# CHƯƠNG: CÁC BẬC ALAHAN VÀ NHỮNG VỊ XUẤT CHÚNG ## TRANG 691 **CÁC BẬC ALAHAN VÀ NHỮNG VỊ XUẤT CHÚNG** 637 “Sư vốn chỉ chuyên tâm truyền dạy kinh điển (giảng dạy giáo khoa), chưa bao giờ thuyết giảng tại một đại rạp (đại lễ) như thế này,” Ngài khởi đầu buổi thuyết giảng một cách khiêm cung, thế nhưng thính chúng đã nhanh chóng bị cuốn hút, say mê vào dòng mật ngọt pháp bảo **Vi Diệu Pháp** (Abhidhamma) của Ngài. #### Công việc của một giảng sư Pháp và lễ hội chùa (Trong kinh Mahāgosinga, thuộc Trung Bộ Kinh) – Ngài Ānanda đã từng trình bày quan điểm của mình rằng: “Chỉ có vị tỷ-kheo có khả năng thảo luận và thuyết giảng về **Vi Diệu Pháp** mới có thể làm cho giáo pháp (Sāsana) trở nên rực rỡ, trang nghiêm như khu rừng tùng (gosinga) lộng lẫy.” Vị Luận sư (Bậc chú giải) cũng khẳng định rằng chỉ có giảng sư nào có khả năng thuyết giảng được bản chất thực thụ (sabhāva) của **Vi Diệu Pháp** mới xứng danh là “bậc giảng sư mang lại vinh quang cho giáo pháp.” (Bộ Atthasālinī-30. Ở đây, **Vi Diệu Pháp** có nghĩa là sự thấu đạt bằng tâm thực chứng; chứ không phải là kiểu **Vi Diệu Pháp** thuộc về tưởng tri, chỉ ghi nhớ các con số: 89 hoặc 121 tâm, 52 tâm sở, 28 sắc pháp). Thời thế nay, ngay cả những vị tu hành hay hát xướng cũng lạm bàn thuyết giảng về **Đạo quả (Magga-Phala)** và **các tầng tuệ giác (Ñāṇa-စဉ်)**. Có một lần, Đức Trưởng lão **Mahāsi Sayadaw** khả kính khi đến thuyết pháp tại thị trấn Nyaunglaybin, Ngài quan sát thấy ngôi giảng đường (zayat), đặc biệt là pháp tòa (pallaṅka) được trang hoàng vô cùng lộng lẫy, nguy nga. Trong khi thuyết pháp, Ngài đã để lại một lời giáo giới cảnh tỉnh sâu sắc mà sau này qua lời kể lại, ai cũng thấy đáng ghi tâm: “À… thị trấn của quý vị là nơi phát xuất và trụ trì của nhiều bậc thúc liễm tu hành (Sāsanā-pyu), thiện nam tín nữ lại rất quan tâm ủng hộ Phật sự nên pháp tòa này thật là trang nghiêm, tráng lệ. Sư chỉ xin lưu ý một điều: đừng để những vị tu hành hay hát xướng bước lên ngồi trên những pháp tòa thiêng liêng như thế này.” Điều này đòi hỏi hàng cư sĩ cũng cần phải có một đôi mắt và đôi tai biết phân định sâu sắc. Xưa kia, lễ hội chùa Pyilōnchantha tại Nyaunglaybin thường được tổ chức hàng năm với các màn kịch nghệ và múa rối. Tuy nhiên, từ năm 1281 (Miến lịch), Đức Trưởng lão **Ledi Sayadaw** đã phán rằng: “Mỗi năm một lần đi tìm địa ngục qua các lễ hội chùa ở cõi người – thôi đừng làm thế nữa các con ạ, hãy cúng dường các buổi diễn kịch đó cho ta (thế bằng pháp hội).” Từ lời dạy ấy, đại pháp hội **Vi Diệu Pháp** đã được hình thành. Thực chất, pháp tòa đó chính là pháp tòa của Đức Trưởng lão **Ledi Sayadaw**. Tại vùng đất Nyaunglaybin vốn đầy truyền thống lịch sử như vậy, lời giáo giới bất ngờ của Đức Trưởng lão **Mahāsi Sayadaw** giống như việc ‘viền thêm vàng cho chiếc bát quý’. Bậc Đạo sư đã tiếp nối di sản **Vi Diệu Pháp** và di sản **Hành đạo** (Paṭipatti) của Đức Trưởng lão **Ledi Sayadaw**... ## TRANG 692 ... nhận lấy trọng trách và không hay biết mình đã trở thành một bậc giảng sư Pháp danh tiếng lừng lẫy khắp cả nước. Kể từ thời điểm đó, Ngài giống như bậc đã tự mình uống thỏa thuê mật ngọt hoa pháp vốn được dệt nên bởi sắc màu rực rỡ của **Tam Tạng** (Tipiṭaka) và ngũ bộ **Nikāya** (Vanappagumbe), rồi Ngài lại đem bày ra kho mật ngọt của **Vi Diệu Pháp** cho vô vàn chúng sinh hưởng dùng không bao giờ cạn. #### Ngài Mogok Sayadaw và Tuệ kiến (Ñāṇa-aññā) Từ năm 1294 (Miến lịch), theo lời thỉnh mời của các thí chủ Mogok là ông U Lယ် và bà Daw Thine Chon, hàng năm Ngài đều quang lâm về đây để thuyết pháp. Thính chúng nghe pháp ngày một đông đảo, ngay cả những người ngoại quốc như người Punjabi, người Gujarati cũng tham gia vào các khóa hành thiền **Minh sát** (Vipassanā). Năm 1316, bà Daw Ōn và bà Daw Phōn đã xây dựng và cúng dường một trú xứ đặt tên là ‘Tu viện Mingala’ (Mingala Tike). Trước đó, các buổi pháp hội thường phải tổ chức tại các ngôi chùa cạnh nghĩa trang. Từ năm 1303, trong suốt thời kỳ Chiến tranh thế giới thứ hai, Ngài lưu trú tại Mogok. Dù ở bất cứ thành phố nào, Ngài cũng đều lập một thời khóa biểu nghiêm ngặt để tu tập và sinh hoạt. Thời gian thực hành nghi lễ, thời gian hành thiền, thời gian thuyết pháp, thời gian giảng dạy kinh điển (sách chi), thời gian kinh hành, thời gian thọ thực đều được thực hiện một cách chính xác tuyệt đối – đây là một điểm vô cùng đặc biệt ở Ngài. Trong chiến tranh, sau khi trú ngụ một thời gian ngắn tại ngôi chùa nghĩa trang ở Mogok, để đảm bảo an toàn hơn trước hiểm họa lửa đạn, theo lời thỉnh mời của ông U Lယ်, ông U Bo Lōn và bà Daw Gyi, Ngài đã dời đến lưu trú tại làng Bawbadann, cách thành phố khoảng 4 dặm. Ngôi làng Bawbadann là một ngôi làng nhỏ trên núi, nằm ở độ cao hơn bốn ngàn feet. Nơi đây có những hang đá tự nhiên, trở thành một cơ hội thuận lợi hiếm có cho Ngài. Các thí chủ cúng dường vật thực như bà Daw Ōn, bà Daw Phōn cũng chuyển về ngôi làng này để được nghe pháp, trình pháp (tọa thiền) và hộ độ Ngài. Mọi chuyển biến diễn ra như thể “chư thiên sắp đặt, có hồ nước sẵn lại có sen sẵn vậy”. Trong khi lửa khói của Thế chiến thứ hai khiến người ta phải chết chóc, đói khát, cướp bóc, lâm vào cảnh không cơm ăn áo mặc – một thời kỳ vô cùng đen tối (Vipatti-kāla) – thì đối với bậc Đạo sư, đó lại là lúc Ngài đạt được sự viên mãn (Sampatti). Đối với những ai biết trân trọng thời gian và giá trị của đời sống, thì thời đại nào cũng luôn tốt đẹp. Nơi nào mình đang sống theo nghiệp quả cũng đều có thể là cửa ngõ của Niết-bàn. Hang đá tự nhiên gần làng Bawbadann chính là nơi chốn thiêng liêng giúp Ngài chứng đắc được những thắng pháp (Pháp đặc thù). Đối với một bậc Đạo sư vốn thường bận bịu với việc giảng dạy (sách chi), thuyết giảng, quản lý tăng đoàn nên việc hành thiền **Minh sát** chưa được chuyên biệt, thì Chiến tranh thế giới thứ hai giống như một người... ## TRANG 693 **CÁC BẬC ALAHAN VÀ NHỮNG VỊ XUẤT CHÚNG** ... cầm gươm đứng canh giữ để Ngài có thể tĩnh lặng nhập định và hành đạo. 639 Nếu không có Chiến tranh thế giới thứ hai xảy ra, có lẽ việc hoàn tất phận sự của một vị sa-môn (Rahan-kissa) của Ngài đã không thể kết thúc sớm đến thế. Ngài đã lưu trú tại thành phố Mogok suốt 11 năm và từ đó được gọi danh hiệu là “**Mogok Sayadaw**”. Người ta tin rằng ngay cả trước khi chiến tranh xảy ra, Ngài đã hoàn tất phần lớn những phận sự cần thiết về Pháp. Từ khi mới được 5, 6 hạ lạp, khi đang là một vị trụ trì kiêm giảng sư (sách chi), Ngài đã bắt đầu nỗ lực hành thiền theo thời khóa biểu hàng ngày. Vì không biết điều này, nên có những người đã nghĩ rằng: “Một vị sư giảng dạy kinh điển (sách chi) mà lại đi thuyết pháp, chắc là để tìm kế sinh nhai (kiếm lợi dưỡng) thôi.” Lại nữa, từ khi Ngài chuyển từ thuyết giảng **Vi Diệu Pháp** sang thuyết giảng chuyên sâu về **Minh sát** (Vipassanā) – trong khi một số vị giảng sư khác cũng bắt đầu thuyết giảng về **các tầng tuệ giác Minh sát** với phong thái hoa mỹ như diễn viên kịch – người ta lại cho rằng Ngài chỉ đang “thuyết giảng Minh sát cho hợp thời đại”. Họ đã không thể nhìn thấy lộ trình mà Ngài đã đi qua, vốn dựa trên nền tảng chủng tính Ba-la-mật (Pāramī-bīja) và sự nỗ lực thực hành không ngừng nghỉ. Người không biết thì ngay cả việc mình không biết họ cũng chẳng hay. Không chỉ dừng lại ở đó – “Cha mẹ, ông bà của các con chưa từng được nghe những giáo pháp (Minh sát thực chứng) này. Họ chết đi khi chỉ dừng lại ở mức độ là người thí chủ xây chùa, xây tu viện mà thôi. Hãy cố gắng mà lắng nghe (để thực hành),” Ngài đã từng thuyết giảng như vậy. Mục đích chính của Ngài là khuyến tấn, thúc đẩy vì thấy rằng giáo pháp **Hành đạo** (Paṭipatti) đang hưng thịnh trở lại. Tuy nhiên, những người thiên về **Pháp học** (Pariyatti) lại không hài lòng. Không biết ai đã xì xào, kiện cáo hay chất vấn, và vấn đề này dường như đã được đưa lên cơ quan phân xử (Vinicchaya). Tôi không nhớ rõ chi tiết, nhưng thật là tổn thất lớn khi lại đi tranh chấp với những bậc thiện tri thức cao thượng như vậy. Thực chất, Ngài là người có trí tuệ thấu đáo về nhân quả (vượt trội hơn người khác). Ngài đã có thể thâm nhập và thông suốt thấu đáo (phran-phran-kwe) về **Vi Diệu Pháp**, các lớp dạy về đêm (Nyā-wā) và bộ **Vị Trí** (Paṭṭhāna). Xưa kia tại đảo quốc Sri Lanka, có vị Trưởng lão tên là **Mahāgati Gadhiya Tissadatta**. Vị ấy là một bậc tinh thông **Vi Diệu Pháp**, trong khi đang trên chuyến tàu hành hương đến cội Đại Bồ Đề, Ngài đã suy tư rằng: “Giữa bộ **Vị Trí** (Paṭṭhāna) và đại dương, cái nào sâu rộng và huyền vi hơn?” Trong khi đang quán chiếu sâu sắc như vậy, Ngài đã đắc quả Alahan ngay trên tàu. (Lời tựa Atthasālinī-12). Chúng tôi cũng tin rằng Đạo quả của Đức Trưởng lão (Mogok Sayadaw) cũng đã thành tựu theo cách tương tự như vậy. Một bậc Đạo sư vốn luôn ghi nhớ các pháp giáo lý **Vi Diệu Pháp** (**tā** - thọ trì), thường xuyên đọc tụng thuyết giảng và truyền dạy (**vacasā paricita** - đọc tụng thuần thục), và luôn luôn tư duy quán chiếu thấu đáo trong tâm (**manasānupekkhita**), thì làm sao lại không thể (**diṭṭhiyā suppaṭividdhā**) thấu đạt sự sanh diệt (tuệ giác) và chứng đắc quả vị Thánh nhân cho được? (Trong Phẩm Có Kệ - Tương Ưng Bộ Kinh), vị tỷ-kheo trẻ Sāyaka cũng đã đắc quả trong khi đang đọc tụng kinh điển...