## TRANG 457 **Bậc A-la-hán và những bậc đặc thù** Đang chỉ dạy... "Thôi thôi, này Hiền giả (U-pa-zin), lớp học kinh điển xong rồi. Mời ngài lên đường thôi." Trong khi vừa nói vừa cầm chổi đứng đó, vị tương lai của Ngài Webu sau khi đảnh lễ xong đã đi lên ngôi trường kinh điển (Cà-cha-kyun); bấy giờ ngài mới có cơ duyên được tự mình diện kiến và khởi tâm tịnh tín về việc **Ngài trưởng lão Nyaung-lunt** là một bậc vĩ nhân như thế nào. "Vị Thiền sư đang dạy kinh điển ấy chính là vị sư đang quét rác. Đó là chuyện thế gian vậy," Ngài trưởng lão **Webu Sayadaw** đã từng tự mình chỉ dạy như thế (vào thời điểm ngài mới lập trường thiền In-gyin-pin, lúc ngài đang dạy về chương Thân hành niệm trong bộ **Khuddasikkha Atthakatha**, ngài đã dạy cho vị Ngài trưởng lão Webu thứ hai tại Kyaukse hiện nay là **Dhammacariya U Acara** và các vị khác). Ngài U Acara đã từng kể lại điều này cho người viết. Xét theo điểm này, lời nói trong tiểu sử rằng "Nếu không đắc Thắng trí (Abhiññā) thì cứ ở yên như vậy" dường như là lời ngài dạy vào thời kỳ đầu lúc mới bắt đầu xây dựng Thắng trí. Tâm ý của các bậc thiện tri thức thật khó mà thấu hiểu. Tại vùng Webu có ba ngôi giới đàn (Sima), trong đó giới đàn nguyên thủy được gọi là "Giới đàn Ariya" (Bậc Thánh), là nơi mà các vị trưởng lão như **Ngài trưởng lão Nyaung-lunt**, **Sunlun Gu Sayadaw**, v.v... đã cùng nhau thiết lập. Trong số các bậc trưởng lão mà **Ngài trưởng lão Webu Sayadaw** hằng tôn kính, Ngài trưởng lão Nyaung-lunt chính là một vị trong số đó. #### Các vị Sayadaw không tin và tiếng sấm sét Vì đây là thời đại mà người ta cho rằng "việc đắc quả A-la-hán cũng khó khăn như việc một đức Phật xuất thế" nên sinh lòng nản chí. Dù họ được diện kiến dung mạo, uy nghi và phong thái sống của ngài đều khiến người ta vô cùng mãn nguyện và tịnh tín, nhưng vì ngài không trực tiếp tuyên bố mình đã đắc quả A-la-hán nên cũng có những người không tin tưởng. Phía không tin này đa phần là các bạn hữu và đệ tử giỏi về giáo pháp kinh điển. Những lời đồn thổi ngày một lan rộng, đến một ngày nọ, các vị trưởng lão sống chung ở khắp nơi dường như đã hẹn trước với nhau và cùng hội ngộ tại **Thiền viện rừng Nyaung-lunt**. Các vị trưởng lão đó gồm có: 1. Ngài đại trưởng lão **Nyaung-lay-pin Kauk-kway Way-zayan-ta Sayadaw**, 2. Ngài trưởng lão **Aggamahapandita U Dipa** ở thị trấn Chaung-u, huyện Monywa, 3. Ngài trưởng lão **Pat-ta-boin U Acara** ở thị trấn Lewe, 4. Ngài đại trưởng lão **Zi-taw Min-hla Thazi Gaing-chon U Narinda** ở thị trấn Pyawbwe, 5. Ngài trưởng lão **Htan-ta-pin Taw-ra U Sandana** ở thị trấn Pyawbwe. ## TRANG 458 Đó là các bậc trưởng lão danh tiếng. Trong lúc hội tụ và trú ngụ tại chùa Phun-kha-pin, nơi Ngài đại trưởng lão **U Kavinda** (vị quản lý trường thiền Ngwe-taung nguyên thủy) đang cư ngụ, hai bên đã tranh luận với nhau: "Đắc rồi!" - "Chắc là chưa đắc đâu!". "Thôi thôi, nói dài dòng quá. Ngài trưởng lão Htan-ta-pin có đủ can đảm để thưa hỏi vị trị sự (Taik-ok Sayadaw) mà. Hiện nay tất cả các vị Sayadaw đang có mặt ở đây, bao gồm cả ngài U Kavinda, vì chưa thể tin tưởng được việc Ngài đã đắc Pháp đặc thù (Pháp thượng nhân), nên ngài hãy đi thưa hỏi để mọi người có thể tin tưởng chắc chắn, rồi Ngài dạy bảo điều gì thì về thuật lại cho chúng tôi nghe," mọi người cùng thúc giục **Ngài U Sandana**. Ngài U Sandana lập tức đi ngay và cung kính thưa hỏi với tâm thế vừa e ngại vừa quyết tâm. "Này U Sandana, việc ta nói những lời gợi ý và khuyến khích đó không phải là để cho Ngài Kauk-kway, Ngài Chaung-u, Ngài Lewe hay ngài U Kavinda tin tưởng đâu, ông Sandana ạ. Ta nói là dành cho những hành giả đang thực tu ở đây. Những vị đó (các vị Sayadaw đang tranh luận) không phải là những người đang hành trì giáo pháp; họ chỉ nỗ lực để được sống an nhàn thoải mái thôi. Chẳng lẽ ta lại đi nói những lời khoác lác, phô trương để biến mình thành một kẻ giả mạo hay sao? Ta đã dày công nghiên cứu và giảng dạy kinh điển thì lẽ nào lại không biết đó là **Tăng thượng mạn** (Adhimāna - tưởng mình đã đắc) hay là sự thật? Đối với người đã đạt được Pháp ngay trong hiện tại (Thiết thực hiện tiền), sự thật ấy còn rõ ràng hơn cả tiếng sấm sét đánh nữa," Ngài đáp lại một cách dũng mãnh và quyết đoán. Thời đó, dường như cần phải dạy bảo như vậy. **Ngài trưởng lão Htan-ta-pin** sau khi thưa hỏi xong liền trở về thuật lại không sót một lời cho các bậc trưởng lão khác: "Nào, các ngài thấy sao? Những lời Ngài trị sự dạy thật là đúng đắn. Chúng ta quả thật đã quá nuông chiều và ưu ái cho tấm thân này. Ngay cả bậc Thánh (Ariya) bậc thấp cũng không thể biết được bậc Thánh bậc cao, huống hồ chúng ta còn chưa dự vào hàng bậc thấp nữa. Việc Ngài trị sự đã xả thân tu tập một cách phi thường như thế nào thì tất cả đều đã rõ. Nếu xét theo kinh điển thì cũng không có gì phải nghi ngờ cả. Giờ đây thì lại càng thêm chắc chắn hơn rồi," tất cả đều hân hoan nói như vậy. Vào một ngày nọ, chính vị **Ngài trưởng lão U Sandana** ấy đã bí mật tìm gặp Ngài trưởng lão, dành thời gian tiếp cận để thưa hỏi chi tiết về năm, tháng, ngày mà Ngài đã đắc Pháp đặc thù, với mục đích để các thế hệ mai sau có thể khởi tâm xác tín sâu sắc mà noi gương tu học (**Diṭṭhānugati**). Sau khi Ngài trưởng lão viên tịch (Parinibbana), lúc chuẩn bị viết tiểu sử, bản ghi chép đó đã được gửi đến Hội những hành giả Nyaung-lunt (điều này đã được trình bày ở phần trước). Khi Ngài trưởng lão đến làm lễ kiết giới (Sima) tại chùa làng Min-tan, gần thị trấn Pyawbwe, một vị nữ hành giả tên là **Daw Saw** ở thị trấn Pyawbwe, người rất giỏi về Luận tạng (Abhidhamma), đã thưa rằng: ## TRANG 459 "Bạch Ngài, con muốn biết tâm **Đạo Quả (Magga-Phala)** hướng tâm đến **Niết-bàn** như thế nào và nhận biết ra sao ạ?" Ngài đáp rằng: "Nó cũng giống như **tâm Hữu phần (Bhavanga)** của người đang ngủ say hướng về **Nghiệp (Kamma)**, **Nghiệp tướng (Kamma-nimitta)** và **Thú tướng (Gati-nimitta)** vậy." Ngài dạy tiếp: "Nếu có ai hỏi rằng khi ông đang ngủ say, ông biết cái gì (đang hướng tâm đến cái gì), thì ông phải trả lời là không biết gì cả. Cũng vậy, khi các bậc Thánh đang trong tâm **Đạo Quả**, nếu hỏi trạng thái đó như thế nào thì có lẽ họ sẽ trả lời là không biết gì cả. Tuy nhiên, sau khi qua khỏi trạng thái 'không biết gì' đó, khi quán xét suy nghiệm lại thì tự mình sẽ biết rõ là mình đã biết được cái gì." Đây cũng là một điểm đáng ghi nhớ. Về việc đắc Pháp (**Dhammābhisamaya - Chứng ngộ giáo pháp**) của Ngài trưởng lão, chúng ta có thể đánh giá thông qua các tác phẩm mà Ngài đã soạn thảo như: "**Samatha Vipassanā Naya Saṅkhepa Kyam**" (Yếu lược phương pháp Chỉ Quán), "**Gaṇacārika Paṭipatti Kyam**" (Sách về sự thực hành của vị lãnh đạo nhóm), "**Nibbānattha Pakāsanī Kyam**" (Sách giải thích về ý nghĩa Niết-bàn). Ngoài ra còn có các tập sách do vị quan **U Kyaw Dun** chú giải như: "**Nibbānattha Vibhāvanī**" và "**Nibbānattha Vissajjanā Kyam**". Về sự thông thạo của Ngài đối với **Tam Tạng (Tipitaka)**, đặc biệt là Luật tạng, chúng ta có thể thấy rõ qua tập 1 của bộ "**Tipiṭaka Pakiṇṇaka Dīpanī**" (**Moe-nan-kon Vinicchaya**). Trong đó, tập 1 là do chính Ngài trưởng lão tự mình trau chuốt và viết về các quyết định, còn hai tập sau là những lời giải đáp của chính Ngài cho các câu hỏi từ khắp nơi gửi đến. #### Hơn 20 vị đệ tử đắc Pháp đặc thù trong cùng một đợt Từ sau năm 1282 (Miến lịch), Ngài trưởng lão chỉ giảng dạy giáo lý (Pariyatti) rất ít, mà chủ yếu khuyến khích việc thực hành (Patipatti). Vào năm 1287, Ngài không mở các lớp học kinh điển nữa mà yêu cầu toàn thể thiền viện phải nỗ lực hành thiền. Ngài thậm chí còn chỉ thị rằng: "Những vị nào không muốn hành thiền mà chỉ muốn học kinh điển thì hãy chuyển sang các thiền viện chuyên dạy kinh điển khác." Ngài chỉ thỉnh thoảng thuyết giảng và dạy bảo về thiền Minh Sát (Vipassana) cho chư Tăng trong thiền viện. Ngài trưởng lão, từ khi biết nhận thức, đã thực hiện trọn vẹn các phận sự đối với Đức Phật (Buddha-veyyāvacca), phận sự đối với bậc Thầy (Acariya-veyyāvacca) và các phận sự rất nặng nề đối với chư Tăng đồng phạm hạnh (**Sābrahmacārī**). "Giống như con bò mẹ vừa ăn cỏ vừa để mắt trông chừng con bê nhỏ, một bậc **Tu-đà-hoàn (Sotāpanna)** dù đang nỗ lực thực hành giáo pháp của mình nhưng vẫn luôn chu toàn các phận sự đối với các bạn đồng phạm hạnh." Điều này hoàn toàn phù hợp với bảy đặc tính của một bậc **Tu-đà-hoàn** (theo kinh **Kosambiya Sutta** thuộc bộ **Mūlapaṇṇāsa**). Đối với các vị hậu học, Ngài đã chỉ dạy những điều khiến họ phát khởi tâm kinh cảm và lòng tinh tấn...