## TRANG 106 ### 4. Các bậc A-la-hán và những vĩ nhân thời kỳ Bagan #### Trưởng lão Shin Arahan *“Nawrahta kan, Arahan, khun pyan kya lar wae.”* (Kavi Lakkhana) Pháp danh của Ngài Shin Arahan là **Ashin Dhammadassī**. Ngài là đệ tử của bậc Thánh A-la-hán tôn quý hiệu là **Ashin Sīlabuddhi** tại vương quốc Thaton. Ngài được thầy tế độ và cho xuất gia từ thuở nhỏ. Ngài thông suốt cả bốn tập Veda cùng toàn bộ Tam Tạng Kinh điển (Piṭaka) và đã chứng đắc quả vị A-la-hán. Danh tiếng của Ngài vang xa đến mức các thí chủ từ thành Sokkate (thành phố Nontaburi, Thái Lan ngày nay) đã thỉnh Ngài đến đó trú ngụ. Sau hơn 10 năm hoằng pháp tại đó, Ngài trở về Thaton và ẩn tu tại một ngôi chùa rừng (tọa thiền tự). Thời điểm đó là năm 406 Miến lịch, khi **Đại vương Anawrahta** vừa lên ngôi tại vương quốc Bagan. Tại Bagan lúc bấy giờ, hệ tư tưởng tà đạo của các tu sĩ Ari truyền qua nhiều thế hệ vốn không nhận được sự đồng thuận của Đức vua, khiến người luôn trăn trở, phân vân. Biết được tâm tư ấy, để tạo niềm tin cho Đức vua, các tu sĩ Ari đã đục rỗng một cây vối rừng (thakhut) lớn ở vương quốc Sri Ksetra, nhét các kinh sách đại thừa vào trong, sau đó trát bùn và làm giả như lớp vỏ cây tự nhiên lâu năm. Xong xuôi, họ tung tin đồn cho thấu đến tai vua rằng có người nằm mộng thấy kinh văn quý ẩn trong cây vối rừng. Đức vua bèn sai quân binh đến đập thân cây ra xem, thấy trong đó có những bộ kinh chép rằng “các tu sĩ Ari có đức tin và hành trì đúng đắn, chính là đệ tử của **Đức Phật Gotama**”. Dù lòng vẫn còn nghi ngại, nhưng vì trách nhiệm quốc gia, Đức vua vẫn phải tiếp tục hộ trì họ. Thế lực của các tu sĩ Ari lúc bấy giờ không hề nhỏ, gồm 30 vị thủ lĩnh và 60.000 thuộc hạ. Bậc Thánh **Sīlabuddhi-arahant** tôn quý khi nghe được tình hình tại Bagan đã truyền dạy sự tình cho Ngài Shin Arahan và giao phó trọng trách đến Bagan để chấn hưng Giáo pháp. Ngài Shin Arahan khoác tấm da thú trên vai (vật trải ngồi), quảy bình bát, rời Thaton khởi hành. Khi đang nghỉ chân tại một khu rừng gần kinh thành Bagan, một người thợ săn đã bắt gặp Ngài; tưởng Ngài là người rừng (người lạ kỳ), người thợ săn liền đưa Ngài vào cung điện yết kiến vua. ## TRANG 107 Các tu sĩ Ari thường mặc y màu xanh đen, để tóc và râu dài, nên khi nhìn thấy diện mạo của Ngài Shin Arahan, mọi người đều thấy vô cùng kỳ lạ. Chỉ vừa nhìn thấy uy nghi đĩnh đạc của Ngài Shin Arahan, nhờ căn lành ba-la-mật, Đức vua đã nhận ra ngay rằng: “Người này không phải hạng phàm phu, mà chính là bậc thiện tri thức có pháp bảo trong lòng”. Để thử tâm tính, Đức vua mời: “Xin Ngài hãy chọn chỗ ngồi nào thấy phù hợp”. Ngài Shin Arahan liền bước lên ngồi ngay trên ngai vàng cao quý. Nhìn cách Ngài chọn nơi an tọa, Đức vua vô cùng hoan hỷ, xác tín rằng: “Đây đích thực là bậc Thánh nhân”. Sau đó, giữa hai người đã có cuộc đàm đạo như sau: Đức vua: “Bạch Ngài, Ngài thuộc dòng dõi nào? Từ đâu đến? Và Ngài thọ giáo theo giáo pháp của ai?” Trưởng lão đáp: “Tâu Đại vương, dòng dõi của bần tăng chính là dòng dõi của **Đức Phật Chánh Biến Tri Vô Thượng (Acinteyya Sammāsambuddha)**, Đấng trọn đủ 9 ân đức cao thượng. Bần tăng đến từ Thaton, nơi có thầy tế độ và các bậc đồng phạm hạnh của bần tăng. Bần tăng thọ trì giáo pháp do chính **Đức Thế Tôn Chánh Biến Tri** truyền dạy.” Đức vua: “Kính bạch Ngài, xin hãy thuyết giảng giáo pháp ấy cho trẫm nghe.” Trưởng lão liền thuyết giảng rộng về pháp **Appamāda** (Không phóng dật), nhắc nhở Đức vua không được lơ là trong các thiện pháp Bố thí, Trì giới và Tu tiến (giống như cách Sa-di Nigrodha đã thuyết cho đại vương Siridhamma Asoka ngày trước). Đức vua vô cùng hoan hỷ, bạch hỏi thêm: “Bạch Ngài, hiện giờ Đức Thế Tôn đang ở đâu? Giáo pháp của Người rộng lớn bao nhiêu? Và ngoài Ngài ra, còn có các vị đệ tử Tăng già nào khác nữa không?” Trưởng lão đáp: “Đức Thế Tôn đã nhập Niết-bàn, hiện chỉ còn lại các câu chuyện tiền thân (Jātaka). Toàn bộ Tam Tạng Kinh điển gồm 84.000 Pháp uẩn. Tại vương quốc Thaton hiện có tới 30 bộ Tam Tạng đầy đủ. Ngoài bần tăng ra, còn có rất nhiều chư Tăng khác nữa.” Đức vua thưa: “Kính bạch Ngài, thật hoan hỷ thay! Ngoài Ngài ra trẫm không còn nơi nương tựa nào khác. Trẫm xin dâng cúng cả mạng sống này. Trẫm nguyện y giáo phụng hành theo mọi lời dạy của Ngài.” Nói rồi, Đức vua cho xây dựng và cúng dường ngôi chùa hiệu là Jetavana ở phía Đông kinh thành. (Trong các sử liệu khác có ghi chép rằng chùa rừng được xây ở hướng Đông Bắc đường mòn phía sau vườn Nyaung-U, phía trước Urūveḷa Mutho). Theo văn bia số 152/6, vào năm 1243 Pas (AD), trong khuôn viên chùa của Ngài Shin Arahan có tới 20 ngôi trường cho chư Tăng nghiên cứu kinh điển. Hàng ngày, Đức vua đích thân gánh nước, Hoàng hậu đích thân bưng khay đồ lễ, đến chùa cúng dường. Mọi việc liên quan đến Phật sự, Đức vua đều thỉnh ý Ngài Trưởng lão. ## TRANG 108 Đức vua ra lệnh cho 60.000 tu sĩ Ari phải hoàn tục, giao cho họ việc cầm giáo mác canh gác và dọn dẹp phân voi, phân ngựa. Trưởng lão Shin Arahan cũng làm lễ xuất gia cho những người có lòng tín thành với Giáo pháp. Theo bộ Vamsadīpanī, thời bấy giờ số lượng Tăng chúng lên đến hơn 3 vạn vị. Đức vua và bậc Thầy cùng nhau bàn bạc, quét sạch những nhơ uế của Giáo hội. Các tu sĩ Ari vì bị mất đi lợi lộc nên nảy sinh lòng oán thù với Ngài Shin Arahan. Đức vua biết chuyện, bèn cắt cử 100 người luân phiên bảo vệ ngôi chùa để ngăn chặn sự hãm hại từ các tu sĩ Ari. Ngài Shin Arahan đã cho những người lính này xuất gia và dạy cho họ học tập văn hóa Pháp bảo (Pariyatti). (Về sự kiện Ngài Shin Arahan đến Bagan, còn có một vài điểm khác biệt nhỏ trong sử liệu khác; xin xem thêm trong Sāsanālaṅkāra). Vào một ngày năm 419 Miến lịch, theo lời khuyên của Trưởng lão Shin Arahan, Đức vua sai các đại thần thông ngôn mang lễ vật đến yết kiến vua Manuha của vương quốc Thaton để thỉnh Xá-lợi Phất và các bộ kinh Tam Tạng. Vua Manuha buông lời xúc phạm: “Hạng tà kiến ngoại đạo như các ngươi mà cũng xứng đáng có được Pháp bảo sao?”. Các sứ giả trở về bẩm báo, Đức vua nổi trận lôi đình, bèn điều động đại quân thủy bộ tiến đánh Thaton. Dù có những dũng tướng như Kyansittha phò trợ, nhưng ban đầu vẫn không thể công thành. Chỉ đến khi họ dùng phương thuật (Vijjāmayiddhi), đào bới và vứt bỏ đôi tay chân của Byat Wi vốn được trấn yểm trong thành chôn dưới tường thành, quân Bagan mới phá cổng thành và giành chiến thắng. Đức vua cho thỉnh 30 bộ Tam Tạng và các Xá-lợi lên lưng 30 thồ voi đưa về Bagan. Đi cùng đoàn còn có một ngàn bậc Thánh trí thông suốt Tam Tạng. Vua Manuha và một số nghệ nhân tài hoa cũng bị đưa về. Sau này, khi đối chiếu những bộ kinh này với các bản kinh thỉnh từ Ceylon (Sri Lanka), chính Ngài Shin Arahan đã xác nhận chúng hoàn toàn trùng khớp, không hề sai lệch. (Theo Sāsanālaṅkāra, năm thỉnh kinh từ Thaton về là năm Phật lịch 1601, Miến lịch 419). Kể từ đó, Giáo pháp chân chính và thanh tịnh bắt đầu hưng thịnh và phát triển rực rỡ tại vương quốc Bagan. Đại vương Anawrahta khi nghĩ về các bậc tổ tiên từng phải sống trong bóng tối tà kiến của phái Ari đã vô cùng xúc động; vừa bi thương vừa hoan hỷ, người thốt lên: “Nguyện cho thiện sự này mang lại phước báu ba-la-mật cho tổ tiên con”. Ngài Shin Arahan nhập Niết-bàn vào năm thứ 2 triều đại vua Alaungsithu, thọ 81 tuổi. Đức vua và dân chúng đã tổ chức đại lễ cúng dường suốt 7 ngày đêm trước khi làm lễ hỏa táng. Xá-lợi của Ngài được đặt trong một rương vàng và tôn thờ trong bảo tháp xây tại chân núi Tuyin (Turin). Người ta cũng tạc tượng Ngài để thờ phụng (hiện đặt bên trong đền Ananda). Ngôi tháp của Ngài nằm ở phía Tây Bắc làng Taung Par, một trong 19 ngôi làng gốc hình thành nên Bagan.