## TRANG 244 **188** Cũng vì mục đích bảo vệ mọi người vậy. (Lời của Ngài Dhammācariya U Hte Hlaing) "Y như ví dụ ấy, việc tự mình nỗ lực thực hành thiền định chính là đang bảo vệ các chúng sinh khác (*attānaṃ rakkhanto paraṃ rakkhati*). Việc tu tập đức nhẫn nại, tâm từ, tâm bi và tâm hỷ cũng vậy (*paraṃ rakkhanto attānaṃ rakkhati*) — khi bảo vệ người khác, ta cũng chính là đang bảo vệ chính mình. Đây là một công việc đem lại lợi ích vô cùng to lớn (*Kinh Sedaka*). Đây cũng chính là công việc có thể thanh toán những món nợ bất thiện nghiệp trong vòng luân hồi (*aparāpariya-vedanīya-kamma*). Nếu chỉ dùng thân xác này để đền bù thì món nợ ấy chẳng bao giờ dứt được. Thôi, mặt trời cũng đã xế bóng rồi, hãy lên đường theo ý nguyện đi." Nói rồi, bậc đạo sư ra hiệu kết thúc câu chuyện. Vị thiền sư Kanny tương lai (khi ấy là ngài U Sobhita) đảnh lễ rồi quẩy bát đứng dậy. Người cư sĩ trợ niệm (kappiya) Tha Phyu đi theo phía sau để dẫn đường. Trong ánh hoàng hôn nhạt nhòa, hai người cùng nhau băng qua những rừng thốt nốt đại thụ, những nương rẫy xanh mướt, và thỉnh thoảng là những vực sâu thăm thẳm chừng năm mươi bộ. Phía bên tay phải, họ nhìn thấy núi Twin (một ngọn núi được hình thành từ miệng núi lửa đã tắt). Trên những cánh đồng, những tảng đá lớn chừng một người ôm, vốn bị văng ra từ ngọn núi ấy, nằm rải rác khắp nơi khiến họ phải vất vả tránh né để tiến bước. Ở phía Tây Nam và Tây Bắc, núi Shwe Chay và núi Kanny cũng hiện ra thấp thoáng ở phía xa. Mặt trời lúc này sắp sửa lặn hẳn. "Này cư sĩ, việc được đi theo phục vụ và làm các công việc công quả cho một vị Tỳ-kheo như thế này là một phước báu rất lớn. Hãy vừa làm việc, vừa nỗ lực thực hành giáo pháp nhé." Khi vị Tỳ-kheo quay sang nhắn nhủ như vậy, người cư sĩ dẫn đường cung kính đáp lời: "Bạch vâng, con xin vâng lời sư ạ." "Thôi, cư sĩ hãy ở lại đây. Sư đã biết đường đi rồi. Ừm... Đừng bao giờ khinh thường những thiện nghiệp hay bất thiện nghiệp dù là nhỏ nhất nhé. Chúng cũng giống như những mạch nước ngầm vậy. Khi ta đào một cái giếng thủ công, nước từ khắp mọi ngả trên cùng một mạch ngầm sẽ tự động cuộn chảy và thấm vào đó. Lại còn một điều này cần ghi nhớ, nếu không thể giữ gìn tối thiểu năm giới cho được trong sạch thì việc tu tập sẽ không đem lại nhiều lợi ích đâu. Bởi vì có Giới mới sinh Định, có Định mới phát Tuệ. Thôi, cư sĩ hãy về đi." Nói xong, giữa màn đêm đang dần buông xuống, vị Tỳ-kheo tiếp tục sải bước đi sâu vào cánh rừng. Người cư sĩ Tha Phyu sau đó trở về nơi Trưởng lão đang trú ngụ tại vực Shin Ma. (Câu chuyện về thiền sư Kanny sẽ được trình bày ở phần sau). Khi Trưởng lão đã ngoài 70 tuổi, sức khỏe suy yếu, các thí chủ đã cung thỉnh ngài về trú ngụ tại chùa Phía Bắc thuộc làng Oke Ai, gần làng Nyaung Kan. Ngôi chùa này tọa lạc trên một gò đá cao, xung quanh được bao bọc bởi những hàng me cổ thụ. --- ## TRANG 245 **189** Dù trú ngụ tại một ngôi chùa trong làng, nhưng ngài không tiếp đón chư Tăng hay người thế tục. Ngài chỉ ở cùng với người cư sĩ trợ niệm. Ngay cả những thân quyến đến thăm, ngài cũng không trực tiếp gặp mặt. Phải thông qua người cư sĩ trợ niệm thỉnh cầu hai ba lần, họ mới được diện kiến ngài. Có những thân quyến thậm chí phải khóc lóc van xin mới có cơ hội được đảnh lễ ngài. Tất cả vật thực hay phẩm vật cúng dường nhận được, ngài đều dâng lên cúng dường đức Phật trước rồi mới thọ dụng. Đầu năm 1282, người cư sĩ trợ niệm Tha Phyu đột ngột qua đời, cư sĩ U Pwa Paw tiếp quản công việc phục vụ ngài. Trưởng lão đã tổ chức lễ hỏa táng cho cư sĩ Tha Phyu một cách trang trọng. Một ngày nọ, khi cư sĩ U Pwa Paw nhìn thấy Trưởng lão đang ngồi thiền mà nước mắt cứ tuôn rơi không ngừng, ông liền cung kính hỏi thăm nguyên do. Ngài bùi ngùi đáp lại với giọng buồn bã: "Ta chợt nhớ đến thằng nhỏ Tha Phyu quá..." Được biết, cho đến thời điểm đó, Trưởng lão vẫn chưa chứng đắc quả vị A-na-hàm. Tuy nhiên, không lâu sau, tuệ giác của ngài dường như đã có sự tiến bộ vượt bậc. Cư sĩ U Pwa Paw, người thường ngủ ở một vị trí không xa chỗ ngài trong ngôi chùa ba tầng, kể lại rằng mỗi khi thức giấc, ông đều thấy ngài không hề ngủ mà luôn ngồi thiền. Ông còn cho biết thêm rằng, hằng đêm, ông đều nhìn thấy những luồng hào quang sáng rực rỡ tỏa ra xung quanh ngài và bao trùm lấy toàn bộ không gian bên trong ngôi chùa. ### Phân tích về hào quang của thân Ngày nay, có lẽ cũng có nhiều hành giả có được những luồng hào quang rực rỡ như vậy. Bậc đại trưởng lão Mogok Sayādaw, vị chứng đắc danh hiệu Aggamaha-paṇḍita, từng thuyết giảng rằng thông qua việc quan sát hào quang, người ta có thể biết được tâm tính của một người. Liên quan đến vấn đề hào quang này, các hành giả Ấn Độ, đặc biệt là các vị Lạt-ma Tây Tạng có thần thông, thường rất chú trọng thảo luận. Họ nghiên cứu sâu sắc đến mức có thể nói chính xác những suy nghĩ, tâm tư cũng như tình trạng bệnh tật của đối phương. Họ tin và đã viết lại rằng, hào quang của đức Phật và các bậc A-la-hán là một màu vàng thuần khiết. Họ cũng tin rằng mỗi người đều tỏa ra một loại ánh sáng riêng. Trong các kinh điển Pāḷi, chúng ta tìm thấy ghi chép rằng khi Đức Thế Tôn quán chiếu bộ *Vị Trí (Paṭṭhāna)* liên tục trong bảy ngày, sáu luồng hào quang rực rỡ đã phóng ra, chiếu sáng rực rỡ xuyên suốt khắp vô lượng thế giới từ trên xuống dưới. --- ## TRANG 246 **190** (Lời của Ngài Dhammācariya U Hte Hlaing) Điều này cũng được mô tả trong chú giải bộ *Pháp Tụ (Dhammasaṅgaṇī)*. (Cũng có quan điểm cho rằng dựa trên màu sắc của máu được phóng ra từ tâm cơ — *hadaya-vatthu*, người ta có thể phán đoán được tính cách và tâm tư của một người). Việc tỏa ra hào quang như vậy là do tâm được thanh tịnh và trong sáng, dẫn đến máu trong tâm cũng trở nên thanh tịnh. Khi đó, các sắc do tâm tạo và sắc do thời tiết tạo liên quan đến tâm ấy đều trở nên thuần khiết và phát ra ánh sáng. Đây không phải là do biến hóa thần thông, mà là kết quả của việc quán chiếu những giáo pháp thâm sâu mà hào quang được hiển lộ. Trong chú giải *Kinh Gila (Tương Ưng Bộ)*, có chép rằng Trưởng lão Mahākassapa khi lắng nghe và quán chiếu về các chi phần Giác ngộ (Thất Giác Chi), ngài đã khởi lên tâm hỷ lạc với ý nghĩ rằng: "Giáo pháp của Đức Thế Tôn thực sự là con đường giải thoát." Từ tâm hỷ lạc ấy, bắt đầu từ tâm cơ (*hadaya-vatthu*), các sắc thân khác cũng trở nên thanh tịnh và bệnh tật của ngài nhờ đó mà được tiêu trừ. Việc quán chiếu giáo pháp không chỉ làm cho sắc diện trở nên tươi sáng, tỏa ra hào quang, mà thậm chí còn có khả năng chữa lành các căn bệnh. Đây là điều cần lưu ý về mối liên hệ hỗ tương giữa danh pháp và sắc pháp. Thuở xưa, một nhà tâm lý học người Ấn Độ đã nghiên cứu và viết về hào quang của con người rằng: mỗi người đều có hào quang, chỉ là do chúng ta không chú ý đến việc nắm bắt và chỉ ra nó mà thôi. Hình ảnh phản chiếu của con người trong gương thực chất cũng là hào quang. Hào quang ấy luôn tồn tại và lan tỏa khắp không gian vô tận. Nếu đặt một chiếc gương cách mình một bộ, ta sẽ thấy hào quang của mình hiện diện ở khoảng cách đó. Tương tự, nếu có một chiếc gương đủ sức thu hút để nắm bắt ở khoảng cách hàng trăm bộ, một dặm, hai dặm hay thậm chí là ở một thế giới khác, ta cũng có thể nhận thấy hào quang của mình đang hiện diện ở đó. Các học giả Tây Tạng cũng cùng quan điểm rằng hào quang này tồn tại vĩnh cửu. Các nhà khoa học cũng sử dụng đơn vị năm ánh sáng, với tốc độ ánh sáng là 186.000 dặm mỗi giây. Trong chú giải *Kinh Thánh Cầu (Bản Sinh Kinh)*, có khẳng định rõ ràng rằng những luồng hào quang xuất hiện khi quán chiếu bộ *Vị Trí (Paṭṭhāna)* vẫn đang lan tỏa và tồn tại trong vũ trụ cho đến ngày nay. Tương tự, chú giải *Bồ-đề Sử (Boddivaṃsa)* cũng ghi chép rõ rằng những hào quang từ thần thông song hành khi Đức Thế Tôn từ cõi trời Tāvatiṃsa trở về nhân gian vẫn sẽ tồn tại cho đến ngày giáo pháp biến mất. Đứng dưới góc độ A-tì-đàm (Abhidhamma), đó chính là sự kế thừa liên tục của các đại hiển sắc và sắc pháp. Các nhà tâm lý học về đo lường tâm linh (psychometry) thì cho rằng, không chỉ có hình dáng và hào quang...