## TRANG 430 # THIỀN SƯ NYAUNG LUNT ### (1229 – 1295) Hôm ấy là ngày Uposatha (ngày thọ bát quan trai), tại chùa của Tỳ-kheo **U Kesara** ở làng Ohn, phía trên hồ Meiktila, thiện nam tín nữ đến thọ giới rất đông đảo. Trong giảng đường, bà Daw Gon vừa lần tràng hạt vừa thỉnh thoảng liếc nhìn bốn phương tám hướng, tâm trạng không chút bình yên. Đó là vì từ sáng đến giờ bà vẫn chưa thấy bóng dáng vị Sa-di nhỏ – con trai mình – đâu cả. Thông thường, vào những ngày lễ tự tứ, các chú tiểu rất vui vẻ vì được dùng vật thực ngon lành và không phải vất vất vả học kinh kệ như ngày thường. Đôi khi các chú vẫn ghé qua khu giảng đường để thăm hỏi mẹ mình. Thế nhưng, riêng Sa-di **Medhāvī** vẫn chưa thấy xuất hiện, khiến bà Daw Gon không sao nhiếp tâm lần tràng hạt cho được. ### Vị Sa-di nhỏ đi vào rừng “Thưa sư trẻ, Ngài có thấy con trai tôi đâu không?” Bà Daw Gon hỏi người con trai lớn của mình là Tỳ-kheo **U Vicitta** khi ngài vừa đi ngang qua khu giảng đường. “Hôm nay không phải học kinh nên chắc nó đi chơi đâu đó rồi,” Ngài **U Vicitta** trả lời. Tuy nhiên, sau khi dò hỏi thêm, bà được biết **Samanera Medhāvī** đã biến mất kể từ lúc đi bát về, khiến bà càng thêm lo lắng. Bà bèn nài nỉ chồng là ông **U Hnot** đi tìm khắp các liêu phòng trong chùa. Chẳng bao lâu sau, ông **U Hnot** hớt hải quay lại giảng đường, đứng từ xa gọi lớn: “Này... bà Gon ơi... bà Gon! Con trai bà không có lên nhà ăn độ thực đâu. Nó ôm bát vào rừng tu rồi!” Nghe vậy, tim bà Daw Gon thắt lại. Bà đứng phắt dậy, hốt hoảng hỏi: “Ông Hnot... ông nói thật đấy à? Trời đất ơi... sao các thầy, các sư trong chùa không ngăn nó lại?” Bà vừa nói vừa trách cứ cả người cháu là trụ trì **U Kesara** lẫn người con cả **U Vicitta**. Ông **U Hnot** chỉ mỉm cười điềm nhiên, khiến bà càng thêm sốt ruột: “Ông Hnot... có thật vậy không?” “Này bà Gon, tôi đang thọ giới bát quan trai mà, lẽ nào lại đi lừa bà chuyện tào lao như thế.” ## TRANG 431 “Nếu vậy thì phải làm sao bây giờ? Ông mau đi thưa với sư trụ trì và sư trẻ đi, nếu đuổi theo ngay bây giờ chắc vẫn còn kịp. Trời đất ơi, con tôi nó mới có 12 tuổi thôi mà!” Bà Daw Gon đứng ngồi không yên. Các thiện nam tín nữ trên giảng đường cũng thở dài ái ngại. Một bà lão thọ giới ngồi gần đó lên tiếng: “Cũng phải thôi, đứa trẻ này vốn đã khác thường ngay từ khi còn trong bụng mẹ mà.” Quả đúng như vậy. Kể từ khi mang thai, bà Daw Gon đã có những cảm thọ rất đặc biệt. Hằng ngày bà luôn giữ gìn giới luật tinh nghiêm và luôn khao khát được hành thiền mà không sao kìm nén được. Bà đã thưa chuyện với người cháu là sư trụ trì **U Kesara** để được hướng dẫn cách hành thiền. Vào thời bấy giờ, khái niệm hành thiền Vipassanā (thiền quán) vẫn chưa được phổ biến rộng rãi. Ngài **U Kesara** khi ấy chỉ dựa vào Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) để hướng dẫn bà những pháp căn bản như **Buddhānussati** (Niệm Phật) và **Mettā-kammaṭṭhāna** (Thiền tâm từ). Bà Daw Gon đã dùng tâm hành thiền để bảo bọc thai nhi đặc biệt này cho đến đêm khuya, quá canh một ngày Thứ Năm, sau ngày trăng tròn tháng Tabaung năm 1229 (theo lịch Miến Điện), bà đã hạ sinh một bé trai khỏe mạnh. Cậu bé không chỉ khác thường từ lúc trong thai mà khi chào đời cũng mang những dấu hiệu đặc biệt. Ngay giữa lòng bàn chân phải có một dấu luân xa (hình bánh xe) rất rõ nét. Nhìn những đường vân xoắn ốc bên phải và các đường gạch chéo cắt ngang vòng tròn ở giữa, ai nấy đều khẳng định: “Đây chắc chắn là một bậc vĩ nhân tương lai.” Diện mạo của cậu bé cũng vô cùng thanh tú và rõ nét. Năm 7 tuổi, cậu được gửi vào chùa đi học. Chỉ trong vòng một năm, cậu đã thuộc lòng bảng chữ cái (Thin-bong-gyi) và mười bộ kinh hộ trì (Paritta). Ngay khi còn là một học trò nhỏ, cậu đã thuộc lòng tám bộ ngữ pháp (Saddā) và chín chương của Thắng Pháp Tập Yếu Luận (Abhidhammattha-saṅgaha), khiến hai người anh là tỳ-kheo trong chùa hết sức nể trọng. Đúng như câu nói “Gừng càng già càng cay” (nguyên văn: gai nhọn từ lúc mới mọc), không chỉ xuất sắc về học thuật hơn hẳn lứa tuổi, cậu còn vô cùng tinh tấn trong việc phụng sự Tam Bảo và thầy tổ mà không cần ai sai bảo. Từ việc quét dọn, dâng hoa cúng Phật cho đến việc chuẩn bị nước uống, nước dùng... tất cả đều chu toàn khiến ai nấy đều thầm khen ngợi. Năm 12 tuổi, cậu xuất gia Sa-di. Nhờ đã thuộc lòng các kinh sách căn bản từ trước nên ngay khi vừa khoác áo cà-sa, vị Sa-di nhỏ đã có thể theo học các bộ đại kinh mà thông thường chỉ dành cho các bậc tỳ-kheo. “Con bà vốn đã lạ thường từ trong bụng mẹ rồi, chuyện nó vào rừng tu là có thật đấy,” bà lão thọ giới lập lại nhận định của mình. Lúc đó, một vị Sa-di lớn tuổi cũng bước đến giảng đường và nói: “Thưa bà, từ trước khi xuất gia, cậu bé đã thuộc lòng Thắng Pháp (Abhidhamma), đã am tường về **40 đề mục thiền định (Kammaṭṭhāna)**, phân biệt được **Danh sắc - Chế định (Paññatti) và Thực tính (Paramattha)**, thậm chí hiểu rõ về **Niết-bàn (Nibbāna)** nữa. Cậu ấy cứ hay nói với chúng tôi là muốn vào rừng ## TRANG 432 để hành thiền, và từ sáng nay thì không thấy cậu ấy đâu nữa.” Nghe những lời này, bà Daw Gon càng thêm lo lắng, khẩn khoản thúc giục ông **U Hnot** đi tìm con ngay lập tức. “Bà Gon à, bà đừng có lo quá như thế, con mình đi tu hành trong rừng thì phải mừng cho nó chứ!” Thấy ông chồng nói vậy, bà Daw Gon không kìm được cơn giận, định chạy đi tìm hai người con tỳ-kheo của mình, nhưng ông **U Hnot** đã nắm tay bà lại: “Thôi được rồi, để tôi dẫn bà cùng đi tìm nó.” Bà Daw Gon ngơ ngác đi theo ông **U Hnot**. Ông dẫn bà đến gần một bụi cây rậm rạp nằm sát hàng rào khuôn viên chùa, nơi vắng vẻ không bóng người qua lại. Ông **U Hnot** ra hiệu cho bà giữ im lặng rồi chỉ tay vào sâu trong bụi rậm. Ở đó, giữa bụi cây um tùm che khuất cả ánh nắng mặt trời, Sa-di Medhāvī đang ngồi trang nghiêm hành thiền trên chiếc y nội trải tạm, bên cạnh là chiếc bình bát. Đến lúc này, bà Daw Gon mới trút được gánh nặng, khẽ thở phào và nở một nụ cười mãn nguyện. Ông **U Hnot** khẽ chạm tay bà, cả hai rón rén bước ra ngoài. Khi đã đi đến một khoảng cách đủ xa để không làm phiền vị Sa-di, ông mới giải thích: “Bà Gon, đứa con này của bà không biết sau này sẽ còn phi thường đến mức nào nữa. Tôi có hỏi một chú tiểu thì được biết từ sáng sớm sau khi đi bát về, nó đã thọ hạnh **Pattapiṇḍik’aṅga** (hạnh trì bình) và **Ekāsanik’aṅga** (hạnh nhất tọa thực - chỉ ăn một lần mỗi ngày). Nó cũng đã tự tay dọn dẹp sạch sẽ chỗ trong bụi cây đó từ trước. Các thầy trẻ hôm nay được nghỉ học vì là ngày lễ nên cũng không ai hay biết nó đi đâu cả.” Cả hai cùng mỉm cười trở lại giảng đường. Sa-di **Medhāvī** ấy chính là tiền thân của đức **Thiền sư Nyaung Lunt** sau này. ### Tận tụy với trọng trách giáo giới và phụng sự thầy tổ Ngay từ thời Sa-di, ngài **Medhāvī** đã thuộc lòng các bộ kinh căn bản của Tạng Luật mà các tỳ-kheo thường học. Về giới đức, ngài luôn giữ gìn thân khẩu ý đúng theo luật nghi, được ca ngợi là một “vị Sa-di mẫu mực bước ra từ kinh sách”. Khi tròn 20 tuổi và thọ cụ túc giới, ngài lại càng tôn trọng giới luật tinh nghiêm, đúng nghĩa là một bậc “Tỳ-kheo của giáo pháp”. Sau khi hạ lạp được 3 năm, ngài lên Mandalay, vào chùa Phaya Gyi để nghiên cứu kinh điển. Sau hai năm tu học tại đó, theo lời dạy của thầy mình là ngài **U Kesara**, ngài trở về trông nom ngôi chùa cũ tại làng Yay-o-zin (nằm về phía Nam), gần thị trấn Nyaung-yan. Trong thời gian này...