## TRANG 325 **Bậc A-la-hán và các bậc thượng nhân** 269 “Vào thời Đức Phật còn tại thế, Trưởng lão **Poṭṭhila** sở hữu kiến thức Pháp học (Pariyatti) uyên bác nhưng lại vướng vào tâm kiêu mạn. Ngài đã phải cầu pháp và thọ nhận sự chỉ dạy từ một sa-di trẻ tuổi, sau đó mới chứng đắc quả vị A-la-hán. Thưa hiền giả, chính Trưởng lão **Mahānāga** sau khi đắc các Thắng trí (Abhiññā), vì lầm tưởng việc tu tập của mình đã hoàn tất, nên người đệ tử phải dùng phương cách khéo léo để thuyết Pháp nhắc nhở ngài. Chúng ta hiện nay cũng đang rơi vào tình trạng tương tự. Trước đây, ngay cả ý nghĩ đi thọ giáo với một cư sĩ chúng ta cũng chưa từng mảy may nghĩ tới. Tuy nhiên, vị thầy mà chúng ta sắp đến đây thật sự là người xứng đáng để chúng ta nương tựa. Ưn đức của vị Thần núi hộ trì thật to lớn thay! Nào, thưa hiền giả, chúng ta cùng khởi hành thôi.” Nói đoạn, vị Trưởng lão dùng thần lực phi hành theo dãy núi Alal từ hướng Bắc để tiến về phương Nam. Sau khi tạm ghé vào lễ bái tại Bảo tháp Shwedagon, các ngài tiến đến làng Dalapyawbhwaygyi, quàng y bát rồi đi dọc theo con đường làng. Khi đứng dừng chân trước một ngôi nhà, các ngài hỏi thăm: “Này thí chủ, nhà của thầy Saya Thet là nhà nào vậy?” Thật trùng hợp, ngôi nhà đó chính là tư gia của cụ Cư sĩ. Vừa lúc ấy, cụ Saya Thet từ phòng thờ Phật bước xuống, tình cờ gặp mặt các ngài. Cụ liền cung đón bằng những lời thăm hỏi ân cần: “Bạch các Ngài, các Ngài từ đâu đến đây ạ?” Sau những lời chào hỏi xã giao, cụ thỉnh mời các Ngài lưu lại tu học tùy ý và xin được phép hộ độ tứ vật dụng. Cụ cũng thỉnh các Ngài đến nghỉ ngơi tại ngôi đình thuyết Pháp ở giữa làng để hồi phục sức khỏe sau chuyến đi hành trình dài. Cụ nhờ ông Ba Thein dẫn hai vị Trưởng lão đến ngôi đình đó. Lúc ấy mới khoảng 8 giờ sáng. Theo thường lệ, đến 10 giờ, cụ Saya Thet mới đến ngôi đình nơi các hành giả đang tập trung để kiểm tra việc hành thiền và thuyết Pháp. ### Giá trị của Thiền Định và Khổ Đế Vào lúc 10 giờ 30 phút sáng hôm ấy, cụ Saya Thet bước đến ngôi đình. Khoảng ba mươi hành giả nam nữ đang ngồi thành hàng trước phòng thờ Phật và bệ cao dành cho chư Tăng. Có khoảng mười vị Tăng đang ngồi trên bệ cao. Cụ Saya Thet ngồi bên dưới bệ cao, ngay phía trước các hành giả, rồi lần lượt thẩm vấn việc hành thiền của từng người. Cụ ban lời giáo giới ngắn gọn. Sau đó, cụ hướng về phía bệ cao nơi hai vị Trưởng lão vùng Deisunpa đang tọa thiền, chắp tay thưa rằng: “Bạch hai Ngài vừa từ Deisunpa đến đây, các Ngài có được an lạc và thích nghi với nơi này không ạ? Kính xin các Ngài tiếp tục duy trì việc tu tập thiền quán niệm hơi thở (Ānāpana) thêm ba ngày nữa. Đồng thời, cũng kính xin các Ngài từ bi chỉ dạy thêm cho các hành giả ở đây nếu thấy cần thiết.” Sau khi thưa lời như vậy, cụ Saya Thet trở về nhà. Đến ngày thứ tư, cụ bắt đầu hướng dẫn các Ngài chuyển sang thực hành Thiền Minh Sát (Vipassanā). Đúng 10 giờ 30 phút sáng, cụ Saya Thet có mặt tại trú xứ hành thiền. Cụ ngồi vào vị trí cũ, đảnh lễ Phật và chư Tăng theo truyền thống rồi bắt đầu kiểm tra việc thực hành của các hành giả. ## TRANG 326 270 “Ngày hôm nay có hai Ngài và năm hành giả cư sĩ sẽ bắt đầu chuyển sang Thiền Minh Sát. Phần lớn các hành giả ở đây, sau khi thực hành Thiền Định (Samatha) khoảng ba ngày để thiết lập định lực, thường đạt được **Học tướng (Uggaha-nimitta)** và **Quang tướng (Paṭibhāga-nimitta)**, do đó cần phải chuyển sang Minh Sát. Nếu không chuyển sang Minh Sát, một số hành giả không chỉ thấy ánh sáng mà còn có thể nói chuyện hoặc nhìn thấy rõ ràng các chư thiên, thần giữ của, ngạ quỷ, quỷ dạ-xoa, hay các bậc phù thủy, đạo sĩ (Weizza/Zawgyi). Họ có thể nhận được sự trợ giúp, hoặc có được những khả năng nghe hoặc thấy không thanh tịnh. Lâu dần, họ nảy sinh tâm mong cầu đạt được điều này điều nọ, dẫn đến mất đi đề mục thiền định hơi thở (**Ānāpana**) ban đầu và rơi vào trạng thái tâm trí hoảng loạn. Chính vì vậy, tôi phải hướng dẫn các vị chuyển sang Minh Sát. Tuy nhiên, đối với những bậc đi theo con đường Thắng trí (Abhiññā), khi gặp những hạng chúng sinh thuộc về thế gian (tục đế) như vậy, họ không hề khởi tâm đắm nhiễm hay ưa thích, mà chỉ tập trung tiếp tục quán chiếu Pháp của mình. Này thầy Tha Oo và các vị, mọi người đã hiểu ý tôi chưa?” Cụ Saya Thet gọi đích danh và nhắc nhở các hành giả cư sĩ. Trên thực tế, cụ Saya Thet đã thấu thị rằng ông Tha Oo đang có mối liên hệ mật thiết với một vị phù thủy (Weizza) đã đạt được thuật xuất thế. Ông Tha Oo nghe vậy liền giật mình kinh hãi. Cụ Saya Thet tiếp tục giảng giải: “Đặc biệt là các Ngài thông thạo Pháp học hẳn đã thấu hiểu điều này. Những lời tôi đang thuyết đây là dành cho các thí chủ hành giả, kính mong các Ngài từ bi lắng nghe. Nếu tôi có điều gì sai sót, kính xin các Ngài chỉ giáo và sửa đổi cho ạ. Đừng nói chi đến những khả năng thấy nghe không thanh tịnh có được từ năng lực **Thiền Định**. Ngay cả những thần lực Thắng trí thuộc về Sắc giới và Vô sắc giới, các bậc Thánh thiện tri thức cũng không bao giờ đặt nặng hay xem trọng. Thần lực (thần thông) thực chất cũng chỉ là Khổ đế (Dukkha Sacca) mà thôi. Xưa kia, Đức Phật từng quở trách và ví Ngài **Piṇḍola** – vị đã thị diễn thần thông – với một hạng người không thanh sạch. Ngài cũng ban hành giới luật rằng nếu vị tỷ-kheo nào thị diễn thần thông hóa hiện sẽ phạm tội Tác ác (Dukkaṭa). Thần lực thuộc về Thắng trí cực kỳ khó đắc nhưng lại rất dễ bị mất đi và rất khó để gìn giữ. Thời nay, đối với những người không nằm trong giáo pháp (ngoại đạo), những kẻ không có cơ hội đạt được 'Pháp Thắng Trí' (tức là sự chứng ngộ Tứ Diệu Đế hay chứng đắc quả vị Thánh), thì thần lực chỉ càng khiến họ chịu nhiều đau khổ và kéo dài vòng sinh tử luân hồi. Vì vẫn còn là hạng phàm phu, họ thường dùng thần lực để tranh tài cao thấp, cậy thế thần thông mà buông lời nguyền rủa hay gây khổ đau cho chúng sinh khác một cách vô cùng vô tận. Ngay cả Bồ-tát khi còn là đạo sĩ **Nārada**, cũng từng vì lỡ chân dẫm lên tóc búi của đạo sĩ **Devīla** mà nảy sinh tâm sân hận, kiêu mạn, dẫn đến việc buông lời nguyền rủa lẫn nhau. Vậy nên, những kẻ sở hữu thần lực thế gian hay thuật phù thủy vốn chẳng giữ nổi năm giới thì sự tình sẽ còn tồi tệ đến mức nào. Điều này đã được nêu rõ trong các câu chuyện Bổn sanh. Và thực tế ngày nay vẫn đang diễn ra như vậy.” “Cũng giống như kẻ có học khinh miệt người không chữ nghĩa, kẻ giàu có ức hiếp người nghèo khổ, kẻ có quyền thế đàn áp người yếu thế; mỗi người đều dùng thứ 'quyền năng' nhỏ nhoi của mình để hành hạ kẻ khác. ## TRANG 327 271 Vì lẽ đó, các bậc thiện tri thức luôn có tâm ghê tởm đối với những điều này. Các Ngài dạy rằng thần lực chính là một trong những chướng ngại lớn lao đối với việc thực hành Thiền Minh Sát.” “Ngay cả khi đạt đến đỉnh cao của các loại thần thông thế gian là **Thắng trí (Abhiññā)**, nếu không được kiểm soát và điều phục bởi 'Pháp Thắng Trí' (tức là quả vị Thánh), thì chúng cũng không bền vững mà chỉ khiến hành giả bị cuốn vào vòng xoáy của Khổ đế. Tuy nhiên, hạng người thường tình thì vẫn luôn xem trọng và ngưỡng mộ những điều ấy.” ### Ý định thâu phục bằng thần lực “Vào thời Đức Phật, tại thành **Nāḷā**, có vị đại trưởng giả **Kevaṭṭa** sở hữu tài sản lên đến bốn mươi mươi triệu (koṭi). Vì lòng quá mực kính tin giáo pháp, ông muốn dân chúng phát khởi niềm tin mạnh mẽ hơn nữa nên đã bạch thỉnh Đức Phật cho phép một vị tỷ-kheo nào đó thực hiện thần thông để thị uy. Đức Thế Tôn khi ấy đã giữ im lặng, tỏ ý không chấp thuận. Sau ba lần ông trưởng giả khẩn cầu, Ngài không thể làm ngơ được nữa nên đã thuyết về ba loại Thần thông (Pāṭihāriya) cùng với lợi ích và tác hại của chúng.” Mặc dù cụ Saya Thet đang hướng mặt về phía các hành giả cư sĩ, nhưng cụ vẫn thỉnh thoảng quay sang nhìn hai vị Trưởng lão vùng Deisunpa. “Chư Tăng các Ngài hẳn là những người am tường hơn ai hết. Con vốn chẳng có kiến thức Pháp học gì cả. Con chỉ xin được chia sẻ lại những lời giáo giới mà bậc thầy ân sư là Ngài Đại trưởng lão Ledi Sayadaw đã truyền dạy lại mà thôi.” Cụ Saya Thet vừa nói khéo vừa tiếp tục bài giảng. Cách thuyết Pháp của cụ hôm nay vô cùng đặc biệt khiến các hành giả cũ đều chăm chú lắng nghe với sự quan tâm sâu sắc. “Ba loại Thần thông đó là: 1. **Biến hóa thần thông (Iddhi-pāṭihāriya)**: Nghĩa là hóa hiện ra nhiều hình tướng khác nhau. Đức Phật dạy rằng: 'Này ông trưởng giả, nếu thị diễn thần lực như vậy, những người có lòng tin sẽ càng thêm kính tín, nhưng những kẻ không có lòng tin sẽ phỉ báng rằng: Đây chẳng qua là thuật phù thủy Gandhārī mà thôi'. Những bậc thầy phù thủy cũng có thể thị diễn thần thông tương tự, khiến dân chúng nảy sinh tâm hoài nghi, lẫn lộn giữa chánh và tà, từ đó làm tổn hại đến những giáo pháp cao thượng thanh tịnh dẫn đến sự thoát khổ. 2. Loại tiếp theo là **Tha tâm thần thông (Ādesanā-pāṭihāriya)**: Là năng lực thấu thị và nói đúng tâm tư, ý định của người khác. Nếu thị diễn năng lực này, vì trong thế gian cũng tồn tại những thuật thôi miên hay bói toán (gọi là Maṇikā) có khả năng tương tự, nên Đức Phật không cho phép vì sợ rằng uy đức của giáo pháp sẽ bị giảm sút và bị đánh đồng với những thứ tầm thường đó. 3. Loại cuối cùng là **Giáo hóa thần thông (Anusāsanī-pāṭihāriya)**: Nghĩa là khuyến tấn mọi người hãy chỉ nên nương tựa vào sức mạnh đích thực của Giáo pháp là Giới, Định, Tuệ. Chỉ có năng lực của Giới, Định và Tuệ này mới thật sự mang lại những điều mong cầu cho cả thế gian...”