## TRANG 199 **Thông qua những câu chuyện này, chúng ta thấy rằng khi con người thực hiện các thiện nghiệp hay bất thiện nghiệp (khẩu nghiệp, thân nghiệp) dựa trên tâm thiện hay tâm bất thiện (tâm nghiệp), thì luôn có sự hiện diện của những tác động kích động và dẫn dắt vô hình từ chư thiên thiện hoặc chư thiên ác. (Trong giới tu tập, điều này thường được gọi là "Sự thôi thúc của tâm thức - Manotaitathi").** Nói như vậy để chỉ ra một khía cạnh nhỏ rằng, không nên hoàn toàn tin tưởng một cách mù quáng vào ý nghĩ: "Tôi làm vì tôi muốn làm, chuyện đó xảy ra vì nó muốn xảy ra". Vị Trưởng lão Rajaguru (Quốc sư) được đề cập ở đây là bậc đại danh tăng vô cùng lỗi lạc vào thời đại Mandalay, hơn nữa các hàng môn đệ kế thừa của Ngài vẫn đang hưng thịnh, do đó người viết xin phép không nêu rõ danh tính của Ngài. Mục đích duy nhất khi kể lại câu chuyện về "một niệm lười biếng" đã khiến bậc Thầy phụng sự giáo pháp lừng lẫy này phải nhận lấy sự tổn thất, khiến cho những năng lực vốn có thể thắp sáng ánh đạo giải thoát cho toàn thế gian phải bị vùi lấp trong suốt một đời người, là để chúng ta rút ra bài học kinh nghiệm sâu sắc cho chính mình. ## TRANG 200 ### Ngài Trưởng lão Thilone và Ngài Trưởng lão Kintawya #### (1148-1222 Phật lịch) Ngài Trưởng lão Thilone trú ngụ tại chùa Thilone Tawya, gần làng Seikhun, huyện Shwebo vào triều đại vua Shwebo và vua Mindon. Ngài là bậc Thầy của Ngài Trưởng lão Shwegyin đời thứ nhất và Ngài Trưởng lão Mula Kyuangtawyar (U Sasana), những bậc danh tăng vô cùng nổi tiếng trong giáo pháp. Pháp danh của Ngài là Ashin Candima. Các bậc Trưởng lão thời xưa không hề lơ là việc học Pháp (Pariyatti). Đến giờ dạy Pháp thì các Ngài dạy, đến giờ hành thiền (Patipatti) thì các Ngài hành trì. Các Ngài thực hành song hành cả hai phương diện này và không thể tách rời chúng. Ngài Trưởng lão Mahasi cũng tu tập theo cách này. Các vị Tăng sư dạy Pháp ở khắp các vùng trên đất nước Myanmar cũng dành những khoảng thời gian riêng biệt để thực hành như vậy. Thậm chí các Ngài còn không muốn cho ai biết việc mình đang hành thiền. Chỉ khi nào có những lý do chính đáng và thực sự cần thiết, các Ngài mới thể hiện ra bên ngoài một cách kín đáo. Vào năm 1199 Phật lịch, vua Shwebo khi đăng cơ đã vô cùng hộ trì và sùng bái Ngài Trưởng lão Thilone như một vị Thầy độc lập ngoài các giáo phái. Nhà vua cũng dâng tặng Ngài danh hiệu "Candima-bhivamsa Sīrisaddhamma-dhaja Mahādhammarājādhirājaguru". Vua Mindon khi ấy còn là một vị hoàng tử, thường đến công đường để xét xử cũng đã hết lòng kính ngưỡng Ngài. Khi lên ngôi vua, Ngài đã thỉnh Ngài Trưởng lão về kinh đô Mandalay. Tuy nhiên, Ngài Trưởng lão đã không đi. Do đó, nhà vua đã cho xây dựng ngôi chùa Ratanabonsan ngay tại làng Thilone để cúng dường lên Ngài. Vì là bậc tinh thông cả Pháp học lẫn Pháp hành, Ngài Trưởng lão Thilone đã khởi thảo tám bộ kinh sách, bao gồm: Mūlapaṇṇāsa Aṭṭhakathā Nissaya (Sớ giải Trung Bộ Kinh), các quyết định về Luật tạng (Vinaya), Kuladūsaka Vinicchaya, Gambhīrattha Desanā, Visuddhimagga Dīpanī (Thanh Tịnh Đạo Minh Đăng), Paṭipatti Pakāsanī. Những bộ sách này vẫn còn nổi tiếng cho đến ngày nay. Tương truyền Ngài có tổng cộng 64 bộ kinh sách. Trong phần dẫn nhập của bộ "Paccaya-thāvabodhanī", có ghi lại rằng vào đêm trước khi nhận một cậu bé (sau này là Ngài Trưởng lão Thayanka, người sau đó hoàn tục thành cư sĩ U Ohn Nyunt) vào tu học tại chùa, Ngài đã nằm mộng thấy một con bạch tượng nhỏ đến nằm phủ phục dưới chân cầu thang. Tương tự như vậy, trong "Tiểu sử Ngài Trưởng lão Kyaungtawyar", có chép rằng vào đêm vị sẽ trở thành Ngài Trưởng lão Shwegyin Kyaungtawyar tương lai đến, Ngài đã nằm mộng thấy ngôi sao Kim vô cùng rực rỡ từ trên trời lao thẳng vào lòng mình. Theo như lời dạy trong "Sớ giải Trường Bộ Kinh" (Mahāvagga Aṭṭhakathā), các bậc đại phước đức thường ứng hiện các điềm báo trước như điềm mộng, đó là điều chúng ta nên lưu tâm. ## TRANG 201 ### Những điều đáng ghi nhớ từ tác phẩm Paṭipatti Pakāsanī Có ghi chép rằng Ngài Trưởng lão Thilone đã khởi thảo tổng cộng 64 bộ kinh sách. Những tác phẩm đã nêu trên là những bộ hiện còn lưu truyền rõ rệt nhất. Vào năm 1315 Phật lịch, nhờ sự nỗ lực của ông U Maung Gyi và các bạn đạo hữu Pháp lữ, bộ "Paṭipatti Pakāsanī" gồm tám quyển đã được nhà in Myanmar Tara tại Mandalay tái bản lần thứ hai. Tương tự như vậy, có thể vẫn còn tìm thấy thêm những tập sách nhỏ khác liên quan đến Pháp hành. Trong bộ tám quyển đó, có tổng cộng 291 trang, bao gồm: 1. **Paṭipatti Pakāsanī** (Pháp Hành Minh Đăng) 2. **Paññatti Pakāsanī** (Chế Định Minh Đăng) 3. **Diṭṭhibheda Pakāsanī** (Phân Tích Kiến Giải Minh Đăng) 4. Giải thích chi tiết và tóm tắt về Ân đức Phật (Guṇadaw) 5. Nghi thức lễ bái theo 9 phần của Sangaha 6. Chánh văn và ý nghĩa của **Kinh Kawlin** 7. Chánh văn và giải thích chi tiết về **Dwattimsakāra** (32 thể trần) 8. Giải thích chi tiết về **Bốn mươi đề mục thiền định** (Bhāvanā) Ngoài ra còn có: 18 điều kỳ diệu (Anpweh), lễ bái 4 loại Bảo Tháp, phần giải đáp các câu hỏi của cư sĩ Bo Lun Phyay và Bo Ohn (về các chi phần để chứng đắc Đạo Quả). Trong bộ sưu tập tám quyển này, có thể tìm thấy lời kết thúc do chính Ngài Trưởng lão viết: "Pháp danh là Ashin Candima, sinh quán tại làng Shunshun-tet". Bộ Paṭipatti Pakāsanī được hoàn thành vào thứ Bảy, ngày 12 tháng Tagu năm 1205 Phật lịch. "Kinh Kawlin" là tập hợp các bài kệ và văn xuôi ghi chép những lời giáo huấn từ kinh điển của Đức Phật mà Ngài đã thuyết cho vị quan trấn thủ vùng Kawlin. Cùng với đó, Ngài cũng gửi kèm hai bộ kinh là "Niccādi-dosa Dīpanī" và "Kammaṭṭhāna Dwattimsakāra". Tác phẩm được kết thúc bằng bài kệ sau: **Caja dujjana saṃsaggī, bhaja sādhu samāgammaṃ.** **Kara puññaṃ ahorattiṃ, sara niccamaniccataṃ.** *Hãy từ bỏ (Caja) việc thân cận với kẻ ác (Dujjana saṃsagga).* *Hãy nương nhờ (Bhaja) và gần gũi với bậc thiện trí (Sādhu samāgama).* *Hãy thực hiện (Kara) những thiện nghiệp (Puñña) suốt cả ngày lẫn đêm (Ahoratti).* *Hãy thường niệm tưởng (Sara) về tính vô thường (Aniccata) của thân ngũ uẩn này.*