## TRANG 271 # Tiểu sử các bậc Alahan - Tập 271-273 ## Chương: Các bậc Alahan và những nhân vật đặc biệt (tiếp theo) Người ta thỉnh ngài rằng: "Xin cung thỉnh ngài cho phép chúng con được đảnh lễ", và cứ thế hết người này đến người khác cung thỉnh. Một ngày ngài phải thay y mới đến năm, sáu lần. Sau một thời gian, ngài phán rằng: "Ta chẳng đau bụng mà cứ phải đi vào nhà vệ sinh (vì người ta cúng dường y mới liên tục), chẳng có đám ma mà cứ phải đi xem tử thi suốt (ám chỉ việc phải tiếp khách hằng ngày)." Khi không có vật thực, ngài chỉ dùng nước để tri túc. Ngài cũng chỉ thọ thực tại một chỗ, dùng một bát (theo hạnh đầu đà *Ekāsanika*). Vì hay bị đau răng nên ngài luôn dùng đồ chay. Do có bệnh trĩ và hen suyễn mạn tính, nước cơm được cho là phù hợp nên các hộ giả (*kappiya*) thường tìm để dâng cúng. Họ cũng cho thêm một ít muối Tân-đà (*sindhava*) vào để ngài dùng. Ngài thường khuyến khích các vị Tỳ-kheo trẻ nên học Pháp (Pháp học - *Pariyatti*) và khuyên các vị Tỳ-kheo lớn tuổi nên vào rừng tu tập (Pháp hành - *Paṭipatti*). Bất cứ nơi nào ngài đến, các thiện nam tín nữ thường kéo đến từng đợt, nán lại để cung thỉnh ngài truyền ngũ giới. Ngài thường ban phước ngắn gọn rồi bảo: "Nào, hãy niệm Namo Tassa..." rồi hướng dẫn họ tụng. Xong xuôi, ngài thường xua tay bảo: "Thôi, đi đi, đi đi." Ngài không trò chuyện thân mật với ai. Nếu có người già hoặc người ngoại quốc đi cùng, ngài mới thuyết một đoạn Pháp ngắn. Những người hiểu rõ tập quán của ngài thường đưa người già và người ngoại quốc lên phía trước. Khi thuyết Pháp, ngài dạy rất ngắn gọn, súc tích để họ không bao giờ quên những giáo lý căn bản về lòng tôn kính Tam Bảo: "Đừng sát sinh, đừng hại cả đến trứng chấy, vì sẽ đọa địa ngục", v.v... Đôi khi ngài cũng truyền dạy về: **Rūpakkhandhā aniccā** (Sắc uẩn là vô thường), v.v. Một vị Hòa thượng từng theo hầu ngài trong ba năm kể lại rằng: "Pháp mà Ngài thường hành cũng không khác mấy so với những gì chúng tôi biết, chỉ khác ở chỗ Ngài có sự tinh tấn phi thường và lòng chân thực, thẳng thắn tuyệt đối." Nơi nào Ngài U Sīla đến, vật dụng cúng dường và lợi lộc phát sinh nhiều đến mức đáng kinh ngạc. Ngài có được bao nhiêu đều đem cúng dường hết cho chư Tăng. Còn phần mình, ngài chỉ giữ lại một bình bát và ba tấm y (*ticīvara*), cứ thế mà chu du hết khu rừng này đến khu rừng khác. ## TRANG 272 ### Đối mặt với các loại hiểm nguy Suốt cuộc hành trình tu tập, Ngài thường xuyên đi sâu vào những khu rừng rậm để thực hành hạnh đầu đà trú xứ rừng rậm (*Araññavāsī*). Hầu như không có khu rừng hay ngọn núi nào mà Ngài chưa từng đặt chân đến. Trong những khu rừng già âm u, thú dữ vô cùng nhiều và hiểm nguy luôn rình rập. Tuy nhiên, những điều mà người bình thường coi là đại họa thì đối với Ngài lại giống như những người bạn. Trong kinh **Bahu-dhātuka Sutta** (*Kinh Đa Giới, thuộc Trung Bộ*), có dạy rằng: "Tai ương không phát sinh từ bậc thiện trí, nó chỉ phát sinh từ kẻ ác. Do đó, bậc thiện trí không có tai ương." ## TRANG 273 ### Chuyện về hổ Vào năm 1288 (Miến lịch), khi Ngài trú tại tịnh thất nhỏ bốn cột tại rừng Pin-inn, phía Tây Nam bảo tháp Kyaik Day-ya, nơi đây vốn là địa bàn của loài hổ. Dưới sàn tịnh thất và dọc theo con đường đi đến nhà vệ sinh, tiếng hổ gầm vang mỗi đêm. Nhưng đối với Ngài, chúng chẳng khác nào loài mèo hay trâu bò hiền lành. Một lần nọ, Ngài nghỉ đêm tại một nhà nghỉ ở nghĩa trang làng Kamm-myint, thượng nguồn sông Bago. Ở làng đó có một con hổ dữ thường xuyên vồ chết trâu bò mỗi đêm. Dân làng vô cùng lo lắng cho Ngài nhưng ban đêm không ai dám ra ngoài để báo tin. Đến sáng sớm, họ đi xem với ý nghĩ chắc Ngài đã "làm mồi cho hổ", nhưng nửa đường thì gặp Ngài đang đi khất thực. Họ vô cùng mừng rỡ cung thỉnh Ngài về làng dâng vật thực. Khi đi theo Ngài trở về sau buổi khất thực, họ kinh hãi thấy Ngài đi ngang qua con hổ dữ chỉ cách chừng ba gang tay (khoảng 1.5 mét). Hồi Ngài ở rừng Day-sun-par, có hộ giả U Akā cùng theo hầu. Vào mùa đông, vị hộ giả này thường đi kiếm củi vào ban ngày để đốt lửa sưởi ấm và cũng để đuổi hổ vào ban đêm. Một con hổ lớn lững lững tiến thẳng về phía đống lửa. Ngài đang ở trên tịnh thất sàn cao, vị hộ giả tuy sợ hãi không dám kêu cứu nhưng cũng không dám bỏ chạy. Ông vừa run vừa tụng kinh bên đống lửa. Con hổ lớn cứ thế tiến đến và nằm phục ngay cạnh đống lửa. Một lúc sau, thấy con hổ nằm lim dim ngay sát đống lửa, vị hộ giả khởi lên ý nghĩ: "Hay là mình dùng xẻng xúc than hồng đổ vào miệng nó cho rồi?" Ngay khoảnh khắc đó, con hổ liền gầm lên dữ dội. ### Tâm niệm Ngài từ trên tịnh thất nói vọng xuống với giọng nghiêm nghị: "Này hộ giả, sao ông lại khởi ác niệm muốn hại nó? Hãy làm đúng phận sự của mình đi, hãy xin lỗi nó và rải tâm từ." Sau khi vị hộ giả xin lỗi và rải tâm từ, con hổ lớn mới nằm yên trở lại. (Ở các khu rừng vùng Kawkareik, người ta cũng thường thấy hổ đến nằm ngủ ngay dưới chân cầu thang tịnh thất của Ngài). ### Chuyện về voi Khoảng năm 1250 (Miến lịch), Ngài trú tại tịnh thất làng Thet-ngal-kyin, cách Kyaik-ko khoảng 3 dặm. Khi ba người dân làng đến rừng Maung-taung để thỉnh Ngài về, cách làng khoảng một dặm, họ chạm trán một con voi rừng hung dữ từng dẫm chết nhiều người. Thấy voi, ba người dân làng hoảng sợ bỏ chạy, một người trèo tót lên cây. Riêng Ngài vẫn đứng yên, không tiến cũng không lùi. Con voi đang lao điên cuồng về phía Ngài, nhưng khi đến gần, nó bỗng dưng quỳ rạp xuống. Ngài vẫn điềm nhiên không chút lay chuyển. Con voi rừng quỳ đó, nước mắt chảy dài, nó cúi đầu rồi lẳng lặng quay đi. Tương tự vào khoảng năm 1257 (Miến lịch), khi trú tại các tịnh thất ở rừng In-sine-maung (Kyaik-hto), Myae-ni-kone (Thaton), và núi Khayar, Ngài thường gặp voi rừng trên đường khất thực, nhưng lũ voi luôn tự động nhường đường cho Ngài. Thậm chí khi một đàn voi rừng đi vào khuôn viên tịnh thất, Ngài chỉ nói: "Các ngươi đừng quấy rầy nơi này", chúng liền rời đi như thể hiểu được tiếng người. Một lần khác, khi đang ở tịnh thất làng Kawk-ka-dut, Ngài đi bộ một mình trong đêm đến tịnh thất Phaya-thone-su (phía Đông thị xã Kyaik-hto) để làm lễ thọ giới cho một vị Tỳ-kheo. Giữa đường có một trạm nghỉ chân nơi các bác tài xe bò đang dừng nghỉ. Một người muốn theo Ngài đến Kyaik-hto nên xin được đeo bát đi theo. Trên con đường xuyên rừng dưới ánh trăng, từ xa đã thấy một đàn voi rừng đang tiến lại. Người đi cùng nài nỉ: "Bạch Ngài, xin hãy quay lại!", nhưng Ngài không đổi ý. Người đó đành trao trả bình bát cho Ngài rồi bỏ chạy thục mạng. Khi ngoảnh lại nhìn, anh ta thấy bóng dáng Ngài chìm nghỉm giữa đàn voi mà không hề nao núng. Về đến chỗ đoàn xe bò, anh ta hốt hoảng báo tin: "Tầm này chắc chẳng còn tìm thấy mảnh xác nào của vị sư kia nữa". Mọi người hỏi thăm rồi bảo: "Chắc đó là Ngài U Sīla rồi. Vị này voi không dẫm, hổ không ăn thịt đâu." Sáng hôm sau, người đó vội vã lên núi Phaya-thone-su thăm hỏi và xin sám hối vì những ác niệm và sự thất kính của mình. Trong số rất nhiều lần Ngài đối mặt với voi rừng, sự kiện xảy ra khi Ngài trú tại tịnh thất làng Moe-paw trên đường lên núi Kyaiktiyoo là kinh ngạc nhất. Khi đó, Ngài đang từ làng Moe-paw đi về phía núi Thet-ngal theo đường Kyaiktiyoo, đoạn qua vùng Pan-hlaing, Bago...