## TRANG 541 BẬC ALAHAN VÀ CÁC BẬC CỰC TRỌNG **Thụ giáo Ngài Zin Nyun tại Yesagyo** Từ đó, Ngài tiếp tục hành trình qua Myit Nge, Paleik, Innwa, Sagaing Ywa Thit hướng về phía Monywa. Trước khi đến Monywa, Ngài dừng chân nghỉ tại thiền viện Mahabodhi Tawya ở làng Khin Mon. Vị trụ trì chùa Khin Mon khi ấy là bậc được ngay cả Ngài Shwegyin Thathana Paing (Tăng thống Shwegyin) tôn kính, vô cùng nổi tiếng về giới hạnh cao khiết và sự uy nghiêm, được triều đình ban tặng danh hiệu Rajaguru (Quốc sư). Sau sáu tháng thụ giáo Ngài Khin Mon Sayadaw, Ngài Sumana xuôi thuyền từ Monywa đi tiếp đến thành phố Yesagyo. Vị thiền sư Gu Phyu Tawya ở phía tây Yesagyo bấy giờ lừng danh là bậc Alahan. Ngay cả vị Hòa thượng U Sīla lừng danh cũng phải thốt lời tán thán Ngài Gu Phyu rằng: “Vị này vượt xa ta.” Ngài Sumana đã ở lại đây đúng ba tháng để học tập phương pháp hành trì. Sau đó, Ngài ngược dòng từ Yesagyo trở về Monywa và đến thiền viện Ledi Tawya. Đúng lúc ấy, Ngài Ledi Sayadaw cũng vừa từ Mawlamyine trở về sau mùa hạ, nên Ngài Sumana có cơ duyên được đảnh lễ. Khi Ngài Sumana trình bày tâm nguyện muốn hành trì giáo pháp, Ngài Ledi Sayadaw dạy rằng: “Muốn hành trì pháp là điều rất quý. Hãy cứ nghỉ ngơi hồi phục sức khỏe một thời gian đã,” rồi Ngài chỉ định nơi nghỉ ngơi cho. ### Lời giáo giới của Ngài Ledi Sayadaw Sau đó, Đức Sayadaw lớn đã ban lời giáo giới như sau: “Này Sumana, giáo pháp cần thực hành không khó, cái cần nhất chính là sự tinh tấn (Viriya). Thời nay, người ta không còn thiết lập được sự tinh tấn đủ mãnh liệt để có khả năng chứng đắc Đạo Quả nữa. Như bậc thầy chú giải đã dạy, hãy tinh tấn như con ong bay đi lấy mật, như người thầy thuốc rạch mạch máu trên lá sen giữa mặt nước, như kẻ muốn kiếm bốn ngàn đồng tiền vàng mà kiên nhẫn dùng que quay từng sợi tơ nhện, như người thợ thuyền khi gió lặng thì hạ buồm, khi gió mạnh thì căng hết buồm vượt sóng, như người rót dầu vào ống tre hẹp sao cho không một giọt nào vãi ra ngoài. Phải xem xét quán chiếu tâm mình sao cho không thối chí cũng không kiêu mạn, với khát vọng mãnh liệt như người muốn băng qua đại dương, phải đem cả tính mạng ra mà nỗ lực tinh tấn.” “Xưa kia có hai người đàn ông đi trong rừng sâu, tìm thấy một khúc gỗ lõi cây khế. Một người bảo: ‘Dùng gỗ khế này cọ xát chắc chắn sẽ ra lửa’. Người kia bảo: ‘Dù có cọ xát cho đến khi lõi gỗ mòn hết cũng chẳng ra lửa đâu’. Người thứ nhất không cam tâm, quyết chí mài cọ thật mạnh, thấy khói lên lại càng ép mạnh và cọ nhanh hơn cho đến khi lõi gỗ nát vụn ra... ## TRANG 542 Pháp sư U Htay Hlaing ...và lửa cuối cùng đã bùng cháy. Theo lời dạy từ xưa ấy, khát vọng và sự nỗ lực của người đời nay thậm chí còn không bằng một phần nhỏ của người mài lửa kia.” “Việc đắc pháp cao thượng mà người ta không hoan hỷ bằng việc có được một bộ y hay một chiếc bát, không yêu mến bằng việc nhận được một bát cơm. Đối với những kẻ trụ trần (puthujjana) chỉ biết hưởng thụ, thì giáo pháp cao thượng này sẽ cách xa họ như trời với đất vậy. Dù gân, xương, thịt, máu có khô cạn đi chăng nữa, nếu đó là pháp đáng được chứng đắc, thì chừng nào chưa đắc, ta quyết không dừng lại. Chừng nào chưa thấu đạt, ta quyết không nghỉ ngơi. Phải giữ vững tinh tấn không thối chuyển mà hành trì như vậy.” “Nếu nỗ lực tinh tấn đến mức quên mình như thế, thì cũng giống như hạt lọc nước bỏ vào bình nước đục, chỉ trong chốc lát nước sẽ trở nên xanh trong thanh khiết. Nhờ sức mạnh của Định (Samādhi) luôn tập trung duy nhất vào một đối tượng pháp, dòng tâm thức của người hành giả sẽ trở nên cực kỳ sáng suốt, chói lọi và có thể chứng đắc những tầng pháp cao thượng, thâm diệu.” Ngài Ledi Sayadaw dạy xong, **U Sumana** bạch rằng: “Con xin cung kính đón nhận những lời giáo giới của Ngài như đóng đinh vào đại não. Nếu Ngài chỉ dạy cho con một nơi chốn thích hợp (sappāya), con xin được đến đó để hành trì.” Ngài Ledi Sayadaw nghe vậy liền hoan hỷ thốt lên “Sa-thu”. Sau đó, đích thân Đức Sayadaw bảo một vị đệ tử dẫn Ngài **U Sumana** đến núi Lapatoung, nơi mà chính Ngài Ledi đã từng tu hành vào năm 1265 (Miến lịch). Núi Lapatoung nằm cách bờ tây sông Chindwin, Monywa khoảng bốn dặm. Ngài **U Sumana** đã đến thiền viện đó để hành trì. Khi đi khất thực, Ngài không nhận được cơm gạo trắng, chỉ nhận được hạt kê và các loại ngũ cốc thô. Ngài tự nhủ: “Chỉ cần không chết là được,” rồi dồn toàn tâm sức vào hành thiền. Chẳng bao lâu, do ăn hạt kê và canh chua nên Ngài bị tiêu chảy nặng, không thể đi khất thực cũng không thể ngồi thiền, cơ thể trở nên suy kiệt, lảo đảo. “Nơi này không còn là nơi thích hợp (asappāya) với ta nữa. Nếu tiếp tục ở lại, chỉ có nước chết mà mục đích tu hành vẫn chưa thành,” Ngài quyết định trở về thiền viện Ledi Tawya, nương tựa dưới lòng từ bi của Đức Sayadaw để chữa trị bằng thuốc men. Trong vòng một tháng, sức khỏe Ngài đã gần như bình phục hoàn toàn, Ngài lại xin Đức Sayadaw chỉ dạy cho một nơi chốn phù hợp khác. ### Đại nguyện 10 năm (Không nói, không thuyết) Khi ấy, Ngài Ledi Sayadaw dạy rằng: “Này Sumana, nếu ông quyết tâm thực hành Pháp hành Minh sát (Vipassanā Dhura) cho đến khi đạt kết quả, ông phải tuân thủ sáu điều quy định sau.” Ngài Sumana đã cung kính lập lời thề hứa sẽ tuân thủ nghiêm ngặt. ## TRANG 543 BẬC ALAHAN VÀ CÁC BẬC CỰC TRỌNG Sáu điều quy định là: 1. Không được nhận lời mời thọ thực tại nhà thí chủ. 2. Không được thực hiện các lễ truyền giới, xuất gia hay tham gia các đoàn làm phước. 3. Không được tham dự các buổi lễ tang Hòa thượng hay các buổi hội họp. 4. Trong mười năm, phải nỗ lực hành trì mà không nói năng, không thuyết pháp. 5. Sau khi đủ mười năm, chỉ được thuyết pháp tại nơi trú xứ của mình. 6. Chỉ khi đủ 60 tuổi mới được đi các vùng khác để thuyết pháp. Ngài Ledi Sayadaw cử Ngài **U Ñāṇobhāsa** (sau này là Ngài Ledi Sayadaw đời thứ hai) đi cùng để đưa Ngài Sumana đến rừng Monyne. Đó là một khu thiền viện cổ nằm giữa làng Aung Thar và làng Monyne, cách thành phố Monywa khoảng 6 dặm. Ở đó chỉ còn lại những phế tích bảo tháp và một ngôi chùa cũ nát, cây cối rậm rạp. Nghe đồn nơi này có ma quỷ quấy nhiễu nên ngay cả ban ngày người dân cũng không dám vào. Những vị sư đến trụ trì trước đó đều phải bỏ chạy, nếu không chạy thì cũng viên tịch trong vòng vài tháng. Hơn nữa, rắn độc ở đây cũng rất nhiều. Dân làng xung quanh vô cùng vui mừng khi có một vị sư do chính Ngài Ledi Sayadaw cử đến. Họ đã cùng nhau dọn dẹp khuôn viên chùa, tháp, giới đàn và đào lại giếng nước cũ. Nơi này vào năm 788 (Miến lịch) từng là trung tâm hoằng pháp chính yếu, nơi 200 vị Tăng của vua Mohnyin Min Taya Gyi triều Innwa từng lưu trú. Để tôn vinh vị vua ấy, thiền viện Monyne đã được đổi tên thành “Thiền viện Mohnyin”. Từ đó, Ngài bắt đầu được gọi là “Mohnyin Ko-taw-lay” (Vị sư trẻ Mohnyin). Ngài bắt đầu nhập hạ tại đây từ tháng 4 năm 1273 (Miến lịch). Ngài đã yêu cầu Phật tử các làng lân cận rằng: “Xin đừng trò chuyện, hỏi han hay cúng dường dư thừa và không được cung thỉnh đi đâu.” Ngay từ ngày đầu tiên đến, Ngài đã hướng tâm trọn vẹn về Niết-bàn, quyết tâm hành trì với nghị lực phi thường. Cứ hoàng hôn xuống, Ngài lại lễ Phật, dâng hoa nước, rồi rải tâm từ. Ngài cất tiếng vang rền rải tâm từ đến chư thiên và chia phước cho họ. Ngài tụng đọc các bài kệ bảo vệ (Gāthā) đã thuộc lòng, sau đó mới bắt đầu tọa thiền. Việc sống độc hành giữa ngôi chùa cổ hoang tàn, tháp đổ nát, nơi mà ngay cả ban ngày cũng thấy rợn người, là một thử thách vô cùng lớn. Ngài không quản ngại gió sương, giá rét, thậm chí ở giữa bãi đất trống không nhà không cửa (**Hạnh Đầu đà lộ địa — Abbhokāsika Dhutaṅga**). Không chỉ là việc không ngủ cả ngày lẫn đêm, mà ngay cả việc nằm xuống duỗi người Ngài cũng không thực hiện (**Hạnh Đầu đà bất ngọa — Nisaĵĵa Dhutaṅga**). Những việc này nói thì dễ nhưng làm thì cực khó. Công việc ấy không phải một ngày, một tháng hay một năm, mà là cho đến khi chứng được pháp cao thượng. Thời gian tối thiểu cam kết là mười năm. Đức tính dễ dạy (**Sovacassatā**)...