## TRANG 376 ၃၂၀ **Pháp sư U Htay Hlaing** Khi xem xét việc tụng niệm nhiệt thành và bền bỉ trong phạm vi thực hành (Patipatti), nếu chỉ suy nghĩ một cách thông thường thì khó có thể chấp nhận được. Tuy nhiên, khi suy xét về câu trả lời, cách nhìn nhận của mỗi người sẽ không giống nhau. Những người có đức tin mạnh mẽ (saddhā), khi càng thực hành thiền định (kammaṭṭhāna), họ càng thấy rõ ân đức của Đức Phật. Ngay cả các bậc Đại Trưởng lão trong tạng Apadāna Pāḷi cũng thường xuyên ca ngợi ân đức Phật. Khi tu tập hơi thở (ānāpāna), họ sẽ tuần tự thấu thị một loạt các pháp Bồ-đề phần (bodhipakkhiya) như bốn Niệm xứ (satipaṭṭhāna/tứ niệm xứ). Khi đó, họ không khỏi tán dương trí Tuệ Giác Ngộ (sabbaññuta ñāṇa/nhất thiết chủng trí) vô thượng. Trong các bộ *Visuddhimagga* (Thanh Tịnh Đạo) và *Sammohavinodanī Aṭṭhakathā* (Chú giải Phân Biệt Lập Đạo), có chỉ dạy rằng từ việc tụng niệm có thể dẫn đến sự tư duy (tiệm quán), và từ sự tư duy có thể dẫn đến việc chứng đắc Tam Pháp Ấn (lakkhaṇāye). Việc tụng niệm không hề vô ích. Do đó, trong *Saggāthāvagga Saṃyutta* (Tương Ưng Bộ - Chương Có Kệ), có vị Trưởng lão tụng kinh (Sajjhāyaka) đã đắc quả A-la-hán trong khi quán xét sự diệt đi của âm thanh mình vừa tụng. Có thể nhìn nhận theo hướng tích cực như vậy; tuy nhiên, việc tụng niệm vẫn không mang lại lợi ích to lớn bằng việc thực hành thiền quán (bhāvanā). Theo quan điểm của những hành giả đang trực tiếp thực hành, họ cho rằng việc dành toàn bộ thời gian để điều phục thân và tâm này vào việc tụng niệm là một sự trì hoãn hoặc chuyển hướng đối tượng, làm chậm bước tiến đến sự chứng ngộ (paṭivedha) của Thiền sư hoặc các lợi ích to lớn khác của Giáo pháp. Điều này được ví như một người khi đang hành thiền, bỗng khởi tâm đức tin nên đứng dậy nấu một thúng gạo để dâng cúng thực phẩm lên Đức Phật. ### Phật giáo là điều thế giới biết đến về Miến Điện Trong tiểu sử của Thiền sư (Ledi Sayadaw), chương về hoằng pháp nước ngoài là một chương vô cùng đặc biệt và xuất sắc. Không chỉ người dân Miến Điện mà ngay cả người ngoại quốc cũng được nương nhờ ân đức của Ngài. "Hiệp hội Hoằng pháp Phật giáo nước ngoài" được thành lập từ ngày 15 tháng Nayon năm 1275 (Lịch Miến Điện). Với trung tâm tại Mandalay, hiệp hội đã thành lập được hơn 20 chi nhánh tại các thành phố khác nhau. Số vốn ban đầu khoảng 100.000 Kyat. Các tờ báo cũng như cả nước đều hết lòng ủng hộ. Vào thời điểm đó, tại Nga và các nước châu Âu đã có rất nhiều người nghiên cứu và tinh thông văn học Pāḷi. Họ đã bắt đầu nghiên cứu từ hơn một trăm năm trước. Ngay từ năm 1850, tại thành phố Saint Petersburg của Nga (nay là Leningrad), các giáo sư đã chủ trì việc biên soạn từ điển Pāḷi - Nga. Tại châu Âu, năm 1875, từ điển Pāḷi - Anh của Childers cũng đã được xuất bản. ## TRANG 377 ၃၂၁ **Bản dịch Pháp cú (Dhammapada)** sang tiếng Latinh (1855), **Chú giải Bổn sanh (Jātaka Aṭṭhakathā Pāḷi)** (6 tập bằng chữ La-mã, 1877), **Luật tạng (Vinaya Pāḷi)** gồm 5 bộ (1879), v.v. đã được nghiên cứu và xuất bản tại châu Âu ngay cả trước khi Miến Điện có các bản in sách Pāḷi tương ứng. Vào năm 1881, các học giả Pāḷi đã cùng nhau thành lập Hiệp hội Văn bản Pāḷi (Pali Text Society - PTS) tại London. Hiệp hội Hoằng pháp Phật giáo Anh quốc và Ireland cũng được thành lập vào năm 1907, bắt đầu thảo luận về Phật giáo thông qua các tập san và tạp chí. Người châu Âu không chỉ tiếp cận Phật giáo từ góc độ tôn giáo, mà còn nghiên cứu Pāḷi như một ngôn ngữ văn học thượng cổ của thế giới. Từ bộ *Mahāvaṃsa* (Đại Thống Sử) hay các sắc dụ trên đá của vua Asoka, họ đã dày công nghiên cứu văn học Pāḷi như cách đọc minh văn hay chạm khắc đá, tỉ mẩn dò dẫm cho đến khi đạt được thành tựu là biên soạn nên những bộ từ điển Pāḷi danh tiếng thế giới. Từ việc nghiên cứu như một nền văn học cổ, họ đã nếm trải được những tinh hoa vô giá của Phật giáo, từ đó càng thôi thúc mong muốn tìm hiểu sâu hơn. Họ tin tưởng và chấp nhận rằng đây là tôn giáo và văn học mang lại hạnh phúc thực sự cho đời sống con người; tuy nhiên, họ vẫn chưa đạt đến mức độ có thể vận dụng và dịch thuật các bản văn, kinh điển Pāḷi của Đức Phật một cách hoàn toàn chuẩn xác và tinh tế. Thời điểm đó trùng hợp với lúc ánh sáng của các bộ *Dīpanī* (Cẩm nang/Minh giải) khác nhau của Ngài Ledi Sayadaw đang tỏa sáng rực rỡ tại Miến Điện. Họ đã tin tưởng và trông cậy nơi Ngài như một bậc vĩ nhân có khả năng giải mã những thuật ngữ khó và sâu sắc trong văn học Pāḷi của Phật giáo. Họ đã gửi thư từ tới tấp để yêu cầu Ngài giải thích các thuật ngữ Pāḷi, những điểm hóc búa trong Phật giáo và đặc biệt là những điểm chưa thông suốt trong Vi Diệu Pháp (Abhidhamma). Những lời giải đáp nhận được đều được họ đăng tải trên các tập san, tạp chí. Danh tiếng của Ngài đã lan rộng khắp thế giới. Ngài cũng đã viết các tác phẩm bằng tiếng Pāḷi như: **Yamaka Paccaya** (Y-mạch giải), **Niyāma Dīpanī** (Quy luật minh giải) cùng bản sớ giải tì-ca (ṭīkā), bản sớ giải cho **Mūlapariyāya Sutta**, **London Pāḷi Devī Pucchā** (Giải đáp các câu hỏi từ PTS London), **Sāsana Sampatti Dīpanī**, **Sāsana Vipatti Dīpanī**, **Paṭṭhāna Desa Dīpanī**, v.v. (Nên tìm kiếm và công bố 2 bản sớ giải tì-ca). Ngài U Ñāṇa của chùa Masoeyein đã đứng ra dịch sang tiếng Anh các bộ Dīpanī phù hợp với người châu Âu. Những bộ Dīpanī của Thiền sư (Ledi Sayadaw) thực chất chính là những bộ Đại Chú Giải của Miến Điện. ## TRANG 378 ၃၂၂ **Pháp sư U Htay Hlaing** Quan điểm của Ngài Ledi Sayadaw về khoa học thật đáng kinh ngạc, dù thời đó khoa học chỉ mới bắt đầu phát triển. Ngài cho rằng những giáo lý cực kỳ sâu sắc và vi tế của Abhidhamma rất phù hợp với các nhà khoa học có tầm nhìn rộng mở. (Hãy xem các lời giáo huấn về hoằng pháp nước ngoài của Ngài). Khi đó, Hiệp hội Pāḷi Anh quốc chuẩn bị biên soạn một bộ từ điển Pāḷi. Bộ từ điển Pāḷi - Nga bắt đầu từ năm 1850 cũng vì nhiều lý do mà đến năm 1918 vẫn chưa hoàn thành. Bản thân Hiệp hội Văn bản Pāḷi cũng lập kế hoạch thu thập các thuật ngữ để viết một bộ từ điển. Họ đã yêu cầu Hiệp hội Hoằng pháp nước ngoài do Ngài Ledi Sayadaw đứng đầu giúp đỡ soạn thảo một bộ từ điển Pāḷi lớn. Vì vậy, để có thể thực hiện trọng trách lớn lao này, Ngài đã cầu trợ đức tới chùa Masoeyein ở Mandalay, nơi có nhiều vị Giáo thọ sư (Nāyaka) giảng dạy nhất. Ngôi chùa đó là nơi tốt nhất về phương diện giảng dạy và kỷ luật. Các vị Trưởng lão lãnh đạo ở đó còn tinh thông cả tiếng Sanskrit (Phạn) và tiếng Anh để phục vụ công việc. Có một lần, khi đang lưu trú tại chùa Masoeyein để bàn thảo về việc biên soạn từ điển, ở tầng dưới của ngôi chùa, vị giáo thọ sư trẻ tuổi U Suriya (nay là bậc Abhidhaja Mahā Raṭṭha Guru duy nhất, 96 tuổi) và một vị tỳ-khưu pháp sư (Dhammakathika) là đệ tử của Ngài Ledi Sayadaw đang trò chuyện cùng nhau. Ngài U Suriya nói: "Bạch Đại đức, nghe nói quý Ngài thuyết pháp hay lắm. Xin hãy thuyết cho con một thời pháp để con sinh lòng chán ghét sinh tử (saṃvega)." Vị tỳ-khưu pháp sư nói: "Ngài thông thạo các kinh điển Abhidhamma đến mức này mà lại không biết sợ hãi hiểm họa luân hồi sao?" Ngài U Suriya đáp: "Vì không sợ nên con mới ở như thế này đây, thưa Ngài." Vị kia bảo: "Vậy thì phải thuyết cho biết sợ mới được," rồi thuyết giảng về những điều đáng kinh sợ trong khoảng 15 phút. "Thế nào... thưa Ngài, Ngài đã thấy sợ chưa?" Vị kia hỏi. Ngài U Suriya đáp: "Dạ chưa, con vẫn chưa thấy sợ ạ." Thế là vị pháp sư lại thuyết tiếp thêm nửa giờ nữa. "Con chẳng thấy làm sao cả ạ," Ngài U Suriya vẫn đáp như vậy khiến vị pháp sư đành phải kết thúc buổi thuyết pháp trong sự hụt hẫng. Sau đó, vị pháp sư đi trình lại với Ngài Ledi Sayadaw. Ngài Ledi Sayadaw liền gọi Ngài U Suriya đến và nói: "Vị Giáo thọ sư trẻ của chùa Masoeyein à... Vị pháp sư này quả thật không biết đến tâm tính của người nghe (veneyyajjhāsaya) rồi. Này U Suriya, với lứa tuổi và kiến thức này thì xin đừng để lòng kinh sợ (saṃvega) khởi lên vội, ta xin con đấy...