## TRANG 544 490 Thật đáng để làm gương noi theo thay! **Dhamma-cariya U Htay Hlaing** Ngài Mohnyin thọ trì đại nguyện "không nói chuyện" (tư trì tịnh khẩu), cứ mỗi bảy ngày lại phát nguyện tiếp nối một lần để không làm gián đoạn tâm định. Dù gặp phải đủ mọi loại chướng ngại và khó khăn khác nhau, Ngài vẫn trưởng dưỡng tâm từ ái mãnh liệt, đặt niềm tin kiên cố vào đại nguyện Ba-la-mật như bàn thạch. Ngài phát nguyện: “Thật vậy, bổn phận đối với cha mẹ và thầy tổ đã viên thành. Ân đức ấy thật lớn lao thay. Cái chết có thể đến bất cứ lúc nào, không trì hoãn dù chỉ một giờ. Ngoài pháp hành Vipassanā (Minh sát), chẳng còn nơi nào để nương tựa. Chừng nào chưa chứng đắc đặc biệt pháp, ta quyết không rời khỏi nơi này vì bất kỳ lý do gì. Dù nơi đây có trở thành nghĩa địa của ta đi chăng nữa”, rồi Ngài hiến dâng trọn vẹn thân mạng này lên Đức Thế Tôn, không màng đường lui, nỗ lực tu tập không ngủ nghỉ. Cái chết vốn chẳng có gì lạ lẫm, chết trong khi đang hành trì và ngay tại nơi hành đạo mới là điều cao quý. ### Bò rừng và những con rắn độc Trên đường đi khất thực, khi vừa ra khỏi cổng chùa, Ngài dừng lại định tâm, rồi từ đó cho đến lúc vào làng, mỗi bước chân Ngài đều đặt chánh niệm Vipassanā vào đó. Nếu lỡ bước mà thiếu chánh niệm, Ngài liền lùi lại và ghi nhận lại từ đầu. Khi vào trong làng, Ngài chỉ thuần túy trưởng dưỡng tâm từ. Trên đường trở về chùa, Ngài cũng giữ chánh niệm y như lúc đi. Pháp hạnh này được gọi là **Gatapaccāgatikavatta** (Hạnh đi và về đều có chánh niệm). (Trong cuốn sách về các bậc Thánh nhân tiêu biểu thời Sri Lanka có viết chi tiết về việc này.) Vào một ngày nọ, khi đang giữ gìn hạnh nguyện đi và về này, từng bước chân đều có chánh niệm, có một con bò đực hung dữ đang trong mùa động đực lao thẳng về phía Ngài. Những người dân chứng kiến kinh hãi đồng thanh hét lớn: “Ngài Mohnyin trẻ tuổi ơi! Bò kìa, bò kìa! Nó sẽ húc Ngài mất, xin Ngài hãy tránh mau!” Thế nhưng, Ngài thoáng khởi ý nghĩ: “Nếu vì sợ chết mà phá bỏ hạnh nguyện này để chạy trốn thì cũng chẳng khác nào đã chết rồi”, Ngài vẫn tiếp tục bước đi từng bước chánh niệm như cũ. Đúng như câu: “**Dhammo have rakkhati dhammacārī** - Pháp bảo hộ người trì Pháp”, khi con bò rừng chỉ còn cách Ngài khoảng bốn sải tay (trượng), nó đột nhiên quay ngoắt đầu bỏ chạy như thể vừa bị ai đó giáng một đòn mạnh. Những ai nhìn thấy và nghe kể lại đều không khỏi kinh ngạc. Giáo pháp luôn hiển lộ minh chứng cho những ai có niềm tin sâu sắc. Tương tự như vậy, một lần nọ trên đường đi khất thực, có một con rắn độc lớn đang dựng cổ phì phò chặn lối. Người dân thấy Ngài đang đi tới liền cố đuổi con rắn đi nhưng không được. Họ liền thưa rằng: “Bạch Ngài, phía trước có con rắn độc lớn, xin Ngài hãy lùi lại!” Ngài Mohnyin vẫn tiếp tục bước đi. Khi chỉ còn cách khoảng hai khuỷu tay, chính con rắn đó phải tự bỏ chạy nhường đường. Năng lực của Tâm từ và Giới hạnh một khi thực hành miên mật sẽ có sức mạnh thật phi thường. ## TRANG 545 491 Có lần, sau khi dọn dẹp các gốc tháp cổ và đang hành lễ bái, một con rắn từ phía sau tiến đến phì phò đe dọa. Ngài không phá bỏ định nguyện, vẫn tiếp tục thành tâm lễ bái. Con rắn đó trườn từ phía sau qua giữa hai chân khi Ngài đang ngồi xổm, rồi bò đến gần pho tượng, ngóc đầu vươn cổ ra vẻ hung dữ. Chỉ đến khi Ngài định tâm trưởng dưỡng tâm từ mãnh liệt hướng về nó, nó mới lặng lẽ biến mất. Ngài Mohnyin càng thêm tin tưởng sắc đá rằng, để chống lại và bảo vệ bản thân trước mọi sự chướng ngại, không có gì khác ngoài năng lực của Tâm từ. ### Huệ nhãn và những điều mầu nhiệm Sau khoảng một năm Ngài hành trì, có bốn người gồm ông U Tun Mya, U Hlwar Gyi và U Htin ở làng Se Gyi, cùng ông U Boe Kyu ở làng Aung Thar, đã bàn bạc với nhau mỗi người sẽ làm hộ pháp (kappiya) trong ba tháng. Vì Ngài không nói truyện, nên khi Ngài đi vệ sinh, họ đã viết thư xin phép và Ngài gật đầu chấp thuận. Các hộ pháp khi có việc cần cũng chỉ thỉnh nguyện bằng văn bản. Ngài đã nỗ lực hành trì liên tục như vậy trong suốt ba năm, vào đêm rằm tháng Tazaungmon năm 1276 (Miến lịch), cũng giống như câu nói: “**Cakkhuṃ udapādi, ñāṇaṃ udapādi** - Nhãn sinh, Tuệ sinh”, Ngài đã đạt được những tuệ giác thấu suốt đặc biệt. Sau khi hoàn tất ba năm, Ngài lại tiếp tục phát nguyện hành trì thêm hai năm nữa. Nguyện tịnh khẩu được thực hiện theo chu kỳ mười ngày một lần, ấn định thời gian hoàn tất là năm năm. Trong giai đoạn năm năm lần thứ hai, nguyện tịnh khẩu được ấn định là 15 ngày một lần. Khi dùng bữa, Ngài thực hành “**Āhāre paṭikūlasaññā**” (Tưởng vật thực là uế trượt), cứ mỗi miếng cơm lại lần một hạt tràng hạt rồi mới thọ dụng. Trong thời gian hành trì, Ngài thỉnh thoảng xem kinh sách. Ngài cũng ghi chép lại phương pháp quán Minh sát của mình, mà nay đã được in thành bộ “**Visuddhi-kyintsin-kyan**” (Thanh Tịnh Đạo Thực Hành). Trong suốt 10 năm đó, chư Tăng và thiện nam tín nữ từ khắp nơi xa gần đã thông qua hộ pháp gửi thư thỉnh cầu Ngài truyền dạy pháp hành, nhưng Ngài đều hồi đáp bằng thư rằng: “Vì đại nguyện chưa viên mãn nên chưa thể hứa khả.” Mặc dù Ngài luôn khép mình trong đại nguyện, nhưng khi kỳ hạn sắp hoàn thành, những tin đồn thường xuyên xuất hiện rằng Ngài được nhìn thấy cùng một lúc ở hai ba nơi khác nhau như núi Pho Win, núi Let Padaung, núi Kyaukka, núi Kway Mon Shwe Myin Tin và cả tại chỗ Đức trưởng lão Ledi Sayadaw ở Monywa. Các hộ pháp cũng thường xuyên thấy Ngài “biến mất” khỏi chùa. Thỉnh thoảng, họ thấy cả ngôi chùa rực sáng, hoặc thấy Ngài đang thuyết pháp cho các bậc Chư thiên, Phạm thiên và thậm chí là cả các loài Dạ-xoa (Yakkha). Các hộ pháp vô cùng hoan hỷ, và tiếng tăm của Ngài ngày một vang xa. ## TRANG 546 492 **Dhamma-cariya U Htay Hlaing** Vào tháng Waso năm 1283, đại nguyện 10 năm hành trì thiền định đã viên mãn, và Ngài cũng đã thấu đạt được những đặc biệt pháp cần thiết. Do đó, vào kỳ Thadingyut năm ấy, Ngài đã đến đảnh lễ bậc ân sư – Đức trưởng lão Ledi Sayadaw và trình bạch về những pháp đã chứng ngộ. Đức trưởng lão Ledi Sayadaw đã thốt lên "Lành thay" (Sādhu) ba lần. Ngài ban tặng các bộ kinh Ledi Dipani và cho phép Ngài Mohnyin được thuyết giảng giáo pháp. Ban đầu, khi có khoảng bốn hay năm mươi người gồm các hộ pháp và dân chúng tụ hội, Ngài đã truyền dạy pháp dưới một mái lều lợp lá thốt nốt dưới gốc cây. Dần dần, các thiền đường (zayat) và giảng đường bắt đầu được dựng lên. Trong thời gian này, các tác phẩm như “**Vipassanā Pīti Asasā Kyintsin Taya Gyi**” (Đại Pháp Hành Các Loại Hỷ Lạc Trong Minh Sát), “**Paṭiccasamuppāda Kyintsin Gyi**” (Đại Pháp Hành Thập Nhị Nhân Duyên), “**Nissaya Muccaka Kyintsin Kyan**” (Luận Về Pháp Hành Giải Thoát Y Chỉ) đã được biên soạn và ấn hành. Từ năm 1285 đến 1291, Ngài cũng đã trùng tu được chín ngôi bảo tháp cổ thông qua việc quyên góp từng nắm gạo cúng dường thường nhật. Vào năm 1285, khi số lượng đệ tử hành giả ngày một đông đảo, Ngài đã bổ nhiệm Tỳ-khưu U Sumangala làm Quản sự (Taik-ok), Tỳ-khưu U Āsabha làm Giám sự (Taik-kyat), và bà Daw Sandar Gyi đại diện cho nữ giới để điều hành. Ngài cũng cho in ấn bộ “**Visuddhi-kyintsin-kyan Gyi**” (Đại Thanh Tịnh Đạo Thực Hành) và hướng dẫn pháp hành cả ngày lẫn đêm. Ngài răn dạy mọi việc phải luôn đúng theo giới luật (Vinaya). Mỗi đêm, đại chúng cùng tụng kinh và tu tập pháp hành **Caturārakkha** (Bốn pháp hộ trì). Tiếp đó, Ngài thuyết giảng trong ba đêm về vô thường của Sắc (Rūpa) kết hợp với thiền hành, từ một điểm diệt đến sáu điểm diệt. Khi người hướng dẫn thiền hành phía trước, các hành giả bước theo sau. Ngài cũng dành sáu ngày để hướng dẫn về vô thường của Danh (Nāma - **Sáu loại thức**). (Tác giả lúc 8 tuổi đã từng được diện kiến và thấy Ngài hướng dẫn pháp khi đang thiền hành.) ### Sự kiện Đức trưởng lão Ledi Sayadaw viên tịch Vào ngày mùng 8 tháng Waso năm đó, vì Đức trưởng lão Ledi Sayadaw lâm trọng bệnh nên đã gửi điện tín thỉnh Ngài Mohnyin đến. Ngài liền khởi hành đến trú xứ của phú ông U Lan Taik (Chùa Ledi San) ở Pyinmana. Khi đang cúi đầu đảnh lễ sát đôi bàn chân của bậc ân sư để bày tỏ lòng tôn kính... Đức trưởng lão phán rằng: “À... có phải Ngài Mohnyin đó không? Này con, hãy nỗ lực hoằng dương giáo pháp Vipassanā nhé. Dù ta không còn nữa nhưng kinh sách của ta vẫn còn đó, hãy thay ta mà làm nơi nương tựa cho chúng hữu tình.” Các đệ tử đã tụng bộ Paṭṭhāna (Vị Trí) cho Ngài nghe. Riêng Ngài Mohnyin đã tụng bài Anatta Dipani (Vô Ngã Minh Đăng) để cúng dường và đền đáp ân sư. Đức trưởng lão Ledi Sayadaw nói rằng: “Thật là tốt thay! Khi được nghe giáo lý Vô ngã này, ta như nhìn thấy và khởi tâm tịnh tín trước hình ảnh Đức Thế Tôn khi Ngài thuyết bài kinh Anattalakkhaṇa Sutta (Kinh Vô Ngã Tướng). Cứ như thể chính Đức Phật đang ngự đến vậy, này con...”