## TRANG 643 **Thuyết pháp định tâm cho vị Thống giáo** Vào khoảng năm 1300 (Miến lịch), Ngài trụ trì trường thiền Sè-gyi-daw đã đến vấn an và đảnh lễ Ngài Đại Trưởng lão Thống giáo Taung-khwin tại Mandalay. Ngài U Hmin-khè, thầy giáo thọ của Ngài Sè-gyi-daw, vốn là một bậc đa văn túc học, đồng thời cũng là bạn đồng học thời trẻ với Ngài Thống giáo Taung-khwin. Thời điểm ấy, Ngài Thống giáo đã khiếm khuyết thị lực. Khi nghe tin người bạn đồng học U Hmin-khè đã viên tịch, Ngài không khỏi bùi ngùi xúc động và bảo rằng: “Ngài trụ trì Thìm-taung, hãy tiến lại gần đây.” Nói rồi, Ngài nắm chặt lấy tay vị Trưởng lão, cảm giác như thể vừa được hạnh ngộ lại người bạn cũ U Hmin-khè. Ngài Thống giáo khẩn khoản: “Bạch Ngài Thìm-taung, xin Ngài hãy thuyết giảng pháp hành cho tôi.” Dù Ngài Thìm-taung đã nhiều lần từ tốn chối từ vì biết Ngài Thống giáo vốn là bậc quảng kiến, nhưng do lời thỉnh cầu khẩn thiết, Ngài đã y chiếu theo lời dạy của các bậc thầy tại In-ma-gyi, Ledi và Thè-kya-taung mà thuyết giảng trọn vẹn. Ngài Thống giáo vô cùng hoan hỷ, đồng thanh sa-thủ (Sādhu) và khẩn cầu: “Xin Ngài hãy lưu lại đây đêm nay và tiếp tục thuyết giảng vào buổi tối cho tôi được nghe thêm.” Vì lẽ đó, Ngài đã ở lại một đêm để tiếp tục pháp thoại. Ngài Thống giáo cũng chia sẻ rằng: “Trước đây, Ngài Trưởng lão trụ trì chùa Khin-ma-kan (vị thông thuộc Tam Tạng ở phía Đông kinh thành) là Ngài U Kha từng chỉ dạy tôi hành thiền rằng: Ban ngày nên quán Aloka-kasina (đèn quang), ban đêm nên quán Tejo-kasina (đèn lửa). Ngài dạy rằng Uggaha-nimitta (thủ tướng) và Patibhaga-nimitta (tợ tướng) rất dễ phát sinh, và khi tôi hành trì theo lời dạy ấy thì quả thực đạt được định lực rất nhanh chóng.” Sau đó, Ngài Thống giáo còn mời Ngài đến thuyết pháp thêm một lần nữa. (Qua đó có thể thấy được định lực và pháp lực của Ngài trưởng lão Thìm-taung cao thâm đến nhường nào). **Pháp hành dễ bị sai lệch trong gang tấc** Sự tu tập vắng lặng (Samatha) và tuệ quán (Vipassanā) vốn rất vi tế, chỉ cần sai lệch một chút là đi lầm đường. Nhờ nương tựa vào các bậc minh sư, Ngài Trưởng lão đã trở thành một vị thầy đáng tin cậy trong thế giới tu đạo (Patipatti). Ngay cả những bậc đa tài toàn vẹn như thế đôi khi cũng gặp phải những sự đánh lừa vi tế, khiến việc đưa ra quyết định xác thực trở nên khó khăn. Đó là tình trạng chưa chứng đạt quả vị nhưng lại lầm tưởng mình đã đắc đạo (**Adhimāna** - Tăng thượng mạn), hay bị ảnh hưởng bởi các loại năng lượng xáo trộn. ## TRANG 644 Vấn đề này đã được ghi chép lại trong tác phẩm “Nibbāna Paung-choke Kyan” (Luận giải tổng hợp về Niết-bàn) và được đính kèm ở phần phụ lục như nguyên bản để mọi hành giả (Yogi) đều có thể lưu tâm cảnh giác. (Theo sổ tay chép tay của Ngài Trưởng lão cũng như lời kể của ông U Kar Nyein và những người khác về việc Ngài gặp gỡ những bậc có thần thông, các loài phi nhân, hay việc xá-lợi tỏa hào quang rực rỡ trước khi xây dựng tháp Thìm-taung, hoặc dự tri việc mái chùa sắp sập mà kịp thời gọi đệ tử rời đi... Những câu chuyện kỳ diệu và đầy lòng thành kính này, vì lẽ không phải ai cũng có thể tin nhận hoàn toàn, nên chúng tôi xin phép không ghi chép vào đây.) **Bút ký chép tay đặc biệt** Như đã trình bày, chúng tôi có dịp đọc qua những dòng chữ mờ nhạt viết bằng bút chì trên các tập vở của Ngài Trưởng lão, qua đó thấy được thói quen ghi chép tỉ mỉ, tường tận của các bậc tiền bối. Trong đó có cả những ghi chép về tương lai của Giáo pháp, nhưng nhiều nhất vẫn là về pháp hành. Giữa những mẩu ghi chép ngắn ngủi ấy, đoạn văn sau đây là đáng chú ý nhất. Đoạn văn này bao hàm cả sự nghiệp phụng sự nhân sinh (Lokattha Cariya) lẫn những trải nghiệm tâm linh cá nhân của Ngài. “Ngày Rằm tháng Nat-daw năm 1308 (Miến lịch), đêm Chủ nhật, có hiện tượng nguyệt thực (La-nga-pote phàm). Đây là điềm lành đặc biệt cho dân tộc Miến Điện. Sau đó vào ngày mùng 3 tháng hạ huyền (thứ Tư), ngày kỷ niệm Đức Phật thành đạo thắng ma vương, sau khi dâng cúng vật thực đến 31 vị Tăng (Sangha Dana), chúng tôi đã tiến hành nghi thức Abbhana (phục vị) tại giới đàn nước (Yae-theima) của tu viện Sè-gyi, thành tựu viên mãn và đạt đến đỉnh cao nhất.” (Đoạn văn này được viết riêng biệt trên một tờ giấy, không liên kết với các nội dung khác.) Ngài Trưởng lão Sè-gyi-daw, vị Phó lãnh đạo kiêm Giáo thọ sư (Ovadacariya) của giáo khu Thìm-taung Taw-ya, đã viên tịch vào lúc 7 giờ sáng ngày 14 tháng thượng huyền tháng Tazaungmon năm 1312 (Miến lịch), hưởng thọ 78 tuổi. Lễ tang cuối cùng (Antima Jhapana) được tổ chức trang trọng vào ngày Rằm tháng Pyatho với nghi thức cúng dường thực phẩm bốn phương (Catudisa), dâng cúng y tam (Dvipanna) theo số tuổi đời của Ngài và các buổi thuyết giảng cúng dường pháp bảo. ## TRANG 645 **Vị "Alahan" nữ trẻ tuổi** [Các ví dụ về trường hợp lầm tưởng là bậc Thánh khi phiền não thô (**Vitikkama kilesa**) tạm thời lắng dịu] Nay tôi xin trình bày những điểm trọng yếu mà các vị Tăng Ni và hành giả cư sĩ đang tu tập hiện nay cần đặc biệt lưu tâm. Có hai thầy trò vị tỳ-khưu thông hiểu kinh điển, sau khi nỗ lực hành thiền tinh tấn đến mức quên mình, đã lầm tưởng mình đã chứng đắc bốn Đạo bốn Quả. Cả hai thầy trò đều đồng thuận với quyết định này và đã đến gặp tôi (tác giả) để trình bày. Ngài đã giảng giải lại rằng: “Khi tuệ quán (Vipassanā-ñāṇa) của hành giả trở nên cực kỳ sắc bén và mạnh mẽ, sự quán chiếu về nỗi khổ (**Dukkha**) trên danh và sắc đạt đến mức độ sâu sắc, khiến các phiền não bộc phát ra thân và khẩu (Vitikkama) cũng như phiền não khởi lên trong tâm (**Pariyutthāna**) tạm thời biến mất. Chừng nào tuệ quán của hành giả còn mạnh mẽ và sắc bén, các phiền não thô (**Vitikkama kilesa**) có thể ẩn tàng trong suốt một tháng, năm tháng, thậm chí một năm hay bảy năm. Khi ấy, nếu chưa dùng Đạo trí để thực sự đoạn trừ phiền não ngủ ngầm (**Anusaya**), tâm của hành giả rất dễ rơi vào ảo tưởng (**Adhimāna**) mà tự khẳng định mình đã đắc quả.” (Đây là lời giáo huấn mà Ngài Đại Trưởng lão Ledi từng chỉ dạy). Dù đã được giảng giải như vậy, hai thầy trò vẫn không thay đổi định kiến của mình. Mãi về sau, khi vị đệ tử cùng một hành giả khác thảo luận chi tiết về các trạng thái sinh diệt trong suốt ba, bốn ngày liên tục, họ mới nhận ra rằng việc tự quyết định mình đã đắc bốn Đạo bốn Quả là sai lầm. Sau đó, hai thầy trò đã quay lại báo với Ngài rằng họ đã bắt đầu hành thiền lại từ đầu. Ngoài ra, còn có một trường hợp khác về một nữ tu (Sayalay) và một nữ cư sĩ. Trong đó, vị nữ tu trẻ tuổi được vị thầy của mình khẳng định là đã đắc bốn Đạo bốn Quả và trở thành bậc “Alahan ni”. Vị thầy ấy đã gọi tất cả Tăng Ni và cư sĩ trong tu viện đến để đảnh lễ cô. Tuy nhiên, vì không tin tưởng nên mọi người đã không làm theo. Khi nghe tin đó, tôi đã đích thân đến kiểm tra và xác thực sự việc như đã thấy. Bên cạnh đó, lại có một nữ hành giả cư sĩ khác, trong lúc hành thiền... ---