## TRANG 97 ### Trưởng lão Uttamasiri: Từ tu tập Vipassanā trở thành Pháp sư Bùa chú (In-weizza) Trong thời đại Sri Ksetra (Tharee-khittara), có một sự kiện đặc biệt đáng ghi nhớ. Đó là vào triều đại của đức vua **Supanyat-nagarasindha**, vị vua thứ 25 và cũng là vị cuối cùng của triều đại này. Đây là thời kỳ quốc gia Sri Ksetra rơi vào cảnh suy vong và tai ương, do người dân đã đem nung chảy pho tượng vàng lớn cao 88 hắc tay (taung) từ vương quốc Kanyan để sử dụng vào mục đích riêng. Dưới triều vua này, có một bậc kỳ nhân xuất hiện tên là **Shin Uttama**. Ngài sinh vào ngày rằm tháng Tabodwe (tháng 11 âm lịch Myanmar), ngày Chủ nhật, năm 596 dưới triều vua Mudda, tại làng Mijigon phía đông thành phố. Cha ngài là ông **U Po Sa** và mẹ là bà **Daw Nhya**, vốn là người làm rẫy. Năm 7 tuổi, ngài xuất gia Sa-di với vị giáo thọ sư trong hoàng cung. Đến năm 19 tuổi, ngài đã thông suốt toàn bộ Tam Tạng (Pitaka). Sau khi thọ đại giới Tỳ-khưu, ngài chuyên tâm thực hành thiền định (Samatha). Đến hạ lạp thứ hai, ngài chuyển sang thực hành thiền quán (Vipassanā) và trở nên nổi tiếng là người đã đạt đến sự thấu triệt trong đề mục hành trì, được vua **Sumundari** vô cùng kính trọng và hộ độ. Trong tăng đoàn, ngài được tặng danh hiệu "Siri" (Cát Tường), từ đó được gọi là "**Trưởng lão Uttamasiri**". Về sau, tại phía đông thành phố Sri Ksetra khoảng 2 do-tuần (yuzana), có một ngọn núi hình đầu voi. Ở phía nam ngọn núi đó có một hang đá, nơi vị đạo sĩ **Dibba-cakkhu** (Thiên Nhãn đạo sĩ) từng trú ngụ. Gần hang đá này, vào năm 619, đại thần **Rajasankyan** của vua **Supanyat-nagarasindha** đã xây dựng một trú xứ sơn dã (forest monastery) cúng dường đến ngài để ngài chuyên tâm tu tập thiền quán. Tuy nhiên, một vấn đề đã nảy sinh, khiến công phu thiền quán dứt trừ sinh tử luân hồi của ngài không thể hoàn tất. Sự việc diễn ra như sau: Một ngày nọ, sau giờ ngọ trai, người hộ tăng (kappiya) phát hiện hang của đạo sĩ **Dibba-cakkhu** đã bị đổ nát và tìm thấy một bản kinh bằng đồng trong một chiếc rương đá. Người này mang đến trình cho thiền sư **Shin Uttama**. Ngài dùng nước chua rửa sạch kinh và bắt đầu đọc, thì thấy bên trong chứa đựng những ký tự vô cùng kỳ lạ. Ngài đã bỏ dở việc hành thiền, dành cả ngày để nghiên cứu bản kinh đó. Ngay khi ngài vừa đọc xong, một trận mưa to gió lớn dữ dội ập đến, trời đất tối đen như mực. Bản kinh bằng đồng để bên cạnh cũng biến mất một cách kỳ bí. Đầu đêm hôm đó, ngài hồi tưởng lại các ký tự trong bản kinh đồng và viết lại những gì mình nhớ được lên các bản kinh gỗ suốt ba canh đêm. Mỗi canh, ngài hoàn thành 3 quyển kinh (tổng cộng là 9 quyển), mỗi quyển đều có thể đem lại 3 loại lợi ích khác nhau. Đến sáng hôm sau, ngài đã sao chép từ kinh gỗ sang lá buông. Cụm từ **Cunniya-bandha** — trong phần kết của bộ kinh, ngài đã viết đầy đủ chi tiết bằng hai ngôn ngữ Pali và Myanmar rằng: "Ta đã soạn thuật phần kinh văn (Cunniya-bandha) không lẫn lộn với các kệ ngôn, và đã chép lên lá buông (potthakam)". ## TRANG 98 Bộ kinh này được gọi là "**Sarabhū chín tập**" (Tharabhu-ko-twe), hiện vẫn còn tồn tại; ngài cũng đã biên soạn bộ kinh **Kappālankāra**. Thực chất, những bộ kinh này vốn thuộc về hệ thống kinh bùa chú (In-kyan) của các tu sĩ Ari hệ phái Mahayana (Đại Thừa) thuộc lĩnh vực **Gandhārī-vijjā** (Minh chú học). Trưởng lão **Uttamasiri**, từ một người được tôn kính là bậc tu hành đắc đạo (có khả năng thiên nhãn) khi tuổi đời còn rất trẻ, cuối cùng đã chôn vùi đời sống phạm hạnh thanh cao của mình vào việc nghiên cứu và thực hành bùa chú. Kỹ năng hay kiến thức, dù là gì đi chăng nữa, đều mang lại lợi ích nhất định cho chúng sinh. Tuy nhiên, giống như câu nói: "Đáng lẽ phải được đón voi trắng vào cung, lại vì một cuộn chỉ mà đánh mất cơ hội", dù gặp những kẻ tà kiến dẫn dụ hay phô trương thần thông, chúng ta cũng nên dùng trí tuệ dẫn đường để tinh tấn trong chánh đạo, đừng để uổng phí kiếp người khó được (Manussatta-dullabha). Dù lúc bắt đầu có ý định đúng đắn và sẵn sàng hy sinh mạng sống để tu tập, nhưng hiện nay vẫn có vô số người vì những sự cám dỗ không thể thấy trước dọc đường mà tách khỏi con đường **Majjhima-patipadā** (Trung Đạo). (Vào khoảng năm 100 Phật lịch, dưới thời vua **Duttabaung**, người cùng thời với vua **Kālāsoka**, nhà vua đã chứng đắc quả Tu-đà-hoàn; Hoàng hậu, Thái tử và Công chúa cũng đều trở thành các bậc Trưởng lão, Trưởng lão ni A-la-hán. Chi tiết xin xem tại chương "Sasanā thời kỳ đầu tại Myanmar", trang 123, cuốn sách "Các bậc Thánh giả tiêu biểu thời kỳ Sri Lanka" do chúng tôi biên soạn). ## TRANG 99 ### 3. Các bậc A-la-hán và các bậc vĩ nhân thời đại Thaton #### Trưởng lão Gavam-pati Tiểu sử về Trưởng lão **Gavam-pati** có phần mang màu sắc huyền thoại. Tuy nhiên, ngài không chỉ được đề cập trong các bộ sử ký (Yazawin), sử liệu tôn giáo (Sasanā-win) và văn bia chùa **Shwemawdaw**, mà còn được ghi nhận là vị đã mang giáo pháp đến vùng Hạ Myanmar ngay sau hai vị thương gia **Tapussa** và **Bhallika**. Ngài là vị Trưởng lão nhận được lòng tôn kính và ngưỡng mộ sâu sắc trong tâm khảm của người dân vùng Ramanna (vùng đất của người Mon). Chính vì lòng tôn kính quá mức này mà những truyền thuyết về ngài có phần mang tính huyền thoại. Ngài chính là vị Trưởng lão **Gavam-pati** từ thời Đức Phật. Tóm tắt về tiểu sử của ngài như sau: Vào thời xưa trước khi Đức Phật xuất hiện, dưới triều vua **Tissa** ở thành **Subinna**, vương quốc **Karannaka**, con trai của vị đại thần là **Tissakumma** và **Vijayakumma** đã xuất gia đạo sĩ tại núi đá **Gajjagiri** gần biển. Khi đó, một Long nữ và một vị Minh chú tiên (Vijjā-dhara) giao kết sinh ra hai quả trứng, hai vị đạo sĩ mỗi người nhận nuôi một quả. Từ hai quả trứng nở ra hai người con trai. Con của vị đạo sĩ em qua đời năm 10 tuổi và tái sinh làm người tại vương quốc Majjhima vào thời Đức Phật, xuất gia và chứng quả A-la-hán năm 7 tuổi. Con của vị đạo sĩ anh thì trở thành vua với danh hiệu **Sīha-rājā**. Không lâu sau khi chứng quả A-la-hán, thân mẫu qua đời, Ngài dùng **Thiên nhãn** (Dibba-cakkhu) xem "Thân mẫu đã sinh về đâu?" và thấy bà tái sinh vào một gia đình ngư dân vùng Ramanna, ngài đã từ không trung hiện đến để thuyết pháp hóa độ. Tại thành Thaton (hay còn gọi là Sudhamma-pura), theo lời thỉnh cầu của người anh (kiếp trước) là vua **Sīha-rājā**, vào hạ lạp thứ 8 của Đức Phật, ngài đã thỉnh Đức Thế Tôn đến vùng Ramanna. Đức Phật đã thuyết pháp cho dân chúng và ban tặng 6 sợi tóc (Xá-lợi tóc) cho 6 vị đạo sĩ. Sau khi Đức Phật nhập Niết-bàn, Thượng tọa **Gavam-pati** cũng đã thỉnh 33 chiếc răng (Xá-lợi răng) về, từ đó 33 ngôi bảo tháp đá được xây dựng để thờ tự. (Chi tiết xin xem thêm trong "Tổng tập lịch sử tháp chùa và sử lược Mon"). Trong phần kệ ngôn của Trưởng lão Gavam-pati (**Gavam-pati-thera-gāthā**) và **Apadāna** thuộc tạng Luật, những tình tiết này không được đề cập. Tuy nhiên, Trưởng lão **Gavam-pati** không chỉ được người Mon mà cả người Myanmar vô cùng tôn kính. Đức vua **Anawrahta** thậm chí đã tự mình tạc tượng ngài để thờ phụng. Vua **Kyansittha** cũng tôn thờ tượng ngài bên cạnh tượng Phật trong cung điện mới. (Theo văn bia Shwezigon, v.v.).