## TRANG 232 --- Dhamma-cariya **U Htay Hlaing** 89. Lối vào Niết-bàn, được chỉ bày như sau, hãy ghi nhớ và tác ý: 90. Cần phải thân cận bậc thiện hữu tri thức, bậc hiền triết, là bậc đứng đầu trong các hạng người. 91. Phải vâng theo lời giáo huấn của bậc thiện hữu ấy, hỡi người. 92. Như lý tác ý, ngày đêm luôn ghi nhớ vào lòng. 93. Khi thọ trì giới luật và các pháp đầu-đà, đó chính là khởi đầu của sự tu tập. 94. Không tham, không sân, không si, xuất ly, viễn ly, giải thoát; sáu pháp này là điều cần phải mong cầu. 95. Hãy quán xét tường tận về nếp sống vàng son, một thời đại rực rỡ, hỡi người. 96. Nếu mong hưởng phúc lạc ở quốc độ vàng son, hãy tìm đến những nơi thanh tịnh, u nhàn. 97. Hãy tác ý để thấy rõ thân này là vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh. 98. Hãy dốc lòng tác ý: chỉ toàn là vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh. 99. Khi thấy rõ được như vậy, hãy ghi nhớ rằng đó chính là khởi đầu của con đường hạnh phúc. 100. Chỉ khi bước lên và cưỡi trên chiếc bè lớn Bát Chánh Đạo, mới có thể đạt đến quốc độ bất tử Niết-bàn; hãy ghi nhớ lấy, hỡi người. 101. Nếu kiếp này không thấu triệt, thì quốc độ vàng son gọi là bất tử ấy sẽ chẳng hề tỏa ngát hương thơm. ### Vị A-la-hán với thân phân thân và vị A-la-hán trong giấc mơ Vào thời kỳ Ratanabon (Mandalay), những tin đồn về các vị A-la-hán xuất hiện một cách đặc biệt. Các vị Tỳ-khưu thực hành pháp hành (Patipatti) dường như cũng rất đông đảo. Như đã trình bày trước đây, các bậc Thánh đức như Ngài Kyun-taw-ya Sayadaw, Ngài Thee-lon Sayadaw – những vị đắc Thiền và Thắng trí – chính là những bậc hộ trì pháp hành vĩ đại của thời đại Ratanabon. Theo quan điểm của các bộ Chú giải, dường như thời đại của Thắng trí không còn nữa, nhưng trên thực tế, không có gì nghi ngờ về việc các ngài đang đắc đắc Thắng trí. Với bậc được gọi là "**Katadhikara**" – người đã từng phát nguyện và tích lũy ba-la-mật qua nhiều đời kiếp, thì ai có thể ngăn cản hay cấm đoán được? Nếu thiết lập và thực hiện với một sự tinh tấn đủ mức, thì không có việc gì là không thể hoàn thành. Những bậc anh hùng của Giáo pháp, những người có thể tiếp nối mạng mạch của Giáo hội như Ngài Nagasena, Ngài Moggaliputta Tissa, Ngài Arahan, Ngài Dibba-cakkhu Mahathera, luôn luôn xuất hiện trong mỗi thời đại. Giống như họ thay phiên nhau từ cõi Phạm thiên xuống để đảm đương trọng trách vậy. Do đó, chừng nào vẫn còn những người tin tưởng tuyệt đối vào Chánh pháp và đang nỗ lực thực hành, thì chừng đó sẽ không có thời kỳ nào vắng bóng các vị A-la-hán, như đã được thuyết giảng trong kinh Đại Bát Niết-bàn (Mahaparinibbana Sutta). ## TRANG 233 Cũng chính từ lời dạy này, rõ ràng là quan niệm về tuổi thọ Giáo pháp chỉ kéo dài 5000 năm không có căn cứ vững chắc từ kinh điển (Pali). Con số giới hạn 5000 năm vốn xuất phát từ một ví dụ ẩn dụ trong Tỳ-khưu-ni Phân tích (Bhikkhuni Vibhanga), rồi dần dà theo kiểu "sai mãi hóa đúng", nó đã nằm trên đầu môi của cả những bậc đại trí giả uyên thâm kinh điển. Nếu không có giới hạn Tuổi thọ Giáo pháp 5000 năm, thì cách phân chia năm thời đại của Chú giải như "1000 năm đầu là thời đại gì..." cũng trở nên vô nghĩa, giống như "gốc đã ngã thì ngọn cũng thành củi". Những lời nói về "Giáo pháp của Thiên chủ Sakka" (Sakka Sasana) cũng không còn gì để bàn luận. Các bậc Thánh nhân thời Ratanabon đã dùng chính bản thân mình để minh chứng rằng những quan niệm đó là không xác thực. Vào thời Ratanabon, tin tức về các vị A-la-hán cũng thường xuyên xuất hiện. Tại ngôi đại tự San-kyaung ở phía Bắc thành phố Mandalay, nơi có hàng ngàn chư tăng, vị cao tăng trụ trì đã nằm mộng thấy rằng "Trong tự viện có một vị A-la-hán". Ngài đã triệu tập toàn thể chư tăng, cúng dường mỗi vị một bộ y, sau đó thuật lại giấc mơ và gặng hỏi. Khi ấy, một vị Tỳ-khưu giảng sư tên là **U Nagasena**, mới 5 hạ lạp, đã trình lên rằng vị A-la-hán đó chính là mình. Tuy nhiên, sau khi thẩm vấn kỹ lưỡng, rõ ràng lời nói đó không đúng sự thật, Ngài trụ trì đã kết tội "phạm ba-la-di" (khoe pháp cao nhân không có thật) và trục xuất vị ấy. Tỳ-khưu **U Nagasena** sau đó đã đến gặp Ngài Thut-khaung Sayadaw (một bậc ẩn sĩ tại vùng đồi Sagaing). Ngài Thut-khaung nhận thấy vị này nói vậy là do tâm trí loạn động, nên đã tận tình bốc thuốc chữa trị. Ngài trụ trì San-kyaung không hài lòng, cho rằng: "Tại sao lại nhận một người đã phạm ba-la-di và bị trục xuất khỏi tự viện của mình?", sự việc này thậm chí đã trình lên tới đức Vua và vị Tăng vương. Khi biết được **U Nagasena** bị loạn trí, mọi người đều cảm thấy vô cùng thương tiếc. **U Nagasena** vốn được Công chúa Salin nhận làm thí chủ hộ độ. Dù tuổi còn trẻ nhưng Ngài là một người cực kỳ giỏi về kinh điển. Ngài là người làng Ma-gyi-zin ở Sagaing. Năm 13 tuổi, khi còn là một vị Sa-di nhỏ, Ngài ngồi ở phía cuối hội chúng lắng nghe bài giảng của Ngài Saku Sayadaw. Ngài Sayadaw khi ấy đã cằn nhằn: "Cậu Sa-di này đầu thì đầy gàu, mũi thì chưa sạch, sao lại đến nghe ta giảng kinh". Nhưng khi được khảo hạch và biết rằng mỗi ngày cậu có thể học thuộc lòng một Anga (12 lá buông) kinh điển, Ngài Sayadaw đã khen ngợi và bảo: "Mỗi ngày hãy đến chỗ thị giả của ta lấy hai bát thức ăn". Cha mẹ của Ngài vốn nghèo khổ, phải đi làm thuê xay lúa mướn, Ngài Sayadaw cũng đã hỗ trợ để họ thoát khỏi cảnh khổ cực đó. Thời đại đó là thời đại mà cha mẹ của những người giỏi kinh điển đều được miễn trừ các nghĩa vụ quân dịch (Min-taing 12) để ## TRANG 234 --- Dhamma-cariya **U Htay Hlaing** Có thể nói đây là thời đại mà học thuật Giáo pháp (Pariyatti) được khuyến khích một cách hiệu quả nhất. Sau đó, Sa-di **Nagasena** được Ngài Saku Sayadaw gửi gắm cho Ngài trụ trì San-kyaung. Ngài đã thi đỗ thủ khoa (Pathamakyaw) và sớm trở thành một vị giảng sư khi tuổi đời còn rất trẻ. Cuối cùng, **U Nagasena** đã viên tịch trong tình trạng bệnh tâm trí không thuyên giảm. ### Vị A-la-hán với thân phân thân Dưới triều đại Vua Mindon, tại vùng Pakhan, có một vị cao tăng sống ẩn dật trong rừng. Tiếng lành về sự trì giới trong sạch, tri túc và việc chuyên tâm tu tập trong rừng sâu của Ngài khiến ai nghe thấy cũng vô cùng kính ngưỡng. Vị cao tăng này thường đi khất thực luân phiên qua các làng, mỗi làng ba ngày. Sau một thời gian, dù đã hết ba ngày ở một ngôi làng nọ nhưng Ngài vẫn tiếp tục đi khất thực như cũ, khiến dân làng vô cùng hoan hỷ. Họ phát khởi đức tin đặc biệt và thành tâm cúng dường. Một ngày nọ, khi các thí chủ ở các làng khác nhau trò chuyện, họ ngạc nhiên nhận ra rằng: "Ngài cũng đến làng tôi", "Ngài cũng đến làng anh". Sau khi tìm hiểu, dân làng phát hiện ra rằng vị cao tăng đã phân thân thành hai để đi khất thực cùng lúc. Từ đó, danh tiếng "Bậc A-la-hán" bắt đầu lan truyền rộng rãi. Kể từ đó, Ngài rời vùng Pakhan đến chùa Ariyavamsa ở vùng đồi Sagaing để chuyên tâm tu tập ngày đêm không nghỉ. Tin tức về việc "Có một vị A-la-hán đang cư trú tại chùa Ariyavamsa" đã lan truyền đến tận hoàng cung Mandalay. Khi ấy, Vua Mindon đã cử các vị cố vấn hoàng gia (Rajaguru Sayadaw) sang Sagaing để thẩm vấn xem vị ấy có thực sự là A-la-hán hay không. Các vị cố vấn hỏi rằng: "Bạch Ngài, mọi người đang đồn đại Ngài là một vị A-la-hán. Họ nói rằng đã tận mắt chứng kiến Ngài phân thân để đi khất thực. Việc Ngài đi khất thực ở hai ngôi làng cùng một lúc có đúng sự thật không?" Sau khi suy nghĩ một hồi, vị cao tăng chậm rãi trả lời: "Người ta nói như vậy đó. Nhưng mà, ừm, đây cũng là một loại phiền hà thôi." Ngài kể lại việc có một con quỷ hóa hình thành vị sư để đi khất thực ở ngôi làng khác— "Vậy sự phiền hà đó là như thế nào, bạch Ngài?" một vị cố vấn hỏi tiếp. "Khi đã nổi tiếng là A-la-hán thì người ta đến cúng dường nhiều hơn. Những người muốn gặp gỡ, đảnh lễ cũng ngày một đông, khiến tôi không thể ở lại Pakhan được nữa. Giờ đến Sagaing này, các Ngài lại phải lặn lội sang đây thẩm vấn, làm các Ngài mất thời gian, mà tôi cũng chẳng phải là bị gián đoạn công việc hay sao? Ấy là chưa kể, đối với chính mình, việc tự đắc..." (còn tiếp)