## TRANG 502 448 **Dhammācariya U Htay Hlaing** Bỏ qua chuyện không viết được nhiều, nhưng trước mắt, trong công phu tu tập quán chiếu, việc bộc lộ những dấu hiệu tiêu cực là điều không thể phủ nhận. Do đó, việc khởi tâm muốn viết kinh sách cũng chính là một sự ràng buộc trong 31 cõi; những ý tưởng, dự định và đối tượng tư duy — dù có nói là vì Phật sự đi chăng nữa — cũng thường rơi vào cảnh “tốt thì có tốt, nhưng chưa hẳn đã hay”, đây là điều cần phải lấy làm bài học. Dù thế nào đi nữa, việc Thiền sư đưa ra những quan điểm mới mẻ, sâu sắc và tinh tường liên quan đến Pháp học (Pariyatti) là một điều hết sức thú vị. Sự luyến lưu với kinh điển của Ngài cũng thật lớn lao. Nhưng điều đáng kinh ngạc hơn cả chính là trí tuệ siêu việt của Ngài. Trong khi biên soạn các bộ luận lớn như Peṭakopadesa và Milindapañhā Aṭṭhakathā, ngay từ trước khi đặt bút, Ngài đã thuộc lòng hai bộ Pāḷi gốc ấy rồi. Sau khi viết xong các bộ chú giải, Ngài vẫn hằng ngày đọc tụng và ghi nhớ nằm lòng chính những tác phẩm do mình viết ra. Ngài đã trì tụng thuộc lòng như vậy suốt bốn, năm năm, rồi mới bắt đầu chỉnh sửa, thêm bớt. Việc thuộc lòng chính văn chương do mình viết ra mới là điều khó nhất. Đáng kinh ngạc hơn nữa là vào năm 1291 (Miến lịch), khi Thiền sư U Vāsavinda từ thị trấn Myohla đến trú ngụ tại chỗ Ngài ở Thaton, vì muốn biết rõ nên đã bạch hỏi rằng: “Ngoài việc tu tập thiền quán ra, còn có những phận sự đặc biệt nào khác nữa chăng?”. Khi ấy, Ngài đáp rằng hằng ngày Ngài vẫn đọc tụng luân phiên Tam Tạng (Tipiṭaka) trong giờ lễ Phật. Vị Thiền sư ấy đã kể lại điều này cho người viết [tác giả]. Quả thật Ngài chính là một bậc “Tam Tạng Pháp sư” (Tipiṭakadhara) ẩn mình mà thế gian không mấy ai hay biết. Đúng như lời dạy: **“Samādhiparibhāvitā paññā, paññāparibhāvitō samādhi”** (Trí tuệ được định hữu dưỡng, định được trí tuệ hữu dưỡng), năng lực của trí tuệ khi được định lực thấm nhuần là điều không thể nghĩ bàn. Có lần, thanh niên Saṅgārava đã bạch hỏi Đức Thế Tôn rằng: “Bạch Ngài, có những lúc những bài minh chú (kinh văn) đã được đọc tụng từ lâu lại tự nhiên biến mất khỏi trí nhớ. Lại có những lúc, những bài minh chú dù không được đọc tụng trong thời gian dài nhưng vẫn tự nhiên hiện rõ. Vì nguyên do gì vậy?” Khi ấy, Đức Phật đã dùng năm loại ví dụ để thuyết giảng rằng: “Khi năm triền cái (Nīvaraṇa — những pháp ngăn che trí tuệ) còn tồn tại, thì không thể biết đúng, thấy thực bất cứ điều gì.” **Tuệ tiến, kinh thuộc, vạn sự hanh thông** 1. **Tham dục triền cái (Kāmacchanda-nīvaraṇa):** Người có tâm tham muốn, đắm say vào một đối tượng nào đó thì giống như nhìn vào bát nước có pha các loại màu như nghệ; họ sẽ không thể thấy rõ hình bóng khuôn mặt mình, cũng vậy, họ không thể biết và thấy đúng sự thật. 2. **Sân hận triền cái (Byāpāda-nīvaraṇa):** Người có tâm giận dữ, bất mãn thì giống như nhìn vào bát nước đang đun sôi bốc hơi nghi ngút; họ không thể thấy rõ hình bóng khuôn mặt mình, cũng vậy, họ không thể biết và thấy đúng sự thật. ## TRANG 503 449 3. **Hôn thụy triền cái (Thina-middha-nīvaraṇa):** Người có tâm dã dượi, buồn ngủ thì giống như nhìn vào bát nước có bèo tấm và bụi bặm phủ đầy; họ không thể thấy rõ hình bóng khuôn mặt mình, cũng vậy, họ không thể biết và thấy đúng sự thật. (Ở hành giả, ngoài cái buồn ngủ dã dượi sinh lý thông thường, đôi khi còn có những trạng thái kỳ lạ. Nếu không biết mà cứ cho là buồn ngủ rồi đi ngủ, định lực sẽ giảm sút, dẫn đến những loạn động của thân, khẩu, ý và các chướng ngại nội ngoại xâm nhập. Điều này cũng giống như những thủ thuật thôi miên để lấy cắp đồ trong thế gian vậy. Các triền cái khác cũng tương tự.) 4. **Trạo hối triền cái (Uddhacca-kukkucca-nīvaraṇa):** Người có tâm phóng dật, hối hận thì giống như nhìn vào bát nước đang bị gió thổi làm gợn sóng lăn tăn; họ không thể thấy rõ hình bóng khuôn mặt mình, cũng vậy, họ không thể biết và thấy đúng sự thật. 5. **Hoài nghi triền cái (Vicikicchā-nīvaraṇa):** Người có tâm lưỡng lự, không tin tưởng, không phân định được nơi Tam Bảo thì giống như nhìn vào bát nước đục ngầu bùn đất hoặc bát nước đặt trong bóng tối; họ không thể thấy rõ hình bóng khuôn mặt mình, cũng vậy, họ không thể biết và thấy đúng sự thật. (Trích Saṃyutta Mahāvagga và Phân đoạn Saṅgārava Sutta thuộc Tăng Chi Bộ). Đối với người đang thực hành thiền định, nhờ lìa xa năm triền cái ấy nên định lực trở nên tốt đẹp. Nhờ định lực tốt (vì định là nhân cận của tuệ) nên các loại trí tuệ được tăng trưởng. Trí tuệ ở đây bao gồm từ việc dễ dàng thuộc lòng kinh sách cho đến quả tuệ A-la-hán. Do đó, hành giả không được để năm loại ngăn ngại, chướng ngại này xâm nhập. Việc nói rằng “Thiền sư hằng ngày luân phiên đọc tụng Tam Tạng để cúng dường Đức Phật” không phải là điều không thể xét theo phương diện Pháp (Dhamma). Ánh sáng của các vì sao, mặt trăng và mặt trời vốn luôn tỏa rạng khắp nơi. Chỉ tùy theo sự ngăn che của sương mù, mây mù nhiều hay ít mà ánh sáng trở nên rõ hay mờ. Củi, nước, xăng, dầu, pin, ắc quy hay bóng đèn điện — mỗi thứ đều có năng lực tự thân khác nhau, nên ánh sáng phát ra cũng khác nhau. Ở các hành giả, nương vào mức độ xa lìa triền cái và mức độ thâm nhập vào năng lực vô vi (**Dhammadhātu** — Pháp giới) mà họ có thể tỏa sáng. Từ đó, ta có thể ngưỡng mộ và ước lượng được năng lực của Nhất Thiết Chủng Trí (Sabbaññutañāṇa) — một trí tuệ sáng suốt đến mức có thể giải đáp tức khắc những câu hỏi được dày công suy tính. (Kinh Abhayarājakumāra Sutta — Trung Bộ). Định lực của hành giả cũng cùng chung một “đẳng cấp” với loại định lực mang lại ánh sáng của Nhất Thiết Chủng Trí vậy. ## TRANG 504 450 (Trong các bộ Chú giải, **Dhammadhātu** được giải thích là Nhất Thiết Chủng Trí v.v... Điều này nên hiểu theo nghĩa ẩn dụ. Giống như dùng thấu kính hội tụ ánh nắng mặt trời để làm cháy giấy, bông gòn; thấu kính chỉ là nguyên nhân gián tiếp của sức nóng mặt trời. Qua ví dụ này, cần hiểu về cách thức mà năng lực của Vô vi Pháp giới (Niết-bàn) tác động lên các tâm thiện hiệp thế và tâm thiện siêu thế tùy theo khả năng thụ nhận của mỗi người.) Điều muốn nói ở đây là “Định nghiệp xứ” (Kammaṭṭhāna-samādhi) không chỉ giúp đạt tới Niết-bàn trong phương diện thực hành (Paṭipatti), mà trong phương diện học thuật (Pariyatti), nó còn mang lại những lợi ích như giúp thuộc lòng kinh sách dễ dàng, không mau quên và thấu hiểu sâu sắc các ý nghĩa. Không chỉ có vậy, Đức Phật còn dạy rằng: “Người có giới (với nền tảng là sự không phóng dật — Appamāda) có thể thu được khối tài sản lớn”; tức là ngay cả trong việc kinh doanh, tìm kiếm sinh kế, nếu có Chánh niệm và Định lực thì mới có thể hưng thịnh và tiến bộ. Thiền nghiệp xứ chính là món vũ khí lợi hại nhất cho bất kỳ ai mong muốn sự tiến bộ và hưng thịnh trong cả đời đạo lẫn đời thường. Về phương diện sức khỏe và trường thọ, vì đây là kết quả của Thất giác chi (Bojjhaṅga) và Tứ thần túc (Iddhipāda) nên không cần phải nói thêm nhiều, thực tế đã có rất nhiều minh chứng. Trong giáo pháp của Đức Thế Tôn, mọi phương diện đời và đạo đều có thể được hoàn tất một cách trọn vẹn, không có chỗ nào để nói là “còn thiếu cái này cái kia”. Do không biết được những giá trị thực tiễn và sự bảo chứng như vậy, nên một số người lầm tưởng và theo đuổi các phương pháp tu luyện Yogī của Ấn Độ, thiền Zen của Nhật Bản hay các bài tập huấn luyện tinh thần của phương Tây một cách lạ lẫm. Từ Lục thông (Abhiññā) cho đến Nhất Thiết Chủng Trí có thể thấu suốt toàn bộ thế gian, định lực của Pháp có thể giúp con người đạt được bất cứ điều gì họ mong muốn. Mong rằng tất cả sẽ đạt được những điều tốt đẹp nhất. ### Thói quen gần gũi và những điều kỳ diệu Theo lời kể của các bậc xuất gia và cư sĩ thân cận chăm sóc Ngài, tôi xin được trình bày thêm về những thói quen đời thường của Ngài. Liên quan đến chuyện ăn uống, lúc còn trẻ, nếu Ngài dùng thịt gà thì Ngài sẽ dùng đúng món thịt gà ấy suốt ba năm ròng rã. Nếu dùng thịt heo v.v... thì cũng theo cách đó. Khi các thí chủ dâng cúng vật thực bạch hỏi: “Ngài dùng có ngon không?” để tìm câu chuyện, Ngài chỉ đáp: “Thì vẫn ăn như thường lệ thôi”. Nếu hỏi những chuyện linh tinh khác, Ngài không đáp mà giữ sự im lặng. Sau khi dùng bữa xong...