# PHẦN II: BIẾN CHỨNG TRONG TU TẬP ## TRANG 523 Trong các pháp Bồ-đề-phần đó, nếu tâm bị chìm đắm (hôn thụy) thì sẽ dẫn đến sự suy thối và hư hỏng. Ngược lại, nếu hành giả cứ mải mê theo đuổi và bám lấy những hiện tượng đặc biệt mới phát sinh như **Hào quang (Obhāsa)**, **Phỉ lạc (Pīti)**... khiến tâm bị chấn động và phóng dật (**Dhammuddacca - Pháp trạo cử**) thì cũng dẫn đến sự suy thối và hư hỏng. “Mặt khác, trong khi nỗ lực thực hành Vipassanā như thế này, các vị chư thiên có lòng thành kính nhưng chưa am tường giáo pháp có thể sẽ hỗ trợ bằng cách làm hiện ra các cảnh giới (ấn chứng) cho hành giả thấy. Để hành giả thấy được tướng Vô thường (Anicca), họ hóa phép ra những cảnh tượng hoại diệt; để thấy tướng Khổ (Dukkha), họ hóa ra hình ảnh người bệnh, người chết, hay những bộ xương. Thậm chí trong khi tu tập Samatha (Thiền chỉ), họ cũng hóa phép ra các cảnh giới của định (ấn chứng - nimitta). Bất cứ cảnh giới nào mà hành giả muốn thấy, họ đều có thể làm cho hiện ra đủ loại. “Khi những cảnh giới ấy hiện lên, đó không phải do trí tuệ của tự thân hành giả đã già dặn mà thấy. Vì trí tuệ chưa già dặn, chưa trong sáng, mà lại thấy cảnh do tác động (payaoga) của người khác, nên hành giả dễ sinh lòng sợ hãi, khiếp nhược, khiến tâm huyết bị loạn động. Bởi lẽ sự thấy này không phải do trí tuệ chín muồi đúng thời điểm, nên những cảnh giới do chư thiên hóa hiện ấy cũng giống như vàng bạc, cơm nước do ảo thuật gia biến ra: chúng không thể có được lâu dài hay tồn tại bền vững. Giống như người ăn cơm nước của ảo thuật gia thì không thể no bụng hay hết đói, việc nhìn thấy và đắm mình trong các cảnh giới ấn chứng do chư thiên hóa hiện kia cũng không giúp đoạn trừ Niết-bàn-chướng (Nīvaraṇa - Triền cái), không giúp đắc được các pháp đặc biệt như Thiền định (Jhāna) hay Đạo quả (Magga). Công việc tu tập sẽ không thể hoàn tất. “Nếu không từ bỏ hay xua tan những cảnh giới do chư thiên hiện ra đó, mà lại khởi tâm thỏa mãn, vui mừng, ưa thích ngắm nhìn, thì các vị chư thiên ấy cũng sẽ nghĩ rằng: 'Hành giả này ưa thích cảnh giới của ta', rồi họ càng thêm lòng quý mến và hóa hiện cảnh giới rõ rệt hơn nữa. Họ cũng dùng oai lực thiên giới để ban cho hay rót thêm thần thông vào người hành giả trong khả năng của họ. Khi chư thiên thường xuyên ban cho và rót thêm thần thông như vậy, hành giả đó có thể sẽ đạt được 'mắt thấy, tai nghe' (thiên nhãn, thiên nhĩ) hay các loại bùa phép, nhưng sẽ không bao giờ chạm tới được con đường Thiền định hay Thánh đạo. Các phiền não triền cái sẽ không thể đoạn trừ. Loại bùa phép có được theo cách này được gọi là 'Bùa chú định lực' (Samādhi hmaw). “Đây chính là những vực thẳm và nẻo tà cắt ngang, chắn lối trên con đường Thiền định và Thánh đạo. Trí tuệ có khả năng quyết trạch rằng: 'Đây không phải là đường Thiền, đường Đạo; đây là đường vòng, nẻo tà, là vực thẳm. Đây mới là con đường Thiền, đường Đạo thẳng tắp, chân chính mà bậc Thánh đã đi'; đồng thời dùng tuệ giác để chế ngự và dứt bỏ những chướng ngại dị kỳ gặp phải ngay trên con đường đó, đưa tâm trở lại với Vipassanā để nhận biết và đi theo đúng lộ trình - trí tuệ ấy được gọi là '**Mmagga-magga-ñāṇadassana Visuddhi**' (Đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh).” [ **Magga** = đường đúng, **Amagga** = đường sai; **Ñāṇadassana** = trí tuệ thấy biết; **Visuddhi** = sự trong sạch. ] Ở điểm này, kinh nghiệm của Ngài Sayadaw thật rõ ràng và dứt khoát. Việc chư thiên hóa hiện cảnh giới và những tri kiến về Vô thường, Khổ não cũng giống như việc ăn cơm ảo thuật: không thể thực sự no lòng. ## TRANG 524 Nếu hành giả chấp nhận những cảnh giới đó, họ sẽ tiếp tục ban cho các thần thông về nghe nhìn (linh thông). Dù có vẻ như đã "đắc đạo", nhưng phiền não không hề giảm bớt, trái lại còn trở thành chướng ngại vô cùng sâu nặng. Tuy nhiên, về việc coi thực thể tạo ra những cảnh giới này là "chư thiên quá kính tin mà không hiểu pháp" thì cũng cần phải suy xét kỹ. (Trong các kinh điển như **Devatā Saṃyutta - Tương Ưng Chư Thiên**), ta thường thấy chư thiên bảo vệ và giúp đỡ theo đúng khả năng của họ; nếu hành giả sai lạc, họ sẽ giúp đưa về đường chính. Kẻ hỗ trợ khiến hành giả lạc lối trên con đường tu tập Thiền - Đạo - Quả đến mức sa xuống vực thẳm chắc chắn không phải là những vị chư thiên có đức tin trong sạch nơi giáo pháp. Ta hoàn toàn có thể tin rằng đó chỉ là những vị ác thiên có tà mạng (Thiên ma). Ngay cả trong việc luyện kim thuật (phò thâu), còn có những vị thần chuyên trộm "đạn dược" (ball); kẻ trộm cướp và phá hoại thì không thể là bạn, mà chính là kẻ thù. ### Luyện kim trong hang đá, hạt giống và môi trường Ngài U Tiloka là một bậc đặc biệt, thông suốt Pháp học (Pariyatti) từ khi còn rất trẻ và có chí hướng rất lớn trong Pháp hành (Paṭipatti). Tuy nhiên, có lẽ vì tự phụ vào kiến thức kinh điển và sức trẻ, Ngài dường như không cầu học phương pháp tu tập từ những bậc thầy lớn như Ngài Ledi Sayadaw. Do những lời nói quá mức hoặc vượt ngoài khuôn khổ, chính Ngài Sayadaw (Ledi) đã phải đứng ra nâng đỡ, khích lệ. Tâm nguyện muốn "bay lên trời" của Ngài U Tiloka cũng rất mãnh liệt. Với sức trẻ, trí tuệ sắc bén và sự nỗ lực tinh tấn đến mức hy sinh cả tính mạng, dường như Ngài đã gặp phải nhiều sự lạc lối. Vì tài hùng biện và giảng giải hay, thính chúng vây quanh rất đông, nên Ngài càng muốn cắt đứt mọi liên hệ với thế gian để tu tập một cách triệt để hơn. (Như đã trình bày ở trước, nếu phương pháp không đúng thì nỗ lực càng mạnh, nguy hại càng lớn). Có khi Ngài tu tập bằng cách nhịn ăn. Có khi Ngài lại bế môn tu luyện trong hang núi ở vùng núi Thay-kya-taung. Những phương pháp thực hành này đã vô tình rơi vào lối tu tập không thuộc về "**Majjhima Paṭipadā**" (Trung đạo). Các vị Lạt-ma Tây Tạng theo Mahāyāna hay các tu sĩ Sadhu Fakir ở Ấn Độ thường có tập tục tu trong hang hay ẩn mình dưới đất. Năm 1837, tại thành phố Lahore (Ấn Độ), một tu sĩ Fakir tên là Haridat đã biểu diễn việc ẩn mình dưới lòng đất suốt 40 ngày. Tại Miền Điện, cách đây khoảng 20 năm, cũng có một vị tăng tên là U Magha đã viên tịch trong khi bế môn tu khổ hạnh trong hang. Có lẽ họ đã bị những ảo giác đánh lừa rằng "phải tu như thế này mới đắc pháp cao thượng". ## TRANG 525 Giống như các tầng sóng radio đan xen trên bầu trời, trong lĩnh vực định lực thế gian, các tầng sóng cũng vô cùng hỗn tạp và khó lòng phân định. “Dù hạt giống xoài và hạt giống sầu đâu (tamar) cùng được gieo trên mảnh đất này, cùng uống chung dòng nước, hít thở chung bầu không khí và nhận chung một ánh sáng để sinh trưởng, nhưng khi kết trái, giống xoài thì ngọt mà giống sầu đâu lại đắng. Chính cái gốc mầm cố hữu (**Diṭṭhibīja - Chủng tử tri kiến**) đã làm nên sự khác biệt. (Nguyên lý này đã được đức Thế Tôn thuyết trong **Ekadhamma Pāḷi**, phẩm thứ hai, **Ekaṅguttara - Tăng Chi Bộ**). Dù là giống tốt, nhưng nếu "rễ bị quấn bởi dây đắng, trồng xen kẽ nhau, thì cây xoài chúa cũng mất vị ngọt", như câu chuyện về cây xoài trong **Jātaka Dadhi-vāhana**: do môi trường không tốt mà trái trở nên đắng. Những chấp thủ về Tham, Ngã mạn, Tri kiến (Taṇhā, Māna, Diṭṭhi) trong tâm khảm và những ác hữu chính là tác nhân khiến cái ngọt trở thành cái đắng (ngay cả khi đang thực hành pháp này). Từ khởi thủy không bờ bến cho đến tận ngày nay, các pháp luyện tâm như Ānāpāna (Niệm hơi thở) đã tồn tại ở khắp mọi nơi, mọi sắc tộc, mọi tôn giáo với những hình thức tương tự nhau. Dù cùng thực hành Niệm hơi thở y hệt nhau, nhưng nếu đích đến (**Niṭṭha**) khác nhau, thì dù nhân giống nhau, quả vẫn không thể tương đồng. “Đích đến của các Bà-la-môn là Phạm thiên giới, của các đạo sĩ (Rishi) là cung trời Ābhassarā (Quang Âm Thiên), của các du sĩ (Paribbajaka) là cung trời Subhakiṇhā (Biến Tịnh Thiên), của các tu sĩ tà mạng (Ājīvaka) là cõi Vô tưởng (Asaññī-bhava); còn đích đến của những hành giả trong giáo pháp này chính là quả vị A-la-hán (Arahatta-phala)”. (Điều này đã được phân định rõ trong phần chú giải kinh **Cūḷasīhanāda Sutta** của **Mūlapaṇṇāsa - Trung Bộ Kinh**). Đừng vì thấy những điểm tương đồng ở phần thế gian mà để trí tuệ bị mê mờ. Có rất nhiều "vị thầy, người bạn" (giống như sóng radio không nhìn thấy được) dẫn dắt sai lạc, khiến trí tuệ rối loạn và làm cho trái ngọt cũng phải hóa đắng. Vào khoảng năm 1276 (Miến lịch), Ngài U Tiloka lại một lần nữa dốc lòng vào việc luyện kim thuật, dẫm chân lên con đường cầu tìm thần thông diệu pháp. Trong giới tăng sĩ Miền Điện, trào quyền luyện kim (phò thâu) theo lối các đạo sư thần thông Mahāyāna - vốn không hề quan trọng trong đời sống Phạm hạnh (Brahmacariya) - lại đang khiến nhiều người nhẹ dạ đi theo. Thật là điều đáng hổ thẹn đối với đức Bổn Sư. ### Vị đạo sĩ nuôi trẻ bằng ngón tay Vì một lý do nào đó, Ngài lại chuyển từ hình thức tỳ-kheo sang hình thức đạo sĩ du sĩ (Rishi Paribbajaka). Về nguyên nhân này, ông lão Sayat Thet Gyi (người từng sống gần Ngài) đã khẳng định rằng đó không phải do chuyện nữ sắc (Visabhāga).