## TRANG 517 Bậc A-la-hán và những bậc phi thường Thời niên thiếu, Ngài theo học với Ngài Trưởng lão U Zavana tại chùa Ngõa Đạt (Ngàn Chuối), làng Khaw-thandi, phía nam. Trưởng lão U Zavana là một bậc **Tam tạng (Tipitaka-dhara)** xuất chúng, vốn là đệ tử của Đức Tăng thống Maung-daung dưới triều vua Bodaw. Ngài tu học tại Ngõa Đạt cho đến khi thọ giới Tỳ-khưu. Sau khi xuất gia không lâu, Ngài đã tìm đến cầu học với Đại trưởng lão Ledi Sayadaw. Ngài bắt đầu học từ bộ Rūpasiddhi (Văn phạm), và chỉ trong vòng năm, sáu hạ, Ngài đã thông suốt các luận giải **Pāḷi-Aṭṭhakathā-Ṭīkā** vượt trội hơn người. Trưởng lão Ledi Pandita cũng từng có thời gian thọ giáo nơi Ngài U Tiloka. Ngài U Tiloka là bậc có trí tuệ nhạy bén và nghị lực tinh tấn phi thường. Ngài Ādiccavamsa từng tán thán rằng: từ thời Bagan trở lại đây, hiếm có đôi thầy trò nào có thể thông suốt Tam tạng như hai vị ấy. Thời bấy giờ, Ngài U Tiloka đang ấp ủ một tâm nguyện, ngày đêm không nghỉ để soạn thảo một bộ kinh thư, đó chính là bộ **Nekkhamma-vidhāna Dīpanī** (Cẩm nang về Pháp Ly tham – Xuất gia). Dù khi ấy Ngài U Tiloka đang bị bệnh về mắt, không thể xem sách hay giảng kinh bằng văn bản, nhưng Ngài vẫn nhiệt tâm thuyết giảng không ngừng cho những ai tìm đến. Tuyệt nhiên, đó chính là lúc Ngài đang tích lũy năng lực từ pháp học (Pariyatti) sang pháp hành (Paṭipatti) để chuẩn bị vào rừng ẩn tu, lòng tràn đầy **Nekkhamma-jjhāsaya** (tâm nguyện tha thiết được xuất gia, ly tục). Chẳng bao lâu sau, chứng bệnh về mắt của Ngài cũng hoàn toàn tiêu biến. Cổ đức có câu “Chim quý đậu cành vàng”, vì là người thân cận bên cạnh Đại trưởng lão Ledi Sayadaw nên Ngài dường như cũng được huân nhiễm những phong thái của thầy mình. Ngài thường ghi chép và nghiên cứu dưới ánh sáng của chiếc đèn hộp sắt vuông, y hệt như cách của Đại trưởng lão. Cả hai thật đúng là những bậc đại nhân trung kiên của giáo hội. Về sau, Đại trưởng lão Ledi Sayadaw thậm chí không cần thắp đèn, người ta kể rằng (do một người thợ máy tên là U Ba Tun ở làng Paline, Mandalay, từng thấy khi còn làm chú tiểu bên cạnh Ngài) Ngài có thể biên soạn sách vào ban đêm nhờ ánh sáng phát ra từ chính đôi mắt của mình. Điều này tương tự như việc Trưởng lão Dabba dùng ánh sáng từ ngón tay trỏ để dẫn đường trong đêm tối. Dẫu sao đi nữa, có thể xem là Ngài U Tiloka không chỉ nắm vững tinh hoa pháp học mà còn thấu triệt sâu sắc các phương diện pháp hành của thầy mình. Việc gặp căn bệnh về mắt và các kinh sách bị cất giữ dường như là một lời cảnh tỉnh: “Hãy bắt đầu nỗ lực hành thiền (Kammaṭṭhāna) đi thôi”. Kể từ đó, Ngài chuyên tâm tu tập thiền định khi mới chỉ 25 tuổi. ## TRANG 518 Ở một phương diện khác, Ngài U Tiloka vừa giảng dạy kinh điển vừa nỗ lực hành đạo đặc biệt vào ban đêm. Thời ấy, tại tu viện Ledi có rất nhiều chuyện kỳ bí. Chuyện kể rằng thường có một thực thể phi nhân (quỷ dạ xoa) hiện hình nằm ngủ nơi cầu thang tu viện. Vào một đêm trời tối mịt và u ám. Khi toàn bộ tu viện đã chìm vào giấc ngủ sâu, Đại trưởng lão đang đi kinh hành nơi hành lang dài 60 thước. Khi Ngài nhìn về phía ngôi thất nhỏ gần cây Thnaung nơi Ngài U Tiloka đang ở, bỗng nhiên Ngài dừng bước. Lý do là toàn bộ ngôi thất của Ngài U Tiloka đang tỏa sáng rực rỡ như được thắp bởi ánh sáng điện khí. Ba bốn ngày sau, nhân lúc vắng người, Đại trưởng lão gọi Ngài U Tiloka đến để giáo hóa: “Này Maung Tiloka, về mặt pháp học, truyền dạy kinh điển thì con đã viên mãn rồi. Hiện tại con không nên ở lại tu viện này nữa, hãy đi đến nơi nào con muốn đi”. Ngài U Tiloka chỉ đáp: “Bạch Đại đức, xin vâng ạ”, rồi đảnh lễ và trở về liêu phòng của mình. Ngày hôm sau, với một bình bát, ba tấm y và bản thảo bộ **Nekkhamma-vidhāna Dīpanī** do chính mình soạn thảo, Ngài bước xuống khỏi ngôi thất để rời khỏi Ledi. Trước khi đi, Ngài vào đảnh lễ thầy lần cuối và bạch rằng: “Bạch Thầy, con chỉ có thể quay lại tu viện Ledi này từ trên hư không mà thôi”. (Có lần Đại trưởng lão từng kể với cư sĩ Pyaw-bwe Sayathetgyi rằng: Lúc đó định lực của Ngài U Tiloka đã rất thâm hậu, nếu cứ tiếp tục ở giữa đám đông tại tu viện Ledi thì định lực ấy sẽ bị suy giảm, nên Ngài mới bảo đi; nhưng Ngài U Tiloka lại có chút chạnh lòng vì nghĩ rằng thầy không muốn mình ở lại nữa nên mới xua đuổi). ### Dùng pháp điều phục tâm tự phụ Ngài bắt đầu cuộc hành trình cô độc, đi qua nhiều làng mạc, rừng núi tiến về phía thượng nguồn sông Chindwin để chuyên tâm hành đạo. Đó là năm 1259 (Miến lịch), khi Ngài 26 tuổi. Do khí hậu vùng thượng nguồn sông Chindwin không được thuận lợi (asappāya), Ngài chuyển đến trú ngụ tại một ngọn núi gần Kyaik-hto, vùng Thaton. Vì đây là nơi trú ngụ của những bậc đang nỗ lực hành thiền (**Sekkhapuggala** - bậc Hữu học), nên ngọn núi được đặt tên là “The-kya-daung” (Núi Hữu Học). Ngài nỗ lực tu hành không quản ngày đêm. Các đệ tử tìm đến cầu đạo và các am thất cũng tăng lên nhanh chóng. ## TRANG 519 Bậc A-la-hán và những bậc phi thường Nơi hẻo lánh ấy bỗng trở nên sầm uất như một thị trấn. Đó quả là một **Brahmacārūpaddava** (chướng ngại cho đời sống phạm hạnh). Có vẻ như khi ấy Ngài rất khao khát chứng đắc các tầng Thiền định và Thần thông (Abhiññā). Đại trưởng lão Ledi đối với người đệ tử đầy nhiệt huyết và kiên cường này luôn có một tình thương sâu sắc và sự lo lắng khôn nguôi. Ngài cũng đặt nhiều kỳ vọng vào người đệ tử có thể nối chân mình này. Nhân duyên đến vào tháng Tazaungmon năm 1260, Ngài nhận được một bức thư từ Ngài U Tiloka. Trong thư viết: “Nếu đệ tử nhận được sự hộ trì của thầy, thì việc phạm hạnh có thể hoàn tất trong một sớm một chiều”. Xem thư xong, Đại trưởng lão mỉm cười. Tuy nhiên, vì lòng thương đệ tử cũng như có cảm tình với vùng núi rừng Kyaik-hto, vào ngày mùng 9 sau trăng tròn tháng đó, Ngài đã cùng đệ tử Ledi Pandita lên đường tìm đến. Sự hiện diện của Đại trưởng lão Ledi Sayadaw khiến Ngài U Tiloka cùng các đệ tử vô cùng hoan hỷ và hết lòng hầu cận. Một ngày nọ, theo lời kể của người hộ tông Maung Samon, họ bí mật tìm đến lán lá nơi Đại trưởng lão đang độc cư thiền định. Họ kinh ngạc thấy Đại trưởng lão đang ngồi kiết già, đôi mắt nhắm nhẹ, toàn thân lơ lửng cách mặt đất khoảng hai gang tay với phong thái vô cùng tĩnh tại. Dường như Đại trưởng lão đang dùng thực chứng để điều phục tâm tự phụ về kiến thức và pháp hành của Ngài U Tiloka. Trong thời gian ở Kyaik-hto, một hôm Đại trưởng lão bảo Ngài U Tiloka và Ledi Pandita mỗi người mang bát, cầm gậy cùng Ngài đi chiêm bái chùa Kyaik-htiyo. Khi đi sâu vào rừng rậm, một con voi rừng hung dữ bỗng lao thẳng về phía Đại trưởng lão. Hai vị đệ tử U Tiloka và U Pandita hoảng sợ chạy đến leo lên những cái cây gần đó. Riêng Đại trưởng lão vẫn đứng vững bất động, đối diện với con voi đang lao tới bằng tâm Từ bi mãnh liệt, giống như cảnh Đức Phật điều phục voi Nalagiri. Chẳng bao lâu sau, con voi rừng bỗng cúi đầu cung kính rồi rẽ sang lối khác bỏ chạy. Sau khi con voi đi khuất, hai vị đệ tử mồ hôi đầm đìa mới dám leo xuống khỏi cây. Lúc ấy, Đại trưởng lão với gương mặt rạng rỡ và giọng cười ôn hòa, nói rằng: “Này Maung Tiloka, bức thư con viết cho thầy và thực tế này có chút khác biệt nhỉ”. Ngài U Tiloka khi ấy mới thức tỉnh, nhận ra mình đã rơi vào tâm **Adhimāna** (tăng thượng mạn), lầm tưởng mình đã chứng đắc quả vị A-na-hàm (Anagami). Thời Tích Lan cổ đại, cũng có vị **Đại trưởng lão Mahānāga - bậc thông thạo Tam tạng**, do đạt được định lực và thần thông hiệp thế nên lầm tưởng mình đã đắc quả A-la-hán. Một vị đệ tử đã chứng đắc A-la-hán và có thần thông tìm đến thầy, yêu cầu thầy hóa phép ra một con voi, rồi chính con voi ấy...