## TRANG 253 ### Bậc A-la-hán và các bậc cao nhân Xin lược thuật một vài chuyện phi thường về Ngài: (1) Khi Ngài trú tại núi Kywematat-nar, rất đông người đã đến đảnh lễ Ngài. Một ngày nọ, có một nữ thiện tín đến tắm ở hồ nước tự nhiên (Nāt-ye-kan - hồ nước Thiên), ngay sau đó hồ nước bỗng cạn khô. Bà trình sự việc lên thiền sư, và chỉ trong vòng vài giờ đồng hồ, nước lại phun ra đầy hồ như cũ. (2) Khi Ngài ngụ tại núi Kampyo, vào lúc quá nửa đêm, người dân sống ở khu vực xung quanh thường nghe thấy tiếng nhạc trời du dương vang lừng trên không trung. (3) Tại núi Yankin, trong khi sửa chữa một ngôi bảo tháp cổ bằng cách xây trùm lên một lớp mới, chiếc lọng (hti) cũ bám chặt đến mức sức người không sao tháo xuống được. Khi mọi người đang định bỏ cuộc thì bất ngờ một trận động đất xảy ra, làm chiếc lọng rụng xuống đất mà vẫn nguyên vẹn không hề hỏng hóc. (4) Cũng tại núi này, có khoảng ba bốn mươi người đến dâng vật thực. Mỗi khi họ đến, hầu như không ai tìm thấy Ngài trong tăng phòng. Nhưng hễ đến giờ dùng bữa, khi nghe tiếng chuông (khốc) báo hiệu, Ngài lại xuất hiện ngay trước mặt họ. (5) Tại hang Nankathu, Ngài thường chỉ ở cùng một người hộ tăng (kappi-ya). Có những chúng sinh giống như Naga hay rắn lớn xuất hiện, Ngài thường ban lệnh: “Thiện nam tiến lên, thiện nữ lùi lại”, và chúng đều tuân theo để Ngài thuyết Pháp. Ngài cũng thuyết Pháp cho các loài chúng sinh huyền bí (būta) khác. Một lần nọ, khi tìm thấy các kho báu, do người hộ tăng nảy sinh tâm bất thiện nên cửa hang bỗng đóng sầm lại, khiến Ngài phải quở trách người hộ tăng đó... v.v. Năm 1270 (Miến lịch), Ngài chuyển về ngôi chùa trong làng. Khoảng hai năm sau, vào tuổi 82, Ngài đã viên tịch. Lễ trà tỳ được tổ chức vô cùng trang nghiêm. Khi sắp hỏa táng, nhục thân của Ngài vẫn tươi nhuận như người đang nằm ngủ tự nhiên mà không qua bất kỳ sự bảo quản nào, nên đại chúng đã đưa Ngài vào tháp tôn thờ. Hiện nay tại núi Kampyo, Phật tử từ bốn phương vẫn thường xuyên đến đảnh lễ. Tương truyền nhục thân Ngài không hề bị khô héo, ngay cả tóc và lông vẫn còn nguyên vẹn. ## TRANG 254 # Thiền Sư Gu-Phyu Taw-Ya Ở Yesagyo ### (1191 – 1281) Ngài sinh năm 1190 (Miến lịch) tại làng Thazi, cách thị trấn Yesagyo khoảng ba dặm về phía Tây Bắc. Thân phụ là ông U Htat, thân mẫu là bà Daw Ngo. Thuở nhỏ tên là Maung Kyaw Ywe, Pháp danh là Ashin Medhā. Ngài học pháp tại làng Kyauk-khat, sau đó tiếp tục cầu học với Thiền sư Yesagyo **U Varasambodhi**, các bậc Trưởng lão tại chùa Bhākarā và chùa Nannyaung ở kinh đô Inwa. Ngài đặc biệt nổi danh về trì giữ Luật tạng, được xem là bậc chuẩn mực cho đời sau. Ngài được tương truyền đã thuyết giảng bộ **Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga)** và Tam Tạng Kinh điển tới 52 lượt. Suốt 72 hạ lạp trong tổng số 91 năm cuộc đời, Ngài luôn trì giữ trọn vẹn 13 hạnh đầu đà (dhutaṅga), đặc biệt là hạnh trì bình khất thực. Chỉ đến 11 ngày cuối đời trước khi viên tịch, Ngài mới thôi đi khất thực. Trong những vật thực khất thực được, nếu có loại gạo trắng ngon, Ngài đều dành cúng dường lên chư Tăng; còn phần mình, Ngài chỉ dùng loại gạo đỏ, gạo thô. Ngài không mang dép, không che lọng, không dùng quạt, chỉ cầm một chiếc lá thốt nốt được tỉa sơ qua cho vừa vặn. ### Ngài Mohnyin Sayadaw từng cầu học Vị thiền sư lừng danh Mohnyin Sayadaw khi mới xuất gia tầm đạo, trước khi gặp Ngài Ledi Sayadaw, đã từng có ba tháng cầu học với Ngài Gu-Phyu Sayadaw. Trong tập **Mohnyin Therāpādāna (tử vi Trưởng lão)** (trang 82-83), đệ tử của Ngài là U Kovida đã ghi lại như sau: [ “Đức thầy (Ngài Gu-Phyu) không tiếp khách, không nói chuyện phiếm, Ngài ở một mình trong ngôi chùa vắng để nỗ lực hành thiền. Ban đêm, Ngài giăng một sợi dây thừng băng ngang qua tăng xá, luồn vào đó một ống tre. Ngài cầm ống tre đó để giữ thăng bằng rồi đi kinh hành không ngừng nghỉ. Đôi khi do quá buồn ngủ, Ngài va đầu vào vách tường nghe một tiếng 'đùng', khi đó Ngài chỉ thốt lên: 'Ôi khổ thay, khổ thay! Thùy miên (thina-middha) thật là lợi hại!', rồi lại tiếp tục bước đi. Ngài hành trì miên mật như vậy cho đến tận hừng đông. Do sự tinh tấn quá đỗi thiện lành đó, người dân cả vùng đều tôn xưng Ngài Gu-Phyu là bậc A-la-hán.” ] Những ghi chép từ các cuộc vấn đáp của Ngài Shwe Hintha Sayadaw ở Sagaing về vị thiền sư này cũng vô cùng thú vị. Quý vị có thể tham khảo thêm trong bộ “Lịch sử Giáo hội Shwegyin Nikāya”. ## TRANG 255 ### Bậc A-la-hán và các bậc cao nhân ### Đến Trưởng lão U Sīla cũng phải kính nể Ngay cả Trưởng lão U Sīla, người lừng danh ở vùng Hạ Miến là bậc A-la-hán, cũng từng có lời tán thán rằng: “Ngài Gu-Phyu còn cao thượng hơn cả chúng ta nữa”. Lời này dường như ám chỉ đến sự nghiêm cẩn tuyệt đối của Ngài trong trì giữ Luật tạng. Thời kỳ của Ngài Gu-Phyu Sayadaw cũng là lúc khoa học kỹ thuật bắt đầu phát triển, các loại phương tiện, thực phẩm, trang phục đang dần thay đổi theo xu hướng hiện đại. Các bậc Trưởng lão thời đó thường không bận tâm nghiên cứu xem vật dụng này làm từ gì hay cấu tạo thế nào, mà giữ lập trường rằng: “Cái gì mới lạ, kỳ dị thì tốt nhất là không dùng để tránh vi phạm giới luật”. Vì thế, trong một số trường hợp, dù vật dụng đó là hợp lẽ (kappiya) theo Luật tạng, các Ngài vẫn chấp nhận chịu khổ hạnh không dùng tới, khiến người ngoài nhìn vào có cảm tưởng các Ngài quá cứng nhắc. Dù thế nào chăng nữa, “Luật tạng là mạng mạch của giáo pháp”, tấm gương của các Ngài thật xứng đáng cho hậu thế kính ngưỡng và noi theo. Đây cũng là điều nhắc nhở cho chư vị tăng sĩ thời nay, khi mà các sản phẩm khoa học công nghệ đang phát triển không ngừng. Vào thời điểm đó, có ba vị Trưởng lão là **U Sīla**, **Sayadaw Khin Mon** ở thành Alon và Ngài Gu-Phyu đều không muốn đi xe lửa khi phương tiện này mới xuất hiện. Ngài Gu-Phyu hỏi Ngài Khin Mon: “Theo kinh điển, việc đi xe lửa thời nay là nên hay không nên, ông hãy trả lời xem?”. Rồi Ngài tụng đọc lại các đoạn Luật tạng Pāḷi về sáu loại phương tiện mà người không có bệnh (gilāna) không nên sử dụng là: kiệu, xe, xe bò, võng, cáng, cán tay. - Ngài hỏi tiếp: “Vậy các loại xe lửa chạy ngược xuôi giữa Mandalay và Yangon hiện nay thì có hợp lẽ không, ông thấy thế nào?”. - Ngài Khin Mon hỏi ngược lại: “Muốn biết thế nào thì ông hãy mô tả cách thức vận hành của cái xe lửa đó tôi xem?”. - Ngài Gu-Phyu đáp: “Tôi có bao giờ thấy nó đâu mà biết kể!”. - Ngài Khin Mon cười nói: “Nếu cả hai ta đều chưa từng thấy nó thì làm sao có thể đưa ra quyết định hợp lẽ hay không được?”. - Ngài Gu-Phyu kết luận: “Vậy thì không đi là chắc chắn không có lỗi rồi!”. Cuộc thảo luận về việc đi xe lửa khép lại như thế. Cuộc gặp gỡ và đối thoại giữa Trưởng lão **U Sīla** và Ngài Gu-Phyu Sayadaw cũng được ghi lại trong cuốn **U Sīla Atth-uppatti (Tiểu sử Ngài U Sīla)**. Qua những lời đối đáp và phong thái ứng xử của các Ngài, ta có thể thấy rõ trái tim thuần khiết của những bậc thiện tri thức. Khi Ngài U Sīla đến Bago và trú tại chùa Leikpyakan, thì Trưởng lão Pakhan từ vùng Gu-Phyu Taw-Ya (thuộc Pakokku, Yesagyo) ở Thượng Miến cũng xuôi theo đường thủy đến...