## TRANG 499 ### Các Bậc A-la-hán và Những Bậc Đặc Biệt Ngài dạy rằng: “Trong mỗi khoảnh khắc búng tay, chúng ta có thể mắc thêm nợ đến hàng trăm ngàn ức.” Dù dường như các suy nghĩ thiện hay bất thiện chỉ khởi lên trong nháy mắt rồi biến mất, nhưng nếu không dùng pháp Niệm Tâm (Cittānupassanā) để quán chiếu, thì sự chấp thủ mạnh đến đâu, kết quả sẽ tác động đến đó vào một thời điểm nào đó. Chính vì vậy, khi thuyết về quả báu của lòng từ ái (Mettā), Đức Phật đã dùng những thước đo như “một lần vắt sữa bò, một hơi thở, một cái búng tay, một cái chớp mắt, một khoảnh khắc ánh chớp” để răn dạy; chúng ta cần lưu tâm rằng ngay cả những ý nghĩ thiện hay ác nhỏ bé cũng không được xem thường, huống hồ là các hành vi qua lời nói (khẩu nghiệp) hay hành động (thân nghiệp). Khi sự tiếp xúc giữa đối tượng và tâm biết đối tượng xảy ra (**Phassa - Xúc**), tạo nên cảm thọ tốt hay xấu (**Vedanā - Thọ**), thì ngay lúc đó cần phải quán chiếu để xả bỏ cảm thọ ấy. Nếu không quán chiếu kịp, tâm sẽ chuyển sang Ái (Taṇhā), rồi đến Thủ (Upādān), Hữu (Bhava)... làm cho vòng luân hồi Thập Nhị Nhân Duyên tiếp tục xoay chuyển. Theo tiến trình tâm (Vīthi) dưới nháy mắt của Thắng Pháp (Paṭṭhāna), không được để tâm rơi vào các tâm Tốc Hành (Javana) sau giai đoạn Đoán Định (Votthapana). Khi các đối tượng như hình sắc cảnh trần hiện khởi, phải dùng chánh niệm quán chiếu để cắt đứt trước khi tâm kịp suy xét và hưởng thụ vị ngọt của đối tượng (**Javana**). Nếu đã rơi vào Tốc Hành tâm, tùy theo cường độ tác động mà nó sẽ đem lại quả báu ngay trong hiện tại (Diṭṭhadhamma) hoặc về sau. Ngay khoảnh khắc tâm Tốc Hành đầu tiên, nếu biết tham tâm (Rāga) đang khởi lên, thì ngay lập tức ở tâm Tốc Hành thứ hai phải dùng chánh niệm để quán chiếu và cắt đứt nó. Trong các bản chú giải kinh *Chaḷāyatana* và *Dukkhamadhamma Sutta* có giải thích rằng: “Nếu đã thuần thục, thời gian khởi niệm chánh niệm có vẻ lâu, nhưng việc đoạn trừ lại diễn ra rất nhanh chóng.” Trong các bài kinh Nikaya, Đức Phật dạy rằng: “Khi mắt thấy sắc, không được nắm giữ các tướng chung và chi tiết (tướng riêng), mà chỉ dừng lại ở sự thấy (**Nānubyañjanaggāhī** - Không nắm giữ các chi tiết phụ)”; đây chính là ý nghĩa của điều đó. Đây là cách giải thích theo kinh điển. Đối với một hành giả, việc hiểu tường tận các thuật ngữ này không quá quan trọng; điều cốt yếu là phải luôn giữ chánh niệm, quán chiếu và nhận biết rõ ràng mọi thực tại của Danh và Sắc (Rūpa - Nāma) đang diễn ra, như vậy là đã hoàn thành nhiệm vụ. ### Các Tác Phẩm Đã Biên Soạn Kể từ khi nuôi dưỡng ý định viết sách từ năm hạ thứ 6, Ngài đã phải tạm gác lại việc hướng dẫn các môn đồ hành thiền vốn rất tin tưởng Ngài, để dấn thân vào công việc biên soạn kinh sách (**Gantha Palibodha** - sự chướng ngại do công việc nghiên cứu kinh điển). Lúc bấy giờ Ngài khoảng 52 tuổi. Vào năm 1280 (Miến lịch), tác phẩm đó đã được ấn hành. Cư sĩ Hermit U Kanti vì lòng tôn kính đã cho khắc nội dung này lên 28 phiến đá, đặt tại chùa Sandamuni dưới chân núi Mandalay, cùng với các văn bia của kỳ Kết tập kinh điển lần thứ năm. Ngài cũng tự mình biên soạn bản diễn giải (Nissaya) cho bộ chú giải này, gồm 3 tập (hoàn thành vào các năm 1290, 1297 và 1298). ## TRANG 500 Sau đó, tùy theo các câu hỏi và những tư duy sâu sắc, Ngài đã biên soạn thêm các tác phẩm sau: 1. Giải thích về Bốn mươi nơi trú ngụ ẩn dật (To-lay-se-aphwint-kyan). 2. Tác phẩm Ārambhāvidhi Vissajjanā (Giải đáp về các phương thức bắt đầu). 3. Tác phẩm Sandhetāvidhi Vissajjanā (Giải đáp về các phương thức kết nối). 4. Bản diễn giải mới (Nissaya) cho Chú giải Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga). 5. Luận về Niết-bàn (Nibbānakathā - văn xuôi). 6. Bài giảng Chỉ dẫn con đường đến Niết-bàn. 7. Tiểu luận về Niết-bàn. 8. Tiểu luận về Tứ Niệm Xứ (Satipaṭṭhāna). 9. Satipaccaye hay là Viniñchaya Samuha (Tập hợp các quyết định). 10. Quyết định về lễ Kathina (văn xuôi). 11. Diễn giải về Kathina (Phần lễ Kathina trong kinh Milinda). 12. Quả Siêu thế (Phala Samāpatti). 13. Diễn giải kinh Đại Lục Nhập (Mahāsaḷāyatanika Sutta Nissaya). 14. Diễn giải kinh Pháp Môn Căn Bản (Mūla Pariyāya Sutta Nissaya). 15. Pādapādāraha Viniñchaya. 16. Paṭijñāta Karaṇa Viniñchaya. 17. Chương về Căn nhà Giới đàn (Simā). 18. Đại tác phẩm về các tầng tuệ Minh sát (Vipassanā Ñāṇazañ Kyan-gyi). 19. Về các Tùy miên (Anusaya). 20. Quyết định về cách thực hiện các việc dư sót (Atirik). 21. Chú giải Peṭakopadesa. 22. Chú giải Milindapañhā (Mi Tiên Vấn Đáp). ### Vấn đề nảy sinh từ bộ Chú giải Mi Tiên Vấn Đáp Dù đã biên soạn rất nhiều sách, nhưng Ngài thường chỉ công nhận hai bộ Chú giải là tâm đắc nhất: “Ta chỉ thực sự viết hai bộ thôi.” Ngài bắt đầu viết bộ Chú giải Mi Tiên Vấn Đáp (Milindapañhā Aṭṭhakathā) vào năm Ngài 70 tuổi (năm 1300 Miến lịch) và hoàn thành vào năm 1303. Sách dày 505 trang. Khi được in vào năm 1310, các vấn đề về “Lễ Kathina và vấn đề Tỳ-kheo-ni” đã gây ra nhiều tranh luận, dẫn đến việc cuốn sách bị thu hồi. ## TRANG 501 Được biết, khi đó Thiền sư Mahāsi đã không đồng ý việc in ấn vì lo ngại rằng nó sẽ đem lại nhiều rắc rối hơn là lợi ích (có lẽ Ngài không tin rằng điều này sẽ mang lại nhiều đại ích cho Giáo pháp). Thiền sư Mahāsi từng nói: “Hãy chờ sau khi tôi viên tịch hãy in”, nhưng vì lòng đức tin quá lớn, người ta vẫn triển khai in ấn, dẫn đến những tranh cãi không đáng có khiến Ngài phải vất vả xử lý thêm công việc. Tuy nhiên, Ngài vẫn giữ vững quan điểm của mình. Ngài thậm chí còn cho viết và in ấn riêng bản diễn giải về phần lễ Kathina. Về vấn đề Tỳ-kheo-ni, đối với những người đến hỏi, Ngài thường tụng các đoạn Pali và Chú giải để giải thích rằng: “Ta không viết tùy tiện. Ta dựa trên đoạn kinh Cūḷavagga: **'Anujānāmi bhikkhave bhikkhūhi bhikkhuniyo upasampādetum'** (Này các Tỳ-kheo, Ta cho phép các Tỳ-kheo được truyền giới cụ túc cho các Tỳ-kheo-ni) và các bản chú giải kèm theo. Các tiểu giới (Anupaññatti) này bắt đầu từ khi Đức Phật ban hành sẽ không bị mai một trong suốt 5.000 năm của Giáo pháp. Do đó, các Tỳ-kheo (được gọi là Ekatoya Sangha) vẫn có thể truyền giới cho các nữ nhân để trở thành Tỳ-kheo-ni. Điều quan trọng là các tiểu giới mà Đức Phật cho phép đó có bị mất đi hay không. Nếu tiểu giới đó mất đi thì không thể tạo ra Tỳ-kheo-ni, nhưng vì tiểu giới không mất đi nên ta khẳng định là làm được.” Liên quan đến vấn đề lễ dâng y Kathina, trong truyền thống thường dùng cụm từ: **“Imaṃ kathiṇacīvaraṃ saṃghassa dema”** (Chúng con xin dâng y Kathina này đến Tăng đoàn). Ngài đã phân tích và phê bình chi tiết rằng nếu thêm từ “Saṃghassa” (đến Tăng đoàn) làm mục tiêu hướng đến khi dâng cúng thì lễ Kathina đó sẽ không thành tựu (xem chi tiết trong cuốn “Kathina Nissaya”). ### Trí tuệ phi thường không lời nào tả xiết Kể từ khi có ý nguyện mãnh liệt muốn viết bộ “Chú giải Peṭakopadesa”, công việc biên soạn kinh sách đã khiến việc thực hành thiền (Paṭipatti) của Ngài bị lu mờ đi phần nào. Những tranh luận nảy sinh cũng khiến Ngài phải làm việc nhiều hơn. Các môn đồ cũng không được yên ổn. Năm 1288, để Ngài có nơi cư ngụ ổn định tại Mingun, các hành giả đã xây dựng một ngôi chùa dạng cư xá để cúng dường. Tuy nhiên, vì bị kẻ xấu tưởng lầm là giàu có nên đã vào cướp bóc, buộc Ngài phải quay về Thaton. Sau một thời gian tại Thaton, Ngài báo tin cho môn đồ ở khắp nơi rằng “chùa đã hoàn thành” và Ngài lại quay về Mingun để giảng dạy bộ Chú giải Thanh Tịnh Đạo. Ngài vừa viết bản diễn giải, vừa giảng dạy; đến năm 1289, Ngài lại trở về Thaton. Với việc đi lại giữa các nơi, nghiên cứu, giảng dạy và biên soạn kinh sách, Ngài đã thể hiện một ý chí và nghị lực vô cùng mãnh liệt. Dù gặp nhiều khó khăn, trắc trở, Ngài chưa bao giờ lùi bước mà luôn quyết đoán thực hiện cho đến cùng. Thông qua việc biên soạn vô số kinh sách, Ngài đã đóng góp to lớn cho Giáo pháp đến mức nào...