## TRANG 601 Người hỏi tiếp tục trình thưa cho đến tầng thiền thứ năm. (Nên so sánh và nghiên cứu giữa cái biết qua kinh điển và cái biết thông qua thực hành.) Sư trưởng hỏi: "Vậy hãy khoan, thiền **Không vô biên xứ (Ākāsānañcāyatana)** lấy khái niệm hay thực tại làm đối tượng?" Đáp: "Bạch Ngài, lấy khái niệm (Panyat) làm đối tượng ạ." Hỏi: "Còn thiền **Thức vô biên xứ (Viññāṇañcāyatana)**?" Đáp: "Bạch Ngài, lấy thực tại (Paramat) làm đối tượng ạ." Hỏi: "Còn thiền **Vô sở hữu xứ (Ākiñcaññāyatana)**?" Đáp: "Bạch Ngài, lấy khái niệm làm đối tượng ạ." Hỏi: "Còn thiền **Phi tưởng phi phi tưởng xứ (Nevasaññā nāsaññāyatana)**?" Đáp: "Bạch Ngài, lấy thực tại làm đối tượng ạ." Sư trưởng hỏi tiếp: "Vậy khi tiến từ thiền **Không vô biên xứ** lên thiền **Thức vô biên xứ**, hành giả chú tâm vào đối tượng bên dưới hay đối tượng bên trên?" Đáp: "Bạch Ngài, chú tâm vào đối tượng bên dưới rồi mới tiến lên ạ." Khi đó, Sư trưởng nói: "Hèn chi... thật vô lý, đã tiến lên cấp trên sao lại còn chú tâm vào đối tượng bên dưới làm gì?" Ngài Kavi thưa rằng: "Bạch Ngài, con xin dâng một ví dụ. Giả như đằng kia có một đống phân lớn, vì sợ rơi vào đống phân đó mà người ta phải bám vào vật ở trên để leo lên. Cũng vậy, chính nhờ chú tâm vào tầng dưới (để thấy sự thô tháo/nguy hiểm) mà hành giả mới bám trụ để tiến lên tầng trên được ạ." Nghe vậy, Sư trưởng tỏ lòng hài lòng. Chính Ngài Kavi có lần từng thuyết rằng: "Hồi đó các Sư trưởng không hỏi tiếp, chứ nếu hỏi rằng: Trong cõi **Vô sắc (Arūpa-bhūmi)**, kinh điển vốn dạy không có khái niệm về sự không có mặt (Natthibhāva-panyat), nhưng cũng dạy rằng thiền này lấy khái niệm làm đối tượng, vậy lấy khái niệm nào và lấy như thế nào? Khi đó tôi sẽ đáp: 'Lấy khái niệm về sự không có mặt làm đối tượng'. Nếu hỏi tiếp làm sao chú tâm vào cái không có mặt, tôi sẽ chỉ vào một đồ vật nào đó và hỏi: Có thấy không? Thấy rõ chứ? Rồi tôi giấu nó đi và hỏi: Còn đó không? Không còn nữa. Tuy không còn nhưng hãy thử chú tâm vào cái đã thấy lúc nãy xem, có phải vẫn chú tâm được không? Đó chính là cách chú tâm vào khái niệm về sự không có mặt vậy." Cần lưu ý rằng với những người chuyên tâm tu tập (Hành), dù có vẻ như phần Kinh điển (Học) bị yếu đi, nhưng thực tế tuệ giác lại càng trở nên sâu sắc và sáng rõ hơn. ## TRANG 602 ### Ngài Kavi xuất gia Tỳ-kheo và phụng sự Giáo pháp Sau khi đã kiểm tra Ngài Kavi về kinh điển như vậy, Ngài Sư trưởng Ye-le đã khuyến khích Ngài Kavi nên xuất gia Tỳ-kheo. "Con vốn không am tường kinh chữ, cũng chẳng thiết tha học thêm nữa. Con chỉ muốn chuyên tâm quán tưởng đạo quả mình đã đắc được thôi. Bạch Ngài, con không cầu thọ giới Tỳ-kheo đâu ạ," Ngài Kavi từ chối. Nhưng Ngài Sư trưởng Ye-le khuyên bảo: "Này ông Kavi, không nhất thiết phải học làu thông Luật tạng, chỉ cần vâng nghe lời chúng tôi chỉ dạy là đủ. Công đức xuất gia Tỳ-kheo vô cùng lớn lao. Một bậc như ông mà bước vào hàng ngũ tăng đoàn, dù chỉ là một vị Tỳ-kheo hay hộ trì cho một ngôi giới đàn (Sima) thôi, cũng đủ mang lại lợi lạc to lớn cho chúng sinh." Ngài Kavi chấp thuận. Vào lúc 4 giờ 9 phút chiều tối thứ Hai, ngày 12 sau trăng tròn tháng Tabaung năm 1282 Miến lịch, tại tiểu giới đàn (Khandaka Sima) của ngôi chùa này, Ngài Kavi đã được thọ lễ **Cụ túc giới (Upasampadā)**. Buổi lễ do Ngài Sư trưởng Hin-yan-kan làm thầy Tế độ (Upajjhāya), cùng sự chủ trì của các Ngài Sư trưởng Ye-le, Nyaung-lun và hơn mười vị tăng đức. Vợ chồng ông Po, bà Kyi Nyo - những thương gia tại Meiktila - đã phát tâm làm thí chủ hộ giới cho Ngài Kavi và Ngài Vijaya gia nhập tăng đoàn. Đến năm 1283 Miến lịch, dân làng Sunlun đã thỉnh Ngài Kavi về thuyết pháp. (Về nội dung các bài pháp của Ngài Kavi, xin xem thêm trong phần Tiểu sử thảo). Do Ngài Kavi không am tường giáo điển nên khi giảng giải ý nghĩa hay thiết lập các khái niệm, Ngài thường dùng những ngôn từ dân dã nhất để diễn đạt. Ví dụ như "Vàng tâm" (để chỉ Vô minh - Avijjā), "Lìa lớp" (để chỉ Sa đọa - Apāya), vân vân. Tuy nhiên, về mặt bản chất thực tại (Paramat), Ngài không hề có một sai sót nào. Đối với những người không học giáo lý, cách giảng này lại càng dễ hiểu hơn. Còn với những bậc thông thạo kinh điển, một số thuật ngữ dân dã ấy trái lại còn làm bật lên hương vị của thực tại (A-tì-đàm) một cách sâu sắc hơn. Dù sao đi nữa, giữa một bậc thông thạo giáo điển rồi thành tựu pháp hành với một người không học mà thành tựu, vẫn có sự khác biệt lớn trong việc thưởng thức hương vị Pháp và cách thức truyền đạt lại cho người sau. Giống như hai người cùng đến một thành phố lớn, một người có kiến thức và một người không, dù cùng nhìn thấy những điều giống nhau nhưng sự cảm thụ và thấu hiểu sẽ không thể như nhau. Cũng vậy, khi trở về làng quê để chia sẻ lại trải nghiệm, sự khác biệt lại càng rõ rệt hơn. Trong thời đại mà người có thể đi xa đến các đô thị lớn là hiếm hoi, việc nương tựa vào một người dám dấn thân mở đường để rồi từ đó tạo nên một con đường thông suốt cho kẻ khác đi sau, quả thật là ân đức vô lượng. Tuy nhiên, việc nhận chân được sự thật đúng như nó đang là vẫn là điều tối cần thiết. Ngay cả giữa những người thông thạo giáo điển, trình độ hiểu biết và khả năng diễn đạt cũng khác nhau. Giữa các bậc **Thánh Dự lưu (Sotāpanna)**, giữa các bậc **Lục thông A-la-hán**, hay ngay cả giữa các bậc **Chánh Đẳng Giác** cũng có sự khác biệt. Đức Phật Gotama của chúng ta không có cùng tầm nhìn như Đức Phật Vipassī, cũng không có cùng hào quang rạng rỡ như Đức Phật Maṅgala. Điều này xuất phát từ sự khác biệt trong quá trình tích lũy công hạnh (**Ba-la-mật - Pāramī**). Do đó, không nên chấp thủ sai lầm rằng "chỉ có vị Phật của chúng ta mới là Phật". Mỗi vị đều thành tựu tùy theo năng lực và công hạnh riêng của mình. Vì lẽ đó, hành giả không nên chỉ tính toán sao cho xong công việc của một vị Tỳ-kheo trong kiếp này, mà khi có cơ hội, cần phải nỗ lực không ngừng nghỉ để bồi đắp nền tảng công đức như Bố thí, Trì giới, Từ tâm... sao cho khối lượng Ba-la-mật thật vững chắc, ngõ hầu dẫn đến Đạo Quả với năng lực mạnh mẽ hơn. Công hạnh Ba-la-mật thực hành trong thời kỳ có Giáo pháp (Sāsanā) còn cao quý hơn cả công hạnh Ba-la-mật của các vị Bồ-tát trong thời kỳ không có Giáo pháp. Một mặt phải không ngừng dũng mãnh thực hành các công hạnh Ba-la-mật thù thắng bất cứ khi nào có thể. (Về các nguồn sức mạnh căn bản như Bố thí, Trì giới, Thiền định, **Niệm Phật - Buddhānussati** cùng các câu chuyện thực tế, xin mời xem trong sách "Ân đức Tam Bảo"). ## TRANG 603 ### Bà Shwe Yi thỉnh cầu trong nước mắt Không lâu sau khi Ngài Kavi xuất gia và trở về Sunlun thuyết pháp, bà Shwe Yi đã tìm đến Meiktila. Bà khóc lóc thảm thiết, dùng đủ mọi lời lẽ khẩn cầu Ngài Kavi hoàn tục. Ngài Sư trưởng Ye-le sau đó kể lại: "Cái cách mà thí chủ của ông Kavi nói năng, than vãn rồi khóc lóc, khiến đến cả tôi cũng thấy mủi lòng muốn khóc theo." (Hãy lưu ý đến cái nghiệp luyến ái này). Cuối cùng, nhận thấy không thể lay chuyển được ý định của Ngài Kavi, bà Shwe Yi đành đưa ra bốn điều cam kết: 1. Phải cho bà được quyền làm thí chủ hộ độ bốn món vật dụng (tứ sự). 2. Khi bà thỉnh mời thuyết pháp, Ngài phải ban lời chỉ dạy. 3. Khi bà tự mình xây được chùa, Ngài phải trở về làng. 4. Ngài cũng phải cho bà được sống theo ý nguyện riêng của bà. Sau đó, vào năm 1284 Miến lịch, ông San Tin cũng tìm đến Meiktila và thưa với Ngài như lời đã nói trước đây rằng: "Ở phía Nam làng Sunlun, xưởng dệt lớn đã mọc lên rồi, kính thỉnh Ngài..."