## TRANG 514 Ngài quang lâm vào bảo tháp Shwe Pyaw Pyaw để thuyết pháp. Khi ấy, các ông U Po Sine, U San Nyunt, U Thit, U Shwe Htaik và U Aung Kyaw đã hùn phước mua lại vườn xoài (nơi hiện nay là tự viện Ambārāma) và thành lập tu viện Ambārāma vào năm 1282 (ÂL). Họ đã thỉnh bậc cao đức **U Tikkhindiya** về làm tọa chủ để nương tựa tu học. Bậc cao đức **U Tikkhindiya** cư trú tại tu viện Ambārāma, thị xã Shwedaung, vừa tự mình tinh tấn tu tập, vừa thuyết giảng chỉ dạy cho những người khác. Sau khi thí chủ tu viện là ông U San Nyunt qua đời, một ngày nọ, trong lúc Ngài đang hành thiền trên giường ở tòng lâm trang nghiêm, Ngài đã đạt được tuệ giác thâm sâu hơn hẳn những lần tu tập trước đây. Sau đó, Ngài đã trình bày những sở đắc về giáo pháp của mình lên Hòa thượng U Nārada vùng Akjuttaw-kone, thành phố Sittwe. Kể từ thời điểm đó, tất cả đệ tử xuất gia lẫn cư sĩ đều một lòng tin tưởng rằng Ngài là một bậc "Thánh nhân" (Ariya) với đạo hạnh viên mãn, và sự cung kính cúng bàng của họ càng tăng gấp bội. Với sở học uyên bác và chứng nghiệm thực chứng trong pháp môn Thiền Định và Thiền Tuệ, bậc cao đức **U Tikkhindiya** đã biên soạn rất nhiều tác phẩm, tiêu biểu như: 1. Samuppāda Nirodhaga-kyan (Tập yếu về Diệt tận Duyên khởi) 2. Dhammacakkā Amē-aphay-kyan (Tập vấn đáp về Kinh Chuyển Pháp Luân) 3. Paramatthādinayodassana-kyan (Tập luận về kiến giải Thắng pháp) 4. Vedanānupassanā-kyan (Tập luận về Quán Thọ) 5. Nirodha Vinicchaya-kyan (Tập phân tích về Niết-bàn Diệt) 6. Buddhānussati-kyan (Tập về Niệm Phật) 7. Pañhābyākaraṇa-kyan (Tập giải đáp các vấn nạn) 8. Viññāṇānupassanā-kyan (Tập luận về Quán Tâm) 9. Nibbānattha-vinicchaya-kyan (Tập phân tích về ý nghĩa Niết-bàn) 10. Saṅgraha Nissaya-kyan (Tập chú giải Vi diệu pháp tập yếu) 11. Catusaccānupassanī-kyan (Tập luận về Quán Tứ Diệu Đế) 12. Tihetuka Vinicchaya-kyan (Tập phân tích về hạng người Tam nhân) 13. Issādipakāsanī-kyan (Tập luận về lòng ganh tỵ và cách đối trị) 14. Mahāsatipaṭṭhāna-sutta Nissaya နှင့် Aphay-kyan (Tập chú giải và vấn đáp về Kinh Đại Niệm Xứ) Dù đã biên soạn rất nhiều kinh sách để xiển dương giáo pháp mà mình đã chứng ngộ, Hòa thượng **U Tikkhindiya** vẫn chưa lấy đó làm đủ trong công cuộc hoằng pháp. Vì mong muốn được trực tiếp hướng dẫn những người hữu duyên, Ngài đã viết trong lời ngỏ của một số tác phẩm: "Bất kỳ ai ở thành phố nào muốn tìm hiểu, lắng nghe và thực hành giáo pháp, nếu điều kiện thuận lợi và có lời thỉnh mời, tôi sẽ sẵn lòng quang lâm để đóng góp cho sự hưng thịnh của giáo pháp Đức Thế Tôn. Những ai mong cầu thực hành pháp môn Thiền định (Samatha) và Thiền tuệ (Vipassanā) một cách đúng đắn, tôi xin khuyến tấn hãy đến tu viện Ambārāma, đầu khu phố Shan-tan, thị xã Shwedaung để cùng nhau nỗ lực tu tập." ## TRANG 515 Vì lợi ích của thế gian, lợi ích của giáo pháp, lợi ích cho bản thân và lợi ích cho tha nhân, Ngài đã không ngừng cống hiến cho đến khi viên tịch vào lúc 8 giờ tối Thứ Sáu, ngày 11 tháng Sau Trăng Tròn tháng Wazo, năm 1303 (ÂL). Trong giai đoạn đầu đời, Ngài từng lập gia đình và có hai người con gái. Cả người vợ và hai con gái sau này đều đến cư ngụ tại cốc Mogok, khu vực Maggin-chaung, đồi Sagaing để xuất gia làm tu nữ. Họ luôn trì giữ các hạnh đầu đà như **Ekāsanik** (hạnh ăn một bữa) và **Pattapiṇḍik** (hạnh ăn trong bát), chuyên tâm hành thiền. Người ta thường gọi họ là "ba mẹ con bậc Dự lưu". Vào năm 1308 (ÂL), cụ bà Daw Paññā (người vợ cũ tại Mogok) đã qua đời ở tuổi 99. Đức Hòa thượng Abhi Shwe-hintha thời còn là tăng sinh cũng từng học kinh văn với Ngài và đã tận tụy phục vụ các tiểu tiết trong thời gian Ngài ẩn tu tại rừng. Trong tác phẩm "Hòa thượng Shwe-hintha và các mẩu chuyện văn học" (trang 39, 137) có ghi lại: "**Ekatowinowa-tayan** = Tất cả đã cùng nhau nương náu nơi Niết-bàn", đó là điều chúng ta nên tưởng niệm về những bậc cao đức này. ## TRANG 516 # Hòa thượng Sayadaw U Tiloka vùng núi Thakyet (1233 - 1299) "Maung Tiloka mà cứ làm việc kiểu đó thì thật là quá sức, còn trẻ mà rồi sẽ mù mắt mất thôi." Đó là lời than phiền của Hòa thượng Ledi Sayadaw khi nghe tin về **U Tikola**. Ngay lập tức, Ngài gọi hai vị tỳ-kheo trẻ đến và bảo: "Này hai con, hãy đến chùa của Maung Tiloka. Tất cả kinh sách chép trên lá bối, sách vở, bút chì, giấy tờ hiện có ở chỗ nó, hãy thu gom hết lại và mang về để trên chùa của ta." Hai vị tỳ-kheo vâng lệnh, đến trình bày lại lời dạy của Hòa thượng và thu dọn toàn bộ sách vở của **U Tiloka** mang đi. **U Tikola** là một người có nghị lực vô cùng phi thường. Ngài sống trong một ngôi chùa nhỏ mái lá vách tre trong tòng lâm Ledi, thị xã Monywa, ngày đêm miệt mài giảng dạy, nghiên cứu và biên soạn kinh sách với sự tinh tấn mãnh liệt. Ban đêm, cảm thấy ánh sáng từ ngọn đèn dầu nhỏ không đủ, Ngài đã tự chế một ngọn đèn lớn từ thùng sắt thiếc bốn cạnh để tiếp tục xem sách. Thời kỳ đó, việc học tập phần lớn vẫn dựa vào kinh lá bối. Các chữ viết trên lá bối rất nhỏ và khít, phải bôi nước nghệ trộn dầu hỏa lên bề mặt mới có thể đọc rõ. Do tiếp xúc liên tục với khói dầu từ lá bối và hơi nóng, khói đen từ ngọn đèn dầu hỏa lớn qua nhiều ngày đêm không nghỉ, **U Tiloka** đã bị mắc bệnh về mắt. Đôi mắt Ngài đỏ rực như quả cà rừng chín và bắt đầu chảy nước mắt liên tục. Mắt sưng to như nắm đấm, máu từ cả mắt và mũi không ngừng rỉ ra. Một vị tỳ-kheo thấy vậy đã bạch lại với Hòa thượng Ledi Sayadaw, đó là lý do vì sao Ngài ra lệnh tịch thu hết sách vở. Tuy nhiên, khi bản thân không còn tự đọc được nữa, **U Tiloka** lại bảo các vị tỳ-kheo nhỏ đọc cho mình nghe để tiếp tục học hỏi. ### Thầy là bậc Tam Tạng, cha mẹ thuộc dòng dõi trưởng giả **U Tiloka** sinh vào lúc 3 giờ sáng ngày Thứ Bảy, mùng 9 tháng Tazaungmon, năm 1233 (ÂL) tại làng Khaw-thanti, khu vực Bant-kyi, phía Tây thị xã Monywa. Thân phụ là cụ U Tet Phyo, thân mẫu là cụ Daw Thi. Thân phụ Ngài thuộc dòng dõi trưởng giả giàu có, còn thân mẫu thuộc dòng dõi quan lại quyền quý.