## TRANG 334 Các bậc Thánh A-la-hán Khí-nà-sà-vạ (Kkhīṇāsava) đã đắc Thiền định và Thần thông thì dòng tâm thức thanh tịnh của các Ngài không bao giờ bị gián đoạn. Các Ngài đã chứng minh và làm sáng tỏ các ân đức *Sanditṭhika* (Thiết thực hiện tiền) và *Akālika* (Không có thời gian). Đừng vì quá ỷ lại vào Ba-la-mật hay thời đại mà trở nên lơ là, buông lung (*appākka*). Chúng ta không nên bỏ lỡ cơ hội quý báu này. *Ghi chú: Trong câu chuyện về hai vị trưởng lão, cần lưu ý rằng vị trưởng lão trẻ hơn đang trong tiến trình thực hành Minh sát (Vipassanā) thì do một sự vướng mắc hoặc lôi kéo nào đó mà đã thối lui về đời sống thế tục. Công việc đoạn tận luân hồi, dù được thực hiện ở nơi hẻo lánh đến đâu, cũng dễ bị những nghiệp cũ tác động. Ngay cả khi hai người cùng tu tập, một người cũng có thể bị lôi kéo ra ngoài và trở thành kẻ thù cận kề cho người còn lại. Hãy hết sức cẩn trọng và tỉnh giác.* ## TRANG 335 ## CHƯƠNG — NGÀI THIỀN SƯ LEDI SAYADAW ### (1208 - 1285 PHẬT LỊCH / 1846 - 1923 DL) Khi viết về lịch sử thực hành Pháp (*Paṭipatti*) tại Myanmar, nếu không đề cập đến Ngài Ledi Sayadaw thì đó không thể là một bản sử liệu hoàn chỉnh. Nếu cách đây hơn một trăm năm, không có sự xuất hiện của "Ledi Sayadaw", thì lịch sử Phật giáo Myanmar ngày nay có lẽ đã không được hưng thịnh như thế này. Sự nghiệp thực hành Pháp của Ngài vô cùng phi thường và đáng kinh ngạc. Khi đọc xong tiểu sử này, ngay cả những người vốn chỉ am tường về giáo lý mặt chữ (*Pariyatti*) cũng sẽ khởi tâm hối tiếc vì đã không thực hành sớm hơn. ### Hạt giống của bậc Thánh Ledi Bậc tiền thân của Ngài Ledi Sayadaw đản sinh tại làng Saing-pyin-gyi, phía nam thị trấn Di-pe-yin, vào sáng sớm thứ Ba, ngày 13 tháng Chạp (tháng Nat-taw) năm 1208 Phật lịch. Ngài là người con trai đầu lòng quý giá của ông U Tun Tha và bà Daw Kyone. Về sau, gia đình có thêm 5 người con nữa là U Tet Sar, U Tet Pwar (U Kumāra), U Tet Htwar (U Kittī) và cô Daw Ma Lay. Tên thuở nhỏ của Ngài là Maung Tet Khaung. Cái tên này được đặt dựa trên những điềm báo xuất hiện lúc Ngài chào đời. Vào khoảnh khắc Ngài đản sinh, từ chân cột chính ở đầu giường, một luồng ánh sáng rực rỡ đa sắc như dòng sữa chảy tuôn trào, xuyên thấu qua mái nhà và vút thẳng lên không trung. Cả ngôi nhà chìm ngập trong những vệt sáng lung linh giao thoa. Vì vậy, cậu bé được đặt tên là "Maung Tet Khaung" (nghĩa là "Vươn tới đỉnh cao"). Lúc đó, dù không phải mùa, trời bỗng vang sấm ầm vang và đổ mưa lớn. Tại đống tre buộc sẵn dưới gốc cây me sau nhà, một tiếng nổ lớn vang lên và một cây tre trong bó đó bay thẳng lên trời. Điều kỳ lạ hơn nữa là khi chuyển dạ, chỉ có một mình người mẹ ở nhà. Trong lúc bà đang lịm đi vì nỗi đau khổ đặc thù của người phụ nữ khi sinh nở (*āveṇika dukkha*), có một vị thiện sĩ mặc y phục trắng tinh khiết đã hiện ra bên cạnh để chăm sóc cho cả mẹ lẫn con. Chỉ đến khi nghe tiếng trẻ con khóc, người thân mới chạy đến thì vị thiện sĩ kia mới biến mất. Đối với những bậc có đại phước đức, những sự kiện khó tin như vậy vốn là chuyện thường tình. Từ nhỏ, cậu bé đã mang những tướng mạo thanh tú, điềm đạm và bộc lộ sự thông tuệ vượt xa ## TRANG 336 lứa tuổi của mình. ### Sự lôi kéo vị Sa-di hoàn tục Năm 8 tuổi, cậu được gửi đến theo học với Ngài Trưởng lão U Nandadhaja tại chùa Phayauk-pin và xuất gia Sa-di vào năm 15 tuổi. Nhờ trí tuệ nhạy bén bẩm sinh, cậu được ban pháp danh là Shin Ñāṇadhaja. Trong đời sống tu sĩ, vị Sa-di trẻ đã học thông suốt toàn bộ hệ thống kinh điển (*Piṭaka*), nên rất được thầy mình yêu mến và tin cậy. Tuy nhiên, Sa-di Ñāṇa cảm thấy nhàm chán với việc học vì cho rằng mình đã học hết rồi, "không còn gì mới lạ để khám phá nữa". Vì vậy, năm 18 tuổi, cậu quyết định hoàn tục. Thầy tổ và cha mẹ vô cùng luyến tiếc, người cha vì quá đau lòng đã bắt cậu ra đồng làm lúa để cậu tự mình nếm trải nỗi khổ cực của đời trần thế. Nhưng khi thấy cậu Maung Tet Khaung làm việc rất nhanh nhẹn, thạo việc từ đắp bờ đến cày ruộng, người cha không những không giận được mà còn thầm khen ngợi. Người đã giỏi thì làm việc gì cũng giỏi, kẻ đã kém thì dù việc gì cũng khó thành. Trưởng lão chùa Phayauk-pin vì không đành lòng mất đi một người đệ tử tài năng, nên đã cùng với Trưởng lão U Dhammasāra ở chùa Myin-tin trong làng bàn bạc. Mỗi khi nghĩ đến diện mạo, trí thông minh và việc Maung Tet Khaung đi làm ruộng, các Ngài lại không khỏi đau xót. Hai vị Trưởng lão bèn gọi cậu thanh niên hoàn tục đến chùa để khuyên nhủ. Maung Tet Khaung nhiều lần từ chối và xin lỗi vì không muốn đắp y trở lại, khiến cả hai vị đều vô cùng trăn trở. Trưởng lão chùa Myin-tin suy nghĩ một hồi rồi nói: "Nếu con đã quá chán nản như vậy thì chúng ta cũng không muốn cưỡng ép. Tuy nhiên, với tướng mạo và trí tuệ của con, làm công việc đồng áng này thì thật không xứng. Con vốn là người có thiên hướng học thuật, nếu con học Chiêm tinh học (Vệ-đà) thì chắc chắn sẽ không mất nhiều thời gian để thông thạo đâu. Dùng trí tuệ để mưu sinh thì vẫn tốt hơn. Ở làng Ye-twet có vị bạn của ta là Ngài U Gandhamā, người tinh thông cả Tam Tạng lẫn Chiêm tinh học không ai bằng." Nghe vậy, Maung Tet Khaung — vốn đã nếm trải sự cực nhọc của nghề nông trong suốt một mùa mưa — liền đồng ý học một môn chuyên môn để mưu sinh dễ dàng hơn. Cậu cũng cảm thấy rất hứng thú vì sắp được học điều mới lạ. Nhận thấy tâm ý của cậu, Trưởng lão chùa Myin-tin đã dùng phương tiện thiện xảo để dẫn dắt cậu trở lại với giáo pháp, giống như cách mà Ngài Trưởng lão Chandavajjī đã dùng để tiếp độ thanh niên **Moggaliputtatissa** vào trong giáo hội: "Này con, có một điều thế này: Ngài Trưởng lão U Gandhamā không dạy nghề cho người cư sĩ... [còn tiếp]"