## TRANG 634 580 Dhammācariya **U Htay Hlaing** Để có thể làm chủ được Đối tượng Tương tự (paṭibhāga-nimitta), người hành giả cần thực hành "biến hóa" định tướng (nimitta) rất nhiều: như cho nimitta ăn mòn cơ thể mình, dần dần mở rộng nimitta lan tỏa cho đến tận bức tường của luân hồi (vũ trụ), rồi lại thu hồi nymitta trở lại, v.v. Tuy nhiên, Ngài không quá chú trọng vào các tầng Thiền định (jhāna). Ngài hướng dẫn hành giả chuyển sang Minh sát (vipassanā) để đạt được Đạo, Quả và Niết-bàn. Liên quan đến An chỉ Định (appanā jhāna), trong cuốn sách "Yogī Pāragū" (xuất bản năm 1315 Miến lịch - 1931-1932 DL) có ghi rằng: "Khi các thiền sinh cầu vấn bậc Ân sư cách thức để chứng đạt An chỉ Định, các Ngài chỉ thuyết giảng theo phương pháp trong kinh điển. Còn về bí quyết cốt lõi (hatthamuṭṭhi) — cách thức đưa bốn đại vào bên trong nội thân — các Ngài không thị hiện, nên kẻ hèn này tuyệt nhiên không dám viết ra." Về quan điểm đối với Thiền định (jhāna), tại trang 44 của cuốn sách đó có ghi: "Dù muốn đạt được Thiền định, nhưng vì tâm niệm rằng đây không còn là thời kỳ (thời đại) thích hợp cho việc đó, nên hành giả nên nỗ lực đạt đến Cận định (upacāra samādhi) là đã đủ cơ sở để tiến lên tu tập tuệ Minh sát, v.v." Lại tại trang 45, tác giả nhận định: "Ngoại trừ chú giải Culla-vagga, trong quan điểm của bốn bộ Chú giải lớn khác vào thời kỳ thứ ba, vẫn còn thấp thoáng bóng dáng của Tam Minh (tevijjā). Tam Minh là loại Thắng trí (abhiññā) phát sinh ngay sau tầng Thiền thứ năm, cho nên vẫn còn hy vọng đạt được từ tầng Thiền thứ nhất trở đi. Dù là vậy, (hiện nay không còn vị thầy nào có thể thực chứng và chỉ dạy điều đó)." Bên cạnh đó, các bằng chứng cho thấy có rất nhiều vị đại hành giả (Yogī) ngoại đạo tại Ấn Độ đạt được tầng Thiền thứ tư có thể được tìm thấy trong các cuốn sách kể về những cuộc gặp gỡ với các hành giả Ấn Độ của Tiến sĩ Paul Brunton. Về vấn đề Niết-bàn, trong cuốn "Yogī Pāragū" cũng phân loại và giải thích rõ ràng về các loại ánh sáng khác nhau thường gây nhầm lẫn cho trí tuệ của hành giả; đây là những điểm cực kỳ đáng lưu tâm và suy ngẫm. Liên quan đến bốn Đạo (magga-catukka) và bốn Diệt (nirodha-catukka), ngay trong chương "Niết-bàn" này, người ta cũng tìm thấy các phương pháp của Ngài Kanni Sayadaw **U Sīlatissa** được trình bày. ### Các đức tính và thói quen của Ngài Sayadaw Ngài Sayadaw cực kỳ tôn trọng Giới luật (vinaya). Ngài cũng chỉ hài lòng khi mọi việc được thực hiện đúng luật. Khi cúng dường vật thực, nếu dùng đĩa có vết nứt hay sứt mẻ, Ngài sẽ từ bỏ luôn cả vật thực lẫn chiếc đĩa đó. Ngài thực hành nghiêm túc giới sanni-dhi (không tích trữ thực phẩm qua đêm) theo lời dạy "không được để lại phần ăn trưa cho bữa tối". Ngay cả những điều học nhỏ nhặt nhất, từ khi còn trẻ, Ngài đã luôn đặc biệt chú ý tránh phạm và nghiêm túc tuân thủ. Một số hành giả dựa vào lời dạy **“Oramattakaṁ sīlaṁ”** (so với Định và Tuệ thì Giới là ## TRANG 635 581 hạng thấp kém) mà hiểu sai lệch, hoặc cho rằng: "Khi đang ghi nhận đề mục thì ba chi đạo của Giới (Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng) đã tự động bao gồm rồi, nên Giới không quan trọng đến thế". Việc Giới tự động bao gồm trong định lực là đúng, nhưng để luôn luôn duy trì sự tỉnh giác và giữ giới thì không hề dễ dàng. Giới ví như chân và tay (carana). Không có chân tay thì chẳng làm được việc gì. Minh họa rõ nhất là người đi xe đạp: nếu tay không vững, chân đạp lên xuống mà lưng không giữ được thăng bằng thì không thể đi được. Khi đã làm chủ được chân, tay và lưng, chỉ cần đạp một cái là xe tự chạy theo đà. Lúc đó không cần nỗ lực đặc biệt để đạp hay giữ tay lái nữa, vì mọi thứ đã tự động vận hành trong đà đó rồi. Hành giả nên hiểu và thực hành theo cách này. Để có được niềm hỷ lạc lớn lao từ việc giữ Giới thanh tịnh, hãy phát nguyện giữ giới một cách cung kính bằng lời nói (samādāna-viratī), và hãy thường xuyên quán xét lại giới hạnh của mình (sīlānussati). Niềm hỷ lạc đặc biệt phát sinh từ đó chính là một khối thiện sự vô cùng to lớn. Khi các thí chủ thân thiết thỉnh mời cúng dường vật thực, Ngài Sayadaw thường nhắc nhở họ hãy tìm các hang hốc để cho chim chóc, muông thú, chó và kiến ăn nữa. Tại tu viện, việc này được thực hiện hàng ngày. Nếu có đường thốt nốt, Ngài bảo tìm tổ kiến để cho chúng ăn. Nếu không còn cơm thừa cho chó, phải nấu gạo pha thêm chút dầu để cho chúng ăn. Ngay cả chuột cũng được Ngài cho ăn. Ngài còn bảo mua rơm cúng dường cho những con bò đi lạc. Tuy nhiên, đối với hành giả, cần suy xét để không tự tạo ra những chướng ngại (palibodha) không cần thiết, làm xao nhãng việc hành trì chính. Không nên bám chấp một chiều theo quan niệm "Āciṇṇakappo" (mọi việc thầy làm đều đúng). Khi có khách tăng đến, nếu có dư y bát, Ngài thường mang ra biếu tặng. Ngài thường răn dạy các vị Sa-di và **Tỳ-khưu** giúp việc nhận và chuyển đồ rằng: "Đừng để tâm bủn xỉn ngăn trở ở giữa, nếu không sau này sẽ rơi vào cảnh giới không thể thốt nổi một lời tùy hỷ (sādhu) đâu." Ngài yêu thích việc thực hiện các thời khóa bái Phật một cách tôn kính. Bản thân Ngài, từ nơi ở của mình, luôn hướng về bốn phương để dâng đèn cúng dường và lễ bái các bảo tháp xa xôi như Shwedagon ở Yangon, Mahācetiya ở Sri Lanka... rồi mới đi nghỉ. Ngài cũng dâng đèn cúng dường tất cả các ngôi chùa trên núi và trong thành phố bằng sự tưởng niệm hướng tâm. Một lần nọ, có một vị sư khách đến thăm... Ngài hỏi: "**Ông Pazin** (Tỳ-khưu), một ngày ông bái Phật mấy lần?". Vị sư thưa rằng lễ bái sáng 3 lần, tối 3 lần. Ngài hỏi tiếp: "Vậy một ngày ông ăn mấy bữa?". Vị sư thưa có 10 bữa (tính cả các bữa nhẹ/vật thực cho phép). Ngài liền ## TRANG 636 582 phán rằng: "Hóa ra số lần ông bái Phật còn chẳng nhiều bằng số lần ông ăn cơm." Dhammācariya **U Htay Hlaing** (nhận định) Khi đã ngoài 88 tuổi, Ngài chỉ nghỉ ngơi vừa đủ để duy trì sức khỏe, thời gian còn lại Ngài dành trọn cho việc ôn tầm kinh sách và hành thiền Minh sát. Ngài thường dạy rằng: "Hãy sống sao cho có công đức (kusala), đừng để tầm tứ (vitakka) bất thiện xen vào, đừng để một lời nói nào thốt ra mà rời xa quy luật Vô thường (anicca)." ### Liên quan đến việc đắc chứng Pháp đặc biệt Một ngày nọ, khi Ngài Sayadaw đang đi kinh hành, một thí chủ từ làng Mè-din đến bạch rằng: "Bạch Ngài, mọi người đang đồn đại Ngài là bậc A-na-hàm (Anāgāmī)". Ngài liền đáp: "Ờ... đúng rồi đó, tôi đang 'A-na-khâm' (chịu đựng đau đớn) để mà đi bộ đây này" (Một cách chơi chữ trong tiếng Miến: Anāgāmī và Anā-khan - chịu đựng đau đớn). Ngài cực kỳ giữ bí mật về sự chứng đắc của mình. Có lần, một người học trò đã hoàn tục từ làng Bant-pway đến bạch: "Con nằm mơ thấy ban đêm trên đỉnh núi có những đoàn người cưỡi ngựa, che lọng trắng đi xuống rồi biến mất". Khoảng 2 năm trước khi viên tịch, Ngài đã ngăn người này: "Con đừng đi kể chuyện này với người khác." Hiện nay, hai vị tôn túc được tôn vinh là "Bậc Thánh A-la-hán" tại cốc Parakkama phía Đông và phía Tây của dãy núi Sagaing đều là đệ tử của Ngài. Khoảng 2-3 tháng trước khi viên tịch, khi hai vị này đi bộ đến Kanni để đảnh lễ Ngài... Họ tha thiết thỉnh cầu: "Bạch Ngài, nếu từ vô lượng kiếp luân hồi cho đến tận hôm nay, chúng con có điều gì sơ suất phạm lỗi qua thân, khẩu, ý, xin Ngài từ bi lân mẫn hỷ xả cho chúng con." Ngài đáp: "Các vị không có lỗi lầm gì với tôi cả. Trái lại, nếu tôi có điều gì sơ suất thì chính các vị hãy hỷ xả cho tôi." Sau đó Ngài im lặng suy nghĩ một hồi rồi nói thêm một câu kỳ lạ: "Thôi... các vị hãy đảnh lễ cho thỏa lòng đi, vì sau này sẽ không cần đảnh lễ nữa đâu." Quả nhiên không lâu sau đó Ngài viên tịch. Thọ 88 tuổi, 68 hạ lạp. Ngài viên tịch vào lúc 11:30 sáng ngày mùng 1 tháng Tagu năm 1328 Miến lịch (1966 DL). Lễ Trà tỳ (hỏa táng) được tổ chức vào ngày rằm tháng Tagu năm 1329 Miến lịch. Trước đó Ngài từng dặn: "Khi tôi mất, đừng để xác nhiều ngày, đừng làm lễ rình rang, cũng đừng làm lễ dâng cơm cầu siêu."