## TRANG 427 **BẬC ALAHAN VÀ CÁC BẬC CỨU CÁNH** Có lần Ngài dạy bảo ông Huyện trưởng thành Alon là **U Chaw** rằng: "Này Maung Chaw, trí tuệ của Kyaungpan thật khó để người thường có thể theo kịp." Có lẽ Ngài quở trách như vậy vì sợ những người giỏi chữ nghĩa sẽ sinh lòng khinh suất. (Về quan điểm của Ngài Kyaungpan Sayadaw, xin hãy xem chi tiết trong tác phẩm *Ratana Dīpanī*). Khi các hàng cư sĩ thân cận thưa hỏi, Ngài Kyaungpan Sayadaw đã ứng khẩu bài kệ như sau: *Ví như loài chim Pāṇḍi cánh đỏ,* *Lời Maung Chân Sī (Kyan Si) chỉ là phù phiếm,* *Nói năng nghe như thật mà chẳng phải thật.* *Kinh tạng đã nêu rõ **Viññāṇaṃ** (Thức) như huyễn thuật (**Māyūpamānaṃ**),* *Như khối bọt nước (**Piṇḍopamaṃ**),* *Nếu các ông còn chấp vào hình tướng của **Buddhaṃ** (Đức Phật) mà tranh luận,* *Thì đó là ý của các ông...* Ngài nhất quyết không lay chuyển nhãn quan của mình. Cái thấy về Định (Samatha) và Tuệ (Vipassanā) đôi khi thật khó để viết ra hay diễn đạt bằng lời, hay nói cách khác là không thể đặt để vào phạm trù ngôn ngữ chế định (Paññatti). Một số hành giả thiếu căn bản về học thuật (Pariyatti) khi đàm luận về lộ trình thực hành thường không tìm được tiếng nói chung và dẫn đến tranh cãi, chính vì sự thiếu sót này. Do đó, các đức Phật Độc Giác (Paccekabuddha) dù thấu triệt Tứ Thánh Đế nhưng không thể thuyết giảng giáo pháp, chính là vì các Ngài không thể đặt để vào ngôn ngữ chế định. Cái thấy của Ngài Kyaungpan Sayadaw chắc hẳn là một cái thấy thấu suốt sâu sắc, điều này không nên hoài nghi. Khi xem xét bộ tác phẩm *Vipassanā 6 cuốn* của Ngài, ta sẽ thấy rõ điều đó. Dựa trên các trước tác của Ngài, cũng như sự tán thán và gần gũi của một bậc đại trí như Ngài Ledi Sayadaw, ta có thể tin tưởng rằng Ngài là một bậc Thánh (Ariya). Tuy nhiên, về mặt sử dụng ngôn từ (chế định), có lẽ vẫn còn điều gì đó chưa thật hoàn mỹ. Chính Ngài cũng từng dùng lối lý luận kiểu người Kala (Ấn Độ) "không có mà lại có" để đối đáp trong vấn đề này. Đức Ledi Sayadaw tôn kính, khi chứng kiến những cuộc tranh luận gay gắt về thuyết "Tạng Danh" (Tôn-Nám, Tai-Nám), đã từng nhận xét về Ngài Kyaungpan Sayadaw rằng: "Pháp của nhà vua (Vua Pháp Kyaungpan) là pháp của bò cái. Các chú bò đực khi gặp gỡ thường gầm rống, hăm dọa, dậm chân ra oai rồi mới giao đấu. Còn bò cái thì chẳng phát ra tiếng động nào, chỉ việc lao thẳng vào nhau một cách quyết liệt. Nhà vua cũng vậy, Ngài đi thẳng vào điểm cốt lõi một cách cực đoan khiến người đời khó lòng chấp nhận. Nhưng khi quá rộng mở thì lại giống như đổ nước vào một cái mâm lớn để uống vậy (khó tiếp nhận)." Lời giáo giới đó cho thấy dù nội dung là đúng đắn, nhưng phương cách trình bày và diễn đạt dường như vẫn cần một sự khéo léo hơn. Pháp của Ngài về sau này... ## TRANG 428 **GIẢNG SƯ DHAMMĀCARIYA U HTAY HLAING** ... khi rơi vào miệng những người không có học thức, họ lại suy diễn đến mức cho rằng việc hái lá bụp giấm hay rau muống để nấu ăn cũng phạm tội sát sinh vì chúng có "sinh mạng của danh pháp" (Nāma-jīvita). Thật là một điều đáng buồn thay. Để làm sáng tỏ cái thấy đó, không chỉ đơn thuần là giỏi thuyết giảng, khéo viết lách hay am tường kinh điển là đủ. Phải là người dùng chính thân mạng mình để thực chứng như Ngài thì khi diễn giải mới có thể hóa giải được mọi sự tranh luận từ thế hệ này sang thế hệ khác. Ngài Kyaungpan đã thuyết giảng một cách trung thực và ngắn gọn theo đúng sự chứng ngộ của mình, nhưng từ đó cũng nảy sinh những vấn đề lớn kéo dài mãi về sau. Mặt khác, sau khi Ngài viên tịch, trong giai đoạn chuyển tiếp của dòng thiền Kyaungpan Vipassanā, không biết có phải vì lời dạy của Ngài rằng: "Dù là xem kinh sách hay nghe người khác thuyết pháp, nếu tâm bỗng nhiên thấu suốt (thấy rõ) thì hãy ghi nhận đó là bậc Dự Lưu (Sotāpanna)" hay không, mà không chỉ các bậc xuất gia mà cả các nữ tu và thiện nam tín nữ đều thay phiên nhau thuyết giảng và nghe pháp làm phương châm thực hành Vipassanā. Trong các kinh điển như Pháp Cú (Dhammapada) cũng có dẫn chứng về những bậc có trí tuệ sắc bén (Khippābhiññā), đắc quả Dự Lưu ngay sau khi nghe pháp. Tuy nhiên, ví như việc dùng đá đè chết một con kiến, dù cái chết diễn ra nhanh đến đâu thì cũng không thể chết mà không trải qua các tâm chặng cuối (Maraṇāsanna-javana). Cũng vậy, dù đắc chứng nhanh chóng đến đâu, nếu không có sự quán chiếu và tu tập về Danh-Sắc (Rūpa-Nāma) thì không bao giờ có chuyện đắc quả Dự Lưu hay các quả vị khác. Ngày nay, những bậc như vậy hẳn là rất hiếm. Ngay cả chính Ngài Kyaungpan Sayadaw cũng đã phải nỗ lực tinh tấn suốt mười bốn, mười lăm năm dùng thân mạng để hành trì. Đây quả thật là cảnh giới của các bậc trí giả và thánh nhân. Giờ đây, đến thời của Ngài Sayadaw **U Nandiya**, mọi chuyện đã không còn như trước. Ngài đã chú trọng hướng dẫn phần thực hành quán chiếu thực tiễn thay vì chỉ thiên về lý thuyết và diễn giảng, đúng theo tôn chỉ của các bậc tổ sư ban đầu. Khi đức Ledi Sayadaw tôn kính viên tịch, Ngài Kyaungpan đã thốt lên rằng: "Lần này thật là nguy khốn, trụ cột thẩm định giáo pháp (Viniccaya-maṇḍa-taing) đã đổ rồi." Ngài cũng đã dẫn đầu nỗ lực khắc các tác phẩm *Dīpanī* lên đá. Chính Ngài cũng đã biên soạn: 1. **Vivaṭa Dīpanī** (1268-1271) 2. **Vipassanā Dīpanī** (1272) 3. **Sabhāva Dīpanī** (1273) 4. & 5. **Thoong Loka Dīpanī** (Tam Thế) (1278) 5. **Ratana Dīpanī** (1279) và các bài giảng, lời giáo giới Kyaungpan. ## TRANG 429 **BẬC ALAHAN VÀ CÁC BẬC CỨU CÁNH** Ngài viên tịch vào ngày mùng 3 tháng Chạp (Pyatho) năm 1288 (Miến lịch). Một ngôi bảo tháp thờ xá-lợi đã được xây dựng để tôn thờ. Các tác phẩm *Dīpanī* cũng được khắc lên đá để cúng dường. Các Ngài Pantha Sayadaw, Sayadaw **U Tiṇṇa**, **U Nandiya** là những pháp sư, soạn giả đã nỗ lực hoằng dương và kế thừa di sản của Ngài Kyaungpan Sayadaw. Trong đó, Ngài Zeetaw Sayadaw **U Nandiya** chính là bậc thầy ân nhân đã nâng đỡ và che chở cho tác giả từ thuở còn là một chú tiểu.