## TRANG 688 **Cư sĩ U Htay Hlaing** Như đã nói, những hiểm nguy như vậy thường là minh chứng cho việc một vị có mang trong mình **pháp Bất Tử** (**Amata-dhātu** – **chân tính Niết-bàn**) hay không. Này hành giả, dường như ông không phải là người có thể chết vì bất kỳ mối nguy hại nào. Hãy nỗ lực từ bỏ mạng sống (để tu hành). Dù ông không muốn từ bỏ mạng sống, thì một ngày nào đó, mạng sống cũng sẽ rời bỏ ông. ### Với đời là ‘Mật hòa cam’, với đạo là ‘Vi Diệu Pháp’ Thấy thầy tổ đã già yếu nên không có cơ hội dự các lớp học pháp (Sā-wā) đều đặn, Shin Vimala luôn lo lắng: “Cứ sống thế này thì mình sẽ chẳng bao giờ tinh thông kinh điển được.” Người chị ruột là **Ma Sucārī** cũng đang theo học với bậc Tam Tạng Thứ Nhất (Pa-hta-ma-kyaw) **Sayadaw U Ohn** – một vị lừng danh về Vi Diệu Pháp tại tu viện Mingalar, thành phố Amarapura. Nghe lời chị kể, **Shin Vimala** cũng nảy sinh ý định mãnh liệt muốn lên thành phố để học Vi Diệu Pháp. (**Daw Sucārī** hiện nay là Giáo sư lừng danh tại tu viện Leik-pyā-kan, thành phố Bago.) **Shin Vimala** đã xin phép cha mẹ và thầy tổ, nhưng cha mẹ ngài đã hai, ba lần từ chối. Vì vậy, ngài đã âm thầm rời đi Amarapura. Dù cha mẹ có đuổi theo gọi về, ngài cũng thuyết pháp rồi tiễn họ về. Người chị là nữ tu (thila-shin) cùng với **Daw Pon-nya**, **Daw Vicārī** đã đưa ngài đến gửi gắm nơi Đại trưởng lão **U Sujāta** tại tu viện Mingalar. Ngài ở tại chùa Makuta. Tu viện Mingalar không phải là một nơi tầm thường, mà là một vùng đất vô cùng linh thiêng (bhūmi-net-than). Khi thành phố Amarapura sắp được xây dựng, ngài **U Paw U** cùng bốn vị đại thần và hơn một trăm kiến trúc sư đã dừng chân tạm trú tại đây để chờ giờ lành (Mingalar). Đây cũng là nơi của tu viện rừng Kyet-thun-khin. Trong tập “**Sīlavisodhanī**” có ghi chép rằng Sayadaw Kyet-thun-khin là một bậc thầy lừng danh về thực hành (Paṭipatti). Có lẽ nào **Shin Vimala** lại trở về đúng nơi chốn cũ của mình chăng? Tại tu viện Mingalar, **Shin Vimala** nỗ lực học tập dưới sự chỉ dạy của bậc thầy lừng danh qua ba thời đại (Mindon, Thibaw và thời Anh thuộc) là **Sayadaw U Ohn** (1208–1287). Nhờ diện mạo (upadhi) đặc biệt, uy nghiêm và trí tuệ mẫn tiệp, **Shin Vimala** được thầy đặc biệt quan tâm. Tuy nhiên, vì danh tiếng ngài “thuyết pháp hay” tại các giảng đường (zayat) ngày càng lan rộng, lo ngại việc này ảnh hưởng đến việc học, các thầy đã phải ngăn cản và khuyên nhủ ngài không nên đi thuyết pháp. Ngay từ thời còn là Sa-di, ## TRANG 689 ngài đã tiếp nhận được một cách sâu sắc di sản Vi Diệu Pháp từ bậc Thầy **U Ohn**. ၆၃၅ Khi **Shin Vimala** tròn 20 tuổi, ông **U Win** và bà **Daw Saw** đã làm thí chủ hộ độ ngài thọ giới Tỳ-khưu. Đó là ngày mùng 8 tháng 8 năm 1281 (Miến lịch). Khi vị tân Tỳ-khưu **U Vimala** vừa rời khỏi giới đàn (Sīmā), vì y bị ướt đẫm mồ hôi nên ngài đã phơi y gần **chùa Makuta** (nay là vị trí **chùa Bon** phía bắc **tu viện Canki**). Chỉ trong vòng vài phút, một đàn ong bay đến đậu kín và kết tổ ngay trên tấm y. Đây là lần thứ hai y của ngài thu hút đàn ong. Trong các chúng sinh, loài ong là loài mang lại nguồn dinh dưỡng và dược liệu ngọt ngào, tinh khiết nhất cho con người. Năm 1283, người chị **Daw Sucārī** và người bạn học cùng quê Mogok là **Daw Vicārī** lại tiếp tục tổ chức lễ tái thọ giới (Sim-htat) cho ngài để tăng thêm phần phước báu. Lúc bấy giờ, Sayadaw **U Ohn** đã tin tưởng giao cho **U Vimala** thay mặt mình giảng dạy các lớp Vi Diệu Pháp ban đêm (Nya-wā). Ban ngày, ngài đi tàu hỏa đến Mandalay để tiếp tục tầm học. Những vị thầy mà ngài theo học gồm có **Sayadaw Khema Sivan**, Sayadaw **U Khanti** tại tu viện Phaya-gyi và **Sayadaw U Kyi**. Năm 1286, ngài trở thành vị giảng sư chính (Kyaung-htaing Sā-cha) tại ngôi trường Trung tâm **Piṭaka-taik** trong tu viện Mingalar. Trong hơn ba mươi năm, ngài chuyên tâm giảng dạy các lớp Vi Diệu Pháp ban đêm. Ngài giảng dạy ba bộ: **Mātika-Dhātukathā**, **Yamaka** (Song đối) và **Paṭṭhāna** (Vị chi) mỗi bộ ba lần một năm. Số lượng tăng sinh theo học lên đến ba, bốn trăm vị, khiến ngôi trường không đủ chỗ chứa, các vị phải ngồi dưới bóng cây xà cừ (me-ze) để ôn tụng và học bài. Danh tiếng về các lớp Vi Diệu Pháp ban đêm của Ngài **U Vimala** vang xa khắp cả nước. Người ta còn truyền tụng rằng: “Nếu chưa từng ở Taung-myo (Amarapura) thì chưa thể giỏi Vi Diệu Pháp”. Ngài cũng đã hoàn tất biên soạn bộ đại luận kinh điển “**Abhidhamma Ta-khon**” (Lá cờ Vi Diệu Pháp) mà thầy ngài – Sayadaw U Ohn – còn dang dở. Ngoài ra, ngài còn soạn các tác phẩm như “**Yamaka Mañjarī**” và “**Puthujjana Alin-pya**” (Ánh sáng soi đường cho phàm phu). Mật ngọt Vi Diệu Pháp của Ngài cho đến nay vẫn không sao uống cạn. ### Thay mặt Ngài Ledi lên pháp tòa Bên cạnh việc giảng dạy cho tăng sinh, vị giảng sư trẻ **U Vimala** còn dành thời gian thuyết pháp cho hàng cư sĩ. Suốt ba tháng an cư, ngài luân phiên thuyết pháp hàng ngày tại giảng đường Yè-laung gần tượng Phật Taung-min-gyi và các giảng đường lớn phía nam tượng Phật Aung-myay Shwe-bon. Nhiều thí chủ không chỉ thỏa mãn với việc nghe pháp thông thường mà còn tìm đến dự thính cả các lớp học chuyên sâu ban đêm dành cho chư Tăng. “Này U-pyin-sin (vị Sư), việc dạy học chỉ mới là tạo phước, việc thuyết pháp cũng chỉ là tạo phước mà thôi. Trước hết hãy tu tập để bản thân ## TRANG 690 **Cư sĩ U Htay Hlaing** tự mình thấu triệt và hoàn tất phận sự (giải thoát) đã.” Khi tình cờ nghe được lời giáo huấn này từ ngài **Aung-ching-ship-pà Sayadaw U Nāgavamsa**, trái tim Ngài bỗng thắt lại và một sự kinh cảm (Saṁvega) sâu sắc dâng trào. Kể từ đó, Ngài bắt đầu dành thời gian ban đêm để chuyên tâm hành thiền. Việc nhắc nhở một người đã sẵn có tâm hướng thiện thật dễ dàng làm sao. “**Aung-ching-ship-pà Sayadaw**” chính là Ngài **Ashin Nāgavamsa** (1248–1332) của tu viện Aung-ching-ship-pà bên bờ tây hồ Taung-tha-man, thành phố Amarapura. Ngài là bạn đồng tu với **Mogok Sayadaw**. Sau khi thông suốt các lớp Vi Diệu Pháp, ngài sống đời độc cư (ekacāra) trọn đời. Ngài sống rất thiểu dục tri túc. Trong ba canh đêm, ngài chỉ nằm nghỉ một canh. Khoảng 12 giờ rưỡi đêm ngài đã thức dậy rửa mặt. Ngay cả các bậc trưởng lão từ các tu viện **Maha Gandhayon**, **Mingalar**, **Tu-maung** cũng thường xuyên đến đảnh lễ ngài. Ngài dường như rất tinh thông về thiền Niệm hơi thở (Anāpānasati) và thiền Kasina. Đôi khi cả khuôn viên tu viện rực sáng. Có lời đồn ngài có thần thông bay liệng, là bậc A-la-hán, khiến thiện nam tín nữ kéo đến rất đông. Khi ấy, ngài đã thẳng thắn tuyên bố mình không phải A-la-hán và mời họ rời đi. Đó chính là một bậc cao nhân, một bậc xuất chúng sinh ra từ đôi vợ chồng U Soe và Daw Aye Ma tại làng Phaung-kar-lay, huyện Tada-U. Ngài **U Vimala** cũng nhận ra rằng những danh xưng như ‘thuyết pháp hay’, ‘dạy giỏi’ chỉ là cái tốt tạm thời, nên ngài đã bớt cả giờ ngủ để nỗ lực thực hiện công việc quan trọng nhất đời mình. Ngài cũng tìm đến các thiền viện ở Monywa và Mandalay để tu tập. Ngài luôn giữ thói quen đi kinh hành vào mỗi buổi sáng và buổi chiều. Từ năm 1286, theo lời thỉnh mời của người chị **Daw Sucārī** và bạn học **Daw Mi-la-thee**, vào bốn tháng mùa đông, ngài thường đến giảng dạy tại **Mogok Kyaung** ở Min-kun. Nhờ sự hiện diện của ngài, tu viện và các giảng đường nơi đây ngày càng trở nên hưng thịnh. Thời bấy giờ, tại vùng Hạ Miến, các đại pháp hội Vi Diệu Pháp đang rất thịnh hành. Những vị pháp sư lừng danh như **Ledi Sayadaw** và các đại đệ tử như **Ledi U Paduma**, **The-kya-taung U Tiloka** thường thay phiên nhau đăng tòa thuyết pháp. Năm 1291, khi hội ban tổ chức đến tu viện **Zambūpati** ở vùng đồi Sagaing để thỉnh mời Ngài **Ledi U Paduma** cho pháp hội Vi Diệu Pháp thường niên tại chùa Pyi-lone-chan-thar, thị trấn Nyaung-lay-pin, ngài đã phán rằng: “Chân ta nay đã đau yếu (tê liệt) rồi. Tuy nhiên, ta đã tìm được một vị Sư trẻ rất xứng hợp với pháp hội Vi Diệu Pháp của các ông. Vị ấy mới chỉ được mười tuổi hạ mà thôi.” Nói rồi, ngài giới thiệu Ngài Mogok Sayadaw. Kể từ năm 1292, vào ngày mùng 8 tháng Tabodwe hàng năm, ngài đều lên đường để thuyết giảng tại pháp hội này.