộ trì hang động lớn ở thị trấn Thae-taw), Ngài đã biên soạn tác phẩm “Saṃvega Kammaṭṭhāna Kyan” (Tạm dịch: Luận về Pháp hành hướng tới sự tỉnh giác). Tác phẩm được ấn hành tại nhà in Kawi Myet-mhan vào tháng Wagaung năm 1274. Nội dung lấy việc tu tập Ānāpāna (Niệm hơi thở) làm Pháp hành chủ đạo, đồng thời viết những lời khuyến tấn về bốn pháp bảo hộ (Caturārakkha Kammaṭṭhāna) như Buddhānussati (Niệm Phật), Mettā (Tâm Từ)... sách dày 188 trang.

### Khởi nguồn lịch sử của hệ phái Theim-taung

Đọc những dòng thủ bút bằng chì trong tập nhật ký ngắn của Ngài Sayadaw chùa See-gyi-taw-ya (U Javana) – vị đệ tử lớn của Ngài Sayadaw In-ma-gyi, đồng thời là Ngài Sayadaw Theim-taung đời thứ hai – với tiêu đề “Thư răn dạy các đệ tử”, người viết không khỏi hoan hỷ khi có cơ hội tìm hiểu và chiêm bái về khởi nguồn lịch sử của hệ phái Theim-taung. Trong đó cũng có những điều thấy thật kinh ngạc và rùng mình.

[Bản thảo thủ bút của Ngài Sayadaw lớn được nhận từ vị Ni trưởng là cháu gái của Ngài. Vị Ni trưởng này – thường được gọi là Bà nội nhỏ (A-hpwa-lay) – hiện đang cư ngụ tại khu nhà nghỉ chùa Mogok, tu viện Htee-lin, phía nam núi Mandalay.]

### Mỗi vị sư một chiếc thủ cấp
“Thư răn dạy các đệ tử”

[Khi Ngài Sayadaw In-ma-gyi còn ở trong ngôi chùa nhỏ bốn cột, có một nữ ngạ quỷ lớn (pittā) đến quấy nhiễu, Ngài dạy rằng:

“Này thí chủ, hãy cứ làm công việc của loài ngạ quỷ trong cảnh giới của mình đi. Ta vào thời còn là ngạ quỷ cũng đã từng đi nhát người khác vậy. Nay đã là tu sĩ, ta phải làm công việc của một tu sĩ.” (Đêm thứ nhất). Sang đêm thứ hai, một con rắn lớn từ hướng tây nam bò đến, ngóc cổ phình mang và phun phè phè ngay trên đầu Ngài.



Ngài dạy: “Ngươi là rắn thì hãy làm việc của loài rắn. Ta là bậc tu hành trong rừng thì phải làm việc của người tu hành. Ngươi cứ việc phun hơi theo ý muốn đi.” Con rắn bèn bò xuống. (Đêm thứ hai).

Sau khi thọ nhận giáo pháp từ Ngài U Tiloka ở núi Thek-khya cùng với vị đạo sĩ U Kesara (người đã viên tịch tại Kalaw), Ngài Sayadaw See-gyi (U Javana) trở về In-ma-gyi. Ngài nỗ lực tu tập trong căn phòng đóng kín trên lối đi hành thiền dài sáu mươi hắc tay.

Ngài thực hành với lời đại nguyện: “Trình lên bậc **Jotika** ở trên, thấu đến bậc **Tiloka** ở dưới”. Phía sau tháp Phật, trên lối đi bộ nhỏ, ông U Kesara trong hình tướng Sa-di cùng với thầy trò đã dấn thân tu tập bất chấp tính mạng. Sau đó, rời khỏi đường hành thiền, vào năm Ngài Sayadaw Ledi an cư tại Myingyan, họ đã đến để trình Pháp và cầu xin sự chỉ dạy:

“Bạch Thầy, bỏ mặc đại giáo pháp (Sāsanā) là điều không nên. Xin Thầy hãy thuyết giảng và truyền dạy các đề mục thiền định (Kammaṭṭhāna).” Sau đó, Ngài bắt đầu dần dần truyền dạy Kammaṭṭhāna. Ngài không nhận quá mười đệ tử cùng lúc và rèn luyện họ vô cùng nghiêm khắc.

Năm giờ chiều đi gánh nước. Dâng hoa, nước, đèn lên Phật; sáu giờ tối làm lễ bái Tam bảo. Xong xuôi thì ôn tụng kinh văn. Sau chín giờ tối, tất cả cùng nhau thọ trì hạnh đầu đà nghĩa địa (susāna dhutaṅga) rồi đi ra nghĩa trang. Trước bốn giờ sáng, họ phải vác những chiếc thủ cấp (sọ người) từ nghĩa địa về; năm giờ sáng húp cháo. Sau đó học đạo và đi khất thực. Một giờ trưa nghỉ ngơi, rồi lại tiếp tục học đạo, ôn kinh, dâng nước sạch, quét dọn và tinh tấn tu tập không ngừng.

Ngài quy định: “Mỗi vị sư một chiếc thủ cấp, một am thất”. Theo lời dạy của thầy, mỗi vị ở cùng một chiếc đầu lâu trong am để chiến đấu với phiền não (kilèsa).

Sau đó, theo lời thỉnh mời của các cư sĩ như cụ U Hmin-khè, ông U Pho Hlè, thí chủ chùa U Pho Kar và bà Daw Si Pu, họ đã đến chùa Yay-le tại làng Lein-pin. Sau khi thuyết Pháp được hai đêm, vào sáng sớm, Ngài cùng với vị sư nguyên là trung sĩ (Sergeant) ở làng Nyaung-pin cùng ba vị nữa đã đến xem địa điểm chùa Theim-taung. Lúc ấy nơi đây bụi rậm bao phủ, gai góc mọc đầy.

Về sau, Ngài U Javana đến Yangon nghe Pháp từ Ngài Sayadaw Ledi, rồi lại đến chỗ Ngài U Tiloka để nỗ lực hành trì. Sau mùa an cư, Ngài đi đến Thaton và cư ngụ tại Thiền viện Taung-waing-gyi. Trong lúc đó, Ngài Sayadaw In-ma-gyi nhắn rằng: “Vào ngày rằm tháng Tazaungmon, ta đã đến địa điểm Theim-taung rồi, hãy trở về đi”, nên Ngài đã quay về. Ngài Sayadaw đặc biệt thuyết giảng và hướng dẫn cách thực hành Tâm Từ.]

(Cách thực hành Tâm Từ sẽ được trình bày cụ thể trong chương về “Ngài Sayadaw Thiền viện See-gyi”). Ghi chép này chỉ có bấy nhiêu. Dù có ý định viết tiếp nhưng Ngài đã không thực hiện, trong nhật ký chỉ thấy ghi lại những sự việc khác.




### Phương pháp đánh giá nội lực qua văn phong và lời nói

Ngài Sayadaw In-ma-gyi nổi tiếng là bậc song toàn cả về Pháp học (Pariyatti) và Pháp hành (Paṭipatti), đồng thời cũng lừng danh về khả năng viết lách và thuyết giảng. Năm 1269, Ngài rời Thiền viện In-ma-gyi để chuyển đến địa điểm Thiền viện Theim-taung hiện nay. Ngôi chùa này được tương truyền là nơi tọa lạc của một ngôi giới đàn (sīma) của các bậc Alahan thời xưa. Có lời sấm truyền rằng: “Tại núi Theim-taung, ánh sáng kim cương sẽ tỏa rạng.”

“Đối với sắc pháp được gọi là hơi thở ra và hơi thở vào này, phải dùng **Vipassanā** (Minh sát) để nắm bắt trong mỗi lần thở ra và mỗi lần thở vào. Cách nắm bắt là phải quán chiếu sao cho thấy rõ sự hoại diệt trong mỗi hơi thở ra, sự hoại diệt trong mỗi hơi thở vào. Đây chính là **Anicca** (Vô thường). (Các tướng **Dukkha** [Khổ] và **Anatta** [Vô ngã] sau đó sẽ trở nên dễ dàng nhận diện).

Tâm ghi nhận, tâm lấy hai hơi thở ra và hơi thở vào đó làm đối tượng được gọi là Danh pháp (Nāma). Cũng hãy quán chiếu sao cho thấy rõ sự ‘vô thường do biến diệt’ trong mỗi lần thở ra và mỗi lần thở vào của Danh pháp đó.

Trong số bốn mươi đề mục thiền định, **Ānāpānassati Kammaṭṭhāna** (Niệm hơi thở) này là đề mục dễ dàng nhất để duy trì sự tu tập liên tục. Tuy nhiên, nói là dễ nhất nhưng cũng chỉ dễ đối với những người rèn luyện và thực hành nhiều lần; còn với những ai không nỗ lực tu tập thì chẳng thể nào dễ dàng được. Do đó:

Khi các bậc trí giả nói rằng **Ānāpāna Kammaṭṭhāna** là việc dễ thực hiện, các con hãy nỗ lực hết sức để có thể tin tưởng và thực hành theo cả thân lẫn tâm, đừng để tâm hay thân khởi sự phản kháng và cho rằng đó là việc khó.

Đức Thế Tôn cũng đã dùng vô vàn lời tán thán với những công đức ưu việt, vượt trội hơn hẳn so với các đề mục thiền định khác. Các bậc Đại luận sư cũng gọi đây là ‘**Mahāpurisabhūmi**’ (Cảnh giới của bậc Đại nhân). Đây không phải là đề mục thiền định dành cho những hạng phàm phu tục tử hay những vị tu sĩ tầm thường. Đây là pháp thiền chỉ xứng hợp với những bậc đại trí luận sư, những bậc đại trí giả và các vị tỳ-kheo uyên bác. Chính vì lẽ đó:

Cần phải nỗ lực tu tập thật nhiều để xứng đáng là bậc đại trí giữa hàng cư sĩ, xứng đáng là bậc đại trí giữa hàng tu sĩ. Nếu không nỗ lực, các con sẽ bị rơi vào hàng ngũ phàm phu và tu sĩ tầm thường mà thôi. Điều đó thật đáng hổ thẹn. Hỡi các bậc thiện tri thức trí tuệ, hãy luôn giữ sự tỉnh giác cao độ.”

Đây là một đoạn trích từ tác phẩm “Saṃvega Kammaṭṭhāna Kyan”. Qua đó, chúng ta có thể đánh giá được sự thâm hiểu sâu sắc của Ngài đối với **Ānāpāna Kammaṭṭhāna**, cũng như thấy được uy lực và nội lực toát ra trong văn phong của Ngài. Đối với các hành giả...

---END---

Bậc Đạo sư có thể tiếp nhận được di sản **Tuệ giác (Pañña)** từ đoạn văn ấy. (Những bài viết từ bộ kinh văn về Kammaṭṭhāna này đã từng được đăng dưới dạng các bài báo trên tờ "Báo Pháp học Ledi" và tập san "Thế giới Phật pháp - Buddhadhamma Loka" vào năm 1959).

#### Pháp thoại và những năng lực khác

Liên quan đến việc thuyết giảng pháp thoại, xin được dẫn ra những lời giáo giới của Ngài Đại đức U Ādicca – vị cao tăng đã 80 tuổi, là bậc Trưởng lão thứ ba của tông phái Thိမ်တောင် (Theimtaung) tại thị trấn Kalaw:

“Theo những gì chúng tôi ghi nhận được, một điểm đặc biệt là mỗi khi Ngài thuyết giảng về bất kỳ giáo pháp nào, dù là về Bố thí (Dāna), Trì giới (Sīla) hay Hành thiền (Bhāvanā), thính chúng khi nghe xong đều khởi lên tâm nguyện tha thiết muốn thực hành ngay lập tức. Nếu Ngài giảng về sự Bố thí, họ cảm thấy chỉ cúng dường bấy nhiêu thôi là chưa đủ, mà trong tâm cứ thôi thúc mong muốn được về nhà lấy thêm lễ vật đến để dâng cúng.”

(Điều này có thể so sánh với khi Đức Thế Tôn thuyết Pháp: "**Samuttejesi** = làm cho phấn chấn, tha thiết; **Sampahaṃsesi** = làm cho hỷ lạc, phấn khởi").

“Một điểm nữa là khi còn ở Thိမ်တောင်, Ngài đã dặn vị sư phụ trách nhà ăn rằng: ‘Này sư, nếu cần gạo hay dầu thì hãy báo cho tôi biết trước khoảng bảy ngày nhé’. Ngay cả những khi có đông đảo khách tăng và thiện tín ghé thăm, Ngài cũng dặn vị sư nhà ăn như vậy. Một ngày nọ, dù gạo và dầu vẫn còn khá đủ, vị sư nhà ăn lại nghĩ rằng: ‘Ngài cứ dặn đi dặn lại mãi, không biết có ẩn ý gì không? Thôi thì mình cứ thử xem sao’, thế là vị ấy liền thưa rằng gạo và dầu sắp hết rồi. Ô kìa... chỉ một lát sau khi thưa chuyện, các toa tàu hỏa và xe tải đã chở gạo và dầu đến cúng dường thật.”

#### Ánh sáng rạng ngời vào đêm cuối cùng

Vì Ngài luôn thực hành các hạnh Đầu đà (Dhutanga) một cách tinh tấn và nghiêm ngặt, nên thọ mạng của Ngài không dài. Ngài viên tịch vào năm 46 tuổi, với 26 hạ lạp.

Trong suốt sáu ngày trước khi viên tịch, Ngài không dùng vật thực, không tiếp đón đệ tử hay người ngoài. Chỉ có duy nhất một đệ tử lớn là Ngài trưởng lão chùa Segyi Tawya ở bên cạnh chăm sóc và quan sát ngày đêm. (Theo lời kể của Ngài trưởng lão chùa Segyi với người cháu gái của mình): Bậc Đạo sư luôn nằm ngửa trên giường, chỉ chuyên tâm nhất ý chú niệm vào hơi thở (Ānāpāna).


Ngài hành thiền một cách liên tục không ngừng nghỉ. Vào đêm trước khi viên tịch, chính Ngài trưởng lão chùa Segyi đã tận mắt chứng kiến những luồng ánh sáng rực rỡ tỏa ra xung quanh cổ và phía trên vai của bậc Đạo sư, xòe rộng như đuôi công đang múa. Những ghi chép về Ngài trưởng lão Inma Gyi – vị khai sáng tông phái Thိမ်တောင် vĩ đại – mà chúng tôi tìm thấy được chỉ bấy nhiêu đây thôi.

(Về những sự kiện phi thường khi Ngài và Ngài trưởng lão chùa Segyi Tawya đến nghe pháp tại nhà cư sĩ Saya Thet Gyi ở làng Dala Pyawbwai Gyi, xin mời đọc thêm trong cuốn sách “Saya Thet Gyi”).


