## TRANG 493 BẬC ALAHAN VÀ NHỮNG BẬC CAO NHÂN ĐẶC BIỆT 437 **Nếu Ngài Thiền sư không xuất hiện** Tại thành phố Thaton, phương pháp "Ghi nhớ" (Satipaṭṭhāna) của Ngài Thiền sư lúc đầu cũng không dễ dàng được chấp nhận. Từ những người bán cá tươi cho đến khi sát hại cá, họ đều đem ra chế giễu, nhạo báng không thôi bằng những từ như "đang cầm nè, đang đập nè, đang giết nè". Họ còn mỉa mai rằng: "Nghe nói chỉ cần biết đi biết lại là thành bậc Thánh Dự Lưu (Sotāpanna), co tay duỗi chân cũng là Pháp; xưng là Sotāpanna mà ngay cả 28 sắc pháp (rūpa-aṭṭhavīsa) cũng không đếm nổi", và đưa ra đủ lời chỉ trích, bất mãn. Một số vị Tỳ-khưu khi thuyết pháp cũng kịch liệt phê phán và hạ thấp phương pháp này. Thực tế, vì đây là pháp hành vốn đã bị gián đoạn trong Giáo pháp suốt nhiều thế kỷ, nên việc họ chế giễu, chỉ trích hay chê bai cũng là điều khó tránh khỏi. Dù kinh văn dạy rất trực diện và rõ ràng: "**Gacchanto vā gacchāmīti pajānāti** = Khi đi, tu sĩ ấy biết rõ rằng mình đang đi", nhưng người ta vẫn dường như không thể lĩnh hội được. Ý nghĩa cốt lõi của Tứ Niệm Xứ (Satipaṭṭhāna) là "làm sao để biết rõ mọi cử động của thân và mọi suy nghĩ của tâm", điều này vốn vô cùng giản đơn. Nhưng để giải thích và làm sáng tỏ những điều giản đơn ấy lại là việc khó khăn nhất. Vì vậy, khi một chân lý giản đơn được khơi dậy và trình bày như một điều mới mẻ, việc bị thế gian chế giễu là lẽ thường tình, không có gì đáng trách. Trong bối cảnh những người xung quanh không hiểu biết như vậy, chúng ta cần thấu cảm cho người đã nỗ lực truyền bá chân lý giản đơn ấy, rằng họ đã phải kiên trì và nhẫn nại đến dường nào. Nếu chỉ với lòng nhẫn nại và sự tinh tấn tầm thường thì khó lòng đạt được thành quả như ngày nay. Thông thường, đa số mọi người chỉ muốn giữ sự an lạc cho riêng mình sau khi đã chứng ngộ. Những người có thể vượt qua mọi khó khăn thử thách vì sự hưng thịnh của Giáo pháp và vì chúng sinh còn mê muội như Ngài Thiền sư thật sự là vô cùng hiếm hoi. Nếu không có những bậc vĩ nhân đặc biệt, những người có lòng nhẫn nại và sự tinh tấn kiên cường, quyết liệt, không lùi bước và đầy tâm huyết như Ngài, thì giáo lý Satipaṭṭhāna cho đến tận ngày nay có lẽ vẫn chỉ dừng lại ở mức độ kinh kệ dùng để thờ phụng, chứ chưa thể nâng tầm thành pháp hành thực tiễn. (Trong công cuộc hoằng dương Satipaṭṭhāna, Pháp sư nổi tiếng toàn quốc U Paṇḍita - cư sĩ U Kyaw - là một trong những bạn đồng hành dũng cảm của Ngài. Ông là một bậc vĩ nhân cư sĩ đã soạn thảo nhiều tác phẩm như bộ "**Vipassanā-ṭīkā**" và từng đi thuyết pháp lưu động sang tận nước Thái Lan.) ## TRANG 494 438 U Htay Hlaing (Dhammācariya) **Trong chùa tôi không nhận Bồ-tát** Tại trung tâm thiền Jetavana, tăng ni và Phật tử từ khắp nơi tìm đến hành thiền. Giống như việc phân chia nơi cư ngụ cho các hành giả (yogī), các quy định kỷ luật cần tuân thủ cũng được thiết lập rõ ràng. Chuyện kể rằng, có một vị Thiền sư nổi tiếng hiện nay, khi xưa đến học phương pháp Satipaṭṭhāna nơi Ngài. Khi vị này dường như đã đạt đến tầng "Hành Xả Tuệ" (Saṅkhārupekkhā-ñāṇa) nhưng tiến trình tu tập bỗng chững lại không tiến triển thêm, Ngài đã kiểm tra bằng nhiều cách khác nhau. Khi đó, vị sư ấy đã bạch rằng: "Bạch Ngài, con đã phát nguyện thành bậc Chánh Đẳng Giác (Phật quả). Trong Giáo pháp này, con không muốn chứng đắc quả vị Thanh Văn (Sāvaka)". Sau sự việc đó, Ngài Thiền sư đã ban lời chỉ dạy rằng: "Trong chùa chúng ta, nếu là hành giả phát nguyện thành Phật (Bồ-tát) thì không tiếp nhận". (Tuy nhiên, vị sư kia hẳn là một bậc có đại nguyện chân chính.) Tư tưởng phát nguyện thành Phật (Bồ-tát) đang rất phổ biến ở một số nơi, và đây là một vấn đề cần được xem xét cẩn trọng. Lời tuyên bố "Trong chùa tôi không cho phép Bồ-tát ở" dường như nghe có vẻ rất gay gắt, nhưng nếu suy xét kỹ, đó là một lời dạy rất phù hợp và đúng đắn, dù rất khó để nói ra. Đằng sau việc phát nguyện thành Phật thường ẩn chứa những khuynh hướng tâm linh rất khó nhận diện và sâu sắc. **Sự thỏa mãn và trì hoãn thời gian** Vào thời kỳ Sri Lanka, có một vị Đại trưởng lão tên là Mahāsaṅgharakkhita, là bậc lãnh đạo của một tông phái lớn. Khi ngài sắp viên tịch và đang nằm trên giường bệnh, có tin đồn lan truyền rằng "Ngài sắp nhập Niết-bàn với tư cách là một bậc Alahan". Đám đông tụ tập đến để đảnh lễ, khi đó một người học trò đã thưa rằng: "Bạch Ngài, việc của bậc Sa-môn Ngài đã hoàn tất chưa? Có tin đồn rằng Ngài sắp nhập Niết-bàn nên mọi người đang tụ tập rất đông đảo." Ngài đáp: "Vẫn chưa xong." Người học trò thưa tiếp: "Trong tông phái chúng con, nếu một bậc thầy như Ngài mà không chứng đắc Alahan, vẫn tịch diệt trong thân phận phàm phu thì thật không xứng đáng, điều này sẽ khiến lòng người không khỏi xót xa, bạch Ngài." Ngài nghe vậy liền bảo: "Vậy thì, này hiền giả, hãy đỡ ta ngồi dậy rồi con lánh ra ngoài phòng một lát." Ngài bắt đầu thu thúc tâm và quán chiếu Pháp. Người học trò vừa đóng cửa ## TRANG 495 BẬC ALAHAN VÀ NHỮNG BẬC CAO NHÂN ĐẶC BIỆT bước ra ngoài chỉ trong chốc lát, Ngài đã búng tay gọi vào và bảo: "Việc Sa-môn của ta đã hoàn tất rồi, này hiền giả." 439 (Trích Chú giải Thanh Tịnh Đạo - Visuddhimagga Aṭṭhakathā I, 45). Vị Đại trưởng lão Mahāsaṅgharakkhita này vốn đã hội đủ các pháp Giới - Định - Tuệ để chứng đắc Alahan. Về phương diện không phóng dật (appamāda), ngài được ghi nhận là "từ khi xuất gia cho đến năm 80 tuổi, chưa từng làm việc gì mà thiếu chánh niệm." Dù vậy, sở dĩ ngài chưa chứng quả Alahan không phải vì lý do gì khác, mà chính là do tâm còn dính mắc vào nguyện ước (āsa) muốn được chiêm bái đức Phật Metteyya (Di-lặc) tương lai. Việc cái tâm ấy ngăn cản sự chứng ngộ có lẽ không phải là chuyện đơn giản. Tuy người ta có thể nói rằng "vì tôi muốn chiêm bái Ngài", nhưng những mưu chước của Ma vương (Māra) vốn rất rộng lớn và vi tế; đó chính là việc bị dùng hình ảnh đức Phật Metteyya để trì hoãn thời gian chứng ngộ. Tương tự, có một bậc Thánh Alahan tại Myanmar, sau khi đắc quả Bất Lai (Anāgāmī), lúc sắp bước vào tầng đạo lộ Alahan (Arahatta-magga) thì lại không thể tiến vào được. Khi đó, ngài đã cùng một vị đạo hữu thảo luận và phân tích chi tiết về trạng thái tâm lý lúc bấy giờ. Vị Bất Lai ấy nói rằng: "Tâm con cứ thường xuyên hướng về phía vị Bồ-tát đang ở cung trời Đâu-suất (**Tusitā**), gần bên đức Bồ-tát **Arimetteyya**." Sau khi suy xét kỹ lưỡng nhiều lần, ngài mới nhận ra cái tâm của mình đang diễn tiến một cách vô cùng vi tế mà không hề hay biết. Khi ngài thuật lại như vậy, vị đạo hữu liền cảnh báo: "Cái tâm đó không đúng đâu, đừng để nó dính mắc, hãy đoạn tuyệt nó đi." Nhờ lời cảnh báo đó mà ngài mới có thể đắc chứng Alahan. Câu chuyện này mang giá trị vô cùng lớn lao trong pháp hành vi tế. (Đối với hai vị này, chúng ta không nên nhìn nhận dưới góc độ ai lớn ai nhỏ hay thầy trò khi họ đàm đạo như vậy. Với người có trí tuệ thực nghiệm, dù trẻ tuổi nhưng sự hiểu biết vẫn có thể rất sâu rộng.) Ngày nay, những người xưng là Bồ-tát rất nhiều. Danh sách các bậc Bồ-tát và các đại kiếp (kappa) mà họ sẽ thành Phật nhiều đến mức không thể thống kê hết. Nói một cách trực diện, những người theo các tông phái thường phát nguyện thành Phật với cái tâm dính mắc vào ý niệm "để cứu độ chúng sinh". Những bậc "Vị-tát" (Wijja - những bậc ẩn danh) cũng thường được gọi là những bậc đại Bồ-tát. Tất cả những người theo Phật giáo Đại thừa cũng đều tự nhận mình là Bồ-tát. (Hãy lưu ý rằng dù khác biệt về dân tộc, hình thức hay danh xưng, nhưng từ căn bản cho đến mục tiêu cuối cùng đều tương đồng với nhau.) Tuy nhiên, dường như họ không phân biệt rõ ràng vị Phật mà họ phát nguyện hướng tới là vị nào. Đôi khi đó lại là những vị Phật tùy tùng của vị Đại Phạm Thiên (Mahātma Brahmā) đầy quyền năng trong giáo thuyết Ngã (Atta) của Bà-la-môn giáo.