## TRANG 658 #### 604 **Dhamma-cariya U Htay Hlaing** Vì đúng lúc Ngài Sư trưởng đi khất thực nên tỳ-kheo U Vāsava và các thí chủ phải đợi tại chùa. Khi Ngài Sư trưởng trở về, Ngài thọ thực và phán rằng: “Lúc đang đi khất thực, nghe tiếng xe máy nổ, ta đã thinh thích đoán rằng chắc là tỳ-kheo Vāsava đến rồi”. Lúc bấy giờ, một vị lãnh đạo hội đồng làng từ ngôi làng mà Ngài Sư trưởng thường đi khất thực cũng đến đảnh lễ Ngài. Vị ấy đứng gần bên, cung kính chiêm bái lúc Ngài đang thọ thực. (Tôi nhớ mang máng tên vị ấy là **U Ba San**, không được chắc chắn lắm). Vị này thường xuyên đến đảnh lễ Ngài như thế. Một lát sau, Ngài Sư trưởng bảo **U Ba San**: “Này, con về đi”. **U Ba San** chưa về ngay mà lùi lại phía sau một chút, tiếp tục thành kính chiêm bái. Dù Ngài lại bảo: “Con về đi chứ”, nhưng **U Ba San** chỉ đáp: “Bạch Ngài, vâng ạ”, rồi lại dời ra ngồi ở một chỗ xa hơn một chút để tiếp tục chiêm bái. Chỉ đến khi Ngài nhắc lại lần nữa: “Con vẫn chưa về sao?”, khi ấy **U Ba San** mới đảnh lễ rồi trở về nhà. Vừa về đến nhà, vị ấy thấy có những vị khách vì việc công vụ đã đợi mình suốt hai tiếng đồng hồ và đang định ra về. Công việc đó bắt buộc phải có chữ ký của **U Ba San** mới xong nên họ đã phải chờ đợi. Điều đáng kinh ngạc hơn nữa là, chỉ khoảng mười phút sau khi **U Ba San** rời khỏi chùa, toán quân phiến loạn đã ập vào trong chùa. Nếu chúng gặp được vị lãnh đạo làng là **U Ba San** ở đó, chắc chắn chúng sẽ không để yên. Sau đó, tỳ-kheo **U Vāsava** đã kể lại chuyện này khi từ chùa trở về và **U Ba San** mới được biết. “Hóa ra đó là lý do vì sao Ngài Sư trưởng lại xua đuổi tôi một cách quyết liệt, điều mà Ngài chưa từng làm trước đây”, **U Ba San** thầm nghĩ. Tỳ-kheo **U Vāsava** cũng nói thêm: “Ngài Sư trưởng có tuệ nhãn nhìn thấu cả hai phương diện vậy”. Ý nói Ngài thấy được cả mối nguy hiểm từ kẻ thù lẫn việc những vị khách đang khẩn cấp chờ đợi. Sau những tin tức như thế, số người tìm đến đảnh lễ Ngài Sư trưởng ngày càng đông đảo. Các thí chủ từ Yangon cũng đã nhiều lần thỉnh mời Ngài về Yangon. Về việc này, Ngài Sư trưởng đã phán như sau: “Nếu cứ thỉnh ta vào chốn nhân gian đông đúc như vậy thì ta không đi được. Nếu cứ hễ được thỉnh là đi thì lợi ích của ta sẽ bị suy giảm mất. Pháp (Dhamma) chính là sự hội đủ của bốn pháp: **Saddhā** (Tín), **Viriya** (Tấn), **Paññā** (Tuệ), **Samādhi** (Định). ## TRANG 659 **Các bậc Alahan và những hạng người đặc biệt** #### 605 Chỉ khi bốn pháp này hòa hợp thống nhất thì mới chứng đắc được Pháp đặc biệt (Magga-Phala). Nếu không hòa hợp thì không thể đắc được. Hãy nhìn tôn giả **Ānanda** xem, việc ngài đi vào chốn nhân gian và nhận sự chiêm bái của mọi người liệu có dễ dàng tương xứng với bốn pháp này chăng?” Lời giáo huấn này là điều mà những hành giả (yogī) chưa hoàn tất phận sự cần phải lưu tâm. ### Những trải nghiệm thực tế đáng cung kính khác Về Ngài Sư trưởng Thabeit-aing, tôi xin được trình bày thêm những chuyện phi thường và đáng cung kính chưa từng có trong các sách vở, theo như đã được nghe từ các vị đại đệ tử của Ngài. Những nội dung dưới đây là những lời mà các vị liên quan trực tiếp đã thưa lại với tỳ-kheo **U Vāsava** (trú tại chùa Kyar-taw-gyi, thị trấn Nyaung-lay-pin), vị đại đệ tử của Ngài Sư trưởng; và sau đó tỳ-kheo **U Vāsava** đã thuật lại cho chúng tôi. Ngài Sư trưởng chùa Kyar-taw-gyi **U Vāsava** vốn chỉ được ở cùng Ngài Sư trưởng Thabeit-aing từ thời còn là Sa-di, sau đó hai thầy trò xa cách và tỳ-kheo U Vāsava không còn biết Ngài Sư trưởng cư ngụ tại thành phố hay làng mạc nào nữa. Thời gian trôi qua hơn năm mươi năm, tỳ-kheo đã hoàn toàn không còn tin tức gì. Mãi đến năm 1327 (Miến lịch), hai vị mới gặp lại nhau lần đầu tiên. Chuyện gặp lại diễn ra như sau: Vì những tin tức nhiệm mầu về Ngài Sư trưởng, các thiện nam tín nữ ở Nyaung-lay-pin đã nhiều lần đi đảnh lễ Ngài. Biết rõ tỳ-kheo **U Vāsava** đang ở Nyaung-lay-pin nên Ngài Sư trưởng đã nhiều lần hỏi các thí chủ rằng: “Các con ở Nyaung-lay-pin mà không biết vị tên là **U Vāsava** sao?”. Sau đó các thí chủ mới về thưa lại với tỳ-kheo **U Vāsava**. ### Gặp lại trong nỗi buồn vui lẫn lộn Tỳ-kheo **U Vāsava** khi ấy chưa từng nghe danh hiệu “Ngài Sư trưởng Thabeit-aing”, và khi hỏi về hình dáng thì trong lòng vẫn không thể xác định được, tâm trí còn nhiều phân vân. Do được hỏi nhiều lần, nên trong một lần từ Mawlamyine trở về, trên đường ghé vào khu rừng thiền ấy, tỳ-kheo đã hội ngộ Ngài ngay trên đường đi khất thực về. Tỳ-kheo vô cùng kinh ngạc khi nhận ra đó chính là vị sư **U Kittti**, người đã từng dạy pháp học cho mình từ thuở nhỏ. Khi tỳ-kheo đảnh lễ, Ngài Sư trưởng hỏi: “Ông là ai?” “Bạch Ngài, con là **Vāsava** ở Nyaung-lay-pin ạ.” “Ừ... ừ, ta biết ông mà”, Ngài phán rồi thọc tay vào túi nải đựng các cặp lồng canh bên trong y tăng-già-lê, lấy ra trao cho tỳ-kheo **U Vāsava** một lá thư. ## TRANG 660 #### 616 **Dhamma-cariya U Htay Hlaing** Tỳ-kheo **U Vāsava** lại càng thêm kinh ngạc, bởi lá thư ấy chính là một bản di chúc. Nội dung thư viết: “Toàn bộ vật dụng hiện có xin nhường lại cho con Vāsava; khi ta viên tịch thì không được để quá ba ngày, con Vāsava phải hoàn toàn chịu trách nhiệm lo liệu việc hỏa táng cho xong xuôi chỉ với một đống củi”. Đọc thư xong, tỳ-kheo **U Vāsava** không biết phải thưa lại thế nào, lòng tràn đầy cảm xúc buồn vui xen lẫn. Giữa lúc ấy, Ngài phán: “Thôi, ông hãy theo ta về chùa đã.” Thế là tỳ-kheo đi theo Ngài khi Ngài đang trên đường khất thực trở về. Khi về đến chùa, Ngài Sư trưởng cho tỳ-kheo thọ thực. Những người thường xuyên chứng kiến đều kinh ngạc vì mọi khi Ngài chỉ giữ lại vừa đủ một phần ăn cho mình, còn lại đều bố thí hết cho các chùa dọc đường, nhưng riêng ngày hôm đó Ngài lại chừa lại trong bát hai phần ăn. Ngôi chùa nơi Ngài cư ngụ là một dãy nhà ba gian, phía cuối có đường kinh hành. Ở gian phòng trong cùng chỉ có một chiếc chõng tre và một cái gối làm từ một đoạn tre lớn chẻ đôi. Tỳ-kheo **U Vāsava** quan sát kỹ bên trong ngôi chùa nhỏ và thấy có một chiếc quan tài bằng kính, một chiếc quan tài bằng gỗ, cùng một bức ảnh chân dung khổ lớn của Ngài Sư trưởng được lồng khung kính treo trên vách, điều này khiến lòng tỳ-kheo cảm thấy bất an. “Thôi, con Vāsava về đi”, Ngài phán, tỳ-kheo liền đảnh lễ Ngài. Vì vốn có lòng kính sợ từ nhỏ nên tỳ-kheo không dám thưa hỏi những điều còn thắc mắc trong lòng. Tỳ-kheo cũng biết Ngài thường khiển trách các thí chủ bằng giọng cương quyết: “Thôi, đi đi, đi đi, việc ai nấy làm”, nên khi định đứng dậy ra về, tỳ-kheo vẫn còn chút ngập ngừng. Lúc đó Ngài Sư trưởng hỏi: “Này con Vāsava, con còn muốn gì nữa không?” Vì lo lắng theo nội dung bức thư và việc nhìn thấy những chiếc quan tài rằng “lỡ Ngài viên tịch sớm thì sao”, nên tỳ-kheo đánh bạo thưa rằng: “Bạch Ngài, con muốn xin bức ảnh chân dung khổ lớn này để thờ phụng ạ.” Ngài Sư trưởng đích thân tháo bức ảnh xuống và ban tặng. “Còn lá thư và chữ ký của ta thì để con cất giữ. Không phải bây giờ, mà là để dùng khi hữu sự. Thôi, đi đi, đi đi”, nghe Ngài nói thế, tỳ-kheo mới yên tâm phần nào và trở về. (Đây chính là bức ảnh được in trong cuốn sách này. Nhờ sự giúp đỡ của biên tập viên **U Myo Myint** từ đường Campbell và vị đại đệ tử **U Aung Sein** của Ngài Sư trưởng, chúng tôi mới có cơ hội trình bày để quý độc giả được chiêm bái). Kể từ đó, tỳ-kheo **U Vāsava** chùa Kyar-taw-gyi cũng tùy theo duyên sự mà thường xuyên đến thăm Ngài Sư trưởng. Những tình tiết tiếp theo cho đến khi Ngài viên tịch sẽ được trình bày dưới đây đều là lời thuật lại của tỳ-kheo **U Vāsava**. “Vì bần tăng ở xa nên cũng chỉ biết được đôi chút thôi. Những điều bần tăng không biết còn nhiều lắm”, tỳ-kheo cũng đã nói thêm như vậy.