## TRANG 559 **Các bậc Alahan và những bậc siêu phàm** 505 Ngài nói: “Này thí chủ”, thế là một ngôi chùa nhỏ bốn cột đã được dựng lên và cúng dường. Về phần Ngài, Ngài chỉ mong muốn dựng một túp lều tạm bợ một mái mà thôi. Sau đó, đệ tử và thiện nam tín nữ dần dần trở nên đông đúc, nơi đây được biết đến rộng rãi với cái tên “Thiền viện In-ma-gyi”. Vào năm 1263 (Miến lịch), ông U Set Kalay từ làng Kyauk-pyoke-kone, cụm Tháp Phật (Phaya-su), đã xây dựng và cúng dường một ngôi chùa hành thiền lớn dài sáu mươi hắc tay nối liền với một hang động (gu). Thiền viện In-ma-gyi được bao quanh bởi ba ngọn núi, đầm hồ san sát, nên rất phù hợp với việc thực hành Samatha (Thiền Định) và Vipassanā (Thiền Tuệ). Trong thời gian cư ngụ tại đây, vào năm 1270, theo lời thỉnh cầu của ông U Set Kalay và ông U Thu Daw (người hộ trì hang động lớn ở thị trấn Thae-taw), Ngài đã biên soạn tác phẩm “Saṃvega Kammaṭṭhāna Kyan” (Tạm dịch: Luận về Pháp hành hướng tới sự tỉnh giác). Tác phẩm được ấn hành tại nhà in Kawi Myet-mhan vào tháng Wagaung năm 1274. Nội dung lấy việc tu tập Ānāpāna (Niệm hơi thở) làm Pháp hành chủ đạo, đồng thời viết những lời khuyến tấn về bốn pháp bảo hộ (Caturārakkha Kammaṭṭhāna) như Buddhānussati (Niệm Phật), Mettā (Tâm Từ)... sách dày 188 trang. ### Khởi nguồn lịch sử của hệ phái Theim-taung Đọc những dòng thủ bút bằng chì trong tập nhật ký ngắn của Ngài Sayadaw chùa See-gyi-taw-ya (U Javana) – vị đệ tử lớn của Ngài Sayadaw In-ma-gyi, đồng thời là Ngài Sayadaw Theim-taung đời thứ hai – với tiêu đề “Thư răn dạy các đệ tử”, người viết không khỏi hoan hỷ khi có cơ hội tìm hiểu và chiêm bái về khởi nguồn lịch sử của hệ phái Theim-taung. Trong đó cũng có những điều thấy thật kinh ngạc và rùng mình. [Bản thảo thủ bút của Ngài Sayadaw lớn được nhận từ vị Ni trưởng là cháu gái của Ngài. Vị Ni trưởng này – thường được gọi là Bà nội nhỏ (A-hpwa-lay) – hiện đang cư ngụ tại khu nhà nghỉ chùa Mogok, tu viện Htee-lin, phía nam núi Mandalay.] ### Mỗi vị sư một chiếc thủ cấp “Thư răn dạy các đệ tử” [Khi Ngài Sayadaw In-ma-gyi còn ở trong ngôi chùa nhỏ bốn cột, có một nữ ngạ quỷ lớn (pittā) đến quấy nhiễu, Ngài dạy rằng: “Này thí chủ, hãy cứ làm công việc của loài ngạ quỷ trong cảnh giới của mình đi. Ta vào thời còn là ngạ quỷ cũng đã từng đi nhát người khác vậy. Nay đã là tu sĩ, ta phải làm công việc của một tu sĩ.” (Đêm thứ nhất). Sang đêm thứ hai, một con rắn lớn từ hướng tây nam bò đến, ngóc cổ phình mang và phun phè phè ngay trên đầu Ngài. ## TRANG 560 506 Ngài dạy: “Ngươi là rắn thì hãy làm việc của loài rắn. Ta là bậc tu hành trong rừng thì phải làm việc của người tu hành. Ngươi cứ việc phun hơi theo ý muốn đi.” Con rắn bèn bò xuống. (Đêm thứ hai). Sau khi thọ nhận giáo pháp từ Ngài U Tiloka ở núi Thek-khya cùng với vị đạo sĩ U Kesara (người đã viên tịch tại Kalaw), Ngài Sayadaw See-gyi (U Javana) trở về In-ma-gyi. Ngài nỗ lực tu tập trong căn phòng đóng kín trên lối đi hành thiền dài sáu mươi hắc tay. Ngài thực hành với lời đại nguyện: “Trình lên bậc **Jotika** ở trên, thấu đến bậc **Tiloka** ở dưới”. Phía sau tháp Phật, trên lối đi bộ nhỏ, ông U Kesara trong hình tướng Sa-di cùng với thầy trò đã dấn thân tu tập bất chấp tính mạng. Sau đó, rời khỏi đường hành thiền, vào năm Ngài Sayadaw Ledi an cư tại Myingyan, họ đã đến để trình Pháp và cầu xin sự chỉ dạy: “Bạch Thầy, bỏ mặc đại giáo pháp (Sāsanā) là điều không nên. Xin Thầy hãy thuyết giảng và truyền dạy các đề mục thiền định (Kammaṭṭhāna).” Sau đó, Ngài bắt đầu dần dần truyền dạy Kammaṭṭhāna. Ngài không nhận quá mười đệ tử cùng lúc và rèn luyện họ vô cùng nghiêm khắc. Năm giờ chiều đi gánh nước. Dâng hoa, nước, đèn lên Phật; sáu giờ tối làm lễ bái Tam bảo. Xong xuôi thì ôn tụng kinh văn. Sau chín giờ tối, tất cả cùng nhau thọ trì hạnh đầu đà nghĩa địa (susāna dhutaṅga) rồi đi ra nghĩa trang. Trước bốn giờ sáng, họ phải vác những chiếc thủ cấp (sọ người) từ nghĩa địa về; năm giờ sáng húp cháo. Sau đó học đạo và đi khất thực. Một giờ trưa nghỉ ngơi, rồi lại tiếp tục học đạo, ôn kinh, dâng nước sạch, quét dọn và tinh tấn tu tập không ngừng. Ngài quy định: “Mỗi vị sư một chiếc thủ cấp, một am thất”. Theo lời dạy của thầy, mỗi vị ở cùng một chiếc đầu lâu trong am để chiến đấu với phiền não (kilèsa). Sau đó, theo lời thỉnh mời của các cư sĩ như cụ U Hmin-khè, ông U Pho Hlè, thí chủ chùa U Pho Kar và bà Daw Si Pu, họ đã đến chùa Yay-le tại làng Lein-pin. Sau khi thuyết Pháp được hai đêm, vào sáng sớm, Ngài cùng với vị sư nguyên là trung sĩ (Sergeant) ở làng Nyaung-pin cùng ba vị nữa đã đến xem địa điểm chùa Theim-taung. Lúc ấy nơi đây bụi rậm bao phủ, gai góc mọc đầy. Về sau, Ngài U Javana đến Yangon nghe Pháp từ Ngài Sayadaw Ledi, rồi lại đến chỗ Ngài U Tiloka để nỗ lực hành trì. Sau mùa an cư, Ngài đi đến Thaton và cư ngụ tại Thiền viện Taung-waing-gyi. Trong lúc đó, Ngài Sayadaw In-ma-gyi nhắn rằng: “Vào ngày rằm tháng Tazaungmon, ta đã đến địa điểm Theim-taung rồi, hãy trở về đi”, nên Ngài đã quay về. Ngài Sayadaw đặc biệt thuyết giảng và hướng dẫn cách thực hành Tâm Từ.] (Cách thực hành Tâm Từ sẽ được trình bày cụ thể trong chương về “Ngài Sayadaw Thiền viện See-gyi”). Ghi chép này chỉ có bấy nhiêu. Dù có ý định viết tiếp nhưng Ngài đã không thực hiện, trong nhật ký chỉ thấy ghi lại những sự việc khác. ## TRANG 561 **Các bậc Alahan và những bậc siêu phàm** 507 ### Phương pháp đánh giá nội lực qua văn phong và lời nói Ngài Sayadaw In-ma-gyi nổi tiếng là bậc song toàn cả về Pháp học (Pariyatti) và Pháp hành (Paṭipatti), đồng thời cũng lừng danh về khả năng viết lách và thuyết giảng. Năm 1269, Ngài rời Thiền viện In-ma-gyi để chuyển đến địa điểm Thiền viện Theim-taung hiện nay. Ngôi chùa này được tương truyền là nơi tọa lạc của một ngôi giới đàn (sīma) của các bậc Alahan thời xưa. Có lời sấm truyền rằng: “Tại núi Theim-taung, ánh sáng kim cương sẽ tỏa rạng.” “Đối với sắc pháp được gọi là hơi thở ra và hơi thở vào này, phải dùng **Vipassanā** (Minh sát) để nắm bắt trong mỗi lần thở ra và mỗi lần thở vào. Cách nắm bắt là phải quán chiếu sao cho thấy rõ sự hoại diệt trong mỗi hơi thở ra, sự hoại diệt trong mỗi hơi thở vào. Đây chính là **Anicca** (Vô thường). (Các tướng **Dukkha** [Khổ] và **Anatta** [Vô ngã] sau đó sẽ trở nên dễ dàng nhận diện). Tâm ghi nhận, tâm lấy hai hơi thở ra và hơi thở vào đó làm đối tượng được gọi là Danh pháp (Nāma). Cũng hãy quán chiếu sao cho thấy rõ sự ‘vô thường do biến diệt’ trong mỗi lần thở ra và mỗi lần thở vào của Danh pháp đó. Trong số bốn mươi đề mục thiền định, **Ānāpānassati Kammaṭṭhāna** (Niệm hơi thở) này là đề mục dễ dàng nhất để duy trì sự tu tập liên tục. Tuy nhiên, nói là dễ nhất nhưng cũng chỉ dễ đối với những người rèn luyện và thực hành nhiều lần; còn với những ai không nỗ lực tu tập thì chẳng thể nào dễ dàng được. Do đó: Khi các bậc trí giả nói rằng **Ānāpāna Kammaṭṭhāna** là việc dễ thực hiện, các con hãy nỗ lực hết sức để có thể tin tưởng và thực hành theo cả thân lẫn tâm, đừng để tâm hay thân khởi sự phản kháng và cho rằng đó là việc khó. Đức Thế Tôn cũng đã dùng vô vàn lời tán thán với những công đức ưu việt, vượt trội hơn hẳn so với các đề mục thiền định khác. Các bậc Đại luận sư cũng gọi đây là ‘**Mahāpurisabhūmi**’ (Cảnh giới của bậc Đại nhân). Đây không phải là đề mục thiền định dành cho những hạng phàm phu tục tử hay những vị tu sĩ tầm thường. Đây là pháp thiền chỉ xứng hợp với những bậc đại trí luận sư, những bậc đại trí giả và các vị tỳ-kheo uyên bác. Chính vì lẽ đó: Cần phải nỗ lực tu tập thật nhiều để xứng đáng là bậc đại trí giữa hàng cư sĩ, xứng đáng là bậc đại trí giữa hàng tu sĩ. Nếu không nỗ lực, các con sẽ bị rơi vào hàng ngũ phàm phu và tu sĩ tầm thường mà thôi. Điều đó thật đáng hổ thẹn. Hỡi các bậc thiện tri thức trí tuệ, hãy luôn giữ sự tỉnh giác cao độ.” Đây là một đoạn trích từ tác phẩm “Saṃvega Kammaṭṭhāna Kyan”. Qua đó, chúng ta có thể đánh giá được sự thâm hiểu sâu sắc của Ngài đối với **Ānāpāna Kammaṭṭhāna**, cũng như thấy được uy lực và nội lực toát ra trong văn phong của Ngài. Đối với các hành giả... ---END---