## TRANG 454 398 **“Trách nhiệm của hành giả chỉ là nỗ lực chặt đứt gốc rễ của cội cây thân xác này cho đến cùng tận, không được dừng nghỉ.”** Có một thời, tại thiền viện của Ngài Đại sư Mahāsi, một vị Trưởng lão nổi danh bậc nhất (Agga Mahā) đang hành thiền thì trình bày sở đắc của mình với vị tín nữ thí chủ đã thỉnh Ngài đến. Vị tín nữ thấy Ngài cứ lẩn quẩn “ngày nào cũng bấy nhiêu đó” mà không tiến bộ thêm, nên mất kiên nhẫn nói rằng: “Con thỉnh Ngài đến để hành thiền, mà sao Ngài cứ như đang ngồi xích đu hay xem phim vậy, chẳng thấy tiến thêm bước nào cả”. Ý bà muốn nói rằng Ngài đang bị sa đà, dính mắc vào hỷ (pīti) và linh ảnh (nimitta). Tại điểm này, chúng ta nên suy ngẫm về tấm gương của Ngài Ānanda, vị đệ nhất về Thiên nhãn thông. Khi Ngài chưa thể đắc quả A-la-hán, nhờ gặp được bậc thiện tri thức như Ngài Sāriputta chỉ ra những chướng ngại vi tế mà Ngài đã đoạn tận lậu hoặc và chứng đắc A-la-hán. Ngài Ānanda đã bạch với Ngài Sāriputta rằng: “Bạch Ngài, với thiên nhãn, con có thể nhìn thấu cả ngàn thế giới. Tinh tấn của con không thối chuyển, niệm căn luôn thiết lập, thân luôn an tịnh và định tâm luôn kiên cố. Dù vậy, tại sao con vẫn chưa thể chứng quả A-la-hán?” Lúc bấy giờ, Ngài Sāriputta nhận thấy câu trả lời nằm ngay trong chính lời bạch của Ngài Ānanda, nên đã chỉ dạy: “Này Hiền giả, ý nghĩ ‘tôi có thể thấy ngàn thế giới’ chính là mạn (māna). Ý nghĩ ‘tinh tấn không thối chuyển, định tâm kiên cố’ chính là sự phóng dật của tâm (uddhacca). Còn lời thắc mắc ‘tại sao dù đã như vậy mà vẫn chưa đắc quả’ chính là sự hối tiếc, nghi nan (kukkucca). Hãy từ bỏ ba chướng ngại Mạn - Phóng dật - Hối này. **‘Amatāya dhātuyā cittaṃ upasaṃharatu’ – hãy hướng tâm thẳng đến cam lộ diệt độ (Niết-bàn)**.” Khi những chướng ngại này được chỉ ra, Ngài Ānanda liền đắc quả A-la-hán (Kinh Anuruddha, Tăng Chi Bộ). Do đó, trên lộ trình thánh đạo ngày càng vi tế, điều tối quan trọng là phải có bậc thiện tri thức chỉ dẫn và bản thân phải là người dễ dạy, biết vâng lời để đoạn trừ các chướng ngại, sớm hoàn tất phận sự. ### Kiến chứng toàn thể thế giới Đức ngài (Ngài Thiền sư Nyaung Lunt) gác lại các đối tượng ngoại cảnh, chỉ tập trung quán xét Tam tướng (Lakkhaṇā). Khi ấy, toàn bộ hình tướng thế gian dường như biến mất, chỉ còn lại sự sanh diệt hiện rõ. Có lúc Ngài đi đứng không vững, thân hình lảo đảo, phải nỗ lực chánh niệm lắm mới có thể bước đi. Có khi do tinh tấn quá mãnh liệt, các cơn đau bệnh khởi lên dường như không thể chịu đựng nổi. Đến năm 1282 (Âm lịch Miến Điện), nhận thấy tính chất cấp bách, Ngài đình chỉ mọi lớp học trong suốt một mùa hạ, quyết chí tu tập không ngủ nghỉ với lời nguyện: “Dẫu có thác cũng là sự thanh cao”. ## TRANG 455 399 1. Ngày 11 tháng Nayon năm đó, vào lúc 3 giờ sáng, khi đang tọa thiền trên chiếc ghế mây quen thuộc tại chùa Wat Yone, Ngài đã chứng đắc Đạo Quả tầng thứ nhất (Tu-đà-hoàn). 2. Ngày 18 (3 ngày sau trăng tròn) tháng Nayon năm đó, vào lúc 11 giờ đêm, tại phòng học phía Bắc chùa Wat Yone, Ngài hoàn tất tầng thứ hai (Tư-đà-hàm). 3. Ngày 20 (5 ngày sau trăng tròn) tháng Nayon năm đó, vào lúc rạng đông, tại ngôi chùa dưới bóng cây Phan-kha (Phyllanthus emblica) thuộc khu vực Kammatthan Chaung, Ngài hoàn tất tầng thứ ba (A-na-hàm). 4. Ngày 22 (7 ngày sau trăng tròn) tháng Nayon năm đó, vào lúc 3 giờ sáng, sau khi dâng nước rửa mặt và cúng dường đèn dầu lên tòa Bảo tháp, Ngài tựa lưng vào tường gạch của giảng đường, hướng mặt về phía Bắc để hành thiền. Đến 4 giờ sáng, lúc rạng đông, Ngài đã chứng đắc Lậu tận thông (Āsavakkhaya-ñāṇa), bước vào quả vị A-la-hán cùng với Lục thông (bao gồm **Túc mạng thông** – Pubbenivāsa-ñāṇa: nhớ lại các tiền kiếp; và **Thiên nhãn thông** – Dibbacakkhu-ñāṇa: thấy thấu suốt những gì muốn thấy như mắt chư Thiên). Kể từ thời điểm đó, Ngài có thể nhìn thấy các kiếp sống trong vòng luân hồi của chính mình và của chúng sanh khác. Ngài có thể thấy rõ ràng bằng tuệ nhãn thực trạng của cõi người, cõi trời, cõi Phạm thiên và tám đại địa ngục... Ngài thấu suốt sự chết, sự sống, nơi đi, chốn về của chúng sanh theo nghiệp lực, cũng như những sự việc sẽ xảy ra trong tương lai. Ngài (để khích lệ các đệ tử đang xả thân tu tập) đã chia sẻ rằng, cái thấy này vượt xa hàng vạn lần so với cái thấy bằng định hiệp thế (Lokī Samādhi) trước đây, nó thấu suốt và sáng tỏ vô cùng. [Để quý vị tiện ghi nhớ, tôi xin trình bày các mốc thời gian năm, tháng, ngày một cách liên tục như trên.] Sau khi chứng đắc A-la-hán quả, vào buổi chiều ngày hôm sau tại Kammatthan Chaung, khi các bậc Trưởng lão đồng tu và các vị tỳ-khưu trẻ cùng hội tụ đông đủ để đảnh lễ, với sắc diện sáng ngời và uy nghi tĩnh lặng, Ngài giáo giới: “Này chư Hiền giả, giáo pháp của bậc Đạo sư nếu nỗ lực tinh tấn không ngừng nghỉ, thậm chí hy sinh cả mạng sống để thực hành đúng đắn, thì nhất định sẽ đạt được kết quả. Hãy tin tưởng và nỗ lực không thối chuyển. Đúng như lời dạy **‘Sayaṃ abhiññā sacchikatvā’** (tự mình thắng tri, chứng đắc), quý vị sẽ trực tiếp kiến chứng một cách rõ ràng để có thể tự mình quyết định lấy vận mệnh tâm linh. ## TRANG 456 400 **‘Vesārajjappatto’** – Hãy làm việc của mình cho đến khi thành thục, thiện nghệ và tự tin. **‘Aparappaccayo’** – Khi ấy quý vị sẽ có tuệ giác tự tin nơi chính mình mà không cần phải nương tựa hay tôn ai làm thầy nữa (về phương diện sở chứng). Một khi đã **‘Diṭṭhadhamma’** (thấy Pháp), **‘Pattadhamma’** (đạt Pháp), **‘Viditadhamma’** (biết Pháp), thì đúng như lời dạy **‘Vigata kathaṃ katho, tiṇṇavicikicchā’**, những hoài nghi, phân vân trước đây kiểu như ‘liệu có thực hay không’, những suy nghĩ lưỡng lự về Giáo pháp cũng như về ba-la-mật của bản thân sẽ lập tức tan biến, mọi thứ sẽ trở nên sáng tỏ như ban ngày. Nếu thực lòng tin tưởng và thực làm thì sẽ được thật, nay tôi mới có thể mạnh dạn khẳng định và khuyến tấn quý vị đúng như lời xác chứng của đức Thế Tôn. Hãy cố gắng lên!” ### Ngài Webu Sayadaw tự thân chứng kiến hóa thân của Ngài Nyaung Lunt Những lời dạy như “Lẽ nào không đắc được Thắng trí (Abhiññā)” đã được trình bày theo tiểu sử của Ngài Nyaung Lunt. Theo tiểu sử, chúng ta đã được chiêm bái đức tính của Ngài Nyaung Lunt rằng dù đã nỗ lực chứng đắc Thắng trí nhưng (ban đầu) không được, sau đó Ngài đã hoàn tất phận sự tỳ-khưu bằng Tam minh (Te-vijjā) và trở thành vị Thánh A-la-hán Tam minh Trưởng lão. Tuy nhiên, sau khi bổn sư là Ngài Webu Sayadaw viên tịch, thông qua việc nghiên cứu về cuộc đời Ngài Webu, chúng ta được dịp chiêm bái thêm những ân đức bổ khuyết của vị cao tăng Nyaung Lunt. Vào khoảng năm 1285, khi được khoảng 8 tuổi hạ, tiền thân của Ngài Webu Sayadaw rời khỏi khu rừng Shwebo Patheingyi, đi khắp các vùng núi rừng để thực hành pháp niệm hơi thở (Anāpāna). Chỉ trong vòng vài tháng, Ngài dường như đã đạt được các thần thông hiệp thế và chứng đắc đến tầng thứ ba (A-na-hàm). Không biết có phải vì muốn tìm cầu sự xác chứng thêm cho những gì mình đã chứng ngộ hay không, mà ngay trong năm đó, Ngài đã tìm đến thiền viện Nyaung Lunt. Tại đây, Ngài bắt gặp một vị tỳ-khưu đang quét dọn cung kính bên một ngôi bảo tháp, Ngài liền tiến đến đảnh lễ. Vị tỳ-khưu hỏi han sự tình rồi nói: “Ngài Nyaung Lunt hiện đang dạy học trên giảng đường lớn. Sẽ xong sớm thôi. Ngài hãy tạm đợi ở đây một chút.” Vị tiền thân của Ngài Webu trong lúc chờ đợi tại ngôi tháp cũng tranh thủ làm các phận sự quét dọn khuôn điện tháp (Cetiyaṅgana). Một lúc sau, vị tỳ-khưu ấy chỉ tay về phía đoàn tăng chúng đang rời khỏi giảng đường...