## TRANG 625 Bạch Ngài. 571 “Sau khi quán xét và nhập định như thế gọi là **Walañcana Phala** (vui hưởng quả định). Từ nơi quả định đó mới có thể biết rõ ràng, thực sự vô cùng vi tế bạch Ngài. Thôi, con cũng đã mỏi rồi, xin được xoa bóp thêm chút nữa,” nói rồi Ngài trưởng lão Phak-pin-aing đi lên chùa. Ngài trưởng lão Mying-yan trả lời rằng: “Bậc đồng hành của Đạo chính là Niết-bàn.” Ngài U Dhammika không hài lòng với câu trả lời này, nên đã đi theo sau Ngài trưởng lão Phak-pin-aing lên chùa. Các vị tỳ-khưu, tăng chúng như Ngài U Puñña, Ngài U Jāgara cùng các thí chủ, sau khi nghe cách Ngài trưởng lão Phak-pin-aing hỏi chuyện Ngài trưởng lão Mying-yan, đều cảm thấy rất hoan hỷ và khởi tâm tịnh tín sâu sắc, họ cứ thế bàn tán xôn xao với nhau. ### Ngài U Dhammika bạch hỏi Ngài trưởng lão Phak-pin-aing Hỏi: Bạch Ngài trưởng lão, khi Đạo sát trừ **Samudaya-sacca** (Tập đế) tức là tham ái, Ngài trưởng lão Mying-yan trả lời rằng bậc đồng hành của Đạo chính là Niết-bàn, con không thấy hài lòng. Bởi vì trong **Magga-vīthi** (lộ trình tâm Đạo), Bốn Thánh Đế hiện khởi đồng thời theo cách của ngọn đèn (padīpa-naya), nên không chỉ có Niết-bàn là bậc đồng hành của Đạo, mà con nghĩ rằng **Dukkha-sacca** (Khổ đế) và **Samudaya-sacca** (Tập đế) cũng vẫn là bậc đồng hành của Đạo, bạch Ngài. Đáp: Không phải đâu ông Dhammika ạ. Theo như câu “**Maggo dukkhasaccaṃ pajānāti**”, việc Đạo liễu tri **Khổ đế**, sát trừ **Tập đế**, tu tiến **Đạo đế**, và chứng ngộ **Diệt đế** là phận sự của Đạo (magga-kicca), là năng lực bản tính của Đạo, chứ chưa phải là bậc đồng hành. Hỏi: Bạch Ngài, nếu vậy theo như phần Pariññā-vāra trong bộ Yamaka, ba loại liễu tri là **Ñāta-pariññā** (Tri biến tri), **Tīraṇa-pariññā** (Thẩm sát biến tri), và **Pahāna-pariññā** (Đoạn tận biến tri) đều đạt được đồng thời trong sát-na Đạo, vậy không nên gọi ba loại liễu tri đó là bậc đồng hành của Đạo sao bạch Ngài? Đáp: Chỉ vì cùng hiện khởi đồng thời mà gọi là bậc đồng hành của Đạo thì không đúng đâu ông Dhammika. Gọi là bậc đồng hành nghĩa là phải nương nhờ lẫn nhau. Hỏi: Nếu nương nhờ lẫn nhau được gọi là bậc đồng hành, thì theo như câu “**Cittena niyuttaṃ cetasikaṃ**” (tâm sở là pháp tương ưng với tâm), vậy không nên gọi 36 tâm sở cùng tương ưng đồng hành với Đạo là bậc đồng hành của Đạo sao bạch Ngài? Đáp: 36 tâm sở đó cũng chưa phải là bậc đồng hành của Đạo, chúng chỉ mới là “**Sahakārī-kāraṇa**” (đồng sinh duyên) thôi. Trong việc sát trừ **Tập đế**, để tạo sức mạnh cho Đạo, ## TRANG 626 chúng không phải là chỗ nương tựa, là nơi để cậy trông, nên chưa gọi là bậc đồng hành. Hỏi: Vậy xin Ngài hãy chỉ dạy cho con hiểu rõ về bậc đồng hành của Đạo là như thế nào. Đáp: Này, trong **Magga-vīthi** (lộ trình tâm Đạo), sau khi ý môn hướng tâm sinh khởi, các tâm tốc hành Parikamma (Chuẩn bị), Upacāra (Cận định), Anuloma (Thuận thứ) đi cùng với **Saṅkhārupekkhā-ñāṇa** (Hành xả tuệ) làm phận sự gột sạch các phiền não, khi đó Gotrabhū (Chuyển tộc) nhìn thấy Niết-bàn. Lúc này Gotrabhū ra dấu rằng “Niết-bàn ở đây”, theo dấu hiệu của Gotrabhū, Đạo nương nhờ vào Niết-bàn mà Gotrabhū đã chỉ ra đó làm chỗ dựa vững chắc để sát trừ tùy miên phiền não (anusaya) đấy ông Dhammika ạ. Những điều ông Kawi nói thật đúng đắn, đó là những chỗ vô cùng vi tế. [ Theo ví dụ về bông gòn, thấu kính và mặt trời, có thể nói rằng nhờ có sự trợ giúp của pháp Vô vi (Asaṅkhata-dhātu) mà Đạo mới có thể thiêu rụi phiền não. Do đó, việc lấy Trí tuệ là ý nghĩa của “**Dhamma-dhātu**” (Pháp giới) trong chú giải chỉ là cách nói hoán dụ (upacāra) như đã trình bày. ] ### Một lần nữa lại cùng nhau chất vấn 1. Ngài U Nārada (trụ trì chùa Ngamyagyi). 2. Ngài U Sāsana (trụ trì chùa Ngamyagyi). 3. Ngài U Nārada (trụ trì chùa Si-mi-khon). 4. Ngài U Nanda (trụ trì chùa Myin-tha). Bốn vị trụ trì này cùng nhau bàn bạc, rồi ở giữa hội chúng, họ lại một lần nữa chất vấn Ngài trưởng lão Mying-yan như sau: Ngài U Sāsana: Ngài đã từng học pháp học (sách vở) chưa? Ngài trưởng lão Mying-yan: Bạch Ngài, con chưa từng học. U Sāsana: Nếu vậy thì làm sao biết hành thiền quán (Vipassanā)? Ngay cả Giới tịnh (Sīla-visuddhi) và Tâm tịnh (Citta-visuddhi) còn chưa biết thì làm sao. Mying-yan: Con chỉ biết rằng các bậc thầy dạy điều gì không nên làm thì con thậm chí không chạm tay vào, bạch Ngài. U Nārada (1): Theo như trong kinh văn “**Āvāso ca ... iddhi ti te dasa**”, Ngài có đoạn trừ 10 pháp chướng ngại (palibodha) không? Mying-yan: Con hành thiền từ khi còn là cư sĩ, sau khi trở thành sa-di không lâu thì con đến chỗ các Ngài trưởng lão Yay-lel và Nyaung-lun. Ở đó con không làm việc gì khác, chỉ sống theo lời chỉ dạy của các Ngài, sau đó thì con được thọ cụ túc giới, bạch Ngài. U Sāsana: Vậy nếu Ngài không thông suốt kinh điển, làm sao Ngài có thể hành thiền quán một cách đúng đắn được? Mying-yan: Con chỉ làm theo những gì các bậc thầy truyền dạy thôi. ## TRANG 627 U Nārada (1): Ôi, những người đắc đạo thời Đức Phật đâu phải ai cũng thông suốt kinh điển, quan trọng là đi đúng đường. U Nārada (3): Tin tức về Ngài vang xa lắm, nói rằng Ngài đã đắc quả A-la-hán. Tuy nhiên, nếu Ngài nói rằng mình không thông suốt kinh điển, thì một số thí chủ và tỳ-khưu sẽ cho rằng không cần học pháp cũng có thể đắc Đạo Quả, coi việc học là dư thừa. Nếu không ai chịu học nữa thì giáo pháp Pháp học (Pariyatti-sāsana) chẳng phải sẽ tiêu vong sao? Khi Pháp học tiêu vong thì Pháp hành (Paṭipatti) và Pháp thành (Paṭivedha) cũng sẽ tiêu vong theo. Nếu quả thực Ngài là bậc A-la-hán như chúng tôi nghe nói, thì không nên nói từ “không biết kinh điển”, mà nên nói theo một cách tế nhị (pariyāya) khác. Nếu giáo pháp tiêu vong thì bậc Thánh chẳng phải sẽ đau lòng hơn cả hạng phàm phu sao? Mying-yan: Bạch Ngài, vì con không biết nên con mới nói là không biết. Đối với những vị đang học tập Pháp học, con vẫn thường cúng dường y bát và khuyến khích họ đấy chứ. U Nārada (1): Ôi... người ta hỏi Ngài có biết kinh điển hay không, chẳng lẽ không biết mà Ngài lại phải nói dối là biết sao? U Nārada (3): Xin Ngài hãy lắng nghe, để tôi nói tiếp. U Nārada (1): Ôi... chỉ vì Ngài nói thật về bản thân mình mà cả ba phương diện giáo pháp phải bị tiêu vong sao? U Nārada (3): Hãy khoan đã ông U Nārada, chuyện đó để nói sau, để tôi hỏi Ngài Mying-yan tiếp đã. U Nārada (1): Ôi... các Ngài nói không đúng rồi. Thời Đức Phật chẳng phải có hai vị tỳ-khưu là bạn của nhau đó sao? Một vị là bậc A-la-hán, một vị là bậc thông suốt Tam Tạng kinh điển. Vị thông suốt Tam Tạng mới nghĩ rằng người bạn của mình không học hành gì, chỉ sống theo ý mình nên định chất vấn bậc A-la-hán. Đức Phật sợ vị đó phạm lỗi với bậc A-la-hán nên Ngài đã đứng ra đặt câu hỏi. Hãy xem đó, nếu đi đúng đường và đạt đến đích rồi thì không ai có thể hiểu rõ lộ trình thiền quán hơn họ đâu. U Nārada (3): Khoan đã ông U Nārada, để tôi hỏi Ngài Mying-yan trước cái đã. Này, để cho ba phương diện giáo pháp được trường tồn lâu dài, Ngài nên dùng một cách nói tế nhị hơn là nói mình không học kinh điển. Mying-yan: Bạch Ngài, con cũng chỉ nói theo sự thật thôi. U Nārada (3): Vậy Ngài hãy học kinh điển đi, chẳng phải nếu Ngài vừa thông suốt kinh điển vừa giảng dạy thì giáo pháp sẽ càng hưng thịnh hơn sao? Mying-yan: Con tin rằng do quả của nghiệp (vipāka) nên con mới không học được, và con cũng không có ý muốn học...