## TRANG 535 Họ nhìn thấy một am thất nhỏ. Ba vị thí chủ vội vã bước về phía đó; khi đến gần, họ mở cánh cửa lá thưa ra và thấy Ngài đang ngồi kiết già thiền định trên những tấm ván sàn tạm bợ với phong thái vô cùng điềm tĩnh, an lạc. Cả ba nhẹ nhàng tiến lại gần Ngài và đảnh lễ. Họ không dám thở mạnh, cứ thế phủ phục đảnh lễ trong niềm kính tin suốt một thời gian dài. Về phần Ngài, dường như Ngài không hề biết đến sự hiện diện của các thí chủ đang ở bên cạnh. Trong lúc đang chắp tay cung kính đứng lặng, một người trong nhóm bèn khều tay các bạn và nói khẽ: “Tôi nghe nói những bậc có định lực kiên cố và thuần thục về *vasībhāva* (tự tại trong thiền định), khi đang nhập định thì giữ vững oai nghi đến mức không gì có thể làm lay động được... Thế nào, hay là chúng ta thử xem Ngài có thực như vậy không?” Nói đoạn, anh ta ra hiệu bằng mắt và tay chân, rồi họ cùng nhau rón rén rút từng tấm ván sàn tạm bợ (cao hơn mặt đất khoảng hơn một gang tay) mà Ngài đang ngồi trên đó. Tuy nhiên, Ngài dường như không hề hay biết những việc họ đang làm; Ngài không mảy may nhúc nhích, oai nghi cũng không hề thay đổi. Điều kỳ diệu là sau khi tất cả các tấm ván sàn đã được rút hết, họ nhìn thấy Ngài vẫn ngồi kiết già y như oai nghi ban đầu, lơ lửng trong không trung cách mặt đất khoảng một gang tay, không hề có vật gì nâng đỡ hay tiếp xúc. Các vị thí chủ vô cùng kinh ngạc trước cảnh tượng chưa từng thấy này. Sau một hồi chiêm bái trong niềm kính ngưỡng, họ nhẹ nhàng đặt từng tấm ván trở lại vị trí cũ. Họ đảnh lễ Ngài một lần nữa và lầm rầm đọc lời sám hối. Một lát sau, một thí chủ cất cao giọng bạch: “Bạch Ngài, theo lời chỉ dạy của Ngài Thiền sư Ledi bậc ân nhân, chúng con từ thị trấn Nyaungdon đến đây để cung thỉnh Ngài ạ.” Khi nghe lời bạch đó, Ngài mới từ từ, nhẹ nhàng mở đôi mắt vốn đang nhắm lại. Sau khi hỏi han sự tình, Ngài rời am thất tạm bợ đó để cùng các thí chủ trở về tu viện lớn ở rừng núi Thekkhya Taung. Ngày hôm sau, Ngài lên đường đến thị trấn Nyaungdon. Khi đọc lại sự kiện nhỏ này, chúng ta không chỉ kính ngưỡng giới hạnh, định lực và trí tuệ của Ngài U Tiloka, mà còn không khỏi khâm phục tuệ giác của Ngài Thiền sư Ledi bậc ân nhân — người dường như đã thấu suốt mọi ngóc ngách của sự việc này từ trước. ## TRANG 536 # BẬC TRƯỞNG LÃO TU VIỆN MOHNÝIN ( 1234 - 1326 ) • Có lẽ không quá lời khi nói rằng Ngài Trưởng lão Mohnýin chính là vị Thiền sư đã khởi xướng mạnh mẽ phong trào *pappaṭippatti* (thực hành giáo pháp) tại Myanmar, lôi cuốn được đông đảo quần chúng và mở ra chiếc chìa khóa then chốt của tâm linh. Người đời thường chỉ thấy Ngài qua những buổi thuyết pháp rầm rộ, giảng giải về những vấn đề hình thức bên ngoài nên gọi Ngài là “Vị sư giỏi thuyết kinh”. Thật đáng tiếc khi người ta ít biết đến quá trình thực hành tu tập và sự đắc chứng giáo pháp (*dhammābhisamaya*) của Ngài. Trong số những người thiếu hiểu biết đó có cả bản thân tác giả. Khi Ngài sắp lâm chung vì bạo bệnh, tôi đã đến Mohnýin. Lúc đó, tôi thậm chí còn không biết hỏi thăm xem “Ngài có khỏe không”. Chẳng biết có phải vì quá chú tâm vào kinh sách hay không mà tôi chỉ đứng từ xa đảnh lễ một cách vội vàng rồi quay về. Mãi đến khi có duyên đọc lại tiểu sử của Ngài, tôi mới cảm thấy vô cùng hối hận. Tôi thật là ngu muội. Người anh của tôi (Ngài U Sobhita, trụ trì tu viện Maunghtaung Yun-set) đã đến đó không lâu sau và được tiếp cận Ngài như một người con với cha, để rồi nhận được món quà di chúc cuối cùng của cuộc đời. Ngài khuyến khích rằng: “Sư Maunghtaung à, nhất định phải xuất ly thế gian (đi ẩn tu) cho được nhé. Tôi đây mãi đến hạ thứ 17 mới đi được. Tôi đã quyết chí đi ẩn tu, treo túi bát lên cột mà đến nỗi rỉ sét làm đứt dây rụng mất ba cái túi bát mới đi được đấy, hãy cố gắng lên.” Nhờ lời thúc giục chân tình đó mà người anh vốn rất nhát gan của tôi giờ đây đã sống an lạc với giáo pháp tại tu viện rừng Mezin ở làng Maunghtaung. Vì sự ngu muội trước kia, tôi viết những dòng này với lòng hổ thẹn và thành kính đảnh lễ Ngài. Tôi chỉ chấp bút viết sau khi đã đến đảnh lễ tôn tượng của Ngài tại Mohnýin. ### Thời thơ ấu bộc lộ căn tánh Ngài sinh vào lúc 8 giờ sáng, thứ Sáu, ngày mùng 2 tháng Táp-áp-တွဲ (Tabaung) năm 1234 (Miến lịch), tại làng Gonyinsu, gần làng Barku (vùng Syriam, quận Hanthawaddy), là con của cụ ông U Moe và cụ bà Daw Baw. Khi đó, mẫu thân Ngài đã 56 tuổi. Có lẽ vì vậy mà Ngài có tướng mạo và trí tuệ vô cùng đặc biệt. Các anh chị em của Ngài gồm có: U Po Hla, U Po Myat, U Po Ba, Ma Shwe May, Ma Shwe Thet, Ma Shwe Yuat. Như câu tục ngữ “Người sẽ làm vua lộ diện từ khi còn để chỏm”, ngay từ nhỏ Ngài đã bộc lộ căn tính và ba-la-mật phi thường. Một ngày nọ, khi cậu bé (sau này là Thiền sư) mới 5 tuổi, thấy những con sâu từ mái nhà rơi xuống, theo tính tò mò của trẻ thơ, cậu dùng tay đẩy nhẹ và cầm lên xem thì người mẹ bảo: ## TRANG 537 “Đừng làm thế con ạ, con sâu sẽ chết mất đấy.” Cậu bé hỏi lại: “Ơ... nó biết chết ạ?” “Ừ, nó biết chết đấy.” Cậu lại hỏi tiếp: “Thế còn cha mẹ, cha mẹ có biết chết không? Cha mẹ sẽ chết chứ ạ?” Khi nghe mẹ giải thích về việc mọi người đều phải chết... Mặc dù còn nhỏ tuổi, cậu đã nhận thức được một chân lý sâu sắc rằng: “Tất cả rồi sẽ phải chết.” Một ngày thọ giới bát quan, cậu theo cha mẹ đến tu viện ở đầu làng của vị Sư U Ācara. Đến chiều, vì đói nên cậu khóc đòi ăn. Mẫu thân lấy cơm cho ăn, nhưng cậu vẫn chưa chịu ăn ngay mà hỏi: “Sao cha mẹ chưa ăn?” “Cha mẹ đang giữ giới (Uposatha) nên không được ăn.” Nghe vậy, cậu bé vừa khóc vừa nói: “Nếu cha mẹ không ăn thì con cũng không ăn đâu, giới sẽ chạy mất đấy.” Cậu cứ thế vừa khóc vì đói, vừa băn khoăn không dám ăn. Lúc bấy giờ, người anh trai là Po Ba chợt nảy ra ý định, bèn dỗ dành: “Em trai à, nếu ăn không thì giới mới chạy mất, chứ nếu đeo tràng hạt vào cổ rồi ăn thì giới sẽ không chạy đi đâu đâu.” Nói rồi, người anh lấy chuỗi tràng hạt quàng vào cổ em. Lúc bấy giờ, cậu bé mới lau nước mắt rồi bắt đầu ăn. Hạt giống ba-la-mật đã sớm lộ diện như thế đó. Năm 5 năm tuổi, cậu được gửi vào học tại tu viện làng Maungma với vị Sư U Ācara. Khi đã biết đọc chữ khá tốt, sau khi đọc cuốn “Ngục gian thi” (*Naraik-khan Pyo*), vì sợ phải đọa địa ngục nên cậu đã hạ quyết tâm nhất định sẽ xuất gia làm sư. Năm 14 tuổi, cậu xuất gia Sa-di với pháp danh là **Shin Sumana**. Cậu là người rất dễ bảo, luôn vâng lời thầy dạy một cách tuyệt đối, chưa bao giờ để lời thầy rơi xuống đất. Cậu nhận được sự khen ngợi đặc biệt từ bậc thầy. Sự lễ phép và cách thưa gửi của cậu cũng vượt xa lứa tuổi. Tướng mạo thì không có gì phải bàn cãi. Cậu thường vẽ tranh về Đạo sĩ Sumedha, Vua Temiya, Vua Janaka, hay cảnh xuất gia của Hatthipāla; hoặc vẽ lại hình dáng những ngôi chùa linh thiêng ở Bagan rồi treo ở phía đầu nằm để tâm hồn luôn được đắm mình trong chốn rừng núi thanh tịnh. Đó chính là những điềm báo trước cho con đường tương lai. Không chỉ giỏi kinh sách, cậu còn trọn vẹn cả đức hạnh và bổn phận của một người đệ tử. Ngày mùng 8 tháng 6 (Waso) năm 1254 (Miến lịch), Ngài thọ cụ túc giới, chính thức bước vào hàng ngũ Tỳ-kheo. Ngài luôn thức dậy lúc 3 giờ sáng, hành trì các pháp đầu-đà (*dhutaṅga*), không bao giờ ăn trầu hay hút thuốc.