## TRANG 595 Hai vị xuống xe. Hai người thí chủ lo lắng vì trời đã gần trưa, sợ trễ việc thọ thực của hai vị tu sĩ (Shin). “Này Ko-yin Vijaya, đi đến chùa thì chuyện bát khanh (cúng dường) chưa chắc đã sẵn, thời gian lại sắp đến rồi. Trong khi còn kịp, chúng ta hãy đi khất thực thôi,” vị Ko-yin lớn tuổi là **Shin Kavi** nói như vậy... “Vậy thì Đại đức (Ko-yin lớn) hãy đi trước,” nói rồi cả hai cùng xuống xe ngựa và đi khất thực. Tại ngôi nhà đầu tiên họ dừng lại, có một người thí chủ đang đi tới đi lui trước cửa. Vừa thấy hai vị Ko-yin, người này vui mừng khôn xiết, cung thỉnh họ lên nhà. Anh ta hồ hởi gọi vợ con ra để cùng đặt bát cúng dường. Họ đã chuẩn bị sẵn sàng và chờ đợi suốt hai tiếng đồng hồ rồi. Chủ nhà là một người Ấn Độ (Kula), làm trưởng ga xe lửa, còn người vợ là người Miến Điện. Trong khi cúng dường, người vợ khẽ chạm tay gọi chồng ra chỗ khuất rồi thì thầm: “Này ông, hai vị sư này là Ko-yin lớn thôi. Đâu phải là Tỳ-kheo (Bhikkhu) đâu.” “Ôi dào, sao cũng được! Được cúng dường đúng như giấc mơ của tôi là tôi mãn nguyện lắm rồi,” người chồng đáp lại rồi quay lại đứng gần bàn ăn với lòng đầy kính tín. Niềm tin từ giấc mơ và sự chờ đợi suốt hai tiếng đồng hồ trước cửa nhà cuối cùng đã được đền đáp xứng đáng. Sau khi thọ thực xong, họ tiếp tục lên đường đến gặp Ngài Sayadaw chùa Re-le (Thủy Trung), một bậc đa văn túc học danh tiếng tại thành phố Meiktila. Nhờ sự thưa thỉnh và đưa tin của **U Phyo Tha** và thư ký **U Ba San** từ Myingyan mà Ngài Re-le Sayadaw đã gửi lời cung thỉnh. Đêm trước đó, Ngài Sayadaw cũng nằm mơ thấy “hai thăng tượng trắng từ trên trời bay vào chùa.” Khi tận mắt thấy **Shin Kavi** và **Shin Vijaya** quang lâm, Ngài hết sức vui mừng và sắp xếp chỗ nghỉ ngơi chu đáo. Vừa mới đến nơi, Ngài Re-le Sayadaw đã hỏi thăm những lời xã giao (ālapa-sallāpa). Qua những lời đối đáp đầy oai nghi, Ngài hoàn toàn tin tưởng rằng đây chính là các bậc ‘A-la-hán’ và hoan hỷ đồng thanh Sa-thú (Sādhu). Người thí chủ trưởng ga cũng đứng dưới sàn chùa lắng nghe cuộc đàm đạo. Khi nghe xác nhận họ đúng là các bậc “A-la-hán”, anh không kịp đợi câu chuyện kết thúc mà vội vã chạy tức tốc về báo tin cho vợ. Ngài Re-le Sayadaw để **Shin Kavi** và **Shin Vijaya** nghỉ ngơi, sau đó để có thể phát khởi đức tin một cách chuẩn xác theo kinh điển, Ngài đã tiếp tục chất vấn như sau. **U Phyo Tha** và **U Ba San** cũng đứng gần đó lắng lòng nghe với niềm kính tín. [Ghi chú: Hãy chú ý đọc để thấy những câu hỏi này khó trả lời như thế nào đối với một người không biết chữ.] ## TRANG 596 Hỏi: Này **Shin Kavi**, trong ba cõi (ti-bhūmaka), ai là kẻ xây dựng ngôi nhà (thân xác)? Đáp: Bạch Ngài, chính là **Ái dục (Taṇhā)** xây dựng ạ. Hỏi: Các **hành trong ba cõi (tebhūmaka saṅkhāra)** có hạt giống từ đâu? Đáp: Bạch Ngài, **Vô minh (Avijjā)** chính là hạt giống ạ. Hỏi: Sự sanh làm người là do thiện nghiệp (kusala) hay bất thiện nghiệp (akusala)? Đáp: Bạch Ngài, sanh làm người là do cả thiện và bất thiện nghiệp ạ. Hỏi: Thiện nghiệp là lạc (sukha) hay là khổ (dukkha)? Đáp: Bạch Ngài, (thông thường) nói thiện là lạc, nhưng thực chất cũng là khổ ạ. Hỏi: Hạnh phúc của người và trời (nhân thiên lạc) có thực sự hiện hữu không? Đáp: Trong phạm vi hữu vi (saṅkhata), nó thực sự có; nhưng theo nghĩa chân đế (paramattha) thì không có ạ. Hỏi: Có cá nhân chịu khổ địa ngục, có cá nhân hưởng lạc thiên giới không? Đáp: Bạch Ngài, không có ạ. Hỏi: Trong thế gian này có người chịu khổ và người hưởng lạc, vậy gọi cái nào là đúng? Đáp: Bạch Ngài, cả hai cách gọi đều đúng ạ. Hỏi: Vậy hai thứ đó được gọi là gì? Đáp: Bạch Ngài, đó gọi là **Danh và Sắc (Nāma-Rūpa)** ạ. Hỏi: Trong thế gian có kẻ giết và người chết không? Đáp: Bạch Ngài, có ạ. Hỏi: Nói là có thì phải ghi nhớ như thế nào? Đáp: Bạch Ngài, chỉ là **Danh và Sắc** thôi ạ. Hỏi: Sát sanh thì bị đọa địa ngục là điều đúng thật phải không? Đáp: Bạch Ngài, đúng thật ạ. Hỏi: Nếu đúng thì cái gì được gọi là cái đúng thật đó? Đáp: **Danh và Sắc** chính là kẻ đọa địa ngục, và cũng chính chúng là thực thể chứng đắc Niết-bàn ạ. Hỏi: Quan niệm có kẻ giết người chết, và quan niệm không có kẻ giết người chết; trong hai thứ đó, cái nào gọi là Chánh kiến (sammā-diṭṭhi), cái nào gọi là Tà kiến (micchā-diṭṭhi)? Đáp: Bạch Ngài, nếu ngoài **Danh và Sắc** mà cho rằng có hay không có thì cả hai đều là Tà kiến ạ. Hỏi: Để trở thành Chánh kiến thì phải quan niệm như thế nào? Đáp: Bạch Ngài, nếu thấy chỉ có **Danh và Sắc** hiện hữu thì đó là Chánh kiến ạ. Hỏi: Người không biết về **nghĩa Chân đế (Paramattha)** thì liệu có thể viên mãn **Mười Pháp Ba-la-mật (Pāramī)** không? Đáp: Bạch Ngài, không thể viên mãn được ạ. Hỏi: Giữa **Chế định (Paññatti) và Chân đế (Paramattha)**, người chỉ biết Chế định có đắc được Đạo (Magga) không? ## TRANG 597 Đáp: Bạch Ngài, không thể đắc được ạ. Hỏi: Giữa **Chế định và Chân đế**, cái nào gọi là sự thật (chân lý)? Đáp: Bạch Ngài, chỉ có **Chân đế** mới được gọi là sự thật thôi ạ. Hỏi: Giữa Tà kiến và Chánh kiến, khi nào thì được gọi là Chánh kiến? Đáp: Bạch Ngài, kể từ khi thoát ly khỏi **Thân kiến (Diṭṭhi)** và **Hoài nghi (Vicikicchā)** thì trở thành Chánh kiến ạ. “Hừm... Sa-thú, Sa-thú (Lành thay)! Thật là đúng đắn và cao thượng thay, **U Kavi**! Những yếu tính tự nhiên này quả thực rất khó thấu hiểu, **U Kavi** ạ. Từ nay trở đi, bần đạo cũng muốn nỗ lực hành trì theo phương pháp và sự hướng dẫn (nissaya) của **U Kavi**. Để các thiện nam tín nữ có thể đóng cánh cửa ác đạo, hai vị **U Kavi** hãy tạm trú lại đây hết mùa an cư này nhé,” Ngài Re-le Sayadaw ngỏ lời... “Bạch Ngài, chúng con cũng đang trong lúc tìm cầu một bậc **Thầy nương tựa (Nissaya Sayadaw)** để gửi gắm, nghe lời Ngài dạy như vậy chúng con hết sức vui mừng,” sau khi thưa thỉnh, **U Kavi** và **U Vijaya** đã cùng lưu trú và tu hành tại chùa Re-le. ### Ngài Re-le Sayadaw đi sai đường luyện kim (alchemy) Ngài Re-le Sayadaw dường như là bạn đồng môn với Ngài Nyaung-lun Sayadaw, họ rất thân thiết. Ngài là bậc uyên bác kinh điển, cũng có hành thiền Minh sát (Vipassanā). Tuy nhiên, Ngài thường tụng niệm các lời sấm truyền (tabaung) và dấn thân vào việc luyện kim thuật (alchemy/pho). Ngài đã đi theo phương diện thế tục. Trong việc hành thiền, dường như Ngài cũng nôn nóng muốn đạt được **Thiền định và Thần thông (Jhāna-Abhiññā)**. Một ngày nọ, Ngài giảng giải về cách tu tập **Mười biến xứ (Kasiṇa)** theo đúng kinh điển cho **U Kavi** và bảo ông hãy quán chiếu mười loại biến xứ này. Cách tu tập biến xứ này bao gồm việc quán chiếu thuận nghịch (anuloma-paṭiloma) qua lại theo nhiều cách, theo ngôn ngữ kinh điển thì dường như rất khó khăn. Tuy nhiên, **U Kavi** chỉ mất một ngày để quán chiếu mười biến xứ và quay lại trình bày những gì mình chứng nghiệm được. Lúc đó, Ngài Sayadaw lại bảo **U Kavi** quan sát các trạng thái ngoại cảnh (**bahiddha**) khác nhau: “Liệu có vị thí chủ nào sẽ đến tu sửa bảo tháp Shwe Myin Tin, nơi được dùng làm đài quan sát hỏa tiêu cạnh bờ hồ Meiktila hay không?” Ý nghĩa của lời sấm truyền: “Khi ao cạn thì chim đậu, chim đậu thì lập ruộng, lập ruộng thì xuống cày.” Ngài cũng hỏi về ý nghĩa của các lời sấm: “Hơn hai ngàn năm cũ, giá rẻ hãy tranh mua. Qua năm ngàn năm ấy, vải đóng chẳng tìm ra.” (Lời tiên tri về sự khan hiếm giáo pháp/vải y sau 5000 năm).