## TRANG 166 Khi hành giả (**yogī**) đã phân biệt rõ đâu là kẻ thù và đâu là bạn hữu thì chắc chắn sẽ gặt hái được những lợi ích vô lượng trong công phu của mình. Chúng tôi có thể khẳng định rằng trí tuệ tự thân của quý vị sẽ ngày càng tăng trưởng. Hành giả sẽ thấu hiểu rằng: "Nếu vì sợ kẻ thù mà chọn con đường xuôi dòng thì chỉ chuốc thêm đau khổ mà thôi." Từ đó, không những không sợ hãi kẻ thù mà trái lại còn thêm phần phấn chấn. Vì đã nắm thấu "bài vở" nên hành giả không còn sân hận, không còn ưu phiền, mà thậm chí còn cảm thấy hân hoan. Bởi lẽ chính hành giả tự nhận biết rằng mỗi khi gặp phải một chướng ngại là mình lại tiến thêm được một bước. Nếu hành giả giữ vững niềm tin vào sự hiểu biết này, thì lâu dần, không chỉ đối với thân tâm và môi trường xung quanh, mà rạng rỡ thấu suốt đến cả những diễn tiến của toàn thể thế giới và vũ trụ vô tận. Như câu nói "từ nhỏ mà thành lớn", từ một tuệ giác nhỏ bé sẽ phát triển thành đại tuệ. Đó chính là những tuệ giác tiền chặng của **thần thông** (**abhiññā**). Khi thâu tóm mọi sự kiện trên thế giới và vũ trụ này vào một mối, hành giả thấu triệt ngay đặc tính **vô thường** (**anicca**) rằng: "Tất cả mọi **hành** (**saṅkhāra**) đều không có thực thể cốt lõi", khi ấy đại sự của bậc **Thánh** (**Ariya**) cũng được hoàn tất viên mãn. Chúng tôi đưa ra lời dẫn giải dài dòng như vậy là có nguyên nhân. Có thể có người cho rằng chúng tôi muốn bài bác những vị sở hữu thần thông biến hóa (**gandhārī**) hay các hội nhóm của họ – những người đang nỗ lực vì một lợi ích thế gian nào đó. Sự thực hoàn toàn không phải vậy. Vì ai nấy đều đang nỗ lực theo tầm mức trí tuệ của mình, nên không có gì để khiển trách. Việc họ có thể giúp ích cho nhân loại ở một mức độ nào đó (đối với những người chỉ có tầm nhìn đến đó) cũng là điều đáng trân trọng. Tuy nhiên, xin cho phép tôi được thành thật nói rõ mục tiêu trọng yếu. Thời đại này không phải là lúc để chúng ta tự mãn với bấy nhiêu đó. Chớ nói chi đến những loại ngoại cảm tạm bợ, mập mờ, không xác thực; ngay cả khi đắc được **thần thông** (**abhiññā**) thực thụ đi nữa thì cũng chưa phải lúc để hài lòng. Trong một thế giới ngày càng rộng mở với đủ loại tri thức đa dạng như hiện nay, thì chỉ trở thành một bậc **A-la-hán Thuần Quán** (**Sukkhavipassaka Arahant**) thôi thì vẫn chưa thể nói là đủ cho hàng Giáo Pháp ngày nay. Thế giới trong thời đại này đang tha thiết mong cầu và thỉnh mời những bậc **Thánh A-la-hán** vẹn toàn cả thần thông lẫn trí tuệ. Thế giới này đang... ## TRANG 167 ... tha thiết và mãnh liệt cầu khẩn điều đó. Những người am tường thời thế đều tuyệt đối tin tưởng rằng điều này chắc chắn sẽ sớm được thành tựu, không thể sai lệch. Những lời dạy của Đức Phật cũng đã hiển thị cho phép điều này một cách minh bạch. Những bậc **Thánh** nhân trong giáo pháp này cũng đã để lại những tấm gương tiền lệ. Vì những bậc vĩ nhân toàn tài như thế, khoa học đã và đang góp phần chỉnh trang, chuẩn bị cho thế giới này. (**Eva-rūpena kho Sāriputta bhikkhunā Gosingasālavanaṃ sobheyya. Mahāgosingasutta. Mūlapaṃ-281.**) Do đó, trong thời đại cao quý này, với lòng chân thành và thiện chí, chúng tôi mong muốn vạch ra một lộ trình tốt hơn, tốt hơn nữa và tốt nhất, để toàn thế giới hướng tới bến bờ bình an. ## TRANG 168 ## CHƯƠNG 7 — CÁC BẬC A-LA-HÁN VÀ CÁC BẬC CỰC TRỌNG THỜI KONBAUNG ### Ngài Sayadaw Taung Lay Lone (Satu Giri) (1088 – 1186 Phật lịch / 1726 – 1824 DL) "Này con trai, những pháp quán mà con viết thật là những bộ kinh quý báu phụng sự giáo pháp đúng theo ý nguyện của Đức Thế Tôn. Dù hằng ngày ai cũng hít thở, co duỗi, nhưng có rất nhiều người không hề hay biết mình đang hít vào, thở ra hay đang co duỗi. Hãy nỗ lực biên soạn để mang lại lợi ích cho chính mình và mọi người, này con." "Bạch Thầy, xin vâng lời dạy của Thầy." "Nay tập kinh 'Những pháp quán' này, con tự mình chép lên lá buông để dâng lên Thầy, vừa để Thầy có thể xem bất cứ khi nào Thầy muốn, vừa nương nơi Thầy làm duyên để tuệ **nhàm chán** (**nibbiddā-ñāṇa**) được tăng trưởng và phát đạt theo như sở nguyện." Đó là lời đối thoại khi vị tỳ-kheo trẻ U Medhāvī, khoảng 30 tuổi, trú ngụ tại làng Dīghāyugāma (làng Thọ), đang dâng bộ kinh lá buông "Nāmarūpanibbiddā-shupwe" (Các pháp quán nhàm chán danh sắc) lên thân phụ của mình – cũng là một vị tỳ-kheo. Vị tỳ-kheo thân phụ lúc bấy giờ đang độc cư tu tập tại thiền viện rừng Kyee Ma Noe, ngài đã 80 tuổi đời và 52 tuổi hạ. Ngài xuất gia từ khi người con trai U Medhāvī mới lên 2 tuổi. Thời điểm đó là thời loạn lạc, chỉ còn khoảng 5 năm nữa là vương quốc Inwa hoàn toàn sụp đổ. U Medhāvī sinh năm 1088 (Phật lịch Miến Điện) vào thời kỳ chuyển giao giữa Inwa và Konbaung. Quê ngài ở làng Oksit, vùng Shwebo. Vào năm 1114, khi vua Alaung Mintaya lên ngôi, ngài xuất gia tỳ-kheo và mới có 6 hạ lạp. Ngài được biết đến với pháp danh U Medhāvī. Vào thời vua Bodawpaya, ngài nhận được danh hiệu "Munindābhilaṅkāra Saddhammasāmī Mahādhammarājaguru" – đó chính là vị Sayadaw Taung Lay Lone (Ngài Trụ trì chùa Bốn Ngọn Núi).