## TRANG 238 **Ngài A-la-hán U Thar Shwe (U Kavinda) thọ một trăm tuổi** **(1182 - 1282 Phật lịch)** Vùng phụ cận Maung Daung và Nyaung Kan dường như đã từng có rất đông các vị hành giả ẩn cư tại các trú xứ rừng già (araññavāsī). Khu vực này tiếp giáp với dãy Himalaya, rừng núi rậm rạp. Các bậc thầy như thiền sư Kyaung Pan, Ledi, Kanni cũng đã từng đến đây ẩn tu. Khi khảo sát dưới góc độ của một hành giả, người ta nhận thấy đây là một địa phương lý tưởng cho việc tu tập. Cách làng Maung Daung Gyi khoảng sáu dặm về phía Bắc là vùng Wet Ye Taw, nơi rừng rậm thâm u hơn, từng là nơi ẩn cư của những bậc thiện tri thức cao đức. Đây chính là phần phía Nam của khu rừng Mahamyaing rộng lớn. ### Các trú xứ ẩn tu (Aranya) nổi tiếng Vào khoảng cuối thời Thaton đầu thời Bagan, có một vị thánh tăng tên là Khin Gyi Moe đã viên tịch tại chính khu rừng này. Vào thời điểm đó, giữa chốn rừng sâu núi thẳm, hầu như đêm nào dân làng cũng nghe thấy tiếng tụng kinh cùng tiếng chuông và khánh đồng vang vọng. Thấy vị cao tăng Khin Gyi Moe thường ngày vẫn đi khất thực nay không thấy đến, dân làng Wet Ye đã vào rừng tìm kiếm và phát hiện Ngài đã viên tịch. Họ liền thỉnh thi hài Ngài về làng. Dân làng Maung Daung nghe tin, vì muốn tôn thờ vị hương linh nên đã đề nghị thỉnh thi hài Ngài về quê nhà Maung Daung. Sau khi bị từ chối, họ đã đến lấy trộm vào ban đêm. Khi họ khiêng thi hài Ngài trở về, dù là đêm cuối tháng (trăng non) giữa rừng già tối mịt, nhưng lạ thay suốt dọc đường đi, ánh trăng lại tỏa sáng rạng ngời. Chỉ khi về đến Maung Daung ánh sáng mới biến mất, lúc đó họ mới sực nhớ ra hôm ấy thực sự là đêm cuối tháng tối trời. (Câu chuyện này được ghi lại trong cuốn "Maung Daung Rup Lon Phaw Tika"). Cách làng Nyaung Kan khoảng tám dặm về phía Tây có một trú xứ rừng già với địa hình đồi núi hiểm trở, nhiều khe suối và vách đá dựng đứng. Có những vực sâu từ năm mươi đến một trăm feet, dưới lòng suối tự nhiên hình thành nên những khoảng đất bằng phẳng rộng khoảng một trăm feet. Trên các vách đá có những hang động, biến nơi đây thành một địa điểm xuất sắc cho việc thực hành thiền định (kammaṭṭhāna bhāvanā). Những nơi như Kho Chaung Chat... ## TRANG 239 Các ngôi làng này có thể dùng làm nơi khất thực (gocara-gāma). Thuở trước, tại vực sâu này có một vị sư tên là U Ka cư ngụ, Ngài vốn nổi tiếng là một vị A-la-hán. Ngài thường sưởi ấm bên cạnh những con báo gấm và đã viên tịch trong khi để mặc cho giòi bọ ăn thịt mình (pháp xả thân). Người tiếp tục trông nom khu rừng hang đá này — thường được gọi là Vực Ngài U Ka — từ năm 1298 đến 1311 là Ngài đại trưởng lão U Ukkaṃsa, vị Thừa chỉ (Ovadacariya) của Hội đồng Tăng già Trung ương. Ngài sinh năm 1239 tại làng Alal, vùng Pin. Ngài là đệ tử của các bậc thầy tại Manle, Taline Kone và chùa Min Kyaung Wat Chet. Năm 1293, tại đầu làng Maung Daung Gyi, Ngài cũng đã thành lập một học viện Phật giáo (Sāthin-taik) tên là Ceti Hla. Ngài cũng là tác giả của các bộ luận như "**Gambhīratthapakāsanī**" (Thâm Nghĩa Đăng), "**Catukkavinicchaya**" (Tứ Pháp Quyết Trạch), và "**Buddhasaraṇatthadīpaka**" (Phật Bảo Quy Y Đăng). Từ vị thế một vị giảng sư (Cā-cha) tại chùa Kyaik Pa Tai ở Sagaing, Ngài đã rời bỏ để vào rừng ẩn tu. Ngài là bậc có dũng mãnh tinh tấn (vīriya) và đức tin (saddhā) vô cùng lớn lao. Trong thời gian trú tại khu rừng Nyaung Ni, cách thị trấn Budalin khoảng tám dặm về phía Đông Bắc, Ngài thường xuyên bị các loài phi nhân (phi tặc) quấy nhiễu vào ban đêm; dù dùng nhiều cách bảo vệ cũng không hiệu quả. Chỉ khi rải tâm từ (mettā) Ngài mới nhiếp phục được chúng, do đó Ngài thường xuyên khuyến tấn về uy lực của vũ khí tâm từ. Trong thời gian ở tại rừng Ingyin San, phía Đông Bắc làng Maung Daung Gyi, mỗi khi những người thợ săn đi vào vùng phụ cận chùa rừng, trời lại bỗng dưng tối sầm khiến họ không thể săn bắn được. Sự việc lặp lại nhiều lần khiến họ sinh lòng kính tín và ngưỡng mộ sâu sắc. Khi vị trưởng lão này ở tại Vực Ngài U Ka, Ngài đã truyền dạy thiền định cho một vị đệ tử trên một thiền đường kinh hành (caṅkama) dài sáu mươi cubit (khoảng 30m). Có lần vị đệ tử đang ngồi thiền ở đầu đường kinh hành này thì thân mình bỗng nhiên bay bổng lên và dịch chuyển sang đầu đường kinh hành phía bên kia. Vị trưởng lão cư ngụ tại hang đá cho đến lúc viên tịch. Một ngày nọ, ông U Pho Khin từ làng Nga Ye Win đang hành thiền tại một am nhỏ không xa chỗ của Ngài. Quá nửa đêm, ông nhìn về phía am của Ngài thì thấy cả ngôi chùa rực sáng ánh kim quang. Ông chạy đến xem nhưng không thấy Ngài đâu. Sáng hôm sau, khi ông bộc bạch với Ngài rằng đêm qua không thấy Ngài đâu, Ngài chỉ trả lời: "Khi thanh vắng thì phải tu tập quán chiếu như thế thôi". Ông không biết bình luận gì hơn ngoài lòng kính ngưỡng vô biên. Trưởng lão là bậc có ý chí và sự tinh tấn phi thường. Khi có Phật sự, Ngài thường đi bộ từ chùa rừng đến các làng cách đó năm, tám dặm từ sáng sớm tinh sương. Vào mùa đông, việc phải băng qua những nương ngô cao quá đầu người sũng nước sương đêm là một thử thách lạnh buốt xương tủy. Gặp ai trên đường... ## TRANG 240 ... mà không dừng lại đảnh lễ, Ngài thường giơ gậy lên ra hiệu yêu cầu họ phải lễ bái. Đó chính là cách Ngài trao tặng phước báu. Một ngày nọ, gặp một người đàn ông làng Ku Taw đang say rượu thốt nốt trên một con đường hẹp, Ngài đã dùng gậy nhẹ nhàng ấn vào đầu bảo anh ta ngồi xuống đảnh lễ. Sau khi ban lời giáo huấn, Ngài hỏi xin (alhu-khan) việc từ bỏ rượu thốt nốt, anh ta đã hứa: "Con xin không uống trong một tháng". Ngài căn dặn: "Này, con đã hứa cúng dường theo khả năng của mình, nếu thất hứa thì tự con sẽ gánh chịu khổ đau. Đời này điên, đời sau cũng có thể bị điên đấy, đừng nên uống nữa". Nói rồi Ngài bước đi. Ba ngày sau, người đàn ông đó đi đến làng Nga Pyaw Yay Tin, vì bạn bè rủ rê, anh ta đã uống lại rượu thốt nốt. Đám bạn còn thúc giục: "Ôi, hứa thì hứa thế thôi, mình uống thì Ngài làm sao mà biết được". Sau khi uống xong trên đường trở về, anh ta đã bị rắn cắn chết. Trưởng lão đã ban truyền trí tuệ cho mọi tầng lớp nhân dân trong vùng. Tuy nhiên, những người thực sự hiểu được ân đức của Ngài lại rất ít. Những kẻ muốn vào vùng đất của chùa rừng để săn bắn, chặt củi, hay canh tác lại coi Ngài như kẻ thù ngăn cản họ. Năm 1311, khi thọ 75 tuổi, dù đang bị chứng phù nề gây khó thở trầm trọng, Ngài vẫn không ngừng thuyết pháp cho các đệ tử, khiến cơn mệt càng thêm dữ dội. Vào đêm mồng 8 tháng Nat-taw (tháng 9 Miến lịch) năm đó, sau khi bảo các đệ tử hãy nhìn lên ngôi sao Thuyền (Ship Star) trên bầu trời, Ngài phán rằng: "Này... hãy cố gắng ghi nhớ lời ta nói. Mệt thì cứ để nó mệt. Khi sao Thuyền lặn xuống (ngã bóng) thì cơn mệt này sẽ dịu đi thôi". Giọng thuyết pháp của Ngài bắt đầu xen lẫn tiếng đờm đặc, mờ nhạt dần rồi tắt hẳn. Cơn mệt có vẻ dịu xuống, ông U Mya Aye cùng một vài người chăm sóc bước ra ngoài am nhỏ để rải tâm từ. Khi nhìn lên ngôi sao Thuyền (tên gọi là Punnavajju), họ thấy nó đã ngả về phía tây. Họ kháo nhau rằng lời Ngài nói thật linh nghiệm. Nhưng thực chất, vị trưởng lão đã cùng ngôi sao ấy đi vào cõi vĩnh hằng (viên tịch). Hiện nay, tại trú xứ rừng già đó, Ngài hòa thượng U Kalyāṇa từ chùa Wa taw ma vẫn đang tiếp tục trông nom và truyền dạy thiền định. Lại nữa, cách thị trấn Budalin năm dặm về phía Bắc, hiện nay vẫn còn trú xứ rừng già mang tên Taung Kalat. Đã từng có một vị sư tên là U Dway Hnaung, pháp danh U Ariyañāṇa cư ngụ tại đó. Ngài chung sống hòa bình với những con báo gấm. Ngài thường hay nói: "Chùa Shwedagon cũng ở gần đây thôi mà", cho nên mọi người cho rằng hằng ngày Ngài đều đến đó để chiêm bái Phật. Vua Bodawpaya từng ba lần thỉnh mời Ngài về kinh đô để cúng dường thì Ngài mới chịu đăng trình.