## TRANG 256 Ngài từ Yangon quay về Bago để thăm vị Trưởng lão. Vị ấy lớn hơn ngài một hai hạ lạp, và giữa hai vị vốn đã có sự tôn kính lẫn nhau qua các tin tức từ trước. Khi gặp, Ngài Pakhan Sayadaw đã quở trách ngài: "Nghe nói ông đã bắt đầu đi xe lửa rồi. Có thật vậy không?" "Con bắt đầu đi từ dịp đi cung thỉnh kiết giới Sīmā ở Ouktwin. Xin Ngài từ bi dạy bảo. Con xin thành tâm thọ giáo," Ngài cung kính chắp tay nhận lỗi. "Nếu lâm bệnh, sức khỏe yếu kém thì không thể trách được. Riêng ta thì vẫn còn khỏe mạnh," vị Trưởng lão phán bảo. Khi đó, thái độ nhận lỗi của Hòa thượng (**U Sīla**) tĩnh lặng như một pho tượng A-la-hán được tôn trí cạnh đức Phật, khiến những người chứng kiến không ai nỡ rời mắt. Mọi người cũng hết lời tán thán đức hạnh trì giới và định lực vô biên của Ngài Pakhan Sayadaw khi đã thẳng thắn quở trách Đức Hòa thượng. Lúc Ngài Pakhan Sayadaw ra về, Đức Hòa thượng đã gửi cúng dường y bát và rất nhiều vật phẩm thực phẩm, chất đầy cả một cỗ xe. Ngài viên tịch vào năm 1281 (Âm lịch Myanmar), thọ 91 tuổi. Ngài đã biên soạn hai tác phẩm để lại cho đời. Khoảng 50 năm trước, nhà in Guṇavatī ở Mandalay đã ấn hành một lần, và năm 1322 lại được nhà in Sudhammavatī tái bản. Lần thứ hai là do Ngài **U Visuddha** ở chùa Shwe Kyet Yet, Yangon (cháu của Ngài Gu Phyu Sayadaw) ấn tống, và trong bản in đó người ta còn được chiêm bái di ảnh của ngài. Hai tác phẩm đó có tên là "Diṭṭhiviccheda Pakāsanī" và "Dhātubhedavinicchaya". ## TRANG 257 ### Ngài Migadāyon Sayadaw ở Pathein ( 1194 - 1238 ) Câu chuyện về Ngài Migadāyon Sayadaw (pháp danh **U Sumanācāra**) ở thành phố Pathein khiến người đời vô cùng khởi tâm tịnh tín vì sau hơn 30 năm viên tịch, nhục thân của ngài vẫn còn được tìm thấy một cách nhiệm mầu. Ngài quê ở thành phố Amarapura, xuất thân từ dòng dõi Bà-la-môn. Ngài được cho là có dòng máu Manipur (Kathe), cùng huyết thống với Ngài Shan Kalay Kyun Sayadaw và vị Nữ tu nổi tiếng Daw Kin. Ngài sinh vào sáng sớm ngày thứ Sáu, mùng 10 tháng Nayon năm 1194. Ngài đã theo học thông suốt Tam Tạng kinh điển với đức Tăng thống đời thứ hai (**Ashin Ñeyyadhamma**) và Ngài Shan Kalay Kyun Sayadaw. Ngài đã đi hoằng pháp tại các vùng Tanintharyi, Ye, Myeik, Dawei, sau đó qua Yangon, Letpadan, Hinthada và cuối cùng dừng chân tại Pathein. Có lẽ ngài đến Pathein vào khoảng năm 1238. ### Ngài Phyo Kwin Sayadaw Khi mới đến Pathein, ngài độc cư tu tập tại khu vực gần hồ nước ba tầng (hiện nay thuộc khuôn viên chùa Migadāyon). Thuộc thời đó, nơi đây vẫn còn là rừng sâu hẻo lánh, dấu chân voi hổ dày đặc. Ngài phải đi khất thực tận vùng Ah Thae Gyi Kone. Một ngày nọ, có một vị thí chủ phát rẫy gần tịnh thất mini của ngài, đã gom rác lại phơi khô để đốt. Sáng sớm hôm đó, ngài đang ngồi hành thiền định tĩnh bên cạnh đống rác ấy. Vị thí chủ châm lửa đốt rồi quay đi, đến khi nhìn lại thì thấy ngọn lửa đã bùng lên bao vây lấy ngài. Dù nỗ lực dập lửa nhưng không thành, vị ấy phải liều mình xông vào bế ngài đặt ra chỗ an toàn. Vị thí chủ vô cùng lo sợ, không ngừng dập đầu xin lỗi. Ngài phán bảo: "Này thí chủ, ta không sao cả. Ta kham nhẫn được. Đó là do con không biết mà làm thôi," lúc đó vị ấy mới an lòng. ## TRANG 258 ### Di dời vì sự náo động của dân chúng Cứ như thế, ngài trú ngụ tại khu vực đó để tu tập định và tuệ (Samatha và Vipassanā). Tại mỗi khu phố, ngài chỉ đi khất thực trong ba ngày, đồng thời nghiêm trì các khổ hạnh (dhutaṅga) như hạnh đầu đà ở nghĩa trang. Do những giấc mơ về việc "có một vị A-la-hán đi khất thực" và những lời đồn thổi, số người đến cúng dường và chiêm bái đông đảo đến mức làm gián đoạn việc tu tập. Ngài phải liên tục di dời từ nơi này sang nơi khác như Thit Nyo Kone, Myo Chaung, Ta Kone Gyi, Koe Thaung, Yay Twin Kone, Yay Kyaw Gyi ở phía đông Pathein. Dần dần, ngài bắt đầu thuyết giảng giáo pháp và giáo giới ngắn gọn. Đến năm 1242, ông U Kala và vợ chồng ông buôn chuyến U Yan Saik - bà Daw Chin Ma ở khu vực Ah Thae Gyi đã xây dựng ngôi chùa kính (Hman Kyaung) cúng dường, nên ngài rời nơi tu hành biệt lập để về trú trì tại chùa Migadāyon hiện nay. Thí chủ U Yan Saik mỗi ngày đều đi bộ hơn hai ba dặm từ nhà đến chùa, vì ông không biết chán khi được chiêm bái hào quang phát ra từ thân của ngài khi đang hành thiền. Việc buôn bán và gia sự đều được giao cho bà Daw Chin Ma. Bà nhận thấy việc kinh doanh vô cùng thuận lợi: gạo bán mãi không hết, các hũ dầu luôn tràn đầy, từ đó bà càng thâm tín vào quả báo hiện tiền (**Diṭṭhadhamma vedaniya kamma**). Năm 1243, họ còn xây thêm một tòa tàng kinh các. Trong lễ khánh thành, Ngài Okpo Sayadaw đã cùng đoàn tùy tùng đến chứng minh và lưu lại tu học suốt một mùa An cư. ### Vẻ đẹp của Chánh niệm — Nhìn đâu cũng thấy trang nghiêm Theo thời gian, bốn oai nghi đi, đứng, nằm, ngồi của ngài đều toát ra vẻ thanh tịnh khiến người ta phát tâm tịnh tín. Ngài luôn giữ mắt nhìn xuống, không nói lời vô ích. Ngay cả với thị giả thân cận, ngài cũng chưa bao giờ để lộ các phần bên trong của y, luôn đắp y cực kỳ trang nghiêm và kín đáo ngay cả ở nơi khuất vắng. Khi dùng bữa, từ việc lấy cơm, ăn, nuốt cho đến cầm muỗng bát, tất cả đều nhẹ nhàng, thanh thoát. Nhờ đó, bất cứ ai được chiêm bái ngài đều cảm nhận được chất liệu an lạc, tĩnh tại thấm đẫm vào lòng, nhìn mãi không thấy chán.