## TRANG 355 # Chương XI (Tiếp theo): Bậc A-la-hán và những vĩ nhân Ngài [Thiền sư Ledi Sayadaw] đã thuyết giảng rằng: "Họ đang tìm kiếm sự nương tựa sai lầm." Ngài giải thích một cách cởi mở về việc một số bậc có thần thông thế gian (*lokāyata*) thường tạo ra bệnh tật hay hiểm họa trước, sau đó mới đóng vai người cứu chuộc để lôi kéo người khác. Ngài cũng làm rõ sự khác biệt giữa minh hạnh thế gian (*lokī vījjā*) và minh hạnh xuất thế (*ariyā vījjā*). Ngài khuyên bảo rằng khi đã đến được núi ngọc báu (đạo quả), đừng nhặt nhầm những hòn đá kê lò (tà thuật), đồng thời Ngài thuyết về sáu loại thanh tịnh đạo (*ajjava-dhātu*). (Sau đó không lâu, Ngài cũng viết và ban tặng tác phẩm "Vījjā-magga-dīpanī" - Minh Hạnh Đạo Diễn Giải). Kể từ đó, các đạo sĩ ẩn sĩ cũng thoát khỏi những ảo ảnh đánh lừa, những điềm báo giấc mơ sai lệch và sự điên đảo (*vipallāsa*), để quay trở lại bước đi trên con đường Đại Đạo (Bát Chánh Đạo). ### Những bậc có thần thông cao cường cũng phải hối tiếc Ngay cả hiện nay, những người thiếu hiểu biết, dù được gặp gỡ Giáo Pháp cao quý vốn cực kỳ khó gặp, lại giống như Devadatta (Đề-bà-đạt-đa), vì chút thần thông tầm thường mà phải bỏ dở hành trình giữa chừng, chuốc lấy khổ đau. (**Oramattakena visesādhigamena antarā vosānaṃ āpādi.** -- Tiểu Phẩm, Chuyện Devadatta-466.) Một số bậc thành tựu thuật xuất hồn (*ထွက်ရပ်ပေါက်*) thường nói bóng gió để người khác ngưỡng mộ thần thông của mình rằng: "Đừng nương tựa vào thần thông, nó không giúp được gì đâu", nhưng cuối cùng lại lôi kéo người ta về phía giáo thuyết của họ. Tuy nhiên, có nhiều bậc thành tựu chân chính, cương trực và có kiến thức sâu rộng đã chia sẻ với lòng từ bi và hối tiếc rằng: "Đừng ngưỡng mộ chúng tôi. Chúng tôi đã sai lầm khi đi theo con đường Gandhari (thần chú) với ý nghĩ rằng cứu độ người khác sẽ đắc thánh quả Niết-bàn. Giờ đây chúng tôi phải ở nơi họ bảo ở, đi nơi họ bảo đi, làm việc họ sai bảo (phục vụ những bậc có thần thông lớn hơn). Các con đừng đi vào vết xe đổ đó." Những lời này thường xuyên được nghe thấy, thật đáng trân trọng thay. Thuyết ngã chấp thâm căn cố đế của thế gian và sự nguy hiểm của các vị trì chú theo tư tưởng Đại thừa thật đáng sợ thay. Hỡi những bậc thiện trí, hãy cẩn trọng! Chính vì thế, Thiền sư Seikkyi Sayadaw, tác giả cuốn "Ariyā-vījjā-magga-alaung-pya-kyan" (Sách Chiếu Sáng Con Đường Minh Hạnh Thánh Đạo), đã cảnh báo bằng trí tuệ thực chứng và lòng từ bi lớn lao: "Những bậc có thần thông thế gian xảo quyệt thường phô diễn đủ loại biến hóa để thâu tóm người khác như chim đại bàng vồ lấy rồng. Vì họ chưa đắc Minh hạnh Thánh đạo thực thụ, vẫn bị sự điên đảo của tâm (*citta-vipallāsa*) che lấp nên mới phải gánh chịu như vậy. Do đó, hỡi các bậc thiện nam tín nữ, hãy nỗ lực để đạt đến Minh hạnh Thánh đạo chân chính của bậc Dự lưu (*Sotāpanna*) và các quả vị cao hơn để có thể phân biệt được thật giả." (Sách đã dẫn, trang 368.) ## TRANG 356 ### Voi rừng, hổ dữ và rắn độc Sau đó, Thiền sư cùng với Ledi Paṇḍita và U Tiloka khởi hành đi núi Kyaiktiyo (Chùa Đá Vàng). Giữa đường, một con voi rừng hung dữ chạy xông thẳng từ phía trước tới. Hai người đệ tử sợ hãi leo lên cây trốn, còn Thiền sư vẫn bất động, chỉ chuyên tâm rải tâm từ (*mettā*). (Xem chi tiết ở chương về U Tiloka). Sau khi trở về từ Kyaikto, vào năm 1261 (Miến lịch), Ngài nhập hạ tại chùa làng Lezin, phía Đông Nam thị trấn Monywa. Tại đây, Ngài đã viết tác phẩm "Nibbāna-dīpanī" (Niết-bàn Diễn Giải). Năm 1262 (Miến lịch), Ngài nhập hạ tại rừng Wet-ye, còn gọi là đại ngàn Mahāmyaing, phía Bắc làng Maung Daung Gyi. Đó là do Ngài Kyaung Pan Sayadaw, một đệ tử lâu năm, thỉnh mời. Ngài Kyaung Pan đã ở trong khu rừng này khoảng chín năm. Vì sức khỏe yếu, Ngài Kyaung Pan chỉ có thể đi khất thực mỗi tuần một lần; Ledi Sayadaw là người đi khất thực để nuôi dưỡng cả hai. Ngài cũng thuyết giảng những lời giáo huấn liên quan đến việc hành trì. Khu rừng này là một nhánh của dãy Himalaya, đầy rẫy thú dữ. Những cây In, cây Teak cao bằng hai, ba thân cây thốt nốt phủ bóng âm u khắp rừng. Những bụi cây Kyaung Pan nhỏ đan xen dày đặc như những lùm bụi. Thiền sư và vị đệ tử (người sau này trở thành Ngài U Indaka) khi thì ở trong hốc những cây Teak lớn, khi thì ở trong bụi cây Kyaung Pan. Đôi khi tiếng phì phò của những con rắn độc to bằng thân cây thốt nốt, hay tiếng hú của chó rừng, tiếng gầm của báo hoa mai phát ra khiến người nghe phải rùng mình. Thiền sư vẫn kiên trì thực hành thiền Anapanasati (Niệm hơi thở). **Na tveva supituṃ hoti,** **Ratti nakkhatta mālinī.** **Paṭijaggitu mevesā,** **Ratti hoti vijānataṃ.** (Trưởng Lão Tăng Kệ, Chú giải, 1-205.) *Nakkhattamālinī*: Trong đêm tối tĩnh lặng, an bình và tuyệt đẹp với ngàn tinh tú rạng ngời như những đóa hoa. *Ratti*: Đêm trường ấy. *Supituṃ*: Để chìm sâu vào giấc ngủ do sự chi phối của hôn thụy (*thīna-middha*) và si mê (*moha*). *Na tveva hoti*: Tuyệt đối không phải dùng cho việc đó. *Esā ratti*: Đêm trường tĩnh lặng và đẹp đẽ ấy. *Vijānataṃ*: Đối với những bậc hành giả trí tuệ, đã nhận được lời dạy của Đức Phật, hiểu rõ giá trị của cuộc sống và quy luật nhân quả. *Paṭijaggituṃ*: Chỉ để tỉnh thức, tinh tấn nỗ lực không ngừng (*sammappadhāna*) nhằm tu tập và phát triển định (*samatha*) và tuệ (*vipassanā*). *Hoti*: Thật vậy, đêm trường chính là để dành cho sự nghiệp ấy. ## TRANG 357 (Kinh Mahāniddesa 294 và Chú giải 358 có dạy rằng: Chia một ngày đêm thành 6 phần, chỉ trừ một phần canh giữa để nghỉ ngơi, còn lại 5 phần phải nỗ lực không ngủ. Khi buồn ngủ, nên đọc những bài kệ mang tính quyết tâm như của các bậc tiền bối này). Đặc biệt trong thời gian ở rừng, Ngài thấy rõ rất nhiều tác hại của việc ngủ nghỉ quá mức. Ngài nhận thấy: "Đêm thanh tĩnh với ngàn tinh tú là cơ hội vàng để bậc trí tuệ quán chiếu giáo pháp." Ngài đã thực hành hạnh đầu đà không nằm (*nesajjika-dhutaṅga*), nỗ lực thức trắng để tu tập. Thiền sư đã nỗ lực cực kỳ tinh tấn suốt cả mùa an cư không ngủ, nên đến gần kỳ mãn hạ, Ngài bị cơn sốt hành hạ, cơ thể trở nên gầy rộc và yếu ớt. Thực phẩm cũng rất khan hiếm. Khi nghe tin, các đệ tử lớn tại tu viện Ledi đã phải lặn lội vào rừng để thỉnh Ngài trở về. ### Trở thành giảng sư Pháp nhờ những lời đồn thổi Khi trở về tu viện Ledi, trong lúc tĩnh dưỡng phục hồi sức khỏe, Ngài vẫn tiếp tục tự mình thiền định nơi thanh vắng. Tuy nhiên, ban ngày lượng người đến đảnh lễ đông hơn thường lệ, khiến Ngài dù đã tạm dừng việc giảng dạy kinh điển vẫn không có thời gian rảnh rỗi, vì phải tiếp chuyện và thuyết Pháp cho họ. Thiền sư không nhận ra lý do tại sao lượng người đến mỗi ngày một đông như vậy. Đó là do những lời đồn thổi bắt đầu lan truyền rộng rãi: "Ngôi chùa nơi Thiền sư ở tỏa sáng rực rỡ suốt đêm." "Khi Ngài đi kinh hành, chân không hề chạm đất." "Thiền sư đã đắc Thiền định (*Jhāna*)." Nhiều người còn khẳng định chắc chắn danh tính những ai đã tận mắt chứng kiến những điều đó. Chính vì những tin đồn này mà không chỉ các thí chủ thân cận, mà cả người dân từ bốn phương cũng lũ lượt kéo đến...