# Tiểu Sử Các Bậc Alahan - Tập 1 ## BẢN DỊCH VIỆT - BATCH output-241-to-243 ## TRANG 241 ### Các Bậc A-la-hán và Những Bậc Đặc biệt Cách núi Taung Kalat hơn ba dặm về phía bắc có vùng Oke Pho Taung, và khoảng mười dặm là làng Latt Pan, nơi có trú xứ Latt Pan Tawya. Đây là nơi ẩn tu của Ngài Hòa thượng Latt Pan (thường gọi là U Ādicca), vị thầy của Ngài Hòa thượng Kanni – người biên soạn bộ Luận Yogipāragū. Ngài là đệ tử của các bậc tôn túc như Hòa thượng Lone Taw, Hòa thượng Ayadaw và Hòa thượng Sīlatissa người Tây Tạng. Ngài vô cùng nổi tiếng trong giới thực hành thiền định (paṭipatti). Đây là các trung tâm thiền lâm thuộc khu vực tam giác xung quanh các vùng Maung Htaung và Nyaung Kan thuộc huyện Budalin. Những nơi này vẫn còn tồn tại cho đến tận ngày nay. Việc quan sát một địa danh cụ thể như vậy chỉ nhằm giúp chúng ta hình dung được bối cảnh tu tập thực hành thời bấy giờ. #### Trưởng lão U Thar Shun Điểm mà tôi muốn trình bày ở đây chính là về Ngài U Kavinda, thường được gọi là Trưởng lão U Thar Shun. Về cuộc đời của Ngài U Thar Shun, tôi xin trích dẫn theo những ghi chép được nghiên cứu và biên soạn bởi người sư huynh của chúng tôi là Ngài Thawbita, trụ trì chùa Maung Htaung Yon Satike. Bản ghi chép đó được thực hiện dựa trên việc ph vấn ông U Lu Min (85 tuổi) – một người hộ tông (kappiya) của Ngài U Thar Shun tại làng Oke Ai gần làng Nyaung Kan – và các vị sư tại chùa Oke Ai. Chính người viết cũng đã trực tiếp đến ngôi chùa đó để xác minh thêm từ những vị này trước khi biên soạn. Ngôi chùa ba tầng cổ kính nơi Ngài từng cư ngụ hiện vẫn còn có thể tham quan được. Ngài U Thar Shun sinh quán tại làng Kyet Yoe Kone, gần làng Nyaung Kan. Ngay từ khi còn nhỏ, Ngài đã có thiên hướng và tâm nguyện mãnh liệt đối với đời sống viễn ly nơi rừng núi. Đầu tiên, Ngài trú ngụ tại khu rừng Thit Khaung Pa Loke Toke, nằm giữa làng Thee Pin Ai và làng Kokko Su. Vào khoảng năm 1247 (Miến lịch), Ngài cư ngụ tại thiền lâm Latt Pan bên trục đường Budalin - Ye U. Thời điểm đó, kinh đô Mandalay đang bị quân đội Anh chiếm đóng, đất nước rơi vào cảnh loạn lạc, bất ổn. Trộm cướp hoành hành khắp nơi. Khi đang hành thiền, tâm trí Ngài cũng bị ảnh hưởng bởi những xáo trộn và lo âu. Trong lúc ấy, quân lính Ấn Độ (thuộc quân đội Anh) đã tiến đến bao vây núi Oke Pho Taung vì nghi ngờ có quân địch ẩn náu. Ngài càng thêm phần hoang mang lo sợ. Vì thế, Ngài phải trùm chiếc mền lớn che kín đầu, lặng lẽ rời khỏi ngôi chùa nhỏ tại thiền lâm Latt Pan. Ngài chuyển đến tu tập tại rừng Wet Ye, cách làng Maung Htaung sáu dặm về phía bắc. Khu rừng Wet Ye thời bấy giờ vốn nổi tiếng là nơi có nhiều thú dữ. Khi đó, Trưởng lão đã trông thấy... ## TRANG 242 ...những con rắn độc lớn bằng thân cây thốt nốt, nhưng thú dữ và rắn độc dường như đã trở thành những người bạn của Ngài. Từ đó, Ngài tiếp tục du hành và tu tập qua các vùng rừng Gway Pin Kyin, rừng Se Gyi và các dãy núi Shwe Sar Yay. Ngài thường dùng ba bốn tàu lá thốt nốt gác lên cây để làm lán tu tập; khi thấy nơi nào bắt đầu có nhiều người qua lại, Ngài lại dời đến một khu rừng khác. Trong thời gian Ngài ở thiền lâm Se Gyi, một người tên là Ko Thar Pyan đã từ bỏ nhà cửa, vợ con để đi theo phục vụ Ngài với vai trò người hộ tông. Lúc bấy giờ, Trưởng lão đã ngoài 70 tuổi. #### Tiếng Pháp từ Vực Shin Ma Vị tỳ-kheo trẻ **U Thawbita** (người sau này trở thành Ngài Hòa thượng Kanni), sau khi thọ nhận các pháp môn thiền quán và tu tập dưới sự chỉ dạy của Hòa thượng Latt Pan, trên đường trở về thành phố Kanni đã dừng chân tại làng Nyaung Kan để dò hỏi tin tức về Ngưởng lão U Thar Shun. Vị tỳ khưu trẻ đã đi sâu vào từng cánh rừng, tìm kiếm khắp những nơi nghi ngờ có Ngài cư ngụ. Cuối cùng, thầy đã được diện kiến Trưởng lão đang hành thiền bên trong vực Shin Ma, cách làng Nyaung Kan (quê hương của Ngài Buat) khoảng ba dặm về phía nam. Vực Shin Ma sâu khoảng năm mươi đến một trăm bộ, với các lớp đá chồng lên nhau một cách tự nhiên, là một nơi vô cùng yên tĩnh và thanh tịnh. Trưởng lão đang ngự trên một phiến đá lớn dưới chân vách vực. Giữa vực có một dòng suối cát nhỏ đã cạn nước, tỳ khưu U Thawbita liền ngồi xuống bãi cát đó để cung kính đảnh lễ. Sau khi đảnh lễ xong, thầy thưa rằng: "Bạch Ngài, con vốn hết lòng ngưỡng mộ và kính tín vào con đường tu tập của các bậc tiền bối. Sau khi thọ giáo từ Hòa thượng Latt Pan trở về, con vốn đã nghe danh đức của Ngài từ trước nên đã cất công tìm kiếm để được thọ nhận giáo pháp. Cúi xin Ngài từ bi thuyết giảng những pháp môn giúp thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi này; xin Ngài hãy ban lời giáo huấn cho con." Nghe lời thỉnh cầu đầy hân hoan đó, Trưởng lão sau khi hỏi thăm đôi chút về căn nguyên đã dạy rằng: "Hừm, kinh điển đã thông suốt cả rồi đấy thôi. Chỉ cần làm đúng theo kinh điển là được. Chẳng ai có thể làm gì hơn ngoài những điều kinh điển đã dạy; điều quan trọng là phải thực sự tin vào kinh điển. Đức Thế Tôn cũng chỉ dạy có hai loại pháp mà thôi. Thầy chắc cũng đã biết rõ cái gì là **Pahātabba** (những pháp cần phải đoạn tận - Phiền não), và cái gì là **Bhāvetabba** (những pháp cần phải tu tập, tăng trưởng - Thiện pháp) rồi chứ? Điều gì bảo 'chớ làm' thì đừng làm, điều gì bảo 'hãy làm' thì phải làm, chỉ có vậy thôi. Ta hiện đang sống đúng theo tinh thần đó đây." Ngài đã thuyết giảng một cách ngắn gọn nhưng vô cùng súc tích và đúng trọng tâm. Ngoài tiếng chim cu gáy trên đỉnh vách vực, không gian xung quanh hoàn toàn tĩnh mịch và an bình. ## TRANG 243 Người hộ tông Ko Thar Pyan, khi thấy có một vị tỳ khưu lạ đến thăm, đã từ dưới một gốc cây gần khúc quanh của suối vực Shin Ma đi theo các bậc đá quanh co bước xuống. Anh dùng một cái gáo dừa múc nước từ quả bầu khô được bọc bằng sợi gai để dâng lên vị khách tăng. Sau đó, anh trở về gốc cây của mình và tiếp tục công việc hành thiền như cũ. Trưởng lão lại tiếp tục câu chuyện: "Này Sư trẻ, chúng ta gặp được giáo pháp (Sāsana) là một điều đại phước hữu duyên. Tìm được một vị thầy có khả năng hướng dẫn thiền định đúng phương pháp là điều không hề dễ dàng. Ngài **U Ādicca** ở Latt Pan Tawya quả thực là bậc thiện tri thức. Khi đã gặp được giáo pháp và gặp được thầy như vậy, điều quan trọng nhất là phải có lòng tin tuyệt đối, sẵn sàng hiến dâng cả mạng sống mình cho giáo pháp và cho thầy. Vào thời kỳ cuối của giáo pháp Đức Phật Kassapa, khi thấy phần đông tăng chúng đã buông lung về giới hạnh, có bảy vị tỳ khưu là bạn đạo đã cùng nhau lập lời thệ nguyện và tin chắc rằng: 'Nếu tu tập nhân này, nhất định sẽ gặt hái được quả này'. Cả bảy vị đã dùng thang dây leo lên một đỉnh núi cao, và ngay khi vừa lên đến đỉnh, họ đã đẩy chiếc thang xuống vực để cắt đứt đường về. Họ nỗ lực tu tập với quyết tâm: Hoặc là đắc chứng thánh quả, hoặc là gửi xác lại trên đỉnh núi này. Sau một ngày, có một vị đắc quả A-la-hán, ngài đã dùng thần thông đi khất thực ở Bắc Câu Lưu Châu rồi mang về cho các vị còn lại. Nhưng những vị khác không ăn, họ khẳng định rằng phải tự mình chứng đắc thì mới thọ dụng, và tiếp tục nỗ lực không ngừng nghỉ. Ngày hôm sau, thêm một vị nữa chứng quả A-na-hàm. Sau bảy ngày, năm vị còn lại dù chưa đắc chứng thánh đạo nhưng đã kiệt sức vì nhịn ăn và viên tịch, sau đó được sanh về cõi chốn thiên đàn. #### Tự làm tròn bổn phận - Một mũi tên trúng hai đích Này Sư trẻ, chúng ta bây giờ đang ở trong thời kỳ giáo pháp còn rực rỡ hơn cả lúc bấy giờ, điều quan trọng là mình phải thực sự tin và thực sự thực hành. Đừng có kiểu bản thân mình chưa đến đâu mà đã lo nhìn trước ngó sau muốn lôi kéo người khác. Sống độc cư không có nghĩa là mình chỉ ích kỷ tìm đường thoát thân cho riêng mình đâu. Việc tự mình tu tập cho thật tốt cũng chính là cách thức phụng sự lợi ích cho số đông hiệu quả nhất. Trong kinh điển **Mahāvagga Saṃyutta**, Đức Thế Tôn có giảng qua ví dụ về người thầy và trò cùng biểu diễn xiếc trên một cây gậy tre dựng đứng. Cả người thầy vác gậy trên vai lẫn người trò leo lên đỉnh gậy đều phải tự mình cẩn trọng trong công việc của mình, tự bảo vệ chính mình...