## TRANG 706 Trước những lời thỉnh cầu của các đệ tử, trong đó có nguyên Bộ trưởng Tài chính Myaungmya U Tin, rằng Ngài nên giảm bớt việc giảng dạy và tiếp khách vì sức khỏe, ông U Tin đã thỉnh ý các vị tỳ-kheo đệ tử của Ngài rằng: “Thưa các sư, các sư nghĩ Ngài đang mắc bệnh gì? Chẳng phải bệnh tật gì đâu — đó là 'bệnh bi mẫn' (karuṇā), bệnh bi mẫn đó. Nếu các sư muốn phụng sự Giáo pháp lâu dài, hãy hết sức cẩn trọng và giữ gìn lòng bi mẫn của mình.” Ông đã thỉnh cầu như vậy vì nhận thấy không thể khuyên Ngài giảm bớt tâm nguyện độ sinh. (Chi tiết xin xem trong cuốn “Tiểu sử và các bài Pháp của Ngài Kathitwaing Sayadaw” do Ashin Tejosāra biên soạn.) Để đánh giá Ngài Kathitwaing Sayadaw đã thành tựu đến mức độ nào trong phương diện Thực hành (Paṭipatti), đó không phải là việc của chúng tôi, và chúng tôi cũng không dám lạm bàn. Tuy nhiên, những gì Ngài đã làm đã mang lại lợi ích to lớn cho bản thân Ngài và cho Giáo pháp. Thật vậy — khi nào chưa thể tự tuyên bố rằng: “**Katà karaṇīyaṃ nàparaṃ itthattāya** = Việc cần làm đã làm xong, không còn trở lui trạng thái này nữa”, thì chúng ta vẫn phải dốc lòng tinh tấn vào công việc trọng yếu nhất, luôn khắc ghi và hành trì theo lời dạy: “**Attadattha paratthena, bahunàpi na hàpaye** = Đừng vì lợi ích của người khác, dù nhiều đến đâu, mà lãng quên lợi ích của chính mình (tức mục tiêu giải thoát).” ### Ý nghĩa duy nhất của đời người Nếu tính toán theo tuổi thọ của chúng ta, có rất nhiều cơ hội tốt đẹp ngay trong tầm tay mà nếu biết nắm bắt thì đã đạt được, nhưng phần lớn chúng ta lại để nó vụt mất, gần ngay trước mắt mà xa tận chân trời. Tuy nhiên, những cơ hội hiện tại chưa hẳn đã qua đi, dù chỉ còn trong gang tấc, vẫn đang hiện hữu chờ đợi chúng ta. Chư Phật tuần tự xuất hiện thế gian rồi tuần tự nhập Niết-bàn. Còn những hữu tình (như loài rồng Kāla) vẫn đang đắm chìm trong giấc ngủ của riêng mình, tự mãn với những gì mình có. Thời gian thật là cao quý. Kiếp sống hiện tại thật đáng giá biết bao. Còn ai có thể có được Ba-la-mật lớn hơn chúng ta nữa đây? Lệnh bà Mahāpajāpatī Gotamī từng tán thán rằng: “Ngay cả những bé gái bảy tuổi cũng có thể hiểu và thực hành được giáo pháp của Đức Thế Tôn, nên bất cứ ai được nghe Pháp đều là những người thiện duyên, đại phúc đức.” (Trích Gotamī Therī Apadāna). Dù các bậc Thánh nhân cao thượng vẫn còn hiện diện trên đời, các Ngài cũng chỉ có thể chỉ dạy con đường; chỉ khi tự mình thực hành, chúng ta mới có được kết quả cho chính mình. Và chúng ta sẽ nhận được thành quả tương xứng với nỗ lực mà chúng ta bỏ ra. ## TRANG 707 Pháp mà ngay cả bé gái bảy tuổi cũng có thể đạt được, thì có gì là khó khăn đâu? Tuy nhiên, nói vậy không có nghĩa là nó dễ dàng. Cái “không dễ dàng” ở đây không phải vì giáo pháp quá cao siêu đến mức không thể hiểu nổi, mà vì chính hành giả chưa thực sự khao khát đạt đến. Sở dĩ chưa khao khát là vì chưa thấu hiểu được ý nghĩa của cuộc đời. Do đó, “không dễ dàng” không phải là thước đo của giáo pháp, mà là thước đo định mức của chính hành giả. Qua các thời đại, con đường đã được khai phá sẵn rồi. Không cần phải vất vả tìm kiếm điện năng, chỉ cần biết cách nhấn công tắc mà thôi. Chúng ta không nên chần chừ thêm nữa trong việc đưa ra quyết định. Mỗi người đều có quyền tự quyết định sự tu tập của chính mình. Đó cũng chính là một cơ hội lớn. Điều gì là cốt lõi, là giá trị quan trọng nhất và là đáp án duy nhất cho kiếp người cực kỳ khó đắc này? Phải chăng là sức khỏe, kinh tế, xã hội, quyền lực, địa vị, danh tiếng hay sự hưởng thụ hưởng lạc...? Một đời người sẽ kéo dài được bao lâu? Nếu chưa tìm ra được đáp án duy nhất đó, chúng ta sẽ mãi không có ngày thoát khỏi dòng sông khổ đau (Dukkha Gangā) này. Ai cũng muốn hạnh phúc. Nhưng tất cả những gì chúng ta làm để có được hạnh phúc đều chỉ dẫn đến kết quả là khổ đau. Vậy hạnh phúc đích thực là gì? “**Santi-sukha**” (An lạc của sự tịch tịnh) mới là hạnh phúc vô song. Ai cũng muốn sống trong sự bình an. Muốn được nghỉ ngơi (hưu trí). Nhưng hễ chúng ta làm gì để được nghỉ ngơi, thì ngọn lửa (phiền não) lại bùng lên. Sự tịch tĩnh là gì? “Niết-bàn là sự tịch tĩnh tối thượng.” Tôi xin tạm dừng bút tại đây. **Nibbānappaccayo hotu.** (Nguyện đây là duyên lành dẫn dắt đến Niết-bàn) Htay Hlaing Rằm tháng Tazaungmon, 1937 (âm lịch Myanmar). ## TRANG 708 ### Bia ký về lịch sử Phật giáo Thực hành của Đại trưởng lão Ledi Sayadaw tôn kính Những phán quyết và lời giáo huấn liên quan đến thực hành của Ngài Ledi Sayadaw là những tấm gương sáng cho hậu thế noi theo. Đặc biệt, việc một người tự nhận hoặc tuyên bố rằng: “Tôi đã chứng đắc quả Tu-đà-hoàn”, v.v... là một vấn đề nổi cộm trong lịch sử Phật giáo Thực hành. Liên quan đến vấn đề này, tôi xin trích dẫn từ phần phụ lục của cuốn “Ánh sáng con đường Minh triết của bậc Thánh” (Ariyā Vijjāmagga Alin-pya), ghi chép của Ngài Thaim Taung Sayadaw — một đệ tử xuất sắc thông thạo cả Pháp học lẫn Pháp hành, về những lời dạy của Ngài Ledi Sayadaw. Chuyện xảy ra khi Ngài Ledi Sayadaw đang cư ngụ tại tu viện Thaim Taung, vùng Thae Taw. Khi đó, Ngài U Ādicca (Sayadaw chùa Ye Lal ở Meiktila), Ngài U Kavī (Sunlun Sayadaw) cùng người bạn đồng tu U Vicāra và thư ký U Ba San của ngài Sunlun đã đến đảnh lễ Ngài. Lúc đó, ông U Ba San đã bạch với Ngài như sau: “Kính bạch Ngài, con đã thực hành các phương pháp quán đề mục Kasina theo cuốn sách Paṇḍita Vedanīya của Ngài Thegyi Taung U Tiloka. Con đã đạt được Uggaha-nimitta (học tướng) và Paṭibhāga-nimitta (tợ tướng) rất rõ ràng, đắc được định Appanā-jhāna (An chỉ định). Sau đó, con chuyển sang tu tập Minh sát (Vipassanā) theo phương pháp Quán Thọ trong cuốn Anatta-dīpanī của Ngài. Con thấy rõ trong tuệ giác của mình rằng sắc thân này đang sinh diệt liên tục, nổ lốp bốp như những hạt mè đang được rang trong chảo. Tiếp đó, con tiến triển theo các tầng tuệ minh sát, nhìn thấy rõ bản chất vô thường của danh và sắc,” v.v... Ông đã trình bày chi tiết cho đến tận lúc tâm lộ đức đạo và lộ đức quả khởi sinh. Ngài Ledi Sayadaw nghe xong liền khẽ gọi “Sa-thu” (Lành thay) ba lần. #### Đừng nói bằng sự tưởng tượng Sau đó, Ngài Ledi Sayadaw phán rằng: “Này, các đệ tử của ta, sau này đừng ai nói với bất kỳ ai rằng mình đã đắc Đạo, đắc Quả cả. Người ta trình báo rằng dọc theo dòng sông Irrawaddy, tại các thành phố như Pyay, Shwedaung, Nyaungdon, các bậc Thánh Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm đang xuất hiện rất nhiều. Đơn thỉnh cầu gửi đến ta để thẩm định cũng nhiều vô kể. Đừng vội vàng kết luận chắc chắn rằng ai đó đã là bậc Tu-đà-hoàn hay A-la-hán. Bởi vì tính chất của các tùy miên phiền não (anusaya) là vô cùng...”