## TRANG 505 **Bậc A-la-hán và những vĩ nhân** Sư thường tự mình rải thức ăn cho quạ. Vì lý do sức khỏe, trong suốt nhiều năm, chiều nào Sư cũng dùng nước đường nóng. Khi lương y Kywe ở Yangon dâng thuốc, Sư phán: “Ta chẳng dùng loại thuốc nào cả.” Tuy nhiên, Sư rất thích ăn trầu. Sư tự mình giã trầu rồi dùng. Khoảng bảy ngày Sư mới đi đại tiện một lần, phân giống như phân dê. Sư luôn đi bộ rèn luyện. Về vấn đề sinh hoạt, khi các đệ tử xin phép được theo sát chăm sóc, Sư thường không chấp thuận. Ngay cả khi đã ngoài 80 tuổi, Sư vẫn nói: “Việc của họ thì họ làm, việc của ta thì ta làm,” rồi tự mình làm lấy mọi việc. Chính vì thế, có lần Sư bị trượt chân lăn từ bậc thang cao nhất của ngôi chùa xuống tận chân thang, nhưng Sư dường như không thấy đau đớn gì, lập tức đứng dậy đi tiếp. Một lần khác, trong lúc đi bộ, Sư bị kiệt sức nên ngã xuống; Sư đã gạt tay những người đến giúp và tự mình nỗ lực đứng dậy. Cho đến khoảng một năm trước khi viên tịch, Sư mới tựa lưng khi ngồi. Bình thường Sư luôn ngồi thẳng lưng — **Uddhaṃ kāyaṃ paṇidhāya**. Trong khuôn viên chùa, Sư không thích việc đẽo gọt cây cối, quét tước quá mức hay trang hoàng lộng lẫy. Tấm thảm Sư thường ngồi dày khoảng một lóng tay, lâu ngày bám đầy bụi, nhưng khi có người muốn giũ bụi, Sư cũng không thích; Sư cũng không cho phép thay thảm mới. Xung quanh chỗ Sư ngồi thường thấy những đường kiến bò. Liên quan đến những con kiến đó, Sư đã nói một lời rất lạ lùng mà ông San Wai đã ghi nhớ và kể lại với ông Tin Maung, biên tập viên tạp chí *Thất Bại*: “Trên sàn nhà trước mặt Ngài, kiến bò lể mể nhưng Ngài không cho ai quét đi. Ngài dạy: ‘Ta đã báo cho chúng biết là sắp có khách phương xa đến. Nếu không bảo trước, chúng chẳng biết ý đâu, cứ bò ngang bò dọc làm phiền khách’.” Về vấn đề tài lộc, Sư không bao giờ tự mình nhận vật thí, cũng không cho phép ai nhận thay. Sư lập một quỹ riêng cho Tăng chúng (Saṅghika). Sư là người ít ham muốn (thiểu dục). Ngài không xem chùa là tài sản riêng của vị trụ trì mà chỉ xác định đó là đất tôn giáo; các ngôi liêu cốc được xem là thuộc sở hữu của thí chủ (Gahapatikuṭi). Sư không nhận trẻ con hay Sa-di để hầu hạ. Các lễ xuất gia ngắn hạn hay lễ thành nhân (Shinbyu) không được tổ chức tại chùa của Ngài. Đối với các hành giả (yogī), Ngài rất nghiêm khắc; nếu phạm lỗi phải rời đi ngay lập tức. Sư cực kỳ tôn trọng Giới luật, và chỉ những ai tôn trọng Giới luật mới được Sư quý mến. Trong thời kỳ Nhật Bản chiếm đóng, sau khi thọ trai xong, Sư thường cùng một vị sư trẻ đi vào những nơi rừng rậm. Vị sư trẻ nọ cho rằng dường như Ngài cũng có tâm lý sợ hãi khi nghe tiếng máy bay. ## TRANG 506 ### Việc tìm hiểu xem Ngài có phải là bậc A-la-hán hay không Vào khoảng hai năm trước khi viên tịch (năm 1314, lúc 84 tuổi), Sư không còn viết lách nữa. Các việc thuyết giảng khác cũng được Sư tiết giảm tối đa để tập trung hoàn toàn vào việc thực hành pháp (Paṭipatti). Về phần ẩm thực, Sư ăn rất ít cơm, chủ yếu duy trì sức khỏe bằng sữa và trái cây. Đến năm 1315, vì Ngài đã cao tuổi, một người đệ tử lớn là Ngài U Medhāvī, trụ trì chùa Thāsanā Māraung ở Kamayut, Yangon, vì rất muốn biết trình độ giáo pháp của Sư nên đã đến đảnh lễ và vấn đạo như sau (Cuộc đối thoại này được Ngài U Parama ở Kanni ghi lại và được in ấn phổ biến trong lễ tang): **U Medhāvī hỏi:** Bạch Ngài, khi Ngài nghe người ta bàn tán đủ chuyện thế gian trước mặt mình, Ngài giữ tâm như thế nào? **Ngài trả lời:** Ta chẳng giữ tâm gì cả. **Hỏi:** Bạch Ngài, Ngài có cảm thấy hài lòng hay không hài lòng về những chuyện đó không? **Trả lời:** Không. **Hỏi:** Bạch Ngài, con muốn biết lý do tại sao các vị trưởng lão kết tập kinh điển lại đưa **Kinh Dhammadāsa (Kinh Tấm Gương Đạo Hạnh)** vào Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya)? **Trả lời:** Ta không thể nói được nữa. Không biết diễn đạt thế nào. **Hỏi:** Theo **Kinh Dhammadāsa**, nếu một người đạt đến quả vị Tu-đà-hoàn (Sotāpanna), Ngài cho phép nói rằng “Ta là bậc Tu-đà-hoàn”. Việc này chỉ dành riêng cho những bậc Thánh tại gia, hay dành cho cả cư sĩ, Sa-di và Tỳ-kheo? **Trả lời:** Ngài cho phép tất cả mọi người: cư sĩ, Sa-di và Tỳ-kheo. **Hỏi:** Một vị Tỳ-kheo nếu đạt được Thiền định, Đạo, Quả mà nói ra một cách thành thực thì không phạm lỗi, không phạm giới; vậy thì có đáng để nói ra không bạch Ngài? **Trả lời:** Đáng để nói chứ. **Hỏi:** Bạch Ngài, Ngài còn có tâm nguyện muốn tái sanh vào cõi Phạm thiên không? **Trả lời:** Ta không muốn. **Hỏi:** Vậy trước đây, Ngài đã từng có tâm nguyện đó chưa? **Trả lời:** Đã từng có. **Hỏi:** Chẳng phải nếu được sanh vào cõi Phạm thiên Tịnh Cư (Suddhāvāsa) thì sẽ rất tốt sao bạch Ngài? **Trả lời:** (Lúc này, Sư đang nằm tựa đầu trên ghế bành, liền sửa thế ngồi thẳng dậy và phán:) Việc được sanh vào cõi Tịnh Cư... thì cũng tốt ## TRANG 507 **Bậc A-la-hán và những vĩ nhân** ...tốt trong chừng mực nhất định thôi. Nhưng cái “tốt” đó chỉ dành cho những người chưa thấu triệt (với trí tuệ toàn diện). Còn đối với người đã liễu tri trọn vẹn, thì chẳng còn cái gì gọi là “tốt” nữa cả. **Hỏi:** Bạch Ngài, sau này Ngài còn muốn sanh vào cõi đời nào khác nữa không? **Trả lời:** Ta không muốn sanh vào bất kỳ cõi nào nữa. **Hỏi:** Ngài trả lời vậy là vì Ngài đã xác chứng rằng sẽ không còn sự tái sanh (hữu) nữa phải không bạch Ngài? **Trả lời:** Ta xác chứng như vậy. Trên đây là những lời trích dẫn từ tập tài liệu phát trong lễ tang. Mặc dù Ngài U Medhāvī hỏi và Sư trả lời như vậy, nhưng việc công bố những lời này dường như không làm hài lòng một số đệ tử thân cận lâu năm. Không biết liệu có những ẩn ý sâu xa nào cần phải suy xét hay không. ### Sự nỗ lực hành thiền kiên cường trong lúc bệnh trọng Từ đầu năm 1316, Sư thường phán: “Ta sắp chết rồi.” Sư càng nỗ lực thực hành pháp (Paṭipat) mãnh liệt hơn. Đến khoảng giữa năm, Sư lại nhắc lại: “Năm nay ta sẽ không qua khỏi.” Các đệ tử như bà Kusalā và những người khác đã chuẩn bị sẵn áo quan và đến túc trực chăm sóc Ngài. Ở tuổi 86, sức khỏe của Sư đã yếu đi nhiều. Tuy nhiên, việc thực hành pháp của Sư ngày càng tinh tấn hơn. Cùng với lời tiên đoán “Năm nay ta sẽ không qua khỏi,” Ngài thường xuyên nhìn chăm chú, bất động lên phía trên. Lúc đó, tinh tấn (vīriya) trong lúc hành thiền của Ngài dường như tăng vọt. Đặc biệt, ngay cả khi đi kinh hành, vì sức yếu nên Ngài thường bị ngã, sau đó phải có một vị sư trẻ dìu hai bên để bước đi. Ngài lại thường nhìn đăm đăm lên không trung. Mọi người tự hỏi: “Phải chăng Ngài đang nhìn thấy những cỗ xe thiên giới đang đến đón, hay chính vào lúc đó tâm kinh cảm (saṃvega) khởi lên khiến Ngài biết rằng mình vẫn còn việc phải hoàn thành?” Dù nỗ lực đi kinh hành, nhưng vì phải dựa vào sức dìu của người khác chứ không tự đi được bằng sức mình, nên dường như Sư không thỏa mãn. Có lúc Sư cuốn cao y nội lên đến tận đầu gối. Do việc tiểu tiện không còn tự chủ, Ngài vừa đi vừa tiểu mà không hay biết; một đệ tử phải đi theo sau để lau sàn nhà. (Hai vị sư U Vilāsa ở Toungoo và U Tikkhācāra ở Taungdwingyi đã chăm sóc Ngài từ đầu đến cuối). Sự nỗ lực hành thiền của Ngài dường như đang ở mức cao độ nhất. Có vẻ như Ngài hành thiền không phải chỉ vì sự an lạc ngay trong hiện tại (Diṭṭhadhammasukhavihāra).