## TRANG 127 **Thuyết Pháp Giữa Hư Không** Do lời khuyến tấn của thầy là Ngài Trưởng lão Mahindapāla và sự thỉnh cầu của vị đại tiên (nát) ở Sagaing là bậc Sơ quả (Sotāpanna), nhận thấy thời điểm thọ ký đã đến, vào năm 674 (Miến lịch), Ngài Đại đức Dibbacakka trẻ tuổi từ kinh thành Vesālī đã lên đường hành đạo. Trước tiên, Ngài đến Tích Lan thỉnh tám viên Xá-lợi rồi sau đó mới đến Bagan. Vào ngày thứ Năm, mồng 3 sau ngày rằm tháng Tabodwe năm đó, đúng vào giờ ngọ, Ngài đã đặt chân đến vùng đất nơi xây dựng kinh thành Inwa. Lúc bấy giờ, vua Thihathu từ vùng biển trở về, dẫn quân từ sông Myit Nge qua Inwa để đi về hướng Tây; trên đường đi, vua đã được chiêm bái Ngài Dibbacakka đang an trụ giữa hư không. Vua Thihathu lấy làm hoan hỷ vô cùng. Khi Ngài Dibbacakka hạ xuống trú cột dưới một gốc cây đa, đức vua đã đến đảnh lễ và bạch rằng: Vua: "Bạch Đại đức, Ngài từ đâu đến đây ạ?" Ngài: "Tâu đại vương, bần tăng đến từ thành Vesālī." Vua: "Dặm dài xa xôi như thế, Ngài đã dừng chân nghỉ lại bao nhiêu nơi rồi ạ?" Ngài: "Tâu đại vương, bần tăng mới khởi hành từ sáng sớm hôm nay. Đến giờ (ngọ) này thì tới nơi." Dù chỉ qua vài lời vấn đáp và chiêm bái như vậy, đức vua đã hoàn toàn tin tưởng đây là bậc Alahan, nhưng hàng binh sĩ vẫn còn hoài nghi. Tuy nhiên, họ không dám mạo muội hỏi rằng: "Ngài có phải là bậc Alahan chăng?". Biết được tâm niệm đó, Ngài Dibbacakka đã bay lên không trung và thuyết giảng bài kinh **Rājovāda Sutta** (Kinh Giáo huấn bậc Quân vương). Khi Ngài cho biết rằng mình đến đây theo lời giáo giới của thầy để cùng đức vua hộ trì giáo pháp, đức vua vô cùng hoan hỷ và thỉnh cầu Ngài chỉ dạy các phương cách để hoằng dương Phật pháp. Ngài dạy rằng: "Tâu đại vương, việc chư Tăng tuân giữ giới luật (Vinaya) cần có sự hỗ trợ và giám sát của các vị vua; phải khuyến khích việc học tập Pháp học (Pariyatti) và xây dựng bảo tháp để tôn thờ Xá-lợi thân Phật". Lúc trời đã về chiều, vua cho dựng một ngôi chùa tạm tại nơi xây dựng tháp Yan Aung Myin và bạch rằng: "Bạch Ngài, kính thỉnh Ngài nghỉ lại nơi ngôi chùa này, và sáng mai kính mời Ngài quang lâm cung điện để dùng bữa cúng dường." Ngài đáp: "Tâu đại vương, hôm nay bần tăng chưa tạm trú lại đây. Còn về bữa thọ trai, bần tăng sẽ quang lâm để ban phước lành". Nói đoạn, Ngài liền trở về thành Vesālī. Sáng hôm sau, Ngài cùng với năm vị tỳ-khưu tùy tùng quang lâm thọ trai. Sau khi dùng bữa, Ngài thuyết về pháp **Appamāda Sati** (Sự Không phóng dật) và ban truyền Tam quy Ngũ giới. Ngài cũng chỉ dạy vua nên xây dựng kinh thành tại vùng Thin Pan. Đức vua và quân dân bấy giờ ## TRANG 128 đang trong lúc tâm tư chấn động (saṃvega) vì chứng kiến nhiều bệnh tật và sự chết chóc, nay được định đô vững chãi nên lòng ai nấy đều hân hoan. Ngài Dibbacakka đã ở lại hộ trì giáo pháp cho đến khi bảo tháp Shwezigon hoàn thành. Ngài đã cho xuất gia khoảng năm ngàn vị tăng. Đối với những vị tăng sẵn có, Ngài cũng dùng uy quyền của vua để thanh lọc, chọn lựa, giúp cho giáo hội trở nên thanh tịnh. **Hoa Sen Từ Đống Lửa** Tám viên Xá-lợi mà Ngài Dibbacakka mang về đã được tôn trí trong tháp Shwezigon xây dựng vào năm 679. (Trong sách Sāsanalankāra nói có bảy viên, trong đó hai viên tôn trí tại tháp Ponnya Shin). Đại lễ này có sự tham gia của bốn vị vua từ Rakhine, Ayutthaya (Xiêm), Zinme (Chiang Mai) và Pinya cùng với tùy tùng của mỗi vị; đây là một sự kiện đặc biệt minh chứng cho sự đoàn kết bền vững giữa các vương quốc. Bốn ngôi bảo tháp kỷ niệm cũng được xây dựng. Sau khi đại lễ kết thúc, Ngài Dibbacakka trở về. Năm 684, vua Thihathu băng hà sau 22 năm trị vì (7 năm ở Pinya, 15 năm ở Inwa). Khi một vị thiên thần giữ đất (Bhummasso nát) báo tin đức vua đã băng hà, Ngài đã thuyết về pháp Hành (Sankhāra) để an ủi mọi người. Khi vương tử Uzzana lên ngôi, Ngài Dibbacakka còn trở lại một lần nữa, mang theo Xá-lợi của Ngài Sīvalī từ núi Gijjhakūṭa và Xá-lợi của thầy mình là Ngài Mahindapāla từ núi Makula để ban phước lành. Năm 699, thọ 85 tuổi, Ngài nhập Niết-bàn tại kinh thành Vesālī. Hành trạng của vị Trưởng lão này vô cùng đặc biệt và mầu nhiệm. Vận mệnh của Giáo pháp và người dân Miến Điện thật vô cùng tương hợp. Về việc Ngài nói đến từ thành Vesālī là một điều cần suy ngẫm. Vì ở thành Vesālī thuộc Trung Ấn khi ấy Giáo pháp không còn hưng thịnh, nên có lẽ đó là thành Vesālī ở vùng Rakhine hoặc Vesālī ở vùng Assam. Điều này không thể khẳng định chắc chắn. Dù thế nào đi nữa, khi nhìn vào gương của các Ngài **Nāgasena**, **Moggalliputtatissa**, **Arahan** và vị **Dibbacakka** này, chúng ta cần nhận thấy rằng: chính trong những thời đại suy vi, khó khăn nhất, các bậc thánh nhân kiệt xuất mới thường xuất hiện. **Thầy Trò "Ngậm Nước"** Năm 684 vua Uzzana lên ngôi, đến năm 702, vua đã dâng cúng ngôi chùa chính làm bằng gỗ tếch cùng với 6 ngôi chùa phụ cho Ngài **Sudhamma Mahāsāmi**. Ban đầu, các vị tỳ-khưu theo truyền thống Theravāda tu hành chân chính nắm quyền quản lý, nhưng sau một thời gian dài, các vị sư bắt đầu tham gia vào việc quản lý ruộng vườn, điều hành tá điền, cày bừa, ## TRANG 129 thu gom lúa gạo, và cuối cùng tiến tới việc trừng phạt, cùm kẹp ngay tại chùa những người không nộp đủ tô. Đức vua cũng không thể can thiệp. Về sau, họ từ những kẻ không biết hổ thẹn (alajjī) đã trở thành hạng phá giới (dussīla) và biến thành các Argyi. Các hủ tục như luyện bùa chú (piyasiiddhi), đấu quyền, múa kiếm, múa thương, bùa hộ mệnh... ngày càng phát triển mạnh mẽ. Các vị tỳ-khưu đức hạnh không còn nơi nương náu, Ngài Sāsanadhara phải lánh sang núi Tuyin, hai anh em Ngài Parakkama phải dời về động Parakkama ở Sagaing (ngày nay). **Cả Đời Hành Trì Chỉ Được Bốn Hạt Chuỗi** Ngài Ariyavaṃsa, vốn lỗi lạc về Pháp học (Pariyatti), cũng phải rời khỏi chùa Saga và đến ẩn tu tại dãy núi Sagaing. Dù Ngài là vị Trưởng lão lừng danh từ thời vua Narapati (năm 844) cho đến thời vua Mingkhaung, nhưng vì có sự liên quan nên xin được kể vào thời Pinya này. Lúc bấy giờ, gần tháp Ponnya Shin trên núi Sagaing có một vị Trưởng lão được gọi là "Sư Ngậm Nước". Ngài vốn tinh thông kinh điển nhưng luôn chuyên tâm thiền định; vì sợ nói những lời vô ích nên Ngài thường ngậm nước trong miệng, do đó mới có tên gọi như vậy. Một lần nọ, trong một buổi họp tăng, các vị Trưởng lão đang bàn tán xôn xao về việc trì niệm chuỗi tràng hạt. Người thì nói một ngày niệm được một ngàn biến **Guṇavā** (Đức Phật), người nói được mười ngàn biến, dường như họ chú trọng vào số lượng hơn là chất lượng. Nghe vậy, Ngài "Sư Ngậm Nước" mới phán rằng: "Tôi nay đã ngoài tám mươi tuổi, cả đời trì niệm đến nay mới chỉ được có bốn hạt chuỗi mà thôi." Ý Ngài muốn nói rằng Ngài luôn thường trực quán tưởng về bốn pháp hộ thân (Caturārakkha) mà mỗi người xuất gia hay cư sĩ đều nên thực hành hằng ngày, đó là: **Buddhānussati** (Niệm Phật), **Mettā** (Tâm từ), **Asubha** (Quán bất tịnh) và **Maraṇassati** (Niệm sự chết). Nghe lời ấy, các vị sư đang khoe khoang về số lượng vòng chuỗi đều im bặt. Vị **Ariyavaṃsa** đã nhắc ở trên, dù đã giỏi nhưng vẫn thấy mình chưa đủ, nên đã đến xin học bộ kinh **Ṭīkā-kyaw** (Abhidhammattha-vibhavini) từ vị Trưởng lão này. Chỉ sau 3 ngày, Ngài thấu triệt và thưa: "Con đã hiểu kinh rồi". Theo lời thầy, Ngài viết bộ đại luận **Maṇisāramañjūsā Ṭīkā** để giải thích thêm cho bộ kinh đó. Vào ngày lễ Uposatha tại tháp Ponnya Shin, Ngài đã đọc bộ luận này trước đại tăng. Có một vị tỳ-khưu trẻ đến từ Bagan ngồi ở phía ngoài, vừa nghe vừa gật đầu "ừ, ừ". Khi được hỏi, vị tăng trẻ đã chỉ ra được hai điểm sai sót, và Ngài Ariyavaṃsa đã hoan hỷ dâng cúng một tấm y đại (du-gu-t) để tạ ơn.