## TRANG 100 **Dhamma-cariya U Htay Hlaing** **Đại đức Prāṇadassī – Vị Đắc Thần Thông, Kiến Giải Sâu Sắc** Trong lịch sử truyền thừa giáo pháp (sāsanavaṃsa) tại Thaton, dường như có rất nhiều bậc Thánh tăng A-la-hán đắc Thiền định và Thần thông (jhānābhiññā). Đây là kết quả thành tựu từ công cuộc hoằng pháp của Ngài Soṇa và Ngài Uttara – thành viên của phái đoàn truyền giáo đến chín phương (Cửu địa) vào năm 235 Phật lịch. Các sử gia và soạn giả của *Paritta Nidāna* ghi chép rằng cho đến thời vua Manuha, dòng dõi các bậc A-la-hán tại đây vẫn được duy trì liên tục, không hề đứt đoạn. Nói một cách chính xác, cũng giống như lời mô tả trong *Paritta Nidāna* và chú giải *Vibhaṅga* về lịch sử thực hành giáo pháp tại đảo quốc Sīhaḷa (Sri Lanka) rằng: “Các bậc Thánh phi hành trên hư không nhiều đến mức dân chúng không thể phơi lúa trên sân; hễ là bậc xuất gia thì hiếm khi còn là phàm nhân”, chúng ta có thể suy đoán rằng đất nước Myanmar thời bấy giờ cũng hưng thịnh tương tự như vậy. Sử liệu ghi lại rằng tại Thaton, Trưởng lão Anomadassī – một bậc đắc thiền định (jhāna samāpatti) – đã thống lĩnh 500 môn đồ, kế thừa và gìn giữ trọn vẹn di sản của Ngài Soṇa và Ngài Uttara. Trong số các đệ tử của Ngài, Đại đức Prāṇadassī là vị nổi danh nhất. Ngài chính là thầy của bậc thầy của Ngài Shin Arahan. Trong dòng dõi 52 đời vua Thaton (hoặc 82 đời theo văn bia Manuha), Ngài là quốc sư của ba đời vua liên tiếp: Mandakarājā (đời 49), Adindarājā (đời 50) và Udindarājā (đời 51). Văn bia Kalyāṇī tại Pegu đã ghi lại danh hiệu của Ngài: **“Prāṇadassī (la) so tu lokiyajjhānābhiññālābhī”** (Prāṇadassī là vị đã chứng đắc các tầng thiền và thần thông hiệp thế). Nội dung văn bia khi được dịch ra có ý nghĩa như sau: “Đại đức Prāṇadassī là bậc đắc thiền định và thần thông hiệp thế. Mỗi ngày, từ vương quốc Thaton, Ngài khởi hành sớm để đến quét dọn sân đại bồ đề (Mahābodhi) tại Magadha (Ấn Độ). Sau đó, Ngài trở về Thaton để thọ thực. Ngài luôn duy trì công việc quét dọn và khất thực này hàng ngày. Một lần nọ, các thương gia từ Magadha cư ngụ tại thị trấn Uruvelā đến Thaton (còn gọi là Sudhammapura) để buôn bán, họ kể với người dân Thaton rằng đã thấy Đại đức Prāṇadassī quét dọn sân đại bồ đề mỗi ngày. Khi biết Ngài vẫn có mặt tại Thaton để khất thực hàng ngày, dân chúng mới thấu hiểu và tin kính rằng Ngài là bậc đã đắc các tầng thiền và thần thông (samāpatti).” Trong lịch sử thực hành giáo pháp tại Myanmar, Ngài là vị Trưởng lão cần được ghi danh đặc biệt dựa theo các bằng chứng văn bia. *Suvaṇṇabhūmi (theo quan điểm đa số) bao gồm các đảo Sumatra, Java (Yava).* ## TRANG 101 Bao gồm cả Thaton và vùng Rāmaññadesa. Chú giải *Nidāna Saṅgītikathā* ghi chép rằng khi Ngài Soṇa và Ngài Uttara đến hoằng pháp, đã có sáu mươi ngàn người đắc được Pháp nhãn (tây: Tứ thánh đế). Thời bấy giờ, không chỉ nam giới mà cả nữ giới cũng gia nhập giáo đoàn (với tư cách là Thập giới nữ – sikkhamāna hoặc Trưởng lão ni – therī). Các nhà nghiên cứu lịch sử hiện đại dựa trên nhiều bằng chứng văn bia chỉ ra rằng giáo đoàn Tỳ-khưu-ni đã tồn tại cho đến tận thời kỳ Bagan. (Vấn đề này cần được tiếp tục nghiên cứu sâu hơn.) ### Suvaṇṇabhūmi – Vùng Đất Không Thể Tách Rời Với Myanmar Bên cạnh đó, thông tin về các bậc A-la-hán tại tu viện Kelāsa thuộc Thaton (Suvaṇṇabhūmi) cũng được tìm thấy trong *Mahāvaṃsa* (Đại Thống Sử), chương 29, kệ số 43. Khi vua Duṭṭhagāmaṇi tổ chức lễ đặt đá xây dựng Đại Bảo Tháp (Mahācetiya), các bậc A-la-hán từ khắp nơi đã phi hành đến đảo Sīhaḷa. Từ tu viện Kelāsa, Trưởng lão A-la-hán Suriyagutta đã dẫn đầu một đoàn gồm rất nhiều vị A-la-hán (chừng sáu mươi ngàn vị – saṭṭhi sahassa) đến tham dự lễ hội này. Theo cuốn 'Lịch sử Phật giáo' của Tiến sĩ Shivali người Sīhaḷa, xá-lợi của Ngài Soṇa và Ngài Uttara – những vị lãnh đạo phái đoàn hoằng pháp Suvaṇṇabhūmi – được tôn thờ trong đại tháp “Nakhon Pathom” (Nagara Pathama) tại Thái Lan. Tuy nhiên, người dân Myanmar lại tin tưởng rằng khi hai Ngài nhập Niết-bàn, nhục thân của các Ngài đã biến thành đá, hiện vẫn có thể chiêm bái tại núi Kusināru, cách thị trấn Bilin khoảng ba dặm. Người Myanmar luôn khẳng định Suvaṇṇabhūmi chính là Thaton, điều này được lưu truyền qua nhiều thế hệ. Tính xác thực của khẳng định này có lẽ sẽ sớm được làm sáng tỏ. Bởi hiện nay, Bộ Khảo cổ thuộc Chính phủ đang tiến hành khai quật tại các làng Winka và Ayettheima thuộc vùng Thaton-Kyaikto. Vào năm 1976, họ đã phát hiện những nền gạch lớn (có thể là kiến trúc tu viện Saṅghārāma?) kỳ lạ và đáng kinh ngạc, tương tự như phế tích tu viện Jetavana ở Trung Ấn. Hy vọng rằng ngành khảo cổ sẽ sớm giải mã được những bí ẩn trong “Lịch sử cầm gậy” (Totehtan Rājavaṃsa) của Suvaṇṇabhūmi. Dưới tuệ nhãn nhìn thấu tương lai (Anāgataṃsa-ñāṇa) của Ngài Mahā Moggalliputta Tissa, Suvaṇṇabhūmi đã được chọn để trở thành nơi lưu giữ giáo pháp. Khi Phật giáo tại Ấn Độ và Sīhaḷa suy yếu hoặc gián đoạn, thì chính hệ tư tưởng Theravāda ## TRANG 102 **Dhamma-cariya U Htay Hlaing** Đã đứng vững như một pháo đài duy nhất cho toàn thế giới tại đế chế Bagan trong cương vực của người Myanmar; có lẽ không một nơi nào khác xứng đáng hơn vị trí này. Các bảo tháp quan trọng tại vùng Sri Ksetra cũng như thực trạng vật chất của giáo pháp hiện nay đều minh chứng cho tầm nhìn sáng suốt của các bậc Thánh tăng A-la-hán. Quả thực, Suvaṇṇabhūmi không thể là nơi nào khác ngoài Myanmar. ### Sự Phát Triển Của Các Pháp Thuật Ma Thuật (Vijjāmayiddhicariya) Di sản giáo pháp từ phái đoàn Cửu địa truyền đến Thaton và lịch sử Rāmaññadesa chỉ còn lưu lại dấu tích rõ nét đến thời của Đại đức Prāṇadassī và thời của Ngài Shin Arahan sắp được đề cập tới đây. Thời kỳ đó giáo pháp vô cùng hưng thịnh. Về sau, dưới triều đại của các vị vua kế cận, giáo pháp Theravāda thuần túy khi mờ khi tỏ, lúc thăng lúc trầm tựa như cánh chim chao lượn. Nhìn sang vùng Sri Ksetra cũng thấy tình trạng tương tự. Bà-la-môn giáo, Đại thừa giáo (phái Ari – pha trộn giữa Bà-la-môn và Theravāda) và Theravāda chính thống luôn tranh giành tầm ảnh hưởng lẫn nhau. Tại vùng Rakhine (vùng đất Kamyam), tình hình còn tệ hơn. Từ năm 518 TCN đến năm 720 SN, Bà-la-môn giáo và Đại thừa cực kỳ lớn mạnh và bành trướng thế lực. (Có thể xem thêm văn bia tại chùa Shite-thaung ở Mrauk-U). Nhìn về đảo quốc Sīhaḷa, tình cảnh cũng chẳng khá hơn. Do sự chèn ép của Bà-la-môn và Đại thừa, giáo pháp Theravāda phải rời khỏi Ấn Độ sang Sīhaḷa, nhưng tại đây lại gặp phải các tu sĩ Đại thừa phái Jetavanavāsī và Abhayagiri vốn ưa chuộng sự mới lạ và tân thời, khiến những bậc chân tu phải lánh nạn. Tại Thaton dưới thời vua Manuha, quốc gia bất ổn. Các pháp thuật phù thủy của Đại thừa (Vijjādhara) dường như chiếm thế thượng phong. Mặc dù câu chuyện về thầy trò Byat Wi và Byat Ta không thể coi là hoàn toàn xác thực, nhưng nó phản ánh đúng bản chất của thời đại đó. Việc Ngài Shin Arahan thỉnh Tam Tạng kinh điển về vương quốc Bagan có lẽ cũng là vì tình hình tại Thaton không còn thuận lợi, cần phải di dời kho báu giáo pháp. Dù thế nào đi nữa, rõ ràng tại vùng Rāmaññadesa, các tông phái Đại thừa như Tantrayāna (Mật tông) và Mantrayāna (Chú tông) đã bám rễ rất sâu. Đa số theo giáo phái Ari.