## TRANG 214 Hãy lưu ý những gì người quá thiên về vật chất thường viết và nói: “Nghiệp quá khứ chỉ chiếm khoảng một phần tư (một măt)[^1] trong một lượng (một tjat)[^2]”. Tuy nhiên, chúng ta hãy tiếp tục nhìn vào sức mạnh của đức tính **Pubbe ca katapuññatā** (phước báu đã làm trong quá khứ) nơi bậc tiền thân của Trưởng lão Htut Khaung – Ngài Shin Ñāṇavanta. [^1]: Một măt (madha) là đơn vị đo trọng lượng cổ của Myanmar, bằng 1/4 tjat. [^2]: Một tjat (kyat) là đơn vị đo trọng lượng cổ, tương đương khoảng 16,33 gram. Khi còn là một Sadhu (Sa-di), Ngài Shin Ñāṇavanta đã thông suốt hoàn toàn lộ trình học tập Tam Tạng kinh điển. Trong kỳ thi sát hạch Sudhammā Paṭhamapyan, Ngài đã xuất sắc giành được danh hiệu Paṭhamakyaw (Thủ khoa danh dự). Hoàng hậu đã thỉnh cầu: “Bạch Ngài, xin hãy mời cha mẹ và anh chị em của Ngài về kinh đô. Con xin được hộ độ và chăm sóc họ đầy đủ.” Sau đó, chị gái Daw Ngway và anh rể U San Lone (cùng các con là Maung Thar Ywe, Maung Thar Pel, các con gái Ma Ma Thie, Ma Lun Mae) được bố trí định cư tại khu vực bến tàu Pwe-seik thuộc Sagaing. Vào thời gian đó, mẫu thân của Ngài cũng đã qua đời. Đó là vào năm 1180 Miến lịch. Sau khi đỗ Paṭhamakyaw, vào năm 1181, nhờ sự hộ độ về tứ vật dụng của cùng ngôi chùa, cùng vị Thầy và các thí chủ đó, Ngài Shin Ñāṇavanta đã thọ giới Tỳ-kheo. ### Từ cuộc sống chùa vàng vào rừng sâu Ngài đảm đương Phật sự giáo giới kinh điển (Pariyatti) cho đến hạ lạp thứ tám. Vào năm 1186, từ vị thế của một bậc Pháp sư (Sākhya Sayadaw) trẻ tuổi đầy uy tín, trú tại ngôi chùa vàng (Shwe Kyaung) và được đức vua, hoàng hậu hết lòng tôn kính, Ngài đã một mình tiến bước vào rừng sâu, ẩn mình dưới gốc cây, lùm tre mà không màng đến người đồng hành. Nơi đầu tiên Ngài đến ẩn tu là vùng chân núi phía Tây của dãy Min-wun (núi Sagaing), nằm gần bảo tháp cổ Zie-khone. Chẳng bao lâu sau, Ngài chuyển đến gần bảo tháp Ratana Htut-khaung trên đỉnh núi. Bảo tháp Ratana Htut-khaung này hiện vẫn còn tồn tại. Đây là công đức của Công chúa Soe Min Ko-daw Gyi, con gái của vua Asankhayā Saw Yun, người đã thành lập thành phố Sagaing vào năm 677. Ngài trú ngụ ở phía Nam đầu hành lang phía Tây của bảo tháp. Kể từ đó, dân chúng bắt đầu gọi Ngài là “Vị Sư trẻ Ratana Htut-khaung”. Ngài giữ gìn tỳ-kheo giới (bhikkhu-sīla) vốn là nền tảng một cách kiên cố, tròn đầy và thực hành 13 hạnh đầu đà (dhutaṅga) bất cứ khi nào có cơ hội. Từ hạ lạp thứ tám, suốt hơn 20 năm gần 30 năm, Ngài không định cư tại bất kỳ nơi nào cố định. Ngài chỉ luân chuyển giữa những nơi thanh vắng phù hợp với pháp sa-môn, khi thì vào rừng này, lúc sang núi nọ. Phần lớn Ngài lấy núi Min-wun làm trung tâm để trú ngụ; vào thời đó, núi Min-wun là một khu rừng già thực thụ, nơi voi thường xuyên qua lại và hổ báo ẩn mình. Trưởng lão Munindaghosa (người có được Thiền định - Jhānalābhī), vị Thầy hướng dẫn thiền pháp (Kammaṭṭhāna) đã nhắc đến ở phần trước, cũng đang trú ngụ tại động Paba trong thời gian này. ## TRANG 215 Trưởng lão Htut Khaung quả là một bậc anh hùng của đời người, khi dám đánh đổi cả cuộc đời mình để dấn thân trọn vẹn suốt hơn 20 năm với tâm niệm “làm việc trong kiếp này” bằng một nghị lực không hề thoái thác. Dù đối mặt với bất kỳ lý do gì, Ngài cũng không bao giờ quay đầu lại, mà luôn dùng lòng nhẫn nại (khantī) để chiến thắng mọi đau khổ khổ hạnh gặp phải. Chỉ khi chịu thua cái tôi mới đạt được chiến thắng thật sự, chỉ khi không màng đến thế gian mới thấy rõ bản chất thế gian; tuệ giác tự thân đó đã thúc đẩy Ngài luôn tiến về phía trước. Điều này giống như lời dạy trong **Kinh Bālapaṇḍita** (Kinh Hiền ngu) rằng: một người chơi bạc khi thấy có cơ hội thắng sẽ càng dồn hết tài sản vào để đặt cược. Bất kỳ gốc cây nào gặp được cũng đều là chùa của Ngài. Khi trời bắt đầu sập tối, Ngài dâng hoa cúng Phật, rải tâm từ, hiến dâng trọn vẹn mạng sống và thân xác đến đức Phật rồi hồi hướng phước báu. Khi chim chóc đã về tổ, Ngài bắt đầu công phu thiền định (kammaṭṭhāna) vào canh đầu. Do tu hành miên mật không ngủ nghỉ hàng ngày, khi định lực (samādhi) bắt đầu phát triển mạnh, cũng là lúc Ngài mắc phải căn bệnh phong nghiêm trọng (đau dạ dày do khí) do tình trạng thực phẩm và nước uống khan hiếm. Khi căn bệnh lên đến đỉnh điểm khiến cơ thể gầy gò, kiệt sức, thầy thuốc Maung Chan Thar cùng các thí chủ từ dân làng đi khất thực đã thỉnh Ngài về ngôi chùa nhỏ tại rừng Myin-mway để chữa trị. Rừng Myin-mway cách trú xứ Htut-khaung khoảng bốn dặm về phía Tây Bắc. Vừa khi bệnh tình thuyên giảm, Ngài đã rời khỏi đó để tiếp tục luân chuyển tu tập tại các trú xứ như Let-louk, Pauk-taw-kan, Pae-kattoe và các khu rừng quanh bảo tháp Kaung-hmu-daw vĩ đại. Mặc dù nhiều lần đối mặt với ma quỷ, ác quỷ và thú dữ, nhưng tâm từ của Ngài luôn mang lại sự ấm áp như người thân ở bất kỳ nơi nào Ngài đến, và che chở Ngài khỏi mọi hiểm họa. ### Vũ khí dám đối mặt với hiểm nguy Trong suốt thời gian sống đời ẩn sĩ (Aññavāsī) luân chuyển qua các khu rừng, Trưởng lão Htut Khaung thường xuyên phải đối mặt với nhiều loại nguy hiểm khác nhau theo đúng đặc thù của người tu rừng. Một lần nọ, trên đường đi khất thực từ chùa trong rừng, Ngài bất ngờ gặp phải một đàn voi rừng đi ngược chiều. Trưởng lão đã dừng lại, đưa lòng bàn tay ra hiệu ngăn lại và an định tâm từ (Mettā-bhāvanā). Đàn voi ngay lập tức tản ra nhường đường. Có những con voi thậm chí còn cúi đầu chào trước khi đi qua. Điều này cũng giống như khi Đức Thế Tôn đối mặt với voi Nālāgiri đang trong cơn say rượu hung mạn. Khi Ngài tập trung và tỏa chiếu toàn bộ năng lượng tâm từ vô lượng đến khắp vạn loại hữu tình trong vô biên vũ trụ vào con voi ấy, nó ngay lập tức tỉnh cơn say và phủ phục dưới chân Ngài. ## TRANG 216 Nếu chúng ta có thể phóng thích sức mạnh tâm từ của mình một cách tập trung, sâu sắc và vững chãi, bao trùm lấy đối tượng như một tấm lưới bủa vây, thì ta sẽ hiểu rõ được điều mà những bậc thiện trí gọi là "thần thông" vốn rất khó tin này. Trong thời gian trú ngụ tại rừng Pauk-taw-kan, Ngài cũng đã đối mặt với một hiểm họa cận kề cái chết. Không chỉ ở trong những ngôi chùa nhỏ giữa rừng, Trưởng lão còn thực hành các hạnh đầu đà như: ở gốc cây (**Rukkhamūlika-dhutaṅga**), ở ngoài trời (**Abbhokāsika-dhutaṅga**). Một ngày nọ, Ngài chọn một nơi bụi rậm rạp làm trú xứ ban ngày để tiến hành quán chiếu Pháp. Có một người thợ săn tên là "Bo Tet Khar" đang săn bắn trong khu rừng đó. Anh ta nhầm tưởng Trưởng lão là con mồi nên đã nổ súng bắn. Nhưng kỳ lạ thay, súng không cháy thuốc, còn bản thân Bo Tet Khar thì cảm thấy choáng váng rồi ngã lăn ra. Trưởng lão khi đó hoàn toàn không hay biết gì. Khi người thợ săn tỉnh lại và nhìn kỹ, nhận ra đó là một bậc Trưởng lão thì vô cùng kinh hãi. Ngay lập tức, anh ta phủ phục dưới chân Ngài, thuật lại sự việc và cầu xin tha thứ. Sau đó, vì phát tâm chấn động (saṃvega), Bo Tet Khar đã xuất gia đi tu. Những quy luật tự nhiên như Giới (Sīla) và Tâm từ (Mettā) vốn không phân biệt thời gian, không phân biệt nơi chốn, cũng không phân biệt địa vị. Nếu thật sự tin tưởng và thực hành, thì thời đại của Đức Phật và ngày nay chẳng có gì khác biệt. Điều này đã được các bậc Thánh nhân (Ariya) ở Myanmar chứng minh qua các ví dụ thực tế. Từ **Archimedes** đến **Newton** và **Einstein**, các nhà khoa học qua nhiều thế hệ, dù không có những kinh điển huyền bí chỉ dẫn một cách chính xác, vẫn có thể khám phá ra những điều kỳ diệu của thế giới như điện năng hay nguyên tử. Họ đã cống hiến cả cuộc đời vào một lĩnh vực mà mình quan tâm, gạt bỏ thế gian, chịu đựng sự chê bai của xung quanh, thậm chí đôi khi còn phải chịu sự trừng phạt từ chính quyền hay tôn giáo cực đoan để tìm ra chân lý cho bằng được. Tuy nhiên, việc thực hành Giáo pháp (Paṭipatti) thì không như vậy. Chúng ta đã có những kinh điển hướng dẫn chính xác, có những bậc lãnh đạo dẫn đường không ít, và con đường ấy đã quá đồi quang lộng lẫy rồi (đã có người đi mòn lối rồi). “Khi bị kẻ thù bao vây, nếu con đường đào thoát đã mở sẵn mà người đàn ông ấy vẫn không chạy thoát, thì đó không phải là lỗi của con đường.” Trưởng lão không chỉ gặp nguy hiểm từ thú vật hay con người, mà còn phải chịu đựng sự trêu chọc đủ kiểu từ các thế lực vô hình như ma quỷ, Atula. Trong thời gian trú ngụ tại ngôi chùa rừng phía Bắc bảo tháp Kaung-hmu-daw, khi thực hành hạnh đầu đà nơi nghĩa trang (**Susānika-dhutaṅga**), Ngài đã bị các thế lực vô hình nhiễu loạn theo nhiều cách. Tuy nhiên, cũng không ít hạng quỷ dạ xoa (Vemānika-peta) đã đến đảnh lễ và thỉnh Ngài thuyết pháp cho nghe.