### Giấc mơ và tâm nguyện cúng dường bảo tháp Mahā Ceti Trong khoảng thời gian sau chiến tranh, vào một đêm nọ, Ngài Thiền sư đã nằm mộng thấy mình "từ hư không bay đến đảo quốc Sri Lanka để đảnh lễ bảo tháp Mahā Ceti, sau đó đã dọn dẹp vệ sinh và trùng tu ngôi bảo tháp vĩ đại ấy để làm công tác hoằng pháp." Không lâu sau, Ngài nhận được lá thư thỉnh cầu từ các thành viên Ban quản trị Mahā Bodhi tại Sri Lanka. Nội dung thư là nhờ Ngài thuyết giảng và kêu gọi hàng đệ tử thí chủ giàu có cùng phát tâm cúng dường viên kim cương (ṣain phū to: - bửu đỉnh) để đặt lên đỉnh tháp. Nhờ đó, một viên kim cương bảo ngọc vô giá đã được dâng cúng và tôn trí lên bảo tháp. Vào năm 1307 (P.E), Ngài cũng đã vận động các hàng đệ tử thí chủ ở Nyaung Lay Pin, Amarapura, Mandalay và đặc biệt là Mogok để thực hiện đại lễ cúng dường bửu đỉnh kim cương lên bảo tháp Botahtaung tại Yangon. Kể từ thời điểm đó, người ta tin rằng Ngài đã đạt đến đỉnh cao của năng lực hoằng pháp, hoàn thiện trọn vẹn các phẩm hạnh đúng như giấc mơ đã thấy. Từ năm 1314 (P.E), khi Ngài Thiền sư từ Mogok trở về Amarapura, Ngài đã tạm dừng các công tác nuôi dưỡng tăng chúng và dạy học Pháp học (Pariyatti) để tập trung hoàn toàn vào việc thuyết giảng và hướng dẫn hành thiền, nhằm phát triển Pháp hành (Paṭipatti). Ngài đã khai mở một đạo tràng lớn mang tên "Thiền viện Mingalar Maggin" (Maṅgalā Maggaṅ Yeikthā). Hàng thí chủ đã cùng nhau thi đua xây dựng các am thất, tự viện cho các hành giả đến tu tập. Số lượng hành giả từ khắp nơi đổ về vô cùng đông đảo. Trong mỗi buổi thuyết pháp, xe cộ lớn nhỏ nối đuôi nhau, thính chúng vây quanh đông nghịt khiến cho khung cảnh hàng ngày nơi đây nhộn nhịp hân hoan không khác gì những ngày đại lễ Phật giáo. ## PAGE 695 ### Hành giả không thể dối gạt về trình độ tu tiến Vào năm 1316 (P.E), do sức khỏe đột ngột suy yếu, Ngài đã đến nghỉ tại một ngôi nhà trong khu vườn của ông U Chit Swe và bà Daw Ma Ma tại khu Shwe Lan, Mandalay để các bác sĩ điều trị. Khi sức khỏe dần hồi phục vào năm 1317 (P.E), Ngài bắt đầu thuyết pháp ngay tại địa điểm này. Hàng năm, từ tháng Nat-taw (tháng 9) đến tháng Ta-baung (tháng 12 Âm lịch Miến Điện), Ngài thuyết giảng hàng đêm. Thính chúng đến nghe đông đến mức không tưởng, buộc lòng phải có lực lượng cảnh sát túc trực để giữ gìn trật tự và điều tiết giao thông. Pháp thoại của Ngài vô cùng rõ ràng, đến mức ngay cả những người không biết chữ cũng có thể thấu hiểu. Khi hướng dẫn thiền (Kammaṭṭhāna), sau khi yêu cầu hành giả thực hành các đề mục căn bản như Niệm Phật, Tâm từ, Niệm sự chết, Ngài sẽ hướng dẫn Tứ Niệm Xứ, Niệm hơi thở tùy theo căn cơ (Chariya) của mỗi người. Trong quá trình hướng dẫn hành thiền, thấy một số hành giả có thói quen báo cáo phóng đại hoặc dối gạt về kinh nghiệm tu tập, Ngài đã dạy cho một thí chủ rằng: "Một số thiện nam tín nữ nói chắc nịch rằng ta có Thiên nhãn thông (Dibba-cakkhu). Sự thật là, nhờ vào sức mạnh của định (Samādhi), người ta có cách để biết được một người đã hành thiền đến đâu và những trạng thái tâm lý nào đang khởi lên. (Ngài bắt đầu giải thích về bản chất của sáu giới - dhātu). Sắc Ý căn (**Hadaya-vatthu**) nương tựa vào máu trong sắc thân (tâm tạng), và sắc **Hadaya-vatthu** này chính là trú xứ của Ý thức giới (**Manoviññāṇa-dhātu**), của tâm và các tâm sở. Khi hành thiền đạt được định tâm tốt, máu trong tâm tạng sẽ trở nên trong suốt và sáng rạng tùy theo cấp độ tu tập. Sắc diện của người đó cũng sẽ thay đổi. Giữa những người cùng thực hành thiền với nhau, chỉ cần nhìn sơ qua là có thể thấy được hào quang phát ra từ thân thể của người kia. Vào ban đêm, hào quang này lại càng hiển lộ rõ rệt hơn. Dù các con có làm gì ở thế gian đi nữa, về phía các bậc xuất gia (Tu sĩ), các ngài đều biết hết cả." Ngài đã thuyết giảng phương pháp này dựa trên bản chất của các yếu tố vi diệu pháp (Abhidhamma). Tuy nhiên, Ngài có thể nhìn thấu rõ đến mức độ nào thì không ai có thể khẳng định chắc chắn được. Vào tháng Tagu năm 1322 (P.E), Ngài bị mắc chứng bệnh tiểu đường làm ảnh hưởng đến huyết mạch, khiến gương mặt bị lệch nhẹ một thời gian. Tuy vậy, Ngài vẫn duy trì sức khỏe bằng cách đi kinh hành đều đặn, uống thuốc giải độc phát tán mỗi khi cảm thấy khó chịu trong người. Vào ban đêm, Ngài hầu như không nằm ngủ mà luôn ở trong tư thế tọa thiền. Chính điểm này đã phần nào hé lộ về "Pháp chứng đạt" (Paṭivedha) của Ngài. Thính chúng tại các điểm thuyết pháp của Ngài vẫn luôn vô cùng đông đảo. Tiếng trống Pháp của Ngài càng vang xa thì âm thanh lại càng dõng dạc thanh tao. ## PAGE 696 ### Rồng rắn lạ thường Vào ngày mồng 7 tháng Waxing của tháng Waso năm 1324 (8-7-1962), Ngài đã vinh dự được nhận danh hiệu cao quý "Aggamahāpaṇḍita" (Bậc Đại Hiền Triết Cao Thượng) tại giảng đường Pharyin Dharma thuộc Thiền viện Sāsanā. Khi Ngài khởi hành đi Yangon để nhận danh hiệu này, hàng đệ tử thí chủ tại Nyaung Lay Pin đã ra tận nơi đón rước và thỉnh nguyện Ngài hãy ghé lại thuyết giảng như ngày xưa. Ngài đã giáo giới rằng: "Nếu danh sắc (nāma-rūpa) của ta chưa tan rã và các duyên hội đủ, ta sẽ đến ban phước báu ấy. Hãy tinh tấn thực hành để sớm đạt đến sự giác ngộ, vì cái thân này đang lao nhanh về phía cái chết rồi." Dọc theo tuyến đường sắt, tại các thị trấn, dù không thông báo trước nhưng mọi người đều tề tựu đông đảo để chờ đón và đệ lễ Ngài, khiến các đệ tử đi cùng không khỏi kinh ngạc. Trong thời gian lưu lại Yangon, Ngài vẫn tiếp tục thuyết giảng ban phát giáo pháp như trước đây. Ông U Than Dine và ông U Tun Yin là những người tận tâm hỗ trợ nhiều nhất. Nhờ có những vị này mà giáo pháp của Ngài mới được lan tỏa rộng rãi. Ngài Thiền sư duy trì việc đi bộ đều đặn. Ngay cả khi đang đi, Ngài cũng không lãng phí thời gian mà luôn tranh thủ nhắc nhở, thuyết giáo cho những người thân cận. Một ngày nọ, khi đi bộ cùng ông Myan-အောင် U Tin và ông U Mya ở Hinthada, Ngài đã cảnh báo ông U Mya rằng: "Hãy nỗ lực vượt qua các thọ (vedanā), cái chết sắp dẫn đầu con rồi đó, ta đang nói vào điều cốt yếu đấy." Tuy nhiên, trong mùa hạ năm đó, khi đi xe đến gần bảo tháp Pa-htoe-taw-gyi để đi kinh hành, Ngài đã nói với ông U Saw Maung đi cùng rằng: "Vừa từ Yangon trở về mới được một tháng, mà ông U Mya đã mất rồi." Trước đó, ông U Mya còn thưa rằng: "Người bị bệnh hen suyễn như con khó chết lắm." Những ẩn ý của các bậc thánh nhân, dù có ở gần bên cũng chưa chắc đã thấu hiểu được. Ngài đã nói thẳng thừng nhưng người ta vẫn không cảm nhận được. Hãy làm sao để mắt thấy, tai nghe được sự thật. Ngài đã bảo ông U Saw Maung khi đang đi bộ rằng: "Này Maung Saw Maung, hãy ghi nhớ thật kỹ lời của các bậc thiện tri thức. Các ngài chẳng bao giờ nói điều gì vô ích đâu. Các thí chủ ở Yangon đã đến gặp ta quá muộn màng." Khi ông U Saw Maung hỏi: "Sang năm Ngài có đi Yangon nữa không?" thì Ngài đáp: "Điều đó thì hãy để cái thân xác này của ta trả lời." Vào đầu tháng Taw-tha-lin năm đó, Ngài nói với người em họ là ông U Ba Toke rằng đoạn đường Zay-gaung gần thiền viện đang hơi bị hư hỏng...