## TRANG 388 **Cố Hòa thượng Hlay-thin Min-kyaung** (1215 - 1288) Dhammācariya U Htay Hlaing “Khi Cố Hòa thượng Hlay-thin Min-kyaung viên tịch, cả ngôi đại tự Hlay-thin Min-kyaung lẫn ngôi chùa nơi rừng vắng mà Ngài từng trú ngụ đều đồng loạt bốc cháy.” Lời kể này con được nghe từ bậc ân sư là Ngài Hòa thượng Ma-so-yein đáng kính (năm nay đã 96 tuổi), vốn là đệ tử của Ngài. Từ đó, con đã dày công tìm hiểu về tiểu sử của Ngài và may mắn nhận được tập tài liệu từ Ngài U Sobhita ở làng Maung-htaung. Tập tiểu sử này có tên là “Theravaṃsācārakkama-dīpikā”, được ấn hành vào tháng Kason năm 1289 (Phật lịch). Tác giả của tập tiểu sử này là Ngài U Somābhisiiri, Thiền chủ chùa Ma-so-yein, sau này là Thiền chủ rừng Thit-win-chaung ở Sagaing. Ngài là bậc tinh thông **Pāḷi và Sanskrit**. Theo tâm nguyện của Ngài Hòa thượng Ledi Sayadaw, Ngài U Soma chính là người chủ trì việc biên soạn bộ Từ điển Pāḷi vĩ đại. Từ thuở thiếu thời, Ngài đã theo học và làm đệ tử của Hòa thượng Hlay-thin Min-kyaung, trở thành bậc đại đệ tử được Thầy tin cẩn giao phó trọng trách. Trong lịch sử giáo pháp, thật hiếm khi được đọc những ghi chép từ những bậc cận sự am tường cả Pháp học (Pariyatti) lẫn Pháp hành (Paṭipatti) như thế này. Thật là một phước báu lớn lao. Về cái tên Hlay-thin Min-kyaung: Đây là ngôi đại tự Vimāna-bhūmsā nằm ở bờ sông Ayeyarwady, phía bắc làng Wat-chet, thuộc dãy đồi Sagaing, ngay chân lối lên bảo tháp Padamyā. Ngôi chùa này do vị đại thần Nội vụ Hlay-thin (người gốc làng này) tạo hóa dâng cúng vào năm 1236. Vị thanh niên sau này trở thành bậc cao tăng trụ trì tại đây và được tôn danh là Hòa thượng Hlay-thin Min-kyaung sinh vào giờ Tý đêm mùng 2 tháng Nadaw năm 1215 (Thứ Sáu), tại làng Bhuzinpin, phía bắc thành phố Sagaing. Thân phụ là ông U Karli, thân mẫu là bà Daw Mel Nhyin. (Ngài có hai chị gái là Ma Nyein Aung và Ma Nyein Toke). Ngài có tướng mạo uy nghi, vóc dáng vạm vỡ (đôi dép Ngài đi dài hơn một gang tay). Thuở nhỏ tên là Maung Thar Saing, Ngài theo học với Hòa thượng trụ trì chùa Bhoga Tawya ở làng Bhuzinpin. Vị Hòa thượng trường làng ấy vốn luôn thực hành hạnh đầu đà (dhutaṅga), thường xuyên trú ngụ nơi đồng trống nên được gọi tên là Hòa thượng **Abbhokāsika** (nghĩa là bậc tu hạnh lộ thiên), hay dân gian gọi là Hòa thượng Bhoga. Chú tiểu Soma (pháp danh của Ngài) là bậc có trí tuệ mẫn tiệp. Trong chốc lát, chú có thể học thuộc lòng một hoặc hai angā lá bối (mỗi angā gồm 12 lá). Chú học rất nhanh và một khi đã thuộc thì không bao giờ quên; những bài kinh thuộc từ thuở nhỏ, Ngài vẫn có thể đọc thông suốt cho đến tận lúc viên tịch. Năm 17 tuổi, sau một hạ lạp, thân phụ qua đời, chú phải hoàn tục để phụng dưỡng người mẹ già yếu. ## TRANG 389 **Cách học và cách dạy khác biệt với số đông** Năm 1235, do ba-la-mật (pāramī) thúc giục, Ngài không còn mặn mà với đời sống cư sĩ. Khi Ngài xin phép mẹ già để xuất gia, lời dạy của bà thật đáng ghi tâm: “Mẹ chỉ có duy nhất một đứa con trai nên không muốn rời xa, nhưng thay vì phụng dưỡng mẹ, con hãy đi phụng sự Đức Thế Tôn. Như vậy là bà già này đã toại nguyện ơn nghĩa sinh thành rồi.” Sau khi thụ giới Tỳ-kheo, đúng khí chất đệ tử chùa Bhoga Tawya, trong ba canh giờ ban đêm, Ngài chỉ ngủ một canh, thời gian còn lại dành cho việc hành lễ và ôn lại kinh điển. Ngài không giao du với thiện nam tín nữ, và chỉ trò chuyện với các bạn đồng tu khi thật sự cần thiết. Điều này hoàn toàn phù hợp với lời giáo huấn của Đức Phật: “Nếu nói, hãy nói lời pháp bảo có ích; nếu không, hãy giữ sự im lặng thánh thiện.” Trong việc trau dồi Pháp học Pariyatti, Ngài không để lãng phí dù là một giây phút. Ngay cả khi đi khất thực, Ngài cũng chuẩn bị sẵn các mảnh lá thốt nốt nhỏ có chép kinh văn để vừa đi vừa học thuộc. Tùy theo thời điểm, Ngài cũng thực hành các hạnh **Đầu đà (Dhutaṅga)**. Sau một hạ lạp, Ngài lên Mandalay để tiếp tục con đường kinh điển. Ngài theo học với Hòa thượng Shwe-yin-mar và Hòa thượng U Nāga ở chùa Paung-le (nay là Maha Aungmye). Sau hai hạ lạp, Ngài trở về thăm mẹ một mùa hạ để thuyết pháp độ mẫu và cũng trong thời gian này, Ngài đã biên soạn tác phẩm **Vinayābhoga**. Đến hạ thứ tư, thứ năm, Ngài đi cầu Pháp tại các bậc danh sư khắp bốn phương của Mandalay, ít nhất mỗi nơi là bảy ngày để tham học. Do đó, sau này khi tự mình giảng dạy, Ngài thường dẫn giải sâu rộng rằng: “Vị Hòa thượng này dạy như thế này, vị Hòa thượng kia giảng như thế kia.” Từ hạ thứ năm trở đi, với tâm niệm: “Mạng mạch của Giáo pháp là Luật tạng (Vinaya). Giáo pháp chính là Luật. Ta phải làm cho toàn bộ thân tâm mình trở thành nơi an trú của Giáo pháp,” Ngài đã học thuộc lòng toàn bộ năm bộ Luật tạng Pāḷi và hằng đêm đọc tụng cúng dường Phật. Khi giảng dạy cho đệ tử, Ngài không bao giờ cần cầm đến kinh sách mà có thể truyền đạt hoàn toàn từ trí nhớ. Ngài cũng nghiên cứu sơ qua về Sanskrit và Veda (Vệ-đà) nhưng đã đạt đến trình độ thông thạo. Trí tuệ của Ngài sắc bén đến mức khó tin. Ngài tiếp tục học thuộc lòng bộ đại kinh **Netti** Pāḷi (sau này dân gian có câu truyền tụng: “Hlay-thin Min-kyaung giỏi nhất Netti”). Sau khi đã thông thuộc lòng năm bộ Luật và bộ **Netti** vào hạ thứ năm, Ngài đến nương tựa làm giảng sư tại chùa Myin-won ở Mandalay. Năm 1244, quan đại thần Nội vụ Hlay-thin đã dâng cúng ngôi đại tự Vimāna-bhūmsā ở làng Wat-chet cho Hòa thượng Myin-won. Vị Hòa thượng cùng hơn 100 vị tăng từ Mandalay đã đến tiếp nhận. Khi đó, Tỳ-kheo U Soma với vai trò là cánh tay phải của Hòa thượng Myin-won cũng đi cùng. Tại đây, ban đầu Ngài trú ngụ trong ngôi chùa do vị quan võ Hlay-thin ## TRANG 390 U San Hla xây cúng, nên Ngài còn được gọi là “Hòa thượng Bo-kyaung”. Sau khi Hòa thượng Myin-won viên tịch, vào năm 1249, Ngài U Soma chính thức kế thừa ngôi vị trụ trì và trở thành Hòa thượng Min-kyaung (Hòa thượng ngôi đại tự của quan). Thời trẻ Ngài học khác người, đến khi dạy Ngài cũng có phong cách riêng biệt. Bất kỳ ai muốn học bộ kinh nào đều có thể ấn định thời gian, địa điểm và được Ngài dạy riêng từng người (man-to-man). Vì tâm nguyện bồi đắp Ba-la-mật tuệ (Paññā-pāramī), Ngài chưa bao giờ nề hà thời gian. Nếu có vị Tỳ-kheo nào vì lý do gì đó mà vắng mặt buổi học, Ngài sẽ đích thân đến tận nơi nhắn nhủ: “Sư này, chúng ta bắt đầu bài học thôi.” Chỉ khi vị đó thực sự không thể học được, Ngài mới dành thời gian đó để dạy cho những người muốn học thêm. Đôi khi có hai người cùng muốn học một lúc dẫn đến tranh giành, Ngài sẽ cho bắt thăm để phân định thứ tự. Do Ngài tận tâm bồi đắp Ba-la-mật như vậy, các sư nữ (sīla-rhaṅ) cũng tranh thủ thỉnh Ngài về am của họ để dâng cúng vật thực và học đạo. Ngài cứ đi hết am này đến am khác, mỗi nơi thụ thực một ít và giảng giải kinh điển, mãi đến quá trưa mới về lại chùa. Khi đó mới đến lượt các vị Tỳ-kheo, Sa-di vào học. Ngài đặc biệt ưu tiên giảng dạy Luật tạng và bộ **Netti**. Ngài Hòa thượng Ma-so-yein từng kể rằng, có lần một vị sư trẻ ở chùa Kyar-ni-kan gần làng Ywa-htaung, phía tây Sagaing muốn học Luật, Hòa thượng đã không quản ngại băng qua dãy đồi Sagaing đi bộ đến tận nơi để dạy học mỗi ngày. ### Việc nghiên cứu và trước tác kinh điển Thỉnh thoảng Ngài lại bảo: “Ta đi xem sách một chút,” rồi Ngài đến các chùa khác lưu trú lại hai ba ngày để nghiên cứu. Ngài thường lui tới thư viện kinh điển của chùa Ye-wun Taung-bilu và chùa Sin-nin vì nơi đó lưu trữ đầy đủ các loại sách thế gian và xuất thế gian. Các vị trụ trì ở đó thấu hiểu tâm ý của Ngài nên thường sắp xếp chỗ nghỉ ngay cạnh tủ kinh sách, chu toàn mọi việc ăn uống, sinh hoạt để Ngài yên tâm nghiên cứu. Có khi Ngài ở lại đến nửa tháng trời. Các vị trụ trì yêu thích kinh điển rất hoan hỷ mỗi khi Ngài ghé thăm, bởi họ có thể hỏi Ngài đủ mọi điều từ những mật thư thế pháp đến kinh điển thâm sâu. Nhận thấy trình độ uyên bác của Ngài, Hòa thượng Taung-bilu đã gửi các tập lá bối và thỉnh cầu Ngài viết bản giải nôm (nissaya) cho phần Vipassanā (Minh sát) trong bộ “**Visuddhimagga Mahā-ṭīkā**” (Đại Chú giải Thanh Tịnh Đạo), phần mà các bậc tiền bối vẫn chưa hoàn thiện. Phần cuối của bộ **Visuddhimagga-ṭīkā** về Minh sát rất khó, không thể chỉ dựa vào kiến thức chữ nghĩa mà viết được. Nó đòi hỏi sự thấu triệt về các học thuyết liên quan đến Tự ngã (Atta-vāda) như Pakati-vāda, Dabba, Jīva, Dvi-aṇuka...