# PHẦN 21: VỊ ALAHAN KHÔNG NHẬN CÚNG DƯỜNG PHÁP HỘI ## TRANG 364 Mỗi khi có sự đối chiếu trùng hợp, các tác phẩm của Ngài Thiền sư (Ledi Sayadaw) thường được các học giả trên toàn thế giới trích dẫn và xem trọng ngang hàng với các bộ Chú giải (Aṭṭhakathā). Về phương diện thực hành thiền định, hành giả từ khắp mọi nơi cũng thường nương tựa vào sự quyết đoán và chỉ dạy của Ngài. ### Vị Ứng Cúng Cao Thượng Không Nhận Cúng Dường Chuyện xảy ra khi Ngài Thiền sư đang nhập hạ tại khu rừng thiền In-gyin-myaing, Pyinmana. Vào một ngày nọ, dân chúng vùng Pyinmana cùng nhau tổ chức một buổi lễ đặt bát cúng dường Sa di và Tăng đoàn (Saṅghadāna). Để chư Tăng có thể đi thăng hàng trang nghiêm và dân chúng có thể đứng hai bên dâng cúng một cách trật tự, ban tổ chức đã dựng sẵn một lối đi dài gọi là "Rè-laung" (lối đi phục vụ lễ đặt bát) với cổng vào và cổng ra riêng biệt. Hai bên lối đi được rào bằng phên tre mắt cáo, dọc lối đi được trải chiếu phên mây và vải vóc sạch sẽ. Trong đoàn Tăng hơn hai trăm vị, Ngài Thiền sư là người đi đầu tiên dẫn đoàn vào thọ nhận sự cúng dường. Theo lệ thường, đoàn sẽ đi vào từ một cổng và đi ra ở cổng phía đối diện. Tuy nhiên, khi chỉ còn cách cổng ra khoảng mười lăm bộ (hơn 4 mét), Ngài không bước tiếp ra lối cổng đó mà bất ngờ quay người đi ngược lại đúng con đường vừa mới đi vào. Chư Tăng đi sau dù không hiểu chuyện gì nhưng cũng không ai dám hỏi, chỉ lẳng lặng quay bước theo Ngài. Người dân đang đợi sẵn ở hai bên cổng ra cảm thấy vô cùng kinh ngạc và buồn bã khi thấy Ngài không đi đến chỗ mình để thọ nhận vật phẩm. Lúc ấy, Ngài chỉ ôn tồn bảo: “Còn số vật phẩm cúng dường của các cận sự nam nữ còn lại, hãy chia ra rồi nhờ các hộ tông (kappiya) chuyển về chùa sau.” Cả chư Tăng và dân chúng lúc đó đều không khỏi hoang mang, khó hiểu. Chỉ đến khi buổi lễ kết thúc, mọi người bắt đầu thu dọn chiếu phên và vải trải đường, lúc đó họ mới vỡ lẽ và không ngớt lời tán dương đức hạnh của Ngài trong niềm hoan hỷ cực độ. Nguyên do là tại vị trí gần cổng ra, ngay bên dưới lớp chiếu được trải từ chiều tối hôm trước, người ta phát hiện một con rắn lục hổ mang (snake) cực lớn cỡ bắp tay người. Nếu Ngài Thiền sư không dùng tuệ giác soi xét mà cứ bước đi theo lệ thường, con rắn có thể đã bị chư Tăng dẫm phải dẫn đến cái chết, hoặc nếu nó chưa chết thì sẽ quay lại tấn công khiến ai đó gặp tai nạn nguy hiểm. Khi ấy, buổi lễ cúng dường cũng sẽ trở nên mất mát và đau thương. ## TRANG 365 ### Đức Hạnh Giới Hạnh, Định Lực và Lợi Lộc Cúng Dường Trong thời gian Ngài ở tại rừng thiền In-gyin-myaing, có một người tên là U Tun Hlaing thường nằm mơ thấy một vị Trưởng lão mà ông hằng tôn kính vừa mới viên tịch. Vị Trưởng lão ấy hiện thân trong hình hài một ngạ quỷ (peta) và than rằng: “Ta không có cái ăn, không có cái mặc, hãy làm phước rồi hồi hướng cho ta với.” Vì việc này xảy ra nhiều lần nên U Tun Hlaing đã đến dâng y cho Ngài Thiền sư và xin Ngài hồi hướng công đức. Ngài Thiền sư bảo: “Này con Tun Hlaing, với giới hạnh của Ta bấy nhiêu đây, Ta có thể cứu giúp được vị ấy.” Quả đúng như vậy, không lâu sau, vị Trưởng lão ngạ quỷ kia đã hiện đến trong giấc mơ của U Tun Hlaing với trang phục của thiên nhân (devatā) và nói những lời hoan hỷ tri ân. U Tun Hlaing chính là ông nội của bà Daw Yin My, người ở tu viện Kaba Aye Masoeyein. Từ năm 1266 (Miến lịch), Ngài Thiền sư bắt đầu đi du hành thuyết pháp khắp vùng Thượng và Hạ Miến Điện. Vì bộ luận *Paramattha Saṅkhitta* đã được Ngài soạn xong từ năm 1265 nên tại mỗi nơi đi qua, Ngài đều thành lập các hội đoàn "Saṅkhitta" cho các hội viên. Đây chính là việc Ngài đã gieo mầm hạt giống Vi Diệu Pháp (Abhidhamma) trên khắp cả nước. Tính đến năm 1288, số lượng hội viên đã vượt quá ba trăm nghìn người. Giống như việc Ngài soạn bộ *Ṭīkā-kyaw* (Chú giải mới), bộ *Nirutti-dīpanī* (Luận giải về ngôn ngữ học) hay việc vận động người dân không ăn thịt bò thường bị một số người phản đối, thì hội đoàn Saṅkhitta cũng từng bị gièm pha, nhạo báng. Thật đáng thương cho những người ấy vì họ đã tự chuốc lấy tổn thất lớn. Bất cứ nơi nào Ngài Thiền sư đặt chân đến, dân chúng đều đón tiếp và cúng dường Ngài hết lòng như đón tiếp một vị Thánh Tăng (Arahant). Có rất nhiều lời đồn đại vang xa khi Ngài đi khất thực như: “Chân Ngài không chạm đất, Ngài đi bằng thần thông (jhāna)”, hay khi Ngài đi bằng hai toa tàu thì người ta lại thấy như “có ba toa tàu cùng chuyển động”... Những lời đồn như vậy rất nhiều. Một điều kỳ diệu khiến người bình thường khó có thể hình dung được, đó là tất cả vật phẩm nhận được sau các buổi thuyết pháp, Ngài đều đem cúng dường lại cho chư Tăng tại địa phương đó. Có một lần, khi từ vùng Hạ Miến trở về tu viện Ledi, Ngài cho đánh khánh tập trung chư Tăng lại. Khi chư Tăng tề tựu đông đủ, Ngài dạy: “Này, đừng nghĩ rằng sau khi Ta đi thuyết pháp về, Ta gọi các ông đến để chia vật phẩm. Nhớ lại hồi Ta còn trẻ ở Mandalay, các vị giảng sư khi từ Hạ Miến trở về thường liệt kê danh sách nào là gạo được bao nhiêu, mắm muối cá khô được bao nhiêu, rồi y áo, dù, dép, thảm vải có bao nhiêu... rồi cứ thế ăn uống, hưởng thụ suốt cả tháng trời. Thật là lãng phí thời gian biết bao! Này các sư trẻ, Ta gọi các ông đến là để chuẩn bị cho buổi học Pháp vào ngày mai đấy.” ## TRANG 366 Có một lần khác, khi Ngài tạm lưu trú và thuyết pháp tại tu viện Masoeyein ở Mandalay, các vật phẩm cúng dường từ các khu phố đổ về được xếp thành đống lớn trên một tòa nhà lớn. Riêng số y áo đã chất đầy hai gian phòng lớn, cao bằng đầu người. Vị Hòa thượng trẻ quản lý tu viện lúc đó là U Suriya (nay là Ngài Masoeyein Sayadaw vĩ đại, bậc Abhidhaja Mahā Raṭṭha Guru, thọ 96 tuổi) đã phải lập danh sách để trông coi. Ông cứ chờ đợi mãi lời dặn dò của Ngài Thiền sư về việc phân chia số vật phẩm này trước khi Ngài quay về Monywa. Vì số lượng và giá trị vật phẩm quá lớn nên ông cảm thấy rất áp lực khi phải giữ gìn. Cho đến tận ngày rời đi, Ngài Thiền sư vẫn không nói một lời nào, và vị Hòa thượng cũng không dám hỏi. Cuối cùng, vì muốn nghe lời chỉ dạy, U Suriya đã theo Ngài ra tới tận ga tàu khi Ngài chuẩn bị về Monywa. Lúc này ông mới dám thưa hỏi. Ngài Thiền sư nghe xong liền đáp một cách nhẹ nhàng như thể đó là việc không có gì quan trọng: “Ồ, vị Masoeyein trẻ tuổi này thật là... Đừng vì những chuyện ấy mà làm phiền Ta. Cứ tùy nghi sắp xếp rồi phân phát hết cho các vị đang tu học (pariyatti) là được.” Ngài Hòa thượng Masoeyein sau này thường kể lại với lòng tôn kính sâu sắc rằng, khi ấy số vật phẩm đã được chia đều cho hàng ngàn vị sư trong tu viện và hầu hết các vị giảng sư trong khắp thành phố đều được thọ nhận. **Upaṭṭhāpenti parisaṃ,** **Dhammato no ca kammato.** **Dhammaṃ paresaṃ desenti,** **Atthato no ca lābhato.** (**Trích Pārā-pariya Thera-gāthā**) **Parisaṃ**: Đối với hàng đệ tử và đồ chúng gồm cả xuất gia lẫn tại gia. **Dhammato**: Chỉ vì mục đích giúp họ tăng trưởng trí tuệ và tích lũy công đức qua việc nghe Pháp. **Upaṭṭhāpenti**: Nên Ngài mới cho phép họ đến gần gũi và phụng sự. **No ca kammato**: Chứ không phải để họ đến hầu hạ hay làm các công việc riêng cho bản thân Ngài. **Atthato**: Chỉ vì mục đích mang lại lợi ích cao thượng (lợi ích xuất thế gian). **Paresaṃ**: Đối với người khác (chúng sinh). **Dhammaṃ**: Giáo Pháp. **Desenti**: Ngài giảng dạy, viết lách và thuyết giảng. **No ca lābhato**: Chứ không phải vì mục đích cầu danh tiếng, sự cung kính hay lợi lộc cúng dường. (Bài kệ này trích từ kinh văn nhưng được diễn giải theo cách đảo ngược ý nghĩa để nhấn mạnh).